intTypePromotion=1

Nâng cao giáo dục sức khỏe: Phần 1

Chia sẻ: Minh Vũ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:98

0
131
lượt xem
27
download

Nâng cao giáo dục sức khỏe: Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 1 Tài liệu Giáo dục sức khỏe và nâng cao sức khỏe do Trần Thị Hoa làm chủ biên giới thiệu tới người đọc các nội dung: Những khái niệm về giáo dục - nâng cao sức khỏe, hành vi sức khỏe - thay đổi hành vi. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nâng cao giáo dục sức khỏe: Phần 1

  1. ÍBưỬNG CÁN BỘ QUẢN LÝ Y TẾ BỘ MÔN CÁC KHOA HỌC XẢ HỘI GIÁO DỤC SỨC KHỎE I li/ NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC
  2. TRƯỜNG CÁN Bộ QUẢN LÝ Y TẾ ■ Bộ MÔN CÁC KHOA HỌC XÃ HỘI GIÁO DỤC SỨC KHỎE v à NÂNG CAO SỨC KHỎE > NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC HÀ NỘI - 1998
  3. I •> > Chu biên: Qỉhì» Vùoa., s ử DỰNG • GIẨNG DẠY • VÀ T ự• HỌC • CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC VÀ SAU ĐẠI HỌC • • • \
  4. Lời Giới Thiệu % ■ Từ trước công nguyên, Hippocrate đã khởi xướng Giáo dục Sức khoẻ bằng những ý tưởng được viết thành sách về cách ăn uống hợp lý, giữ gìn vệ sinh cá nhân... Ở nước ta, Hải Thượng Lãn Ông (1), một danh y vào th ế kỷ X/ĨII, trong quá trình chữa bệnh đêu cho bệnh nhân những lời khuyên làm th ế nào đ ể bệnh chống khỏi và trong bộ sách Tâm Lĩnh cũng nêu lên cách giữ gìn sức khoẻ và phòng bệnh cho phụ nữ - ư ẻ em. 9 Nhìn chung, trong suốt quá trình khám chữa bệnh cũng như phòng bệnh thầy thuốc giỏi đều thể hiện những hành động: khuyên bảo, giúp đỡ, hưóng dẫny trình bày, giới thiệu... Những điều này chính là giáo dục sức khoẻ. K ế thừa những kinh nghiệm của nền y học cổ truyền và sự phát triển như vũ bão của y học hiện đại, đến nay phần lớn các nguyên nhân gảy bệnh đ ã được xác định rõ ràng. Bệnh không chỉ do những diều kiện bên ngoài gây nên mà do chính bản thân mỗi người nếu họ không ỷ thức được s ẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề. Ở các nước đã phát triển, mô hình bệnh tật giữa th ế kỷ XX về sau có nhiều khác biệt so với đầu th ế kỷ, nghĩa là, hiện nay các bệnh nhiễm khuẩn thông thường do diều kiện vệ sinh môi trường tồi dã giảm dáng k ể hoặc đã được thanh toán, thay vào đó lại tăng lên các bệnh do hành vi, lối sống như béo trệ , tim mạch, các bệnh lây lan qua dường tình dục (STDs) k ể cả nhiễm HIV/AIDS và những chấn thương, giết người, tự sát hoặc những hành động bạo lực khác. Trong những năm gần đây, ở nước ta vần còn một s ố bệnh nhiễm khuẩn ở người lớn chưa có xu hướng giảm rõ rệt hoặc d ã thanh toán triệt đ ể trừ sáu bệnh thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em. TrotHỊ khi đó lại xuất hiện nhiều bệnh do con người thiếu kiến thức, hành vi và lối song không lành mạnh giống như các nước trong khu vực và các nước dã phát triển. Điển hình là đại dịch A1DS, các hành vì bạo lực, nghiện ngập, tai nạn xe cộ, nhiều bệnh do mất cân dối dinh dưỡng ở người lớn tuổi và trẻ em... Suy cho cùng, con người tự mình có th ể phòng được phần lớn những bệnh nguy hiểm chết ngưòi nếu họ có ý thức đ ể tránh và đ ể chọn cho ựiình hành vi lành mạnh. Chính vì th ế tại hội nghị CSSKBĐ ở Alma Ata (1978), Giáo Dục Sức Khoẻ đã dược đặt lên vị tĩi hàriiỊ đầu trong cúc chương trình hành dộng nhằm (lạt mục tiêu sức khoẻ cho mọi nạười đến năm 2000. T ổ chức y t ế th ể giới vù tất cả cúc thành viên nhận ra rằng: Mục tiêu sức khoẻ cho mọi nạườỉ vào năm 2000 chỉ có thể dạt dược khi mà tất cả cún bộ y t ể và người dán cùruỊ làm việc với nhau có hiệu quả. Đ ể người dân ủng hộ, tiếp nhận, cộng tác và thay đổi hành vi- lối sống, cán hộ y tể không những chỉ làm công rác giáo dục sức khoẻ bằng cách trang bị cho họ kiến thức kỹ nang mà con tạo ra cho họ những diều kiện thuận lợi về cơ sỏ vạt chất và thể ch ế - chính sách phờ hợp với bối cành kinh tế- xã hội. Những nhiệm vụ này là của nàng cao sức khoe ( Ịipnlth Dromotion).
