Buônn đồng xu Nhật Bản vào thế kỷ 17
Để hiểu tại sao thương nhân Nhật Bản mang xu bằng đồng đến nước Việt để trao đổi vào
thế kỷ 17, ta nên xem lại lịch sử tin tệ Nhật Bản. Nhật Bản ban đầu là một quốc gia giàu
tài nguyên kim loi quý ví dụ như bạc, vàng và đồng. Vào đầu thế kỷ 8, những đồng xu
vàng, bạc và đồng không chỉ đã tn tại mà còn được đúc ở chính nước Nhật. Những đồng
xu này được làm để ban thưởng hơn là mt hình thức trao đổi. Trong những ny đó,
nuowcs Nhật vẫn mới mức kinh tế trao đổi hàng hóa. Từ thế kỷ 12 đến năm 1587,ớc
Nht ngừng khai mỏ và gi ng hóa đến Trung Quốc để đổi lấy các xu bằng đồng của
Trung Quc, khi nhu cầu về tin xu tăng lên. Thế kỷ 15, Mạc phủ Ashikaga nhiều lần gửi
u cầu cho nhà Minh ở Trung Quốc về nguồn cung tiền xu. Bởi vậy, Toraisen, tiền xu
nhp khẩu từ Trung Quốc, ví dụ như Gia Ðịnh thông bảo (Katei Tsuho) hay Tống, Hồng
Võ thông bảo (Kobu tsuho) và Vĩnh Lạc tng bảo (Eiraku Tsuho) của nhà Minh lưu
thông trên khắp Nhật Bản. Trong khi nguồn cung Toraisen vn không đáp ứng được cầu
tiền tệ do mở rộng giao thương, giai cấp quý tộc tự mình đúc tiền xu Nhật (Shichusen) để
lấp đầy khoản thiếu hụt. Trong thế kỷ 16, các đồng xu Toraisen bị vỡ hay hỏng hay các
đồng Shichusen chất lượng kém được gọi là Bitasen, hay đồng xu chất lượng kém. Dân
chúng bắt đầu thu thập tiền xu và không nhận thanh toán bng Bitasen. Trong thời
Tokugaw, t lệ trao đổi giữa Toraisen và Bitasen là 4 ăn 1. Shogun muốn giải quyết tình
trạng lộn xộn của thị trường tin tệ, độc quyền đúc tiền xu và tu chuẩn hóa tiền tNhật
Bản. Năm 1608, nhà Tokugawa cm lưu hành Bitasen, bao gồm cả các đồng xu Trung
Quốc nhập khẩu. Ông cũng thúc đẩy việc khai thác vàng, bạc và đồng và ứng dụng công
nghệ tiên tiến của Trung quốc vào việc tinh luyện kim loi. Xu, thỏi vàng và bạc cũng
như Tensho Tsuho, Genna Tsuho và Kanei Tsuho bắt đầu thay thế những đồng xu cũ.
Thương nhân Nhật nghĩ ra sáng kiến thu mua thứ tiền cấm và sụt giá này để bán cho các
thương thuyền hay các nước khác. Dch vụ buôn tiền vừa mang đến nhiều lợi tức cho
Nht, vừa được khuyến khích bởi chuá Nguyn ở Ðàng Trong, đang cần đồng để đúc
súng thần công và sử dụng tiền đồng ngoại nhập để tiêu dùng. Thời đó, các chuá Nguyễn
đã yêu cầu ngườI Hòa Lan mua hết tin đồng của Nhật, để mang đến bán cho Ðàng
Trong. Ðến năm 1651, để đáp ứng lời yêu cầu cung cấp tiền đồng của Quế Vương, mt
tn vương của nhà Minh khởi nghĩa chống nhà Thanh vào thời đó, chính quyền địa
phương của Nagasaki đã đúc tin Vĩnh Lịch thông bảo (Eiryaku Tsuho) cung cấp cho
Phúc Kiến, Ðài Loan. Tokugawa, ngoài việc đáp lại yêu cầu của chuá Nguyễn, còn được
nhiều lợi tức, đã cho phép đảo Trường Kỳ được quyền đúc tiền để xuất cảng từ năm thứ
hai của Manji (1659) đến năm thứ hai của Jokyo (1685), sau nhiều lần từ khước những
u cầu của chính quyền địa phương. Tuy nhiên đảo Trường Kỳ chỉ được phép đúc tiền
ngoại thương, nhưng không được đúc tiền Khoan Vĩnh đang dùng trong nước Nhật. Dịch
vụ bn tin và từ ngữ Trường Kỳ Mậu Dch Tiền phát sinh tđó, vì người Nhật đúc tin
đồng, thoi đồng mang đến Trường Kỳ, Nhật Bản để chở bán cho Ðại Việt. Tiền Trường
Kỳ còn được tàu Leyden mang về Amsterdam vào năm 1621 để thử nghiệm kim loại
trước khi người Hà Lan định mua để ly đồng. Tuy nhiên kết quả không như mong muốn,
người Hoà Lan chở tiền đồng đem bán cho các nước khác như Ba Tư, Âu châu trên
những chuyến tàu về xứ h. Tác giả đã dp liên hvới Bác sĩ Wybrand Op den Velde
ở Amsterdam, một sưu tập gia về tin cổ Á châu và cũng là tác giả quyn Cash Coin
Index, part 2: The Cash Coins of Vietnam xuất bản ở Amsterdam, về tiền Trường Kỳ.
Ông ta cho biết tin Trường Kỳ khá dễ tìm thấy ở Amsterdam. Có lẽ Batavia, Hội An và
Amsterdam là ba địa điểm liên hệ sâu xa nhất với tiền Trường Kỳ và là nhng nơi dễ
tìm thấy thứ tin ngoại thương này nhất vào ngày nay.
Ðàng Ngoài, tiền Trường Kỳ đã được dân Việt tiêu dùng như các tiền đồng của vua Lê,
hoặc được nấu chẩy để đúc khí cụ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Ðàng Ngoài vào
năm 1627 đã nói về tiền tiêu dùng thời đó, rằng có hai loại tin lớn và nhỏ. Tiền lớn do
người Hoa, Nhật mang vào, được tiêu dùng khắp xứ. Tiền nhỏ chỉ tiêu dùng ở kinh đô và
bốn tỉnh chung quanh. Trị giá của tiền nhỏ tùy thuc s lượng nhập cảng của tiền lớn vào
mi năm. Tuy vậy, trung bình 10 tiền đồng nh tương đương với 6 tiền đồng lớn. Từ năm
1671, người Anh bắt đầu nghiên cứu về dịch vụ buôn tiền của người Hà Lan. Vài chi tiết
được cung cấp trong sổ Nhật Ký của công ty Ðông Ấn của Anh ở Phố Hiến cho thấy.
Ngày tháng===========Vài chi tiết về Đăng ký của Công ty Đông Ấn Anh Quốc thể
hiện hoạt động nhn nhịp của việc buôn ========================tiền ở Phố
Hiến, Đàng Ngoài
22 tháng 8 năm 1672=====3 tàu Hòa Lan tBatavia đến Ðàng Ngoài mang theo 6 triệu
tiền đồng và 1000 thỏi bạc
7 tháng 4 năm 1675======1 tàu Trung Hoa từ Nhật đến Ðàng Ngoài mang đầy tiền
đồng và bạc
17 tháng 6 năm 1675=====1 tàu Hòa Lan tBatavia đến Ðàng Ngoài với 80 rương chứa
tiền đồng.
23 tháng 2 năm 1676=====2 tàu Trung Hoa từ Nhật đến Ðàng Ngoài với tiền đồng
XÐàng Trong không có m đồng. Trong lúc đó, chuá Nguyễn rất cần đồng để đúc tiền,
đúc súng chống lại họ Trịnh. Nguồn cung cấp phần lớn từ Nhật Bản, phần còn lại t
Trung Hoa và Batavia. Chúa Nguyễn cho nhập cảng một số lớn đồng trong suốt thế k 17
sang cả thế kỷ 18; cho dù rằng chiến tranh Trịnh Nguyễn đã chấm dứt sau khi Trịnh
Tạc lùi quân về bên kia sông Gianh vào năm 1672, qua 7 lần Nam Bắc giao tranh. Nhu
cầu đúc súng không còn cấp bách nữa, nhưng vì tin đồng có lưu thông dồi dào, vic giao
thương trong xứ mới phát triển. Ðiển hình là chính chúa Nghĩa, trong năm 1688, đã gởi
bốn lá thư yêu cầu chính quyền Nhật đúc tin bán cho Ði Việt , khi Tokugawa khởi sự
giới hạn việc xuất cảng bạc và đồng ra ngoại quốc.
i liệu lưu trữ của công ty Ðông Ấn Hà Lan cho thấy tầm vóc của dch vbuôn tiền ở
Ðàng Trong. Từ năm 1633 đến 1637,ng ty đã nhập cảng 105834 xâu tiền đồng Trường
Kỳ, mỗi xâu gồm 960 đồng tiền, vị chi là 101600640 đồng tiền được nhập cảng trong mt
thI gian năm năm. A. van Aelst cho chi tiết rõ hơn về số lượng tiền đồng khng lồ này,
là 1,250,000 tiền Vĩnh Lạc và 100,000,000 tiền Khoan Vĩnh. Như thế, khoảng 20 triệu
đồng tiền được đưa vào Ðàng Trong mim do người Hòa Lan. Ðó là chưa kể đến số
lượng tương đương từ các thương thuyền Nhật và Hoa. Tài liệu cũng cho thấy một số
lượng đồng khá lớn được dùng trong việc quốc phòng, như năm 1636, chúa Thượng đã
mua 30 ngàn lng đồng hạng xấu để đúc súng thần ng. Và tháng 9 năm 1637, bốn
thương thuyền Hoa cặp bến Ðàng Trong với hai triệu đồng tin Nhật. Khi Tokugawa ban
hành chính sách bế quan toả cảng Sakoku và ra lệnh cấm thương nhân Nhật Bản xuất
dương từ năm 1635, kẻ nào vi phạm luật sẽ bị tội chết, và ch cho phép thương thuyền
của người Hà Lan và Trung Hoa đến giao thương ở Trường Kỳ; thương nhân Nhật Bản
đã chuyển nhượng số tiền đồng lên đến 200 tấn qua tay người Hòa Lan, để nguồn tiếp
liệu được duy trì đều đặn.
Chẳng trách chỉ hơn 50 năm sau thế k 18, khi Lê Quý Ðôn theo Ðoan quận Công Bùi
thế Ðạt vào chiếm Thuận Hoá, Quảng Nam, đã phi than rằng ngày trước nhà Nguyễn
dùng đồng rất hoang phí. Ðng được dùng làm những cái đinh, những bản lề, và trang
sức cho các công đường, đình sở. Trong Phủ Biên Tạp Lục, ông đã dẫn chng về việc
nhp cảng đồng từ Nhật, Hoa của chúa Nguyễn.... Hai xứ Thuận Hoá và Quảng nam
không có mỏ đồng. Nước Nhật Bản thì thsản nhiều đồng đỏ, nên hằng năm tàu nước
ấy chuyên ch đồng đến nước ta bán, quan chức nhà Nguyễn phái người đến thâu mua,
cứ 100 cân trị giá 45 quan tin đồng. Còn như tàu thuyền các kch buôn ở tỉnh Phúc
Kiến và tỉnh Quảng Ðông thuc nước Trung Hoa có chuyên chở đồng đỏ sang nước ta
bán, t phi khai báo đầy đủ giấy tờ, bấy giờ các quan chức mới y theo giá định kể trên
mà mua hết. Còn thừa bao nhiêu, các kch bn mới được phép bán, đổi chác cho người
ngoài.
Mức lợi tức của dịch vụ buôn tiền trong giai đoạn này ra sao? Nhật của Công ty Ðông
Ấn Hà Lan cho thấy rõ do người Hà Lan đã tham gia vào dch vụ này. Vào những năm
1635-1636, nhng xâu tin tr giá 1 lạng bạc ở Nhật bán được ở Ðàng Trong với giá 10.5
lạng. Người Hoa cũng nhận thấy mối lợi lớn này. Nhiều thương thuyền Trung Hoa, hoặc
sang Nht buôn tin Trường Kỳ hoặc mang tin Hoa, sang bán cho Ði Việt. Từ năm
1684, tiền Khang Hi được đúc giảm trọng lượng. Một lạng bạc tương đương 1400 - 1500
đồng tin Khang Hi nặng hay 3030 đồng tin Khang Hi nhẹ, nghĩa là tương đương hơn 5
quan tin Ðại Việt (1 quan = 600 đồng). Trước năm 1750, theo Pierre Poivre, ở Ðại Việt,
10 lạng vàng ăn từ 130 đến 150 quan, nghĩa là 5 quan tương đương vớI 0.3846 lng vàng.
Như thế, thương buôn phải trả 1 lạng bạc để mua được 1 chỉ vàng ở Trung Hoa theo trị
giá t lệ vàng bc 1/10 thời đó, nhưng nếu buôn tin, 1 lạng bạc có thể kiếm được gần 3.8
chỉ vàng Ðại Việt.