intTypePromotion=1
ADSENSE

Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về kiểm soát lũ vùng Đồng Tháp Mười - GS.TS. Đào Xuân Học

Chia sẻ: Khanh Long | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

57
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tác động của tuyến kiểm soát lũ thượng lưu, tác động của tuyến kiểm soát lũ thượng lưu, những tác động bất lợi của hệ thống công trình kiểm soát lũ đối với môi trường và biện pháp khắc phục,... là những nội dung chính trong bài viết "Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về kiểm soát lũ vùng Đồng Tháp Mười". Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về kiểm soát lũ vùng Đồng Tháp Mười - GS.TS. Đào Xuân Học

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU<br /> VỀ KIỂM SOÁT LŨ VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI<br /> (Tiếp theo số 3, tháng 11 năm2003)<br /> GS.TS Đào Xuân Học<br /> và các cộng tác viên<br /> <br /> 4) Tác động của tuyến KSL thượng lưu (Đê và cống thượng lưu):<br /> (1) Nhiệm vụ của tuyến KSL thượng lưu là thu gom lũ tràn đầu và cuối vụ đẩy lũ ra 2<br /> phía sông Vàm Cỏ và sông Tiền (không để ngập lụt sớm và ngập kéo dài trong nội đồng).<br /> Tuyến KSL được đặt dọc bờ Nam kênh Tân Thành – Lò Gạch, dựa vào kênh. Bờ<br /> Nam tuyến kênh hiện đã xây dựng kiên cố vượt lũ 2000 và theo quy hoạch cũng là tuyến<br /> QLN1 trong tương lai. Các cống trên tuyến Tân Thành-Lò Gạch được xây dựng ở đầu<br /> các kênh trên đoạn từ rạch Hồng Ngự đến rạch Cái Cái, các kênh từ sau rạch Cái Cái đến<br /> sông Vàm cỏ sẽ được xây dựng cống ở giai đoạn sau nếu thấy cần thiết.<br /> Theo tính toán các cống được đóng từ đầu mùa lũ cho đến khi mực nước ở Tân<br /> Châu đạt đến 4,2m thì mở cống cho lũ vào nội đồng. Vào thời kỳ lũ rút khi mực nước ở<br /> Tân Châu nhỏ hơn 3,7 m, cống được đóng lại để ngăn lũ muộn nhằm rút ngắn thời gian<br /> ngập lụt trong nội đồng. Cũng có thể để ngỏ các cống để lấy nước lũ trong những năm<br /> nước không lớn, lũ không kéo dài.<br /> <br /> (2) So với hiện trạng, tuyến KSL đã làm giảm nhỏ lượng nước đổ vào ĐTM qua biên<br /> giới từ 40,21 tỷ m3 (hiện trạng) xuống còn 34,85 tỷ m3 (giảm 13%). Trong lúc đó lượng<br /> nước từ sông Tiền theo các kênh ngang tăng lên 41%. Tổng hợp chung tổng lượng nước<br /> đổ vào ĐTM giảm đi 8% so với hiện trạng.<br /> Tỷ lệ lượng nước thoát ra sông Tiền và sông Vàm Cỏ thay đổi đáng kể: Tổng<br /> lượng nước thoát ra sông Tiền giảm đi 6,38 tỷ m3, trong lúc lượng nước ra sông Vàm Cỏ<br /> tăng thêm 3,61 tỷ m3. Trong tổng lượng nước thoát ra sông Tiền, lượng nước thoát ra qua<br /> QL1A giảm 32%, điều này có lợi cho vùng nông nghiệp phát triển. Lượng nước thoát qua<br /> QL30 giảm 20%.<br /> <br /> (3) Kết quả tính toán cho thấy, mức nước đỉnh lũ trong nội đồng có giảm đi song không<br /> đáng kể (5 – 10cm). Theo kết quả tính toán trước đây (nếu kiểm soát lũ và có các biện<br /> pháp ép nước ra sông Tiền, sông Vàm Cỏ bằng các hành lang thoát lũ và đê ven sông) thì<br /> mực nước có thể giảm 20 – 25cm.