intTypePromotion=1

Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự phát sinh hình thái của một số giống sâm bố chính (Hibiscus sagittifolius Kurz) trong điều kiện in vitro

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
16
lượt xem
2
download

Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự phát sinh hình thái của một số giống sâm bố chính (Hibiscus sagittifolius Kurz) trong điều kiện in vitro

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên khả năng nảy mầm, tạo chồi và rễ của sâm bố chính trong điều kiện in vitro. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự phát sinh hình thái của một số giống sâm bố chính (Hibiscus sagittifolius Kurz) trong điều kiện in vitro

TẠP CHÍ SINH HỌC 2014, 36(1se): 266-271<br /> <br /> NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC<br /> VẬT LÊN SỰ PHÁT SINH HÌNH THÁI CỦA MỘT SỐ GIỐNG SÂM BỐ CHÍNH<br /> (Hibiscus sagittifolius Kurz) TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO<br /> Phan Duy Hiệp*, Nguyễn Trí Minh, Phan Xuân Huyên,<br /> Cao Đình Hùng, Đinh Văn Khiêm, Nguyễn Thị Thanh Hằng<br /> Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên, *duyhiepcnsk07@gmail.com<br /> TÓM TẮT: Sâm bố chính (Hibiscus sagittifolius Kurz) thuộc họ Malvaceae là loài cây dược liệu quí, tuy<br /> nhiên, số lượng cây ngoài tự nhiên đang giảm nhanh do vùng phân bố bị thu hẹp cùng với nhu cầu khai<br /> thác tăng và tỷ lệ hạt nảy mầm thấp. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều<br /> hòa sinh trưởng thực vật lên khả năng nảy mầm, tạo chồi và rễ của sâm bố chính trong điều kiện in vitro.<br /> Kết quả sau 45 ngày nuôi cấy, tỷ lệ nảy mầm của hạt đạt cao nhất (55,6%) khi hạt được ngâm trong dung<br /> dịch 30 mg/l GA3 trong thời gian 120 phút, tiếp theo khử trùng hạt bằng dung dịch HgCl2 0,5%, cuối cùng<br /> cấy hạt vào môi trường MS có bổ sung 10 mg/l GA3. Sau 30 ngày nuôi cấy, hệ số nhân chồi các giống hoa<br /> màu vàng, đỏ và hồng hình thành đạt cao nhất (4,5 chồi/mẫu) khi cấy mẫu trên môi trường MS bổ sung 1<br /> mg/l BA, nước dừa 10%, 0,2 mg/l GA3. Sau 30 ngày nuôi cấy chồi in vitro tạo rễ bất định và tăng trưởng<br /> tốt nhất (6,6 rễ/chồi và chiều cao 10,5 cm/chồi) khi được nuôi trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l IBA<br /> và 0,5 mg/l NAA. Như vậy, phương pháp nuôi cấy mô có thể sản xuất được số lượng lớn sâm bố chính<br /> trong thời gian ngắn.<br /> Từ khóa: Hibiscus sagittifolius, điều hòa sinh trưởng, nhân chồi, sâm bố chính.