intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu biến động sử dụng đất nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bằng tư liệu ảnh viễn thám

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

6
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phát triển nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An có thể dẫn đến những thay đổi không mong muốn về sử dụng đất và lớp phủ, đặc biệt là việc phá rừng ngập mặn để nuôi tôm. Bài viết trình bày nghiên cứu biến động sử dụng đất nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bằng tư liệu ảnh viễn thám.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu biến động sử dụng đất nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bằng tư liệu ảnh viễn thám

  1. NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT NUÔI TÔM NƯỚC LỢ TẠI HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN BẰNG TƯ LIỆU ẢNH VIỄN THÁM Bùi Đắc Thuyết Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Tóm tắt Phát triển nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An có thể dẫn đến những thay đổi không mong muốn về sử dụng đất và lớp phủ, đặc biệt là việc phá rừng ngập mặn để nuôi tôm. Do vậy, nghiên cứu này sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh Landsat để đánh giá nguồn gốc, biến động sử dụng đất nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2000 - 2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có trang trại nuôi tôm nước lợ tại vùng nghiên cứu năm 2000. Tuy nhiên, diện tích trang trại nuôi tôm nước lợ ở đây đã tăng lên 412,38 ha vào năm 2010 và 786,15 ha vào năm 2020. Mặc dù phần lớn đất chuyển đổi sang nuôi tôm là từ đất làm muối, đất nông nghiệp, đất trống hoặc những ao, đầm cải tạo thành ao nuôi tôm, một phần diện tích rừng ngập mặn cũng đã bị chặt phá, chuyển đổi sang nuôi tôm. Quy hoạch và quản lý chuyển đổi sử dụng đất sang nuôi tôm nước lợ là cần thiết nhằm tiến tới phát triển bền vững vùng ven biển tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Từ khóa: Nuôi tôm nước lợ; Biến động sử dụng đất; Rừng ngập mặn; Tư liệu ảnh Landsat. Abstract Investigate land use change related to coastal shrimp farming in Quynh Luu district, Nghe An province using remotely sensed data Rapid development of coastal shrimp farming in Quynh Luu district, Nghe An province may lead to unrecognized and undesirable changes of land cover, land use patterns, especially the conversion of mangrove forests to shrimp farms. This study therefore aims to investigate land use change related to coastal shrimp farming in Quynh Luu district, Nghe An province (2000 - 2020) using Landsat satellite data. The results showed that there was no shrimp farm established in the study area in 2000; however, the total area of coastal shrimp farms increased by 412,38 ha in 2010 and 786,15 ha in 2020. Although most of shrimp farms were established on land for salt production, agriculture land, bare grounds and waterways, a part of mangrove forests was converted to shrimp farms there. Planning and managing land use for coastal shrimp farming are required in order to move towards sustainable coastal development in Quynh Luu district, Nghe An province. Keywords: Coastal shrimp farming; Land use change; Mangrove forest; Landsat imagery. 1. Đặt vấn đề Nuôi tôm nước lợ ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể, cả về diện tích và sản lượng nuôi trong hai thập kỷ qua, đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế của đất nước, tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho cộng đồng cư dân ven biển cũng như tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Theo số liệu báo cáo của Tổng cục Thủy sản, diện tích nuôi tôm nước lợ ở nước ta năm 2020 là 742.483 ha với sản lượng thu hoạch đạt 900.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 3,7 tỷ USD. Việt Nam là một trong 05 quốc gia đứng đầu trên thế giới (Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Ecuador) về sản lượng tôm nuôi [1]. Cũng như nhiều tỉnh ven biển trong cả nước, nghề nuôi tôm nước lợ tại Nghệ An đã và đang phát triển mạnh mẽ, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân cũng như sự phát triển kinh 318 Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
