intTypePromotion=1

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng căn hộ chung cư tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
69
lượt xem
7
download

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng căn hộ chung cư tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, xây dựng thang đo, đề xuất mô hình nghiên cứu đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với căn hộ chung cư tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Kết quả cho thấy, các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng nhà chung cư tại thành phố Nha Trang: An ninh, Thương hiệu, Cộng đồng, Phí, Vị trí, Môi trường, Cảnh quan. Trong đó, An Ninh là yếu tố có tác động mạnh nhất, tiếp theo là Cộng đồng, Phí, và cuối cùng là Cảnh quan, Thương hiệu, Vị trí. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị chính sách được đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao sự hài lòng của khách hàng sử dụng căn hộ chung cư tại thành phố Nha Trang.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng căn hộ chung cư tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2015<br /> <br /> KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC<br /> <br /> NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG<br /> CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG CĂN HỘ CHUNG CƯ<br /> TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA<br /> STUDY OF THE FACTORS AFFECTING THE SATISFACTION OF THE CUSTOMER’S USE<br /> OF CONDOMINIUM APARTMENT IN NHA TRANG CITY, KHANH HOA PROVINCE<br /> Trần Văn Châu1, Nguyễn Thị Hiển2<br /> Ngày nhận bài: 15/01/2015; Ngày phản biện thông qua: 11/02/2015; Ngày duyệt đăng: 10/6/2015<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục đích của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, xây dựng thang đo,<br /> đề xuất mô hình nghiên cứu đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với căn hộ chung cư tại thành phố Nha Trang, tỉnh<br /> Khánh Hòa. Kết quả cho thấy, các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng nhà chung cư tại thành phố<br /> Nha Trang: An ninh, Thương hiệu, Cộng đồng, Phí, Vị trí, Môi trường, Cảnh quan. Trong đó, An Ninh là yếu tố có tác động<br /> mạnh nhất, tiếp theo là Cộng đồng, Phí, và cuối cùng là Cảnh quan, Thương hiệu, Vị trí. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu,<br /> một số kiến nghị chính sách được đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao sự hài lòng của khách hàng sử dụng căn hộ chung<br /> cư tại thành phố Nha Trang.<br /> Từ khóa: hài lòng, nhà chung cư, Nha Trang<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The purpose of the study is to determine the features that affect to the satisfaction of customers, to build the<br /> standard, to propose the study model measuring customer satisfaction for apartments in Nha Trang city, Khanh Hoa<br /> province. The results showed the factors that affect customer satisfaction using an apartment in Nha Trang city: Security,<br /> Brand, Community, Fees, Location, Environment, and Landscape. In particular, Security is the strongest influenced factor,<br /> followed by the Community, Fees, and finally the Landscape, Brand, Location. Based on the study result, a number of policy<br /> recommendations are proposed to improve and enhance customer satisfaction using the apartment in Nha Trang.<br /> Keywords: satisfaction, apartments, Nha Trang<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Theo Chương trình phát triển nhà ở đô thị đến<br /> năm 2015, định hướng đến 2020 của tỉnh Khánh<br /> Hòa đề cập đến việc xây dựng nhà ở trong các đô<br /> thị mới cho 18.000 người trong giai đoạn 2009-2015,<br /> và 52.000 người trong giai đoạn 2016-2020[5].<br /> Hiện nay, chất lượng nhà ở, nhất là nhà ở cho<br /> đối tượng nhà chung cư vẫn còn nhiều bất cập,<br /> nhiều dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu và thỏa<br /> mãn người ở chung cư, căn hộ. Theo báo cáo, đánh<br /> giá của Trung tâm Quản lý nhà và chung cư, Sở Xây<br /> dựng Khánh Hòa hàng năm về tình hình quản lý, sử<br /> dụng nhà ở nói chung và nhà chung cư nói riêng,<br /> sự phản ảnh của các ban quản trị chung cư, người<br /> 1<br /> 2<br /> <br /> sử dụng căn hộ về chất lượng công trình và chất<br /> lượng dịch vụ, các nội dung phản ảnh liên quan<br /> đến chất lượng công trình, tình hình an ninh trật tự,<br /> môi trường xung quanh, cảnh quan bên trong và<br /> ngoài chung cư, các loại phí sử dụng như phí giữ<br /> xe, thang máy, vệ sinh, điện nước,… đòi hỏi phải<br /> thực hiện các nghiên cứu, đánh giá về chất lượng<br /> nhà chung cư, chất lượng sử dụng dịch vụ, đề<br /> khắc phục những hạn chế và nâng cao chất lượng<br /> công trình, chất lượng dịch vụ tại các chung cư trên<br /> địa bàn thành phố Nha Trang. Do đó, việc nghiên<br /> cứu những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của<br /> khách hàng khi sử dụng nhà chung cư tại thành phố<br /> Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là cần thiết.<br /> <br /> Trần Văn Châu: Cao học Quản trị kinh doanh 2012 - Trường Đại học Nha Trang<br /> TS. Nguyễn Thị Hiển: Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 83<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu<br /> Đối tượng nghiên cứu là các lý thuyết có liên<br /> quan đến sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực<br /> dịch vụ. Khách thể nghiên cứu là sự hài lòng của<br /> khách hàng sử dụng sản phẩm căn hộ chung cư<br /> (hộ gia đình) có mức giá phổ thông (tương đương<br /> chung cư hạng 3 và 4 theo quy định tại Thông tư<br /> 14/2008/TT-BXD ngày 02/6/2008 của Bộ Xây dựng)<br /> trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.<br /> 2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu<br /> 2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu<br /> Mẫu được chọn theo phương pháp chọn hạn<br /> ngạch cho các chung cư trên địa bàn thành phố Nha<br /> Trang, tỉnh Khánh Hòa. Có nghiên cứu chỉ ra rằng kích<br /> thước mẫu tới hạn phải là 200, có nghiên cứu khác<br /> cho rằng để có thể phân tích nhân tố khám phá cần<br /> thu thập dữ liệu với kích thước mẫu tối thiểu là 5 mẫu<br /> cho một biến quan sát [4]. Gần với quan điểm này là ý<br /> kiến cho rằng thông thường thì số quan sát (cỡ mẫu)<br /> ít nhất phải bằng 4 hay 5 lần số biến trong phân tích<br /> nhân tố [6]. Để đảm bảo độ tin cậy cao của thông tin<br /> thu thập ban đầu, với 54 biến quan sát x 5 = 270 mẫu,<br /> 400 bảng hỏi được gửi đi, kết quả thu được<br /> <br /> Số 2/2015<br /> 385 bảng, sau khi kiểm tra, làm sạch thông tin thu<br /> thập được trong các bảng hỏi, có 363 bảng hỏi đạt<br /> yêu cầu, được sử dụng cho nghiên cứu chính thức.<br /> 2.2. Phương pháp nghiên cứu<br /> Nghiên cứu này được thực hiện thông qua 2<br /> bước chính: nghiên cứu sơ bộ thông qua phương<br /> pháp định tính và nghiên cứu chính thức thông qua<br /> phương pháp định lượng. Nghiên cứu sơ bộ được<br /> thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính<br /> với kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn thử. Mục<br /> đích của nghiên cứu này dùng để điều chỉnh và bổ<br /> sung thang đo chất lượng dịch vụ nhà chung cư.<br /> Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương<br /> pháp nghiên cứu định lượng. Dùng kỹ thuật thu thập<br /> thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn khách hàng<br /> sử dụng nhà chung cư. Thông tin thu thập được sẽ<br /> được xử lý bằng phần mềm SPSS. Thang đo sau<br /> khi được đánh giá bằng phương pháp đánh giá độ<br /> tin cậy dựa vào hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích<br /> nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy bội được<br /> sử dụng để kiểm định mô hình.<br /> Dựa trên các nghiên cứu của Trịnh Thị Xuân<br /> Lan (2005) [1], Dương Quang Phát (2007) [2],<br /> Huỳnh Đoàn Thu Thảo (2010) [3], …cùng với thảo<br /> luận chuyên gia, tác giả đưa ra mô hình đề xuât:<br /> <br /> Hình 1. Mô hình đề xuất<br /> <br /> Giả thuyết:<br /> H1: Giá chung cư/ căn hộ được khách hàng đánh giá càng thấp thì sẽ làm tăng mức độ hài lòng của họ.<br /> H2: Chất lượng công trình càng cao thì sẽ làm tăng mức độ hài lòng của khách hàng.<br /> H3: Chung cư/ căn hộ càng có thương hiệu sẽ làm tăng mức độ hài lòng của khách hàng.<br /> H4: Vị trí địa lý của chung cư càng đẹp, mức độ hài lòng của khách hàng càng tăng.<br /> H5: Cảnh quan càng đẹp, khách hàng càng hài lòng với việc chọn chung cư/ căn hộ.<br /> H6: Vệ sinh môi trường sạch sẽ, khách hàng càng hài lòng với việc chọn chung cư/ căn hộ.<br /> H7: Phí sinh hoạt của chung cư/ căn hộ phù hợp, mức độ hài lòng của khách hàng càng tăng.<br /> H8: An ninh của chung cư/ căn hộ tốt thì sẽ làm tăng mức độ hài lòng của khách hàng.<br /> H9: Cộng đồng dân cư văn hóa và thân thiện thì sẽ làm tăng mức độ hài lòng của khách hàng.<br /> <br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> - Kết quả phân tích Cronbach alpha<br /> Tổng cộng 54 biến của mô hình được đưa vào<br /> phân tích Cronbach Alpha. Nếu biến quan sát có hệ<br /> số tương quan giữa biến và tổng < 0,3 sẽ bị loại khỏi<br /> <br /> 84 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> phân tích. Mỗi thành phần các khái niệm nghiên cứu<br /> (yếu tố ảnh hưởng) phải có hệ số Cronbach Alpha<br /> > 0,6; đồng thời Alpha nếu loại mục hỏi (biến quan<br /> sát) phải có giá trị của từng biến nhỏ hơn hệ số<br /> Cronbach Alpha.<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2015<br /> <br /> Bảng 1. Kết quả phân tích Cronbach Alpha<br /> Biến quan sát<br /> <br /> Trung bình thang đo nếu<br /> loại biến<br /> <br /> Giá: Cronbach’s Alpha = 0,704<br /> gia_1<br /> 13,94<br /> gia_2<br /> 13,49<br /> gia_3<br /> 14,10<br /> gia_4<br /> 14,05<br /> gia_5<br /> 13,93<br /> Chất lượng: Cronbach’s Alpha = 0,697<br /> chat_luong_1<br /> 10,26<br /> chat_luong_2<br /> 10,73<br /> chat_luong_3<br /> 10,60<br /> chat_luong_4<br /> 10,64<br /> Thương hiệu: Cronbach’s Alpha = 0,910<br /> thuong_hieu_1<br /> 13,83<br /> thuong_hieu_2<br /> 13,82<br /> thuong_hieu_3<br /> 13,87<br /> thuong_hieu_4<br /> 13,92<br /> thuong_hieu_5<br /> 13,90<br /> Vị trí: Cronbach’s Alpha = 0,870<br /> vi_tri_1<br /> 13,95<br /> vi_tri_2<br /> 14,37<br /> vi_tri_3<br /> 14,33<br /> vi_tri_4<br /> 14,34<br /> vi_tri_5<br /> 14,28<br /> Cảnh quan:Cronbach’s Alpha = 0,809<br /> canh_quan_1<br /> 10,27<br /> canh_quan_2<br /> 10,22<br /> canh_quan_3<br /> 10,67<br /> canh_quan_4<br /> 10,33<br /> Môi trường: Cronbach’s Alpha = 0,837<br /> moi_truong_1<br /> 12,09<br /> moi_truong_2<br /> 12,28<br /> moi_truong_3<br /> 12,15<br /> moi_truong_4<br /> 11,78<br /> moi_truong_5<br /> 12,03<br /> Phí sinh hoạt: Cronbach’s Alpha = 0,891<br /> phi_1<br /> 17,16<br /> phi_2<br /> 17,20<br /> phi_3<br /> 17,18<br /> phi_4<br /> 17,31<br /> phi_5<br /> 17,09<br /> phi_6<br /> 17,32<br /> An ninh:Cronbach’s Alpha = 0,908<br /> an_ninh_1<br /> 20,61<br /> an_ninh_2<br /> 20,57<br /> an_ninh_3<br /> 20,65<br /> an_ninh_4<br /> 20,96<br /> an_ninh_5<br /> 20,71<br /> an_ninh_6<br /> 20,83<br /> an_ninh_7<br /> 20,74<br /> Cộng đồng: Cronbach’s Alpha = 0,928<br /> cong_dong_1<br /> 14,18<br /> cong_dong_2<br /> 14,18<br /> cong_dong_3<br /> 14,13<br /> cong_dong_4<br /> 14,25<br /> cong_dong_5<br /> 14,20<br /> Hài lòng: Cronbach’s Alpha = 0,898<br /> HAI_LONG_1<br /> 24,37<br /> HAI_LONG_2<br /> 24,70<br /> HAI_LONG_3<br /> 24,73<br /> HAI_LONG_4<br /> 24,45<br /> HAI_LONG_5<br /> 24,61<br /> HAI_LONG_6<br /> 24,67<br /> HAI_LONG_7<br /> 24,65<br /> HAI_LONG_8<br /> 24,68<br /> <br /> Phương sai thang đo<br /> nếu loại biến<br /> <br /> Tương quan<br /> biến - tổng<br /> <br /> Cronbach’s Alpha nếu<br /> loại biến<br /> <br /> 5,629<br /> 7,096<br /> 5,817<br /> 5,730<br /> 5,744<br /> <br /> 0,537<br /> 0,244<br /> 0,476<br /> 0,452<br /> 0,613<br /> <br /> 0,621<br /> 0,732<br /> 0,648<br /> 0,660<br /> 0,596<br /> <br /> 3,956<br /> 3,412<br /> 3,324<br /> 3,977<br /> <br /> 0,348<br /> 0,577<br /> 0,607<br /> 0,413<br /> <br /> 0,717<br /> 0,571<br /> 0,550<br /> 0,674<br /> <br /> 7,383<br /> 7,098<br /> 7,266<br /> 7,059<br /> 7,283<br /> <br /> 0,780<br /> 0,779<br /> 0,806<br /> 0,837<br /> 0,675<br /> <br /> 0,889<br /> 0,889<br /> 0,884<br /> 0,877<br /> 0,913<br /> <br /> 11,130<br /> 9,852<br /> 10,785<br /> 8,911<br /> 10,893<br /> <br /> 0,601<br /> 0,721<br /> 0,728<br /> 0,730<br /> 0,749<br /> <br /> 0,864<br /> 0,836<br /> 0,837<br /> 0,840<br /> 0,834<br /> <br /> 3,540<br /> 3,809<br /> 3,757<br /> 3,785<br /> <br /> 0,699<br /> 0,651<br /> 0,485<br /> 0,711<br /> <br /> 0,725<br /> 0,751<br /> 0,840<br /> 0,727<br /> <br /> 6,508<br /> 6,066<br /> 6,329<br /> 7,124<br /> 6,905<br /> <br /> 0,770<br /> 0,801<br /> 0,691<br /> 0,362<br /> 0,673<br /> <br /> 0,772<br /> 0,757<br /> 0,789<br /> 0,893<br /> 0,798<br /> <br /> 9,599<br /> 9,395<br /> 9,201<br /> 9,754<br /> 9,227<br /> 10,903<br /> <br /> 0,728<br /> 0,744<br /> 0,814<br /> 0,646<br /> 0,836<br /> 0,501<br /> <br /> 0,869<br /> 0,867<br /> 0,855<br /> 0,883<br /> 0,852<br /> 0,902<br /> <br /> 17,233<br /> 17,301<br /> 16,985<br /> 16,940<br /> 16,838<br /> 17,899<br /> 18,034<br /> <br /> 0,739<br /> 0,800<br /> 0,804<br /> 0,620<br /> 0,779<br /> 0,651<br /> 0,726<br /> <br /> 0,893<br /> 0,887<br /> 0,886<br /> 0,910<br /> 0,888<br /> 0,902<br /> 0,895<br /> <br /> 7,532<br /> 7,352<br /> 7,824<br /> 7,755<br /> 8,008<br /> <br /> 0,824<br /> 0,855<br /> 0,808<br /> 0,787<br /> 0,782<br /> <br /> 0,909<br /> 0,903<br /> 0,912<br /> 0,916<br /> 0,917<br /> <br /> 18,660<br /> 18,709<br /> 19,799<br /> 19,254<br /> 19,272<br /> 18,590<br /> 18,901<br /> 18,589<br /> <br /> 0,619<br /> 0,664<br /> 0,578<br /> 0,692<br /> 0,695<br /> 0,718<br /> 0,741<br /> 0,774<br /> <br /> 0,892<br /> 0,887<br /> 0,894<br /> 0,884<br /> 0,884<br /> 0,882<br /> 0,880<br /> 0,877<br /> <br /> (Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu)<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 85<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2015<br /> nhân tố (Factor loading) lớn hơn tiêu chuẩn cho<br /> phép (> 0,5). Đồng thời, kiểm định Bartlett cho thấy<br /> giữa các biến trong tổng thể có mối tương quan<br /> với nhau (mức ý nghĩa sig = 0,000 < 0,05) với hệ<br /> số KMO = 0,867 (0,5 < KMO < 1), hệ số trích tại<br /> Eigenvalue là 1,171 chứng tỏ phân tích EFA cho<br /> việc nhóm các biến quan sát này lại với nhau là<br /> thích hợp. Kết quả này được đưa vào phân tích<br /> hồi quy tuyến tính đa biến (nhân tố). Kết quả EFA<br /> cho thấy tổng phương sai trích là 74,149 tức là khả<br /> năng sử dụng yếu tố này để giải thích cho biến<br /> quan sát là 74,149% (> 50%).<br /> <br /> Từ 54 biến ban đầu sau khi kiểm định thang đo<br /> bằng Crobach’s Alpha, loại 7 biến rác gồm: giá_2;<br /> chat_luong_1; thuong_hieu_5; canh_quan_3; moi_<br /> truong_4; phí_6; an_ninh_4, còn lại 47 biến đủ điều<br /> kiện sử dụng trong phân tích tiếp theo.<br /> - Kết quả phân tích nhân tố (EFA)<br /> Phân tích EFA nhân tố biến độc lập đã sử dụng<br /> phương pháp trích nhân tố Principal Axis Factoring<br /> với phép quay Varimax cho đối tượng áp dụng là<br /> các thang đo lường đa hướng (các biến tác động).<br /> Với chỉ báo được sử dụng ở quan sát ban đầu,<br /> kết quả chọn lọc được biến quan sát có hệ số tải<br /> <br /> Bảng 2. Ma trận xoay nhân tố biến độc lập trong phân tích nhân tố khám phá EFA<br /> <br /> an_ninh_1<br /> an_ninh_2<br /> an_ninh_3<br /> an_ninh_5<br /> an_ninh_6<br /> an_ninh_7<br /> chat_luong_4<br /> thuong_hieu_1<br /> thuong_hieu_2<br /> thuong_hieu_3<br /> thuong_hieu_4<br /> cong_dong_1<br /> cong_dong_2<br /> cong_dong_3<br /> cong_dong_4<br /> cong_dong_5<br /> phi_1<br /> phi_2<br /> phi_3<br /> phi_4<br /> phi_5<br /> vi_tri_1<br /> vi_tri_2<br /> vi_tri_3<br /> vi_tri_4<br /> vi_tri_5<br /> moi_truong_1<br /> moi_truong_2<br /> moi_truong_3<br /> moi_truong_5<br /> canh_quan_1<br /> canh_quan_2<br /> canh_quan_4<br /> gia_1<br /> gia_4<br /> gia_5<br /> gia_3<br /> chat_luong_2<br /> chat_luong_3<br /> <br /> 1<br /> 0,759<br /> 0,792<br /> 0,822<br /> 0,751<br /> 0,600<br /> 0,706<br /> <br /> 2<br /> <br /> 0,582<br /> 0,853<br /> 0,850<br /> 0,786<br /> 0,830<br /> <br /> (Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu)<br /> <br /> 86 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> 3<br /> <br /> 0,824<br /> 0,814<br /> 0,755<br /> 0,731<br /> 0,779<br /> <br /> 4<br /> <br /> 0,818<br /> 0,865<br /> 0,781<br /> 0,687<br /> 0,844<br /> <br /> Thành phần<br /> 5<br /> <br /> 0,660<br /> 0,809<br /> 0,819<br /> 0,782<br /> 0,765<br /> <br /> 6<br /> <br /> 0,905<br /> 0,909<br /> 0,859<br /> 0,798<br /> <br /> 7<br /> <br /> 0,838<br /> 0,813<br /> 0,744<br /> <br /> 8<br /> <br /> 0,532<br /> 0,797<br /> 0,807<br /> <br /> 9<br /> <br /> 0,589<br /> 0,550<br /> 0,742<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2015<br /> <br /> Đối với thang đo mức độ hài lòng của khách hàng, phân tích EFA trích được 1 yếu tố tại Eigenvalue là 4,725<br /> và phương sai trích được là 59,066% với chỉ số KMO là 0,857.<br /> Bảng 3. Kết quả phân tích EFA cho sự hài lòng<br /> Biến quan sát<br /> <br /> Giá trị<br /> <br /> HAI_LONG_1<br /> HAI_LONG_2<br /> HAI_LONG_3<br /> HAI_LONG_4<br /> HAI_LONG_5<br /> HAI_LONG_6<br /> HAI_LONG_7<br /> HAI_LONG_8<br /> <br /> 0,708<br /> 0,739<br /> 0,670<br /> 0,766<br /> 0,780<br /> 0,806<br /> 0,821<br /> 0,844<br /> <br /> (Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu)<br /> <br /> - Phương trình hồi qui<br /> Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, hệ số tương quan bội (R) bằng 0,785; hệ số bình phương tương quan<br /> bội (R Square) là 0,616 và bình phương hệ số tương quan bội hiệu chỉnh (Hệ số R2 điều chỉnh) bằng 0,606; có<br /> nghĩa là 60,6% sự biến thiên của sự hài lòng có thể được giải thích từ mối liên hệ tuyến tính giữa các yếu tố<br /> trong mô hình. Tuy nhiên, sự phù hợp này chỉ đúng với dữ liệu mẫu. Để kiểm định xem có thể suy diễn mô hình<br /> cho tổng thể thực hay không, cần thiết phải kiểm định độ phù hợp của mô hình.