intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chia sẻ: Tuong Vi Danh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
21
lượt xem
2
download

Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ quan trọng, là đòi hỏi cấp thiết đặt ra trước yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh trong tình hình mới. Bài viết đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội

VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 72-74; 26<br /> <br /> NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC<br /> Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH,<br /> ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI<br /> Trần Thanh Tùng - Nguyễn Hồng Chanh<br /> Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội<br /> Ngày nhận bài: 04/05/2018; ngày sửa chữa: 21/05/2018; ngày duyệt đăng: 23/05/2018.<br /> Abstract: Improving the quality of scientific research is an important and urgent task for<br /> universities in the context of integration. The article proposes some solutions to foster quality of<br /> scientific research at the National Defense and Security Education Center, Vietnam National<br /> University - Hanoi with aim to meet requirements of enhancing the quality of higher education in<br /> current period.<br /> Keywords: Quality, scientific research, National Defense and Security Education Center.<br /> 1. Mở đầu<br /> Nghiên cứu khoa học có vai trò đặc biệt quan trọng ở<br /> các cơ sở giáo dục đại học nói chung và ở Trung tâm<br /> Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Đại học Quốc gia Hà<br /> Nội nói riêng. Nghiên cứu khoa học giúp cho cán bộ,<br /> giảng viên củng cố kiến thức, nâng cao năng lực về trình<br /> độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, làm phong phú<br /> nội dung tri thức, khám phá ra những cái mới, tổng kết<br /> được kinh nghiệm, biết phát hiện và giải quyết những vấn<br /> đề mới mà thực tiễn đặt ra. Thêm vào đó, nghiên cứu<br /> khoa học còn là hình thức tự đào tạo của mỗi giảng viên,<br /> góp phần phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, khả năng<br /> làm việc độc lập tạo ra môi trường để các giảng viên có<br /> điều kiện trau dồi tri thức. Hoạt động nghiên cứu khoa<br /> học được ví như “đòn bẩy” có vai trò thúc đẩy nâng cao<br /> chất lượng hiệu quả của công tác đào tạo, đây cũng là<br /> một yếu tố góp phần khẳng định vị thế và uy tín của đơn<br /> vị đào tạo.<br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> 2.1. Những kết quả đạt được trong nghiên cứu khoa<br /> học tại Trung tâm trong những năm qua<br /> Trong những năm qua, công tác nghiên cứu khoa học<br /> ở Trung tâm đã đạt được những kết quả khá khả quan cả<br /> về số lượng và chất lượng (xem bảng).<br /> Bảng. Tổng hợp kết quả nghiên cứu khoa học<br /> của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh,<br /> Đại học Quốc gia Hà Nội<br /> STT<br /> <br /> Sản phẩm nghiên cứu<br /> <br /> 1<br /> <br /> Đề tài khoa học cấp cơ sở<br /> <br /> 2<br /> <br /> Sáng kiến cải tiến học cụ<br /> <br /> Cấp<br /> Số Ghi<br /> quản lí lượng chú<br /> Trung<br /> 20<br /> tâm<br /> Trung<br /> 05<br /> tâm<br /> <br /> 72<br /> <br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> 7<br /> <br /> Bộ<br /> GD-ĐT<br /> Giáo trình, tài liệu tham Trung<br /> khảo (lưu hành nội bộ)<br /> tâm<br /> Bài báo khoa học<br /> Ngành<br /> Kỉ yếu Hội thảo khoa học<br /> Bộ<br /> cấp Bộ<br /> GD-ĐT<br /> Kỉ yếu hội thảo cấp Trung Trung<br /> tâm<br /> tâm<br /> Giáo trình, sách giáo khoa<br /> <br /> 11<br /> 06<br /> 18<br /> 02<br /> 10<br /> <br /> (Nguồn: Phòng Đào tạo và quản lí người học, số liệu các<br /> nghiên cứu được công bố tính đến thời điểm 12/4/2018)<br /> Tiêu biểu trong các công trình sản phẩm nghiên cứu<br /> phải kể đến các sáng kiến cải tiến học cụ được hội đồng<br /> nghiệm thu đánh giá cao, thực tiễn đã được nhân rộng,<br /> phục vụ trực tiếp vào hoạt động giảng dạy ở Trung tâm.<br /> Giáo trình, sách giáo khoa được xuất bản trong những năm<br /> qua là một thành tích đáng kể trong hoạt động nghiên cứu<br /> khoa học của Trung tâm. Mặc dù vậy, công tác nghiên cứu<br /> khoa học ở một số lĩnh vực vẫn chưa thực sự có chiều sâu,<br /> các đề tài khoa học nghiên cứu trên các lĩnh vực chưa rộng,<br /> chủ yếu tập trung nghiên cứu vào hoạt động giảng dạy,<br /> chưa đề cập nhiều các mặt hoạt động khác của Trung tâm.<br /> Các đề tài sau khi được nghiệm thu, việc phổ biến và triển<br /> khai ứng dụng còn hạn chế, chưa ứng dụng được nhiều<br /> cho các hoạt động quản lí, nghiên cứu, giảng dạy ở Trung<br /> tâm. Vì vậy, tính hiệu quả trong nghiên cứu chưa đạt được<br /> mục tiêu của hoạt động nghiên cứu khoa học. Do hoạt<br /> động của Trung tâm có tính đặc thù trong Đại học Quốc<br /> gia Hà Nội nên khó tiếp cận được với các đề tài nghiên<br /> cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội và cấp Bộ.<br /> Hoạt động nghiên cứu khoa học chưa thực sự được quan<br /> tâm, đầu tư đúng mức, thời gian dành cho nghiên cứu khoa<br /> học ít, trình độ, năng lực và kinh nghiệm hoạt động nghiên<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 72-74; 26<br /> <br /> cứu khoa học của giảng viên không đồng đều; tài liệu, cơ<br /> sở vật chất phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học<br /> quá ít, gần như không có. Những nguyên nhân này đã ảnh<br /> hưởng trực tiếp đến hoạt động nghiên cứu khoa học của<br /> trung tâm.<br /> 2.2. Nâng cao nhận thức và năng lực nghiên cứu khoa<br /> học cho cán bộ, giảng viên<br /> Để nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa<br /> học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Đại<br /> học Quốc gia Hà Nội góp phần nâng cao chất lượng<br /> GD-ĐT hiện nay cần thực hiện đồng bộ các giải pháp,<br /> trong đó tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:<br /> Nâng cao nhận thức và năng lực nghiên cứu khoa học<br /> cho cán bộ, giảng viên là giải pháp cơ bản, then chốt, trực<br /> tiếp góp phần nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu<br /> khoa học. Chỉ có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ của<br /> mình thì cán bộ, giảng viên mới nỗ lực thực hiện nhiệm<br /> vụ nghiên cứu khoa học, có năng lực nghiên cứu khoa<br /> học mới giúp cho hoạt động nghiên cứu thành công, đem<br /> lại giá trị thiết thực phục vụ hoạt động đào tạo. Không có<br /> nhận thức đúng đắn, không có năng lực nghiên cứu thì<br /> không thể có sản phẩm nghiên cứu khoa học. Nâng cao<br /> nhận thức và năng lực nghiên cứu khoa học cho cán bộ,<br /> giảng viên là làm cho mỗi cán bộ, giảng viên thấy rõ trách<br /> nhiệm của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu<br /> khoa học: thông qua các hoạt động tăng cường tuyên<br /> truyền, phổ biến chiến lược về khoa học công nghệ, các<br /> chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt<br /> động khoa học công nghệ; quán triệt sâu sắc đến cho toàn<br /> thể đội ngũ cán bộ, giảng viên, viên chức và người lao<br /> động trong Trung tâm các chủ trương, định hướng,<br /> nhiệm vụ và các văn bản hướng dẫn về khoa học công<br /> nghệ của Đại học Quốc gia Hà Nội và của Trung tâm. Từ<br /> đó, giúp mỗi cán bộ, giảng viên có định hướng, có ý thức<br /> trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu<br /> khoa học của mình, thấy rõ vai trò của nghiên cứu khoa<br /> học trong việc nâng cao trình độ, năng lực hoạt động<br /> chuyên môn. Bên cạnh đó, cần xây dựng tiêu chí đánh<br /> giá cán bộ, giảng viên gắn với kết quả hoàn thành nhiệm<br /> vụ nghiên cứu khoa học một cách cụ thể; ban hành quy<br /> định yêu cầu bắt buộc về số bài báo, số đề tài nghiên cứu<br /> khoa học... hàng năm đối với cán bộ giảng dạy theo học<br /> vị; tất cả các giảng viên có nhiệm vụ bắt buộc tham gia<br /> hoạt động khoa học dưới nhiều hình thức, ít nhất là 30%<br /> định mức thời gian làm việc dành cho hoạt động nghiên<br /> cứu khoa học. Hội đồng khoa học nên có phần thưởng<br /> nghiên cứu khoa học với các mức độ khác nhau để thu<br /> hút cũng như tạo nên một môi trường khoa học năng<br /> động, sôi nổi; có cơ chế khuyến khích cán bộ, giảng viên<br /> tham gia nghiên cứu khoa học thông qua việc khen<br /> thưởng cả về vật chất và tinh thần để tôn vinh những cá<br /> <br /> 73<br /> <br /> nhân, tập thể, đơn vị có thành tích xuất sắc trong hoạt<br /> động nghiên cứu khoa học, có kết quả nghiên cứu nổi bật<br /> hay công bố bài báo khoa học xuất sắc... Cơ chế khen<br /> thưởng cần rõ ràng, cụ thể theo định mức để tạo ra tính<br /> hấp dẫn cho hoạt động này góp phần tạo hứng thú, động<br /> lực, niềm say mê trong nghiên cứu khoa học của cán bộ,<br /> giảng viên, đồng thời, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh<br /> thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trung tâm.<br /> 2.3. Tiếp tục nghiên cứu, vận dụng cơ chế để tăng<br /> cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động nghiên<br /> cứu khoa học<br /> Tăng cường kinh phí cho nghiên cứu khoa học luôn<br /> được coi là một trong những động lực trực tiếp để cán bộ,<br /> giảng viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học. Để có<br /> được nguồn tài chính đầu tư cho nghiên cứu khoa học,<br /> Trung tâm cần kiến nghị Đại học Quốc gia Hà Nội giao<br /> nhiệm vụ và cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa<br /> học thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh. Việc được<br /> giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học không chỉ phản ánh<br /> đúng chức năng, nhiệm vụ của một đơn vị đào tạo mà<br /> còn phù hợp với Quy chế về tổ chức và hoạt động của<br /> Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh. Bên cạnh<br /> đó, Trung tâm cần điều chỉnh quy chế chi tiêu nội bộ theo<br /> hướng tăng kinh phí nghiên cứu khoa học từ nguồn thu<br /> sự nghiệp, khuyến khích, tạo môi trường, động lực mạnh<br /> mẽ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, để hỗ trợ về mặt<br /> tài chính thực sự là “cú hích” tạo động lực cho cán bộ,<br /> giảng viên nghiên cứu khoa học.<br /> Việc xây dựng cơ chế đặc thù trong quản lí, sử dụng<br /> ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và<br /> công nghệ nhằm giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm<br /> cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công<br /> nghệ; mở rộng áp dụng cơ chế tài chính của quỹ phát<br /> triển khoa học và công nghệ là cơ hội rất lớn để Bộ GDĐT cũng như các cơ sở giáo dục đại học thoát ra khỏi cơ<br /> chế ràng buộc, phân bổ mang tính dự toán như trước đây<br /> về khai thác tiềm lực nguồn nhân lực về khoa học - công<br /> nghệ của các trường và tiến đến xây dựng các trường đại<br /> học nghiên cứu. Làm được điều đó sẽ hướng đến xây<br /> dựng được trường đại học nghiên cứu - nghiên cứu khoa<br /> học là một nhiệm vụ chính, một nguồn thu quan trọng<br /> cho hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học.<br /> Thực hiện triển khai Luật Khoa học và công nghệ<br /> năm 2013, Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang xây<br /> dựng những chính sách nhằm khuyến khích hoạt động<br /> nghiên cứu khoa học trong trường đại học, chính sách<br /> kinh phí và biên chế thỏa đáng cho hoạt động nghiên cứu<br /> khoa học. Cùng với đó, việc thành lập các trung tâm<br /> chuyển giao công nghệ trong trường đại học được triển<br /> khai sẽ là “cầu nối” giữa người nghiên cứu khoa học và<br /> doanh nghiệp, hỗ trợ nuôi dưỡng các ý tưởng mới, hoàn<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 72-74; 26<br /> <br /> thiện và thương mại hóa các ý tưởng, sáng kiến, kết quả<br /> nghiên cứu. Ngoài ra, chính sách xác định phân chia lợi<br /> nhuận đối với tác giả, những người nghiên cứu khoa học<br /> cũng đang được xây dựng nhằm bảo đảm quyền lợi bản<br /> quyền chuyển giao một cách thích đáng cho người<br /> nghiên cứu. Với những chính sách đột phá sẽ tạo động<br /> lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại<br /> học với nhiều thành tựu, ứng dụng mới.