intTypePromotion=3

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá tầm nga (Acipenser gueldenstaedtii Brandt, 1833) giai đoạn cá hương lên cá giống

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
16
lượt xem
0
download

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá tầm nga (Acipenser gueldenstaedtii Brandt, 1833) giai đoạn cá hương lên cá giống

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được thực hiện trong 4 tuần nhằm đánh giá ảnh hưởng của một số công thức thức ăn (CT1 – Thức ăn chế biến; CT2 – Thức ăn công nghiệp và CT3 – Thức ăn công nghiệp kết hợp với trùn chỉ) lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá tầm Nga giai đoạn cá hương lên cá giống.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá tầm nga (Acipenser gueldenstaedtii Brandt, 1833) giai đoạn cá hương lên cá giống

Trần Thị Lê Trang và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 107(07): 25 - 30<br /> <br /> NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG<br /> VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ TẦM NGA (Acipenser gueldenstaedtii Brandt, 1833)<br /> GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG<br /> Trần Thị Lê Trang1*, Nguyễn Viết Thùy2<br /> 2<br /> <br /> 1<br /> Trường Đại học Nha Trang<br /> Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu được thực hiện trong 4 tuần nhằm đánh giá ảnh hưởng của một số công thức thức ăn<br /> (CT1 – Thức ăn chế biến; CT2 – Thức ăn công nghiệp và CT3 – Thức ăn công nghiệp kết hợp với<br /> trùn chỉ) lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá tầm Nga giai đoạn cá hương lên cá giống. Kết quả<br /> nghiên cứu cho thấy, cá được cho ăn công thức thức ăn CT3 cho tốc độ sinh trưởng tương đối và<br /> tuyệt đối cao hơn công thức CT2 (1,76 g/con/ngày; 48,92% so với 1,1 g/con/ngày; 36,69%; P <<br /> 0,05). Tuy nhiên, không có sự khác biệt thống kê về 2 chỉ tiêu này giữa công thức CT1 (1,38<br /> g/con/ngày; 42,31%) và công thức CT2 và CT3 (P > 0,05). Tương tự, cá được cho ăn công thức<br /> thức ăn CT3 cho khối lượng cuối cao nhất (26,83 g/con), tiếp theo là công thức CT1 (23,12 g/con)<br /> và thấp nhất là công thức CT2 (20,45 g/con) (P < 0,05). Tỷ lệ sống của cá đạt được ở công thức<br /> thức ăn CT3 và CT1 cao hơn so với công thức CT2 (82,83; 82,17 so với 67,17%; P < 0,05). Từ<br /> nghiên cứu này có thể nhận thấy, công thức thức ăn CT3 là thích hợp cho ương cá tầm Nga giai<br /> đoạn cá hương lên cá giống.<br /> Từ khóa: Acipenser gueldenstaedtii, cá giống, cá hương, cá tầm Nga, tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống.<br /> <br /> MỞ ĐẦU*<br /> Cá tầm Nga (Acipenser gueldenstaedtii) là<br /> loài cá sụn, có giá trị kinh tế cao, thịt thơm<br /> ngon và được thị trường ưa chuộng. Trứng cá<br /> tầm Nga (caviar) có giá rất cao trên thị trường<br /> thế giới (trên 5.000 USD/kg) trong khi thịt cá<br /> chỉ khoảng 20 USD/kg [1, 2]. Cá tầm Nga<br /> phân bố tự nhiên ở các vùng ôn đới (Nga,<br /> Ukraina, Bulgari,...), tuy nhiên, chúng có khả<br /> năng thích ứng tốt với môi trường, đặc biệt là<br /> nhiệt độ (2 – 30oC) và độ mặn (0 – 35‰) [4,<br /> 9, 15]. Chính vì vậy, cá tầm Nga đã được di<br /> nhập và nuôi ở nhiều nước ở châu Âu, châu<br /> Mỹ và châu Á trong đó có Việt Nam [4].<br /> Thực tiễn cho thấy, cá tầm Nga có khả năng<br /> thích ứng tốt với các điều kiện nuôi ở nước ta,<br /> đặc biệt là các vùng nước lạnh thuộc Tây Bác<br /> và Tây Nguyên [1, 9]. Sự phát triển của nghề<br /> nuôi cá tầm đã đưa Việt Nam nằm trong<br /> nhóm 10 nước sản xuất cá tầm lớn nhất thế<br /> giới [9]. Việc phát triển nghề nuôi cá tầm nói<br /> riêng và cá nước lạnh nói chung tại các vùng<br /> *<br /> <br /> Tel. 0973533710;Email: letrangntu@gmail.com<br /> <br /> Tây Bắc và Tây Nguyên là một trong những<br /> chiến lược quan trọng của ngành Thủy sản<br /> giai đoạn 2010 đến 2020 nhằm phát triển kinh<br /> tế xã hội ở các vùng cao nguyên. Tuy nhiên,<br /> nghề nuôi cá tầm ở nước ta hiện vẫn còn gặp<br /> nhiều khó khăn do phụ thuộc chặt chẽ vào<br /> nguồn giống và thức ăn nhập khẩu từ các<br /> nước Châu Âu. Trong ương giống cá nói<br /> chung và cá tầm nói riêng, tốc độ sinh trưởng<br /> và tỷ lệ sống của cá phụ thuộc vào rất nhiều<br /> yếu tố như: nguồn giống, chất lượng thức ăn,<br /> các yếu tố môi trường, mật độ ương, thiết bị<br /> ương, kỹ thuật chăm sóc quản lý,… [10, 13,<br /> 18]. Trong đó, thức ăn là một trong những<br /> yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả<br /> kinh tế và kỹ thuật. Việc tận dụng các loại<br /> thức ăn sẵn có tại địa phương, kết hợp thức ăn<br /> tổng hợp và thức ăn tươi sống là một trong<br /> những giải pháp tích cực nhằm chủ động<br /> nguồn thức ăn và giảm chi phí sản xuất cho<br /> nghề ương giống cá tầm. Nghiên cứu được<br /> thực hiện nhằm xác định công thức thức ăn<br /> thích hợp góp phần nâng cao tốc độ sinh<br /> trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả ương cá tầm<br /> Nga giai đoạn cá hương lên cá giống.<br /> 25<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Thị Lê Trang và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Vật liệu và phương pháp bố trí thí nghiệm<br /> Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm<br /> nghiên cứu Cá nước lạnh Tây Nguyên (Lâm<br /> Đồng) từ tháng 8 – 11 năm 2011 trên đối<br /> tượng cá tầm Nga (Acipenser gueldenstaedtii<br /> Brandt, 1833).<br /> Nguồn cá thí nghiệm: Cá bột sau khi nở 7 – 9<br /> ngày được tiến hành bố trí vào các bể thí<br /> nghiệm với mật độ 2.000 con/m2. Cá đưa vào<br /> thí nghiệm là những cá thể khỏe mạnh, đều<br /> cỡ, vận động linh hoạt và màu sắc tự nhiên.<br /> Thời gian thí nghiệm khoảng 4 tuần tương<br /> ứng với giai đoạn cá hương lên cá giống (3 –<br /> 5 g/con). Cá được bố trí trong các bể<br /> composite hình tròn, diện tích đáy 3 m2, mực<br /> nước 0,2 – 0,3 m. Bể ương được lắp đặt hệ<br /> thống nước chảy tự động với lưu tốc 10 – 15<br /> L/phút.<br /> Thức ăn và chế độ cho ăn: Trong nghiên cứu<br /> này, 3 công thức thức ăn được thử nghiệm<br /> nhằm xác định loại thức ăn thích hợp cho<br /> ương giống cá tầm Nga:<br /> Công thức 1 (CT1): Thức ăn chế biến (lách bò<br /> 20%, trùn quế tươi (Perionyx excavatus)<br /> 10%, thức ăn công nghiệp (TACN) của cá mú<br /> 70%). Cá được cho ăn với khẩu phần 5 – 7%<br /> khối lượng thân/ngày, chia làm 8 lần/ngày.<br /> Công thức 2 (CT2): 100% TACN Skerting<br /> (protein 35%). Cá được cho ăn với khẩu phần<br /> 5 – 7% khối lượng thân/ngày, chia làm 8<br /> lần/ngày.<br /> Công thức 3 (CT3): TACN Skerting và trùn<br /> chỉ (Tubifex sp.). Cá được cho ăn xen kẽ 1 lần<br /> trùn chỉ và 2 lần TACN. Khẩu phần cho ăn là<br /> 5 – 7% khối lượng thân/ngày, chia làm 8<br /> lần/ngày.