  5. Trong t ì n h hình sức khoẻ của nhản dân nước ta hiện nay, Giáo dục Sức khoe vả Nâng í CIO Sức khoẻ vẫn giữ vị trí trung tâm. Và trong chương trình gidng dạy Y tẻ Công cộng cho dại học cũng như sau đại học, ngành khoa học này được xem là một trong sáu môn chu chốt ịcore course). Cuốn Giáo dục Sức khoẻ và Nâng cao Sức khoẻ dược biên soạn với mong muôn dủp íứig nhu cầu của sinh viên trên đại học vé chuyên ngành Y tế Công cộng. Hơn thê nữa, sinh viên thuộc cúc chuyên ngành y học dự phòng cũng như sinh viên y khoa và những dồng nghiệp trong ngành có thể sử dụng sách này d ể tự học hoặc tham khảo đêu có ích. Cúc tác giả dã chắt lọc kiến thức, kinh nghiệm ỏ Việt Nam và qua học tập ở các trườỉig Y tê Công cộng lớn tại Mỹ vù úc; nhữnq kinh nghiêm trong ỳảng dạy và nghiên cứu của họ; qua tì ao dổi và làm việc với các chuyên gia GDSK và Nàng cao Sức khoể nước ngoài dồng thời dã tham khảo những tài liệu rất có giá trị. Sách chứa nhiều nội dung cập nhật, phong phú bao gồm những khái niệm về tủm lý học và hành vỉ người; căc phương pháp d ể làm giáo dục sức khoẻ - thay dổi hành vi; những kỹ nâng truyền thông sức khoẻ... và một loạt phương pháp nghiên cứu vê định tính cũng như định lượng rất cẩn thiết cho nhữìig nhà nghiên cứu các chương trình CSSKBĐ và Y Xã hội học. Hơn th ế nữa, sách dược b ố cục chặt chẽ, trình hày đẹp và rổ rùng mam> tính thuyết phục. Tuy vậy, sách mới ÌỈ1 lần dầu cho nên chúc chắn còn nhiều hạn chế. Rất mong bạn dọc góp ỷ đ ể sửa chữa, hổ sung cho những lần tái bản sau. Trân írọìig ỳ ới thiệu bạn dọc. Hà Nội 20-12-1997 Hiệu Trưởng, PGS, PTS Lê Hùng lâm
  6. Lời Hói Đầu Các trườn ạ Y khoa cũng như Y tế Công cộng trên thế giới đểu chú trọng môn Giáo dục Sức khoè. Sinh viên ở các trường này được trang bị kiến thức cơ bản vù các kĩ năng về giáo dục sức khoẻ. Mục đích là sưu khi tốt nghiệp bắt tay vào hành nghề, người thấy thuốc hoặc cán bộ y tế phải cố nghệ thuật giao tiếp với người bệnh và người khoẻ dang sôhtỊ tại CỘÌHỊ đồn ạ. Đ iểu này sẽ ỳ úp họ dạt dược môi quan hệ tốt giữa cán bộ V tê với nqười dân. Nhờ vậy, họ có thể hiểu dược nguyện vọng tâm tư cũng như phong tục tập quán và hoàn cành sốnq của cá nhăn hoặc cá cộ MỊ đồm*. Mặt khác, họ còn có cả ĩìhữniị kỹ nủỉiiỊ khuyên hào ịcounseỉinỉị ) và tư vân (Consulting) troỉỉíỊ khi thực hiện nìột buôi nói chuyện sức khoe lĩoậc những buổi giáo dục có liên quan tới sức khoẻ, dinh dưỡng và k ế hoạch lĩớá ỳ à ‘đỉìlh... Không ììhữìig thế, ở mọi tủv rhọi nơi, thầy M ố c hoặc cán bộ Y tế đều thể hiện được nlìữĩiiỊ kĩ nãììg trên khi người bệnh hoặc cộng dồng cần đến. Vì lẽ dó, íro/iiỊ chương trình đào tạo cho dại học Y Khoa và trên dại học về Y tế Công cộng, môn Giáo dục Sức khoẻ và Nâng cao Sức khoẻ dược xếp vào nlìóni các môn học bắt buộc. Giao dục Sức khoẻ hâu lìhư âã quen thuộc với sình viên và đồng nghiệp trong nẹủnh, nhifììị> N(hií> cao Sức khoẻ có ỉẽchưa dược nhiêu đồng nghiệp và sinh viên quan tăm. Đáy là một Iiqàìilì khoa học mũi nhọn trong y học (lự phòng mà những nước tiên tiến đã xá\' dụlìiỊ từ cuối thập niên 70. Chức nâng của nó có thê hiểu một cách vắn tắt lù tạo mọi diêu kiện thuận lợi đ ể con nqười có thể thay dổi dược nhữĩĩg hành vi có hại cho sức khoẻ vù có dược một cuộc sôhiị kìioẻ mạnh-an toàn. Troniị nhữnq nủm ỊỊần đây, ở nước ta một s ố trường Y với kinh nghiệm đã có lụi tiếp xúc với các chuyền iỊÌa ỉroniỊ việc xảy dựỉìiị chươiìq trình dào tạo sau đại học Y tếCôns> cộ/iiỊ. Điều này cỉâ mở ra một cơ hội cho nạười thủy cũniỊ. như sinh viên nhận rổ hơn tầm quan tvọnq cửa ỳcío dục sức khoẻ. Hơn thê nữa, nó dã tì ờ thàỉììì một vị tri khôtìiỊ ĩìié thiếu dược tronạ chương trình dào tạo cao học về YTếCộníỊ Cộni>. Tuy nhiên, cho đểu nay tài liệu sửthmq cho dạ V học cũng như đ ể sinh viên tham khảo vẫn còn ít. Chính vì thế, việc biên soan sách loai này là rất cẩn thiết. Đ ế cỉáp íniạ nìm cầu ỳànq dạy và tham kháo của sinh viên cưo học Y ĩê Cô/ìiỉ cộm>, chúm* tôi cĩã cô qắniỊ biên soạn cuốn sách tìủy. Bên cạnh dó, với một ước muôn khôniỊ xa l ời thực tể là sách CÒỈ1 có thê sử dụng cho sinh viên y khoư, nlỉữm* nhủ ìiạhiêtì CÍỈÌI về Y Xcĩ hội học - Y học Dự phÒMỊ và Dân số K ế hoạch hoá ỉỊĨa íỉình... cũno như các LỈổ/iiị tìíịìùệp phụ trách về Giáo Dục Truyền Thông vù nhữmị cún hộ thuộc lĩnh vực văn lìoú .xã hôi có liên quan rói sức khoe. • Nội cỉuììg sách lủ sự tích luỹ qua thực tiễn trong và nqoài nước vê học tập , ỳáníỊ dạ V vù nghiên cửu khoa học cùa chúng tôi . Mật khác, chúng tỏi cíã tiếp thu nliữiiq V ĩưâỉìiỊ hay cùa PGS, PTS Lê Hùng Lâm, của nhiêu dồng nghiệp, của ỉìhữỉìo sinh viên Chuyên khoa ỉ và Cao học Y t ế Công cộng.