  2. tế - xã hội của các địa phương ven biển. Các vùng nuôi tôm chính tập trung ở các huyện, thị như: Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Diễn Châu, Nghi Lộc và thành phố Vinh. Trong đó, huyện Quỳnh Lưu là một trong những địa phương có diện tích nuôi tôm lớn của tỉnh. Theo số liệu báo cáo của Chi cục Thủy sản Nghệ An, diện tích nuôi tôm nước lợ của toàn tỉnh năm 2020 là 2.234 ha, sản lượng tôm nuôi thu được khoảng 7.896 tấn. Như vậy, so với quy hoạch về “Phát triển thủy sản của tỉnh Nghệ An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt năm 2015 [2], diện tích nuôi tôm của tỉnh đã vượt xa so với quy hoạch (1.450 ha vào năm 2020) nhưng sản lượng tôm nuôi lại thấp hơn rất nhiều so với quy hoạch đề ra (10.000 tấn vào năm 2020). Điều này cho thấy, việc phát triển và chuyển đổi diện tích sử dụng đất trong nuôi tôm nước lợ tại Nghệ An đang không theo định hướng quy hoạch chung về phát triển thủy sản của tỉnh. Thực tế, một số bài viết đã phản ánh tình trạng người dân phá rừng ngập mặn, chuyển đổi sử dụng đất sang nuôi tôm nước lợ ở huyện Quỳnh Lưu trong thời gian vừa qua [3, 4, 5]. Do vậy, việc quản lý, đánh giá chuyển đổi sử dụng đất sang nuôi tôm nước lợ ở huyện Quỳnh Lưu nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung là hết sức cần thiết. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ viễn thám trong đánh giá nguồn gốc, biến động sử dụng đất, lớp phủ, thành lập các bản đồ chuyên đề đã và đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Dữ liệu viễn thám có tính chất đa thời gian, đa phổ, phủ trùm trên diện tích rộng nên có khả năng cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, tiết kiệm thời gian, công sức trong nghiên cứu đánh giá hiện trạng cũng như biến động sử dụng đất, lớp phủ trên mặt đất. Thực tế, dữ liệu ảnh viễn thám đã và đang được ứng dụng trong đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất liên quan đến nuôi tôm ven biển, đặc biệt, việc chuyển đổi từ rừng ngập mặn sang nuôi tôm nước lợ ở nước ta [6, 7]. Do vậy, nghiên cứu này sử dụng tư liệu ảnh Landsat đa thời gian nhằm đánh giá biến động sử dụng đất nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, góp phần vào việc quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên cũng như làm cơ sở cho việc quy hoạch tổng hợp vùng ven bờ tại huyện Quỳnh Lưu theo định hướng phát triển bền vững. 2. Phương pháp nghiên cứu 2.1. Địa điểm nghiên cứu Hình 1: Bản đồ địa điểm nghiên cứu của huyện Quỳnh Lưu và các xã nuôi tôm ven biển Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên, 319 bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
  3. Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (Hình 1), một trong những huyện có diện tích ao, đầm nuôi tôm nước lợ lớn nhất tỉnh. Các trại nuôi tôm tập trung ở các xã Quỳnh Bảng, Quỳnh Thanh, An Hòa, Quỳnh Lương,… dọc theo các lạch, sông, như: Sông Mai Giang, Sông Hầu và Sông Thái. 2.2. Dữ liệu sử dụng nghiên cứu Để đánh giá biến động sử dụng đất nuôi tôm ven biển tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat 5, Landsat 7 và Landsat 8 chụp tại vùng nghiên cứu được sử dụng (Bảng 1). Nguồn dữ liệu ảnh được thu thập từ cơ sở dữ liệu của USGS tại trang Web https:// earthexplorer.usgs.gov/. Bảng 1. Dữ liệu ảnh viễn thám Landsat được sử dụng trong nghiên cứu TT Mã số ảnh Path/ Row Ngày chụp Độ phân giải (m) 1 LE71270472000149SGS00 127/47 28/05/2000 30 x 30 2 LT51270472010056BKT00 127/47 25/02/2010 30 x 30 3 LC81270472020068LGN00 127/47 08/03/2020 30 x 30 Bên cạnh nguồn dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat, các nguồn dữ liệu khác như Google Earth, Google Maps, bản đồ số hay các thông tin sơ cấp liên quan đến hiện trạng nuôi tôm ven biển tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An cũng được thu thập, sử dụng. 2.3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu đã tiến hành thực địa khảo sát tại các vùng nuôi tôm ven biển ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vị trí một số điểm khảo sát được xác định tọa độ bằng thiết bị hệ thống định vị toàn cầu (Garmin GPS72). Đây là cơ sở cho việc phân loại, giải đoán ảnh. Hình 2: Các bước xử lý và phân tích dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat. 320 Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
  4. Phương pháp xử lý ảnh vệ tinh gồm các bước chính như sau: (i) thu thập dữ liệu ảnh và các bước tiền xử lý ảnh; (ii) phân tích giải đoán ảnh; (iii) xử lý sau phân loại và đánh giá độ chính xác của phương pháp phân loại; (iv) thành lập các bản đồ chuyên đề về sử dụng đất nuôi tôm ven biển tại khu vực nghiên cứu; (v) đánh giá biến động sử dụng đất nuôi tôm ven biển tại điểm nghiên cứu (Hình 2). Các phần mềm chuyên dụng như ENVI 5.2 hoặc ArcGIS10.2 được sử dụng để xử lý, phân tích ảnh và thành lập bản đồ sử dụng đất nuôi tôm ven biển tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Trong nghiên cứu này, các xã ven biển của huyện Quỳnh Lưu (Hình 1 và Hình 4) được tách triết từ các ảnh vệ tinh Landsat, để thực hiện các bước nghiên cứu, xử lý ảnh. Các chỉ số thực vật hay chỉ số chuẩn hóa khác biệt thực vật (NDVI) và chỉ số chuẩn hóa khác biệt về nước cải tiến (MNDWI) cũng được sử dụng trong phân loại ảnh. Bên cạnh phương pháp phân loại có kiểm định, phương pháp xử lý ảnh viễn thám bằng mắt (với sự hỗ trợ từ các dữ liệu thực địa, dữ liệu Google Earth, Google Maps) cũng được sử dụng trong giải đoán ảnh vùng nghiên cứu. Các lớp/đối tượng chính trong nghiên cứu này được mô tả ở Bảng 2. Bảng 2. Mô tả các lớp chính trong giải đoán ảnh vệ tinh ở khu vực nghiên cứu Lớp Mô tả khi giải đoán Trang trại nuôi tôm Dạng hình khối với các cấu trúc dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật của các ao nuôi tôm, bờ ao có phổ phản xạ mạnh, nước trong ao có màu xanh nhạt, bao gồm cả các ao, kênh chứa nước lớn và thường nằm gần các kênh, lạch cung cấp nước. Thực vật đất ngập nước Bao gồm cả rừng ngập mặn và thực vật trong vùng đất ngập nước nội địa. Màu xanh đậm, thường xuất hiện ở các bãi triều, ven các kênh, lạch, sông. Thủy vực Sông, kênh, lạch màu xanh nhạt, cấu trúc dạng dải, tông ảnh sẫm đến sáng. Khác Bao gồm: đất nông nghiệp (màu xanh lá do canh tác trồng cây, tông ảnh mịn); đất làm muối (bãi đất ướt, màu đục sẫm, cấu trúc gồm nhiều hình dạng chữ nhật dài hẹp, xen kẽ các kênh dẫn nước và các dải phản xạ mạnh của bờ); khu dân cư (màu trắng đốm, tôn ảnh sáng, xen kẽ nhiều cây xanh) và đất trống (hình dạng không cố định, màu trắng của đất khô, cát bồi hoặc nâu sẫm của đất ướt). Đánh giá nguồn gốc, biến động sử dụng đất nuôi tôm ven biển giữa các năm 2000, 2010 và 2020 được thực hiện bằng việc thiết lập ma trận biến động giữa các lớp sau phân loại và so sánh theo cặp điểm ảnh (pixel-by-pixel) để xác định vùng đã chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang nuôi tôm nước lợ. 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1. Phân loại sử dụng đất tại vùng nghiên cứu từ tư liệu ảnh vệ tinh Landsat Kết quả phân tích ảnh vệ tinh Landsat theo các lớp đất sử dụng (nuôi tôm nước lợ, thực vật đất ngập nước, thủy vực, các đối tượng khác) được trình bày ở Hình 3. Kết quả đánh giá độ chính xác từ ảnh phân loại năm 2020 cho thấy, độ chính xác chung đạt 84,1 % và hệ số Kappa là 0,7976 cho thấy, phương pháp áp dụng và kết quả phân loại trong nghiên cứu này là đáng tin cậy. Qua phân tích tư liệu ảnh vệ tinh Landsat năm 2000, 2010 và 2020 cho thấy, không có trang trại nuôi tôm nước lợ nào tại khu vực nghiên cứu năm 2000 (Hình 3a). Tuy nhiên, diện tích nuôi tôm nước lợ tại đây đã tăng lên đáng kể trong các năm 2010 và 2020 (Hình 3 b, c). Tổng diện tích đất sử dụng của các trang trại nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu năm 2010 là 412,38 ha, tập trung ở các xã Quỳnh Bảng, Quỳnh Thanh, Quỳnh Lương và An Hòa. Năm 2020, tổng diện tích đất sử dụng của các trang trại nuôi tôm nước lợ trên toàn huyện đã tăng lên gần gấp đôi (786,15 ha) và các trang trại nuôi tôm phát triển thêm ở nhiều xã ven biển khác (như Quỳnh Thọ, Quỳnh Hưng, Quỳnh Diện, Quỳnh Thuận,…) so với năm 2010. Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên, 321 bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
  5. Hình 3: Bản đồ sử dụng đất nuôi tôm ven biển tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo dữ liệu ảnh Landsat: (a) năm 2000, (b) năm 2010 và (c) năm 2020 3.2. Đánh giá biến động sử dụng đất nuôi tôm ven biển tại huyện Quỳnh Lưu Kết quả phân tích ảnh vệ tinh Landsat 2000 và 2010 cho thấy, trong tổng 412,38 ha trang trại nuôi tôm tại Quỳnh Lưu năm 2010, phần lớn đất được chuyển đổi từ nguồn đất canh tác khác (241,38 ha, chiếm 59 %), như: đất nông nghiệp, đất làm muối, đất trống,… Tiếp đến là các thủy vực (như ao, đầm) có sẵn, được cải tạo chuyển sang nuôi tôm (153,36 ha, chiếm 37 %). Diện tích đất chuyển đổi từ rừng ngập mặn (năm 2000) sang các trang trại nuôi tôm (năm 2010) chỉ chiếm 4 % (17,64 ha) tổng diện tích trang trại nuôi tôm (Hình 4a, 5a). Trong giai đoạn 2010 - 2020, tổng diện tích trang trại nuôi tôm ven biển ở huyện Quỳnh Lưu tăng thêm 373,77 ha. Kết quả phân tích cũng cho thấy phần lớn diện tích đất chuyển đổi sang nuôi tôm cũng từ đất có nguồn gốc là các thủy vực (như đầm, ao) và đất canh tác khác (như đất làm muối, đất trống). Tuy nhiên, có 53,82 ha rừng ngập mặn bị chuyển đổi sang trang trại nuôi tôm tại huyện Quỳnh lưu từ năm 2010 đến năm 2020 (Hình 4b, 5b). Qua Hình 5b cũng cho thấy việc chuyển đổi từ rừng ngập mặn sang các ao, hồ nuôi tôm trong giai đoạn 2010 - 2020 xảy ra ở hầu hết các xã ven biển của huyện Quỳnh Lưu. Tuy nhiên, 322 Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
  6. tập trung chính vẫn gần các khu nuôi tôm tập trung của huyện, như: Quỳnh Bảng, Quỳnh Thanh, Quỳnh Lương, Quỳnh Đôi, Quỳnh Yên (dọc theo Sông Hầu hay Sông Mơ). Như vậy, kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nội dung một số bài viết về tình trạng phá rừng ngập mặn chuyển sang nuôi tôm tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An trong thời gian qua [3, 4, 5]. Hình 4: Bản đồ chuyển đổi sử dụng đất nuôi tôm ven biển tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo dữ liệu ảnh Landsat: (a) 2000 - 2010, (b) 2010 - 2020 Hình 5: Diện tích (ha) và tỷ phần (%) loại đất sử dụng bị chuyển đổi thành trang trại nuôi tôm ven biển tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo các giai đoạn: (a) 2000 - 2010, (b) 2010 - 2020 Như vậy, nghề nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An rất phát triển trong thời gian 2000 - 2020, đặc biệt là giai đoạn 2010 - 2020. Phát triển nuôi tôm nước lợ đã và đang mạng lại nhiều lợi ích như tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân địa phương vì đầu tư cho nuôi tôm thường mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ví dụ, một nghiên cứu của Nguyễn Văn Toàn và Lê Nữ Minh Phương (2018) tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy, các trang trại nuôi tôm sau 3,5 - 04 năm có thể thu hồi chi phí đầu tư và thu nhập bình quân hàng năm của các trang trại nuôi tôm bán thâm canh đạt 70,62 triệu đồng, còn các trang trại nuôi tôm thâm canh có thu nhập trung bình hàng năm cao hơn gấp 03 lần (212,81 triệu đồng) [8]. Do vậy, việc chuyển đổi các vùng đất trũng thấp, canh tác không hiệu quả hoặc cho hiệu quả kinh tế thấp hơn (như đất làm muối) sang đất nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu sẽ làm tăng lợi nhuận, hiệu quả kinh tế về sử dụng đất tại các xã ven biển. Tuy nhiên, phát triển nuôi tôm nước lợ nhanh và thiếu quy hoạch có thể dẫn đến những tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái cũng như ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm tại đây. Đặc biệt, việc chặt phá, chuyển đổi một số khu rừng ngập mặn sang nuôi Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên, 323 bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
  7. tôm sẽ gây tác động xấu tới môi trường sinh thái vì rừng ngập mặn có vai trò rất lớn, như là bãi đẻ, bãi dinh dưỡng và là môi trường sống của nhiều loài động vật thủy sinh (như tôm, cua, cá, thân mềm,…) cũng như các loài trên cạn (như chim, côn trùng,…). Ngoài ra, rừng ngập mặn còn có vai trò như một hệ lọc sinh học để xử lý các chất thải, kể cả chất thải từ các trang trại nuôi tôm. Hơn nữa, rừng ngập mặn sẽ giúp cho việc bảo vệ, chống sạt lở ở vùng ven biển và là bể chứa cacbon, giúp giảm lượng khí phát thải nhà kính, giảm tác nhân gây biến đổi khí hậu. Do vậy, việc chặt phá, chuyển đổi rừng ngập mặn sang nuôi tôm cần được kiểm soát nghiêm ngặt tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. 4. Kết luận Qua nghiên cứu biến động sử dụng đất liên quan đến nuôi tôm nước lợ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2000 - 2020 bằng tư liệu ảnh vệ tinh Landsat cho thấy, diện tích đất nuôi tôm nước lợ tại điểm nghiên cứu đã tăng lên đáng kể, đạt 412,38 ha trong năm 2010 và 786,15 ha trong năm 2020. Phần lớn nguồn gốc đất chuyển đổi sang trang trại nuôi tôm là từ đất làm muối, đất nông nghiệp, đất trống, các thủy vực (ao, đầm). Tuy nhiên, tại khu vực nghiên cứu tồn tại tình trạng, một phần diện tích rừng ngập mặn cũng đã bị phá, chuyển đổi sang nuôi tôm, đặc biệt là trong giai đoạn 2010 - 2020. Do vậy, cần có định hướng, quy hoạch và quản lý việc chuyển đổi sử dụng đất sang nuôi tôm nước lợ, nhằm tiến tới phát triển bền vững vùng ven biển ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. FAO (2021). Statistics: Global Aquaculture Production 1950-2014 (online query). http://www.fao.org/ fishery/statistics/global-aquaculture-production/query/en. [2]. UBND tỉnh Nghệ An (2015). Phê duyệt quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Nghệ An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Quyết định số 6343/QĐ-UBND ngày 30/12/2015. [3]. Việt Khánh (2015). Phá rừng phòng hộ để nuôi tôm. https://nongnghiep.vn/pha-rung-phong-ho-de- nuoi-tom-d149013.html. [4]. Phan Sáng (2017). Tàn phá cả cánh rừng ngập mặn xanh ngút ngàn để nuôi tôm. https://vtc.vn/tan-pha- ca-canh-rung-ngap-man-xanh-ngut-ngan-de-nuoi-tom-ar344348.html. [5]. Văn Trường (2018). Nhiều diện tích rừng phòng hộ ven Sông Mơ bị biến thành hồ nuôi tôm. https:// baonghean.vn/nhieu-dien-tich-rung-phong-ho-ven-song-mo-bi-bien-thanh-ho-nuoi-tom-195653.html [6]. Beland, M., Goita, K., Bonn, F. & Pham, T. T. H. (2006). Assessment of land-cover changes related to shrimp aquaculture using remote sensing data: A case study in the Giao Thuy district, Vietnam. International Journal of Remote Sensing, 27, 1491 - 1510. [7]. Bui T.D., Maier S.W. & Austin C.M. (2014). Land cover and land use change related to shrimp farming in coastal areas of Quang Ninh, Vietnam using remotely sensed data. Environmental Earth Sciences, 72, 441 - 455. [8]. Nguyễn Văn Toàn, Lê Nữ Minh Phương (2018). Đầu tư và hiệu quả đầu tư nuôi tôm ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển, 127 (5A), 39 - 51. Ngày chấp nhận đăng: 10/11/2021. Người phản biện: TS. Nguyễn Thị Hải Yến 324 Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2