<br /> Lượng nước thoát ra sông Vàm Cỏ trong trường hợp có tuyến KSL thượng lưu<br /> nhỏ hơn nhiều so với trường hợp có cống trên Vàm Cỏ Tây 18,87 tỷ m3 so với 23,73 tỷ<br /> m3 (chênh lệch 21%).<br /> <br /> 5.4 Tác động của một số biện pháp hỗ trợ khác.<br /> Các biện pháp hỗ trợ được tính toán riêng cho từng phương án và kết hợp với biện<br /> pháp cống hạ lưu bao gồm:<br />  Cải tạo, nạo vét sông Vàm Cỏ.<br />  Đắp đê và cống dọc sông.<br /> - Biện pháp hạn chế lũ tràn vùng Sở Thượng – Hồng Ngự vào ĐTM.<br />  Đê và cống dọc bờ Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp<br /> - Cải tạo các cửa thoát lũ và hành lang ra sông Tiền qua QL30 và QL1A.<br /> Dưới đây là các nhận xét:<br /> <br /> (1) Việc cải tạo, nạo vét sông Vàm Cỏ có làm tăng khả năng tiêu thoát của sông Vàm<br /> Cỏ khoảng 2 – 4% lượng thoát, do đó có dẫn tới việc giảm thấp mức nước (< 20%), song<br /> sự giảm thấp mang tính cục bộ. Việc cải tạo, nạo vét lòng sông nếu không có cống sẽ làm<br /> cho triều lên mạnh hơn, gây ngập úng và hạn chế tiêu thoát (chu kỳ ngắn) và tăng sự xâm<br /> nhập mặn trong mùa cạn. Do đó việc cải tạo nạo vét chỉ nên xem là biện pháp hỗ trợ cho<br /> các biện pháp chính. Cũng tương tự như thế đê,<br /> cống và kênh rạch ven sông Vàm Cỏ chỉ cần thiết trong trường hợp kết hợp giữa ngăn<br /> mặn với việc tạo hành lang thoát lũ.<br /> <br /> (2) Các biện pháp hạn chế lũ tràn từ Sở Thượng – Hồng Ngự vào ĐTM là những biện<br /> pháp rất khả thi.<br /> Theo phương hướng đó trong những năm gần đây, người ta đã tiến hành cải tạo<br /> Cầu Mới, ngăn 3 cửa đổ nước vào ĐTM: Kháng Chiến, Út Kỷ, Ông Răn, khai thác rạch<br /> Hồng Ngự vào việc thoát lũ tràn.<br /> Năm 2000 lưu lượng thoát qua rạch Hồng Ngự vào sông Tiền là 2560m3/s so với<br /> 1880m3/s năm 1996 (tăng 36%) cho thấy khả năng thoát qua rạch Hồng Ngự rất lớn.<br /> Hạn chế lớn nhất cho việc thoát lũ là hiện tại trên rạch Hồng Ngự phát triển 1 hệ<br /> thống hàng trăm bè cá lớn, nhỏ. Chiều sâu ngập nước các bè lớn trên 2m, cản trở đáng kể<br /> việc thoát nước. Nghề nuôi cá bè trên rạch Hồng Ngự đưa lại thu hoạch lớn cho hàng<br /> trăm hộ ngư dân, nên việc khắc phục ngay hạn chế này là không thể thực hiện được. Song<br /> việc hạn chế có mức độ để bảo đảm một sự thông thoáng nhất định và cải thiện môi<br /> trường nước đang xấu đi là điều nên được nghiên cứu.<br /> Một diễn biến tự nhiên có lợi cho việc thoát lũ, đáng lưu ý trong việc tính toán<br /> diễn biến lũ cho nút sông quan trọng vùng đầu lũ (Tân Châu – Sở Thượng – Hồng Ngự)<br /> là: Đoạn sông Tiền (Tân Châu – Hồng Ngự) đang có xu thế bồi, trong lúc đoạn sông từ<br /> Tân Châu chảy qua cù lao Long Khánh có xu thế mở rộng (tài liệu Lê Ngọc Thanh –<br /> Phân viện Địa Lý).<br /> Lưu lượng lũ qua sông chính trong năm 2000 (Tân Châu – Hồng Ngự) giảm đi<br /> đáng kể so với năm 1997. Tương ứng lưu lượng qua sông giữa (cù lao Long Khánh) tăng<br /> lên 27%.<br /> Những diễn biến địa hình đang tiếp tục diễn ra, tạo nên những điều kiện động lực<br /> cho việc thoát nước của rạch Hồng Ngự trở nên tốt hơn. Những diễn biến đó cũng kéo<br /> theo những thay đổi khác lớn hơn trên toàn bộ khúc sông này, hoạt động của sông Sở<br /> Thượng, các cửa thoát nước từ ĐTM – Cần được theo dõi.<br /> <br /> (3) Về các hành lang thoát lũ ra sông Tiền:<br /> Lũ thoát ra sông Tiền qua 56 cửa, trong đó có 34 cửa cắt qua QL30 (trên một<br /> chiều dài 83km), 22 cửa cắt qua QL1A (trên chiều dài 50km). Trung bình cứ khoảng 2,3<br /> – 2,4km có 1 cửa thoát lũ. Theo chúng tôi phân bố các cửa như thế là hợp lý.<br /> Trong số 56 cửa, chỉ có khoảng 12 – 13 cửa có khả năng tiêu thoát cho những thủy<br /> vực lớn (chiếm khoảng 55% lượng lũ thoát qua 56 cửa). Số các cửa còn lại thiên về tiêu<br /> thoát cục bộ. Các hành lang thoát lũ được lựa chọn là: Đốc Vàng Hạ, Cần Lố, Phong Mỹ,<br /> Cái Lân, Cổ Cò, Trà Lọt, Thông Lưu, An Cư Long Định, trên cơ sở phân tích hiện trạng<br /> khai thác đất đai, điều kiện thu gom lũ, thoát lũ, diễn biến sông Tiền ở khu vực cửa thoát<br /> lũ.<br /> Những diễn biến lòng sông Tiền rất phức tạp: bồi, xói diễn ra khắp nơi, cần được<br /> đánh giá rõ hơn. Thêm vào đó dọc cửa sông Tiền theo kế hoạch ngọt hóa, trong những<br /> năm gần đây người ta xây dựng hàng trăm km đê bao với các cống ngăn triều (Tiền<br /> Giang, Bến Tre, Sóc Trăng…) làm dâng mức nước triều cao trong sông, gây ngập úng và<br /> khó khăn cho việc thoát nước ra sông chính. (Những tính toán của T.S Nguyễn Hữu Nhân<br /> cho thấy: mức nước triều cao vùng cửa sông có thể đã dâng lên 10 – 15cm do xây dựng<br /> các công trình ven sông. Như thế, việc thoát nước ra sông Tiền sẽ không đơn giản, nếu<br /> không có đê và cống ngăn triều ven sông.<br /> Nếu phía thượng lưu, trên đất CamPuChia người ta cũng tiếp tục việc ngăn lũ để<br /> khai thác các cánh đồng hiện nay đang điều tiết lũ, thì việc lợi dụng sông Tiền vào việc<br /> tiêu thoát sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn.<br /> Xu thế chung là việc thoát lũ ra sông Tiền sẽ ngày càng xấu đi. Trong tình thế đó,<br /> việc cải tạo khả năng tiêu thoát của sông Vàm Cỏ là việc làm cần thiết.<br /> <br /> 5.5 Về một hệ thống có tuyến KSL thượng lưu và cống hạ lưu.<br /> Một hệ thống gồm tuyến KSL thượng lưu và cống trên sông Vàm Cỏ sẽ giúp thực<br /> hiện đầy đủ các nhiệm vụ: hạn chế lũ tràn, tăng lượng lũ thoát và tiêu thoát nước cho<br /> những vùng trũng thấp khó thoát nước phục vụ cải tạo đất và cải tạo môi trường.<br /> Kết quả tính toán cho thấy:<br />  Lũ tràn qua biên giới trong trường hợp có công trình kiểm soát lũ ở tuyến<br /> thượng lưu giảm 12%, tạo điều kiện cho nước sông Tiền vào nhiều hơn trên 2<br /> tỷ m3 (tăng 46%), điều này thuận lợi cho việc lấy phù sa.<br />  Tổng hợp chung lũ đến giảm 6% (2,81 tỷ m3). Tổng lượng nước thoát ra sông<br /> Vàm Cỏ so với tổng lượng nước thoát từ ĐTM trong suốt mùa lũ chiếm 60%.<br />  Ngập lụt trong nội đồng giảm đi đáng kể. Trung bình 30 – 40cm vào thời kỳ<br /> đỉnh lũ.<br />  Thời gian ngập lũ rút ngắn được trên 30 ngày<br /> <br /> 5.6 Về tuyến KSL dọc bờ Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp.<br /> Nhiệm vụ của tuyến KSL này như trên đã trình bày là chống ngập lụt cho vùng<br /> cây ăn quả trong trường hợp lũ đặc biệt lớn, khi tuyến KSL thượng lưu và cống hạ lưu và<br /> cống hạ lưu không khắc phục được. Đối với trận lũ lớn như năm 1996, sự hỗ trợ của<br /> tuyến Nguyễn Văn Tiếp có thể không cần đến vì cống hạ lưu và tuyến KSL phía trên đã<br /> làm giảm thấp mức nước vùng phía Nam của kênh Nguyễn Văn Tiếp khoảng 20 – 25cm.<br /> Tuyến KSL dọc kênh Nguyễn Văn Tiếp cũng cần thiết cho việc giữ nước triều<br /> trong mùa cạn đẩy nước sông Tiền sang phía sông Vàm Cỏ.<br /> 5.7 Những tác động bất lợi của hệ thống công trình KSL đối với môi trường và<br /> biện pháp khắc phục.<br /> Những tác động bất lợi do công trình gây nên có thể thấy được bao gồm:<br />  Sự dềnh nước ở thượng lưu tuyến KSL lũ tràn (tuyến Tân thành-Lò Gạch).<br />  Sự dềnh nước ở hạ lưu cống ngăn triều do áp lực thủy triều.<br />  Anh hưởng của tiêu thoát nước chua đối với vùng nuôi thủy sản, sản xuất nông<br /> nghiệp vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ.<br />  Thiếu nước ngọt trong mùa cạn trong trường hợp đóng cống ngăn triều.<br />  Các vấn đề môi trường khác.<br /> <br /> (1) Sự dềnh nước thượng lưu vào đầu mùa lũ là chắc chắn không tránh khỏi.<br /> Chúng ta đã chọn tuyến KSL cách xa biên giới để không gây ngập lụt cho phía<br /> bạn. Các vùng phía ngoài công trình trên đất ta được chống lũ đầu vụ bằng đê bao.<br /> Chênh lệch thượng hạ lưu tuyến kiểm soát lũ thượng lưu qua các trận lũ 2001-2002 từ<br /> 0,2 – 0,8. Khẩu độ các cống ở các cửa thoát lũ trên tuyến KSL phải được tính toán thiết<br /> kế bảo mục tiêu không làm dâng lũ chính vụ để ảnh hưởng tới nước bạn.<br /> <br /> (2) Sự dềnh nước ở hạ lưu do áp lực thủy triều là không thể tránh được – Cần có kế<br /> hoạch nâng cao trình đê ven sông sau cống và khắc phục ngập úng cục bộ trong thời gian<br /> ngắn.<br /> Kết quả tính cho thấy mức nước sau cống có thể tăng lên 10cm so với trước khi<br /> xây dựng cống.<br /> <br /> (3) Cống ngăn triều sẽ làm thay đổi cân bằng nước một cách mạnh mẽ, nếu thiếu nước<br /> ngọt trong mùa cạn dẫn tới sự mất cân bằng nước tự nhiên. Đối với những vùng đất phèn<br /> sẽ gây nên những ảnh hưởng rất xấu đối với môi trường đất và nước.<br /> Theo quy hoạch của Phân Viện QHTL(trước đây) dự kiến sẽ bảo đảm một lưu<br /> lượng cho Tuyên Nhơn 40m3/s (để duy trì ranh giới mặn). Để duy trì cân bằng nước, theo<br /> chúng tôi lượng nước sẽ không ít hơn 2 lần (khoảng 80-85m3/s) . Để có<br /> được lượng nước đó, có thể dựa vào việc cấp nước của công trình hồ Dầu Tiếng (khoảng<br /> 20 – 25m3/s theo tính toán trước đây). Sau khi xây dựng xong hồ chứa nước Phước Hồ,<br /> do cĩ sự bổ sung nước từ Hồ Phước Hồ, nn hồ Chứa nước Dầu Tiếng sẽ cấp nước cho<br /> sông Vàm Cỏ Đông khoảng 50 m3/s.<br /> Khả năng lấy nước từ sông Tiền cũng rất lớn, nếu cải tạo các kênh trục ngang nối<br /> sông Tiền với sông Vàm Cỏ (khoảng trên 50m3/s theo tính toán trước đây, nếu có làm<br /> cống đầu kênh Hồng Ngự).<br /> Ngoài ra nếu còn thiếu nước có thể lấy thêm bằng cách vận hành các cống dọc bờ<br /> Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp, các hồ rừng trữ nước, kết hợp Nông – Lâm – Ngư dọc 2 bờ<br /> sông Vàm Cỏ Tây cũng có thể đóng góp thêm một lượng nước về mùa cạn.<br /> Trong trường hợp xấu nhất do không đủ nước ngọt (phục vụ ngọt hóa vùng cải<br /> tạo), có thể sử dụng cống như một công trình điều tiết (điều hòa mặn, ngọt) tạo thành 1<br /> khu nước lợ (có năng suất sinh học cao). Nước mặn cũng rất cần thiết cho việc cải tạo đất<br /> phèn. Trong trường hợp này vai trò của cống cũng rất cần thiết.<br /> Cần có những tài liệu điều tra tính toán cụ thể về sản xuất và môi trường vùng<br /> sông Vàm Cỏ, đặc biệt là vùng Nam Long An để tránh những mâu thuẫn, không gây tác<br /> động xấu do công trình.<br /> Trên hình 1 trình bày những diễn biến trong trường hợp đóng cống trữ nước vào<br /> tháng đầu mùa cạn. Thời gian trữ nước đến mức cao nhất khoảng 10 – 15 ngày (chưa cải<br /> tạo các kênh tạo nguồn). Mức nước cao nhất cuối tháng I khoảng trên 1m là đủ bảo đảm<br /> cân bằng nước (ở đây chưa xét đến nhu cầu mở cống thay đổi nước và cấp nước từ hồ<br /> Dầu Tiếng về sông Vàm Cỏ Đông).<br /> <br /> VI Kết luận và kiến nghị<br /> 6.1 Tình hình lũ lụt trong những năm qua cho thấy: Điều kiện khí hậu và thời tiết có<br /> những biến đổi phức tạp . Lũ lụt, hạn hán xảy ra với mật độ lớn hơn trước đây. Lượng lũ<br /> tràn gia tăng, cộng với tác động của con người làm cho ngập lụt nội đồng ngày càng gia<br /> tăng.<br /> Những diễn biến trên dòng chính sông Tiền, sông Hậu ngày càng phức tạp, bất lợi<br /> cho việc tiêu thoát nước. Trong tình hình đó việc tìm kiếm các biện pháp để KSL cho<br /> ĐTM trở thành một vấn đề bức xúc.<br /> 6.2 Trong KSL cho ĐTM chúng tôi đặt vấn đề khai thác những lợi ích do lũ mang lại<br /> là quan trọng nhất. Nước lũ, nước ngọt và phù sa để cải tạo trên 50% diện tích đất phèn<br /> và cải tạo môi trường vùng ĐTM, khai thác mặt nước vào nuôi trồng thủy sản.<br /> Trong tình hình thoát lũ ra sông chính ngày càng có xu thế xấu đi, chúng tôi đề<br /> nghị các biện pháp cải tạo sông Vàm Cỏ làm trục tiêu thoát, cấp nước , trữ nước nuôi<br /> trồng thủy sản và khai thác tổng hợp.<br /> <br /> 6.3 Một công trình kiểm soát lũ hữu hiệu bao gồm :<br />  Một tuyến kiểm soát lũ thượng lưu (dọc kênh Tân Thành- Lò Gạch) với một số cống<br /> KSL (để hạn chế lũ tràn) đẩy nước ra sông Tiền và sông Vàm Cỏ.<br />  Một cống hạ lưu trên sông Vàm Cỏ để ngăn triều và rút nước từ ĐTM, tăng cường<br /> khả năng tiêu thoát cho sông Vàm Cỏ và nước phèn ở các vùng đất phèn.<br />  Một tuyến KSL phụ dọc bờ nam kênh Nguyễn Văn Tiếp để bảo vệ vùng cây ăn quả<br /> phía nam chống lũ lớn, gia tăng cấp nước cho vùng phía Đông.<br />  Cải tạo một số đoạn sông và kênh ngang để tăng cường việc trao đổi nước và thoát<br /> nước ra sông Vàm Cỏ.<br />  Cải tạo các cửa thoát lũ, mở một số hành lang thoát lũ. Xây dựng các hồ trữ nước với<br /> lợi ích lợi dụng tổng hợp.<br /> <br /> 6.4 Công trình ưu tiên sẽ là cống ngăn triều trên sông Vàm Cỏ chung (hoặc Vàm Cỏ<br /> Tây).<br /> Cống trên sông Vàm Cỏ chung sẽ có tác động toàn diện và mạnh song đòi hỏi phải<br /> cải tạo hệ thống kênh mương lớn. Cống chung cũng sẽ gây tác động lớn hơn đến môi<br /> trường.<br /> Cống trên Vàm Cỏ Tây không yêu cầu những cải tạo lớn. Tác động môi trường<br /> cũng nhẹ hơn, yêu cầu cung cấp nước ngọt cũng ít hơn.<br /> Tuy nhiên do nhu cầu phát triển kinh tế rất sôi động của vùng nên việc xây dựng<br /> một cống ở sông Vàm Cỏ Đông sẽ là một nhu cầu tất yếu trong tương lai gần.<br /> <br /> Vì vậy, nếu cân nhắc đến lợi ích lâu dài của toàn vùng thì việc xây dựng một<br /> cống trên sông Vàm Cỏ chung sẽ đáp ứng được các nhu cầu trước mắt và lâu dài và sẽ<br /> đem lại hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế và cải tạo môi trường toàn diện cho nhân<br /> dân vùng ĐTM.<br /> <br /> 6.5 Các cống thượng lưu sẽ được lần lượt xây dựng từ phía Tây sang Đông. Đoạn cần<br /> thiết trước tiên là Hồng Ngự - Cái Cái. Đoạn từ sau rạch Cái Cái đến Vàm Cỏ Tây<br /> sẽ được xây dựng ở giai đoạn sau.<br /> <br /> 6.6 Sau khi xây dựng cống, các công trình tạo nguồn cũng cần thiết để đảm bảo cung<br /> cấp nước ngọt, cân bằng nước và cân bằng sinh thái.<br /> <br /> T.p Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 12 năm 2003.<br /> ĐƯỜNG QUÁ TRÌNH MỰC NƯỚC BÌNH QUÂN NGÀY<br /> TRONG CỐNG VM CỎ CHUNG THEO CÁC PHƯƠNG ÁN<br /> <br /> 1.5<br /> Thời điểm bắt đầu đóng cống 01/01/1997<br /> <br /> <br /> 1<br /> <br /> <br /> <br /> 0.5<br /> Đường quá trình mực nước khi đóng cống<br /> Hiện trạng<br /> H (m)<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 0<br /> <br /> Đường quá trình mực nước cống chảy 1 chiếu<br /> -0.5<br /> <br /> <br /> <br /> -1<br /> <br /> <br /> <br /> -1.5<br /> VII/1996 VIII/199 IX/1996 X/1996 XII/1996 XII/1996 I/1997 II/1997 III/1997 IV/1996 V/1997<br /> Cống 1 chiều chưa cải tạo T (Tháng , ngày)<br /> Đóng cống 01/01/1997 chua<br /> Cống 1 chiều đã cải tạo Đóng cống 01/01/1997 đã c<br /> Cống 1 chiều +cải tạo Vàm Cỏ + cải tạo thêm các kênh ngang Đóng cống 01/01/1997/ cả<br /> Hiện trạng<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2