intTypePromotion=1

Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên về phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
49
lượt xem
3
download

Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên về phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Có thể xác định một số nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất đến nhận thức của sinh viên về qui chế đào tạo theo HCTC. Một là tính chủ động của SV còn thấp chưa có thái độ đúng đắn nghiêm túc với việc tự học; Hai là năng lực lập kế hoạch và tổ chức công việc cá nhân của SV còn yếu; Ba là số lượng giảng viên giảng dạy cho một môn học còn hạn chế, thiếu giáo trình, tài liệu, sách tham khảo; Bốn là cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập chưa đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên (chưa đồng bộ, chưa đầy đủ…). Từ những nguyên nhân trên đã đặt ra cho các nhà giáo dục, các trường đại học những tồn tại cần phải giải quyết cấp bách.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên về phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ

Đinh Đức Hợi<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 80(04): 101 - 104<br /> <br /> MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN<br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VỀ PHƯƠNG THỨC<br /> ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ<br /> Đinh Đức Hợi*<br /> Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Có thể xác định một số nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất đến nhận thức của sinh viên về qui chế<br /> đào tạo theo HCTC. Một là tính chủ động của SV còn thấp chưa có thái độ đúng đắn nghiêm túc với<br /> việc tự học; Hai là năng lực lập kế hoạch và tổ chức công việc cá nhân của SV còn yếu; Ba là số<br /> lượng giảng viên giảng dạy cho một môn học còn hạn chế, thiếu giáo trình, tài liệu, sách tham<br /> khảo; Bốn là cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập chưa đáp ứng nhu cầu học tập của sinh<br /> viên (chưa đồng bộ, chưa đầy đủ…). Từ những nguyên nhân trên đã đặt ra cho các nhà giáo dục, các<br /> trường đại học những tồn tại cần phải giải quyết cấp bách.<br /> Từ khoá: Tín chỉ, hệ thống tín chỉ, sinh viên, giáo viên, sư phạm<br /> <br /> Hiện nay ở nước ta Đào tạo theo học chế tín<br /> chỉ (HCTC) là một trong bảy bước đi quan<br /> trọng trong lộ trình đổi mới giáo dục đại học<br /> (GDĐH) giai đoạn 2006 – 2020. Theo chủ<br /> trương của Bộ GD&ĐT, ngay trong năm<br /> học 2006 – 2007, các trường phải tập trung<br /> triển khai đào tạo theo HCTC và phải hoàn<br /> thành vào năm 2010.<br /> Chính vì vậy, thực hiện Quyết định số<br /> 43/2007/QĐ – BGD-ĐT ngày 15 tháng 8<br /> năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT –<br /> Trường ĐHSP – ĐHTN đã triển khai áp<br /> dụng Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng<br /> <br /> hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ. Đối<br /> tượng áp dụng là đối với sinh viên khoá 43<br /> hệ Đai học chính quy của trường. Sau gần 3<br /> năm thực hiện chuyển đổi qui chế đào tạo,<br /> bước đầu Trường đã đạt được những thành<br /> quả nhất định. Chúng tôi đã điều tra và xác<br /> định được một số nguyên nhân ảnh hưởng<br /> đến nhận thức của sinh viên (SV) về qui chế<br /> đào tạo theo HCTC.<br /> MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN<br /> Qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả<br /> được thể hiện tại bảng 1. Phần trăm tương<br /> ứng được thể hiện tại bảng 2.