
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
80 TCNCYH 197 (12) - 2025
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỬ VONG
Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO DIỆN RỘNG
DO TẮC TUẦN HOÀN NÃO TRƯỚC ĐƯỢC CAN THIỆP
LẤY HUYẾT KHỐI TRONG 6 GIỜ ĐẦU
Bùi Văn Quí1 và Đào Việt Phương1,2,3,
1Trng Đi hc Y H Ni
2Bệnh viện Bch Mai
3Trng Đi hc Y Dc, Đi hc Quc gia H Ni
Từ khoá: Nhồi máu não diện rộng, tắc tuần hoàn trước, lấy huyết khối cơ học, tỷ lệ tử vong.
Nghiên cứu nhằm xác định mt s yếu t liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhồi máu não diện
rng do tắc tuần hon não trớc đc can thiệp lấy huyết khi trong 6 gi đầu. Nghiên cứu quan sát
hồi cứu đc thực hiện ti trung tâm Đt quỵ từ tháng 5/2024 đến tháng 5/2025. Đặc điểm lâm sng,
cận lâm sng v hình ảnh hc đc thu thập v phân tích. Phân tích hồi quy đơn biến v đa biến đc
sử dụng để xác định các yếu t liên quan tử vong. Kết quả nghiên cứu thực hiện trên 66 bệnh nhân
chỉ ra tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân l 65; nam giới chiếm 62,1%; điểm NIHSS trung vị, tứ phân
vị lúc nhập viện l 12 IQR 10 -16; Tỷ lệ can thiệp tái thông thnh công v chảy máu chuyển dng có
triệu chứng lần lt l 72,7% v 24,2%. Tỷ lệ tử vong ti ngy thứ 90 l 31,3%. Phân tích đơn biến v
đa biến cho thấy tái tắc mch sau can thiệp 24 gi (OR = 12,273; 95% CI: 2,321 - 64,904) v cải thiện
điểm NIHSS > 4 điểm (OR = 0,208; 95% CI: 0,045 - 0,960) l yếu t liên quan đến kết cục tử vong.
Tác giả liên hệ: Đo Việt Phơng
Trng Đi hc Y H Ni
Email: daovietphuong85@gmail.com
Ngy nhận: 15/10/2025
Ngy đc chấp nhận: 04/12/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhồi máu não chiếm 60 - 80% các trường
hợp đột quỵ và là nguyên nhân gây tử vong
- tàn tật hàng đầu trên thế giới.1,2 Những năm
gần đây, can thiệp lấy huyết khối đã trở thành
phương pháp điều trị tiêu chuẩn đối với các
trường hợp nhồi máu não do tắc mạch lớn. Các
nghiên cứu đã chứng minh rằng can thiệp lấy
huyết khối làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ bệnh nhân
bị tàn tật tại thời điểm 90 ngày sau điều trị so
với nhóm bệnh nhân không can thiệp (OR =
2,49; 95% CI: 1,76 - 3,53, p < 0,0001).3
Trước đây, bệnh nhân nhồi máu não diện
rộng thường không được chỉ định lấy huyết khối
do hiệu quả thấp và nguy cơ chảy máu chuyển
dạng cao. Trong những năm gần đây, một số
nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng đã cho
thấy lợi ích lâm sàng của can thiệp nội mạch
lấy huyết khối ở nhóm bệnh nhân có vùng nhồi
máu lớn so với điều trị nội khoa đơn thuần.
Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong sau 90 ngày ở nhóm
bệnh nhân này vẫn ở mức cao, từ 25% đến
40%, ngay cả khi tái thông mạch thành công.4
Một số phân tích cho thấy nguyên nhân tử vong
không chỉ do bản thân vùng nhồi máu lớn mà
còn liên quan đến các yếu tố như chảy máu
chuyển dạng, không tái thông thành công. Vì
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh
giá: Một số yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh
nhân nhồi máu não diện rộng do tắc tuần hoàn
não trước được can thiệp lấy huyết khối trong
6 giờ đầu.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
81TCNCYH 197 (12) - 2025
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Những bệnh nhân có triệu chứng của đột
quỵ từ lúc khởi phát đến lúc can thiệp trong 6 giờ.
- Điểm NIHSS ≥ 6.
- Tắc động mạch lớn tuần hoàn não trước
bao gồm động mạch cảnh trong và động mạch
não giữa đoạn M1 trên hình ảnh cắt lớp vi tính
(CT) hoặc cộng hưởng từ (MRI) sọ não.
- ASPECTS từ 3 - 5 điểm.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Chảy máu nội sọ bất kỳ.
- Tàn tật nặng tại thời điểm nhập viện:
mRS>2.
2. Phương pháp
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2024
đến tháng 5/2025.
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Đột quỵ,
Bệnh viện Bạch Mai.
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát
mô tả hồi cứu.
Phương pháp chọn mẫu:
Lựa chọn tất cả các trường hợp đủ tiêu
chuẩn trong thời gian từ tháng 05/2024 đến
tháng 05/2025 tại Trung tâm Đột quỵ - Bệnh
viện Bạch Mai.
Phương pháp thu thập số liệu
Dữ liệu thu thập được ghi chép vào mẫu
bệnh án nghiên cứu. Các thông số trong quá
trình can thiệp, các mốc thời gian được thu
thập thông qua hồ sơ bệnh án và biên bản can
thiệp lấy huyết khối, được tính theo phút. Kết
quả điều trị bệnh nhân ngày thứ 90 được đánh
giá bằng thang điểm Rankin sửa đổi (mRS),
thu thập bằng cách liên hệ với người nhà bệnh
nhân thông qua số điện thoại và kết quả tái
khám tại Trung tâm Đột quỵ sau 3 tháng.
Các biến số, chỉ số nghiên cứu
Các biến số cho yếu tố tiên lượng bao gồm:
+ Lâm sàng: Tuổi, giới, tiền sử bệnh nhân
(tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu,
rung nhĩ), điểm NIHSS tại thời điểm nhập viện.
+ Cận lâm sàng: Đường máu mao mạch,
điểm ASPECTS tại thời điểm nhập viện.
+ Can thiệp lấy huyết khối: Thời gian từ khi
khởi phát tới khi can thiệp, thời gian can thiệp,
mức độ tái thông theo mTICI.
+ Sau can thiệp lấy huyết khối: Điểm NIHSS
tại thời điểm 24 giờ; Tình trạng chảy máu
chuyển dạng (bất kỳ và có triệu chứng); Tình
trạng tái thông mạch máu sau 24 giờ được
đánh giá qua phim chụp MRI não mạch não sau
can thiệp.
+ Biến số đầu ra: Đầu ra lâm sàng chấm
theo thang điểm Rankin sửa đổi tại thời điểm
ngày thứ 90.
Các thang điểm đánh giá đầu ra trong
nghiên cứu
Đầu ra tái thông mạch máu của can thiệp
lấy huyết khối được đánh giá theo thang điểm
mTICI gồm:
Độ 0: Không có tái thông mạch.
Độ 1: Có dòng chảy đi qua vị trí tắc nhưng
không có tưới máu nhánh xa.
Độ 2a: Tái tưới máu xuôi dòng được ít hơn
50% ở vùng cấp máu của động mạch não giữa.
Độ 2b: Tái tưới máu xuôi dòng được nhiều
hơn 50% nhưng không hoàn toàn ở vùng cấp
máu của động mạch não giữa.
Độ 3: Tái tưới máu hoàn toàn ở vùng cấp
máu động mạch não giữa.
* Tái thông mạch máu thành công được định
nghĩa là tái thông mức độ mTICI ≥ 2b trên chụp
mạch máu số hoá xoá nền sau can thiệp lấy
huyết khối.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
82 TCNCYH 197 (12) - 2025
Kết cục lâm sàng được đánh giá tại thời
điểm 90 ngày sau can thiệp theo thang điểm
mRS gồm:
- 0: Không có bất kỳ triệu chứng gì.
- 1: Không có tàn tật. Có thể thực hiện mọi
hoạt động thường nhật mặc dù có triệu chứng
nhẹ.
- 2: Tàn tật nhẹ. Có thể tự chăm sóc bản
thân mà không cần hỗ trợ, nhưng không thể
thực hiện toàn bộ hoạt động trước đây.
- 3: Tàn tật mức độ trung bình. Cần sự giúp
đỡ nhưng vẫn có thể đi mà không cần giúp đỡ.
- 4: Tàn tật mức độ trung bình nặng. Không
thể di chuyển cơ thể mà không có sự trợ giúp
hoặc không thể đi mà không có sự trợ giúp.
- 5: Tàn tật nặng. Cần y tá chăm sóc thường
xuyên, nằm tại giường.
- 6: Tử vong.
Chảy máu chuyển dạng có triệu chứng
(sICH) theo phân loại ECASS II. Theo tiêu
chuẩn của ECASS II thì chảy máu chuyển dạng
có triệu chứng được định nghĩa là có hình ảnh
chảy máu mới trên hình ảnh học sọ não kèm
theo NIHSS tăng ≥ 4 so với thời điểm ngay
trước khi suy giảm thần kinh hoặc NIHSS tăng
≥ 2 trong 1 mục đánh giá.5
Xử lý số liệu
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y
học, sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân
tích số liệu.
Các biến định lượng được kiểm tra phân bố
bằng kiểm định Shapiro-Wilk. Biến có phân bố
chuẩn được biểu diễn dưới dạng trung bình ±
độ lệch chuẩn, các biến không phân bố chuẩn
được biểu diễn dưới dạng trung vị (khoảng tứ
phân vị - IQR).
Các biến định tính được biểu diễn dưới
dạng tần suất và phần trăm. Các biến số lâm
sàng, hình ảnh, kết quả tái thông, tái thông sau
can thiệp, chảy máu chuyển dạng, điểm NIHSS
sau can thiệp được so sánh trung bình giữa hai
nhóm chuẩn bằng T-test, tỷ lệ bằng kiểm định
Chi-square, kiểm định Fisher Exact và trung vị
của các biến không chuẩn bằng Mann - Whitney
U test. Phân tích hồi quy đơn biến được tiến
hành để tính ra chỉ số OR (odds ratio) và p cho
mối liên quan giữa các yếu tố tiên lượng và tử
vong.
Sau khi thực hiện phân tích đơn biến, các
biến có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 hoặc có ý
nghĩa lâm sàng được đưa vào mô hình hồi quy
logistic đa biến. Kết quả được trình bày dưới
dạng OR hiệu chỉnh cùng với khoảng tin cậy
95% (95% CI) và giá trị p. Mức ý nghĩa thống
kê được xác định khi p < 0,05.
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành qua việc thu
thập số liệu từ hồ sơ bệnh án, không gây ảnh
hưởng đến quá trình điều trị bệnh nhân. Các
thông tin thu thập được của bệnh nhân được
bảo mật, chỉ dùng với mục đích nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ
Từ tháng 5/2024 đến tháng 05/2025, 66
bệnh nhân đã được thu tuyển vào nghiên cứu.
Trong đó tuổi trung vị của nhóm bệnh nhân
nghiên cứu là 65 (IQR 59 - 75); nam giới chiếm
62,1%; điểm NIHSS trung vị lúc nhập viện là 12
(IQR 10 - 16); không có bệnh nhân nào được
tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch. Tỷ lệ can thiệp
tái thông thành công (mTICI 2b-3) là 72,7%. Tỷ
lệ chảy máu chuyển dạng bất kỳ và chảy máu
chuyển dạng có triệu chứng lần lượt là 60,6%
và 24,2%. Tỷ lệ tử vong ngày thứ 90 sau điều
trị là 31,3%.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
83TCNCYH 197 (12) - 2025
Bảng 1. So sánh một số yếu tố giữa nhóm sống và nhóm tử vong
Đặc điểm Tử vong
(n = 21)
Sống
(n = 45) p
Đặc điểm chung
Tuổi (Trung vị, IQR) 65 (61 - 77) 65 (59 - 75) 0,563
Giới nam, n (%) 10 (47,6) 31 (68,9) 0,097
Tiền sử
Tăng huyết áp, n (%) 8 (38,1) 21 (46,7) 0,513
Đái tháo đường, n (%) 3 (14,3) 3 (6,7) 0,316
Rung nhĩ, n (%) 7 (33,3) 11 (24,4) 0,450
Suy tim, n (%) 4 (19,0) 4 (8,9) 0,239
Rối loạn lipid máu, n (%) 6 (28,6) 15 (33,3) 0,699
Trước can thiệp
Điểm NIHSS, trung vị (IQR) 13 (11 - 16) 12 (10 - 16) 0,302
ASPECTS 4 điểm, n (%) 9 (42,8) 6 (13,3) 0,439
Can thiệp lấy huyết khối
Thời gian từ khi khởi phát tới lúc can
thiệp, trung vị (IQR) 286 (245 - 320) 270 (225 - 330) 0,609
Thời gian can thiệp, trung vị (IQR) 60 (40 - 105) 60 (30 - 67) 0,120
Tái thông thành công mTICI 2b-3, n (%) 13 (61,9) 35 (77,8) 0,177
Sau can thiệp
Tái tắc sau can thiệp 24 giờ, n (%) 19 (90,4) 20 (44,4) < 0,001
Chảy máu chuyển dạng có triệu chứng,
n (%) 12 (57,1) 1 (2,2) < 0,001
Chảy máu bất kỳ, n (%) 17 (80,9) 23 (51,1) 0,021
NIHSS giảm > 4 điểm sau 24 giờ, n (%) 3 (14,3) 21 (46,7) 0,014
Khi so sánh đặc điểm giữa hai nhóm tử vong
và nhóm sống (bảng 1) cho thấy các yếu tố như
tuổi, giới và các bệnh lý kèm theo (tăng huyết áp,
đái tháo đường, rung nhĩ, suy tim, rối loạn lipid
máu) không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
hai nhóm (p > 0,05). Điểm NIHSS lúc nhập viện
ở nhóm tử vong cao hơn nhóm sống (13 so với
12) nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,302).
Các đặc điểm liên quan đến thời gian can
thiệp và tỷ lệ tái thông thành công sau can thiệp
(mTICI 2b-3) không cho thấy sự khác biệt có
ý nghĩa (p > 0,05). Tuy nhiên, các chỉ số đánh
giá sau can thiệp thể hiện sự khác biệt giữa
hai nhóm. Cụ thể, tỷ lệ tái tắc sau can thiệp 24
giờ ở nhóm tử vong cao hơn so với nhóm sống
(90,4% so với 40,4%; p < 0,001). Chảy máu

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
84 TCNCYH 197 (12) - 2025
chuyển dạng có triệu chứng xuất hiện với tần
suất cao hơn rõ rệt ở nhóm tử vong (57,1% so
với 2,2%; p < 0,001), và chảy máu bất kỳ cũng
ghi nhận nhiều hơn ở nhóm này (80,9% so với
51,1%; p = 0,021). Ngoài ra, tỷ lệ cải thiện thần
kinh sớm sau can thiệp (NIHSS giảm > 4 điểm
trong 24 giờ) thấp hơn đáng kể ở nhóm tử vong
(14,3% so với 46,7%; p = 0,014).
Bảng 2. Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến liên quan đến kết cục tử vong sau 90 ngày
Yếu tố OR chưa
hiệu chỉnh 95% CI p OR
hiệu chỉnh 95% CI p
ASPECTS 4 điểm 1,600 0,484 - 5,290 0,441 1,341 0,305 - 5,901 0,698
Tái tắc sau 24 giờ 11,875 2,468 - 57,147 0,002 12,273 2,321 - 64,904 0,003
Chuyển dạng chảy
máu bất kỳ 4,065 1,181 - 13,993 0,026 2,627 0,622 - 11,091 0,189
NIHSS giảm > 4 điểm
sau 24 giờ 0,190 0,049 - 0,739 0,016 0,208 0,045 - 0,960 0,044
(OR: Odds Ratio; CI: Confidence interval)
Phân tích hồi quy logistic đa biến (Bảng 2)
cho thấy hai yếu tố độc lập có liên quan có ý
nghĩa thống kê đến tử vong sau can thiệp là
tái tắc sau can thiệp 24 giờ và cải thiện điểm
NIHSS>4 điểm sau can thiệp. Cụ thể những
bệnh nhân tái tắc sau 24 giờ có nguy cơ tử
vong cao hơn khoảng 12,3 lần so với nhóm
tái thông thành công (OR hiệu chỉnh = 12,273;
95% CI: 2,321 - 64,904; p = 0,003). Đồng thời,
bệnh nhân có cải thiện điểm NIHSS > 4 điểm
sau 24 giờ cũng ghi nhận giảm nguy cơ tử vong
so với nhóm không cải thiện (OR hiệu chỉnh
= 0,208; 95% CI: 0,045 - 0,960; p = 0,044).
Trong khi đó, chuyển dạng chảy máu bất kỳ
mặc dù có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong
trong phân tích đơn biến (OR = 4,065; 95% CI:
1,181 - 13,993; p = 0,026), nhưng không còn
ý nghĩa thống kê sau khi đưa vào mô hình hồi
quy đa biến (OR hiệu chỉnh = 2,627; 95% CI:
0,622 - 11,091; p = 0,189). Bên cạnh đó, điểm
ASPECTS = 4 cũng không chứng minh được
vai trò dự báo độc lập đối với tử vong sau can
thiệp (OR hiệu chỉnh = 1,341; 95% CI: 0,305 -
5,901; p = 0,698).
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ tử
vong sau 3 tháng ở bệnh nhân nhồi máu não
diện rộng được can thiệp lấy huyết khối là
31,8%. Tỷ lệ này cao hơn một số báo cáo gần
đây như nghiên cứu ANGEL-ASPECT (21,7%)
và RESCUE-Japan LIMIT (18,0%), nhưng thấp
hơn trong nghiên cứu SELECT 2 với 38,2%.6-8
Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm NIHSS
trung vị ở nhóm tử vong cao hơn nhóm sống
(13 [11-16] so với 12 [10-16]) nhưng sự khác
biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,302).
Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra xu hướng
tương tự. Ví dụ, trong nghiên cứu RESCUE-
Japan LIMIT, bệnh nhân có NIHSS ≥ 20 có tỷ
lệ tử vong cao gấp gần hai lần so với nhóm
dưới ngưỡng này.6 Nghiên cứu TENSION và
SELECT2 cũng ghi nhận tỷ lệ tử vong cao hơn
đáng kể ở nhóm có điểm NIHSS ≥ 16.8,9
Trong nghiên cứu của chúng tôi không ghi
nhận bệnh nhân nào được điều trị tiêu sợi
huyết trước can thiệp lấy huyết khối. Đối với
bệnh nhân nhồi máu não diện rộng, tiêu sợi