<br /> MỞ ĐẦU<br /> <br /> Sâm bố chính (Hibiscus sagittifolius Kurz)<br /> thuộc họ Malvaceae [2], hoa có nhiều màu sắc<br /> khác nhau như màu vàng, màu đỏ, màu hồng,<br /> màu tím. Sâm bố chính là một cây dược liệu có<br /> tác dụng như bổ tỳ giúp ăn ngủ ngon, nhuận<br /> tràng, bổ phổi, tăng cường sinh lực, chữa viêm<br /> phế quản, bạch đới [3]. Ngoài tác dụng làm<br /> dược liệu, cây này còn được trồng làm cảnh nhờ<br /> hình dáng đặc biệt của rễ và vẻ đẹp của hoa. Ở<br /> Việt Nam, sâm bố chính thường phân bố từ tỉnh<br /> Thanh Hóa vào đến các tỉnh phía Nam. Trên thế<br /> giới, sâm bố chính phân bố nhiều ở Trung<br /> Quốc, Lào, Campuchia, phía Đông của Ấn Độ<br /> và phía Bắc của Australia. Với những giá trị<br /> trên, sâm bố chính đang bị khai thác với số<br /> lượng lớn, thêm vào đó, hạt lại có tỷ lệ nảy<br /> mầm rất thấp, điều này đã làm cho số lượng<br /> trong tự nhiên ngày càng giảm.<br /> Nghiên cứu này được tiến hành nhằm tìm ra<br /> môi trường nuôi cấy thích hợp để có hệ số nhân<br /> chồi cao và tạo cây hoàn chỉnh trong thời gian<br /> ngắn, góp phần sản xuất giống cây dược liệu<br /> quý này với quy mô lớn.<br /> VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> <br /> 266<br /> <br /> Hạt sâm bố chính hoa vàng, đỏ và hồng<br /> được lấy từ vườn quốc gia York Đôn, huyện<br /> Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk được sử dụng làm vật<br /> liệu nghiên cứu.<br /> Thí nghiệm 1. Nghiên cứu ảnh hưởng axít<br /> Gibberellic (GA3) lên khả năng nảy mầm của<br /> hạt sâm bố chính<br /> Hạt được ngâm trong dung dịch GA3 (với<br /> nồng độ 10; 20 và 30 mg/l) tương ứng với hai<br /> mức thời gian 60 và 120 phút được so sánh với<br /> hạt ngâm trong nước cất. Sau đó hạt được khử<br /> trùng bằng dung dịch thủy ngân II clorua<br /> (HgCl2) nồng độ 5‰ trong thời gian 10 phút.<br /> Hạt được cấy vào bình (thể tích 500 ml) chứa<br /> 50 ml môi trường Murashige and Skoog (MS)<br /> có bổ sung vitamin Morel; 20 g/l đường; 7,5 g/l<br /> thạch và 10 mg/l GA3. Mỗi công thức có 9 bình,<br /> mỗi bình cấy 5 hạt. Bình nuôi cấy được đặt<br /> trong phòng thí nghiệm với điều kiện tối, nhiệt<br /> độ phòng 24±2oC, độ ẩm phòng 60±5%. Chỉ<br /> tiêu theo dõi gồm tỷ lệ % hạt nảy mầm sau 15,<br /> 30 và 45 ngày nuôi cấy.<br /> Thí nghiệm 2. Nghiên cứu ảnh hưởng của 6benzylaminopurin (BA), nước dừa, GA3 lên khả<br /> năng bật chồi của ba giống sâm bố chính có<br /> hoa màu vàng, đỏ và hồng<br /> <br /> Phan Duy Hiep et al.<br /> <br /> Cây sâm bố chính in vitro được cắt thành<br /> từng đoạn mang chồi ngủ có kích thước 2,5±0,2<br /> cm. Sau đó, mẫu được cấy vào túi nylon (kích<br /> thước 15×22 cm) chứa 65 ml môi trường MS có<br /> bổ sung vitamin Morel; 20 g/l đường; 7,5 g/l<br /> thạch; 10% nước dừa; 0,2 mg/l GA3 và nồng độ<br /> từ 0,5-1,5 mg/l BA. Mỗi công thức có 12 túi,<br /> mỗi túi cấy 4 mẫu. Túi nuôi cấy được đặt trong<br /> phòng thí nghiệm có cường độ chiếu sáng 2000<br /> lux, thời gian chiếu sáng là 12 giờ/ngày, nhiệt<br /> độ phòng 24±2oC, độ ẩm phòng 60±5%. Chỉ<br /> tiêu theo dõi sau 30 ngày nuôi cấy là: tỷ lệ mẫu<br /> tạo chồi, số chồi/mẫu, chiều cao chồi.<br /> Thí nghiệm 3. Nghiên cứu ảnh hưởng của IBA<br /> và NAA lên khả năng tạo rễ và tăng trưởng của<br /> chồi ba giống sâm bố chính có hoa màu vàng,<br /> đỏ và hồng<br /> Các chồi in vitro của cây sâm bố chính được<br /> chọn từ các công thức tốt nhất ở thí nghiệm 2 có<br /> kích thước 4,5±0,2 cm. Sau đó, mẫu được cấy<br /> vào túi nylon (kích thước 15×22 cm) chứa 65<br /> ml môi trường MS có bổ sung vitamin Morel;<br /> 20 g/l đường; 7,5 g/l thạch; nồng độ từ 0-1,5<br /> mg/l IBA tương ứng với nồng độ từ 0-1,5 mg/l<br /> NAA. Túi nuôi cấy được đặt trong phòng thí<br /> nghiệm có cường độ chiếu sáng 2.000 lux, thời<br /> gian chiếu sáng là 12 giờ/ngày, nhiệt độ phòng<br /> 24±2oC, độ ẩm phòng 60±5%. Chỉ tiêu theo dõi<br /> sau 30 ngày nuôi cấy là: tỷ lệ chồi ra rễ, số<br /> rễ/chồi, chiều dài rễ, chiều cao cây, số lá/cây.<br /> Phương pháp phân tích số liệu<br /> <br /> về tỷ lệ nảy mầm của hạt giữa các công thức đạt<br /> cao nhất 23,6%. Cụ thể, nếu hạt cùng được<br /> ngâm với thời gian 120 phút và nuôi cấy 30<br /> ngày trong dung dịch có nồng độ 10 mg/l và 30<br /> mg/l GA3, tỷ lệ nảy mầm của hạt lần lượt là<br /> 30,2% và 53,8%. Kết quả cho thấy, việc bổ<br /> sung GA3 vào môi trường để tăng tỷ lệ này<br /> mầm của hạt là hợp lý. Hạt được ngâm trong<br /> cùng dung dịch 10, 20 hoặc 30 mg/l GA3 và thời<br /> gian 60 hoặc 120 phút, sau 15, 30 và 45 ngày<br /> nuôi cấy, tỷ lệ nảy mầm của hạt đạt cao nhất lần<br /> lượt đạt 35,8%; 53,8% và 55,6%. Tuy nhiên, tỷ<br /> lệ nảy mầm của hạt từ ngày nuôi cấy thứ 30 đến<br /> 45 chỉ tăng 1,8%, điều này cho thấy, không cần<br /> thiết dài thời gian nuôi cấy. Khi hạt được ngâm<br /> trong cùng dung dịch có nồng độ 10, 20 hoặc 30<br /> mg/l GA3 và nuôi cấy 15, 30 hoặc 45 ngày, sau<br /> 60 phút hoặc 120 phút ngâm hạt, sự chênh lệch<br /> tỷ lệ hạt nảy mầm của hai mức thời gian này cao<br /> nhất đạt 8,5%. Kết quả này tương tự với kết quả<br /> Sunil (2010) [11] khi nghiên cứu ảnh hưởng của<br /> GA3 lên sự nảy mầm của hạt Pyracantha<br /> crenulata đã kết luận, khi ngâm hạt trong dung<br /> dịch 250 mg/l GA3 với thời gian 24 giờ, tỷ lệ<br /> nảy mầm đạt 68%. Khi nghiên cứu sự nảy mầm<br /> của hạt cây Asparagus sprengeri, Dhoran et al.<br /> (2012) [1] cho biết, nếu ngâm hạt trong dung<br /> dịch GA3 và đặt trong điều kiện tối thì chỉ cần<br /> 13 ngày, hạt sẽ nảy mầm, nhưng phải mất 17<br /> ngày hạt mới nảy mầm nếu ngâm trong dung<br /> dịch IBA hoặc IAA hoặc NAA có cùng nồng độ<br /> và đặt trong điều kiện tối.<br /> <br /> Các số liệu được phân tích thống kê bằng<br /> phần mềm MSTATC phiên bản 2.10 của Đại<br /> học Michigan, Hoa Kỳ. Trong thí nghiệm các<br /> công thức được phân hạng theo Duncan’s<br /> Multiple Range Test với mức p ≤ 0,01.<br /> KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> <br /> Ảnh hưởng GA3 lên khả năng nảy mầm của<br /> hạt sâm bố chính hoa vàng<br /> Kết quả thống kê trình bày ở hình 1 cho<br /> thấy, tỷ lệ nảy mầm của hạt phụ thuộc rất lớn<br /> vào nồng độ dung dịch GA3, thời gian nuôi cấy<br /> và thời gian ngâm hạt. Trong cùng một thời<br /> gian ngâm hạt là 60 hoặc 120 phút và thời gian<br /> nuôi cấy là 15, 30 hoặc 45 ngày, khi tăng nồng<br /> độ dung dịch GA3 thêm 20 mg/l sự chênh lệch<br /> <br /> Hình 1. Ảnh hưởng GA3 lên khả năng nảy mầm<br /> của hạt Sâm Bố Chính hoa màu vàng<br /> Ảnh hưởng của BA, nước dừa, GA3 lên khả<br /> năng bật chồi của ba giống sâm bố chính có<br /> hoa màu vàng, đỏ và hồng<br /> <br /> 267<br /> <br /> TẠP CHÍ SINH HỌC 2014, 36(1se): 266-271<br /> <br /> Bảng 1. Ảnh hưởng của BA, nước dừa, GA3 lên khả năng bật chồi của ba giống sâm bố chính có<br /> hoa màu vàng, đỏ và hồng sau 30 ngày nuôi cấy<br /> Màu hoa của Nồng độ BA<br /> Tỷ lệ mẫu tạo<br /> Chiều cao<br /> Công thức<br /> Số chồi/mẫu<br /> giống<br /> (mg/l)<br /> chồi (%)<br /> chồi (mm)<br /> VB0,5<br /> Vàng<br /> 0,5<br /> 100<br /> 1,1iy<br /> 21,2i<br /> ĐB0,5<br /> Đỏ<br /> 0,5<br /> 100<br /> 1,3h<br /> 24,5g<br /> g<br /> HB0,5<br /> Hồng<br /> 0,5<br /> 100<br /> 1,5<br /> 23,1h<br /> c<br /> VB1,0<br /> Vàng<br /> 1,0<br /> 100<br /> 3,4<br /> 42,5c<br /> b<br /> ĐB1,0<br /> Đỏ<br /> 1,0<br /> 100<br /> 4,2<br /> 62,9a<br /> a<br /> HB1,0<br /> Hồng<br /> 1,0<br /> 100<br /> 58,1b<br /> 4,5<br /> f<br /> VB1,5<br /> Vàng<br /> 1,5<br /> 100<br /> 2,3<br /> 28,5f<br /> e<br /> ĐB1,5<br /> Đỏ<br /> 1,5<br /> 100<br /> 2,6<br /> 30,3d<br /> d<br /> HB1,5<br /> Hồng<br /> 1,5<br /> 100<br /> 2,8<br /> 29,6e<br /> Z<br /> ANOVA<br /> CĐHST<br /> NS<br /> **<br /> **<br /> GIONG<br /> NS<br /> **<br /> **<br /> CĐHST x GIONG<br /> NS<br /> **<br /> **<br /> CV (%)<br /> 00<br /> 3,01<br /> 0,5<br /> z:<br /> **, NS: Khác biệt có ý nghĩa ở mức P≤0,01 hoặc không có sự khác biệt; y: Các giá trị trong cột có<br /> cùng chữ cái không có sự khác biệt theo trắc nghiệm phân hạng Duncan’s Multiple Range Test.<br /> Kết quả trình bày ở bảng 1 cho thấy,<br /> số chồi/mẫu và chiều cao chồi chịu sự tác động<br /> lớn của nồng độ BA và giống sâm bố chính.<br /> Giữa công thức sử dụng 1 mg/l BA hệ số nhân<br /> chồi 3,4-4,5 chồi/mẫu, cao hơn so với công<br /> thức sử dụng 0,5 mg/l BA 1,1-1,5 chồi/mẫu<br /> hay 1,5 mg/l BA 2,3-2,8 chồi/mẫu. Chiều cao<br /> chồi đạt cao nhất ở các công thức có nồng độ<br /> BA 1,0 mg/l 32,5-62,9 mm. Điều này<br /> cho thấy, sử dụng 1 mg/l BA phối hợp<br /> với nước dừa 10% được bổ sung vào môi<br /> trường nuôi cấy giúp gia tăng hệ số nhân chồi<br /> là phù hợp nhất. Tuy nhiên, tiếp tục tăng<br /> nồng độ BA lên 1,5 mg/l gây ức chế sự hình<br /> thành chồi (hình 1). Kết quả này có hệ số nhân<br /> chồi thấp hơn so với nghiên cứu của<br /> Samanthi et al. (2004) [8]. Lithy et al. (2011)<br /> [4] khi tiến hành nghiên cứu nhân giống in<br /> vitro từ các mảnh lá của cây mầm<br /> Abelmoschus moschatus cũng cho kết quả<br /> tương tự. Khi nồng độ BA thích hợp (1,0 mg/l)<br /> sẽ kích thích sự kéo dài chồi, nếu tăng quá<br /> ngưỡng thích hợp sẽ ức chế sự kéo dài chồi.<br /> Bên cạnh đó, việc bổ sung GA3 giúp gia tăng<br /> đáng kể chiều cao chồi, nhờ chức năng giãn dài<br /> tế bào của GA3 [9].<br /> <br /> 268<br /> <br /> Hình 2. Chồi cây sâm bố chính in vitro ở ngày<br /> thứ 30. V, Đ, H bên trái tượng trưng cho hoa<br /> vàng, hoa đỏ, hoa hồng; B tượng trưng cho BA;<br /> số tượng trưng cho nồng độ sử dụng mg/l.<br /> <br /> Phan Duy Hiep et al.<br /> <br /> Trong ba giống, giống hoa màu hồng có hệ<br /> số nhân chồi cao nhất (4,5 chồi), nhưng giống<br /> hoa màu đỏ lại có chiều cao chồi lớn nhất (62,9<br /> mm). Giống hoa màu hồng có hệ số nhân chồi<br /> cao hơn hai giống còn lại có thể do đặc tính của<br /> giống này tốt hơn. Giống hoa màu đỏ có chiều<br /> cao chồi cao hơn giống hoa màu vàng có thể do<br /> khả năng hấp thu và sinh trưởng của giống này<br /> tốt hơn. Giống hoa màu đỏ có số lượng chồi ít<br /> hơn giống hoa màu hồng đã giúp chúng tập<br /> trung nhiều dinh dưỡng hơn vào sự sinh trưởng<br /> của chồi nhờ đó chồi cao hơn. Tỷ lệ mẫu bật<br /> chồi ở các công thức như nhau (100%) cho<br /> thấy, cây sâm bố chính dễ bật chồi trong môi<br /> trường nuôi cấy có bổ sung BA (hình 2).<br /> Ảnh hưởng của IBA và NAA lên khả năng<br /> tạo rễ và tăng trưởng của chồi ba giống sâm<br /> bố chính có hoa màu vàng, đỏ và hồng<br /> <br /> Tỷ lệ chồi tạo rễ, số rễ trên chồi, chiều dài<br /> rễ, chiều cao cây, số lá trên cây đều đạt cao nhất<br /> (bảng 2) (lần lượt là: 100%; 6,6 rễ; 32,8 mm;<br /> 105,0 mm; 10,6 lá) ở công thức sử dụng 0,5<br /> mg/l IBA kết hợp 0,5 mg/l NAA; ở gốc chồi sự<br /> hình thành mô sẹo không đáng kể và cây sinh<br /> trưởng phát triển tốt. Nồng độ IBA và NAA<br /> được tăng lên trên 1 mg/l đã làm gia tăng sự<br /> hình thành mô sẹo ở gốc chồi nên làm giảm khả<br /> năng hấp thu chất dinh dưỡng của cây. Điều này<br /> dẫn đến ngăn cản sự hình thành rễ hoặc rễ được<br /> hình thành bị biến dạng tại những vị trí đó. Kết<br /> quả cho thấy, tổ hợp 0,5 mg/l IBA với 0,5 mg/l<br /> NAA thích hợp nhất cho sự hình thành rễ và<br /> tăng trưởng của cây sâm bố chính (hình 3). Kết<br /> quả nghiên cứu tương tự của Lean et al. (1992)<br /> [5] trên cây Hibiscus cannabinus, nhưng số rễ ít<br /> hơn kết quả nghiên cứu của Soulange et al.<br /> (2004) [10] trên cây Hibiscus sabdariffa.<br /> <br /> Bảng 2. Ảnh hưởng của IBA và NAA lên khả năng tạo rễ và tăng trưởng của chồi ba giống sâm bố<br /> chính có hoa màu vàng, đỏ và hồng sau 30 ngày nuôi cấy<br /> Nồng<br /> Màu<br /> Nồng<br /> Chiều<br /> Chiều<br /> độ<br /> Tỷ lệ chồi<br /> Số rễ/<br /> Số<br /> Công thức hoa của độ IBA<br /> dài rễ cao cây<br /> NAA<br /> tạo rễ (%)<br /> chồi<br /> lá/cây<br /> giống<br /> (mg/l)<br /> (mm)<br /> (mm)<br /> (mg/l)<br /> jy<br /> i<br /> h<br /> VI0N0<br /> Vàng<br /> 0<br /> 0<br /> 30,7<br /> 1,1<br /> 13,4<br /> 80,6h<br /> 5,6i<br /> h<br /> h<br /> e<br /> g<br /> ĐI0N0<br /> Đỏ<br /> 0<br /> 0<br /> 34,6<br /> 1,7<br /> 14,6<br /> 82,7<br /> 6,4h<br /> HI0N0<br /> Hồng<br /> 0<br /> 0<br /> 35,2g<br /> 1,8h<br /> 14,7e<br /> 84,2f<br /> 6,7g<br /> a<br /> c<br /> c<br /> c<br /> VI0,5N0,5<br /> Vàng<br /> 0,5<br /> 0,5<br /> 100,0<br /> 3,8<br /> 23,6<br /> 99,8<br /> 8,2d<br /> a<br /> b<br /> b<br /> b<br /> ĐI0,5N0,5<br /> Đỏ<br /> 0,5<br /> 0,5<br /> 100,0<br /> 4,6<br /> 24,7<br /> 102,3<br /> 9,2b<br /> a<br /> a<br /> a<br /> a<br /> HI0,5N0,5<br /> Hồng<br /> 0,5<br /> 0,5<br /> 100,0<br /> 6,6<br /> 32,8<br /> 105,0<br /> 10,6a<br /> d<br /> e<br /> fg<br /> j<br /> VI1N1<br /> Vàng<br /> 1,0<br /> 1,0<br /> 67,2<br /> 3,1<br /> 14,2<br /> 67,6<br /> 5,4j<br /> c<br /> d<br /> d<br /> e<br /> ĐI1N1<br /> Đỏ<br /> 1,0<br /> 1,0<br /> 72,8<br /> 3,3<br /> 15,3<br /> 88,9<br /> 8,3cd<br /> b<br /> c<br /> d<br /> d<br /> HI1N1<br /> Hồng<br /> 1,0<br /> 1,0<br /> 73,5<br /> 3,8<br /> 15,4<br /> 90,7<br /> 8,4c<br /> g<br /> g<br /> i<br /> k<br /> VI1,5N1,5<br /> Vàng<br /> 1,5<br /> 1,5<br /> 47,5<br /> 2,2<br /> 11,3<br /> 60,1<br /> 5,2k<br /> f<br /> f<br /> g<br /> i<br /> ĐI1,5N1,5<br /> Đỏ<br /> 1,5<br /> 1,5<br /> 51,7<br /> 2,4<br /> 14,0<br /> 80,2<br /> 7,0f<br /> e<br /> f<br /> f<br /> g<br /> HI1,5N1,5<br /> Hồng<br /> 1,5<br /> 1,5<br /> 52,2<br /> 2,5<br /> 14,3<br /> 82,9<br /> 7,9e<br /> Z<br /> ANOVA<br /> CDHST<br /> **<br /> **<br /> **<br /> **<br /> **<br /> GIONG<br /> **<br /> **<br /> **<br /> **<br /> **<br /> CĐHST x GIONG<br /> **<br /> **<br /> **<br /> **<br /> **<br /> CV (%)<br /> 0,27<br /> 2,04<br /> 0,53<br /> 0,19<br /> 0,99<br /> Chú thích: như bảng 1.<br /> <br /> Các chỉ tiêu theo dõi ở giống hoa màu hồng<br /> cao nhất, đến giống hoa màu đỏ và thấp nhất ở<br /> giống hoa màu vàng. Giống hoa màu hồng có số<br /> rễ/chồi đạt cao nhất 6,6 rễ, cao hơn so với giống<br /> <br /> màu đỏ, chỉ đạt 4,6 rễ và giống màu vàng 3,8 rễ,<br /> sự phát triển rễ mạnh giúp cho cây tăng khả<br /> năng hấp thu chất dinh dưỡng từ môi trường. Vì<br /> vậy, cây sâm bố chính hoa màu hồng sinh<br /> 269<br /> <br /> TẠP CHÍ SINH HỌC 2014, 36(1se): 266-271<br /> <br /> trường tốt hơn hai giống còn lại nên các chỉ tiêu<br /> theo dõi như chiều cao cây, số lá/cấy cũng cao<br /> hơn.<br /> <br /> Việt Nam. Nxb. Trẻ, 105-115.<br /> 4. Lithy S. S., Lisa S. F., Azam F. M. S.,<br /> Rahman S., Noor F. A., Sintaha M., Paul A.<br /> K., Rahmatullah M., 2011. In vitro<br /> Propagation from cotyledonary nodes of<br /> germinated seedlings of Abelmoschus<br /> moschatus. American-Eurasian Journal of<br /> Sustainable Agriculture, 5(3): 364-370.