<br /> Bảng 4. Phân tích hệ số hồi qui<br /> Mẫu<br /> <br /> Hệ số R<br /> <br /> Hệ số R2<br /> <br /> R2 hiệu chỉnh<br /> <br /> Sai số chuẩn ước lượng<br /> <br /> Durbin-Watson<br /> <br /> 0,782<br /> <br /> 0,612<br /> <br /> 0,604<br /> <br /> 0,629<br /> <br /> 1,523<br /> <br /> 1<br /> Mô hình<br /> <br /> 1<br /> <br /> Tổng bình phương<br /> <br /> df<br /> <br /> Bình phương trung bình<br /> <br /> Kiểm định F<br /> <br /> Giá trị Sig.<br /> <br /> Hồi quy<br /> <br /> 221,597<br /> <br /> 7<br /> <br /> 31,657<br /> <br /> 80,042<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> Phần dư<br /> <br /> 140,403<br /> <br /> 355<br /> <br /> 0,396<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> 362,000<br /> <br /> 362<br /> <br /> Nhân tố<br /> <br /> 1<br /> <br /> Hệ số chưa chuẩn hóa<br /> <br /> Hệ số đã chuẩn hóa<br /> <br /> t<br /> <br /> Sig.<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 0,405<br /> <br /> 12,244<br /> <br /> 0,033<br /> <br /> 0,226<br /> <br /> 0,387<br /> <br /> 0,033<br /> <br /> 0,370<br /> <br /> 0,033<br /> <br /> VITRI<br /> <br /> 0,149<br /> <br /> MOITRUONG<br /> CANHQUAN<br /> <br /> B<br /> <br /> Sai số chuẩn<br /> <br /> -1,359E-16<br /> <br /> 0,033<br /> <br /> ANNINH<br /> <br /> 0,405<br /> <br /> 0,033<br /> <br /> THUONGHIEU<br /> <br /> 0,226<br /> <br /> CONGDONG<br /> PHI<br /> <br /> (Constant)<br /> <br /> Beta<br /> <br /> Thống kê cộng tuyến<br /> Độ chấp nhận<br /> <br /> VIF<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 6,829<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 0,387<br /> <br /> 11,717<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 0,370<br /> <br /> 11,200<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 0,033<br /> <br /> 0,149<br /> <br /> 4,521<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 0,087<br /> <br /> 0,033<br /> <br /> 0,087<br /> <br /> 2,638<br /> <br /> 0,009<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 0,284<br /> <br /> 0,033<br /> <br /> 0,284<br /> <br /> 8,579<br /> <br /> 0,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> 1,000<br /> <br /> (Nguồn: Tính toán từ dữ liệu điều tra)<br /> <br /> Từ chỉ số VIF cho thấy các chỉ số VIF đều nhỏ<br /> hơn 10 nên không có hiện tượng đa cộng tuyến<br /> giữa các biến độc lập [4]. Với giá trị P-value của<br /> tiêu chuẩn F bằng 0,000, cho nên ta có thể bác bỏ<br /> giả thuyết H0 (β1 = β2 = β3= β4 = β5 = β7 = 0), tức là<br /> có tồn tại mối liên hệ tuyến tính giữa sự hài lòng<br /> với ít nhất một trong các yếu tố độc lập. Kết quả hồi<br /> <br /> quy cho thấy, có 7 nhân tố quan trọng là An ninh,<br /> Thương hiệu, Cộng đồng, Phí, Vị trí, Môi trường,<br /> Cảnh quan có quan hệ tuyến tính với sự hài lòng<br /> của người sử dụng chung cư tại Nha Trang (Sig<br /> < 0,05). Vì vậy, 7 nhân tố này sẽ giữ lại trong mô<br /> hình hồi quy, còn các nhân tố còn lại bị loại khỏi<br /> mô hình.<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 87<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2