<br /> <br /> Bảng 1. Những nguyên nhân chủ quan*<br /> Ý kiến SV (giảm dần từ 1 - 5)<br /> STT<br /> <br /> *<br /> <br /> Nguyên nhân chủ quan<br /> <br /> TS<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 1<br /> <br /> Chưa nhận thức đúng và đầy đủ về quy chế<br /> đào tạo tín chỉ<br /> <br /> 11<br /> <br /> 10<br /> <br /> 21<br /> <br /> 16<br /> <br /> 0<br /> <br /> 58<br /> <br /> 2<br /> <br /> Chưa xác định rõ ràng về mục tiêu kế hoạch<br /> học tập theo quy chế tín chỉ<br /> <br /> 10<br /> <br /> 12<br /> <br /> 23<br /> <br /> 12<br /> <br /> 0<br /> <br /> 57<br /> <br /> 3<br /> <br /> Tính chủ động của SV còn thấp chưa có thái<br /> độ đúng đắn nghiêm túc với việc tự học<br /> <br /> 30<br /> <br /> 14<br /> <br /> 5<br /> <br /> 10<br /> <br /> 0<br /> <br /> 59<br /> <br /> 4<br /> <br /> Năng lực lập kế hoạch và tổ chức công việc<br /> cá nhân của SV còn yếu<br /> <br /> 15<br /> <br /> 23<br /> <br /> 6<br /> <br /> 16<br /> <br /> 0<br /> <br /> 60<br /> <br /> 5<br /> <br /> Các nguyên nhân khác<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 60<br /> <br /> 60<br /> <br /> Tel: 0915 943 456; Email: hdd1977@gmail.com<br /> <br /> 101<br /> <br /> Đinh Đức Hợi<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 80(04): 101 - 104<br /> <br /> Bảng 2. Bảng phần trăm tương ứng<br /> STT<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> Nguyên nhân chủ quan<br /> Chưa nhận thức đúng và đầy đủ về<br /> quy chế đào tạo tín chỉ<br /> Chưa xác định rõ ràng về mục tiêu kế<br /> hoạch học tập theo quy chế tín chỉ<br /> Tính chủ động của SV còn thấp chưa<br /> có thái độ đúng đắn nghiêm túc với<br /> việc tự học<br /> Năng lực lập kế hoạch và tổ chức<br /> công việc cá nhân của SV còn yếu<br /> Các nguyên nhân khác<br /> <br /> Qua bảng số liệu trên chúng ta thấy có 30 SV<br /> (50,8%) tự thừa nhận nguyên nhân chủ quan<br /> ảnh hưởng lớn nhất đến việc học tập là do:<br /> “tính chủ động của họ còn thấp chưa có thái<br /> độ đúng đắn, nghiên túc với việc tự học”. Đối<br /> với SV khó khăn nhất khi học tập theo tín chỉ<br /> là phải áp dụng phương pháp học tập tích cực,<br /> lấy tự học và học cái cốt lõi làm chính.<br /> Phương pháp học này phát huy tính năng<br /> động và sáng tạo của SV, vì vậy nó đòi hỏi<br /> tính chủ động tích cực rất cao ở SV<br /> Nếu SV vẫn còn quen nếp cũ, thụ động nên<br /> ảnh hưởng lớn tới việc học tập của SV là điều<br /> tất yếu. Ở các mức độ khác (2, 3 và 4) ta thấy<br /> hầu như SV đều lựa chọn nguyên nhân do<br /> tính chủ động của họ thấp với tỷ lệ khá cao, ví<br /> dụ ở mức 2 là 23,7%, tiếp đến là nguyên nhân<br /> năng lực lập kế hoạch, tổ chức công việc cá<br /> nhân của SV còn yếu, ở mức độ cao nhất có<br /> 15 SV (25%), ở mức 2 có 23 SV (38,3%).<br /> Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc<br /> lập kế hoạch, mục tiêu học tập của SV chính<br /> là năng lực lập kế hoạch và tổ chức công việc<br /> cá nhân của SV.<br /> Năng lực này phụ thuộc vào khối kiến thức cơ<br /> bản của SV về kỹ năng, phương pháp lập kế<br /> hoạch làm việc cá nhân một cách khoa học,<br /> bao gồm: Khả năng dự kiến tổng thể, khả<br /> năng nhận thức của SV về những yếu tố ảnh<br /> hưởng đến việc lập kế hoạch học tập trong mô<br /> hình đào tạo tín chỉ và phương pháp học tập<br /> của SV. Cho dù các yếu tố khác được đáp ứng<br /> đầy đủ mà SV không có năng lực lập kế<br /> hoạch thì kế hoạch đó vẫn không đem lại hiệu<br /> quả như mong muốn. Như vậy yếu tố chủ<br /> quan của mỗi cá nhân là yếu tố quyết định<br /> 102<br /> <br /> 1<br /> <br /> Ý kiến SV (giảm dần từ 1 - 5)<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> TS<br /> (%)<br /> <br /> 18,3<br /> <br /> 17<br /> <br /> 37<br /> <br /> 27,7<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 17,5<br /> <br /> 21,1<br /> <br /> 40,4<br /> <br /> 21<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 50,8<br /> <br /> 23,7<br /> <br /> 8,5<br /> <br /> 17<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 25<br /> <br /> 38,3<br /> <br /> 10<br /> <br /> 26,7<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 100<br /> <br /> 0<br /> <br /> đến hiệu quả của việc lập kế hoạch học tập vì<br /> trong mô hình đào tạo tín chỉ, SV là người giữ<br /> vai trò chủ động còn nhà trường chỉ tạo môi<br /> trường, điều kiện thuận lợi để SV phát huy sự<br /> chủ động tích cực đó trong học tập theo<br /> HCTC nhất thiết phải rèn cho mình thói quen<br /> lập kế hoạch học tập, vì điều này ảnh hưởng<br /> lớn đến kết quả học tập của SV. Thực tế phần<br /> lớn SV chỉ bắt đầu học khi sắp có lịch thi.<br /> Cách học này khiến SV thường căng thẳng,<br /> mệt mỏi, bị áp lực nhưng vẫn không đạt được<br /> kết quả như mong muốn. Vậy để có một kế<br /> hoạch học tập thật tốt và thực hiện theo đúng<br /> kế hoạch đặt ra SV cần phải làm gì?<br /> Quan trọng nhất là SV phải xác định được<br /> mục tiêu học tập của mình, ngoài ra họ phải<br /> nhận thức được các yếu tố ảnh hưởng đến<br /> việc lập kế hoạch học tập.<br /> Đứng thứ 4 là nguyên nhân chưa xác định rõ<br /> ràng về mục tiêu kế hoạch học tập theo quy<br /> chế tín chỉ. Có 10 SV (17,5%) ở mức 1; 16<br /> SV (21%) ở mức 4. Phải khẳng định rằng đào<br /> tạo theo HTTC đòi hỏi SV phải nắm chắc quy<br /> chế đào tạo và được tư vấn đầy đủ, để lập<br /> được kế hoạch học tập thật phù hợp với điều<br /> kiện và năng lực của mình. Đào tạo theo niên<br /> chế lâu nay đã tạo thành nếp suy nghĩ và hoạt<br /> động thụ động trong phần lớn SV không dễ gì<br /> thay đổi ngay được, khi chuyển sang cách học<br /> tự nghiên cứu đã có nhiều SV tỏ ra mệt mỏi vì<br /> chưa quen hay thiếu hiểu biết về quy chế này.<br /> MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN<br /> Bên cạnh nguyên nhân chủ quan còn có<br /> những nguyên nhân khách quan ảnh hưởng<br /> không nhỏ tới việc học tập của SV theo<br /> QCTC. Qua điều tra chúng tôi thu được kết<br /> quả thể hiện trên bảng 3.<br /> <br /> Đinh Đức Hợi<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 80(04): 101 - 104<br /> <br /> Bảng 3. Những nguyên nhân khách quan<br /> STT<br /> 1<br /> 2<br /> <br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> Ý kiến SV giảm dần từ 1 đến 5<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> Nguyên nhân khách quan<br /> Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập<br /> chưa đáp ứng nhu cầu học tập của SV…<br /> Số lượng giảng viên giảng dạy cho một môn<br /> học còn hạn chế, thiếu giáo trình, tài liệu,<br /> sách tham khảo<br /> Việc đăng ký môn học của SV, việc sắp xếp<br /> lịch học, lịch thi và thời khoá biểu học tập<br /> của SV chưa sát với thực tế<br /> Công tác quản lý đào tạo theo QCTC còn<br /> nhiều yếu kém bất cập<br /> Những nguyên nhân khác……<br /> <br /> Tổng số<br /> (%)<br /> <br /> 16<br /> <br /> 17<br /> <br /> 15<br /> <br /> 9<br /> <br /> 0<br /> <br /> 57<br /> <br /> 30<br /> <br /> 13<br /> <br /> 13<br /> <br /> 4<br /> <br /> 0<br /> <br /> 60<br /> <br /> 15<br /> <br /> 19<br /> <br /> 17<br /> <br /> 9<br /> <br /> 0<br /> <br /> 60<br /> <br /> 0<br /> <br /> 10<br /> <br /> 11<br /> <br /> 35<br /> <br /> 1<br /> <br /> 57<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 55<br /> <br /> 56<br /> <br /> Ta có bảng % tương ứng:<br /> Bảng 4. Bảng phần trăm tương ứng<br /> STT<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> 5<br /> <br /> Nguyên nhân khách quan<br /> Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học<br /> tập chưa đáp ứng nhu cầu học tập của<br /> sinh viên (chưa đồng bộ, chưa đầy đủ…)<br /> Số lượng giảng viên giảng dạy cho một<br /> môn học còn hạn chế, thiếu giáo trình,<br /> tài liệu, sách tham khảo<br /> Việc đăng ký môn học của sinh viên, việc<br /> sắp xếp lịch học, lịch thi và thời khoá<br /> biểu học tập của sinh viên chưa sát với<br /> thực tế<br /> Công tác quản lý đào tạo theo quy chế<br /> tín chỉ còn nhiều yếu kém bất cập.<br /> Những nguyên nhân khác…<br /> <br /> Từ bảng số liệu trên ta thấy có 30 SV(50%)cho<br /> rằng, nguyên nhân ảnh hưởng lớn nhất tới việc<br /> học tập của họ theo QCTC là do số lượng<br /> giảng viên giảng dạy cho một môn học còn<br /> hạn chế, thiếu giáo trình tài liệu, sách tham<br /> khảo. Đây là khó khăn chung của các trường<br /> khi chuyển sang đào tạo theo HCTC.<br /> Về phía giảng viên, để thực hiện ĐTTC lịch<br /> giảng dạy phải được thực hiện nghiêm ngặt,<br /> trong khi việc thực hiện đầy đủ các giờ lên<br /> lớp theo đúng lịch trình của từng tuần học<br /> hiện nay là chưa thật khoa học. Do số lượng<br /> giảng viên giảng dạy cho một môn học còn<br /> hạn chế, thêm vào đó giảng viên phải cùng<br /> hoàn thành nhiều nhiệm vụ khác nhau trong<br /> cùng một khoảng thời gian. Ngoài ra người<br /> thầy còn chưa quen thiết kế những chương<br /> <br /> Ý kiến SV giảm dần từ 1 đến 5<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> Tổng số<br /> (%)<br /> <br /> 28<br /> <br /> 30<br /> <br /> 26,3<br /> <br /> 15,7<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 50<br /> <br /> 21,7<br /> <br /> 21,7<br /> <br /> 6,6<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 25<br /> <br /> 31,7<br /> <br /> 28,3<br /> <br /> 15<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100<br /> <br /> 0<br /> <br /> 17,5<br /> <br /> 19,3<br /> <br /> 61,4<br /> <br /> 1,8<br /> <br /> 100<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1,8<br /> <br /> 98,2<br /> <br /> 100<br /> <br /> trình ngoài giờ lên lớp cho SV. Giáo trình áp<br /> dụng cho HCTC vẫn là giáo trình cũ của<br /> chương trình niên chế. Nhưng để đáp ứng đầy<br /> đủ các yêu cầu trên là không hề đơn giản. Bản<br /> chất của HCTC là tự học tự nghiên cứu bằng<br /> việc chuẩn bị bài ở nhà, trong khi đó số lượng<br /> giáo trình tài liệu sách tham khảo còn hạn<br /> chế, đây quả là nghịch lý rất bất cập với SV.<br /> Nguyên nhân lớn thứ hai ảnh hưởng đến việc<br /> học tập của SV là cơ sở vật chất phục vụ cho<br /> việc giảng dạy, học tập chưa đáp ứng được<br /> nhu cầu thực tế. Đây là khó khăn chung của<br /> các trường ĐH khi chuyển sang đào tạo theo<br /> HCTC. Vì nhu cầu về cơ sở vật chất phục vụ<br /> cho việc học tập theo tín chỉ là rất lớn, với<br /> thực trạng của trường ta như hiện nay chưa<br /> thể đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người<br /> 103<br /> <br /> Đinh Đức Hợi<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> học. Tuy nhiên hiện nay, trường ta đang xây<br /> dựng thêm hội trường hơn 1000 chỗ, thư viện<br /> mới rộng rãi, sạch đẹp, dự kiến hoàn thành<br /> vào năm 2011, đó là điều kiện thuận lợi của<br /> trường ta. Đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng là<br /> do việc đăng ký môn học của SV, việc sắp<br /> xếp lịch học, lịch thi và thời khoá biểu học