<br /> 2.4. Thực hiện nghiêm túc trong việc đánh giá, nghiệm thu<br /> Thành lập Hội đồng nghiệm thu kết quả nghiên cứu<br /> khoa học cấp Trung tâm: Hội đồng nghiệm thu phải đủ<br /> các tiêu chuẩn chung về học hàm học vị, có thâm niên<br /> dày dạn, thực sự có uy tín trong nghiên cứu khoa học,<br /> không nhất thiết phải là cán bộ công tác tại Trung tâm để<br /> nghiệm thu đánh giá và công nhận kết quả nghiên cứu<br /> khoa học của cán bộ, giảng viên thông qua các sản phẩm<br /> nghiên cứu khoa học của đơn vị, cá nhân. Quá trình<br /> nghiệm thu phải công tâm, khách quan; tránh hiện tượng<br /> nể nang, dễ dãi trong đánh giá, nghiệm thu; gắn với kết<br /> quả nghiên cứu của từng đơn vị, cá nhân theo nhiệm vụ<br /> được giao cần phải có hình thức khen thưởng hoặc xử lí<br /> thỏa đáng, đúng mức.<br /> Không chỉ thành lập các hội đồng nghiệm thu đề tài<br /> nghiên cứu khoa học mà trong thời gian tới, Trung tâm<br /> cần thành lập Hội đồng nghiệm thu/phản biện kết quả<br /> nghiên cứu dưới dạng bài viết khoa học đăng trên website<br /> của Trung tâm, để các bài được đăng thực sự là kết quả<br /> nghiên cứu khoa học, có giá trị khoa học.<br /> 2.5. Tăng cường giao lưu, trao đổi, tạo diễn đàn liên<br /> kết giữa Trung tâm với các cơ sở, đơn vị nghiên cứu<br /> khoa học trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội<br /> Thông qua giao lưu, trao đổi, tạo diễn đàn, Trung tâm<br /> sẽ lĩnh hội được thêm nhiều kinh nghiệm quý báu từ các<br /> đơn vị bạn. Công tác nghiên cứu khoa học chịu sự tác<br /> động của nhiều yếu tố, các yếu tố khách quan, chủ quan;<br /> các yếu tố trực tiếp, gián tiếp, từ nguồn lực nghiên cứu<br /> khoa học (nhân lực, vật lực, tài lực...), trình độ năng lực,<br /> trách nhiệm của cán bộ, giảng viên trực tiếp nghiên cứu,<br /> môi trường văn hóa công sở... Việc giao lưu trao đổi tọa<br /> đàm, liên kết giữa các cơ quan đơn vị sẽ giúp cho các nhà<br /> nghiên cứu có cái nhìn bao quát toàn cảnh, sâu sắc hơn<br /> về các nhân tố trong nghiên cứu khoa học. Từ sự thành<br /> công hay thất bại đều là bài học quý báu, là cơ sở có tính<br /> kế thừa giúp Trung tâm kiểm nghiệm lại những ưu<br /> khuyết điểm trên lĩnh vực hoạt động nghiên cứu khoa học<br /> để từ đó có những điều chỉnh phù hợp góp phần nâng cao<br /> hơn nữa chất lượng hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa<br /> học tại Trung tâm.<br /> 2.6. Có cơ chế đặc thù để phát triển các cơ sở nghiên<br /> cứu khoa học, công nghệ trọng điểm theo mô hình tiên<br /> <br /> 74<br /> <br /> tiến và triển khai những dự án khoa học, công nghệ<br /> quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm<br /> quốc phòng, an ninh<br /> Thực hiện cơ chế đặt hàng, đấu thầu, khoán kinh phí<br /> theo kết quả đầu ra và công khai, minh bạch chi phí, kết quả<br /> nghiên cứu. Giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa<br /> học, công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức,<br /> cá nhân chủ trì nghiên cứu, đồng thời có cơ chế phân chia<br /> lợi ích hợp lí. Nâng cao hiệu quả hoạt động các quỹ về phát<br /> triển khoa học, công nghệ; khuyến khích các quỹ đầu tư<br /> mạo hiểm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá độc<br /> lập, tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với hoạt động<br /> khoa học. Cơ chế đấu thầu đề tài khoa học sẽ chuyển giao<br /> cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo mô hình trường - liên kết<br /> với doanh nghiệp để bán sản phẩm nghiên cứu.<br /> Kinh nghiệm của nhiều trường hoạt động nghiên cứu<br /> khoa học công nghệ dưới hình thức nghiên cứu ứng dụng<br /> triển khai (khoa học kĩ thuật nông nghiệp với nhiều giống<br /> hoa, lúa, rau; khoa học công nghiệp dân dụng: với nhiều<br /> sản phẩm điện, điện tử, cơ khí,..) đã đem lại lợi ích rất<br /> lớn cho xã hội và nhà khoa học. Xu hướng thế giới là<br /> đang chuyển dần các trường đại học thành “đại học<br /> nghiên cứu”, tức chú trọng đến hoạt động nghiên cứu<br /> khoa học công nghệ. Điều này đã và sẽ đặt ra cho các<br /> trường phải dành sự quan tâm, có hướng giải pháp kịp<br /> thời cho hoạt động này để mang lại hiệu quả, tránh lãng<br /> phí nguồn lực.<br /> Cần tổ chức ứng dụng sản phẩm khoa học công nghệ đã<br /> nghiệm thu. Đối với nhóm ngành khoa học công nghệ - kĩ<br /> thuật: kế thừa thành tựu khoa học công nghệ của các nước<br /> trên thế giới và trong khu vực. Về cơ bản, các sản phẩm<br /> nghiên cứu khoa học được nghiệm thu của nhóm ngành này<br /> được ứng dụng trong thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội, an<br /> ninh - quốc phòng; mặt khác, sản phẩm nghiên cứu khoa<br /> học của nước ta với xu hướng xuất khẩu công nghệ và sản<br /> phẩm ứng dụng. Đối với nhóm ngành khoa học quản lí:<br /> nhóm ngành này thuộc chính sách của Nhà nước thuộc tầm<br /> vĩ mô, do vậy ứng dụng chủ yếu là các đề án.<br /> 3. Kết luận<br /> Tóm lại, các giải pháp nâng cao chất lượng công tác<br /> nghiên cứu khoa học ở trên có mối quan hệ biện chứng<br /> với nhau, có vai trò khác nhau trong việc quản lí nâng<br /> cao chất lượng hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học ở<br /> Trung tâm giáo dục Quốc phòng và An ninh hiện nay. Vì<br /> thế, Trung tâm cần phải căn cứ vào tình hình thực tiễn và<br /> ý nghĩa vai trò của mỗi biện pháp để chỉ đạo thực hiện<br /> sao cho có hiệu quả và phù hợp, góp phần nâng cao chất<br /> lượng đào tạo ở Trung tâm giáo dục Quốc phòng và An<br /> ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội trong thời gian tới.<br /> (Xem tiếp trang 26)<br /> <br /> VJE<br /> <br /> Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2018, tr 21-26<br /> <br /> trợ từ chính quyền địa phương, hội cha mẹ HS... để nâng<br /> cao chất lượng HĐTVHĐ, đa số CBQL và GV cho rằng,<br /> “các lực lượng giáo dục bên ngoài nhà trường như chính<br /> quyền địa phương, hội cha mẹ HS... chưa thật sự quan<br /> tâm đến HĐTVHĐ của nhà trường nên chưa tích cực hỗ<br /> trợ nhà trường. Do đó, các trường cần tuyên truyền sâu<br /> rộng đến chính quyền địa phương, cha mẹ HS thông qua<br /> các buổi họp giao ban, họp cha mẹ HS định kì để kêu gọi<br /> sự quan tâm, hổ trợ của họ nhằm nâng cao chất lượng<br /> HĐTVHĐ”. Với nội dung “Thực hiện chế độ chính sách<br /> cho GV”, đa số GV cho rằng: “Đa số đội ngũ tham vấn<br /> viên ở các trường hiện nay đều là do GV chủ nhiệm, GV<br /> bộ môn, giám thị hoặc GV phụ trách công tác Đoàn - Đội<br /> kiêm nhiệm. Họ được HT phân công thêm nhiệm vụ<br /> nhưng không được hưởng thêm thù lao trong công việc<br /> kiêm nhiệm này, hoặc nếu có thù lao thì cũng rất thấp.<br /> Chỉ có rất ít tham vấn viên là được hưởng lương và chế<br /> độ chính sách theo ngạch GV đúng quy định. Do đó, để<br /> HĐTVHĐ ở các trường THCS thật sự hiệu quả thì phải<br /> có sự thay đổi về chính sách, vì đây là yếu tố quan trọng<br /> để thúc đẩy nhận thức đúng hơn về hỗ trợ tâm lí học<br /> đường, về vai trò của sức khoẻ tâm thần đối với xã hội”.<br /> Tóm lại, đa số các trường THCS trên địa bàn quận 11<br /> chưa quan tâm đúng mức, chưa xem các điều kiện hỗ trợ<br /> HĐTVHĐ là quan trọng, chưa nhận thức được sự tác<br /> động của các điều kiện này đến hiệu quả HĐTVHĐ.<br /> 3. Kết luận<br /> Bên cạnh những nội dung quản lí đã thực hiện tốt,<br /> việc quản lí HĐTVHĐ của HT các trường THCS quận<br /> 11, TP. Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại những hạn chế như:<br /> việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện HĐTVHĐ còn mang tính<br /> hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa chú trọng đến<br /> chuyên ngành của người được tuyển dụng làm công tác<br /> TVHĐ, chế độ chính sách cho tham vấn viên và những<br /> người làm công tác tham vấn chưa phù hợp, cơ sở vật<br /> chất của các phòng tham vấn vẫn chưa được đầu tư đúng<br /> mức, chưa thường xuyên chủ động tìm hiểu vấn đề của<br /> HS khi xây dựng nội dung tham vấn... Những hạn chế<br /> trong công tác quản lí HĐTVHĐ chủ yếu là do nhận thức<br /> của CBQL các cấp, các ban ngành về HĐTVHĐ vẫn<br /> chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, thiếu sự thống nhất dẫn đến<br /> việc quản lí còn mang tính chủ quan, thụ động. Những<br /> hạn chế này là cơ sở để HT các trường này đề xuất những<br /> biện pháp quản lí hiệu quả.<br /> Tài liệu tham khảo<br /> [1] Bộ GD-ĐT (2017). Thông tư số 31/2017/TTBGDĐT ngày 18/12/2017 về Hướng dẫn thực hiện<br /> công tác tư vấn tâm lí cho học sinh trong trường<br /> phổ thông.<br /> <br /> 26<br /> <br /> [2] Bộ GD-ĐT (2013). Tài liệu tập huấn Giáo viên chủ<br /> nhiệm với công tác tư vấn tâm lí - giáo dục cho học<br /> sinh trung học.<br /> [3] Bộ GD-ĐT (2017). Thông tư số 31/2017/TTBGDĐT ngày 18/12/2017 về Hướng dẫn thực hiện<br /> công tác tư vấn tâm lí cho học sinh trong trường<br /> phổ thông.<br /> [4] Huỳnh Ngọc Thanh (2016). Về hoạt động tham vấn<br /> học đường nhằm phát triển môi trường giáo dục kỉ<br /> luật tích cực trong các trường trung học cơ sở. Tạp<br /> chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 12, tr 68-70.<br /> [5] Phạm Thanh Bình (2014). Nhu cầu tham vấn tâm lí<br /> học đường của học sinh trung học cơ sở. Luận án<br /> tiến sĩ Tâm lí học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.<br /> [6] Trần Thị Minh Đức (2009). Giáo trình tham vấn tâm<br /> lí. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.<br /> [7] Nguyễn Lộc (2010). Lí luận về quản lí. NXB Đại<br /> học Sư phạm.<br /> <br /> NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC...<br /> (Tiếp theo trang 74)<br /> Tài liệu tham khảo<br /> [1] Chính phủ (2010). Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày<br /> 27/02/2010 về đổi mới quản lí giáo dục đại học giai<br /> đoạn 2010-2020.<br /> [2] Bộ GD-ĐT (2011). Quy định về hoạt động khoa học<br /> và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học (ban<br /> hành kèm theo Thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT<br /> ngày 30/5/2011 của Bộ GD-ĐT).<br /> [3] Bộ GD-ĐT (2010). Báo cáo thực trạng và giải pháp<br /> tạo động lực cho giảng viên đại học tham gia nghiên<br /> cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.<br /> [4] Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ (2006).<br /> Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN<br /> ngày 04/10/2006 về hướng dẫn chế độ khoán kinh<br /> phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng<br /> ngân sách nhà nước.<br /> [5] Lê Thị Tuyết Hạnh (2010). Một số giải pháp cơ bản<br /> tạo động lực thúc đẩy giảng viên đại học tham gia<br /> nghiên cứu khoa học. Tạp chí Giáo dục, số 241, tr 6-8.<br /> [6] Đặng Hùng Thắng (2018). Bốn giải pháp thúc đẩy<br /> nghiên cứu khoa học. Đại học Quốc gia Hà Nội.<br /> [7] Bộ GD-ĐT (2014). Quy định chế độ làm việc đối với<br /> giảng viên (ban hành kèm theo Thông tư số<br /> 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31/12/ 2014).<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản