intTypePromotion=1

Nghiên cứu bào chế thử nghiệm, đánh giá độ an toàn và tác dụng của chế phẩm thảo dược trong phòng trị bệnh phân trắng lợn con

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
31
lượt xem
2
download

Nghiên cứu bào chế thử nghiệm, đánh giá độ an toàn và tác dụng của chế phẩm thảo dược trong phòng trị bệnh phân trắng lợn con

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chế phẩm thảo dược phòng trị tiêu chảy (PTTC) được bào chế trên cơ sở sự kết hợp hài hòa của 2 loại thảo dược là Mộc hương và Tô mộc cùng với bổ sung chất mật ong và tá dược vừa đủ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu bào chế thử nghiệm, đánh giá độ an toàn và tác dụng của chế phẩm thảo dược trong phòng trị bệnh phân trắng lợn con

Nguyễn Quang Tính<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 85(09)/1: 57 - 62<br /> <br /> NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ THỬ NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ ĐỘ AN TOÀN<br /> VÀ TÁC DỤNG CỦA CHẾ PHẨM THẢO DƯỢC TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH<br /> PHÂN TRẮNG LỢN CON<br /> Nguyễn Quang Tính*<br /> Trường ĐH Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Chế phẩm thảo dƣợc phòng trị tiêu chảy (PTTC) đƣợc bào chế trên cơ sở sự kết hợp hài hòa của 2<br /> loại thảo dƣợc là Mộc hƣơng và Tô mộc cùng với bổ sung chất mật ong và tá dƣợc vừa đủ. Đã thử<br /> tính kháng khuẩn của chế phẩm thảo dƣợc PTTC đối với vi khuẩn E. coli cũng nhƣ những vi<br /> khuẩn gây bệnh khác cho kết quả tốt nhƣ không bị vi khuẩn kháng lại, trong khi 2 loại kháng sinh<br /> Kanamycin và Amoxillin mặc dù dựa vào tác dụng dƣợc lý và phổ kháng sinh khá rộng nhƣng qua<br /> nhiều lần sử dụng đã bị các loại vi khuẩn trên kháng lại hay nói cách khác thuốc đã bị nhờn. Ở liều<br /> 0,3 ml/con và 0,5 ml/con thì tỷ lệ khỏi thấp chỉ là 20% và 60%. Trong khi liều 1 ml/con; 1,5<br /> ml/con, và 3 ml/con thì tỷ lệ khỏi đều đạt 100%.<br /> Đã sử dụng chế phẩm PTTC điều trị 66 lợn bị bệnh, khỏi là 62 con chiếm tỷ lệ 93,93%, t hời<br /> gian khỏi trung bình điều trị là 3,08 ± 0,3 ngày, số tái nhiễm lần 2 là 4 con, tỷ lệ tái nhiễm là<br /> 6,45% và thời gian điều trị khỏi trung bình lần 2 là 2,5 ngày và chế an có độ an toàn cao. Số<br /> con khỏi sau 2 lần điều trị là 66 với tỷ lệ 100%. Khi dùng thuốc Coli-norgent của công ty<br /> Vemedim cho kết quả kém hơn<br /> Từ khóa: Lợn con, tiêu chảy, chế phẩm thảo dược, kháng sinh, điều trị.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Tiêu chảy là hội chứng xảy ra ở hầu hết các<br /> loài vật nuôi và do nhiều nguyên nhân khác<br /> nhau gây ra có tính lây lan mạnh, tính kháng<br /> thuốc mạnh nên khó điều trị dứt điểm, gây tổn<br /> thất lớn cho ngƣời chăn nuôi và cũng là một<br /> trong những nguyên nhân làm tồn dƣ kháng<br /> sinh trong sản phẩm gây hậu quả xấu. Để<br /> khắc phục sự tồn dƣ kháng sinh này, thuốc<br /> Đông dƣợc có nhiều ƣu điểm hơn và có thể<br /> khắc phục đƣợc bằng các dƣợc liệu có khả<br /> năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc ruột.<br /> Sử dụng dƣợc liệu tăng khả năng đào thải các<br /> chất độc sau khi khỏi bệnh, thông qua đó sẽ<br /> làm giảm đƣợc sự tồn dƣ kháng sinh trong<br /> sản phẩm động vật là việc làm cần thiết đáp<br /> ứng đƣợc nhu cầu sản xuất và của ngƣời tiêu<br /> dùng. Việc sử dụng các sản phẩm có nguồn<br /> gốc thảo dƣợc để khắc phục sự tồn dƣ hoá<br /> dƣợc trong các sản phẩm động vật đã và đang<br /> tập trung sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học<br /> trên thế giới nhất là các nƣớc Châu Á nhƣ<br /> Trung Quốc, Ấn Độ... Mặc dù ngày càng có<br /> nhiều loại thuốc mới ra đời, nhƣng thuốc có<br /> nguồn gốc từ thiên nhiên vẫn có giá trị rất lớn<br /> trong phòng trị bệnh cho động vật.<br /> *<br /> <br /> Trong những năm gần đây khi dƣợc lý phân<br /> tử phát triển, khoa học lại chứng minh đƣợc<br /> một hợp chất thiên nhiên đã tồn tại nhiều năm<br /> trong tế bào sống (động vật hoặc thực vật),<br /> khi đƣợc phân lập và sử dụng để điều trị bệnh<br /> nghĩa là lại chuyển nó vào tế bào sống, nó có<br /> khả năng dung nạp tốt và ít có tác dụng phụ<br /> hơn các chất tổng hợp hoá học có bản chất<br /> tƣơng tự. Từ xa xƣa nhân dân ta đã áp dụng<br /> các bài thuốc thảo mộc để chữa trị bệnh cho<br /> vật nuôi. Và có thể nói, lịch sử của quá trình<br /> sử dụng thuốc thảo mộc trong thú y trƣớc đây<br /> là lịch sử kinh nghiệm mang tính truyền<br /> miệng (Phạm Khắc Hiếu, 1995). Thuốc có<br /> nguồn gốc từ thảo mộc thƣờng dễ kiếm, quy<br /> trình bào chế đơn giản, giá thành rẻ, dễ sử<br /> dụng, ít gây độc hại, có hiệu quả cao. Ƣu<br /> điểm nổi bật của thuốc Đông dƣợc là không<br /> để lại chất tồn dƣ có hại trong các sản phẩm<br /> động vật nuôi. Trong số các dƣợc liệu quý để<br /> điều trị tiêu chảy phải kể tới Mộc Hƣơng và<br /> Tô Mộc, đó là những cây thảo mộc có nhiều<br /> tác dụng tốt. Từ những vấn đề trên chúng tôi<br /> tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bào<br /> chế thử nghiệm, đánh giá độ an toàn và tác<br /> dụng của chế phẩm thảo dược trong phòng<br /> trị bệnh phân trắng lợn con”.<br /> <br /> Tel: 0988 675651<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 57<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Quang Tính<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP<br /> THÍ NGHIỆM<br /> Nguyên liệu<br /> Chế phẩm thảo dƣợc PTLC đƣợc bào chế từ<br /> hai cây Tô Mộc và Mộc Hƣơng có thêm mật<br /> ong và tá dƣợc vừa đủ; Kháng sinh và hoá<br /> dƣợc: Thuốc Coli-norgent của công ty<br /> Vemedim, thành phần gồm 12.500,00 UI<br /> colistin, 2g norfloxacin, 1g gentamicin và 1g<br /> trimethioprin trong 100g bột; Đối tƣợng động<br /> vật điều trị: Lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến<br /> 21 ngày tuổi bị bệnh PTLC, chuột nhắt trắng<br /> có khối lƣợng từ 18 -20g khỏe mạnh, đủ điều<br /> kiện thí nghiệm<br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Nghiên cứu theo dõi tác dụng phòng trị bệnh<br /> của chế phẩm từ cây Tô Mộc và cây Mộc<br /> Hƣơng theo phƣơng pháp dƣợc lý thực<br /> nghiệm trong từ điển Bách khoa dƣợc học,<br /> 1999 và Dƣợc điển Việt Nam, 2002; Phƣơng<br /> pháp bào chế thuốc theo giáo trình “Bào chế<br /> đông dƣợc, 2002”, giáo trình “Dƣợc học cổ<br /> truyền, 2002” của trƣờng ĐH Dƣợc Hà Nội,<br /> Thuốc đông y về cách sử dụng - bào chế - bảo<br /> quản (Nguyễn Đức Toàn, 2002) và Kỹ thuật<br /> chế biến và bào chế thuốc cổ truyền (Phạm<br /> Xuân Sinh, 2006).<br /> <br /> 85(09)/1: 57 - 62<br /> <br /> Chế phẩm thảo dƣợc PTTC là chế phẩm đƣợc<br /> bào chế từ 2 cây Mộc Hƣơng và Tô Mộc có<br /> thêm thành phần là mật ong và tá dƣợc vừa đủ<br /> dƣới dạng siro. Thử nghiệm độ an toàn trên<br /> chuột thí nghiệm tại khoa Chăn nuôi -Thú y,<br /> Trƣờng ĐH Nông Lâm Thái Nguyên; Phòng<br /> và điều trị cho lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến<br /> 21 ngày tuổi bị PTTC tại trang trại Trần Thị<br /> Nga - Hiệp Hoà - Bắc Giang; Phân tích thành<br /> phần định tính của Tô mộc và Mộc hƣơng có<br /> nguồn gốc từ Thái Nguyên và Cao Bằng tại<br /> Bộ môn Dƣợc liệu - Trƣờng Đại học Y Dƣợc<br /> – ĐH Thái Nguyên.<br /> Phương pháp sử dụng thống kê toán học<br /> Các số liệu thu đƣợc từ thí nghiệm và thực tế<br /> phòng trị đƣợc xử lý thống kê theo phƣơng<br /> pháp thí nghiệm trong chăn nuôi của Nguyễn<br /> Văn Thiện (2000) và phần mềm Microsft<br /> office Exel 2003.<br /> KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> Kết quả bào chế thử nghiệm chế phẩm<br /> PTTC<br /> Chế phẩm PTTC đƣợc chúng tôi bào chế tại<br /> phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y<br /> của Trƣờng Đại học Nông Lâm – ĐH Thái<br /> Nguyên với các thành phần và khối lƣợng<br /> đƣợc thể hiện trong bảng 2.<br /> <br /> Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm<br /> Số Lợn TN<br /> (con)<br /> <br /> Giai đoạn<br /> (ngày tuổi)<br /> <br /> 25<br /> 25<br /> <br /> 1-7<br /> <br /> 32<br /> 23<br /> <br /> 8 - 14<br /> <br /> 19<br /> 17<br /> <br /> 15- 21<br /> <br /> Thuốc<br /> Thí nghiệm 1<br /> Siro thảo dƣợc<br /> Coli-norgent<br /> Thí nghiệm 2<br /> Siro thảo dƣợc<br /> Coli-norgent<br /> Thí nghiệm 3<br /> Siro thảo dƣợc<br /> Coli-norgent<br /> <br /> Liều: ml/kgP/lần<br /> (2lần/ngày)<br /> <br /> Lô TN<br /> <br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Lô 1<br /> <br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Lô 2<br /> <br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Lô 3<br /> <br /> Bảng 2. Thành phần chính của chế phẩm thảo mộc PTTC<br /> STT<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> <br /> Vị thuốc<br /> Tô Mộc<br /> Mộc Hƣơng<br /> Mật ong + tá dƣợc<br /> Chế phẩm PTTC<br /> <br /> Đơn vị tính<br /> Kg<br /> Kg<br /> Lít<br /> Lít<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> Thể tích hoặc khối lượng<br /> 1<br /> 1<br /> 0.25<br /> 1<br /> <br /> 58<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Quang Tính<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Nhận xét: Cứ sử dụng: 1kg Tô Mộc + 1kg Mộc<br /> Hƣơng + 0.25 lít Mật Ong + Tá dƣợc sẽ tạo ra<br /> đƣợc 1 lít chế phẩm PTTC. Vậy giá thành của mỗi<br /> <br /> 85(09)/1: 57 - 62<br /> <br /> lít chế phẩm PTTC sẽ là: 155.000 đ tại thời điểm<br /> nghiên cứu.<br /> <br /> Kết quả thử nghiệm độ an toàn của chế phẩm PTTC trên chuột thí nghiệm<br /> Bảng 2. Kết quả theo dõi độ an toàn của thuốc trên chuột thí nghiệm<br /> Lô thí nghiệm<br /> Chỉ tiêu<br /> Số con trong đàn (con)<br /> Liều lƣợng (ml)<br /> Số liều thuốc dùng<br /> Phản ứng trƣớc dùng<br /> thuốc<br /> Phản ứng sau dùng thuốc<br /> <br /> Lô 1<br /> <br /> Lô 2<br /> <br /> 3<br /> 0.2<br /> 5<br /> Khỏe mạnh,<br /> nhanh nhẹn<br /> Khỏe mạnh,<br /> nhanh nhẹn<br /> Tác dụng phụ<br /> Không<br /> Nhận xét: Khi tăng dần liều lƣợng thuốc PTTC ở<br /> các liều 0,2; 0,5; 0,1 lên chuột thì thấy rằng: Ở liều<br /> 0,2ml chuột hoàn toàn khỏe mạnh và không biểu<br /> hiện triệu chứng gì so với chuột ban đầu trƣớc khi<br /> dùng thuốc. Ở liều 0,5ml chuột khỏe mạnh, nhanh<br /> nhẹn, không xuất hiện phản ứng phụ, chuột béo<br /> hơn so với ban đầu. Ở liều 1ml chuột vẫn khỏe<br /> mạnh, phản ứng hơi chậm hơn do béo lên rõ ràng<br /> <br /> Lô 3<br /> <br /> 3<br /> 3<br /> 0.5<br /> 1<br /> 5<br /> 5<br /> Khỏe mạnh,<br /> Khỏe mạnh,<br /> nhanh nhẹn<br /> nhanh nhẹn<br /> Khỏe mạnh,<br /> Khỏe mạnh,<br /> nhanh nhẹn, béo lên<br /> nhanh nhẹn, béo lên<br /> Không<br /> Không<br /> và không xuất hiện phản ứng phụ. Vậy qua tổng<br /> kết ở các liều 0,2ml; 0,5ml; 1ml để thử nghiệm độ<br /> an toàn của chế phẩm PTTC ta thấy; Chuột hoàn<br /> toàn khỏe mạnh, nhanh nhẹn, có sự béo lên và<br /> tăng cân, không xuất hiện phản ứng phụ. Vì vậy<br /> có thể thấy chế phẩm PTTC có sự tin cậy về độ an<br /> toàn.<br /> <br /> Kết quả thử tính kháng khuẩn của chế phẩm thảo dược PTTC, Kanamycin và Amoxicilin<br /> Bảng 3. Nồng độ kháng khuẩn tối thiểu của chế phẩm PTTC, Kanamycin và Amoxicilin (µg/ml)<br /> Ký hiệu chủng vi khuẩn thử<br /> <br /> Chế phẩm PTLC<br /> <br /> E. coli chủng TCLC<br /> 813<br /> E. coli chủng PT<br /> 813<br /> E. coli chủng 205<br /> 813<br /> Salmonella chủng PTH<br /> 813<br /> Nhận xét: Chế phẩm thảo dƣợc PTTC đối với vi<br /> khuẩn E. coli TCLC cũng nhƣ những vi khuẩn gây<br /> bệnh khác đƣợc chúng tôi phân lập từ thực địa đều<br /> có nồng độ kháng khuẩn tối thiểu nhƣ nhau (MIC<br /> = 813 µg/ml) trong khi đó đối với kháng sinh<br /> Cotrimoxazol có tác dụng rất mạnh với vi khuẩn<br /> E. coli chuẩn (MIC = 8 µg/ml) nhƣng lại giảm đi<br /> với những vi khuẩn ở thực địa (813µg/ml). Đối<br /> Amoxicilin cũng gần nhƣ tƣơng tự tác dụng mạnh<br /> <br /> Kháng sinh & hoá dƣợc<br /> Kanamycin<br /> Amoxicilin<br /> 8<br /> 55<br /> 813<br /> 412<br /> 813<br /> 412<br /> 813<br /> 412<br /> với vi khuẩn E. coli chuẩn (MIC = 55 µg/ml)<br /> nhƣng lại giảm đi với những vi khuẩn ở thực địa<br /> (412µg/ml). Nhƣ vậy chế phẩm thảo dƣợc PTTC<br /> đã không bị vi khuẩn kháng lại, trong khi 2 loại<br /> kháng sinh trên mặc dù dựa vào tác dụng dƣợc lý<br /> và phổ kháng sinh khá rộng nhƣng qua nhiều lần<br /> sử dụng đã bị các loại vi khuẩn trên kháng lại hay<br /> nói cách khác thuốc đã bị nhờn.<br /> <br /> Kết quả điều tra lợn mắc bệnh tiêu chảy<br /> Bảng 4. Kết điều tra lợn con bị mắc tiêu chảy tại trại theo lứa tuổi<br /> STT<br /> 1<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> Số lợn con điều tra<br /> <br /> ĐVT<br /> con<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> Lô 1<br /> 316<br /> <br /> Số lô theo dõi<br /> Lô 2<br /> 432<br /> <br /> 59<br /> <br /> Lô 3<br /> 398<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Quang Tính<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 2<br /> <br /> Số lợn con mắc bệnh<br /> <br /> 3<br /> <br /> Tỷ lệ mắc bệnh<br /> <br /> 4<br /> <br /> Số lợn chết<br /> <br /> 5<br /> <br /> Tỷ lệ lợn con chết<br /> <br /> 85(09)/1: 57 - 62<br /> <br /> con<br /> <br /> 50<br /> <br /> 55<br /> <br /> 36<br /> <br /> %<br /> <br /> 15,8<br /> <br /> 12,7<br /> <br /> 9.04<br /> <br /> con<br /> <br /> 4<br /> <br /> 3<br /> <br /> 1<br /> <br /> %<br /> <br /> 1,26<br /> <br /> 0,7<br /> <br /> 0,25<br /> <br /> Kết quả điều tra lợn con mắc bệnh phân trắng theo các tháng trong năm<br /> Bảng 5. Kết quả điều tra lợn con tiêu chảy ở các tháng<br /> <br /> Tháng<br /> <br /> Tháng 9<br /> Tháng 10<br /> Tháng 11<br /> Tháng 12<br /> Tổng<br /> <br /> 01 - 07<br /> Số lợn Số lợn<br /> điều<br /> mắc<br /> tra<br /> bệnh<br /> (con)<br /> (con)<br /> 83<br /> 10<br /> 76<br /> 13<br /> 81<br /> 9<br /> 76<br /> 18<br /> 316<br /> 50<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> (% )<br /> 12,04<br /> 17,1<br /> 11,11<br /> 23,68<br /> 15.82<br /> <br /> Tuổi lợn (ngày)<br /> 08 - 14<br /> Số lợn Số lợn<br /> Tỷ lệ<br /> điều<br /> mắc<br /> (%)<br /> tra<br /> bệnh<br /> (con)<br /> (con)<br /> 102<br /> 12<br /> 11,76<br /> 112<br /> 14<br /> 12,5<br /> 109<br /> 13<br /> 10,92<br /> 100<br /> 16<br /> 16<br /> 432<br /> 55<br /> 12,7<br /> <br /> Nhận xét: Trong 1146 lợn con điều tra trong 4<br /> tháng và qua 3 giai đoạn tuổi ở cuối năm cho thấy:<br /> Ở giai đoạn 1-7 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm ở các tháng<br /> 9; 10; 11; 12 lần lƣợt là 12,04%; 17,1%; 11,11%;<br /> 23,68% và trung bình của 4 tháng là 15,82%. Ở<br /> giai đoạn 8-14 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm ở các tháng 9;<br /> 10; 11; 12 lần lƣợt là 11,76%; 12,50%; 10,92%;<br /> 16% và trung bình của 4 tháng là 12,70%. Ở giai<br /> đoạn 15-21 ngày tuổi tỷ lệ nhiễm ở các tháng 9;<br /> <br /> Số lợn<br /> điều<br /> tra<br /> (con)<br /> 89<br /> 95<br /> 91<br /> 133<br /> 398<br /> <br /> 14 – 21<br /> Số lợn<br /> mắc<br /> bệnh<br /> (con)<br /> 8<br /> 9<br /> 8<br /> 11<br /> 36<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> (% )<br /> 8,98<br /> 9,47<br /> 8,79<br /> 8,27<br /> 9.04<br /> <br /> 10; 11; 12 lần lƣợt là 8,98%; 9,47%; 7,790%;<br /> 8,27% và trung bình của 4 tháng là 9,04%. Nhƣ<br /> vậy có thể thấy ở các tháng không thể hiện rõ các<br /> tỷ lệ mắc bệnh khác nhau mà lại có sự thể hiện rõ<br /> ở các giai đoạn tuổi cụ thể. Ở giai đoan 1-7 ngày<br /> tuổi tỷ lệ mác là cao nhất 15,82%, tiếp theo là giai<br /> đoạn 8-14 ngày tuổi với tỷ lệ 12,7% và thấp nhất ở<br /> giai đoạn 15-21 ngày tuổi với tỷ lệ 9,04%.<br /> <br /> Xác định liều lượng thuốc phòng trị<br /> Bảng 6. Kết quả xác định liều lƣợng thích hợp trong phòng, trị bệnh của chế phẩm PTTC<br /> Liều lượng<br /> Số lợn thử<br /> Số lợn khỏi<br /> (ml)<br /> nghiệm<br /> (con)<br /> 0,3<br /> 5<br /> 1<br /> 0,5<br /> 5<br /> 3<br /> 1<br /> 5<br /> 5<br /> 1,5<br /> 5<br /> 5<br /> 3<br /> 5<br /> 5<br /> Nhận xét: Ở liều lƣợng 0,3 ml/con và 0,5 ml/con<br /> thì tỷ lệ khỏi thấp chỉ là 20% và 60%. Nhƣng ở<br /> các liều lƣợng 1 ml/con; 1,5 ml/con, và 3 ml/con<br /> <br /> Tỷ lệ khỏi<br /> Đánh giá hiệu quả<br /> (%)<br /> 20<br /> Kém<br /> 60<br /> Trung bình, yếu<br /> 100<br /> Tốt<br /> 100<br /> Tốt<br /> 100<br /> Tốt<br /> thì tỷ lệ khỏi đều đạt 100%. Nhƣng do hiệu quả<br /> kinh tế trong sử dụng thuốc mà ta sẽ chon ở liều<br /> lƣợng 1 ml/con.<br /> <br /> Kết quả phòng bệnh phân trắng lợn con bằng chế phẩm PTTC<br /> Bảng 7. Kết quả phòng bệnh PTLC bằng chế phẩm PTLC (liều =1/2 so trị)<br /> Diễn giải<br /> Số con theo dõi (con)<br /> Số con phòng bệnh (con)<br /> Số con mắc bệnh (con)<br /> Tỉ lệ mắc bệnh (%)<br /> <br /> Lô 1<br /> 43<br /> 43<br /> 2<br /> 4,65<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> Lô 2<br /> 41<br /> 41<br /> 4<br /> 9,75<br /> <br /> 60<br /> <br /> Lô 3<br /> 41<br /> 0<br /> 7<br /> 17,07<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Nguyễn Quang Tính<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Nhận xét: Khi sử dụng chế phẩm phòng, trị PTTC<br /> để phòng bệnh cho 43 lợn con thì có 2 con mắc<br /> bệnh chiếm tỷ lệ 4,65%. Khi sử dụng thuốc Colinorgent để phòng bệnh cho 41 lợn con thì có 4 con<br /> mắc bệnh chiếm tỷ lệ 9,75%. Và không phòng<br /> bệnh cho lợn con thì ở 41 con theo dõi có 7 con bị<br /> <br /> 85(09)/1: 57 - 62<br /> <br /> bệnh chiếm tỷ lệ 17,07%. Qua đây có thể kết luận<br /> rằng việc sử dụng chế phẩm phòng, trị PTLC để<br /> phòng bệnh cho lợn con là rất tốt, tốt hơn cả khi<br /> dùng thuốc Coli-norgent để phòng bệnh.<br /> <br /> So sánh tác dụng điều trị của chế phẩm PTTC với Nor-coligent<br /> Bảng 8. Kết quả điều trị bệnh PTLC bằng chế phẩm PTLC và thuốc Coli-Norgent<br /> STT<br /> Chỉ tiêu theo dõi<br /> 1<br /> Tổng số con điều trị<br /> 2<br /> Số con khỏi lần 1<br /> 3<br /> Tỷ lệ khỏi lần 1<br /> 4<br /> Thời gian khỏi lần 1<br /> 5<br /> Số lợn mắc lần 2<br /> 6<br /> Tỷ lệ mắc lần 2<br /> 7<br /> Số con khỏi lần 2<br /> 8<br /> Tỷ lệ khỏi lần 2<br /> 9<br /> Thời gian khỏi lần 2<br /> 10<br /> Số lợn khỏi sau 2 lần điều trị<br /> 11<br /> Tỷ lệ khỏi sau 2 lần điều trị<br /> Nhận xét: Khi dùng chế phẩm phòng, trị PTLC điều<br /> trị 66 con bị bệnh thì số khỏi là 62 con với tỷ lệ khỏi<br /> 93,93%, thời gian khỏi trung bình điều trị là 3,08 ± 0,3<br /> ngày. Sau đó số con tái nhiễm lần 2 là 4 con, tỷ lệ<br /> tái nhiễm là 6,45% và thời gian điều trị khỏi trung<br /> bình lần 2 là 2,5 ngày. Số con khỏi sau 2 lần điều<br /> trị là 66 với tỷ lệ 100%. Khi dùng thuốc Colinorgent của công ty Vemedim điều trị 65 con bị<br /> bệnh bị bệnh thì số khỏi là 58 con với tỷ lệ khỏi<br /> 89,2%, thời gian khỏi trung bình điều trị là 3,25 ±<br /> 0,3 ngày. Sau đó số con tái nhiễm lần 2 là 6 con,<br /> tỷ lệ tái nhiễm là 10,34% và thời gian điều trị khỏi<br /> trung bình lần 2 là 2,75 ngày. Số con khỏi sau 2<br /> lần điều trị là 66 với tỷ lệ 100%. Từ đó có thể kết<br /> luận rằng: Sử dụng chế phẩm phòng, trị PTLC cho<br /> hiệu quả tốt hơn nhƣng thời gian khỏi chậm hơn<br /> sử dụng thuốc Coli-norgent của công ty Vemedim.<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> ĐVT<br /> Con<br /> Con<br /> %<br /> Ngày<br /> Con<br /> %<br /> Con<br /> %<br /> Ngày<br /> con<br /> %<br /> <br /> PTLC<br /> 66<br /> 62<br /> 93,93<br /> 3,25 ± 0,3<br /> 4<br /> 6,45<br /> 4<br /> 100<br /> 2,75<br /> 66<br /> 100<br /> <br /> 61<br /> <br /> Coli-Norgent<br /> 65<br /> 58<br /> 89,2<br /> 3,08± 0,3<br /> 6<br /> 10,34<br /> 6<br /> 100<br /> 2,5<br /> 65<br /> 100<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2