<br /> Thí nghiệm được thực hiện với 3 lần lặp cùng<br /> thời điểm trong thời gian 4 tuần.<br /> Quản lý các yếu tố môi trường: Các yếu tố<br /> môi trường như nhiệt độ nước, hàm lượng<br /> oxy hòa tan (đo 1 ngày/lần), pH, hàm lượng<br /> NH3 và H2S (đo 1 tuần/lần) được kiểm tra<br /> định kỳ bằng các dụng cụ (nhiệt kế, test oxy,<br /> <br /> 107(07): 25 - 30<br /> <br /> pH, NH3 và H2S) và duy trì trong phạm vi<br /> thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của<br /> cá. Hàng ngày, bể ương được tiến hành vệ<br /> sinh, loại bỏ thức ăn thừa, chất thải và cá chết.<br /> Phương pháp thu thập và xử lý số liệu<br /> Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của<br /> cá được xác định định kỳ (7 ngày/lần) bằng<br /> cách thu ngẫu nhiên 30 con trong mỗi bể<br /> ương. Khối lượng cá được xác định bằng cân<br /> điện tử có độ chính xác 0,01 g. Tỷ lệ sống của<br /> cá được xác định bằng cách đếm tất cả số<br /> lượng cá tại thời điểm kết thúc thí nghiệm.<br /> Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối AGR<br /> (g/con/ngày) và tương đối RGR (%) [16]:<br /> W 2 −W1<br /> AGR =<br /> (g/con/ngày)<br /> t 2 − t1<br /> W 2 − W1<br /> RGR =<br /> x 100%<br /> W1<br /> Trong đó: - W1, W2 – Khối lượng cá ở thời<br /> điểm t1, t2 (g);<br /> - t1, t2 – Thời điểm cân cá lần<br /> trước và sau (ngày).<br /> Tỷ lệ sống: (Số cá khi kết thúc thí nghiệm/ Số<br /> cá ban đầu) x 100%<br /> Các số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS<br /> 16.0. Sử dụng phương pháp phân tích phương<br /> sai một yếu tố (oneway – ANOVA) và phép<br /> kiểm định Duncan để so sánh sự khác biệt có<br /> ý nghĩa thống kê (P < 0,05) về tốc độ sinh<br /> trưởng tuyệt đối, tương đối và tỷ lệ sống của<br /> cá giữa các nghiệm thức thí nghiệm. Toàn bộ<br /> số liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung<br /> bình (TB) ± sai số chuẩn (SE).<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> Diễn biến các yếu tố môi trường<br /> Nhìn chung các yếu tố môi trường như nhiệt<br /> độ nước (16,4 ± 1,2oC), hàm lượng oxy hòa<br /> tan (7,1 ± 0,5 mg O2/L), pH (6,8 – 7,3), hàm<br /> lượng NH3 (< 0,15 mg/L) và H2S (< 0,02<br /> mg/L) đều nằm trong phạm vi thích hợp cho<br /> sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của cá<br /> tầm Nga giai đoạn cá hương lên cá giống.<br /> <br /> 26<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Thị Lê Trang và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của<br /> cá tầm Nga<br /> Kết quả nghiên cứu cho thấy, thức ăn cũng<br /> ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống của cá tầm Nga<br /> giai đoạn cá hương lên cá giống. Sau 4 tuần<br /> thí nghiệm, cá được cho ăn công thức thức ăn<br /> CT1 và CT3 cho tỷ lệ sống cao hơn so với<br /> công thức CT2 (82,17 ± 3,76% và 82,83 ±<br /> 4,16% so với 67,17 ± 3,44%; P < 0,05). Tuy<br /> nhiên, không có sự khác biệt thống kê về tỷ lệ<br /> sống giữa cá được cho ăn công thức thức ăn<br /> CT3 (và công thức CT1 (P > 0,05) (Hình 1).<br /> <br /> a<br /> <br /> a<br /> <br /> 107(07): 25 - 30<br /> <br /> Thức ăn có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ sinh<br /> trưởng tuyệt đối (AGR) của cá tầm Nga giai<br /> đoạn cá hương lên cá giống. Sau 4 tuần ương,<br /> cá được cho ăn công thức thức ăn CT3 cho<br /> tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao hơn so với<br /> công thức CT2 (1,76 ± 0,14 g/con/ngày so với<br /> 1,10 ± 0,09 g/con/ngày) (P < 0,05). Tuy<br /> nhiên, không có sự khác biệt thống kê về chỉ<br /> tiêu này giữa cá được cho ăn công thức CT1<br /> (1,38 ± 0,11 g/con/ngày) so với công thức<br /> CT3 hay CT2 (P > 0,05) (Hình 2).<br /> Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ sinh<br /> trưởng tương đối của cá tầm Nga<br /> <br /> b<br /> <br /> Hình 3. Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ<br /> sinh trưởng tương đối<br /> <br /> Hình 1. Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống<br /> của cá tầm Nga<br /> Các ký tự chữ cái khác nhau trên hình thể hiện sự<br /> khác biệt thống kê (P < 0,05)<br /> <br /> Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ sinh<br /> trưởng tuyệt đối của cá tầm Nga<br /> <br /> Hình 2. Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ<br /> sinh trưởng tuyệt đối<br /> <br /> Tương tự, thức ăn cũng ảnh hưởng đến tốc độ<br /> sinh trưởng tương đối (RGR). Cá được cho ăn<br /> công thức thức ăn CT3 cho tốc độ sinh trưởng<br /> tương đối cao hơn so với công thức CT2<br /> (48,92 ± 4,36% so với 36,69 ± 1,62%) (P <<br /> 0,05). Tuy nhiên, không có sự khác biệt thống<br /> kê về tốc độ sinh trưởng tương đối giữa cá<br /> được cho ăn công thức thức ăn CT1 (42,31 ±<br /> 2,45%) so với công thức CT2 và CT3 (P ><br /> 0,05) (Hình 3).<br /> Ảnh hưởng của thức ăn lên khối lượng cá<br /> tầm Nga cuối thí nghiệm<br /> Khối lượng cá cuối thí nghiệm cũng phụ<br /> thuộc chặt chẽ vào loại thức ăn sử dụng.<br /> Trong đó, cá được cho ăn công thức thức ăn<br /> CT3 (26,83 ± 0,88 g/con) cho khối lượng cuối<br /> cao nhất, tiếp theo là công thức CT1 (23,12 ±<br /> 1,01 g/con), thấp nhất là công thức CT2<br /> (20,45 ± 1,03 g/con) (P < 0,05) (Hình 4).<br /> 27<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Thị Lê Trang và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Hình 4. Ảnh hưởng của thức ăn lên khối lượng<br /> cá tầm Nga cuối thí nghiệm<br /> Các ký tự chữ cái khác nhau trên hình thể hiện sự<br /> khác biệt thống kê (P < 0,05)<br /> <br /> Thảo luận chung<br /> Thức ăn là một trong những yếu tố có ảnh<br /> hưởng lớn nhất đến tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ<br /> sống và hiệu quả ương của nhiều loài cá trong<br /> đó có cá tầm [3, 6, 17]. Giai đoạn đầu của cá,<br /> thành phần thức ăn tốt nhất là các loại thức ăn<br /> sống như: luân trùng, Copepoda, Artemia,<br /> Moina, Daphnia, trùn chỉ, trùn quế,... Đây là<br /> các loại thức ăn ưa thích của cá, giàu dinh<br /> dưỡng, phù hợp với cỡ miệng cá, giúp kích<br /> thích bắt mồi, hạn chế nguy cơ ô nhiễm môi<br /> trường bể ương [11, 17]. Cho đến nay, các<br /> loại thức ăn sống vẫn được coi là tốt nhất cho<br /> ương ấu trùng động vật thủy sản. Tuy nhiên,<br /> việc kết hợp thức ăn sống, thức ăn chế biến và<br /> công nghiệp được áp dụng phổ biến nhằm<br /> khắc phục nhược điểm của mỗi loại thức ăn.<br /> Trong nghiên cứu hiện tại, cá tầm Nga được<br /> cho ăn công thức thức ăn CT3 (TACN và trùn<br /> chỉ) cho tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cao<br /> hơn công thức CT1 (Thức ăn chế biến) và<br /> CT2 (TACN). Điều này đã cho thấy vai trò<br /> của trùn chỉ đối với cá tầm Nga giai đoạn cá<br /> hương lên cá giống. Trùn chỉ là loại thức ăn<br /> sống giàu dinh dưỡng (protein 56,7%, lipid<br /> 5%), kích thích ấu trùng cá bắt mồi và tiêu<br /> hóa thức ăn. Kết quả này tương tự với các<br /> nghiên cứu trước khi cho rằng giun trắng<br /> <br /> 107(07): 25 - 30<br /> <br /> (Enchytraeus sp., đối tượng tương tự như trùn<br /> chỉ) là tốt nhất cho giai đoạn đầu của cá tầm<br /> [3, 10, 11, 12]. Cá được cho ăn thức ăn chế<br /> biến (CT1) và thức ăn công nghiệp (CT2) cho<br /> tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống hạn chế có<br /> thể là do hàm lượng protein thấp (35 – 40%),<br /> kém hấp dẫn cá bắt mồi, ngoài ra còn làm gia<br /> tăng nguy cơ suy giảm chất lượng nước. Hiệu<br /> quả sử dụng thức ăn hạn chế là nguyên nhân<br /> làm giảm sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá ở<br /> hai nghiệm thức này. Sự kết hợp các loại thức<br /> ăn khác nhau thường mang lại hiệu quả cao<br /> hơn so với việc sử dụng đơn lẻ một loại [7, 8,<br /> 14]. Thực tiễn ương giống cá tầm tại Nga và<br /> một số nước Đông Âu cho thấy, việc kết hợp<br /> thức ăn sống (trùn chỉ, giun trắng, Moina,<br /> Daphnia) và thức ăn công nghiệp giúp cải<br /> thiện đáng kể tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống<br /> của cá tầm Nga giai đoạn cá hương lên cá<br /> giống [5, 7, 8]. Các nghiên cứu tiếp theo nên<br /> tập trung vào việc nâng cao chất lượng dinh<br /> dưỡng, bổ sung các chất dẫn dụ kích thích cá<br /> bắt mồi vào thức ăn nhân tạo nhằm cải thiện<br /> kết quả ương giống ca tầm.<br /> KẾT LUẬN<br /> Cá được cho ăn công thức thức ăn CT3 cho<br /> tốc độ sinh trưởng tương đối và tuyệt đối cao<br /> hơn công thức CT2 (1,76 g/con/ngày; 48,92%<br /> so với 1,1 g/con/ngày; 36,69%). Tuy nhiên,<br /> không có sự khác biệt thống kê về 2 chỉ tiêu<br /> này giữa công thức CT1 (1,38 g/con/ngày;<br /> 42,31%) và công thức CT2 và CT3.<br /> Cá được cho ăn công thức thức ăn CT3 cho<br /> khối lượng cuối cao nhất (26,83 g/con), tiếp<br /> theo là công thức CT1 (23,12 g/con) và thấp<br /> nhất là công thức CT2 (20,45 g/con). Tỷ lệ<br /> sống của cá đạt được ở công thức thức ăn<br /> CT3 và CT1 cao hơn so với công thức CT2<br /> (82,83; 82,17 so với 67,17%).<br /> Cần nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của<br /> các công thức thức ăn lên hiệu quả sử dụng<br /> thức ăn, thành phần sinh hóa và hiệu quả<br /> kinh tế của cá tầm Nga giai đoạn cá bột lên<br /> cá giống.<br /> <br /> 28<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Thị Lê Trang và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. Nguyễn Quốc Ân, (2008), Báo cáo tình hình<br /> nghiên cứu, công nghệ nuôi cá tầm, cá hồi, bào<br /> ngư trên thế giới, Phân tích và lựa chọn công<br /> nghệ nuôi phù hợp với điều kiện Việt Nam, Viện<br /> Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III. Nha Trang –<br /> Khánh Hòa.<br /> 2. Chebanov, M., Rosenthal, H., Gessner, J., Van<br /> Anrooy, R., Doukakis, P., Pourkazemi, M.,<br /> Williot, P., (2011), Sturgeon hatchery practices<br /> and management for release. Guidelines FAO<br /> Fisheries and Aquaculture Technical Paper No<br /> 570. Ankara, FAO. 2011. 110 pp.<br /> 3. Dabrowski, K., Kaushik, S.J. and Fauconneau,<br /> В., 1985. Rearing of sturgeon (Acipencser baerii)<br /> larvae. I. Feeding trial. Aquaculture, 47:185-192.<br /> 4. FAO, (2006), Cultured aquatic species<br /> information programme. Cultured aquaculture<br /> species - Siberian sturgeon In: FAO Fisheries and<br /> Aquaculture Department. Rome.<br /> 5. Gisbert, E. and P. Williot, (2002), Advances in<br /> the larval rearing of Siberian sturgeon, Journal of<br /> Fish Biology, 60: 1071-1092.<br /> 6. Kaushik, S.J., Breque, J., Blanc, D., (1991),<br /> Requirements of protein and essential amino acids<br /> and their utilization by Siberian sturgeon<br /> (Acipenser baeri). In: Acipenser, P. Williot, ed.<br /> Cemagreff Publ. 25-39.<br /> 7. Lindberg, J.C., Doroshov S.I., (1986), Effect of<br /> diet switch between natural and prepared foods on<br /> growth and survival of white sturgeon juveniles.<br /> Transactions of the American Fisheries Society,<br /> 115:166-171.<br /> 8. Lorena, D., Marilena, M., Victor, C., Dumitru,<br /> M., 2011. Effect of formulated diet versus live<br /> food on growth and survival of Russian sturgeon<br /> (Acipenser<br /> guldenstaedti)<br /> larvae<br /> starting<br /> exogenous feeding. Bulletin UASVM Animal<br /> Science and Biotechnologies, 68(1-2)/2011.<br /> 9.<br /> Trần Đình Luân, 2012. Hiện trạng sản xuất<br /> giống và nuôi cá tầm ở Việt Nam. Tạp chí Thương<br /> mại Thủy sản, số 154, trang 83 – 89.<br /> <br /> 107(07): 25 - 30<br /> <br /> 10. Memis, D., Ercan, E., Celikkale, M. S.,<br /> Timur, M., Zarkua, Z., 2009. Growth and survival<br /> rate<br /> of<br /> russian<br /> sturgeon<br /> (Acipenser<br /> gueldenstaedtii) larvae from fertilized eggs to<br /> artificial feeding. Turkish Journal of Fisheries and<br /> Aquatic Sciences 9: 47-52.<br /> 11. Mohseni M., Pourkazemi M., Hassani S.H.,<br /> Okorie O.E., Min, T.S., Bai S.C., 2012. Effects<br /> of different three live foods on growth<br /> performance and survival rates in Beluga (Huso<br /> huso) larvae. Iranian Journal of Fisheries<br /> Sciences, 11(1) 118 – 131.<br /> 12. Oprea, D., Oprea L., 2008. Research<br /> concerning feeding of Russian sturgeon fry<br /> (Acipenser guldenstaedti Brandt, 1833), reared in<br /> a superintensive system, Scientific works,<br /> UASVMB., Series A, Vol. LI: 1034 - 1040.<br /> 13. Ronayi, A., 1997. Effects of stocking density<br /> and feeding frequencies on growth, feed utilization<br /> and size structure in juvenile Siberian sturgeon.<br /> Halaszat, 2: 91-96.<br /> 14. Roozbehfar, R., Jamali, H. and Hematian, R.,<br /> 2012. The potential of Russian sturgeon<br /> (Acipenser gueldenstaedtii) in exploitation of<br /> Artemia urmiana in comparison with Daphniasp.<br /> and its mixture. World Applied Sciences Journal<br /> 20 (6): 776-780.<br /> 15. Ruban, G.I., 2005. The Siberian Sturgeon<br /> Acipenser baerii Brandt. Species structure and<br /> Ecology. Rosental H.K. (ed). World Sturgeon<br /> Conservation Society. Special Publication Series.<br /> Special Publication No 1. Norderstedt. Germany.<br /> 203 p.<br /> 16. Schreck, C.B. and Moyle, P.B. editors., 1990.<br /> Methods for fish biology. American Fisheries<br /> Society, Bethesda, Maryland.<br /> 17. Støttrup, J.G. and McEvoy, L.A., 2003. Live<br /> feeds in marine aquaculture. Blackwell<br /> Publishing, 337 pp.<br /> 18. Yan, T., 2007. The study on physiological<br /> and biochemical responds of Acipenser schrenckii<br /> to the stresses of ambient salinity, pH and capture.<br /> Master thesis of Science. East China Normal<br /> University. 96 pp.<br /> <br /> 29<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản