intTypePromotion=3

Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Quảng Nam

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
39
lượt xem
1
download

Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Quảng Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Diện tích nuôi trồng biến động, dịch bệnh gia tăng, cơ cấu mùa vụ có nhiều thay đổi… Bài viết nhằm phân tích các biểu hiện và ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản, từ đó đề xuất các giải pháp thích ứng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Quảng Nam

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU<br /> ĐẾN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở TỈNH QUẢNG NAM<br /> BÙI THANH SƠN<br /> Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quảng Nam<br /> LÊ VĂN ÂN<br /> Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế<br /> Tóm tắt: Trong những năm gần đây, ở Quảng Nam đã xuất hiện những biến<br /> động thất thường của các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa cũng như các thiên tai<br /> như bão, lũ lụt, hạn hán… diễn biến ngày càng phức tạp, đã ảnh hưởng rất<br /> lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung, trong đó nuôi trồng<br /> thủy sản là một trong những ngành chịu thiệt hại nặng nề nhất, qua các<br /> phương diện như: Diện tích nuôi trồng biến động, dịch bệnh gia tăng, cơ cấu<br /> mùa vụ có nhiều thay đổi… Bài viết nhằm phân tích các biểu hiện và ảnh<br /> hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản, từ đó đề xuất<br /> các giải pháp thích ứng.<br /> Từ khóa: biến đổi khí hậu, nuôi trồng thủy sản, tỉnh Quảng Nam<br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Quảng Nam là tỉnh ven biển Duyên hải Nam Trung Bộ và là khu vực chịu tác hại nặng do<br /> biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra. Đó là, tình trạng xâm nhập mặn, hạn hán diễn ra trên qui<br /> mô lớn vào mùa khô và lũ lụt với diễn biến phức tạp vào mùa mưa… đã gây nhiều thiệt<br /> hại cho sản xuất nông nghiệp nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng. Trước tình hình<br /> trên, nhiều địa phương trong tỉnh đã và đang đề ra nhiều giải pháp để ứng phó và thích<br /> nghi với các tác động của BĐKH. Tỉnh Quảng Nam có 7000 ha diện tích mặt nước nuôi<br /> trồng thủy sản, lớn nhất khu vực Duyên hải Nam Trung bộ, ngành thủy sản đã và đang trở<br /> thành ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai<br /> đoạn 2011- 2020 nên nguy cơ mà biến đổi khí hậu gây ra cho ngành là rất lớn.<br /> 2. CÁC BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở TỈNH QUẢNG NAM<br /> 2.1. Chế độ nhiệt<br /> Nhiệt độ trung bình tháng và năm trong vòng 30 năm (1980 – 2010) có xu hướng tăng,<br /> trong đó nhiệt độ trung bình năm tăng 0,010C /năm. Nhiệt độ trung bình năm giai đoạn<br /> 1980 – 2000 là 25,60C tăng lên 25,90C giai đoạn 2001- 2010, như vậy trong vòng 30<br /> năm nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,3 0C, thể hiện ở Bảng 1.<br /> Bảng 1. Nhiệt độ trung bình tháng và năm ở đồng bằng ven biển Quảng Nam<br /> giai đoạn 1980- 2010 (Đơn vị: 0C) (Nguồn: [7])<br /> Thời kỳ<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 12<br /> <br /> Năm<br /> <br /> 1980-2000<br /> <br /> 21,3 22,4 24,3 26,6 28,0 28,8 28,8 28,6 27,1 25,5 23,8 21,6<br /> <br /> 25,6<br /> <br /> 2001-2010<br /> <br /> 21,6 22,9 24,5 27,1 28,4 29,5 29,1 28,4 27,2 25,8 24,1 22,3<br /> <br /> 25,9<br /> <br /> Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế<br /> ISSN 1859-1612, Số 04(36)/2015: tr. 98-106 <br /> <br /> 9<br /> <br /> 10<br /> <br /> 11<br /> <br /> NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU...<br /> <br /> 99<br /> <br /> <br /> <br /> Như vậy mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Quảng Nam cao hơn mức tăng nhiệt độ<br /> trung bình năm ở Nam Trung Bộ (chỉ tăng 0,3 0C) và mức tăng nhiệt độ trung bình năm<br /> của cả nước (tăng 0,70C) trong 50 năm từ năm 1951 đến 2000. [5]<br /> Biên độ nhiệt độ ngày đêm: Về mùa hè, biên độ nhiệt ngày đêm ở đồng bằng ven biển<br /> từ 8- 9 0C, vùng núi cao từ 10 – 11 0C. Về mùa đông, biên độ nhiệt ngày đêm ở đồng<br /> bằng ven biển dao động từ: 5,5 – 6,0 0C, ở vùng núi cao từ 6,0 – 6,5 0C. [7].<br /> 35<br /> <br /> Nhiệt độ (độ C)<br /> <br /> 30<br /> 25<br /> 20<br /> <br /> Tháng 1<br /> <br /> 15<br /> <br /> Tháng 7<br /> <br /> 10<br /> 5<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24<br /> Thời gian (giờ)<br /> <br /> Hình 1. Biến trình nhiệt độ ngày đêm trong tháng 1,7 trạm Tam Kỳ (1980 - 2010)<br /> <br /> Như vậy, biên độ nhiệt ngày đêm ở Quảng Nam rất lớn, ảnh hưởng đến khả năng thích<br /> nghi và chống chịu của các loài thủy sản, trong khi đó ở tỉnh Quảng Nam chủ yếu là<br /> nuôi tôm ven biển, nên tôm dễ bị chết hàng loạt hoặc giảm khả năng sinh trưởng, năng<br /> suất sinh học không cao.<br /> 2.2. Chế độ mưa<br /> Theo số liệu thống kê từ năm 1980 – 2010 [7], lượng mưa trung bình năm ở Quảng<br /> Nam có xu hướng tăng 472 mm, trung bình mỗi năm tăng khoảng 15,7 mm, nhưng<br /> lượng mưa trung bình năm diễn biến trên thực tế rất thất thường và giao động rất lớn.<br /> Lượng mưa trung bình nhiều năm vào khảng 2763 mm, năm có lượng mưa lớn nhất là<br /> 4380 mm (năm 1999) vượt trung bình nhiều năm là 2617 mm, năm có lượng mưa thấp<br /> nhất là 1577 mm (năm 1988), thể hiện qua bảng 2.<br /> Bảng 2. Lượng mưa trung bình năm, các thời kỳ qua các thập kỷ (Đơn vị: mm) [7]<br /> Thập kỷ<br /> Trạm<br /> Tam Kỳ<br /> <br /> 1980-1989<br /> 1990-1999<br /> 2000-2009<br /> <br /> TB năm<br /> 2439<br /> 2813<br /> 2911<br /> <br /> Thời kỳ<br /> Tháng 2-4<br /> Tháng 6-8<br /> 31<br /> 85<br /> 68<br /> 83<br /> 54<br /> 122<br /> <br /> Tháng 9-12<br /> 471<br /> 581<br /> 521<br /> <br /> Quảng Nam là tỉnh có lượng mưa lớn và cường độ mưa rất lớn. Một năm trung bình ở<br /> các địa phương Quảng Nam có 10 đến 20 ngày mưa to (lượng mưa ngày trên 50mm);<br /> trong đó có 3 - 8 ngày mưa rất to (lượng mưa ngày trên 100 mm), thể hiện qua hình 2.