Nâng cao chất lượng hoạt động sưu tầm hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Chia sẻ: ViHercules2711 ViHercules2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
9
lượt xem
0
download

Nâng cao chất lượng hoạt động sưu tầm hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết tập trung phân tích vai trò quan trọng của công tác sưu tầm hiện vật đối với hoạt động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ngay từ khi mới thành lập, Bảo tàng đã đẩy mạnh hoạt động sưu tầm nhằm thu thập hiện vật và tư liệu để xây dựng cho cơ sở và phục vụ trưng bày thường xuyên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nâng cao chất lượng hoạt động sưu tầm hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

HNUE JOURNAL OF SCIENCE<br /> Social Sciences, 2018, Volume 63, Issue 10, pp. 87-98<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1067.2018-0073<br /> <br /> NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG SƯU TẦM HIỆN VẬT<br /> TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM<br /> <br /> Trần Thị Lệ<br /> Khoa Di sản Văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội<br /> Tóm tắt. Bài báo tập trung phân tích vai trò quan trọng của công tác sưu tầm hiện vật đối với<br /> hoạt động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ngay từ khi mới thành lập, Bảo tàng đã đẩy<br /> mạnh hoạt động sưu tầm nhằm thu thập hiện vật và tư liệu để xây dựng kho cơ sở và phục vụ<br /> trưng bày thường xuyên. Từ thực trạng tổ chức hoạt động sưu tầm hiện vật ở Bảo tàng Dân<br /> tộc học Việt Nam, tác giả rút ra một số ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân. Trên cơ sở đó,<br /> bước đầu tác giả đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động sưu tầm ở<br /> Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong những năm tới.<br /> Từ khóa: Hoạt động sưu tầm, hiện vật bảo tàng, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Sau nhiều năm chuẩn bị và triển khai xây dựng, năm 1995 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam<br /> (Bảo tàng DTHVN) chính thức được thành lập và mở cửa phục vụ công chúng vào năm 1997. Sưu<br /> tầm hiện vật bảo tàng là khâu công tác nghiệp vụ cơ bản, có vai trò đặc biệt quan trọng, nó liên<br /> quan mật thiết với các khâu công tác nghiệp vụ khác như nghiên cứu, kiểm kê, bảo quản, trưng<br /> bày, trình diễn, giáo dục. Đối với Bảo tàng DTHVN, việc tích lũy hiện vật và tư liệu là một nhu<br /> cầu cấp thiết và có ý nghĩa sống còn để phục vụ cho các trưng bày thường xuyên, trưng bày<br /> chuyên đề, các hoạt động trình diễn, các chương trình giáo dục… nhằm khẳng định vị thế của<br /> mình đối với xã hội. Đã có một số công trình của Bảo tàng DTHVN nghiên cứu về hoạt động sưu<br /> tầm như: Điều tra cơ bản, nghiên cứu, sưu tầm hiện vật dân tộc học của Bảo tàng Dân tộc học<br /> Việt Nam (2002), Đổi mới tiếp cận dân tộc học trong các bảo tàng (2002), Dự án điều tra, nghiên<br /> cứu, sưu tầm hiện vật dân tộc học các dân tộc Đông Nam Á giai đoạn 2006-2010 (2006), Các<br /> công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tập 7 (2011), Để có một bảo tàng sống<br /> động: Quan niệm và phương thức hoạt động ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (2017)…; hay một<br /> số bài viết có liên quan đến hoạt động sưu tầm hiện vật trong Tạp chí Bảo tàng & Nhân học (Lê<br /> Anh Hòa [5], Chu Thái Sơn [6], Võ Quang Trọng [9],…). Qua nghiên cứu các công trình trên, các<br /> tác giả đã chuyển tải những bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính lí thuyết hay những kết<br /> quả đúc kết từ thực tiễn của hoạt động sưu tầm hiện vật. Như vậy, cho đến nay chưa có một công<br /> trình khoa học nào đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ về hoạt động sưu tầm hiện vật của Bảo<br /> tàng DTHVN từ khi thành lập đến nay. Bài viết này tập trung phân tích ưu điểm, hạn chế của hoạt<br /> động sưu tầm, từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác sưu<br /> tầm tầm hiện vật ở Bảo tàng DTHVN những năm tiếp theo.<br /> Ngày nhận bài: 19/7/2018. Ngày sửa bài: 19/8/2018. Ngày nhận đăng: 5/10/2018.<br /> Tác giả liên hệ: Trần Thị Lệ. Địa chỉ e-mail: lett@huc.edu.vn<br /> <br /> 87<br /> <br /> Trần Thị Lệ<br /> <br /> 2.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> <br /> 2.1. Thực trạng hoạt động sưu tầm hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam<br /> Qua nghiên cứu tài liệu thứ cấp kết hợp với khảo sát trực tiếp ở Bảo tàng DTHVN nhằm<br /> đánh giá thực trạng hoạt động sưu tầm hiện vật, tác giả rút ra một số ưu điểm, hạn chế sau:<br /> 2.1.1. Ưu điểm<br /> Thứ nhất, Bảo tàng đã tìm ra phương pháp tiếp cận đúng không chỉ riêng trong hoạt động<br /> nghiên cứu-sưu tầm mà áp dụng trong tất cả các hoạt động của Bảo tàng. Do Bảo tàng DTHVN ra<br /> đời muộn nên việc sưu tầm hiện vật về văn hóa và lối sống của các dân tộc đa số cũng như thiểu<br /> số đều trở nên rất khó khăn. Trước tình thế đó, muốn có hiện vật Bảo tàng DTHVN phải tìm ra<br /> cho mình một cách thức, một phương pháp tiếp cận riêng phù hợp với bối cảnh hiện tại. Phương<br /> châm của Bảo tàng trong công tác nghiên cứu-sưu tầm cũng như trong các hoạt động là bắt đầu từ<br /> hiện tại. Phương châm này thể hiện rõ trong quan điểm của PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên là<br /> Giám đốc Bảo tàng:“Phải dứt khoát đoạn tuyệt với quan điểm bảo tàng chỉ là quá khứ. Bảo tàng<br /> còn là đương đại, là tương lai. Bảo tàng phải tham gia vào câu chuyện giúp cho cộng đồng nhận<br /> thức được văn hóa của mình và giúp cho họ phát triển” [4; 83]. Vì vậy, đa số hiện vật của Bảo<br /> tàng không có giá trị lớn về vật chất hay kinh tế nhưng nó lại hàm chứa giá trị văn hóa vật thể và<br /> phi vật thể để giới thiệu về văn hóa và cuộc sống cộng đồng dân cư. Với chủ trương đúng đắn như<br /> vậy, Bảo tàng đã sưu tầm được số lượng hiện vật đáng kể, đáp ứng các hoạt động đa dạng .<br /> Thứ hai, Bảo tàng đã chuẩn bị rất kĩ lưỡng trước khi đi sưu tầm, đặc biệt là công việc nghiên<br /> cứu. Đối tượng sưu tầm của Bảo tàng là hiện vật dân tộc học phản ánh văn hóa và lối sống của các<br /> tộc người từ xưa đến nay [4; 83]. Vì vậy, trước khi sưu tầm đòi hỏi phải nghiên cứu rất cụ thể về<br /> văn hóa các dân tộc và cuộc sống của họ. Thông qua nghiên cứu, cán bộ sưu tầm hiểu được những<br /> đặc điểm dân tộc học của từng tộc người cụ thể, từ nguồn gốc lịch sử, kinh tế đến văn hóa vật chất<br /> và tinh thần…mặt khác có thể xem như đây là một cuộc kiểm kê các khía cạnh văn hóa vật thể và<br /> phi vật thể của tộc người đó để nắm được thực trạng văn hóa của họ từ đó có cơ sở để xây dựng kế<br /> hoạch sưu tầm và bảo tồn.<br /> Về việc sưu tầm hiện vật tại các nước Đông Nam Á, Bảo tàng đã làm rất tốt công việc nghiên<br /> cứu trước khi triển khai sưu tầm. Theo đó, trước khi đi sưu tầm ngoài việc chuẩn bị đề cương và<br /> danh mục hiện vật cần sưu tầm, cán bộ Bảo tàng còn thu thập tư liệu và ảnh các quốc gia Đông<br /> Nam Á qua các nguồn khác nhau như sách, catalogue, tạp chí, các trang web điện tử…về lịch sử,<br /> văn hóa mỗi quốc gia. Những tư liệu này được tập hợp và sử dụng như là tài liệu tham khảo khi đi<br /> sưu tầm nhằm tiết kiệm thời gian và nhân lực cho chuyến công tác [10; 488].<br /> Trong phạm vi không gian có hạn, khoảng 2 ha đất dành cho phần trưng bày ngoài trời nên<br /> chọn trưng bày cái gì, bao nhiêu công trình để tiêu biểu cho 54 dân tộc cư trú trên 3 miền đất nước<br /> là vô cùng nan giải đối với Bảo tàng DTHVN lúc bấy giờ [10; 559]. Qua nhiều nghiên cứu, thảo<br /> luận khoa học với các chuyên gia dân tộc học và bảo tàng học trong và ngoài nước, cuối cùng Bảo<br /> tàng DTHVN chốt lại sẽ phục dựng 8 ngôi nhà/khuôn viên truyền thống của 8 dân tộc (Việt,<br /> Chăm, Hmông, Dao, Tày, Hà Nhì, Êđê và Bana), 2 nhà mồ (Giarai và Cơtu) và một số công trình<br /> phụ khác. Từ kết quả nghiên cứu đó, Bảo tàng cử đoàn cán bộ gồm các nhà nghiên cứu dân tộc<br /> học, các chuyên gia đến tận các bản làng, dân tộc ở địa phương thuộc nhiều vùng khác nhau để<br /> khảo sát và lựa chọn ngôi nhà.<br /> 88<br /> <br /> Nâng cao chất lượng hoạt động sưu tầm hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam<br /> <br /> Có thể nói, những kết quả nghiên cứu của Bảo tàng không chỉ tạo cơ sở cho việc sưu tầm<br /> hiện vật và tư liệu nghe nhìn, làm phim dân tộc học mà còn được thể hiện trong các hoạt động đa<br /> dạng khác như trưng bày, trình diễn, giáo dục…phản ánh tính chuyên nghiệp và cách làm rất riêng<br /> của Bảo tàng.<br /> Thứ ba, Trong quá trình triển khai nghiên cứu, sưu tầm tại thực địa, Bảo tàng đã nhận được<br /> sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cơ quan văn hóa, chính quyền địa phương trong và ngoài nước.<br /> Khi tổ chức sưu tầm tại làng, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa Bảo tàng thường gặp một số khó<br /> khăn nhất định về giao thông, ngôn ngữ, vận chuyển…Trong trường hợp này, Bảo tàng đã nhận<br /> được sự tư vấn nhiệt tình của cơ quan văn hóa các cấp hay lãnh đạo thôn, bản. Khi sưu tầm hiện<br /> vật ở các nước Đông Nam Á, Bảo tàng cũng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ nhiệt tình của bảo tàng<br /> nước sở tại, từ việc cử chuyên gia giúp đỡ, xác định địa điểm sưu tầm đến việc lựa chọn, sưu tầm<br /> những hiện vật quý hiếm và mang đặc trưng văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi tộc người. Nhờ đó<br /> Bảo tàng đã giảm được thời lượng đáng kể dành cho việc nghiên cứu, sưu tầm, tiết kiệm chi phí đi<br /> lại và có điều kiện tập trung thời gian vào hoàn thiện các thông tin về hiện vật. Ngoài ra, các cơ<br /> quan văn hóa, Cục Bảo tồn bảo tàng cùng với giám đốc bảo tàng nước bạn cũng đã hỗ trợ thủ tục<br /> pháp lí như giám định chất lượng hiện vật, các thủ tục để vận chuyển hiện vật về Việt Nam. Vì<br /> vậy, các chuyến sưu tầm hiện ở các nước Đông Nam Á, Bảo tàng không gặp trở ngại nào về thủ<br /> tục pháp lí, đảm bảo tuân thủ luật pháp nước bạn về mua bán, vận chuyển hiện vật văn hóa [10; 488].<br /> Thứ tư, Qua sưu tầm, Bảo tàng đã tích lũy được số lượng hiện vật và tư liệu đa dạng phục vụ<br /> cho trưng bày chuyên đề gắn với hoạt động trình diễn, các chương trình giáo dục. Một trong<br /> những đặc điểm hoạt động phục vụ công chúng của Bảo tàng DTHVN là tổ chức rất nhiều trưng<br /> bày chuyên đề gắn với các cuộc trình diễn, khía cạnh không thể thực hiện được trong các trưng<br /> bày thường xuyên. Thực tế cho thấy dù phần trưng bày thường xuyên có được chăm sóc, đổi mới<br /> thì số lượng khách tham quan quay lại cũng không nhiều. Nhu cầu của công chúng quay lại Bảo<br /> tàng là được xem cái mới. Nhằm đáp ứng nhu cầu này, khoảng từ năm 2000 trở lại đây, dựa trên<br /> cơ sở tiềm năng, thế mạnh của Bảo tàng là nguồn hiện vật và tư liệu đã sưu tầm, Bảo tàng đã tổ<br /> chức hàng trăm trưng bày chuyên đề gây ấn tượng mạnh đối với công chúng. Năm 2000, Bảo tàng<br /> tổ chức chương trình giáo dục dành cho trẻ em với tiêu đề “Em học làm đồ chơi đất sét, giấy bồi<br /> và in tranh Đông Hồ”. Năm 2001, Bảo tàng tổ chức trưng bày chuyên đề gắn với trình diễn “Kĩ<br /> thuật dệt và tạo hoa văn batik của người Hmông”…Các trưng bày này đều có sự tham gia của<br /> người dân/chủ thể văn hóa, đây là cách làm mới - cách “đưa” chủ thể văn hóa đến với công<br /> chúng đã trở thành “kim chỉ nam” cho hoạt động của Bảo tàng.<br /> 2.1.2 Hạn chế và nguyên nhân<br /> Một là, thời kì đầu do chú trọng sưu tầm về số lượng hiện vật nên chất lượng chưa cao, thể hiện:<br /> Số lượng hiện vật và tư liệu không đều giữa các dân tộc. Ở các dân tộc có số lượng đông như<br /> Việt, Mường, Chăm, Thái, Hmông, Dao…đã sưu tầm được hàng trăm, thậm chí hàng nghìn hiện<br /> vật. Trong khi đó, những dân tộc ít người như Ơđu, Sila, Cống, Cờ Lao, Pu Péo… số lượng hiện<br /> vật sưu tầm được rất ít [4; 95]. Với ảnh cũng vậy, cho nên tuy Bảo tàng hiện có lượng ảnh tư liệu<br /> rất lớn nhưng nhiều khi vẫn thiếu ảnh cho một cuộc trưng bày hay để in catalogue. Không những<br /> thế, thành phần hiện vật cũng có vấn đề “thường chỉ tập trung vào một số lĩnh vực văn hóa vật<br /> chất, còn lĩnh vực văn hóa xã hội, tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng còn rất khiêm tốn” [4; 95]. Đặc<br /> 89<br /> <br /> Trần Thị Lệ<br /> <br /> biệt là ở thời kì đầu, do tri thức bảo tàng học còn hạn chế, khi sưu tầm chưa chú trọng nhiều đến<br /> chất lượng hiện vật, một số hiện vật cũ nát hay quá mới chưa đáp ứng được yêu cầu bảo quản và<br /> trưng bày hoặc giá trị sử dụng không cao; thêm vào đó, nhiều hiện vật độc bản, không có hiện vật<br /> để thay thế.<br /> Thiếu thông tin về hiện vật cũng là một vấn đề tồn tại đã lâu và không dễ khắc phục ở Bảo<br /> tàng DTHVN. Trong giai đoạn đầu đa số các hiện vật sưu tầm mới chỉ đáp ứng được những thông<br /> tin cơ bản, thông tin về hiện vật chưa được khai thác sâu, còn thiếu những câu chuyện hấp dẫn<br /> liên quan đến hiện vật. Một vấn đề nổi cộm nữa liên quan đến ảnh chụp, nhiều ảnh không có lí<br /> lịch (phiếu ảnh). Những bất cập này chủ yếu là do hậu quả của tình trạng sưu tầm nhanh, vội trước<br /> đây, chưa kết hợp tốt giữa nghiên cứu và sưu tầm, do hạn chế của việc sử dụng đông đảo sinh viên<br /> tham gia sưu tầm theo đợt, mặc dù Bảo tàng đã tập huấn [4; 96]. Một nguyên nhân nữa là khi Bảo<br /> tàng tiếp nhận hiện vật biếu tặng chưa quan tâm nhiều đến khả năng đáp ứng và nhu cầu sử dụng<br /> của Bảo tàng.<br /> Hầu hết hiện vật mà Bảo tàng đang sở hữu là hiện vật đơn lẻ, chưa xây dựng được các bộ sưu<br /> tập như mong muốn. Hiện nay, ở Bảo tàng cũng đã hình thành một số bộ sưu tập để phục vụ cho<br /> công tác nghiên cứu khoa học, bảo quản, trưng bày và giáo dục. Đó là sưu tập công cụ săn bắn thú<br /> với 256 hiện vật, sưu tập gùi của các cư dân bản địa vùng Trường Sơn- Tây Nguyên với 209 hiện<br /> vật, sưu tập ché của các dân tộc tại chỗ vùng Trường Sơn-Tây Nguyên…nhưng đó mới chỉ là<br /> bước đầu [4; 97]. Ngoài việc tổ chức sưu tập theo từng dân tộc, Bảo tàng hướng tới xây dựng sưu<br /> tập theo chuyên đề khác nhau như nhạc cụ, nông cụ, ngư cụ, đồ chơi…nhưng đến nay Bảo tàng<br /> chưa làm tốt công việc này. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do<br /> kinh phí eo hẹp nên đến nay chủ trương này vẫn chưa thực hiện được là bao.<br /> Hai là, Chưa chú trọng nghiên cứu, sưu tầm hiện vật về đời sống đô thị, về biển. Mặc dù<br /> công tác nghiên cứu-sưu tầm đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và đạt được nhiều thành tựu<br /> đáng kể nhưng nếu xem phần trưng bày thường xuyên của Bảo tàng, chúng ta có cảm nhận văn<br /> hóa Việt Nam vẫn chỉ là cuộc sống của những người nông dân ở nông thôn, miền núi mà ít thấy<br /> cuộc sống đô thị và những vấn đề đặt ra với người dân đô thị. Lí do chính là do quan điểm và<br /> nhận thức của những người làm bảo tàng trong thời kì đầu, bị chi phối bởi cái nhìn của dân tộc<br /> học cổ điển, thường chú trọng về nông thôn, về các dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa [4; 46].<br /> Trong những năm qua nhận thức của Bảo tàng đã dần thay đổi, ngày càng thấy rõ vai trò của Bảo<br /> tàng trong việc nghiên cứu và giới thiệu xã hội đương đại mà một trong những trọng tâm của nó là<br /> đời sống đô thị và đời sống công nghiệp. Do vậy, Bảo tàng đã tổ chức hàng loạt các hoạt động gắn<br /> với đời sống của người dân đô thị như các trưng bày chuyên đề “100 năm đám cưới Việt Nam”<br /> năm 2005, “Người dân phố cổ và di sản văn hóa phi vật thể” năm 2006. Đặc biệt là trưng bày<br /> “Cuộc sống ở Hà Nội thời bao cấp 1975-1986” năm 2006 đã trở thành một sự kiện lịch sử của Hà<br /> Nội những năm đầu thế kỷ XXI, thu hút nhiều đối tượng công chúng đến tham quan, chiêm<br /> nghiệm và phản biện.<br /> Biển của đất nước ta bao la và mảng văn hóa biển cũng rộng lớn nhưng phần trưng bày và<br /> giới thiệu còn rất mờ nhạt do chưa sưu tầm được nhiều hiện vật. Trong tòa nhà Trống đồng có<br /> trưng bày bộ sưu tập các mẫu thuyền được thừa hưởng từ Bảo tàng Lịch sử quốc gia nhưng không<br /> đầy đủ. Với các dân tộc Kinh, Chăm, Khơme… biển cũng chỉ được nhắc đến qua những câu chữ.<br /> Phần trưng bày ngoài trời đây đó có bóng dáng thuyền bè sông nước nhưng vẫn chưa tìm thấy<br /> 90<br /> <br /> Nâng cao chất lượng hoạt động sưu tầm hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam<br /> <br /> biển đích thực. Nguyên nhân là do Bảo tàng chưa nhận thức đầy đủ về biển và cũng chưa đầu tư<br /> thích đáng cho việc nghiên cứu biển. Trong ngành Dân tộc học và Văn hóa học, tài liệu nghiên<br /> cứu về biển cũng không có nhiều. Đã đến lúc Bảo tàng DTHVN cần đổi mới mình thông qua việc<br /> nghiên cứu, sưu tầm và trưng bày về biển [10; 598].<br /> Ba là, Chưa đào tạo được đội ngũ cán bộ nghiên cứu-sưu tầm mang tính chất khu vực học và<br /> dân tộc học, văn hóa tộc người. Hiện nay phòng Nghiên cứu-Sưu tầm được biên chế 8 người trong<br /> khi đó khối lượng công việc nhiều nên rất khó khăn trong vấn đề chuyên môn hóa công việc. Mặt<br /> khác, mặc dù đa số cán bộ đều được đào tạo từ chuyên ngành Dân tộc học nhưng cho tới nay Bảo<br /> tàng vẫn thiếu các chuyên gia chuyên sâu về từng khu vực cụ thể như khu vực các dân tộc miền<br /> núi phía Bắc, khu vực Trường Sơn-Tây Nguyên hoặc chuyên gia về các nước Đông Nam Á,<br /> chuyên gia về các dân tộc hay nhóm tộc người-ngôn ngữ. Nguyên nhân của hạn chế này là do cán<br /> bộ nghiên cứu-sưu tầm chưa được định hướng đào tạo theo chiều sâu. Điều này dẫn tới sự nghiên<br /> cứu chưa chuyên sâu, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách tham quan ngày nay bởi vì khách đến<br /> bảo tàng không chỉ quan tâm đến hiện vật trưng bày mà họ còn quan tâm đến chất lượng thông tin,<br /> những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học hàm chứa trong hiện vật.<br /> <br /> 2.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sưu tầm hiện vật của Bảo tàng<br /> Dân tộc học Việt Nam<br /> 2.2.1. Tiếp tục đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác sưu tầm<br /> Ngày nay, nhu cầu xã hội đối với bảo tàng đang thay đổi rất nhanh chóng, nhiều nhu cầu mới<br /> liên tiếp xuất hiện. Các nhu cầu đó lại xuất phát từ công chúng - những người trực tiếp sử dụng<br /> các sản phẩm và dịch vụ của bảo tàng. Trong thời đại kinh tế tri thức, yêu cầu của công chúng<br /> cũng ngày càng cao và khắt khe hơn. Như vậy, người sản xuất ra sản phẩm bảo tàng, người cung<br /> cấp dịch vụ bảo tàng muốn theo kịp trình độ dân trí và nhu cầu khách tham quan thì nhất thiết phải<br /> được đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho xứng đáng.<br /> Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, sưu tầm của Bảo<br /> tàng DTHVN đã trưởng thành nhanh chóng nhưng họ vẫn cần phải nâng cao trình độ một cách<br /> tích cực và hiệu quả từ tính chuyên nghiệp và năng lực chuyên môn nghiệp vụ đến đạo đức bảo<br /> tàng [4; 98]. Bảo tàng cũng đang đối diện với nhiều thách thức, trong đó phải kể đến sự thiếu hụt<br /> một số chuyên gia giỏi về các dân tộc trong nước và chuyên gia các dân tộc ở khu vực Đông Nam<br /> Á. Để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, sưu tầm hiện nay đang đặt ra đối với Bảo tàng, cán bộ nghiên<br /> cứu-sưu tầm cần được đào tạo và tự đào tạo về từng mặt chuyên sâu về các khu vực trong nước,<br /> các mảng nghiên cứu về văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và sâu hơn nữa, chuyên nghiên cứu,<br /> sưu tầm về từng lĩnh vực: nhà cửa, trang phục, đồ gốm, đồ dệt, đồ gỗ,…Ngoài ra, cán bộ sưu tầm<br /> cũng phải được đào tạo và liên tục cập nhật những quan niệm và phương pháp mới trong bảo tàng<br /> học cũng như trong dân tộc học/nhân học của các nước phát triển như Mỹ, Pháp…để hình thành<br /> được đội ngũ chuyên gia có năng lực làm việc quốc tế. Trong tác nghiệp, họ vừa phải nghiên cứu<br /> tốt để tạo ra những sản phẩm khoa học chất lượng cao hướng tới đạt tiêu chuẩn quốc tế, vừa kết<br /> hợp tốt giữa sưu tầm hiện vật và các tư liệu cần thiết một cách chuẩn xác để tránh rơi vào tình<br /> trạng có những bất cập nêu trên [4; 99]. Để các chuyến sưu tầm ở nước ngoài đạt hiệu quả cao và<br /> tiết kiệm thời gian, chi phí, Bảo tàng cần gửi cán bộ trẻ có năng lực đi đào tạo ngôn ngữ ở các<br /> nước Đông Nam Á và đạo tạo nâng cao trình độ chuyên môn sâu về văn hóa các nước này.<br /> 91<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản