
TIỂU LUẬN:
Nâng cao hiệu quả quản lí tài sản tại Công
ty cổ phần Khuôn mẫu chính xác và máy
Computer Numeric Control

LỜI MỞ ĐẦU
Tài sản là một nhân tố vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh
đối với mọi doanh nghiệp. Một doanh nghiệp cho dù kinh doanh trong lĩnh vực nào, sản
xuất ra sản phẩm gì thì doanh nghiệp đó vẫn luôn cần đến tài sản để phục vụ cho mục
tiêu hoạt động của mình. Đặc biệt đối với một công ty mang đặc thù trong lĩnh vực chế
tạo và sản xuất máy móc, thiết bị như Công ty cổ phần Khuôn mẫu chính xác và máy
Computer Numeric Control thì tài sản lại càng là yếu tố không thể thiếu góp phần hình
thành và đưa Công ty đi vào sản xuất kinh doanh. Do vậy, việc quản lí tài sản trong
công ty có ý nghĩa rất quan trọng bởi có quản lí tài sản tốt thì hiệu quả sử dụng mới cao
và tài sản mới phát huy hết tác dụng của nó trong quá trình hoạt động của Công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, được sự giúp đỡ của PGS. TS.
Nguyễn Thị Bất cùng các cán bộ kế toán của Phòng Tài chính – Kế toán trong Công ty,
em đã mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lí tài sản tại Công ty cổ phần
Khuôn mẫu chính xác và máy Computer Numeric Control” để nghiên cứu nhằm
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lí tài sản của Công ty. Bài viết ngoài phần mở
đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo - được chia thành ba chương chính:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tài sản và hiệu quả quản lí tài sản của doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả quản lí tài sản tại Công ty cổ phần Khuôn mẫu
chính xác và máy Computer Numeric Control
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí tài sản tại Công ty cổ phần
Khuôn mẫu chính xác và máy Computer Numeric Control trong thời gian tới

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN VÀ
HIỆU QUẢ QUẢN LÍ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài sản
Tài sản là của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng. Đối với bất kì một
hoạt động nào, tài sản cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng tạo nên cơ sở vật chất và
phương tiện để sử dụng. Đặc biệt đối với mọi doanh nghiệp, để có thể tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp đó cần thiết phải có ba yếu tố là tư liệu lao
động, đối tượng lao động và lao động. Tài sản là tư liệu lao động, là một trong ba yếu tố
cơ bản của quá trình sản xuất. Đó là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thị cho
những lợi ích mà đơn vị thu được trong tương lai hoặc những tiềm năng phục vụ cho
hoạt động kinh doanh của đơn vị. Nói cách khác, tài sản là tất cả những thứ hữu hình
hoặc vô hình gắn với lợi ích trong tương lai của đơn vị thỏa mãn các điều kiện sau:
• Thuộc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát lâu dài của đơn vị.
• Có giá trị thực sự đối với đơn vị.
• Có giá phí xác định.
1.1.2. Vai trò của tài sản đối với hoạt động của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp khi thành lập và bắt đầu tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh cần rất nhiều yếu tố, một trong các yếu tố quan trọng nhất là tài sản. Cùng với
nguồn vốn, tài sản là nhân tố góp phần quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Tài
sản tham gia vào mọi quá trình hoạt động của doanh nghiệp như: sản xuất, lưu thông,
phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Nếu không có những tài sản hữu hình như nhà xưởng,
máy móc, trang thiết bị, cơ sở vật chất... thì doanh nghiệp sẽ không thế hình thành cũng
như không thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh được. Nếu không có những tài
sản vô hình như phần mềm quản lí, phần mềm điều hành máy móc, quyền sử dụng đất...
thì doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, tài sản hữu hình đóng vai trò rất lớn trong
việc sản xuất và lưu thông, phân phối sản phẩm. Nếu không có dây truyền máy móc thì

những sản phẩm sẽ không thể hình thành. Nếu không có những phương tiện vận tải,
chuyên chở thì những sản phẩm dù đã hoàn thành cũng không thể đến nơi tiêu thụ được.
Nếu thiếu một bộ phận thì hoạt động sản xuất của doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn,
thậm chí bị đình trệ, dẫn đến doanh số sụt giảm, chậm tiến độ, các hoạt động sản xuất bị
gián đoạn... và hàng loạt những phản ứng dây chuyền khác.
Có thể nói, những tác dụng mà tài sản đem lại đối với hoạt động của doanh
nghiệp đã cho thấy vai trò quan trọng của nhân tố này trong sự vận hành cũng như trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp biết quan tâm, đầu
tư đúng mức, hợp lí và biết duy trì, bảo dưỡng tài sản thì tài sản sẽ phát huy hết vai trò
của nó và thực sự là một yếu tố góp phần quyết định đến thành công của doanh nghiệp,
qua đó góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
1.1.3. Phân loại tài sản
Xét về mặt giá trị và tính chất luân chuyển, tài sản của doanh nghiệp được chia
thành hai loại:
1.1.3.1. Tài sản lưu động (Tài sản ngắn hạn)
Tài sản lưu động là những đối tượng lao động, tức là các vật bị tác động trong
quá trình chế biến bởi lao động của con người hay máy móc, do đó tài sản lưu động
phản ánh các dạng nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, phụ liệu... Đặc điểm của tài sản lưu
động là chúng có thời gian luân chuyển ngắn, thường là trong vòng một chu kì kinh
doanh hay một năm. Trong một chu kì sản xuất, các nguyên vật liệu tham gia và bị chế
biến thành sản phẩm. Toàn bộ giá trị của các nguyên vật liệu đó được chuyển hóa hoàn
toàn vào giá thành sản phẩm, do đó không phải tính khấu hao đối với tài sản lưu động.
1.1.3.2. Tài sản cố định (Tài sản dài hạn)
Tài sản cố định - hiểu theo nghĩa rộng - là những yếu tố của tư liệu lao động
được sử dụng trong một thời gian luân chuyển tương đối dài và có giá trị đơn vị tương
đối lớn. Nói đến tài sản cố định là hàm ý nhấn mạnh về hình thái biểu hiện cụ thể của tài
sản đó. Hai tiêu chuẩn “thời gian” và “giá trị” có ý nghĩa quan trọng trong quản lí tài
sản cố định nhưng chỉ có tính chính xác tương đối và cần được xem xét trong từng
trường hợp cụ thể.

Tựu chung lại, tài sản cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những tài sản
của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài (thường là trên một năm hoặc một chu kì
kinh doanh) và có giá trị lớn. Nói cách khác, tài sản cố định là những tư liệu lao động
tham gia vào nhiều chu kì sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tài
sản cố định bị hao mòn dần, giá trị của nó được chuyển dịch từng phần vào chi phí sản
xuất kinh doanh và giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu cho đến lúc nó hư hỏng.
1.1.4. Nội dung của các loại tài sản
1.1.4.1. Nội dung của tài sản lưu động
a. Phân loại tài sản lưu động
٭Theo lĩnh vực tham gia luân chuyển, tài sản lưu động gồm ba loại:
Tài sản lưu động sản xuất: Gồm những tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất
(nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ... đang dự trữ trong kho) và tài sản
trong sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang).
Tài sản lưu động lưu thông: Bao gồm tài sản dự trữ cho quá trình lưu thông
(thành phẩm, hàng hóa dự trữ trong kho hay đang gửi bán), tài sản trong quá trình lưu
thông (vốn bằng tiền, các khoản phải thu).
Tài sản lưu động tài chính: Là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với mục
đích kiếm lời (đầu tư liên doanh, đầu tư chứng khoán...).
٭Theo mức độ khả năng chuyển đổi, tài sản lưu động được chia thành những
loại sau:
Tài sản bằng tiền: Là tài sản của đơn vị tồn tại trực tiếp dưới hình thái giá trị.
Thuộc về tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng (hoặc Kho bạc) và tiền
đang chuyển (kể cả nội tệ và ngoại tệ).
Vàng bạc, đá quý và kim khí quý: Đây là nhóm tài sản đặc biệt, chủ yếu dùng
vào mục đích dự trữ. Tuy vậy, trong một số ngành như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm...
thì trị giá kim cương, đá quý, vàng bạc... có thể rất lớn.
Các tài sản tương đương tiền: Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng
chuyển đổi thành tiền: chứng khoán, giấy tờ có giá... Tuy nhiên, không phải tất cả các