  7. Hơn th ế nữa, đ ể có thể xuất bản cuốn sách này là nhờ sự hỗ trợ kinh phí của trường Cán bộ Quản lí Y tế, C.N. Phương Lan đã tham gia trình bày trên máy vi tính. Đây là môn khoa học được xây dựng trên một loạt các khoa học về Hành vi ( Tâm lí học, Xã hội học...); Giáo dục học và Y t ế Công cộng. Bên cạnh đó còn có nhiêu môn học hô trợ khác như : Lịch sử, Nhân văn học, Chính trị, Triết học , Kinh tê và các khoa học thuộc vê Y Sinh học). Điều này chứng tỏ rằng thầy thuốc hoặc cán bộ y tê củng như cúc nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này không chỉ đơn thuần là giỏi vê y. Chính vì thế, dê có thể biên soạn được một cuốn sách về giáo dục sức khoẻ cho thật hoàn hảo và phù hợp với bối cảnh kinh t ế xã hội ở nước ta, các tác giả cần phải tiếp cận thực t ế sâu hơn, dành nhiều thời gian hơn và sức lực hơn nữa. Điều quan trọng là chú ỷ lắng nghe thông tin phản hồi từ phía độc giả. Chứng tôi cũng cảm rìhận được những diều còn thiếu sót của chính bản thản mình trong khi biên soạn cuốn sách này. Tuy nhiên, do tính cấp thiết của vấn đề, nghĩa là d ể có tài kiệu giảng dạy và đ ể cho sinh viên tham khảo, chúng tôi dã c ố gắng đáp ứng nhu cầu. Rất mong bạn đọc gần xa lượng thú cho những gì còn khiếm khuyết. Ỹ kiến phản hồi từ các Bạn là niềm khích lệ lớn lao đối với chúng tôi. Hà Nội, 15 - 12- 1997 . Các Tác Giả
  8. Mục ■ lục ■ Lời giới th iệ u 3 Lời m ở đ ẩ u 5 Phần í: Những khái niệm vế giáo dục - nâng cao sức khoẻ 1. Đại cương giáo dục sức khoé và nâng cao sức khoé ' 9 Trần Thị Hoa 2. Các yếu tố tác động sức khoé 27. Phan Thục Anh 3. Sức khoẻ và bệnh tật- thưctrạng và vấn để 37 Trấn Thị Hoa Phần II: Hành vỉ sức khoẻ - thay đổi hành vỉ 4. Khái niệm hành vi sức khoé 49 Trần Thị Hoa 5. Hành vi lựa chọn sức khoẻ và việc chăm sóc sức khoẻ 63 Phan Thục Anh 6. Các phương pháp đê thay đổi hành vi sức khoé 72 Trần Thị Hoa 7. Quá trình thay đổi hành vi sức khoẻ 83 Thành Xuản Nghiêm 8. Duy trì hành vi mới 93 Thành Xuán Nghiêm Phần III: Can thiệp và thực hành giáo dục sức khoẻ 9 . Đánh giá nhu cầu và lập kế hoạch 99 Trần Thị Hoa 10. Lên chương trình can thiệp- thực hiện 125* Trần Thị Hoa 1 1. Tâm lí học - Các hành động can thiệp 36 Trần Thị Hoa 12. Những kỹ năng đê tiếp cận cộng đồng 153 Trần Thị Hoa 13. Truyền thông sức khoẻ - phương pháp và công cụ 15 9 Trần Thị Hoa I phần IV: Nghiên cứu và đánh giá 14 Tiếp cận nhân học và dịch tẻ học xã hội trong nghiên cứu '•! 87 hành vi- giáo dục sức khoé Trần Thị Hoa 15 Đánh giá các chương trình giáo dục sức khoẻ 2 I} Trần Thị Hoa Tài liệu tham khảo V. (i
  9. @ h u jổ * ự } 1 \ 9 Đại Cương GIÁO DỤC SỨC KHOẺ -NÂNG CAO sức KHOẺ Trước thập niên 80 người ta chỉ dùng thuật ngữ Giáo dục Sức khoẻ (Health Education). Sau đó không lâu Hội Giáo dục Sức khoẻ Công cộng đã cải tiến nhiều hoạt động trong lĩnh vực này và thế là thuật ngữ Nâng cao Sức khoẻ (Health Promotion) lại ra đời. Giáo Dục Sức Khoẻ liên quan tới việc thúc đẩy hành vi khoẻ mạnh và .cải thiện những điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi và sức khoẻ. Nâng cao Sức khoẻ gồm một loạt quá trình được sử dụng đê thay đổi những yếu tố ảnh hưởng tới sức khoẻ. Giáo dục Sức khoẻ đã dùng những phương pháp và kĩ thuật học của Nâng cao Sức khoẻ để duy trì hành vi sức khoẻ và kết cuc là để bảo vệ và nân£ cao sức khoẻ cho moi người. Trone chương này chúng ta sẽ: • Xác đinh vai trò của hoạt độn (Ị nân (Ị cao sức khoể. • Trình b à \ chức nàng và phạm vi hoạt động của giáo dục sức khoẻ tronq các chương trình y t ế công cộng. • K ể ra nhữnẹ vùng khoa học mà giáo dục sức khoẻ có liên quan ĩớỉ. • Phác thảo ra chức nàng nhiệm vụ của m ột nhà oịáo dục sức khoẻ. 9
  10. I ề Như đã đề cập ở trên, giáo dục sức khoẻ sử dụng những quá trình giáo dục đê thay đối hoặc để củng cố những thực hành sức khoẻ của cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và những tổ chức xã hội lớn. Các chuyên gia về giáo dục sức khoẻ đã đề ra những việc cần phải làm của mình đó là : xủv dựng kiến thức vê sức khoe’, khai thác những sự chọn lựa hành vi, sự thay đổi hành vi và những hậu quả của chúng. Tóm lại, nhiệm vụ của giáo dục sức khoẻ là góp phần trong việc thúc đẩy những hành vi khoẻ mạnh và thay đổi những điều kiện ảnh hưởng tới hành vi sức khoẻ cũng như sức khoẻ một cách trực tiếp. Theo Bruce G. Simón-Moton et al, 1995, lúc đầu nhiệm vụ của giáo dục sức khoẻ là cung cấp thông tin sức khoẻ. Gần đây, các nhà giáo dục sức khoẻ đã cùng nhau trao đổi khái niệm rộng hơn của GDSK là nâng cao sức khoẻ. Nâng cao sức khoẻ gồm một loạt các quá trình dùng để thay đổi những điều kiện ảnh hướng tới sức khoé. GDSK là một nghề dùng những quá trinh như thế để khuyến khích những hành vi lành mạnh và thế là tạo ra khoẻ mạnh. Tiếp đó, các nhà GDSK có nhiệm vụ trong việc cải thiện những yếu tố cá nhân và môi trường ảnh hưởng tới hành vi sức khoẻ. Hơn thế nữa, họ còn tìm ra những thay đổi tích cực trong những yếu tố đó ở nơi làm vịệc và cộng đồng. Tổ chức Y tế Thế giới, 1988, cho rằng mục đích của giáo dục sức khoẻ là làm cho mọi người có thể : • Xác định các vấn đề và nhu cầu của chính họ. • Hiểu được họ có thể làm gì để giải quyết các vấn đề này bằng chính các nguồn lực của mình kết hợp với sự hỗ trợ bên ngoài. • Quyết định hành động thích hợp nhất đế tạo ra một cuộc sống lành mạnh với lợi ích chung của cộng đồng. Một số tác giá khác cho rằng giáo dục sức khoẻ có vai trò thúc đẩy những hoạt động về y tế công cộng. Chức năng ban đầu của giáo dục sức khoẻ là hỗ trợ các hoạt động nâng cao sức khoẻ. Chắng hạn như trong chương trình nâng cao sức khoẻ để giúp mọi người từ bỏ hút thuốc lá thì giáo dục sức khoẻ có dính dáng tới những hoạt động như sau: 10
  11. * Các thầy giáo dạy về giáo dục sức khoẻ trong nhà trường xây dựng những bài học về nội dung từ bỏ hút thuốc lá. ề * Các nhà giáó dục sức khoẻ ở bệnh viện gặp những thầy thuốc và y tá để lên kế hoạch chương trình từ bổ thuốc lá. 9 * Nhà giáọ dục sức khoẻ ở một đơn vị chăm sóc tại địa phương chuẩn bị gặp hội đống thành phô đế cung cấp những thông tin nhầm dự thảo những chính sách chống kinh doanh thuốc lá. v.v... Ngày nay, người ta đã vạch ra nhiều hoạt động tiến bộ và đa dạng hơn dựa trên những lí thuyết và phương pháp luận thuộc các chuyên ngành giáo dục, dịch tễ học, y sinh học, lịch sử, chính trị, kinh tế và văn hoá. Hoạt động này chính là nâng cao sức khoẻ ( health promotion ). Giáo dục sức khoẻ là sử dụng những quá trình của nâng cao sức khoẻ để duy trì những hành vi sức khoẻ cũng như sức khoẻ. Chức năng của nâng cao sức khoẻ Khi nói đến nâng cao sức khoẻ người ta không thể không đề cập tái y tế công cộng. Bởi vì nâng cao sức khoẻ và y tế công cộng san sẻ mục tiêu chung của việc cải thiện sức khoẻ. Lĩnh vực y tế công cộng rộng hơn nâng cao sức khoẻ do nó chịu trách nhiệm trong các thủ tục đánh giá và giám sát, kĩ thuật, chính sách và việc bảo vệ cũng như kiểm tra môi trường, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng như nâng cao sức khoẻ. Nâng cao sức khoẻ ở phạm vi hẹp hơn. Nó có trách nhiệm làm thay đổi những quá trình thuộc hành vi xã hội cho việc cải thiện hành vi sức khoẻ cá nhân và việc thực hiện các biện pháp sức khoẻ côrig cộng. Mọi người đều công nhận rằng những vấn đề sức khoẻ có nhiều nguyên nhân đa dạng và cũng có nhiều nguyên nhản tương tác. Chúng là những chủ đích của y tế công cộng và các chương trình nâng cao sức khoẻ. Những nguyên nhân này có thể là những hành vi sức khoẻ cá nhân, những điều kiện môi Irường, thiếu những chính sách thích hợp, giảm các chương trình y tế hoặc các dịch vụ. Thí dụ, những nguyên nhân chết do ung thư phổi bao gồm: hút thuốc - thuộc hành vi sức khoẻ cá nhân; ô nhiễm không khí thuôc yếu tố môi trường; thiếu các chương trình kiểm tra hút thuốc do không có các chương trình y tế công cộng; thị trường thuốc lá tự do vì thiếu chính sách công cộng; sàng lọc và chuyến đi điều trị không đầy đủ do thiếu các dịch vụ y tế. 11
  12. Việc giải quyết những vấn đề này thường đòi hai quan tâm tới ít nhất trong sô những nguyên nhân này. Can thiệp chi tihằm vào một nguyên nhân là không thế thành công bởi vì các nguyên nhân thường có quan hệ với nhau. Những mô hình hay nói khác hơn là các biện pháp y tế công cộng đê cải thiện sức khoẻ đó là chính sách y tê, k ĩ thuật học và dịch vụ y tế. Tuy nhiên, có những biện pháp tương tự như thế cũng là những mục tiêu của nâng cao sức khoẻ bởi vì đặt chúng vào một vị trí đòi hỏi những thay, đối trong hành vi con người. Thí dụ, những biện pháp y tế công cộng cho việc phòng ung thư phối gồm kiểm tra con đường tiêu thụ thuốc lá và ngăn cấm hút thuốc tại những nơi công cộng, nâng cao kĩ thuật chống ô nhiễm không khí, sàng lọc .những người mắc bệnh về phổi, thúc đẩy các chương trình ngừng hoặc ngăn chặn hút thuốc lá. Trong khi đó, nâng cao sức khoẻ được gán liền một cách chặt chẽ với các chương trình kiểm tra và ngăn chặn hút thuốc lá. Nó cũng liên quan tới việc thực hiện các chính sách và những kì thuật ủng hộ cho việc không hút thuốc lá. Do vậy, nhiều hiện pháp y tế công cộng trở thành những mục tiêu của chương trình nâng cao sức khoẻ. Bới vì mục đích của nó là đòi hỏi thay đối hành vi cá nhân, hành vi cúa người dân nói chung và của các nhà hoạch định chính sácn. Người ta nhận thấy những quá trình thay đổi trong nâng cao sức khoẻ có thể được định hướng theo các mục tiêu can thiệp khác nhau. Những quá trình này gồm giáo dục và đào tạo dể thay đổi hành vi cá nhân; sử dụng cúc phương tiện truyền thông đại chúng; thay dổi tổ chức vù thực hiện chương trình; phát triển cộng đồng ỵà. thay đổi xã hội, ủng hộ tích cực các chính sách vù trao quyền cho mọi người đ ể họ có thể kiểm soái môi trườn ẹ sống của họ. Do vậy, nâng cao sức khoẻ là thuộc về lĩnh vực can thiệp hành vi hướng tới thay đối hành vi và sức khoẻ cá nhân sức khoẻ con người. Những mục tiêu cúa nâng cao sức khoé được sắp xếp theo từng mức như sau: 12
  13. Báng I Các mức rtrụt tiêu của háng eao sức kHoẻ 1. Mức Muc • tiêu ỉ Kiến thức Cá nhân Thái độ Hành vi Sinh lý Chính sách Tổ chức Thực hành Chương trình • • 1• • Những điều kiện thuận lợi 1. \ Nguồn ơ ỉưc ‘* * ' Chính sách Thực hành Cộng đong Chương trình Những điều kiện thuận lợi • Nguởn lực • / 1 1 Chính sách Chính phủ Chương trình Những điều kiện thuận lợi % 0 ịt Nguồn lực Luật pháp 1 Qui chế •t Q uyền lực Quá trình hình thành chức năng của nâng cao sức khoẻ NânĩT cao sức khoẻ như đà mô tả ó' trên là gồm một loạt các quá trình thay đổi, nhưng ngữ nghĩa của nó còn chưa thống nhất tuỳ theo cách hiểu của mồi người. Có nhiều người cho rằng nâng cao sức khoẻ chính là giáo dục sức khoẻ: nhữns người khác thì lại cho rằng nâng cao sức khoẻ chính là y tế côn" cộniz. Tron 2 khi xem xét quá trình hình thành khái niệm nâng cao sức khoẻ, cần lưu ý tới định nghĩa của nó, nghĩa là một loạt cúc quá trình thay dổi hướng tới các nquyên nhún của những vấn đề sức khoe. 13
  14. Đảng 2. Qúa trình chuyển tiếp của nâng cao sức khoẻ Daỵ học Các phương tiện truyền thông Đào tạo Xây dựng chính sách và trợ giúp Khuyên báo Thay đổi tổ chức Tư vấn Phát triên cộng đồng và thay đổi xã hội Truyền thông/các phương tiệnTT Phán phối phương tiện và dịch vụ Trong chủ đề Sức khoẻ con người, người ta đã đưa ra định nghĩa nâng cao sức khoẻ như sau: “ nảng cao sức khoe lù cải thiện lôi sông cho những vân đê sức khoe' thiết yếu của con nqười, tập ĩrurìg mọi nỗ lực làm cho họ ngày càng khoe’mạnh hơn, đi từ một chương trình dự phòng sơ cấp tới thứ cấp và cuối cùng ỉà nâng cao sức khoẻ”. Hội thảo khoa học về Sức khoẻ con người vào năm 1979 đã tuyên bố:Mnâng cao sức khoẻ bắt đầu ngay từ khi con người đang khoẻ mạnh và- tìm kiếm sự phát triển cộng đồng cũng như các biện pháp cá nhân đê có thế giúp mọi người hình thành những lối sống mà những điều này có thể duy trì sức khỏe và nâng cao sức khoẻ". • O’ Donnel, 1994, nhận định rằng định nghĩa trên có nhiều ưu điểm, nghĩa là đã bao gồm những biện pháp cho cả cá nhân và cộng đồng. Nó tập trung vào những người về cơ bản là khoẻ mạnh và có thái độ hướng tới việc nâng cao sức khoẻ. Tuy nhiên, vấn đề quan tâm thiết yếu của nâng cao sức khoẻ là cải thiện sức khoé cho tất cả mọi người chứ khồng chí riêng cho những ai đang khoẻ manh. Qua hội thảo sức khoẻ con người vào năm 2000, y tế công cộng được chia thành 3 khu vực: • Các dịch vụ sức khoẻ dự phòng, • Bảo vệ sức khoẻ, và • Nâng cao sức khoẻ. Như vậy, theo ý kiên của các thành viên trong hội thảo này thì nâng cao sức khoẻ đã được xêp thành một trong ba bộ phận chính của y tế công cộng, bao gồm: 14
  15. Các dịch vụ'sức khoẻ dự phòng liên quan tới những điều kiện sứa khoẻ bài mẹ và trẻ em; các bệnh tim mạch và shock; ung thư; đái đường và những tình trạng tàn tật mạn tính; nhiêm HIV; các bênh lây nhiễm qua đường sinh dục; tiêm chủng; các bệnh nhiễm khuẩn cũng như các dịch vụ y tế. Bảo vệ sức khoẻ gồm những trường hợp chấn thương ngoài ý muốn; an toàn lao động; sức khoẻ môi trường; an toàn thực phẩm và nước; sức khoẻ răng miệng. Trong khi đó nâng cao sức khoẻ gồm các hoạt động luyện tập thể chất; sức khoẻ tâm thầm; dinh dưỡng cân đối; tránh hút thuốc lá; tránh dùng những đồ uống chứa nhiều cồn và các loại tân dược nói chung; kế hoạch hoá gia đình; ngăn chặn bạo lực và lạm dụng tình dục; phát triển các chương trình giáo dục và những chương trình dựa vào cộng đồng khác. Hầu hết các hoạt động thường không khớp với chức năng đã được phân loại, mà thông qua những hoạt động gián tiếp hoặc từ xa. Thí dụ, các phương tiện để kiểm tra nhiễm HIV là qua giáo dục và thay đổi hành vi, không phải là các dịch vụ y tế. Tương tự như thế, việc kiểm tra chấn thương do tai nạn không phải thuộc lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ mà qua các hoạt động kiểm sọát môi trường. Bởi vì các dịch vụ sức khoẻ và những xem xét về hành vi sức khoẻ cũng quan trọng đối với việc kiểm soát chấn thương. Lại có thêm một định nghĩa khác về nâng cao sức khỏe. Theo Green & Johnson ( 1983), đã đưa ra một định nghĩa về nâng cao sức khoẻ như sau: " Nâng cao sức khoẻ là bất kì một sự kết họp nào trong những hỗ trợ về giáo dục, tổ chức, kinh tế vù môi trường đối với hành vi có liên quan tởi sức khoẻ. " Định nghĩa này được sử dụng rộng rãi hơn định nghĩa do hội nghị về sức khoẻ con người và cũng có nhiều un điển hơn. Tuy nhiên, Jại có những định nghĩa khác về sau này dựa trên cơ sở những định nghĩa trên và có bổ sung một số điểm khác như sau: Nớng cao sức khoe’ lù bất cứ một sự kết hợp nào của quá ĩrình thay đổi được định hướng trong những hỗ trợ về giáo dụCi tổ chức, kinh tế và môi trường liên quan tới sức khoẻ". 15
  16. Đến 1984, Tố chức Y tế Thế giới đã định nghĩa về nâng cao sức khoẻ : í . . "nâng cao sức khoẻ ỉù một quá trình mở rộng việc kiểm soát bệnh tật và cải ' thiện sức khoe’ cho mọi người... như là một chiến lược trung gian giữa con. nạười và mói trường sông của /?ợ. việc chọn Ịựù của từng cú nhún và trách nhiệm xã hội rrong khu vực sức khoe". Tố chức y tế thế giới tập trung vào những yếu tố quyết định sức khoé hoặc những nguyên nhân gây bệnh bao gồm hành vi sức khoẻ cá nhân đông thời nhấn mạnh tới các nguyên nhân thuộc kinh tế xã hội, môi trường và dịch vụ y tế. Bên cạnh đó người ta còn nhận ra tầm quan trọng của một chuôi các phương pháp tiếp cận của nâng cao sức khoẻ gồm giáo dục, tham gia của cộng đồng, thay đổi về mặt tổ chức và phát triển cộng đồng. Như vậy, định nghĩạ về nâng cao sức khoẻ do TCYTTG đưa ra có vẻ rộng hơn và bao quát nhiều vấn đề thực tế. Người ta đã đo được thành công của chương trình nâng cao sức khoẻ. Theo Nyswander ( 1990), nâng cao sức khoẻ không chỉ cải thiện được hành vi sức khoẻ, bệnh tật và tử vong mà còn thay đổi được cấu trúc xã hội và việc kiếm soát nhận thức mà con người đã trái qua trong đời sống của họ. Dưới đây là một thí dụ về hoạt động nâng cao sức khoẻ trong việc kiểm soát thuốc lá. Việc hút thuốc lá hầu như phần lớn mọi người đã biết là nguyên nhân dẫn đến ung thư, bệnh về hệ thống tim mạch và nhiễm khuấn hô hấp là những vấn đề sức khoẻ trầm trọng. Chúng ta hãy khám phá xem thử làm thế nào có thể ngăn chặn được tình trạng này. Là nguyên nhân gây tử vong cao ắt hẳn yếu tố nguy cơ cũng cao. Theo thống kê của trung tâm thống kê sức khoẻ Mỹ, tỉ lệ người Mỹ hút thuốc lá là 29%, giảm hơn 10% so với năm 1965. Số trường hợp giảm gặp ở mọi lứa tuổi. Người ta nhận thấy rằng giảm được tỉ lệ người hút thuốc lá nhờ nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học đã đưa ra những kết luận về thảm hoạ sức khoẻ do hút và nâng cao các chương trình kiếm soát về thuốc lá. Việc khám xét chặt chẽ vấn đề hút thuốc biểu hiện rằng kiểm soát việc hút thuốc lá liên quan tới nhiều vấn đề. Giải quyết những vân đề có liên quan là góp phần không nhỏ trong việc làm đế giúp cho nhiều người từ bỏ hút thuốc. Báng dưới đây trình bày một ma trận trong chiên dich bó hút thuốc lá. * 16 r» 1
  17. L.áng 3. Can thiệp trong việc kiểm soát hút thuốc lá: vạch ra những Hộu quả cho 3 nhóm đích trong 4 khu vực. ( đây là bảng làm m âu) T rư ờ n g học Nơi là m vièc • Cácđơnvỉ C SSK • Cộng đồng Cá n h ã n • Sinh viên không Nhân viên khôrm Bệnh nhân không Dân chúng trong CĐ hút Ihuốc hút thuốc hiit thuốc không húi thuốc C á c tổ chức Các chính sách ' Chình sách tìờỉ làm Chính sách CỔSK ờ Chính sầch, chương trường học. việc, các chương các viện, chương trình & thực hành cúa chương trình, trình, thực hành và trình, thực hành, và các TC CĐ cũng như • hành động, những những điều kiện những • điểu kiện các chính quyền địa điều kiửn ihuận thuận ỉựi đé duy trì thuận lợi để duy trì phương đế duy trì lợ» dê duy trì việc việc khòng hút việc không hút' việc không hút thuốc không hút thuõc thuốc trong nhàn thuốc iá trong bệnh lá tai CĐ. • lá trong sinh viên. viên. nhân. 1 Chính phu Luật pháp, qui Luật pháp, qui chế. Luật pháp, qui chế, Luật pháp, qui chế, ché. quyền lực, có -quyển lực, có ành quyền lực, có ảnh quyền lực, có ảnh anh hướng tới hương tới nơi làm hường tới các cơ sở hướng tới nhiều nơi trường học đê duy việc đê duy trì việc CSSK đê duy trì việc trong CĐ đê dùy trì trì việc không húỉ không hút thuốc không hút thuốc việc không hút thuốc thuốc trong sinh trong nhân viên trong bệnh nhân. của những người viên. • 1 * đang sống trong CĐ. Nguồn: SIMONS - MORTON DG, PARCEL & BRINK. Kiểm soát hút thuốc ở phụ nữ: Cẩm nang can thiệp của Trung tâm Kiểm soát Bệnh truyền nhiễm, Hoa Kỳ, 1987. Phạm vi hoạt động của giáo dục sức khoẻ Theo báo cáo cúa Uỷ ban Giáo dục Sức khoẻ ( 1990), phạm vi hoạt động của giáo dục sức khoẻ là đa chức năng. Nó liên quan tới việc mô tả, thực hiện và đánh các chương trình giáo dục của cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức và cộng dỏng. Nó đóng một vai trò trong việc đạt được những thành tựu, báo vệ và duy trì sức.khoẻ. Giáo dục sức khoẻ có trách nhiệm trong việc lập kế hoạch và lên chương trình sức khoẻ. Thêm nữa, nó không chỉ thông báo cho mọi người về những vấn đề sức khoe và giúp họ để thay đổi hành vi mà còn có trách nhiệm xây dựng chương trình. Tóm lại phạm vi hoạt động của giáo dục sức khoẻ bao gồm: Lập k ế hoạch & quản ì í chương trình. Thực hiện chương trình. Điều chinh chươnẹ ninh ; Đành giá chươiig trình. 17
  18. Một nhà giáo dục sức khoẻ có thế đírrb dáng lới tất cả các chức năng của một chương trình sức khoé hoặc ít nhất cũng có trách nhiệm trong một hoặc hai hoat động nói trên.. Lập kế hoạch và quản lý chương trình Thành công của bất cứ một chương trình nào đều tuỳ thuộc vào việc lập kế hoạch. Theo các chuyên gia của Hội giáo dục sức khoẻ quốc tê (1990), chương trình giáo dục sức khoẻ là sự kết hợp đã được lập kế hoạch của các . hoạt động sức khoẻ có liên quan tới những quần thể đích và được dựa trên việc đánh giá những nhu cầu, những nguyên tắc của giáo dục sức khoẻ và việc đánh giá định kỳ có sử dụng những mục tiêu và mục đích rõ ràng. Lập kế hoạch íiổm thu thập những sô liệu cơ bản cần có cho việc định hướng chương trình và đánh giá nhu cầu xác định giới hạn của vấn đề sức khoẻ, những nguyên nhân hoặc những yếu tố quvết định sức khoẻ ( những vấn đề này sẽ trở thành những mục tiêụ của chương trình hoặc kết quả của chương trình), và giới hạn của những nhóm quần thê đích có nguy cơ cao. Đánh giá quá trình thực hiện và hiệu quá của những phương pháp sử dụrig để can thiệp. Việc đánh giá cần được thiết kế một cách cụ thể. Xem xét các quy trình quán lý chương trình thật sát và xây dựng những dữ liệu cơ bán cho việc đánh giá, chọn nhân viên tham gia chương trình mốt cách cẩn thận và đào tạo họ một cách có quy mô. Trách nhiệm quản lý bao gồm: • Quan lý nhàn sự và nguồn lực. • Lập thòi gian biểu. • Chu ân bị các bán báo cáo, dự toán chi tiêu, phàn phôi kinh phí cho từng hoạt động và xây dựng chính sách. % • Xây dựng các cung đọan thực hiện, lên chương trình tập huấn, biên soạn tài liệu giáng dạy. • Phối hợp các hoạt động trong chương trình, cung cấp nhàn viên, thúc đẩy sự hợp tác và ph án hôi tr o n g n h â n viên đ ồ n 5 thời là m tluiận lợi v iệ c đ iề u h à n h c á c h o ạ t đ ộ n g cua chương trình. 18
  19. Thực hiện chương trình Thực hiện chương trình có thế là vấn đề cốt lõi nhất của hoạt động can thiệp, đặc biệt trong viộc thành lập các cơ sớ chăm sóc sức khoẻ. Những công việc trong qui trình thực hiộn góm chọn lựa và đào tạo nhân viên; biên soạn tài liệu và xây dựng các phương tiện trợ giúp cho việc giảng dạy và tuyển chọn học viên. Người ta cho ràng việc thực hiện chương trình là qui trình chính của can thiệp, nhất là ở các khu vực như trường học, các đơn vị chăm sóc sức khoẻ, các cơ sở làm việc nơi mà các nhà giáo dục có trách nhiệm lớn trong việc xây dựng chương trình can thiệp và làm thuận lợi cho việc thực hiện hơn là điều khiển trực tiếp chương trình. Một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của các nhà giáo dục sức khoẻ là xây dựng, lựa chọn hoặc làm thích ứng các can thiệp để cho những cán bộ y tế khác có thể đảm nhận được. Việc thực hiện là một thành phần thiết yếu quyết định sự thành công cùa chương trình giáo dục sức khoẻ. Điều hành các hoạt động của chương trình I » • l ĩ ệ • ^ * Người ta đã biết các nhà giáo dục sức khoẻ qua khả năng điều hành chương trình can thiệp. Họ đã đóng vai như là những nhà giáo, những huấn luyện viên, những người làm thuận lợi cho quá .trình hoạt động, các chuyên gia về truyền thông. Tóm lại, các nhà giáo dục sức khoẻ có trách nhiệm cho việc thay đổi quá trình chủ chốt của chương trình nâng cao sức khoẻ. Mục đích của hầu hết những can thiệp vào việc nâng cao sức khoẻ là cung cấp kiến thức và kỹ năng mới hoặc hành vi sức khoẻ cá nhân hoặc kiểm soát nhiễm HIV ở cộng đồng. Hầu hết những nhà giáo dục sức khoẻ dạy hoặc tư vấn chò một nhóm quần thể đích ( target audience) như sinh viên, bệnh nhân, công nhân hay những học viên khác. Một số nhà giáo dục sức khoẻ làm nhiệm vụ khuyến khích trong việc thay đổi những chính sách thuộc tổ chức, sắp xếp các nhóm trong cộng đồng hay là cổ vũ cho những chính sách và việc thực hịện chương trình. Nhiều nhà giáo dục sức khoẻ lại chịu ưách nhiệm với số đông thính giả về việc lựa chọn, phát triển và sử dụng các phương tiện truyền thông., Dù tiếp xúc trực hoặc gián tiếp, những can thiệp vào việc giáo dục sức khoẻ cũng đem lại những thông tin và kỹ năng mới để hỗ trự pho một cuộc sống khoẻ mạnh. 1 í I , « . • Trung tâm giáo dục sức khoẻ quốc tế, 1990, cho rằng: "Qui trình giáo dục sức khoẻ ỉà sự liên tục trong học tập, khiến cho mọi người gồm cú nhản và những thành viên trong xã hội tự nguyện quyết định thay đổi hành vi và thay đổi những điều kiện xã hội theo những hướng sức khoe’ngày cùng tốt hơn". 19
  20. Đánh giá chương trình Đánh giá trong giáo dục sức khoẻ là cả một chức năng lồng ghép trong thực hành giáo dục sức khoẻ lẫn một vùng chuyên biột. Một số các nhà giáo dục sức khoẻ có kỹ năng đặc biệt trong thiết kế nghiên cứu và phân tích thống kê có thế hoạt động như là những người đứng ngoài cuộc để đánh giá chương trình giao dục sức khoẻ đảm bảo khách quan. Thiết kế chương trình giáo dục sức khoẻ một cách cẩn thận sẽ cung cấp những thành quả có thể đo lường được và lấy đó làm cơ sở cho việc đánh giá chương trình và cho thông tin phản hồi để chinh lí chương trình. Người ta đã đề xuất ba loại đánh giá chượng trình cơ bản gồm: đánh giá qúu trình, đánh giá tác động và đánh giá hiệu quả. Đánh giá quá trình. Thực hiện đánh giá này sẽ trả lời cho câu hỏi : "Can thiệp đã đạt được những mục tiêu nào?". Để trả lời câu hỏi này, cần xem xét sự thích hợp của những hoạt động học tập cũng như sự phân phối những hoạt động đó. Các phương pháp sử dụng cho đánh giá bao gồm quan sát việc điều hành các hoạt động học tập, nhận phản hồi từ sinh viên và giáo viên, ghi nhận được những mặt mạnh và những mặt yếu đế thay đổi và cải thiện chương trình giáng dạy. Ngoài ra, đánh giá quá trình còn cung cấp những thông tin có ích trong việc đánh giá hiệu quả, đó là giúp cho người đánh giá xác định xem mức độ thất bại của chương trình là do không thích hợp hoặc do điều khiển các hoạt động học tập quá tồi. Đánh giá tác động Thực hiện đánh giá này là để trả lời câu hỏi " mục tiêu đã đạt được đến đâu?". Người ta tập trung vào tác động của chương trình trên học viên thông qua kiến thức, thái độ và kĩ năng. Ví du kinh điển của đánh giá tác động là trắc nghiệm vào cuối khóa học. Đánh giá tác động có thể xác định dược những vùng cứa chương trình đào tao mà khống cho đầy đủ hiệu quá trên học viên. Trong khi làm như thế nên kết hợp một lúc cả hai đánh giá đó ìà đánh giá tấc động và đánh giá qúa trình đế vach ra những vùne cần cải vào đó, đánh giá tác động giúp cho các nhà đánh giá xác định tính phù hợp của những mục tiêu giáng dạy và mức độ thành công hav thất bại là do đạt được các muc tiêu đến đâu • • • # 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2