<br /> 5. McLean K. S., Lawrence G. W., Reichert N.<br /> A., 1992. Callus induction and adventitious<br /> organogenesis<br /> of<br /> Kenaf<br /> (Hibiscus<br /> cannabinus L.). Plant Cell Rep., 11: 532534.<br /> <br /> Hình 3. Cây sâm bố chính in vitro ở ngày thứ 30<br /> V, Đ, H bên trái tượng trưng cho hoa vàng, hoa đỏ,<br /> hoa hồng; I tượng trưng cho IAA; N tượng trưng cho<br /> NAA; Số tượng trưng cho nồng độ sử dụng mg/l.<br /> KẾT LUẬN<br /> <br /> Điều kiện thích hợp nhất cho sự nảy mầm<br /> của hạt sâm bố chính hoa màu vàng là ngâm hạt<br /> trong dung dịch 30 mg/l GA3 trong thời gian<br /> 120 phút trước và được khử trùng bằng dung<br /> dịch HgCl2 5‰. Môi trường thích hợp nhất cho<br /> hệ số nhân chồi cao là môi trường MS có bổ<br /> sung 10% nước dừa; 0,2 mg/l GA3 và 1,0 mg/l<br /> BA. Sự hình thành rễ của các giống sâm bố<br /> chính tốt nhất ở điều kiện in vitro khi được nuôi<br /> cấy trong môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l IBA<br /> kết hợp 0,5 mg/l NAA.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> <br /> 1. Dhoran V. S., Gudadhe S. P., 2012. Effect<br /> of plant growth regulators on seed<br /> germination and seedling vigour in<br /> Asparagus sprengeri Regel. International<br /> Res. J. Bio. Sci., 1(7): 6-10.<br /> 2. Phạm Hoàng Hộ, 1999. Cây cỏ Việt Nam.<br /> Nxb. Trẻ, 516-532.<br /> 3. Phạm Hoàng Hộ, 2003. Cây có vị thuốc ở<br /> <br /> 270<br /> <br /> 6. Murashige T., Skoog F., 1962. A revised<br /> medium for a rapid growth and bioassay<br /> with tobacco tissue culture. Physiol. Plant,<br /> 15: 473-497.<br /> 7. Renu S., Anwar S., 2008. Thidiazuran<br /> (TDZ)<br /> Induced<br /> regeneration<br /> from<br /> cotyledonary node explant of Abelmoschus<br /> moschatus Medik. L., (A Valuable<br /> Medicinal Plant). World Journal of<br /> Agricultural Sciences, 4(4): 449-452.<br /> 8. Samanthi P. H., Takayuki S., Hattori K.,<br /> 2004. Multiple shoot regeneration from<br /> young shoots of Kenaf (Hibiscus<br /> cannabinus L.). Plant Cell Tiss. Org., 77:<br /> 49-53.<br /> 9. Sauter M., Kende H., 1992. Gibberellininduced growth and regulation of the cell<br /> division cycle in deepwater rice. Planta,<br /> 188: 362-368.<br /> 10. Soulange G. J., Boodia N., Dussooa C.,<br /> Gunowa R., Deensah S., Facknath S.,<br /> Rajkomar B., 2009. Vegetative propagation<br /> and tissue culture regeneration of Hibiscus<br /> sabdariffa L. (Roselle). World Journal of<br /> Agricultural Sciences, 5(5): 651-661.<br /> 11. Sunil C. J., 2010. Effect of GA3 on seed<br /> germination of Pyracantha crenulata (D.<br /> Don.) M. Roem Sunil Chandra Joshi,<br /> Debarati, Preeti, S.S. Parihar and HCS Negi.<br /> New York Science Journal, 3(9): 55-57.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản