intTypePromotion=1

Một số vấn đề lý luận về tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
2
lượt xem
0
download

Một số vấn đề lý luận về tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung bài viết phân tích làm sáng tỏ một số khía cạnh, phương diện cơ bản về các vấn đề: khái niệm, đặc điểm và chức năng của tổ chức hành nghề luật sư; địa vị pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư theo pháp luật Việt Nam hiện nay; định hướng chung nhằm hoàn thiện pháp luật về luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số vấn đề lý luận về tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay

  1. Soá chuyeân ñeà “Luaät sö vaø ñaïo ñöùc ngheà luaät sö” MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Trần Văn Công1 Tóm tắt: Nghề luật sư có những đặc thù riêng không giống như các nghề kinh doanh, thương mại đó là không lấy điểm xuất phát và không dựa vào vốn mà dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của luật sư. Hoạt động nghề nghiệp của luật sư là hành nghề độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động nghề nghiệp của mình. Trong hành nghề luật sư, để hỗ trợ giúp đỡ nhau, để nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu và uy tín trước khách hàng các luật sư có thể hợp tác với nhau thành các tổ chức hành nghề luật sư nhất định. Nội dung bài viết phân tích làm sáng tỏ một số khía cạnh, phương diện cơ bản về các vấn đề: (1) Khái niệm, đặc điểm và chức năng của tổ chức hành nghề luật sư; (2) Địa vị pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư theo pháp luật Việt Nam hiện nay; (3) Định hướng chung nhằm hoàn thiện pháp luật về luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam. Từ khóa: Pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, địa vị pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, định hướng hoàn thiện pháp luật về luật sư. Nhận bài:18/07/2018; Hoàn thành biên tập: 25/07/2018; Duyệt đăng: 26/07/2018. Abstract: Lawyer has its own unique characteristics, unlike business and commercial, it does not have a starting point and does not base on capital, but on the legal knowledge and practicing skills. The professional activity of a lawyer is to practice independently and take personal responsibility. In the practice of lawyers, to assist each other, in order to improve their ability to meet the need and prestige of clients, lawyers can cooperate with certain lawyer organizations. The article is about the following issues: (1) The concepts, characteristics and functions of the law-practising organization; (2) The legal position of law-practicing organization in accordance with Vietnamese law at present; 3) General orientations for improving the law on lawyers and law-practising organization in Vietnam. Keywords: Law on law-practising organization, law-practising organization, legal position of law-practising organization, orientations for improving law-practising organization. Date of receipt:18/07/2018; Date of revision: 25/07/2018; Date of approval: 26/07/2018. 1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và của tổ tổ chức hành nghề luật sư chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư”. Có 1.1. Khái niệm tổ chức hành nghề luật sư quan điểm khác lại cho rằng TCHNLS là: Tổ Có rất nhiều quan điểm cho rằng tổ chức chức hành nghề luật sư là loại hình doanh hành nghề luật sư (TCHNLS) là “một loại hình nghiệp đặc thù, do một hoặc nhiều luật sư đủ tổ chức nghề nghiệp do Nhà nước cho phép điều kiện theo luật định thành lập hoặc tham thành lập, được hình thành theo quy định của gia thành lập và đăng ký hoạt động theo quy pháp luật, để hỗ trợ Chính phủ trong lĩnh vực định của pháp luật. Các ý kiến trên đều có các hoạt động tư pháp. Muốn trở thành luật sư hạt nhân hợp lý. Tuy nhiên, chưa phản ánh thành viên của tổ chức hành nghề luật sư phải được đầy đủ các yếu tố về bản chất của mô đáp ứng đầy đủ những điều kiện do pháp luật hình TCHNLS bởi nếu cho rằng TCHNLS đặt quy định. Hoạt động nghề nghiệp của các tổ dưới sự quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm chức hành nghề luật sư đặt dưới sự quản lý của quyền và tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật 1 Thạc sỹ, Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Học viện Khoa học xã hội. 21
  2. HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP sư mà chưa quan tâm đến hoạt động tự quản Trong nghiên cứu khoa học pháp lý, việc của TCHNLS theo điều lệ công ty (trường hợp đưa ra khái niệm tổ chức hành nghề luật sư là TCHNLS là công ty luật) và theo quy ước tự việc làm tương đối khó khăn và còn nhiều thỏa thuận của luật sư (trường hợp TCHNLS tranh luận. Bài viết này đưa ra khái niệm tổ là VPLS) là chưa bao hàm các quan hệ dân sự, chức hành nghề luật sư chỉ mang tính quy ước, quan hệ kinh tế, dịch vụ, v.v…phát sinh trong quy định chung để có một cách hiểu thống nhất quá trình hoạt động của TCHNLS hoặc chưa và được thể hiện trên các mặt như sau: (1) Tổ bao quát được tính hỗ trợ pháp lý trong lĩnh chức hành nghề luật sư là một loại hình tổ chức vực hoạt động tư pháp hay nói cách khác là nghề nghiệp do Nhà nước cho phép thành lập, chưa bao hàm nhiệm vụ bổ trợ tư pháp của được hình thành theo quy định của Chính phủ. TCHNLS mà đề cập sâu về chức năng kinh Muốn trở thành luật sư thành viên của tổ chức doanh của TCHNLS theo ngành nghề kinh hành nghề luật sư phải đáp ứng đầy đủ những doanh có điều kiện và mục tiêu là lợi nhuận điều kiện theo pháp luật quy định. Hoạt động giống như các loại hình công ty kinh doanh nghề nghiệp của các tổ chức hành nghề luật sư thông thường. đặt dưới sự quản lý của các cơ quan nhà nước Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, nhiều có thẩm quyền và tổ chức xã hội - nghề nghiệp nước trên thế giới hiện đã và đang có xu hướng của luật sư; (2) Tổ chức hành nghề luật sư là đa dạng hóa hình thức tổ chức hành nghề luật một bộ phận của tổ chức xã hội- nghề nghiệp sư để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của luật sư được thành lập để đại diện, bảo vệ (Mỹ, Australia, Anh, Nhật Bản, Singapore, Thái quyền, lợi ích hợp pháp cho luật sư, giám sát Lan). Ngoài hình thức công ty luật hợp danh việc tuân theo pháp luật, quy tắc đạo đức và mang tính truyền thống, pháp luật của các nước ứng xử nghề nghiệp của luật sư, thực hiện quản đó còn quy định về loại hình công ty luật trách lý hành nghề luật sư theo quy định của pháp nhiệm hữu hạn2. Có thể thấy quy định pháp luật luật; (3) Hoạt động tự quản của tổ chức hành của các nước phát triển hình thức tổ chức hành nghề luật sư là hoạt động nhân danh chính tổ nghề luật sư phổ biến là: Văn phòng luật sư và chức của mình để tham gia quản lý luật sư. hành nghề độc lập (sole practitioner/principal) Trong một số trường hợp do pháp luật quy và Công ty luật hợp danh (partnership). Một số định, tổ chức hành nghề luật sư hoạt động nhân nước như Pháp, Canada, Bỉ, Singapore, Thái danh và đại diện của luật sư trong tổ chức hành Lan, Đức… hình thức hành nghề luật sư ở các nghề luật sư của mình. Nhà nước thừa nhận và nước này tương đối đa dạng, không bắt buộc bảo hộ sự tồn tại của tổ chức xã hội - nghề phải hành nghề dưới một hình thức nhất định. nghiệp của luật sư và bảo hộ cho tổ chức hành Bên cạnh hình thức hợp danh, luật sư có thể lựa nghề luật sư bằng việc cho phép tổ chức hành chọn các hình thức kinh doanh thông thường nghề luật sư được thành lập và quy định quyền như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên và nghĩa vụ pháp lý của tổ chức này. doanh. Ngoài ra, luật sư có thể hành nghề độc Từ những phân tích trên đây, tác giả đưa ra lập mà không cần thành lập văn phòng hoặc khái niệm TCHNLS là: “Mô hình tổ chức công ty. Các nước như Argentina, Hoa Kỳ, Anh, hoạt động nghề nghiệp của luật sư, do các Singapore, v.v..., còn cho phép luật sư làm thuê. luật sư đủ điều kiện thành lập hoặc tham gia Khách hàng mà luật sư làm thuê, họ vừa là chủ liên doanh, liên kết thành lập và đăng ký hoạt nhưng cũng là khách hàng duy nhất của luật sư. động theo Luật Luật sư, Luật doanh nghiệp Tuy nhiên, về mặt nghiệp vụ, luật sư làm thuê và các quy định khác của pháp luật có liên vẫn hành nghề độc lập mà không bị chi phối bởi quan”. Khái niệm về TCHNLS này không chỉ người chủ. khẳng định TCHNLS là mô hình hoạt động có 2 Vụ Bổ trợ tư pháp - Bộ Tư pháp, Dự án luật về luật sư so sánh với pháp luật của một số nước, Nxb. Tư pháp, Hà nội, 2006, tr.85-86. 22
  3. Soá chuyeân ñeà “Luaät sö vaø ñaïo ñöùc ngheà luaät sö” tư cách pháp nhân, mà còn đặt cơ sơ lý luận ngoài tại Việt Nam đều phải tuân thủ theo một cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chế định pháp luật đặc thù, hoạt động độc lập hành nghề luật sư hiện nay. theo pháp luật luật sư, pháp luật doanh nghiệp 1.2. Đặc điểm của tổ chức hành nghề luật sư và các quy định khác của pháp luật có liên Xuất phát từ bản chất, vị trí, vai trò của nghề quan. Hoạt động của TCHNLS về bản chất vẫn luật sư TCHNLS có các đặc điểm như sau: theo nguyên tắc hoạt động của luật sư. TCHNLS không có đăng ký vốn pháp định: TCHNLS là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp TCHNLS không lấy điểm xuất phát là vốn và của công dân, của tổ chức và suy cho cùng là cũng không dựa vào vốn mà dựa vào kiến thức bảo vệ quyền con người. TCHNLS có các chức pháp luật, kỹ năng hành nghề của luật sư, và năng cơ bản sau: (1) Chức năng hoạt động uy tín của tổ chức hành nghề luật sư. tham gia tố tụng; (2) Chức năng tư vấn pháp TCHNLS có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tư luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác; (3) cách pháp nhân: TCHNLS do luật sư thành lập Chức năng nhận người tập sự hành nghề luật hợp pháp, tập hợp được nhiều người có cùng sư và hướng dẫn kỹ năng hành nghề luật sư; chung mục đích, lợi ích và cùng hoạt động (4) Chức năng quản lý tự quản; (5) Chức năng nghề nghiệp theo quy định của pháp luật với phổ biến, tuyên truyền pháp luật; (6) Chức những chức năng, nhiệm vụ cụ thể nhằm thực năng kinh doanh của tổ chức hành nghề luật hiện mục đích chung. sư; (7) Chức năng tham gia vào các hoạt động TCHNLS có phương thức tổ chức và hoạt xã hội khác. động mang tính tự quản: TCHNLS có nhiệm 2. Địa vị pháp lý của tổ chức hành nghề vụ trọng tâm là bảo đảm sự độc lập, tự do trong luật sư theo pháp luật Việt Nam hoạt động nghề nghiệp của luật sư, hoạt động 2.1. Địa vị pháp lý của tổ chức hành nghề bình quyền, bình đẳng với các cơ quan bảo vệ luật sư pháp luật. TCHNLS không chỉ thực hiện các TCHNLS tại Việt Nam là tổ chức có tư chức năng kiểm tra, giám sát đối với từng luật cách pháp nhân, có tên gọi, con dấu và tài sư của tổ chức mà còn đại diện chung cho khoản riêng, có vai trò, vị trí quyền và nghĩa quyền lợi của họ trên các lĩnh vực trong hoạt vụ hoàn toàn độc lập với Đoàn luật sư, Liên động hành nghề. đoàn luật sư Việt Nam nhằm thực hiện các TCHNLS có nguyên tắc quản lý đặc thù quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. riêng: nguyên tắc kết hợp quản lý Nhà nước TCHNLS đại diện cho các luật sư trong tổ với vai trò tự quản, nguyên tắc tuân thủ pháp chức nghề nghiệp của mình; bảo vệ quyền và luật, nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp. lợi ích hợp pháp của các luật sư thành viên; TCHNLS đăng ký hoạt động tại cơ quan tư thực hiện một số chức năng quản lý luật sư và pháp: khác với việc đăng ký kinh doanh của hành nghề luật sư được pháp luật quy định công ty thông thường, TCHNLS đăng ký hoạt nhằm thúc đẩy việc thực thi sứ mạng của luật động tại Sở tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc sư; hỗ trợ phát triển nghề luật sư nhằm tăng trung ương nơi có trụ sở chính hoạt động. cường vai trò của luật sư trong xã hội. 1.3. Chức năng của tổ chức hành nghề TCHNLS tại Việt Nam hiện nay có hai hình luật sư thức phổ biến đó là: Văn phòng luật sư và Tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam dù Công ty luật3. được tổ chức và hoạt động dưới hình thức nào - Văn phòng luật sư (VPLS) là TCHNLS (văn phòng luật sư hoặc công ty luật), là do một luật sư thành lập, được tổ chức và hoạt TCHNLS trong nước hay TCHNLS nước động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Luật 3 Xem thêm Điều 32, Luật Luật sư sửa đổi năm 2012. 23
  4. HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP sư thành lập là Trưởng văn phòng và phải chịu và được cấp giấy đăng ký hoạt động hợp pháp. trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về Người có đủ tiêu chuẩn là công dân Việt Nam mọi nghĩa vụ của văn phòng. Trưởng văn trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp phòng cũng là người đại diện theo pháp luật và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng của văn phòng. Về cơ cấu tổ chức của mô hình cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã này gần giống như cơ cấu tổ chức của doanh qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức nghiệp tư nhân; khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở - Công ty luật bao gồm: Công ty luật hợp thành luật sư muốn được hành nghề luật sư danh và Công ty luật trách nhiệm hữu hạn. phải có chứng chỉ hành nghề luật sư và gia Thành viên của công ty luật phải là luật sư4. nhập một Đoàn luật sư5. Công ty luật hợp danh là TCHNLS có ít VPLS có tên gọi riêng, tên của VPLS do nhất là từ hai luật sư thành lập trở lên. Công luật sư lựa chọn và theo quy định của Luật ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn. doanh nghiệp năm 2014 nhưng phải bao gồm Xét về cơ cấu tổ chức thì hình thức tổ chức cụm từ “văn phòng luật sư”, không được này gần giống như Công ty liên danh, nhưng trùng tên với VPLS, Công ty luật khác hoặc ở đây không có thành viên góp vốn mà các gây nhầm lẫn với tên của TCHNLS (VPLS, thành viên là những luật sư cùng hợp danh để công ty luật) khác đã được đăng ký hoạt động, hoạt động. tên VPLS không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu Công ty luật trách nhiệm hữu hạn bao gồm vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành và thuần phong mỹ tục của dân tộc6. Tên bằng viên trở lên và Công ty luật trách nhiệm hữu tiếng Việt của VPLS bao gồm hai thành tố đó hạn một thành viên. là: i/ VPLS có hình thức tổ chức và hoạt động Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành như doanh nghiệp tư nhân theo luật doanh viên trở lên là TCHNLS do ít nhất hai luật sư nghiệp); ii/ Tên riêng, tên riêng được viết bằng thành lập. Về cơ cấu tổ chức, mô hình này gần các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các giống như loại hình Công ty trách nhiệm hữu chữ F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu. Mặt khác, hạn thông thường, tuy nhiên khác nhau ở chỗ tên VPLS có thể thêm bằng tiếng nước ngoài Công ty luật thì các thành viên sáng lập phải là và tên viết tắt, tên bằng tiếng nước ngoài là tên luật sư có đủ điều kiện thành lập công ty theo được dịch từ tên tiếng Việt sang một trong quy định . những tiếng nước ngoài hệ chữ La-tinh. Khi Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một dịch sang tiếng nước ngoài, tên riêng của văn thành viên là TCHNLS do một luật sư thành phòng có thể giữ nguyên hoặc dịch theo nghĩa lập và làm chủ sở hữu. Luật sư làm chủ sở hữu tương ứng sang tiếng nước ngoài. Trong Công ty là Giám đốc công ty và cũng là đại trường hợp tên bằng tiếng nước ngoài của phải diện theo pháp luật của Công ty. Về cơ cấu tổ được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên chức thì mô hình này gần giống như cơ cấu của tiếng Việt của văn phòng tại trụ sở chính, chi loại hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn một nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh thành viên thông thường. doanh của văn phòng hoặc trên các giấy tờ giao TCHNLS được pháp luật về luật sư và dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh pháp luật liên quan công nhận là hoạt động hợp nghiệp phát hành; Tên viết tắt được viết tắt từ pháp sau khi đăng ký hoạt động tại Sở tư pháp tên tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương ngoài. Tên của VPLS phải được gắn tại trụ sở chính, chi nhánh và văn phòng đại diện của 4 Xem thêm Điều 33, Luật Luật sư sửa đổi năm 2012. 5 Xem thêm: Điều 10 và Điều 11, Luật Luật sư năm 2006. 6 Khoản 2, Điều 32, Luật Luật sư năm 2006. 24
  5. Soá chuyeân ñeà “Luaät sö vaø ñaïo ñöùc ngheà luaät sö” VPLS. Tên VPLS phải được in hoặc viết trên TCHNLS được khắc con dấu và sử dụng các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm con dấu của mình theo quy định của pháp luật do VPLS phát hành7. về quản lý và sử dụng con dấu10. TCHNLS có Tên của công ty luật hợp danh, công ty luật quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do dung con dấu của mình, đồng thời tuân thủ các thành viên thỏa thuận lựa chọn, tên của theo quy định tại Điều 44, Luật doanh nghiệp công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành năm 201411. Về nội dung con dấu phải thể hiện viên do chủ sở hữu lựa chọn và theo quy định những thông tin bao gồm: i/ Tên của TCHNLS; của Luật doanh nghiệp nhưng phải bao gồm ii/Mã số thuế của TCHNLS (tức mã số doanh cụm từ “công ty luật hợp danh” hoặc “công nghiệp-theo luật doanh nghiệp). Trước khi sử ty luật trách nhiệm hữu hạn”, không được dụng con dấu, TCHNLS có nghĩa vụ thông báo trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức mẫu con dấu với cơ quan đăng ký hoạt động hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt là Sở tư pháp cấp tỉnh, thành phố trực thuộc động, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi trung ương; việc quản lý, sử dụng và lưu giữ phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức con dấu TCHNLS phải thực hiện theo quy định và thuần phong mỹ tục của dân tộc8. của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu Như vậy tên tiếng Việt của công ty luật bao hoặc theo Điều lệ công ty luật nếu có thỏa gồm: thuận khác. Con dấu của TCHNLS được sử i/ Loại hình đối với công ty luật TNHH, tên dụng trong các trường hợp theo quy định của của công ty được viết là “công ty luật trách pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận nhiệm hữu hạn” nếu là công ty luật TNHH có về việc sử dụng dấu12. ít nhất hai thành viên là luật sư thành lập và TCHNLS được đăng ký mở tài khoản riêng công ty luật TNHH một thành viên nếu công cho TCHNLS của mình. Việc mở và sử dụng tài ty chỉ do một luật sư thành lập thì viết là “Công khoản thanh toán tại các tổ chức cung ứng dịch ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên”; vụ thanh toán tại: Ngân hàng Nhà nước; Ngân đối với công ty luật hợp danh được viết là hàng thương mại, v.v và được thực hiện các giao “công ty luật hợp danh”; dịch liên quan đến tài khoản thanh toán theo quy ii/ Tên riêng của công ty luật được viết bằng định tại Điều 12 và Điều 14 của Thông tư số các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, và bao 23/2014/TT-NHNN ngày 19/08/2014 do Ngân gồm cả các chữ F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu. hàng Nhà nước ban hành về hướng dẫn việc mở Công ty luật có thể thêm bằng tiếng nước ngoài và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung và tên viết tắt tương tự như tên của VPLS bằng ứng dịch vụ thanh toán13. tiếng nước ngoài; Tên của công ty luật được gắn 2.2. Các quy định về quyền và nghĩa vụ tại trụ sở chính, chi nhánh và văn phòng đại diện của tổ chức hành nghề luật sư của công ty. Ngoài ra tên công ty luật được in Theo Luật Luật sư năm 2006, các quyền hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu của TCHNLS được thể hiện như sau: “Thực và ấn phẩm do công ty luật phát hành9. hiện dịch vụ pháp lý; Nhận thù lao từ khách 7 Xem thêm: Điều 38 và Điều 40, Luật Doanh nghiệp 2014. 8 Khoản 5, Điều 34, Luật Luật sư năm 2006. 9 Xem thêm: Điều 38, Luật doanh nghiệp năm 2014. 10 Xem thêm: Khoản 5, Điều 8, Nghị định số 123/2013/NĐ-CP, ngày 14/10/2013 của Chính phủ. 11 Xem thêm: Điều 44, Luật doanh nghiệp năm 2014. 12 Xem thêm: Điều 12,13,14 và 15, Nghị định số: 96/2015/NĐ-CP, ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định về quản lý và sử dụng con dấu. 13 Xem thêm: Điều 12 và Điều 14, Thông tư số: 23/2014/TT-NHNN, ngày 19-08-2014 của Ngân hàng Nhà nước về hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. 25
  6. HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP hàng; Thuê luật sư Việt Nam, luật sư nước Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước ngoài và nhân viên làm việc cho tổ chức hành có thẩm quyền về việc báo cáo, kiểm tra, nghề luật sư; Hợp tác với tổ chức hành nghề thanh tra; (9) Các nghĩa vụ khác theo quy định luật sư nước ngoài; Thành lập chi nhánh, văn của Luật này và quy định khác của pháp luật phòng giao dịch trong nước; Đặt cơ sở hành có liên quan”14. Luật Luật sư sửa đổi năm nghề ở nước ngoài; Các quyền khác theo quy 2012 đã bổ sung thêm các nghĩa vụ sau: “(9) định của Luật này và quy định khác của pháp Nhận người tập sự hành nghề luật sư và cử luật có liên quan”. Luật Luật sư sửa đổi năm luật sư có đủ điều kiện hướng dẫn, tạo điều 2012, bổ sung thêm quyền cho TCHNLS là: kiện thuận lợi cho người tập sự được tập sự, “Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của giám sát quá trình tập sự của người tập sự Nhà nước; tham gia tư vấn, giải quyết các vụ hành nghề luật sư; (10) Thực hiện việc quản việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi được lý và bảo đảm cho Luật sư của tổ chức mình yêu cầu”. Quy định này nhằm huy động một tuân thủ pháp luật, tuân theo Điều lệ của Liên cách sâu rộng vai trò và sự đóng góp quan đoàn luật sư Việt Nam và Quy tắc đạo đức và trọng của TCHNLS đối với công cuộc cải cách ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; (11) tư pháp, góp phần tạo lập môi trường pháp lý Thực hiện nghĩa vụ báo cáo về tổ chức và thuận lợi cho sự phát triển của đất nước, và tạo hoạt động của tổ chức mình theo quy định của điều kiện để nâng cao vị trí, vai trò của pháp luật”15. TCHNLS. Việc sửa đổi và bổ sung thêm như trên Văn phòng luật sư, công ty luật ngoài việc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người thực thành lập chi nhánh trong hoặc ngoài tỉnh, tập luật sư được tập sự hành nghề luật sư, giám thành phố trực thuộc trung ương, đặt cơ sở sát quá trình tập sự hành nghề của người tập sự hành nghề ở nước ngoài thì còn được thành lập hành nghề luật sư. Mặt khác, nhằm nâng cao văn phòng giao dịch trong phạm vi tỉnh, thành chất lượng và tính chuyên nghiệp của phố trực thuộc trung ương để tạo mọi thuận lợi TCHNLS. Và như vậy, các quy định này sẽ cho hoạt động nghề nghiệp luật sư. nâng cao vai trò tự quản của TCHNLS. Nghĩa vụ của TCHNLS được quy định cụ Địa điểm hành nghề của TCHNLS thể tại Điều 40, Luật Luật sư năm 2006. Theo thường là trụ sở của tổ chức nên cần được đó, TCHNLS có các nghĩa vụ sau: “(1) Hoạt quan tâm đến các yếu tố như sau: (1) Phải động theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong đảm bảo một cách tương đối yêu cầu của Giấy đăng ký hoạt động; (2) Thực hiện đúng khách hàng là cần được kín đáo, yên tĩnh, có những nội dung đã giao kết với khách hàng; an ninh tốt. Vì thế, trong các quy định về (3) Cử luật sư của tổ chức mình tham gia tố điều kiện thành lập TCHNLS, các Nhà lập tụng theo phân công của Đoàn luật sư; (4) Tạo pháp cần nên quy định rõ các tiêu chí như về điều kiện cho luật sư của tổ chức mình thực diện tích tối thiểu, về vị trí…của một Văn hiện trợ giúp pháp lý miễn phí; (5) Bồi thường phòng, một Công ty luật; (2) Phải đảm bảo thiệt hại do lỗi mà luật sư của tổ chức mình môi trường xung quanh tương đối nghiêm gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư túc, không phức tạp, huyên náo. Vì vậy, pháp vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ luật về luật sư cũng cần có sự điều chỉnh hợp pháp lý khác; (6) Mua bảo hiểm trách nhiệm lý về vấn đề cụ thể nói trên. nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình 3. Định hướng chung để hoàn thiện pháp theo quy định của pháp luật về kinh doanh luật về tổ chức hành nghề luật sư bảo hiểm; (7) Chấp hành quy định của pháp Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính luật về lao động, thuế, tài chính, thống kê; (8) trị“về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư 14 Điều 40, Luật Luật sư năm 2006. 15 Mục 17, Điều 40, Luật Luật sư sửa đổi năm 2012. 26
  7. Soá chuyeân ñeà “Luaät sö vaø ñaïo ñöùc ngheà luaät sö” pháp trong thời gian tới”16 đã đề ra những mực về mặt chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức định hướng rất quan trọng đối với việc xây nghề nghiệp, phù hợp với điều kiện hành nghề dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt của luật sư và TCHNLS trong khu vực và trên động của luật sư cho phù hợp với tình hình thế giới; mới của đất nước trước xu hướng phát triển Bốn là, nâng cao vai trò tự quản của và hội nhập. Để đưa được các quan điểm chỉ TCHNLS, tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật đạo đó trở thành hiện thực đòi hỏi chúng ta sư. Đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ quản lý nhà nước đối với TCHNLS; bản trong đó phải kể đến các biện pháp về đổi Năm là, từng bước hoàn thiện hệ thống văn mới nhận thức, đổi mới về công tác tổ chức, bản điều chỉnh nghề luật sư, tổ chức và hoạt hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của TCHNLS, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi động của TCHNLS. cho nghề luật sư Việt Nam phát triển, hội nhập Do vậy hoàn thiện pháp luật về TCHNLS khu vực và quốc tế. tại Việt Nam hiện nay là nhu cầu tất yếu, khách Mặt khác, cần thể chế hóa phương hướng quan và quá trình thực hiện đòi hỏi những vấn tăng cường hợp tác quốc tế về hoạt động giữa đề như sau: TCHNLS Việt Nam với cá nhân, với TCHNLS Một là, cần khẳng định nghề luật sư là một các nước trong khu vực và trên thế giới. Xây nghề kinh doanh dịch vụ và là một nghề kinh dựng cơ chế pháp lý cho việc tham gia ngày doanh “đặc biệt” trong xã hội vì vậy tổ chức, càng nhiều hơn của luật sư và TCHNLS trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư được quy đàm phán thương mại quốc tế, giải quyết tranh định để góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã chấp có yếu tố nước ngoài và soạn thảo, ký kết hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Do vậy, hoạt các hiệp định song phương và đa phương giữa động nghề nghiệp của TCHNLS cần được xây dựng trên những nguyên tắc là một nghề Việt Nam và các nước17./. chuyên nghiệp, nghề tự do. TCHNLS cũng TÀI LIỆU THAM KHẢO được quảng cáo dịch vụ trên các phương tiện 1. Liên đoàn luật sư Việt Nam (2011), Quy thông tin đại chúng. Điều này góp phần hỗ trợ, tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt tạo điều kiện thuận lợi cho các luật sư hợp tác Nam, Hà Nội. với nhau để hình thành nên các TCHNLS ngày 2. Liên đoàn luật sư Việt Nam, Báo cáo số càng lớn mạnh và chuyên nghiệp; 01/BC-LĐLSVN, ngày 12/01/2018, về tổ chức, Hai là, cần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để hoạt động năm 2017 và phương hướng hoạt phát triển đội ngũ luật sư chuyên nghiệp để đáp động năm 2018, Hà Nội. ứng nhu cầu về luật sư tham gia tố tụng, tư vấn 3. Nguyễn Văn Bốn (2016), Ba năm thi pháp luật cho cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ hành luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư, kết quyền, lợi ích hợp pháp của họ cũng như hỗ trợ quả, hạn chế và kiến nghị, Tạp chí dân chủ và đắc lực cho hoạt động xét xử; pháp luật, số: 10 (245) – 2016. Ba là, từng bước chuẩn hóa các tiêu chuẩn 4. Phan Trung Hoài (2003), Cơ sở lý luận luật sư phù hợp với các yêu cầu, điều kiện cụ của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt thể của sự phát triển kinh tế, xã hội của đất Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ luật học, Học nước, nhưng phải bảo đảm đáp ứng các chuẩn viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 16 Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội, năm 2002. 17 Phan Trung Hoài (2003),“Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam hiện nay”, Học viện chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.162-163. 27
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2