tập<br /> của SV chưa sát với thực tế, (với 15 SV,<br /> chiếm 25%). Và công tác quản lý đào tạo theo<br /> quy chế tín chỉ còn nhiều yếu kém bất cập,<br /> với 35 SV(61,4%) ở mức độ 4 đứng ở vị trí<br /> thứ tư. Với trường ta khó khăn trong việc đào<br /> tạo tín chỉ lại tăng lên gấp bộ bởi xuất phát từ<br /> yếu tố vùng miền. HSSV chủ yếu là con em<br /> dân tộc thiểu số nên ngại va chạm, thích ổn<br /> định, tâm lý tự ti nên cần có sự gần gũi thông<br /> cảm. Với HSSV miền núi phía Bắc việc<br /> chuyển đổi này càng có những khó khăn rõ<br /> rệt, làm quen với học chế tín chỉ không phải<br /> là điều dễ dàng.<br /> Như vậy, căn cứ vào kết quả khảo sát thì có<br /> rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng, có thể xác<br /> định một số nguyên nhân ảnh hưởng nhiều<br /> nhất đến nhận thức của sinh viên về qui chế<br /> đào tạo theo HCTC. Một là tính chủ động của<br /> SV còn thấp chưa có thái độ đúng đắn nghiêm<br /> túc với việc tự học; Hai là năng lực lập kế<br /> hoạch và tổ chức công việc cá nhân của SV<br /> còn yếu; Ba là số lượng giảng viên giảng dạy<br /> <br /> 80(04): 101 - 104<br /> <br /> cho một môn học còn hạn chế, thiếu giáo<br /> trình, tài liệu, sách tham khảo; Bốn là cơ sở<br /> vật chất phục vụ giảng dạy, học tập chưa đáp<br /> ứng nhu cầu học tập của sinh viên (chưa<br /> đồng bộ, chưa đầy đủ…). Từ những nguyên<br /> nhân trên đã đặt ra cho các nhà giáo dục, các<br /> Trường đại học những tồn tại cần phải giải<br /> quyết cấp bách.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (1994) Về hệ thống<br /> tín chỉ học tập, tài liệu sử dụng nội bộ. Hà Nội.<br /> [2]. Nguyễn Đình Hảo, Đào tạo theo Học chế tín<br /> chỉ tại Trường ĐH Đà Lạt-Nhận thức và kinh<br /> nghiệm triển khai.<br /> [3]. Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị (2007), Tâm<br /> lý học Sư phạm Đại học, Nxb Đại học Sư phạm,<br /> Hà Nội.<br /> [4]. Lâm Quang Thiệp (4/2006),Về việc áp dụng<br /> học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam, bài<br /> viết cho Toạ đàm về đào tạo tín chỉ ở ĐHQGHN.<br /> [5]. Trường ĐHSP – ĐHTN (2008), Những điều<br /> sinh viên sư phạm cần biết lưu hành nội bộ.<br /> [6]. Trường ĐHSP – ĐHTN (2008), Quy chế đào<br /> tạo hệ Đại học chính quy theo hệ thống tin chỉ, Tài<br /> liệu lưu hành nội bộ, Thái Nguyên.<br /> [7]. Vietnam.net (17h05’, 20/07/2007), Đào tạo<br /> tín chỉ 3 việc cần làm ngay.<br /> [8]. VOV (15h37’, 29/08/2008), Đào tạo tín chỉ<br /> kiểu Mỹ.<br /> <br /> SUMMARY<br /> SOME CAUSES INFLUENCING AWARENESS OF UNIVERSITY<br /> STUDENTS TEACHERS - THAI NGUYEN UNIVERSITY METHOD<br /> FOR TRAINING THE CREDIT<br /> Dinh Duc Hoi*<br /> College of Education - TNU<br /> <br /> Can identify several factors most influence the perception of students trained under the governance of<br /> HCTC. An initiative of the students are low may have the right attitude to study seriously; two is the<br /> capacity to plan and organize individual work of students is weak; Three is the number of faculty<br /> teaching a limited subject, lack of textbooks, materials, reference books; Four that facilities for teaching,<br /> learning does not meet the learning needs of students (not synchronous, incomplete ... .) From the<br /> above reasons were set out for home education, the University of shortcomings need to be<br /> addressed urgently.<br /> Keywords: Credit, credit system, students, teachers, educators<br /> <br /> *<br /> <br /> Tel: 0915 943 456; Email: hdd1977@gmail.com<br /> <br /> 104<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2