<br /> <br /> 100<br /> <br /> BÙI THANH SƠN – LÊ VĂN ÂN<br /> <br /> 450<br /> 400<br /> 350<br /> <br /> mm<br /> <br /> 300<br /> 250<br /> <br /> Lượng mưa<br /> <br /> 200<br /> 150<br /> 100<br /> 50<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> <br /> 10<br /> <br /> 11<br /> <br /> 12<br /> <br /> Tháng<br /> <br /> Hình 2. Biểu đồ lượng mưa một ngày lớn nhất trong các tháng Trạm Tam Kỳ<br /> <br /> Lượng mưa lớn nhất một ngày (hơn 400mm) còn lớn hơn tổng lượng mưa trung bình<br /> các tháng của mùa mưa ít; chứng tỏ lượng mưa không những phân hoá theo không gian<br /> mà còn phân hoá mạnh mẽ theo thời gian. Lượng mưa lớn nhất trong một ngày tập<br /> trung vào các tháng 10 hoặc 11 khoảng 380- 400mm, là những tháng có tổng lượng mưa<br /> tháng lớn nhất trong năm.<br /> 2.3. Nước biển dâng<br /> Theo số liệu thống kê, từ năm 1960 - 2010 các tài liệu trung bình hàng năm mực nước<br /> biển ở Việt Nam dâng cao khoảng 3mm và trong vòng 50 năm trở lại đây, mực nước<br /> biển dâng lên khoảng 20 cm [3], [4], [6].<br /> Ở Quảng Nam tốc độ dâng lên của mực nước trung bình năm tại Hội An tăng khoảng<br /> 0,515 cm/năm; mực nước tối cao trạm Hội An tăng 2,830 cm/năm; mực nước tối thấp<br /> tăng khoảng 0,072 cm/năm.[7]<br /> 2.4. Các hiện tượng thời tiết cực đoan<br /> 2.4.1. Bão và áp thấp nhiệt đới<br /> Bảng 3. Số cơn bão trung bình và tần suất bão khu vực Quảng Nam qua các thời kỳ<br /> Thời gian<br /> 1980 – 1984<br /> 1995 – 1999<br /> 2005 – 2010<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8<br /> <br /> 9<br /> <br /> 0<br /> 0,0<br /> <br /> 0<br /> 0,0<br /> <br /> 0<br /> 1<br /> 0,0 33,3<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0<br /> 0,0<br /> <br /> 10<br /> <br /> 11<br /> <br /> 0<br /> 0,0<br /> <br /> 0<br /> 0,0<br /> <br /> 1<br /> 1<br /> 33,3 33,3<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 12<br /> <br /> Năm<br /> <br /> 0<br /> 0,0<br /> <br /> 0<br /> 0,0<br /> <br /> 3<br /> 100%<br /> <br /> 1<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 2<br /> <br /> 50,0 50,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 100%<br /> <br /> 2<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 3<br /> <br /> 33,3 66,7<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 0,0<br /> <br /> 100%<br /> <br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Theo số liệu thống kê của tài liệu [7], [8], từ năm 1980 đến 2010 có 65 cơn bão đổ bộ<br /> vào Quảng Nam với tần suất xuất hiện là 84,38%; 22 cơn áp thấp nhiệt đới ở Quảng<br /> Nam với tần suất xuất hiện là 56,25%; Tần suất bão có xu hướng tăng, trong tháng 10<br /> tần suất bão tăng từ 33,3 % lên 50% và 66,7%; Trung bình số cơn bão đổ bộ vào Quảng<br /> <br /> NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU...<br /> <br /> 101<br /> <br /> <br /> <br /> Nam tăng trong giai đoạn 1980- 2010 từ 2 lên 3 cơn bão và tỷ lệ số cơn bão từ cấp 12 trở<br /> lên ở khu vực này đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp thể hiện qua bảng 3.<br /> Bão thường kèm theo mưa to và lũ lụt gây khó khăn cho nuôi trồng thủy sản bị nước lũ<br /> cuốn trôi, hoặc thay đổi các thành phần hóa lý của nước ao nuôi, làm cho thủy sản nuôi<br /> bị chết, hoặc giảm sức đề kháng.<br /> 2.4.2. Dông, lốc, mưa đá<br /> Thời gian xuất hiện dông nhiều nhất là các tháng mùa hè (tháng 5 - 9), dông thường<br /> kèm theo gió mạnh, mưa đá và đôi khi có tố lốc xảy ra. Theo số liệu quan trắc được ở<br /> các địa phương Quảng Nam [7], hàng năm trung bình có 85 - 110 ngày có dông, năm có<br /> số ngày dông nhiều nhất lên đến 130 – 145 ngày, năm ít cũng có 30 ngày dông, trung<br /> bình các tháng mùa hè có trên 14 ngày dông, cụ thể ở bảng 4. Những ngày có dông xảy<br /> ra làm thay đổi nhiệt độ đột ngột, người dân không kịp xử lý môi trường nước vì thế<br /> tôm cá bị sốc, sức đề kháng giảm, dễ bị nhiễm bệnh.<br /> Bảng 4. Số ngày có dông trung bình ở Quảng Nam giai đoạn 1980- 2010 [7]<br /> Tháng<br /> Số ngày<br /> <br /> 3<br /> 1,5<br /> <br /> 4<br /> 7,0<br /> <br /> 5<br /> 14,1<br /> <br /> 6<br /> 14,3<br /> <br /> 7<br /> 14,0<br /> <br /> 8<br /> 14,0<br /> <br /> 9<br /> 12,2<br /> <br /> 10<br /> 7,1<br /> <br /> 11<br /> 1,3<br /> <br /> 2.4.3. Hạn hán<br /> Tình hình hạn hán đã xảy ra liên tục ở Quảng Nam trong nhiều năm và mức độ hạn hán<br /> ngày càng gia tăng, trong nhiều năm có nhiều tháng hạn hán, năm ít nhất cũng tới 3<br /> tháng, năm nhiều nhất đến 6 tháng và đạt nhiệt độ rất cao từ 39 đến 40 0C ảnh hưởng từ<br /> 1 đến 2 vụ nuôi trồng trong năm, gây thiệt hại rất lớn cho nuôi trồng thủy sản nói riêng,<br /> thể hiện như bảng 5.<br /> Bảng 5. Số tháng hạn và nhiệt độ cao nhất xảy ra ở Quảng Nam (Nguồn [7])<br /> Năm<br /> 1998<br /> 2001<br /> 2002<br /> 2003<br /> 2004<br /> 2005<br /> 2006<br /> 2007<br /> 2008<br /> 2009<br /> 2010<br /> <br /> Nhiệt độ cao nhất ( 0C)<br /> 38 – 39<br /> 35 – 37<br /> 37 – 38<br /> 39<br /> 39<br /> 40<br /> 39<br /> 39<br /> 40<br /> <br /> Số tháng hạn<br /> 3<br /> 3<br /> 6<br /> 3<br /> 3<br /> 3<br /> 4<br /> 3<br /> 4<br /> <br /> 2.6. Xâm nhập mặn<br /> Mùa lũ dòng chảy thượng nguồn lớn, độ mặn ít có khả năng xâm nhập vào sâu trong<br /> sông nên độ mặn trong sông nhỏ. Mùa cạn lưu lượng dòng chảy thượng nguồn nhỏ, độ<br /> <br /> 102<br /> <br /> BÙI THANH SƠN – LÊ VĂN ÂN<br /> <br /> mặn xâm nhập vào trong sông lớn. Thời kỳ giữa mùa cạn từ tháng 3 đến tháng 8 là thời<br /> kỳ mặn xâm nhập vào trong sông là lớn nhất, thể hiện qua bảng 6.<br /> Bảng 6. Độ mặn cao nhất TBNN của 3 trạm: Câu Lâu, Hội An và Tam Kỳ thời kỳ 1980 – 2010<br /> (Đơn vị: ‰) (Nguồn: [7])<br /> Địa điểm<br /> <br /> Tháng<br /> <br /> Câu Lâu<br /> <br /> 3<br /> 0,06<br /> <br /> 4<br /> 0,22<br /> <br /> 5<br /> 2,34<br /> <br /> 6<br /> 2,56<br /> <br /> 7<br /> 2,76<br /> <br /> 8<br /> 1,12<br /> <br /> Hội An<br /> <br /> 20,5<br /> <br /> 22,8<br /> <br /> 23,1<br /> <br /> 24,3<br /> <br /> 24,9<br /> <br /> 21,1<br /> <br /> Tam Kỳ<br /> <br /> 1,5<br /> <br /> 5,2<br /> <br /> 9,6<br /> <br /> 7,8<br /> <br /> 5,2<br /> <br /> 1,73<br /> <br /> Ranh giới mặn 1‰ về mùa mưa thường cách cửa sông Thu Bồn 16 km, ranh giới mặn<br /> 2‰ cách cửa sông 15,5 km và ranh giới mặn 5‰ cách cửa sông 14,5 km. Về mùa khô,<br /> ranh giới mặn thường tiến sâu thêm vào đất liền khoảng từ 2 – 3 km. [7]<br /> 3. ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở<br /> TỈNH QUẢNG NAM<br /> 3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và hạn hán<br /> Nhiệt độ có quan hệ chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng, phát triển của các loài thủy sản do<br /> đó ảnh hưởng đến diện tích nuôi trồng.<br /> Bảng 7. Diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2008 – 2012<br /> (Đơn vị: ha) (Nguồn: [1], [6])<br /> Năm<br /> <br /> 2008<br /> <br /> 2009<br /> <br /> 2010<br /> <br /> 2011<br /> <br /> 2012<br /> <br /> Nuôi tôm<br /> <br /> 1850<br /> <br /> 1883<br /> <br /> 1750<br /> <br /> 1922<br /> <br /> 1639<br /> <br /> Nuôi cá<br /> <br /> 5050<br /> <br /> 5059<br /> <br /> 4607<br /> <br /> 4663<br /> <br /> 4804<br /> <br /> Thủy sản khác<br /> <br /> 130<br /> <br /> 396<br /> <br /> 376<br /> <br /> 403<br /> <br /> 557<br /> <br /> Tổng diện tích<br /> <br /> 7030<br /> <br /> 7338<br /> <br /> 6733<br /> <br /> 6988<br /> <br /> 7000<br /> <br /> Diện tích<br /> <br /> Giai đoạn 2006 – 2012, do sự biến động mạnh của nhiệt độ tối cao, nhiệt độ tối thấp và<br /> biên độ nhiệt độ năm nên diện tích nuôi trồng thủy sản có xu hướng giảm mạnh từ 7030<br /> ha xuống 7000 ha. Trong đó, diện tích nuôi tôm giảm mạnh, cụ thể năm 2012 giảm so<br /> với năm 2011 là 283 ha. Diện tích nuôi cá cũng có tình trạng tương tự, từ năm 2009 2012 giảm 255 ha. Diện tích nuôi các loài thủy sản khác có xu hướng tăng, từ năm 2008<br /> – 2012 tăng đến 247 ha. Nguyên nhân của sự biến động này là do tôm, cá có khả năng<br /> thích nghi hạn chế, dễ bị sốc do thay đổi nhiệt độ, độ mặn… nên nông hộ đã chuyển<br /> một phần diện tích sang nuôi các thủy sản khác thể hiện ở bảng 7.<br /> Ngoài ra, nhiệt độ tăng cũng là điều kiện phát sinh của nhiều loại dịch bệnh xảy ra cho<br /> các loài thủy sản nuôi. Các bệnh do nhóm vi khuẩn Vibrio và virus (MBV, HPV và BP)<br /> thường xảy ra, lan truyền rất nhanh rộng và khó chữa nên mức độ gây rủi ro rất lớn,<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản