1

TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1. Lý do chọn đề tài

Ngành xây dựng là ngành sản xuất vật chất có chức năng tái sản xuất tài sản

cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm

lực kinh tế của đất nước. Hơn thế nữa, đầu tư xây dựng gắn liền với việc ứng dụng

các công nghệ hiện đại nên góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật

đối với các ngành sản xuất vật chất. Phát triển doanh nghiệp xây dựng còn có mối

quan hệ tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp. Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ

tích lũy nói riêng với nguồn vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong

lĩnh vực xây dựng. So với các ngành sản xuất khác, xây dựng có những đặc điểm

kinh tế kỹ thuật đặc thù, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng

tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng.

Đặc thù sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng là có quy mô lớn, kết cấu

phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, cơ cấu lao động không đồng đều, kiến trúc đặc

trưng, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ

xã hội để tránh bị lạc hậu. Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần

phải phù hợp với văn hóa dân tộc. Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây

dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia và do đó chất lượng của các công trình

xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý. Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của

công trình mà còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử dụng.

Phát triển doanh nghiệp xây dựng chính là quan tâm đến sản phẩm xây dựng

mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về chính sách nhà nước, nguồn tài chính,

nguồn nhân lực, kết nối thị trường, môi trường, công nghệ, kiến trúc xây dựng,... Nó

rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo

một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định,

nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành

được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Những đặc điểm này có tác động lớn

tới quá trình phát triển doanh nghiệp xây dựng.

2

Phát triển các doanh nghiệp xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong nền

kinh tế quốc gia, bởi vì nó tạo ra cơ sở vật chất để phát triển đô thị, tạo công ăn việc

làm cho người lao động, tạo thu nhập quốc dân. Để Việt Nam trở thành quốc gia

công nghiệp, hiện đại, cần phải đổi mới các doanh nghiệp xây dựng theo bước đột

phá hướng hiện đại trên thế giới, phát triển doanh nghiệp xây dựng đáp ứng được

nhu cầu phát triển hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển tương lai.

Trên thế giới đối với phát triển doanh nghiệp là một khái niệm không mới, có rất

nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển doanh nghiệp như lĩnh vực

xây dựng, ngành công nghiệp xây dựng,… Song song với sự quan tâm ngày càng

tăng trong việc phát triển doanh nghiệp nhỏ đã có một sự gia tăng trong phạm vi,

chất lượng và chiều sâu nghiên cứu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Vương quốc

Anh (Curran, 1989). Cơ sở của các nghiên cứu hiện tại đã được thực hiện trên các

vấn đề về định nghĩa, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh

tế đặc biệt là tạo việc làm, phát triển doanh nghiệp, mô hình tăng trưởng của các

doanh nghiệp nhỏ và những kỹ thuật tốt nhất để thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ

(Timberg, 1992).

Nhưng vấn đề đặt ra là phát triển các doanh nghiệp ở địa phương bị tác động

bởi những yếu tố nào. Đồng thời, những yếu tố nào có khả năng tác động đến phát

triển doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay. Tuy các công trình nghiên

cứu trong và ngoài nước có liên quan chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh

khác nhau như: ngành công nghiệp xây dựng, tác động của các dịch vụ hỗ trợ phát

triển doanh nghiệp nhỏ khá hạn chế trong bối cảnh các nước đang phát triển

(Timberg, 1992). Điển hình là nghiên cứu khảo sát các yếu tố tác động đến sự tăng

trưởng và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Khan (2004); Khan,

Nazmul, Hossain, Rahmatullah, (2012); Chowdhury, Islam, Alam, (2013). Phát

triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được nghiên cứu ở các khía cạnh như các yếu tố khả

năng doanh nhân, hỗ trợ tài chính, kết nối thị trường, hỗ trợ chính sách nhà nước,

công nghệ phù hợp, cơ sở hạ tầng đầy đủ.

Từ vấn đề đặt ra, định hướng nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng,

tác giả sử dụng mô hình của Chowdhury, Islam, Alam (2013) để làm sáng tỏ lý

thuyết trong nghiên cứu doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Với những lý do

3

trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển

doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng”.

2. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu phát triển doanh nghiệp

Neck (1977) đưa ra một mô hình khái niệm để phân tích hỗ trợ cho việc phát

triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến Gibb (1993) đã phát triển một khung khái

niệm cho việc đánh giá sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh các

nước khu vực miền Trung và Đông Âu. Sau này các khung lý thuyết hình thành và

phát triển, điển hình một số công trình nghiên cứu thực nghiệm về phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước đang phát triển vẫn tiếp tục áp dụng nghiên cứu

như Bangladesh (Rahman, 2004; Khan, 2012; Chowdhury, Islam, Alam, 2013) và

tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Kenya (Wekesa Bunyasi; Henry

Bwisa and Gregory, 2014).

Nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp

nhỏ và vừa ở Bangladesh của Chowdhury, Islam, Alam, (2013) cho thấy có 06 yếu

tố tác động đến phát triển doanh nghiệp bao gồm: các khả năng của các doanh nhân

(CE), hỗ trợ tài chính (F), hỗ trợ của chính phủ (G), công nghệ phù hợp (T), kết nối

thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm (M), cơ sở hạ tầng đầy đủ (I). Môi trường

nghiên cứu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Bangladesh cũng phù hợp với tình

trạng phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam. Đặc biệt, phần lớn các doanh nghiệp Việt

Nam thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trường hợp nghiên cứu doanh nghiệp

thuộc lĩnh vực xây dựng thì vận dụng mô hình nghiên cứu của Chowdhury, Islam,

Alam (2013) phải điều chỉnh lại một số yếu tố và bổ sung thêm một số yếu tố mới

để phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Vì

vậy, mô hình này chưa quan tâm đến yếu tố nguồn nhân lực, môi trường, kiến trúc

xây dựng. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu của mô hình Chowdhury, Islam,

Alam (2013), đồng thời với phân tích thực trạng và những vấn đề đặc thù phát triển

doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, các yếu tố này được sử dụng nghiên cứu

định tính nhằm tìm hiểu và phát triển mới với tình hình phát triển doanh nghiệp xây

dựng tỉnh Sóc Trăng, với phương pháp định lượng nhằm kiểm định lại kết quả

nghiên cứu định tính. Kết quả nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh

4

Sóc Trăng nhằm đưa ra một số giải pháp phát triển doanh nghiệp thời gian tới tại

tỉnh Sóc Trăng.

3. Mục tiêu nghiên cứu

 Khám phá các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc

Trăng

 Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến phát triển doanh nghiệp xây

dựng tỉnh Sóc Trăng.

 Đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố tác động đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.

 Phạm vi nghiên cứu của luận án là các doanh nghiệp xây dựng đang hoạt

động trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

 Phạm vi thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận án được thu thập bao gồm

dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu được công bố trên tạp chí, Niên

giám thống kê tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh. Dữ liệu sơ cấp thu được

thông qua các bảng khảo sát 257 doanh nghiệp xây dựng và được thiết kế

phù hợp với vấn đề cần nghiên cứu.

5. Những đóng góp mới của luận án

Những đóng góp của luận án thể hiện qua các mặt sau:

1) Luận án đã góp một phần vào vận dụng lý thuyết phát triển doanh nghiệp

nhằm làm sáng tỏ trường hợp nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc

Trăng.

2) Luận án đã góp phần phát hiện một số yếu tố mới bổ sung vào mô hình phát

triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng

3) Luận án đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh

Sóc Trăng trong thời gian tới.

5

6. Kết cấu luận án

Luận án nghiên cứu với những nội dung chính được chia thành 5 chương cụ

thể như sau.

Tổng quan về nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự

phát triển các doanh nghiệp xây dựng.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.

Chương 3: Phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp xây

dựng tỉnh Sóc Trăng.

Chương 4: Thực trạng về phát triển các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng.

Chương 5: Giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thời

gian tới.

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Các phụ lục

6

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

XÂY DỰNG TỈNH SÓC TRĂNG

Mục đích của chương này là phát triển lý thuyết các khái niệm nghiên cứu

trong luận án. Phân tích một số mô hình hiện tại có liên quan đến việc thúc đẩy và

phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung, doanh nghiệp xây dựng nói riêng,

đồng thời đánh giá các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp. Một số giả

thuyết cũng được phát triển liên quan đến các vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên

cứu được đặt ra ở trên.

1.1 Một số khái niệm và phát triển doanh nghiệp

1.1.1 Doanh nghiệp và doanh nghiệp xây dựng

Doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản,

có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Luật doanh nghiệp quy định về

việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế

(sau đây gọi chung là doanh nghiệp) theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11

ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt

Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006). Trong Luật này, các từ

ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực

hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số

hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm

hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra

sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối

7

đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính

đáng của người tiêu dùng.

Doanh nghiệp xây dựng: Doanh nghiệp xây dựng cũng là một tổ chức kinh

tế, có tư cách pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt (sản phẩm có giá trị lớn,

thời gian sản xuất dài) trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi

nhuận. Doanh nghiệp xây dựng hình thành trên cơ sở pháp lý của mỗi quốc gia, phụ

thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định. Trong kinh tế thị

trường sự đa dạng, phong phú của loại hình doanh nghiệp xây dựng là một tất yếu

khách quan nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (Luật doanh nghiệp số

60/2005/QH11).

1.1.2 Khái niệm phát triển doanh nghiệp

Một khái niệm có thể được mô tả như là một sự trình bày tổ chức có trật tự,

hay cách mô tả về một hệ thống và hiện tượng. Trong khi một khái niệm có thể đơn

giản hoá quá trình giải quyết vấn đề thì nó lại thiếu chính xác để đưa ra các dẫn xuất

có hệ thống. Đứng trên nguyên tắc phân loại - trong đó mô tả hiện tượng thực

nghiệm bằng cách lắp chúng thành một tập hợp. Tuy nhiên, không chặt chẽ, do đó

tính ứng dụng của nó cho các nghiên cứu trong tương lai là hạn chế (Nachmias,

Nachmias, 1991: 40-41). Ngược lại, các mô hình là một công cụ để trợ giúp tư duy

hợp lý (Buffa, Dyer,1977: 10; Saaty và Alexander, 1981: 4-5; Williams, 1990: 3).

Cụ thể, mô hình là một bài thuyết minh đơn giản của một hệ thống hoặc hiện tượng

phức tạp (Buffa, Dyer, 1977: 10). Như mô hình toán học gồm các ký hiệu đại số

hoặc mô hình các hệ thống kinh tế Hoa Kỳ (Williams, 1990: 3; Nachmias and

Nachmias, 1991: 50). Trước tiên tiến hành tìm hiểu khái niệm phát triển doanh

nghiệp.

Khái niệm đánh giá phát triển doanh nghiệp

Gibb (1993) đã phát triển một khung khái niệm cho việc đánh giá sự phát

triển doanh nghiệp trong bối cảnh các nước khu vực miền Trung và Đông Âu. Khái

niệm thể hiện sự tồn tại của bộ phận doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào:

• Văn hóa;

• Sự khởi đầu và tồn tại của doanh nghiệp;

• Sự tăng trưởng doanh nghiệp;

8

• Hỗ trợ cơ sở hạ tầng.

Chính sách, hoạt động hỗ trợ, tổ chức, và nhu cầu của các doanh nghiệp nhỏ

để hỗ trợ và của xã hội cho các doanh nghiệp nhỏ. Chính sách phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ, cả từ quan điểm vĩ mô cũng như từ quan điểm cụ thể cho các

doanh nghiệp vừa và nhỏ trong từng ngành.

Neck (1977) đã đưa ra một mô hình khái niệm để phân tích hỗ trợ cho việc

phát triển các doanh nghiệp. Như thể hiện mô hình khái niệm có ba yếu tố quan

trọng, đó là: Quản lý, Tổ chức và Môi trường. Có hai bước trong mô hình:

Bước 1: Giai đoạn bắt đầu

Để phân tích sự cần thiết nghiên cứu và phù hợp của các yếu tố chính

Bước 2: Hoạt động khắc phục hậu quả

Để có biện pháp khắc phục cần thiết, dựa trên những phát hiện trong giai

đoạn bắt đầu nhằm có hành động khác để hỗ trợ có hiệu quả cho các doanh nghiệp

vừa và nhỏ. Do đó, mô hình cung cấp khung khái niệm cho việc phát triển các

doanh nghiệp nhỏ bằng cách cải thiện các kỹ năng, kiến thức và thái độ của chủ

doanh nghiệp nhỏ, hỗ trợ của các đại lý.

Gibb and Manu (1990) đã phát triển một mô hình trong bối cảnh phát triển

doanh nghiệp nhỏ, hiệu quả của tổ chức hỗ trợ, là phụ thuộc vào tình hình, có thể

được đánh giá theo mức độ phù hợp giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các tổ

chức hỗ trợ về con người, cấu trúc và quy trình làm việc. Giả thuyết cơ bản được sử

dụng để kiểm tra mô hình, theo Gibb, Manu (1990: 19), là: “các tổ chức hỗ trợ

doanh nghiệp càng có mức độ phù hợp về mặt con người, cấu trúc và quy trình làm

việc, thì khả năng tác động càng lớn”. Mô hình này đã được thử nghiệm thực

nghiệm trong nền kinh tế Ghana chỉ ra rằng tổ chức hỗ trợ có mối quan hệ mật thiết

nhất với phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ về nguồn nhân lực, và cấu trúc quy

trình làm việc sẽ đạt được hiệu quả nhất.

Hossain (1998) trong kết quả báo cáo đã nhấn mạnh phát triển doanh nghiệp

chính là rào cản pháp lý, điều kiện pháp luật và trật tự nghèo đói của xã hội, là một

số trong những vấn đề khác có tác động đến bất lợi về phát triển doanh nghiệp vừa

và nhỏ.

9

Qudus, Rashid (2000) cũng cho rằng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã

phải đối mặt với vô số các trở ngại quan liêu khi bắt đầu xây dựng một doanh

nghiệp.

Rahman (2004) đã chỉ ra rằng các khó khăn phát triển doanh nghiệp là ảnh

hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangldesh: thiếu các kỹ

năng ở tất cả các cấp độ, thiếu tổ chức công nghiệp, kích thước giới hạn của thị

trường và tốc độ tăng trưởng thấp, và thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây

dựng, trình độ công nghệ nghèo nàn.

Khan (2012) phát triển doanh nghiệp là cách tiếp cận từ các phần tử kết hợp

bao gồm: kinh doanh, hỗ trợ tài chính, chính sách phù hợp và thể chế, các mối liên

kết, công nghệ phù hợp và mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm.

Chowdhury, Islam, Alam (2013) cho rằng phát triển doanh nghiệp chính là

đo lường sự tăng trưởng của doanh nghiệp và giả định rằng có mối quan hệ tích cực

giữa các yếu tố tăng trưởng được mô tả như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài

chính, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho

các sản phẩm, cơ sở hạ tầng đầy đủ. Cùng với khái niệm phát triển doanh nghiệp

chính là sự tăng trưởng của doanh nghiệp được Gladys N. Wekesa Bunyasi; Bwisa,

Gregory (2014) tiếp tục đưa ra khung khái niệm phát triển doanh nghiệp tiếp cận

thông tin kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển độc lập của doanh

nghiệp vừa và nhỏ và tăng trưởng là biến phụ thuộc được đo lường về lợi nhuận và

doanh thu bán hàng thu được từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Cuối cùng, theo quan điểm tác giả vận dụng và đề nghị làm sáng rõ khái

niệm phát triển doanh nghiệp: phát triển doanh nghiệp xây dựng chính là đo lường

sự tăng trưởng của doanh nghiệp và có mối quan hệ tác động giữa các yếu tố đến

tăng trưởng, được mô tả như nguồn vốn kinh doanh, nguồn nhân lực, thị trường,

công nghệ phù hợp, kiến trúc xây dựng, môi trường và chính sách nhà nước.

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển doanh

nghiệp

Nghiên cứu các yếu tố có tác động đến sự phát triển doanh nghiệp là cơ sở

khái niệm. Mặc dù, không có nhiều công trình nghiên cứu cơ sở về những hạn chế

của sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là loại hình doanh nghiệp vừa và

10

nhỏ, nhưng có một số lớn lượng nghiên cứu phát triển doanh nghiệp như (Bannock,

2002; Batra, Tan, 2003; Chowdhury, 2007) đã chỉ ra những thách thức mà các

doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt thường xuyên. Doanh nghiệp vừa và nhỏ

khác nhau về các đặc điểm như hạn chế nguồn nhân lực (nguồn vốn, nhân lực, công

nghệ), chiến lược và cấu trúc linh hoạt (Hudson, 2001; Quian, Li, 2003; Khan,

Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 2012). Người ta có thể tranh luận rằng các doanh

nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ thất bại cao hơn do các hạn chế về tài chính, công nghệ

và con người.

Một số nghiên cứu điển hình về phát triển doanh nghiệp như (Khan, Nazmul,

Hossain, Rahmatullah, 2012; Chowdhury, 2007; Mintoo, 2006; Marsden, 1992;

Steel, 1994) đã ủng hộ lập luận này. Thiếu nguồn vốn là một nhân tố tác động đến

sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều quan trọng nhất đối

với việc mở rộng và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là sự khan hiếm nghiêm

trọng các nguồn vốn cần thiết (Chowdhury, 2007). Nguồn nhân lực con người gắn

liền với trình độ giáo dục và kinh nghiệm của họ (Chowdhury, Amin, 2011);

Shapero, Sokol (1982); Gnyawali, Fogel (1994) báo cáo rằng doanh nghiệp vừa và

nhỏ ở các nước đang phát triển có thể gặp vô số trở ngại như thiếu các cơ sở đào

tạo, thiếu kỹ năng cần thiết trong việc bắt đầu và quản lý các doanh nghiệp vừa và

nhỏ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có công nhân có tay nghề cao và có kinh nghiệm

với giáo dục đại học có thể sẽ hiệu quả hơn (Hewitt, Wield, 1992; Batra, Tan 2003).

Các nghiên cứu khác (Lee, 2001, Yousuf, 2003, Camp, Anderson, 2000) tìm ra rằng

khả năng công nghệ thấp là một hạn chế lớn trong phát triển doanh nghiệp vừa và

nhỏ.

Khan (2004) cho rằng các khó khăn sau đây tác động đến sự tăng trưởng của

doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangldesh: (a) thiếu các kỹ năng ở tất cả các cấp độ,

(b), thiếu tổ chức công nghiệp, (c) kích thước giới hạn của thị trường và tốc độ tăng

trưởng thấp, và (d) thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây dựng, trình độ công

nghệ nghèo nàn. Trường hợp nghiên cứu này cho thấy thiếu các kỹ năng ở tất cả các

cấp độ, thiếu tổ chức công nghiệp thì ở các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam là

không phù hợp; phần lớn các kỹ năng nghề nghiệp của nhân viên, kỹ sư, kiến trúc

sư và cả nhân công đều được đào tạo đúng ngành nghề, đồng thời được làm việc

11

trong môi trường ngành xây dựng nhiều năm. Nhưng kích thước giới hạn thị trường,

thiếu chính sách đúng đắn và trình độ công nghệ đối với nền kinh tế chuyển đổi như

ở Việt Nam thì phát triển các doanh nghiệp xây dựng là vấn đề cần được quan tâm

và vận dụng vào nghiên cứu để phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng. Một

số công trình nghiên cứu trước như Qudus, Rashid (2000) cho rằng các nhà kinh

doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phải đối mặt với vô số các trở ngại quan liêu

khi bắt đầu xây dựng một doanh nghiệp. Begum (1993) báo cáo về mức trung bình

những nỗ lực của chính phủ và chính sách các ưu đãi đã làm chậm quá trình tăng

trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.

Ngân hàng phát triển Châu Á (2009) đã nêu bật những khó khăn sau đây

như: hạn chế tiếp cận tài chính, khan hiếm tín dụng trung và dài hạn, hạn chế kết

nối với thị trường, thiếu hệ thống thông tin xếp hạng tín dụng cho khách hàng vay.

Thiếu sót trong thị trường nội bộ là nguyên nhân chính của thất bại doanh nghiệp

nhỏ và vừa, và xoay quanh các kỹ năng quản lý, kiến thức tài chính, thiếu chuyên

môn trong tiếp thị và quản lý nguồn nhân lực (Ligthelm and Cant, 2002). Không

cần phải đề cập đến các yếu tố tiếp thị như không có khả năng tiến hành nghiên cứu

thị trường, sản phẩm hoặc dịch vụ kém, hiểu sai xu hướng khách hàng và nhu cầu

cũng tác động đến phát triển của doanh nghiệp nhỏ.

Jahangir H. Khan, Abdul Kader Nazmul, Md. Farooque Hossain, Munsura

Rahmatullah (2012) đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển

doanh nghiệp bao gồm: Doanh nhân (E), hỗ trợ tài chính (F), chính sách phù hợp và

thể chế (P), các mối liên kết (L), công nghệ phù hợp (T), và mối quan hệ thị

trường/nhu cầu cho các sản phẩm (M), và f là định dạng của các mô hình, D là mục

tiêu hoặc tăng trưởng của doanh nghiệp. Mô hình có dạng D = f (E, F, P, L, T,

M,............). P là mẫu số nguyên tố là viết tắt của phần cứng và phần mềm của tổ

chức là chịu trách nhiệm cho sự phát triển doanh nghiệp). Rõ ràng từ những nghiên

cứu mà một số cải cách là cần thiết để hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở

Bangladesh. Các tổ chức thích hợp tham gia vào quá trình này sẽ phải hoạt động

một cách gắn kết và hợp tác. Tất cả đều phải tham gia bình đẳng và sự hỗ trợ chính

phủ nên bao gồm sự hợp tác của các tổ chức khác có liên quan. Do đó, nhóm tác giả

12

của mô hình này đã gợi ý nghiên cứu tiếp theo nhằm điều chỉnh và bổ sung mới các

yếu tố trong mô hình cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

Tiếp theo nghiên cứu của Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah (2012) là

nghiên cứu của nhóm tác giả Chowdhury, Islam, Alam (2013) tiếp tục nghiên cứu

mô hình các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Bangladesh.

Mô hình bao gồm: các khả năng của các doanh nhân (CE), hỗ trợ tài chính (F), hỗ

trợ chính phủ (G), công nghệ phù hợp (T), kết nối thị trường/nhu cầu cho các sản

phẩm (M), cơ sở hạ tầng đầy đủ (I) và f là định dạng của các mô hình, D là mục tiêu

hoặc phát triển doanh nghiệp. Mô hình có dạng:

D = f (CE, F, G, T, M, I)

Mô hình này dựa trên giả định rằng sự phát triển của doanh nghiệp vừa và

nhỏ phụ thuộc vào giải quyết những vấn đề còn hạn chế đến phát triển doanh

nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở

Bangladesh phải đối mặt với nhiều trở ngại tác động đến sự phát triển và tăng

trưởng. Những trở ngại này làm cho các doanh nghiệp địa phương ngày càng khó

khăn. Nếu chúng có thể được cải thiện, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cung

cấp cho nền kinh tế địa phương những cơ hội tăng trưởng đáng kể.

Nhìn chung, cũng giống nghiên cứu của Khan (2004) được Jahangir H.

Khan, Abdul Kader Nazmul, Md. Farooque Hossain, Munsura Rahmatullah (2012)

tiếp tục kế thừa các yếu tố như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài chính, cơ sở

hạ tầng đầy đủ, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, kết nối thị trường. Nếu chúng

ta vận dụng các yếu tố này vào nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng ở Việt

Nam. Tuy nhiên, nếu kế thừa một số yếu tố sẽ phù hợp với điều kiện phát triển

doanh nghiệp ở Việt Nam như yếu tố hỗ trợ chính phủ có thể chuyển thành yếu tố

chính sách nhà nước; kế thừa các yếu tố công nghệ phù hợp; kết nối thị trường, đều

này cho thấy công nghệ phù hợp là vấn đề rất quan trọng đối với các doanh nghiệp

xây dựng ở Việt Nam. Khi thi công một công trình xây dựng thì doanh nghiệp xây

dựng ngoài những yếu tố khác thì công nghệ phù hợp là vấn đề chính góp phần xây

dựng thành công công trình. Đối với yếu tố kết nối thị trường ở các doanh nghiệp

xây dựng Việt Nam chưa được liên kết mạnh mẽ giữa thị trường các tỉnh trong khu

vực đồng bằng sông Cửu Long, có nghĩa là doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh nào thì

13

phát triển ở thị trường tỉnh đó, chưa tạo thêm sức mạnh kết nối thị trường trong xây

dựng. Từ yếu tố kết nối thị trường là vấn cần thiết cho các doanh nghiệp xây dựng

hiện nay.

Căn cứ vào các thảo luận kết quả nghiên cứu ở trên thì các khó khăn để phát

triển doanh nghiệp xây dựng trong bối cảnh tỉnh Sóc Trăng có thể được phân loại

thành: chính sách của nhà nước, tiếp cận nguồn vốn, thị trường, nguồn nhân lực,

môi trường, công nghệ phù hợp, kiến trúc xây dựng. Chính sách nhà nước nghĩa là

chính phủ sẽ trực tiếp hỗ trợ sự phát triển và tăng trưởng của khu vực này bằng cách

cung cấp tất cả các phương tiện để khuyến khích và hỗ trợ, giải quyết các vấn đề về

phát triển bao gồm các yếu tố hỗ trợ chính phủ (North 1990; Binks & Coyne 1983).

Nghiên cứu của Chowdhury, Islam, Alam (2013) được xem là nghiên cứu điển hình

và mô hình đưa ra 6 yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại

Bangladesh và được Wekesa Bunyasi; Henry Bwisa, Gregory (2014) tiếp tục kế

thừa nghiên cứu phát triển doanh nghiệp từ việc tiếp cận thông tin kinh doanh là yếu

tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ (tăng trưởng doanh

nghiệp là biến phụ thuộc được đo lường về lợi nhuận và doanh thu bán hàng thu

được từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ).

Các nghiên cứu này giới hạn trong hai ngành công nghiệp (nhà hàng và

doanh nghiệp sản xuất sữa) và đã không đưa vào phỏng vấn chuyên sâu để điều tra

các trở ngại cho sự tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại

Bangladesh. Nhưng nghiên cứu hiện nay là nền tảng, nghiên cứu trong tương lai có

thể được thực hiện với nhiều mẫu từ các khu vực khác nhau và sử dụng phỏng vấn

chuyên sâu để có cái nhìn rộng hơn về những khó khăn trong việc phát triển và tăng

trưởng của các doanh nghiệp. Điều này cho thấy sự hạn chế của nghiên cứu này

chính là tiền đề xuất hiện nghiên cứu tiếp theo ở nhiều lĩnh vực hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp và quy mô mẫu được mở rộng hơn. Như vậy, tác giả cho

rằng lĩnh vực doanh nghiệp xây dựng là điều kiện thích hợp nghiên cứu tiếp theo

của Chowdhury, Islam, Alam (2013). Tổng hợp các yếu tố tác động đến phát triển

doanh nghiệp (bảng 1.1).

14

Bảng 1.1: Tổng hợp các yếu tố tác động đến phát triển doanh

nghiệp

Tác giả Yếu Yếu Yếu Yếu Yếu Yếu Yếu

tố 1 tố 2 tố 3 tố 4 tố 5 tố 6 tố 7

Khan, Nazmul, Hossain,    

Rahmatullah (2012);

Chowdhury, Islam, Alam   

(2013) 

Khan (2004);  

Ligthelm, Cant (2002); 

Batra, Tan (2003);

Chowdhury, Amin (2011)

Chen, Lasker (2010) 

Njuangang, Douglas, 

Liyanage (2010); Kent

Fairfield, Joel Harmon,

Scott Behson (2011)

Souza (2009) 

Nguồn: tổng hợp nghiên cứu của tác giả

Ghi chú các yếu tố (Yếu tố 1: nguồn vốn; yếu tố 2: kết nối thị trường; yếu tố

3: chính sách nhà nước; yếu tố 4: nguồn nhân lực; yếu tố 5: công nghệ phù hợp;

yếu tố 6: kiến trúc xây dựng; yếu tố 7: môi trường xây dựng).

1.3 Mối liên hệ giữa các khái niệm và tổng quan nghiên cứu phát triển doanh

nghiệp

Phát triển mô hình nghiên cứu và một số giả thuyết chính liên quan đến việc

phát triển doanh nghiệp, từ các vấn đề nghiên cứu nhằm giải thích mối liên kết của

chúng với các đề xuất làm sáng tỏ khái niệm. Mô hình phát triển của doanh nghiệp

phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp. Vì vậy, mô hình lý

thuyết của Chowdhury, Islam, Alam (2013) được tác giả vận dụng vào nghiên cứu

phát triển các doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng là phù hợp với khung khái

niệm và kết hợp với mô hình nghiên cứu.

15

Trên cơ sở tiếp cận khái niệm và tổng quan nghiên cứu phát triển doanh

nghiệp, tác giả rút ra một số kết luận nghiên cứu có liên quan đến các yếu tố tác

động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng và có thể đưa ra các giả thuyết sau đây:

(1) Nguồn vốn: Thiếu nguồn vốn là một nhân tố tác động đến sự tăng trưởng

và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều quan trọng nhất đối với việc mở

rộng và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là sự khan hiếm nghiêm trọng các

nguồn vốn cần thiết (Chowdhury, 2007). Người ta có thể tranh luận rằng các doanh

nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ thất bại cao hơn do các hạn chế về tài chính. Một số

nghiên cứu điển hình như (Marsden, 1992; Steel, 1994; Chowdhury, 2007; Mintoo,

2006). Các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên các quan điểm của các cơ quan cho vay

(thường là khó khăn với việc xử lý các khoản vay nhỏ).

Các thủ tục cho vay hiện nay của các tổ chức tín dụng Việt Nam được cho là

cồng kềnh, quá quan liêu và tài sản thế chấp được xem là quá mức. Trước tiên, các

quan chức nói rằng hầu hết các doanh nghiệp huy động nguồn vốn không trình bày

các nghiên cứu khả thi hoặc thuyết phục bằng kế hoạch kinh doanh hấp dẫn. Do đó,

được coi rủi ro cao. Thứ hai, ngay cả những doanh nghiệp với kế hoạch kinh doanh

hấp dẫn không được vay bởi thiếu tài sản thế chấp. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp

không có tài khoản tiền gửi trong hệ thống ngân hàng chính thức, mà ngân hàng yêu

cầu cần vay. Một lý do nữa là doanh nghiệp đã không đưa ra bất kỳ một nhượng bộ

về điều kiện cho vay của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguồn vốn có

thể tồn tại trong nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam. Điều này cho thấy một số cải cách

của việc cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp.

Trong giai đoạn phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ phải trải qua tình trạng

thiếu nguồn vốn. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguồn vốn có thể được hiển thị để tồn

tại cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul, Hossain,

Rahmatullah, 2012). Trong khi các ngân hàng muốn thay đổi các quy tắc cho vay

đối với các doanh nghiệp. Theo kết quả nghiên cứu của Kamunge, Njeru, Tirimba

(2014), yếu tố khả năng tiếp cận nguồn vốn vay có tác động đến doanh nghiệp ở

Kenya. Nghiên cứu cho thấy nguồn vốn (hỗ trợ tài chính) được xem xét tác động ở

khía cạnh thành công của doanh nghiệp xây dựng, khả năng huy động tài chính từ

bên ngoài tác động vào nguồn vốn của doanh nghiệp xây dựng, mối liên quan giữa

tiếp cận nguồn vốn và sự phát triển doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ nguồn

16

vốn tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhóm tác giả Khan,

Nazmul, Hossain, Rahmatullah (2012); Chowdhury, Islam, Alam, (2013) cho thấy

nguồn vốn sẽ tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng. Như thảo luận ở trên

về nguồn vốn phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ lý thuyết đã tiếp cận, tác giả

đưa ra giả thuyết thứ nhất như sau:

H1: Nguồn vốn có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp xây dựng.

(2) Kết nối thị trường

Do kiến thức hạn chế, khả năng và nguồn lực của các doanh nghiệp và những

mối quan tâm của nhà nước không nhận ra tầm quan trọng của thị trường. Nghiên

cứu cho thấy rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp một số vấn đề tiếp thị khác nhau, từ

việc mua nguyên liệu đầu vào đến bán sản phẩm đầu ra. Nguyên nhân được xác

định là thiếu nguồn vốn, kiến thức, cơ sở hạ tầng, chất lượng, nhu cầu phân tán và

thông tin thị trường.

Kích thước giới hạn của thị trường và tốc độ tăng trưởng thấp sẽ dẫn đến khó

khăn cho sự tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp (Khan, 2004); Thiếu thị trường

là nguyên nhân chính của thất bại doanh nghiệp vừa và nhỏ (Ligthelm, Cant, 2002);

Kết nối thị trường có khả năng tác động đáng kể đến phát triển doanh nghiệp vừa và

nhỏ (Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 1012; Chowdhury, Islam, Alam, 2013).

Dựa vào sơ lược yếu tố thị trường có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh

nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết

thứ 2 như sau:

H2: Kết nối thị trường có mối quan hệ tích cực đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng.

(3) Chính sách nhà nước

Mức thấp của phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam thường là do việc thực

hiện xây dựng kém các chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, bao

gồm cả các khoản vay, các cơ sở đào tạo, các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng, và

cung cấp các nguyên liệu ở mức trợ cấp cho các doanh nghiệp phát triển ổn định và

lâu dài. Các nhóm chuyên gia cũng chỉ ra sự thiếu hụt nguồn vốn và đặc biệt là của

ngoại hối là một trở ngại nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp hiện nay. Hơn nữa,

diễn biến này đã ảnh hưởng tới kế hoạch để biết thêm tích lũy và hình thành nguồn

17

vốn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp xây dựng thâm hụt nguồn vốn. Các rủi ro

điều hành chính sách của nhà nước cũng làm cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là

những người nước ngoài, ngày càng không tin vào môi trường kinh doanh triển

vọng của doanh nghiệp.

Một số mục tiêu chiến lược dài hạn rất quan trọng trong bối cảnh này, cũng

như sự kiên nhẫn và quyết tâm để xem chính sách đó từ đầu đến cuối, và điều này

sẽ đòi hỏi một mức độ cao của tính nhất quán trong hoạch định chính sách. Việc

phân tích các yếu tố chính sách và thể chế rõ ràng đã cho thấy rằng Việt Nam đã

cung cấp chính sách và hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển chưa đáp ứng kịp nhu

cầu phát triển của doanh nghiệp.

Các chính sách hỗ trợ của nhà nước đã nhấn mạnh vào yếu tố quyết định

chính như đào tạo và cung ứng của các doanh nhân, thị trường mối quan hệ, và công

nghệ đặc biệt cho ngành xây dựng. Tuy nhiên, một tầm nhìn dài hạn rõ ràng và tiến

bộ về vai trò của các phát triển doanh nghiệp chưa được phản ánh nhiều trong chính

sách nhà nước. Điều này cho thấy một số nghiên cứu điển hình về hỗ trợ chính sách

của nhà nước như Khan (2004) cho rằng khó khăn về thiếu chính sách đúng đắn và

mang tính xây dựng sẽ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp nhỏ

và vừa. Chính sách và thể chế phù hợp sẽ tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa

và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 2012). Việc phân tích

các chính sách và các yếu tố thể chế rõ ràng đã tiết lộ rằng Bangladesh đã không

được cung cấp chính sách và hỗ trợ thể chế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc khó

tiếp cận các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Kết quả nghiên cứu của Chowdhury,

Islam, Alam (2013) khẳng định hỗ trợ chính phủ có tác động đến phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ tại Bangladesh.

Từ kết quả nghiên cứu hỗ trợ chính sách nhà nước có tác động vào phát triển

doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây chính là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu tiếp

theo. Dựa vào sơ lược yếu tố hỗ trợ chính sách nhà nước có mối quan hệ kết nối với

phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả

đưa ra giả thuyết thứ 3 như sau:

18

H3: Chính sách nhà nước có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp

xây dựng.

(4) Nguồn nhân lực

Các vấn đề về nguồn nhân lực phản ánh mức độ mà các chủ doanh nghiệp

vừa và nhỏ có kinh nghiệm nhất định có ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp của

họ. Ligthelm, Cant (2002) khẳng định rằng tác động của các vấn đề nguồn nhân lực

là nghiêm trọng hơn trong các doanh nghiệp quản lý hoặc sở hữu bởi người không

có kinh nghiệm quản lý. Nhưng theo nghiên cứu của Hewitt, Wield (1992), Batra,

Tan (2003) khẳng định rằng nguồn nhân lực (công nhân có tay nghề cao hơn và có

học vấn cao hơn) có thể sẽ hiệu quả hơn đối với phát triển doanh nghiệp. Nói một

cách khác, nguồn nhân lực con người gắn liền với mức độ giáo dục và kinh nghiệm

của họ có tác động đến phát triển doanh nghiệp (Shapero, Sokol, 1982; Chowdhury,

Amin, 2011).

Từ kết quả nghiên cứu nguồn nhân lực có tác động vào phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ, yếu tố nguồn nhân lực có mối quan hệ kết nối với phát triển

doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả

thuyết thứ 4 như sau:

H4: Nguồn nhân lực có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp xây

dựng.

(5) Công nghệ phù hợp

Các doanh nhân thường đến từ khu vực nông thôn thiếu đào tạo chính quy và

thiếu kinh nghiệm công nghệ hoặc kinh doanh và kỹ năng. Trong ngắn hạn, họ thiếu

sự năng động để bắt tay vào thay đổi. Mặt khác, các chế độ chính sách của nước

cũng không tạo ra một môi trường thuận lợi để sử dụng công nghệ tiên tiến phù

hợp. Rõ ràng là các nhà hoạch định chính sách của chính phủ và đặc biệt là các nhà

quy hoạch đã thể hiện nhận thức của họ về sự cần thiết phải thúc đẩy năng lực công

nghệ, bởi đây là động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm mới, đặc

biệt Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện quy hoạch phải có ý quy định một số yếu

tố quan trọng của việc áp dụng công nghệ mới.

Mặt khác, các chế độ chính sách và thể chế của nhà nước cũng không tạo ra

một môi trường thuận lợi để sử dụng công nghệ tiên tiến phù hợp. Theo Huq, Love

19

(2001) các liên doanh nói chung rất bảo thủ trong việc thay đổi công nghệ mới.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau về các đặc điểm như hạn chế công nghệ sẽ ảnh

hưởng đến phát triển doanh nghiệp (Hudson, 2001; Quian, Li, 2003). Công nghệ

xây dựng được đo lường thông qua yếu tố của kiến thức tạo nên cấu trúc mô hình

hóa doanh nghiệp theo hệ thống tổ chức (Chen, Lasker, 2010). Công nghệ phù hợp

có tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul,

Hossain, Rahmatullah, 2012). Nghiên cứu của Chowdhury, Islam Alam (2013) tiếp

tục có kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng công nghệ phù hợp sẽ tác động đến

phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Bangladesh.

Từ kết quả nghiên cứu công nghệ phù hợp sẽ tác động vào phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ, đây chính là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu tiếp theo. Dựa

vào sơ lược yếu tố công nghệ phù hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh

nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết

thứ 5 như sau:

H5: Công nghệ phù hợp có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp

xây dựng.

(6) Kiến trúc xây dựng

Trong kiến trúc xây dựng không thiếu sự sáng tạo nhưng họ thường thiếu sự

tự do để có thể mặc sức khai thác khả năng sáng tạo của mình. Khách hàng luôn đặt

ra những yêu cầu, xây dựng phải được sự thỏa hiệp giữa ý tưởng sáng tạo và điều

kiện thực tế. Nếu những giới hạn đó được dỡ bỏ, các kiến trúc sư sẽ cho ra đời

những tòa nhà độc đáo tới mức nào. Những công trình kiến trúc dần mọc lên ở

thành phố Hồ Chí Minh không giống với những ngôi nhà bình thường, đó có thể coi

là những tác phẩm nghệ thuật của kiến trúc xây dựng.

Kiến trúc xây dựng thể hiện bản sắc của một dân tộc nói chung và nét truyền

thống trong kiến trúc xây dựng nói riêng, cần phải phát hiện và tập hợp những nét

riêng độc đáo, đặc thù, cốt lõi và tinh túy của quá trình hình thành và phát triển

doanh nghiệp xây dựng. Theo Souza (2009) kiến trúc thiết kế xây dựng chỉ là những

lý do cho việc thông qua các khía cạnh xây dựng mô hình thông tin liên quan đến

việc thực hiện trong bản vẽ thông qua dự án và theo cách thông thường của thiết kế

xây dựng công trình đối với doanh nghiệp. Vì kiến trúc xây dựng là lĩnh vực đặc thù

20

chỉ có ở doanh nghiệp xây dựng và lĩnh vực doanh nghiệp khác không có chức năng

tư vấn kiến trúc xây dựng, việc đưa yếu tố kiến trúc xây dựng vào nghiên cứu doanh

nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng là phù hợp với lĩnh vực của doanh nghiệp. Việc

định hướng phát triển kiến trúc xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng nhằm đáp ứng với nhu

cầu xây dựng công trình và kiến trúc tạo dấu ấn trong không gian đô thị và nông

thôn trên cơ sở khai thác tốt những tiến bộ, văn minh thế giới, đồng thời phải đảm

bảo phát huy tốt những đặc trưng của bản sắc văn hoá dân tộc.

Từ kết quả nghiên cứu kiến trúc xây dựng bổ sung phù hợp sẽ tác động vào

phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, dựa vào sơ lược yếu tố kiến trúc xây dựng phù

hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái

niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 6 như sau:

H6: Kiến trúc xây dựng có mối quan hệ tích cực đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng.

(7) Môi trường xây dựng

Doanh nghiệp quan tâm đến môi trường có khả năng tác động đến việc ra

quyết định trong thực hiện hệ thống quản lý môi trường đối với các doanh nghiệp

vừa và nhỏ (Njuangang, Douglas, Liyanage, 2010). Vấn đề môi trường có mối quan

hệ giữa các mục tiêu trong hoạt động trách nhiệm xã hội và tác động của ngành xây

dựng (Martinuzzi; Kudlak; Faber; Wiman, 2011). Thực trạng tại tỉnh Sóc Trăng,

hầu hết các doanh nghiệp xây dựng đều vi phạm các quy định của pháp luật về bảo

vệ môi trường. Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó có phần

lớn nằm trong khối doanh nghiệp. Theo kết quả điều tra của Trung tâm Quan trắc và

phân tích tài nguyên môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, hầu như

các doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định về bảo

vệ môi trường như: chưa lập hoặc đã có nhưng thực hiện không đúng các yêu cầu

trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo

vệ môi trường…) chưa thực hiện quan trắc môi trường định kỳ trong hoạt động sản

xuất, kinh doanh, không đầu tư hệ thống xử lý chất thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn Việt

Nam trước khi thải ra môi trường.

Từ kết quả nghiên cứu kiến trúc xây dựng bổ sung phù hợp sẽ tác động vào

phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, dựa vào sơ lược yếu tố kiến trúc xây dựng phù

21

hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái

niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 7 như sau:

H7: Môi trường xây dựng có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp

xây dựng.

1.4 Thiết kế mô hình lý thuyết phát triển doanh nghiệp

1.4.1 Cơ sở đề xuất mô hình

Bản chất cơ bản của mô hình là bao gồm các tính năng quan trọng, các yếu

tố, các hệ thống hay vấn đề được nghiên cứu, và quan trọng hơn là khả năng giải

thích và dự đoán các mối quan hệ có liên quan trong số các yếu tố nguyên nhân và

các hiệu ứng (Buffa và Dyer, 1977: 10). Nó cho phép xây dựng các đề xuất thực

nghiệm để kiểm tra bản chất của các mối quan hệ nhân quả (Nachmias và 1991: 45-

46).

Mô hình này được xây dựng dựa trên một nghiên cứu thực nghiệm đặc trưng

được thiết kế để cho phép quan sát các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Chowdhury, Islam, Alam, 2013) có 06 yếu tố tác

động đến phát triển doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh

nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh đối mặt với nhiều trở ngại tác động đến sự phát

triển và tăng trưởng. Những trở ngại này làm cho các doanh nghiệp địa phương

ngày càng khó khăn. Nếu chúng có thể được cải thiện, các doanh nghiệp vừa và nhỏ

có thể cung cấp cho nền kinh tế địa phương những cơ hội tăng trưởng đáng kể.

Mô hình nghiên cứu lý thuyết các yếu tố tác động đến phát triển các doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng sử dụng mô hình lặp lại của Chowdhury, Islam,

Alam (2013), mô hình này được điều chỉnh cho phù hợp với ngành xây dựng ở Sóc

Trăng. Kết quả nghiên cứu định tính (ở chương 2), thông qua thảo luận nhóm, giữ

lại 4 yếu tố (nguồn vốn, công nghệ phù hợp, hỗ trợ chính sách nhà nước, kết nối thị

trường) của mô hình gốc, loại bỏ 2 yếu tố (khả năng doanh nhân, cơ sở hạ tầng đầy

đủ), đồng thời mô hình được bổ sung thêm 3 yếu tố mới (kiến trúc xây dựng, môi

trường, nguồn nhân lực).

Các yếu tố bổ sung là: Yếu tố kiến trúc xây dựng chính là kiến trúc thiết kế

xây dựng thông qua các khía cạnh xây dựng mô hình thông tin liên quan đến việc

22

thực hiện trong bản vẽ thông qua dự án và theo cách thông thường của thiết kế xây

dựng công trình đối với doanh nghiệp (Souza, 2009). Yếu tố môi trường có khả

năng tác động đến việc ra quyết định trong thực hiện hệ thống quản lý môi trường

đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Njuangang, Douglas, Liyanage, 2010), môi

trường có mối quan hệ giữa các mục tiêu trong hoạt động trách nhiệm xã hội và tác

động của ngành xây dựng (Martinuzzi; Kudlak; Faber; Wiman, 2011). Yếu tố

nguồn nhân lực là nguyên nhân chính của phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

(Ligthelm, Cant, 2002; Hewitt, Wield, 1992; Batra, Tan, 2003) và nguồn nhân lực

tác động đến doanh nghiệp (Shapero, Sokol, 1982; Chowdhury, Amin, 2011). Do

tính đặc thù doanh nghiệp xây dựng, bởi sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng tạo

ra là công trình dân dụng, xây dựng nhà ở, khách sạn, trụ sở làm việc, trường học.

Như vậy, việc bổ sung mới 3 yếu tố vào mô hình của Chowdhury, Islam, Alam

(2013) là rất cần thiết, phù hợp thực trạng phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh

Sóc Trăng. Do các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng đa phần là loại hình doanh nghiệp

vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ.

Yếu tố kiến trúc xây dựng: Kiến trúc xây dựng vừa mang tính khoa học kỹ

thuật vừa mang tính nghệ thuật. Nghiên cứu thiết kế công trình từ đơn lẻ đến quần

thể thỏa mãn hai yêu cầu: công năng và thẩm mỹ (ví dụ: nhà ở, trường học, trụ sở

cơ quan, cầu đường,…). Như vậy, kiến trúc xây dựng phải hài hòa với khung cảnh

thiên nhiên, khí hậu; Kiến trúc xây dựng cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường

sông nước; Tính kế thừa dòng kiến trúc trong dân gian; Tính kế thừa dòng kiến trúc

truyền thống.

Yếu tố môi trường: Hiện nay các doanh nghiệp xây dựng là áp lực môi

trường lớn đối với cộng đồng xã hội, nhà nước nơi doanh nghiệp đang thi công công

trình. Các doanh nghiệp cần thực hiện tiêu chuẩn yêu cầu cần thiết môi trường và

sản phẩm công trình xây dựng, các kết cấu của nó và vật liệu xây dựng dưới tác

động của môi trường bên ngoài, như sử dụng nguyên liệu sạch và công nghệ trong

thi công ít gây ô nhiễm, mức độ giải quyết ô nhiễm môi trường trong sản xuất/xây

dựng công trình, hàng năm doanh nghiệp đánh giá tác động môi trường sản xuất và

kinh doanh xây dựng.

23

Yếu tố nguồn nhân lực: nguồn nhân lực doanh nghiệp xây dựng hiện nay

thông việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong lĩnh vực xây dựng là áp lực lớn đối với

các nhà quản lý doanh nghiệp. Đồng thời nguồn nhân lực có vai trò vị trí quan trọng

đối với phát triển doanh nghiệp xây dựng.

Yếu tố phát triển doanh nghiệp: phát triển doanh nghiệp theo Qureshi, Herani

(2011); Bunyasi; Henry, Gregory (2014) là sự tăng trưởng doanh nghiệp (tăng lợi

lợi nhuận, tăng doanh thu bán hàng và tăng trưởng doanh nghiệp). Trong trường

hợp nghiên cứu này được điều chỉnh lại phát triển doanh nghiệp xây dựng là: Tăng

cường năng suất hoạt động doanh nghiệp; Tăng cường công việc hoạt động doanh

nghiệp; Cải thiện thu nhập doanh nghiệp; Doanh thu bán hàng ngày càng tăng; Tăng

trưởng doanh nghiệp như mong muốn.

Tóm lại, từ lập luận như trên tác giả rút ra 7 yếu tố quan trọng để làm cơ sở

nghiên cứu tiếp theo, bao gồm: Nguồn vốn; Kết nối thị trường; Chính sách nhà

nước; Nguồn nhân lực; Công nghệ phù hợp; Môi trường; Kiến trúc xây dựng. Đồng

thời kết hợp với phân tích thực trạng và những vấn đề đặc thù phát triển doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, và vận dụng các yếu tố này vào nghiên cứu các

yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.

1.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Mô hình lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ tác động đến phát triển

doanh nghiệp xây dựng được dựa trên mô hình gốc của Mohammed S.Chowdhury,

Rabiul Islam, Zahurul Alam, (2013) phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở

Bangladesh, được điều chỉnh cho phù hợp nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây

dựng Sóc Trăng. Trước tiên chúng ta tìm hiểu doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy

mô, lĩnh vực doanh nghiệp xây dựng được quy định ở Việt Nam. Tại Điều 3, Nghị

định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ được định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ như

sau:

1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo

quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng

nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân

đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là

tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

24

Bảng 1.2: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Khu vực Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động

vốn vốn

I. Nông, lâm 20 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200

nghiệp và thủy xuống người đến đồng đến 100 người đến

sản 200 người tỷ đồng 300 người

II. Công nghiệp 20 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200

và xây dựng xuống người đến đồng đến 100 người đến

200 người tỷ đồng 300 người

III. Thương mại 10 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50

và dịch vụ xuống người đến 50 đồng đến 50 tỷ người đến

người đồng 100 người

Nguồn: Từ Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ

2. Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà

cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.

Hiện nay, doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là loại hình doanh nghiệp vừa

và nhỏ chiếm trên 97% số lượng doanh nghiệp trên địa bàn cả nước (Cục Phát triển

doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011). Do đó, các doanh nghiệp xây dựng

tại tỉnh Sóc Trăng là một địa bàn của cả nước, nên các phát triển các doanh nghiệp

xây dựng Sóc Trăng cũng là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp khi vận

dụng mô hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh của Mohammed

S.Chowdhury, Rabiul Islam, Zahurul Alam, (2013) vào nghiên cứu trường hợp phát

triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.

Mô hình nghiên cứu đề xuất phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc

Trăng như sau:

25

Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Y= f(X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7);

Trong đó:

X1: yếu tố nguồn vốn (NV);

X2: yếu tố kết nối thị trường (TT);

X3: yếu tố chính sách nhà nước (CS);

X4: yếu tố nguồn nhân lực (NL);

X5: yếu tố công nghệ phù hợp (CN);

X6: yếu tố môi trường (MT);

X7: yếu tố kiến trúc xây dựng (KT)

Y: Phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng (PTDN)

Mô hình này dựa trên giả định rằng sự phát triển của doanh nghiệp xây dựng

phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề được mô tả trong hình 1.1. Đánh giá

tổng quan nghiên cứu nêu trên hỗ trợ tất cả các vấn đề trong mô hình của tác giả đề

xuất. Vì vậy, mô hình của tác giả đề xuất là phù hợp với nghiên cứu mô hình lý

thuyết trên.

26

Tóm tắt chương 1

Cơ sở lý luận phát triển doanh nghiệp xây dựng được xây dựng trên nền tảng

các công trình nghiên cứu có trước, chủ yếu là phân tích các yếu tố tác động vào

phát triển doanh nghiệp xây dựng nhằm tìm ra vấn đề còn hạn chế chưa được

nghiên cứu để hoàn thiện cơ sở lý luận, phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam

nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng. Từ các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên

tác giả sàng lọc lại các yếu tố đề xuất nghiên cứu tác động đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng, và kết hợp với kết quả nghiên cứu định tính nhằm đề xuất các

nhóm yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng.

Các yếu tố được đề xuất như: Nguồn vốn; Kết nối thị trường; Chính sách nhà

nước; Nguồn nhân lực; Công nghệ; Môi trường; Kiến trúc xây dựng. Cụ thể hơn,

luận án sử dụng lý thuyết trên để đưa ra một số phương pháp nghiên cứu làm cơ sở

cho các bước tiếp theo.

Từ cơ sở lý thuyết này, sẽ đo lường mức độ tác động của các biến độc lập

vào biến mục tiêu (phụ thuộc), đồng thời là cơ sở tiến hành nghiên cứu định tính và

định lượng để kiểm lý thuyết ban đầu đưa ra xem xét 7 yếu tố tác động vào sự phát

triển doanh nghiệp xây dựng với mức độ cao hay thấp, có ý nghĩa thống kê hay

không; với kết quả nghiên cứu nhằm đề ra giải pháp hợp lý cho phát triển doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới.

27

Chương 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đã

được nêu trong chương 1. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động

đến sự phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Trong chương 2 này,

nghiên cứu sinh sử dụng bảng câu hỏi khảo sát một số doanh nghiệp xây dựng, các

chuyên gia quản lý trong lĩnh vực xây dựng để thu thập thông tin, sau đó phân tích

dữ liệu nhằm xác định những yếu tố thực sự ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển các

doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng làm cơ sở xây dựng giải pháp

phát triển các doanh nghiệp trong thời gian tới.

2.1 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu

Có hai loại phương pháp nghiên cứu phổ biến là định tính và định

lượng. Một cuộc tranh cãi lớn xuất hiện qua việc áp dụng các phương pháp này

trong nhiều ngành khoa học xã hội (Bryman, 1988). Trong phát triển doanh nghiệp

được nghiên cứu các yếu tố tác động đến tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp.

Nghiên cứu định lượng thường được thực hiện để minh chứng bởi các cuộc

khảo sát xã hội và điều tra thực nghiệm, trong khi nghiên cứu định tính có xu hướng

được gắn với quan sát điển hình và phỏng vấn sâu (Bryman, 1988). Sự nhấn mạnh

chính trong nghiên cứu định lượng dựa trên một phạm vi rộng của nhiều tình huống

và khi số liệu thống kê được tổng hợp từ các mẫu lớn, chúng có thể liên quan đáng

kể đến các quyết định về chính sách (Easterby-Smith, 1991). Thường được sử dụng

để thu thập dữ liệu dựa trên việc xác định trước các câu hỏi có cấu trúc. Tuy nhiên,

họ không cho phép người trả lời truyền tải hay các nhà nghiên cứu tìm hiểu về các

sự kiện cơ bản (Bryman, 1989). Mặt khác, những thế mạnh của phương pháp định

tính thường là liên kết “sâu” và “phong phú” từ các thông tin được cung cấp

(Gummesson, 1991; Miles, Huberman, 1984). Tuy nhiên, theo thông tin, đi kèm

theo là những lời chỉ trích cho là nhỏ lẻ và khó để phân tích và khái quát các tình

huống khác (Bryman, 1989).

Mỗi phương pháp hoặc định lượng hay định tính, có lợi ích và công dụng

riêng. Đối mặt với sự phức tạp như vậy, các nhà nghiên cứu, chẳng hạn như

28

Webb (1966) đã cho rằng các nhà khoa học xã hội có khả năng để công bố tự tin

hơn những phát hiện của họ khi nó có nguồn gốc từ nhiều hơn một phương pháp

điều tra. Đề nghị này đã dẫn đến việc áp dụng một chiến lược, được gọi là “tam

giác”, được định nghĩa một cách rộng rãi như là “một sự kết hợp của các phương

pháp luận trong nghiên cứu các hiện tượng tương tự” (Denzin, 1978). Bằng thuyết

tam giác này, đòi hỏi của nhà nghiên cứu về tính hợp lệ kết luận của họ được nâng

cao, và đôi khi nghiên cứu định tính tạo điều kiện cho việc giải thích các kết quả

của định lượng được đề xuất bởi một cuộc điều tra (Bryman, 1988). Theo

Crompton, Jones (1988): “.... Nghiên cứu tổ chức. . . không phải là một quyết định

loại trừ lẫn nhau giữa phương pháp định lượng và định tính. Trong thực tế nó là rất

khó nghiên cứu tổ chức mà không cần sử dụng cả hai loại phương pháp. Trong bất

kỳ sự kiện dữ liệu định lượng luôn luôn dựa trên sự phân biệt định tính……vấn đề

dựa trên sự phù hợp của các phương pháp, không theo các bên trong cuộc tranh

luận giữa phương pháp định tính và định lượng”.

Do đó, nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp định tính kết hợp với

phương pháp định lượng nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Mục tiêu nghiên cứu định tính là để xác định các

yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng. Còn mục tiêu nghiên cứu

định lượng là nhằm đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng như thế nào. Cụ thể 2 phương pháp nghiên cứu được thực hiện

như sau.

2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

2.2.1 Quy trình nghiên cứu định tính

Điều tra thực nghiệm về khoa học xã hội đã được sử dụng nhiều trong những

năm gần đây. Đó là phương pháp quan sát, sơ lược tài liệu và điều tra. Việc áp dụng

cho nghiên cứu luận án này là khảo sát phỏng vấn cá nhân. Theo Kerlinger (1986)

đây là “... các công cụ mạnh mẽ và hữu ích nhất của cuộc nghiên cứu khảo sát khoa

học xã hội. Nó cung cấp nhiều hơn thông tin riêng và chính xác”. Hơn nữa, nó được

coi là phương pháp nghiêm ngặt nhất để tiến hành đánh giá nhu cầu (Berger,

Patchner, 1988).

29

Các công cụ phỏng vấn có thể có một số hình thức từ cấu trúc cao cho đến

hoàn toàn không có cấu trúc. Trong một lịch trình có cấu trúc cao, được giả định

rằng (giám đốc, phó giám đốc) có một nguồn vốn từ vựng phổ biến và họ sẽ giải

thích các câu hỏi trong cùng một cách (Nachmias, Nachmias, 1982). Ngược lại, một

lịch phỏng vấn không có cấu trúc được làm việc với sự tập trung vào những kinh

nghiệm chủ quan (nhân viên, phó phòng, trưởng phòng). Xét bản chất của nghiên

cứu này, một sự kết hợp của phỏng vấn đã được sử dụng để khám phá thông tin

định tính. Tuy nhiên, qua quan sát các điều kiện của các doanh nghiệp xây dựng

cũng như các khía cạnh của việc thu thập thông tin, dữ liệu thực tế cũng như các

quan điểm và ý kiến của người trả lời được thu thập để tìm ra các vấn đề nghiên

cứu. Quy trình được thực hiện thông qua 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1:

Nghiên cứu dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thông qua các nghiên cứu đã

công bố ở các công trình khoa học trong nước, một số trang web để làm rõ các khái

niệm có liên quan, những yếu tố tác động đến phát triển của doanh nghiệp xây

dựng, xác định các tiêu chí đánh giá phát triển của doanh nghiệp xây dựng; kinh

nghiệm hỗ trợ cho phát triển doanh nghiệp xây dựng.

Giai đoạn này cũng giúp nghiên cứu sinh xây dựng, hiệu chỉnh nội dung

bảng câu hỏi và xây dựng thang đo phù hợp. Bảng câu hỏi mà nghiên cứu sinh xây

dựng được tham khảo từ tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây.

Giai đoạn 2:

Điều tra, khảo sát thực tế: nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo sát các doanh

nghiệp xây dựng, các chuyên gia đang quản lý ở lĩnh vực xây dựng thông qua bảng

câu hỏi trực tiếp. Kết quả thông tin thu thập đa dạng và phong phú, đáp ứng được

yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu chính thức.

Dựa trên lý thuyết tổng quan về phát triển doanh nghiệp, các lý thuyết có liên

quan được tổng hợp ở chương 1 và 2, cơ sở lý luận được tổng quát hóa, dựa vào các

điều kiện thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu, đề tài lựa chọn

phương pháp nghiên cứu phỏng vấn sâu với dàn bài hướng dẫn thảo luận.

Nghiên cứu sử dụng 2 hình thức phỏng vấn gồm phỏng vấn trực tiếp và

phỏng vấn nhóm với sự hỗ trợ về kỹ thuật phỏng vấn và thu thập thông tin của các

30

chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường. Quá trình phỏng vấn được thực

hiện qua 2 bước:

Bước 1: Nghiên cứu thử nghiệm thông qua 2 lần thử nghiệm. Thử nghiệm

lần 1 bằng 4 cuộc phỏng vấn cho đối tượng phỏng vấn ở cấp là nhân viên đang công

tác trong doanh nghiệp và nhằm mục đích để điều chỉnh dàn bài thảo luận. Thử

nghiệm lần 2 bằng 4 cuộc phỏng vấn cho đối tượng phỏng vấn là các trưởng, phó

phòng sản xuất kinh doanh và điều chỉnh dàn bài thảo luận cho nghiên cứu chính

thức.

Bảng 2.1: Quá trình phỏng vấn, thu thập thông tin nghiên cứu định tính

Quá trình

Số lượng

Đối tượng

Kết quả

Thử nghiệm lần 1 - Phỏng vấn trực tiếp

trong

Nhân viên đang công doanh tác nghiệp

1

Thông tin thu thập chưa phong phú, chủ yếu chỉnh sửa lại nội dung câu hỏi, chưa có đề xuất mới.

tượng

Thử nghiệm lần 2 - Phỏng vấn trực tiếp

1

Đối trưởng, phó phòng sản xuất kinh doanh

Nghiên cứu chính thức

Cơ bản đáp ứng được yêu cầu thu thập thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu

2

- Phỏng vấn trực tiếp

1

Đối tượng là người quản lý (giám đốc, phó giám đốc) doanh nghiệp xây dựng

Thông tin thu thập đa dạng và phong phú, đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu

- Phỏng vấn nhóm

thuộc

1

Thảo luận nhóm 19 người đối tượng giám đốc các doanh nghiệp

Thông tin thu thập đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu chính thức

Nguồn: Tổng hợp xử lý từ nghiên cứu của tác giả

Bước 2: Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phỏng vấn sâu 4 cuộc,

đối tượng là những người trực tiếp quản lý các doanh nghiệp xây dựng và sau đó

tiến hành 1 cuộc thảo luận nhóm với 19 người thuộc đối tượng là trưởng phó phòng,

31

giám đốc các doanh nghiệp, kết quả thông tin thu thập đáp ứng được yêu cầu cần

thiết cho việc nghiên cứu định lượng (bảng 2.1).

Kết quả nghiên cứu bằng phỏng vấn ngoài việc đánh giá còn cho phép người

nghiên cứu mở ra các khía cạnh mới của vấn đề (Easterby-Smith, Thorpe, Lowe,

1991). Các cuộc phỏng vấn của luận án này nhằm mục đích tìm hiểu các yếu tố tác

động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng; bao gồm 7 yếu tố như:

Nguồn vốn; Kết nối thị trường; Chính sách nhà nước; Nguồn nhân lực; Công nghệ

phù hợp; Môi trường; Kiến trúc xây dựng, và Khả năng của các doanh nhân; Cơ sở

hạ tầng đầy đủ mỗi cuộc phỏng vấn được thực hiện với thời lượng khoảng từ 40 –

60 phút (phụ lục 1 và 2).

2.2.2 Thực hiện phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu là một phương pháp thu thập thông tin tốt đối với các mẫu

nhỏ (O'Leary 2004). Chúng có lợi vì cho phép người tham gia để đề xuất các giải

pháp hoặc cung cấp những hiểu biết, có sự linh hoạt để trả lời câu hỏi điều tra

(Neuman, 1994). Theo Yin (1994), các cuộc phỏng vấn là nguồn thiết yếu của cuộc

khảo sát thu thập chứng cứ, vì chúng là vấn đề liên quan đến con người. Các dữ liệu

bổ sung cho nghiên cứu đã được tạo ra từ các cuộc phỏng vấn sâu. Yin (1994) cho

thấy rằng các cuộc phỏng vấn được chứng minh bằng các nguồn dữ liệu khác nhau.

Trong nghiên cứu này, những người được phỏng vấn họ cũng có kinh nghiệm trong

quá trình quản lý doanh nghiệp xây dựng (phụ lục 2).

2.2.3 Mẫu phỏng vấn định tính

Trong cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện tại tỉnh Sóc Trăng với 19 người

(giám đốc) họ là những người rất am hiểu về lĩnh vực xây dựng. Cụ thể có 11 giám

đốc làm trong công ty trách nhiệm hữu hạn, có 7 giám đốc làm trong doanh nghiệp

tư nhân, có 1 giám đốc làm cơ quan nhà nước (Trung tâm kiểm định chất lượng xây

dựng). Việc lựa chọn giám đốc đã được dựa trên thực tế rằng họ đang trực tiếp tham

gia quản lý nhà nước về xây dựng, trực tiếp điều hành doanh nghiệp xây dựng (phụ

lục 2).

2.2.4 Phân tích số liệu

Quy trình xử lý và phân tích số liệu cũng được thực hiện theo 3 bước: bước

thứ nhất là tổng hợp và phân loại thông tin, bước thứ hai là tổ chức, kết hợp các

32

thông tin và cuối cùng là nhận định, xác định các thông tin với lý thuyết hoặc khái

niệm trong quá trình nghiên cứu (Miles & Huberman, 1994).

Dựa vào các câu hỏi cần nghiên cứu để thực hiện mã hóa dữ liệu thu thập

theo các khái niệm, các cụm từ hoặc các thuật ngữ có giá trị tương đương và thống

kê tần suất xuất hiện của các khái niệm trong dữ liệu phỏng vấn. Để đánh giá các

yếu tố quan trọng và đảm bảo độ tin cậy, nghiên cứu sẽ lựa chọn những vấn đề, khái

niệm, thuật ngữ có tần suất hiện trên 60% trong quá trình phỏng vấn. Trong phần

kết quả nghiên cứu định tính sẽ trình bày những vấn đề khác có liên quan để có thể

mô tả đầy đủ hơn các kết quả nghiên cứu.

2.2.5 Kết quả nghiên cứu định tính

Sau khi thực hiện các công việc thiết kế nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn,

thu thập số liệu và xử lý số liệu, để bố cục thông tin được chặt chẽ và dễ theo dõi

kết quả nghiên cứu định tính được trình bày bằng cách trả lời các câu hỏi nghiên

cứu, với kết quả nghiên cứu cho thấy trên 60% mức độ đồng ý (phụ lục 3), có 2 yếu

tố không đạt yêu cầu có mức đồng ý thấp dưới 60% (yếu tố khả năng của doanh

nhân đạt 42,11%; yếu tố cơ sở hạ tầng đầy đủ đạt 36,48%).

 Kết quả các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng

 Đánh giá về nguồn vốn:

Nhu cầu về nguồn vốn của doanh nghiệp xây dựng là rất lớn nhằm để đáp

ứng yêu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phỏng vấn được đánh

giá cao với mức độ đồng ý là 89,5%. Tuy nhiên, nhu cầu nguồn vốn trong lĩnh vực

sản xuất kinh doanh nói chung hiện nay đều rất lớn chứ không chỉ riêng đối với lĩnh

vực doanh nghiệp xây dựng.

Kết quả nghiên cứu nguồn vốn đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát

như: Vốn đang kinh doanh của doanh nghiệp được đảm bảo hoạt động tốt; nguồn

vốn huy động từ nguồn khác của doanh nghiệp dễ dàng; nguồn vốn vay ngân hàng

thương mại thuận lợi. Khi các chỉ tiêu của yếu tố nguồn vốn thay đổi sẽ có mối

quan hệ với sự thay đổi phát triển doanh nghiệp xây dựng.

33

 Đánh giá kết nối thị trường:

Với các yếu tố đánh giá về kết nối thị trường, có 84,2% số người được phỏng

vấn có cùng nhận định là yếu tố rất quan trọng đối với phát triển doanh nghiệp.

Bảng 2.2: Kết quả các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng

Phần % mức độ đồng ý

Yếu tố

Mức độ đánh giá đồng ý (người)

1. Nguồn vốn

17/19

89,5%

2. Kết nối thị trường

16/19

84,2%

3. Chính sách nhà nước

15/19

78,9%

4. Nguồn nhân lực

15/19

78,9%

5. Công nghệ phù hợp

14/19

73,7%

6. Môi trường

14/19

73,7%

7. Kiến trúc xây dựng

13/19

68,4%

Nguồn: Tổng hợp xử lý từ dữ liệu điều tra của tác giả

Kết quả nghiên cứu kết nối thị trường đạt được sự đồng thuận về các biến

quan sát như: Thị trường sản phẩm công trình xây dựng ngày càng được mở rộng;

Sản phẩm dịch vụ tư vấn đáp ứng được yêu cầu khách hàng; Thị trường kinh doanh

bất động sản thuận lợi; Thị trường kinh doanh vật liệu, xây dựng luôn mở rộng; Thị

trường tư vấn thiết kế, kiến trúc phù hợp yêu cầu khách hàng; Kết nối thị trường

ngày càng cạnh tranh hơn.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy các tiêu chí của yếu tố kết nối thị trường

thay đổi sẽ có mối quan hệ với sự thay đổi phát triển doanh nghiệp xây dựng.

 Chính sách nhà nước:

Trong quá trình thực hiện chính sách của nhà nước, Luật Kinh doanh bất

động sản, Luật Nhà ở và Luật xây dựng, Luật đấu thầu, Luật doanh nghiệp... ra đời

nhằm thúc đẩy thị trường phát triển tốt hơn, lành mạnh hơn và tăng cường nguồn

lực quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế sau thời gian áp dụng, hiệu quả của

các bộ luật này lại chưa được như những gì mà những nhà làm luật và người dân

mong đợi. Sự phát triển chậm của các doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng

34

thường là do việc thực hiện xây dựng các chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ các

doanh nghiệp kém. Mặt khác, chính sách nhà nước hiện nay vẫn còn một số hạn chế

nhất định. Kết quả thống kê cho thấy có 78,9% đồng tình về nhận định chính sách

nhà nước còn nhiều hạn chế và rất dễ ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp. Tuy

nhiên, để một chính sách có thể đạt được hiệu quả cao nhất còn phụ thuộc vào nhiều

yếu tố.

Kết quả nghiên cứu hỗ trợ chính sách nhà nước đạt được sự đồng thuận về

các biến quan sát như: Tiếp cận cải cách thủ tục hành chính chưa thuận lợi; Nhà

nước áp dụng mức thuế chưa phù hợp với năng lực doanh nghiệp; Thiếu chính sách

khuyến khích doanh nghiệp mở rộng kinh doanh; Chính sách quản lý đấu thầu chưa

tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Kết quả nghiên cứu này cho thấy các tiêu chí

của yếu tố hỗ trợ chính sách nhà nước sẽ có mối quan hệ với sự phát triển doanh

nghiệp xây dựng.

 Nguồn nhân lực:

Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong doanh nghiệp xây dựng là nhu cầu cấp

thiết đối với các nhà quản lý doanh nghiệp nhằm để thực hiện chiến lược phát triển

nguồn nhân lực xây dựng, với kết quả phỏng vấn đạt 78,9% sự đồng ý.

Kết quả nghiên cứu nguồn nhân lực đạt được sự đồng thuận về các biến

quan sát như: Xây dựng qui chế tuyển dụng phù hợp; Thực hiện nghiêm chỉnh luật

lao động; Xây dựng qui chế đào tạo, đãi ngộ người giỏi. Kết quả nghiên cứu này

cho thấy các chỉ tiêu của yếu tố nguồn nhân lực sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với sự

phát triển doanh nghiệp xây dựng.

 Công nghệ phù hợp:

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, công nghệ phù

hợp được xem là công cụ phát triển doanh nghiệp nhanh. Các thể chế và chế độ

chính sách của nhà nước cũng không tạo ra một môi trường thuận lợi để sử dụng

công nghệ tiên tiến phù hợp. Thực tế các doanh nghiệp xây dựng đang gặp những

yêu cầu bức thiết về đổi mới công nghệ, nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành

sản phẩm, tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường. Kết quả phỏng vấn đạt 73,7%

sự đồng ý.

35

Kết quả nghiên cứu công nghệ phù hợp đạt được sự đồng thuận về các biến

quan sát như: Tạo kinh phí tham quan xây dựng công nghệ mới; Công nghệ phải

được cải tiến đổi mới mỗi năm; Đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng trình độ công

nghệ mới; Đầu tư công nghệ sản xuất vật liệu sạch. Kết quả nghiên cứu này cho

thấy các chỉ tiêu của yếu tố công nghệ sẽ có mối quan hệ với sự phát triển doanh

nghiệp xây dựng. Yếu tố công nghệ có thể phản ánh mức độ chất lượng của sản

phẩm mà nó chấp nhận từ quan điểm của khách hàng. Như chỉ tiêu trong yếu tố này

là các phương pháp sản xuất mà có thể phản ánh chi phí của sản phẩm, điều này sẽ

làm cho sản phẩm hấp dẫn hơn nhiều cho các khách hàng.

 Môi trường:

Ngày nay định hướng thiết kế sản phẩm và công trình xây dựng trước tiên

phải tuân thủ quy chuẩn quốc gia và phải phù hợp với tiêu chuẩn quản lý chất

lượng. Điều đáng mừng là các doanh nghiệp xây dựng đã và đang cố gắng khắc

phục những ảnh hưởng sản phẩm xây dựng đến môi trường bằng nhiều biện pháp

trong đó đáng ghi nhận là sản xuất vật liệu không nung được áp dụng vào các công

trình xây dựng và áp dụng các kỹ thuật công nghệ hiện đại vào trong xây dựng, với

kết quả phỏng vấn đạt được 73,7% sự đồng ý.

Kết quả nghiên cứu môi trường đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát

như: Khai thác hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên địa phương; Sử dụng nguyên

liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô nhiễm; Mức độ giải quyết ô nhiễm

trong ngành xây dựng; Đánh giá tác động môi trường của sản xuất và kinh doanh

xây dựng hàng năm; Trang bị bảo hộ lao động và mua bảo hiểm đầy đủ cho người

lao động. Kết quả nghiên cứu này cho thấy các chỉ tiêu của yếu tố môi trường sẽ tạo

nên mối quan hệ với sự phát triển doanh nghiệp xây dựng.

 Kiến trúc xây dựng:

Ngày nay kiến trúc xây dựng theo chiều hướng kiến trúc xanh khi các nhà tư

vấn xây nhà ở hoặc xây dựng các công trình kiến trúc khác theo xu hướng kiến trúc

xanh, sẽ tiết kiệm được năng lượng, thân thiện với môi trường, hầu hết các khách

hàng đều rất thích. Kết quả phỏng vấn đạt được 68,4% sự đồng ý.

36

Kết quả nghiên cứu kiến trúc xây dựng đạt được sự đồng thuận về các biến

quan sát như: Kiến trúc hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, khí hậu; Kiến trúc cân

bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường sông nước; Tính kế thừa dòng kiến trúc dân

gian; Tính kế thừa dòng kiến trúc truyền thống. Kết quả nghiên cứu này cho thấy

các chỉ tiêu của yếu tố kiến trúc xây dựng sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát

triển doanh nghiệp xây dựng.

 Kết quả nghiên cứu yếu tố phát triển doanh nghiệp xây dựng

Môi trường kinh doanh ngày càng thay đổi nhanh chóng, yêu cầu của khách

hàng ngày càng cao, các sản phẩm đa dạng hơn, cạnh tranh ngày một quyết liệt, áp

lực của nhà đầu tư ngày một cao. Nếu doanh nghiệp xây dựng ngừng phát triển có

nghĩa là con đường dẫn đến phá sản hoặc giải thể. Phát triển doanh nghiệp là một

con đường duy nhất tiến về phía trước.

Khan Atiqur Rahman (2004) và Khan (2012) cho rằng các khó khăn trong

phát triển doanh nghiệp là sự tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Qureshi, Herani (2011) đo lường sự phát triển và tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và

vừa thông qua đo lường các biến quan sát như: Tăng năng suất; Tăng cường công

việc; Cải thiện thu nhập, thịnh vượng, và chất lượng cuộc sống; Giảm nghèo khó;

Đầu tư vào y tế và giáo dục gia đình.

Chowdhury, Islam, Alam (2013) cho rằng phát triển doanh nghiệp chính là

đo lường sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Bunyasi; Bwisa,

Gregory (2014) tiếp tục khẳng định phát triển doanh nghiệp tiếp cận thông tin kinh

doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và tăng trưởng là

biến phụ thuộc được đo lường bằng lợi nhuận và doanh thu bán hàng.

Bảng 2.3: Kết quả nghiên cứu định tính các yếu tố tác động đến

phát triển doanh nghiệp xây dựng

Các yếu tố

Biến quan sát

1. Nguồn vốn

1. Vốn đang kinh doanh của doanh nghiệp được đảm bảo hoạt động tốt 2. Vốn huy động từ nguồn khác của doanh nghiệp dễ dàng 3. Vốn vay ngân hàng thương mại thuận lợi

37

2. Kết nối thị trường

1.Thị trường sản phẩm công trình xây dựng ngày càng được mở rộng 2. Sản phẩm dịch vụ tư vấn đáp ứng được yêu cầu khách hàng 3. Thị trường kinh doanh bất động sản thuận lợi 4. Thị trường kinh doanh vật liệu, xây dựng luôn mở rộng 5. Thị trường tư vấn thiết kế, kiến trúc phù hợp yêu cầu khách hàng 6. Thị trường xây dựng ngày càng cạnh tranh hơn

Các yếu tố

Biến quan sát

3. Chính sách nhà nước

1. Tiếp cận thủ tục hành chính nhà nước thuận lợi 2. Nhà nước áp dụng mức thuế phù hợp với năng lực doanh nghiệp 3. Chính sách nhà nước khuyến khích doanh nghiệp mở rộng kinh doanh 4. Chính sách quản lý đấu thầu tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh

4.

Nguồn

nhân lực

1. Doanh nghiệp xây dựng được qui chế tuyển dụng phù hợp 2. Doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh Luật lao động 3. Doanh nghiệp xây dựng được qui chế đào tạo, đãi ngộ người giỏi 4. Doanh nghiệp xây dựng được quy chế phối hợp tốt trong công việc

5. Công nghệ phù hợp

1. Doanh nghiệp dành kinh phí tiếp cận công nghệ xây dựng mới 2. Doanh nghiệp liên tục cải tiến công nghệ xây dựng 3. Đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng trình độ công nghệ mới 4. Công nghệ sản xuất của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu khách hàng

1. Khai thác hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên địa phương

2. Sử dụng nguyên liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô

nhiễm

3. Mức độ giải quyết ô nhiễm môi trường trong sản xuất/xây dựng

6. Môi trường

công trình

4. Doanh nghiệp đánh giá tác động môi trường sản xuất và kinh doanh

xây dựng hàng năm

5. Doanh nghiệp trang bị bảo hộ lao động, mua bảo hiểm đầy đủ cho

người lao động

1. Kiến trúc xây dựng hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, khí hậu

2. Kiến trúc xây dựng cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường sông

7. Kiến trúc

nước

xây dựng

3. Tính kế thừa dòng kiến trúc trong dân gian

4. Tính kế thừa dòng kiến trúc truyền thống

38

Nguồn: Tổng hợp xử lý nghiên cứu của tác giả

Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cố gắng để phát triển liên tục, mở rộng quy mô,

tăng thu nhập cho người lao động, theo từng thời điểm khác nhau, với kết quả

phỏng vấn đánh giá đạt được mức độ đồng ý và đáp ứng yêu cầu nghiên cứu tiếp

theo.

Kết quả nghiên cứu thông qua các tiêu chí phát triển (tăng trưởng) doanh

nghiệp: Tăng cường năng suất hoạt động doanh nghiệp; Tăng cường công việc hoạt

động doanh nghiệp; Cải thiện thu nhập, thịnh vượng, và chất lượng cuộc sống;

Doanh thu bán hàng ngày càng tăng; Tăng trưởng doanh nghiệp như mong muốn.

Từ kết quả cho thấy rằng có sự thay đổi của các yếu tố (nguồn vốn, kết nối

thị trường, hỗ trợ chính sách nhà nước, nguồn nhân lực, công nghệ phù hợp, môi

trường, kiến trúc xây dựng) sẽ có tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng;

Kế thừa thang đo gốc về phát triển (tăng trưởng) doanh nghiệp, kết hợp với kết quả

nghiên cứu định tính, thang đo phát triển doanh nghiệp bao gồm 5 biến quan sát

được trình bày trong bảng 2.4.

Bảng 2.4: Kết quả nghiên cứu định tính yếu tố phát triển doanh nghiệp xây dựng

Yếu tố

Biến quan sát

1. Tăng cường năng suất hoạt động doanh nghiệp

Phát triển doanh nghiệp

2. Tăng cường công việc hoạt động doanh nghiệp

xây dựng

3. Cải thiện thu nhập, thịnh vượng, và chất lượng cuộc sống

4. Doanh thu bán hàng ngày càng tăng

5. Tăng trưởng doanh nghiệp như mong muốn

Nguồn: Khan Atiqur Rahman (2004) and Jahangir H. Khan (2012); Javed Qureshi

and Gobind M. Herani (2011); Gladys N. Wekesa Bunyasi; Henry Bwisa and Gregory

(2014).

2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp định lượng liên quan đến việc phân tích dữ liệu để kiểm tra

tính khách quan và chính xác của bằng chứng bằng số (Zikmund, 2000). Để thực

hiện phân tích và rút ra kết luận đại diện, bắt buộc chúng ta phải có một mẫu đại

39

diện thật sự với bộ sưu tập dữ liệu. Phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua

thang đo được bổ sung mới và kiểm định tại tỉnh Sóc Trăng nhằm khám phá các yếu

tố có tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Thực hiện

nghiên cứu định lượng bằng phỏng vấn trực tiếp giám đốc các doanh nghiệp, các cơ

quan quản lý nhà nước tại địa phương và thông qua bảng câu hỏi chi tiết nhằm thu

thập thông tin, thu thập dữ liệu để sàng lọc biến quan sát và từ đó xây dựng mô hình

phù hợp hơn.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu định tính đã xác định được các biến quan sát

đo lường sự phát triển doanh nghiệp xây dựng, tác giả đã thảo luận với các chuyên

gia trong ngành xây dựng để bổ sung một số biến quan sát mới cho phù hợp với tình

hình phát triển doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam. Bộ thang đo được điều chỉnh,

bổ sung thông qua nghiên cứu định lượng bằng phỏng vấn trực tiếp với bảng câu

hỏi soạn sẵn. Kết quả nghiên cứu này thang đo sẽ được điều chỉnh chính thức.

Thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ bằng phỏng vấn trực tiếp các doanh

nghiệp, các sở, ban, ngành cấp tỉnh, các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý nhà nước

về xây dựng thông qua bảng câu hỏi chi tiết nhằm thu thập thông tin, thu thập dữ

liệu để sàng lọc biến quan sát và từ đó xây dựng mô hình phù hợp hơn.

Trong bước nghiên cứu sơ bộ này, luận án sử dụng phương pháp phân tích

KMO, phân tích hệ số độ tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích yếu tố khám phá

EFA xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS.

Hệ số Cronbach alpha được sử dụng nhằm loại các biến rác; các hệ số tương

quan biến - tổng (item-total correlation) nhỏ hơn .30 sẽ bị loại và tiêu chuẩn thang

đo đạt khi có độ tin cậy Cronbach’s alpha từ 0.60 trở lên (α ≥ .60). Theo Nunnally

& Bernstein (1994) thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy với α = 0.60

và phân tích kiểm định KMO với điều kiện (0.5

2012). Tiếp theo, phương pháp phân tích yếu tố khám phá EFA được sử dụng phép

trích yếu tố là Principal Components Analsyis (PCA) và phép quay vuông góc

Varimax, điểm dừng khi trích các yếu tố có eigenvalue = 1.

Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50%

và trọng số yếu tố phải từ 0.50 trở lên. Phương pháp phân tích yếu tố khám phá

40

EFA được sử dụng để đánh giá thang đo thay cho phương pháp truyền thống theo

(Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009).

Sau kiểm định sơ bộ, mô hình và các giả thuyết được điều chỉnh khi có sự

nhập/tách các thang đo. Mô hình lý thuyết sau điều chỉnh được sử dụng trong phân

tích hồi quy nhằm đo lường mức độ tác động của các biến độc lập (yếu tố) đến hàm

mục tiêu (phát triển doanh nghiệp xây dựng). Quy trình nghiên cứu được thể hiện

trong hình 2.1.

Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu

2.4 Xây dựng thang đo

Như đã trình bày ở các phần trên, thang đo này được nghiên cứu dựa vào mô

hình lý thuyết và nghiên cứu định tính, kết quả nghiên cứu thang đo định lượng sơ

bộ và được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với phát triển doanh nghiệp xây dựng

tại thị trường Việt Nam và được nghiên cứu tại tỉnh Sóc Trăng. Dựa vào các thang

đo gốc (có sẵn), kết hợp xây dựng thang đo mới để thực hiện nghiên cứu nhằm xác

41

định các biến quan sát cho phù hợp. Trong thực tế nghiên cứu, các biến thường là

gián đoạn và mô hình hồi quy có thể phù hợp với thang đo quãng.

Thang đo Likert là phổ biến nhất, có 5 đến 7 điểm (Cavana et al, 2001;

Creswell, 2003). Trong luận án này tác giả chọn thang đo Likert 5 điểm. Trong đó

1: hoàn toàn phản đối và 5: hoàn toàn đồng ý (phụ lục 4. Bảng câu hỏi định lượng).

Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu gồm có: 1. Nguồn vốn; 2. Kết nối

thị trường; 3. Chính sách nhà nước; 4. Nguồn nhân lực; 5. Công nghệ phù hợp; 6.

Môi trường; 7. Kiến trúc xây dựng. Biến phụ thuộc là phát triển các doanh nghiệp

xây dựng tỉnh Sóc Trăng.

2.4.1 Thang đo các biến độc lập

Trong nghiên cứu định lượng, sự quan tâm trung tâm là mối quan hệ giữa các

biến, chứ không phải chỉ mô tả các biến (Zikmund, 2000). Phổ biến nhất khung khái

niệm cho nghiên cứu định lượng là để tìm kiếm các mối quan hệ giữa các biến, một

trong những nơi có thể là “nguyên nhân” và hai là “hiệu ứng”, cũng như sức mạnh

của mối quan hệ này. Các biến độc lập là nguyên nhân tác động đến biến phụ thuộc,

hoặc các hiệu ứng, hoặc là một cách tích cực hoặc tiêu cực (Cavana et al., 2001).

Nghiên cứu này lựa chọn 7 biến độc lập, tất cả các biến này đều có khả năng

tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng. Như đã nêu trước đó, mục tiêu của

luận án là xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp xây dựng

tại tỉnh Sóc Trăng để từ đó tìm một số giải pháp phù hợp phát triển DNXD.

2.4.1.1 Thang đo nguồn vốn

Thang đo nguồn vốn kinh doanh được xây dựng dựa vào thang đo gốc của

Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah (2012); Chowdhury, Islam, Alam (2013). Sau

khi điều chỉnh thông qua nghiên cứu định tính cho phù hợp với nghiên cứu ở tỉnh

Sóc Trăng, thang đo này bao gồm 3 biến quan sát, ký hiệu từ NV1 đến NV3 (như

bảng 2.5)

42

Bảng 2.5: Thang đo nguồn vốn

Biến quan sát gốc

Biến quan sát chính thức (đã điều chỉnh, bổ sung)

-Lãi suất vốn vay ngân hàng cao,

NV1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được đảm

-Thủ tục trong việc vay,

bảo hoạt động ổn định

- Không có tín dụng trung và dài hạn,

NV2. Vốn huy động từ nguồn khác của doanh

-Yêu cầu tài sản thế chấp

nghiệp dễ dàng

NV3. Vốn vay ngân hàng thương mại thuận lợi

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả

2.4.1.2 Thang đo kết nối thị trường

Ngày hôm nay, thị trường được xem như là một triết lý kinh doanh; triết lý

của sự tồn tại và thành công của công ty trong thời gian dài. Một khi doanh nghiệp

không kết nối được với thị trường nó xuất hiện sự trở ngại chính ngăn cản họ trở

thành chủ doanh nghiệp nhỏ. Việc đầu tiên là thiếu nguồn vốn; thứ hai là thiếu sự

kết nối thị trường và chuyên môn liên quan đến việc kinh doanh.

Do kiến thức quản lý doanh nghiệp hạn chế, khả năng và nguồn lực của các

doanh nhân chưa nhận ra tầm quan trọng của kết nối thị trường. Nghiên cứu cho

thấy rằng doanh nghiệp gặp một số vấn đề khó khăn kết nối thị trường khác nhau.

Nguyên nhân được xác định là tình trạng thiếu nguồn vốn, kiến thức, cơ sở hạ tầng

vật lý, chất lượng, nhu cầu phân tán và thông tin thị trường như nghiên cứu của

Khan A. (2004).

Nghiên cứu của Khan (2004) và của Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah,

2012; Chowdhury, Islam, Alam, (2013) đều cho thấy kết nối thị trường có mối quan

hệ với phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thang đo kết nối thị trường được xây dựng trên thang đo gốc của

Chowdhury, Islam, Alam (2013) và được điều chỉnh thông qua kết quả nghiên cứu

định tính, gồm 6 biến quan sát, ký hiệu từ TTXD1 đến TTXD6 như trong bảng 2.6

sau:

43

Bảng 2.6: Thang đo kết nối thị trường

Biến quan sát gốc

Biến quan sát chính thức (đã điều chỉnh, bổ sung)

-Thiếu kiến thức về thị trường chính thức, -Thiếu các nguyên liệu, -Kết nối thị trường hạn chế, -Thiếu trao đổi thông tin

TT 1. Thị trường sản phẩm công trình xây dựng ngày càng được mở rộng TT 2. Sản phẩm dịch vụ tư vấn đáp ứng được yêu cầu khách hàng TT 3. Thị trường kinh doanh bất động sản thuận lợi TT 4. Thị trường kinh doanh vật liệu, xây dựng luôn mở rộng TT 5. Thị trường tư vấn thiết kế, kiến trúc phù hợp yêu cầu khách hàng TT 6. Thị trường xây dựng ngày càng cạnh tranh hơn

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả

2.4.1.3 Thang đo chính sách nhà nước

Hỗ trợ chính sách của nhà nước có xu hướng tác động đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng. Khan (2004) trong nghiên cứu của mình cho thấy phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa ở mức thấp thường là do việc thực hiện xây dựng kém các chính

sách của chính phủ nhằm hỗ trợ và ưu đãi các doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm cả

các khoản vay, các cơ sở đào tạo, các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng, và cung cấp

các nguyên liệu ở mức trợ cấp. Nghiên cứu của Khan, Nazmul, Hossain,

Rahmatullah, (2012); Chowdhury, Islam, Alam, (2013) cũng cho thấy kết nối thị

trường có tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thang đo chính sách nhà nước được xây dựng trên thang đo gốc của

Chowdhury, Islam, Alam (2013), được điều chỉnh theo kết quả nghiên cứu định tính

gồm 4 biến quan sát, ký hiệu từ CS1 đến CS4 như bảng 2.7 sau:

Bảng 2.7: Thang đo chính sách nhà nước

44

Biến quan sát gốc

- Chính quyền quan liêu thuế, - Tham nhũng, - Ảnh hưởng chính trị

Biến quan sát chính thức (đã điều chỉnh, bổ sung) CS 1. Tiếp cận thủ tục hành chính nhà nước thuận lợi CS 2. Nhà nước áp dụng mức thuế phù hợp với năng lực doanh nghiệp CS 3. Chính sách nhà nước khuyến khích doanh nghiệp mở rộng kinh doanh CS 4. Chính sách quản lý đấu thầu tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả

2.4.1.4 Thang đo nguồn nhân lực

Ligthelm, Cant (2002) khẳng định rằng tác động của các vấn đề nguồn nhân

lực là nghiêm trọng hơn trong các doanh nghiệp quản lý hoặc sở hữu bởi người

không có kinh nghiệm quản lý. Còn nghiên cứu của Hewitt, Wield (1992), Batra,

Tan (2003) cho rằng nguồn nhân lực (công nhân có tay nghề cao hơn và có học vấn)

có thể sẽ có hiệu quả hơn đối với phát triển doanh nghiệp. Nguồn nhân lực con

người gắn liền với sự giáo dục và kinh nghiệm của họ có tác động đến phát triển

doanh nghiệp (Shapero, Sokol, 1982; Chowdhury, Amin, 2011).

Thang đo nguồn nhân lực sử dụng thang đo gốc của Ligthelm, Cant (2002)

với 7 biến quan sát: Không có khả năng thu hút và tìm được nhân viên phù hợp;

Năng suất lao động thấp; Luật lao động mới; Doanh số lao động cao; Quan hệ lao

động kém; Lập kế hoạch nhân viên kém; Nhân viên được đào tạo kém. Thang đo

nguồn nhân lực được điều chỉnh và với kết quả nghiên cứu định tính còn 4 biến

quan sát, ký hiệu từ NNL1 đến NNL4 như bảng 2.8 sau:

Bảng 2.8: Thang đo nguồn nhân lực

45

Biến quan sát gốc

Biến quan sát chính thức (đã điều chỉnh, bổ sung)

- Không có khả năng thu hút và tìm

NNL 1. Doanh nghiệp xây dựng được qui chế

được nhân viên phù hợp;

tuyển dụng hoàn chỉnh

- Năng suất lao động thấp;

NNL 2. Doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh

- Luật lao động mới;

Luật lao động

- Doanh số lao động cao;

NNL 3. Doanh nghiệp xây dựng được qui chế

- Quan hệ lao động kém;

đào tạo, đãi ngộ người giỏi

- Lập kế hoạch nhân viên kém;

NNL 4. Doanh nghiệp xây dựng được quy chế

- Nhân viên được đào tạo kém

phối hợp trong công việc

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả

2.3.1.5 Thang đo công nghệ phù hợp

Các giám đốc doanh nghiệp xây dựng thường đến từ các khu vực doanh

nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa, họ chuyển sang thành lập doanh nghiệp xây

dựng, nhưng một số ít thường thiếu kinh nghiệm kinh doanh. Trong ngắn hạn, họ

thiếu sự năng động để bắt tay vào thay đổi. Mặt khác, các thể chế và chế độ chính

sách của nhà nước cũng không tạo ra một môi trường thuận lợi để sử dụng công

nghệ tiên tiến phù hợp. Rõ ràng là các nhà hoạch định chính sách của nhà nước và

đặc biệt là các nhà quy hoạch đã thể hiện nhận thức của họ về sự cần thiết phải thúc

đẩy năng lực công nghệ, bởi đây là động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp để giới thiệu

sản phẩm mới.

Tác động về mặt công nghệ như mức độ đổi mới công nghệ của các doanh

nghiệp trong nước, mức độ đổi mới công nghệ của từng ngành, nhóm ngành sản

xuất; khả năng tiếp thu và ứng dụng bí quyết công nghệ được chuyển giao của

doanh nghiệp (Chen, Lasker, 2010). Công nghệ phù hợp sẽ có tác động đến phát

triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 2012;

Chowdhury, Islam, Alam, 2013).

Thang đo công nghệ phù hợp được xây dựng dựa trên thang đo gốc của

Chowdhury, Islam, Alam (2013), được điều chỉnh theo kết quả nghiên cứu định

tính, bao gồm 4 biến quan sát, ký hiệu từ CN1 đến CN4 như bảng 2.9 sau:

Bảng 2.9: Thang đo công nghệ phù hợp

46

Biến quan sát gốc

Biến quan sát chính thức (đã điều chỉnh, bổ sung)

-Thiếu tiếp cận với công nghệ, -Thiếu kiến thức công nghệ, -Thiếu phương tiện cập nhật công nghệ, -Thiếu cập nhật công nghệ các trang web

CN 1. Doanh nghiệp dành kinh phí tiếp cận công nghệ xây dựng mới CN 2. Doanh nghiệp liên tục cải tiến công nghệ xây dựng CN 3. Đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng trình độ công nghệ mới CN 4. Công nghệ sản xuất của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu khách hàng

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả

2.4.1.6 Thang đo môi trường

Các tài liệu kinh doanh xanh thường có một sự khác biệt giữa các doanh

nghiệp xây dựng tuân thủ điều kiện bảo vệ môi trường, chỉ nhằm mục đích đáp ứng

yêu cầu pháp luật quy định bảo vệ môi trường. Theo Njuangang, Douglas, Liyanage

(2010), xây dựng thang đo môi trường có khả năng tác động đến sự ra quyết định

trong thực hiện hệ thống quản lý môi trường đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thang đo mô trường được xây dựng dựa trên thang đo gốc của Fairfield, Harmon,

Behson (2011) gồm 6 biến quan sát: giảm thiểu ô nhiễm và ảnh hưởng của chúng

đến các nhân viên, khách hàng và cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động; đảm bảo

nguồn năng lượng cần thiết; đảm bảo nguyên liệu cần thiết trong dài hạn cho nhân

viên của doanh nghiệp, nhà cung cấp, khách hàng và cộng đồng nơi doanh nghiệp

hoạt động; quản lý tác động đến biến đổi khí hậu đến các nhân viên của doanh

nghiệp, khách hàng và cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động; đảm bảo cung cấp

đủ nước cho nhân viên của doanh nghiệp, nhà cung cấp, khách hàng và cộng đồng

nơi doanh nghiệp hoạt động; nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua năng lượng và

giảm chất thải. Thang đo được điều chỉnh theo kết quả nghiên cứu định tính bao

gồm 5 biến quan sát, ký hiệu từ MT1 đến MT5 như trình bày trong bảng 2.10 sau:

Bảng 2.10: Thang đo môi trường

47

Biến quan sát gốc

Biến quan sát chính thức (đã điều chỉnh, bổ sung) MT 1. Khai thác hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên địa phương MT 2. Sử dụng nguyên liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô nhiễm MT 3. Mức độ giải quyết ô nhiễm môi trong sản trường xuất/xây dựng công trình MT 4. Doanh nghiệp đánh giá tác động môi trường sản xuất và kinh doanh xây dựng hàng năm MT 5. Doanh nghiệp trang bị bảo hộ lao động, mua bảo hiểm đầy đủ cho người lao động

- Giảm thiểu ô nhiễm và ảnh hưởng của chúng đến các nhân viên, khách hàng và cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động; - Đảm bảo nguồn năng lượng cần thiết (điện và nhiên liệu); - Đảm bảo nguyên liệu cần thiết trong dài hạn cho nhân viên của doanh nghiệp, nhà cung cấp, khách hàng và cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động; - Quản lý sự tác động của biến đổi khí hậu đến các nhân viên của doanh nghiệp, khách hàng và cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động; - Đảm bảo cung cấp đủ nước cho nhân viên của doanh nghiệp, nhà cung cấp, khách hàng và cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động; - Nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua năng lượng và giảm chất thải

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả 2.3.1.7 Thang đo kiến trúc xây dựng

Theo Souza (2009) xây dựng thang đo kiến trúc thiết kế chỉ là những lý do

cho việc thông qua các khía cạnh xây dựng mô hình thông tin liên quan đến việc

thực hiện trong bản vẽ của dự án, và theo cách thông thường của thiết kế. Yếu tố

kiến trúc xây dựng được tác giả bổ sung mới vào mô hình nghiên cứu sau nghiên

cứu định tính. Thang đo chưa được kiểm định, do đó tác giả tiến hành xây dựng

thang đo thông qua phương pháp thảo luận nhóm với các chuyên gia. Kết quả

68,4% đồng ý cho rằng kiến trúc xây dựng có mối quan hệ tác động đến phát triển

doanh nghiệp xây dựng (Kết quả nghiên cứu định tính đạt yêu cầu), thang đo bao

gồm 4 biến quan sát, ký hiệu từ KTXD1 đến KTXD4 như trình bày trong bảng 2.11

sau:

Bảng 2.11: Thang đo kiến trúc xây dựng

Thang đo kiến trúc xây dựng (bổ sung mới)

KTXD 1. Kiến trúc xây dựng hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, khí hậu

KTXD 2. Kiến trúc xây dựng cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường sông nước

KTXD 3. Tính kế thừa dòng kiến trúc trong dân gian

KTXD 4. Tính kế thừa dòng kiến trúc truyền thống

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả

2.4.2 Thang đo biến phụ thuộc (phát triển doanh nghiệp xây dựng)

48

Biến số kết quả phụ thuộc hoặc kiến thức, là biến mà bị tác động hoặc dự

đoán của một hoặc nhiều biến độc lập. Biến phụ thuộc là biến của hiệu suất cơ bản

để nghiên cứu và sẽ được giải thích (Creswell, 2003). Một sự giải thích phát triển

doanh nghiệp xây dựng được đề xuất như là biến phụ thuộc cho nghiên cứu luận án

này. Người trả lời được yêu cầu đánh giá từ quan điểm của phát triển doanh nghiệp

mình, nhìn từ gốc độ tăng trưởng doanh nghiệp: Tăng năng suất hoạt động doanh

nghiệp; Tăng cường công việc hoạt động doanh nghiệp; Cải thiện thu nhập, thịnh

vượng, và chất lượng cuộc sống; Doanh thu bán hàng ngày càng tăng; Tăng trưởng

doanh nghiệp như mong muốn. Mô hình của Javed Qureshi and Gobind M. Herani

(2011) thể hiện tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được đo lường tăng trưởng và phát

triển thông qua 5 biến quan sát (Tăng cường năng suất; Tăng công việc; Cải thiện

thu nhập, thịnh vượng và chất lượng cuộc sống; Giảm nghèo khó; Đầu tư vào y tế

và giáo dục gia đình).

Theo Khan (2004) cho rằng các khó khăn doanh nghiệp sẽ tác động đến sự

tăng trưởng của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu của Khan, Nazmul, Hossain,

Rahmatullah (2012) lại cho rằng yếu tố tăng trưởng doanh nghiệp sẽ tác động đến

phát triển doanh nghiệp. Nghiên cứu của Chowdhury, Islam, Alam (2013) tiếp tục

khẳng định yếu tố tăng trưởng doanh nghiệp sẽ tác động đến phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa. Bunyasi; Bwisa, Gregory (2014) kế thừa nghiên cứu phát triển

doanh nghiệp từ việc tiếp cận thông tin kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng

trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa (tăng trưởng doanh nghiệp là biến phụ thuộc được

đo lường bằng lợi nhuận và doanh thu bán hàng thu được từ các doanh nghiệp).

Trong luận án này thang đo phát triển doanh nghiệp được kế thừa và điều

chỉnh từ thang đo gốc của Qureshi, Herani (2011); Bunyasi; Bwisa, Gregory (2014),

có bổ sung cho phù hợp với phát triển doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng

theo kết quả nghiên cứu định tính, có 5 biến quan sát và ký hiệu PTDN 1 đến PTDN

5 được trình bày trong bảng 2.12 như sau:

Bảng 2.12: Thang đo phát triển doanh nghiệp xây dựng

49

Biến quan sát gốc

Biến quan sát chính thức (điều chỉnh, bổ sung)

- Tăng cường năng suất;

PTDN 1. Tăng cường năng suất hoạt động doanh

nghiệp

- Tăng công việc;

- Cải thiện thu nhập, thịnh vượng, và

PTDN 2. Tăng cường công việc hoạt động doanh

nghiệp

chất lượng cuộc sống;

- Giảm nghèo khó;

PTDN 3. Cải thiện thu nhập doanh nghiệp

- Đầu tư vào y tế và giáo dục gia đình

PTDN 4. Doanh thu bán hàng ngày càng tăng

- Tăng trưởng doanh nghiệp

PTDN 5. Tăng trưởng doanh nghiệp như mong

- Doanh thu bán hàng

muốn

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả

Tóm lại: Kết quả nghiên cứu định tính đã tìm được 07 yếu tố tác động đến

phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng như: Nguồn vốn được đo lường bằng 3

biến quan sát; Kết nối thị trường được đo lường bằng 6 biến quan sát; Chính sách

nhà nước được đo lường bằng 4 biến quan sát; Nguồn nhân lực được đo lường bằng

4 biến quan sát; Công nghệ phù hợp được đo lường bằng 4 biến quan sát; Môi

trường được đo lường bằng 5 biến quan sát; Kiến trúc xây dựng được đo lường

bằng 4 biến quan sát; Phát triển các doanh nghiệp xây dựng được đo lường 5 biến

quan sát. Trong đó, có 7 yếu tố độc lập, và 01 yếu tố phụ thuộc (Phát triển các

doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng được đo lường 5 biến quan sát).

2.5 Phương pháp phân tích hồi qui bội

Nghiên cứu đã khám phá và xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến phát

triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng với 7 yếu tố tác động (biến độc lập) và

01 biến phụ thuộc (phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng); Phương

pháp phân tích hồi quy bội được sử dụng để ước lượng mô hình nghiên cứu dựa trên

dữ liệu thu thập từ điều tra trực tiếp các lãnh đạo doanh nghiệp đang hoạt động

trong lĩnh vực xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng.

Phương trình hồi quy bội biểu diễn mối quan hệ của các yếu tố tác động đến

sự phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng có dạng sau:

+ ε

Y= f(X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7)

Y= b0 + b1X1 + b2X2 + b3X3 + b4X4 + b5X5 + b6X6 + b7X7

Trong đó:

50

bi: hệ số hồi quy;

ε: phần dư;

X1: yếu tố nguồn vốn (NV);

X2: yếu tố kết nối thị trường (TT);

X3: yếu tố chính sách nhà nước (CS);

X4: yếu tố nguồn nhân lực (NL);

X5: yếu tố công nghệ phù hợp (CN);

X6: yếu tố môi trường (MT);

X7: yếu tố kiến trúc xây dựng (KT)

Y: Phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng (PTDN)

2.6 Mô hình lý thuyết đề xuất phát triển doanh nghiệp xây dựng

Để ước lượng các tham số trong mô hình nghiên cứu (mô hình 1.1, chương

1), các yếu tố tác động đến phát triển các doanh nghiệp xây dựng được tính toán

thông qua đo lường các biến quan sát của thang đo, các ký hiệu và mã hóa các biến

đo lường được mô hình hóa như bảng 2.13 sau.

Bảng 2.13: Ký hiệu các biến nghiên cứu

Loại Ký hiệu

Tên gọi

X1

Nguồn vốn

X2

Kết nối thị trường

Các biến quan sát Các biến quan sát để đo lường; được ký hiệu NV: từ NV1 đến NV3 Các biến quan sát để đo lường; Được ký hiệu TT: TT1 đến TT 6

51

X3

Chính sách nhà nước Các biến quan sát để đo lường; được ký

Các biến độc lập

X4

Nguồn nhân lực

hiệu CS: từ CS1 đến CS4 Các biến quan sát để đo lường; Được ký hiệu NNL: từ NNL1 đến NNL4

X5

Công nghệ phù hợp Các biến quan sát để đo lường; được ký

X6

Môi trường

hiệu CN: từ CN1 đến CN4 Các biến quan sát để đo lường; được ký hiệu MT: từ MT1 đến MT5

X7

Kiến trúc xây dựng Các biến quan sát để đo lường; được ký

Y

hiệu KTXD: từ KTXD1 đến KTXD4 Các biến quan sát để đo lường; được ký hiệu PTDN: từ PTDN1 đến PTDN5

Phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng (PTDN)

Biến phụ thuộc

Nguồn: Tổng hợp xử lý của tác giả

2.7 Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu nghiên cứu

Trong việc lựa chọn một mẫu có giá trị trong nghiên cứu luận án này, điều

quan trọng là phải xem xét như thế nào mẫu đại diện cho các đặc tính của doanh

nghiệp nghiên cứu. Nó cũng được coi là đại diện cho các nguồn dữ liệu và lựa chọn

những thiết kế lấy mẫu trong đó các phần tử mẫu được lựa chọn đại diện cho doanh

nghiệp được gợi ý các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng. Hai

vấn đề mang tính đại diện của mẫu là thiết kế mẫu và cỡ mẫu (Cavana et al, 2001).

Như vậy, nếu thiết kế mẫu và kích cỡ mẫu là đúng, các nhà nghiên cứu có thể đảm

bảo rằng các đối tượng mẫu phải thật sự là đại diện của các đặc tính của doanh

nghiệp (Creswell, 2003). Các thiết kế mẫu và kích cỡ mẫu được thảo luận dưới đây.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện với biến kiểm soát là loại các doanh

nghiệp kinh doanh thuộc lĩnh vực xây dựng. Đối tượng tham gia phỏng vấn là các

thành viên thuộc Ban giám đốc doanh nghiệp xây dựng (giám đốc, phó giám đốc,

trưởng bộ phận kinh doanh) trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Việc xác định xem cần

phải phỏng vấn bao nhiêu doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng hay cần bao nhiêu

đối tượng trả lời bảng câu hỏi rất quan trọng, mẫu đại diện sẽ phản ánh đầy đủ

khuynh hướng đối tượng nghiên cứu nếu phương pháp chọn mẫu đúng. Sự quyết

định về độ lớn của mẫu phải được dựa trên các yếu tố: Thời gian, chi phí và mức độ

chính xác cần thiết mà người điều tra mong muốn.

Bảng 2.14: Cơ cấu mẫu trong chương trình nghiên cứu chính thức

Hình thức sở hữu (doanh nghiệp)

Vị trí địa lý (doanh nghiệp)

52

Phân loại DN

Cơ cấu

Phân loại

28% 15% 26% 28% 2% 1%

Số lượng 62 69 51 75 3 2

TP.Sóc Trăng Huyện Châu Thành Huyện Kế Sách Huyện Mỹ Tú H.Cù Lao Dung Huyện Long Phú

Số lượng 62 24 28 29 20 26

Cơ cấu 24% 9% 11% 11% 8% 10%

262

100%

Huyện Mỹ Xuyên TX. Ngã Năm TX.Vĩnh Châu Tổng cộng

26 24 18 257

10% 9% 7% 100%

Công ty cổ phần Công ty TNHH 2 TV Công ty TNHH 1 TV Doanh nghiệp tư nhân Không trả lời Sai sót kết quả trả lời (bị loại) Tổng cộng

Nguồn: Kết quả xử lý từ số liệu đều tra của tác giả

Trong thực tế có nhiều cách thiết kế mẫu và chọn mẫu đại diện, trong phạm

vi luận án này, nghiên cứu sinh xác định mẫu đại diện tương đối phù hợp cho các

loại hình doanh nghiệp. Cơ cấu mẫu điều tra thể hiện trong bảng (Bảng 2.14).

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Mô hình đo lường

gồm 35 biến quan sát, theo (Hair & Ctg,1998) kích thước mẫu cần thiết là 1:5, có

nghĩa, 1 câu hỏi cần 5 phiếu trả lời, do đó số phiếu cần khảo sát sẽ là n = 175 (35 x

5). Để đạt được kích thước mẫu đề ra, có 262 bảng câu hỏi điều tra trực tiếp được

gửi đi phỏng vấn. Kết quả thu về và sàng lọc loại bỏ 5 mẫu không đạt yêu cầu, còn

lại 257 mẫu hợp lệ và hoàn tất được sử dụng cho nghiên cứu chính thức.

Tóm tắt chương 2

Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và các vấn đề nghiên cứu, luận án đề xuất các

phương pháp nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu phát triển các doanh

nghiệp xây dựng, đồng thời sử dụng phương pháp phân tích hồi qui bội để phân tích

các thành phần tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng. Trong đó, có 7 yếu

tố thuộc biến độc lập, 01 yếu tố thuộc biến phụ thuộc (Phát triển các doanh nghiệp

xây dựng tỉnh Sóc Trăng).

53

Chương 2 cũng đã xây dựng, phát triển và điều chỉnh các thang đo lường các

khái niệm trong mô hình nghiên cứu. Các thang đo này sẽ được sử dụng để kiểm

định mô hình đề xuất ở chương 1.

Bước tiếp theo sử dụng nghiên cứu định lượng được thực hiện để đánh giá

các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.

54

Chương 3

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN

DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TỈNH SÓC TRĂNG

Ở chương 1 đã xác định được cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu, chương 2

xây dựng được phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên

cứu, bước tiếp theo chương 3 sẽ phân tích các yếu tố tác động đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, cụ thể như sau:

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu những yếu tố tác động đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng gồm; (1) Cơ sở lý thuyết phân tích nghiên cứu, (2)

Kết quả phân tích sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích

yếu tố EFA.

Thứ hai, phân tích kết quả nghiên cứu yếu tố tác động đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng, (1) Mô hình nghiên cứu, (2) Đánh giá kết quả nghiên cứu yếu tố

tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng.

3.1 Thiết kế nghiên cứu

3.1.1 Mẫu khảo sát

Theo Nguyễn Đình Thọ (2011, trang 398), “trong EFA, kích thước mẫu

thường được dựa vào (1) kích thước tối thiểu và (2) số lượng biến đo lường đưa vào

phân tích”. Hair & ctg (2006) cho rằng để phân tích EFA, kích thước mẫu tối thiểu

phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1, nghĩa là 1 biến đo

lường cần tối thiểu 5 quan sát”. Trong nghiên cứu này, tổng số biến quan sát là 35,

như vậy số mẫu tối thiểu cần đạt được là 175.

3.1.2. Phương pháp lấy mẫu

- Phương pháp lấy mẫu: Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện. Phiếu

khảo sát được gởi tới các doanh nghiệp xây dựng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh

Sóc Trăng.

- Đối tượng khảo sát: Giám đốc doanh nghiệp xây dựng.

- Dữ liệu thu thập và xử lý trong 2013 - 2014, phương pháp thu thập là gởi

bảng câu hỏi trực tiếp đối với người được phỏng vấn. Tổng số bảng câu hỏi được

gởi đi là 262 bảng, kết quả thu về và qua sàng lọc còn lại 257 bảng hợp lệ trả lời và

được sử dụng để phân tích.

55

3.2 Phân tích mô tả

3.2.1 Hình thức sở hữu doanh nghiệp

Kết quả thống kê hình thức sở hữu DNXD được trình bày trong bảng 3.1. Tỷ

lệ đối tượng khảo sát (giám đốc, phó giám đốc)các doanh nghiệp có hình thức sở

hữu Doanh nghiệp tư nhân chiếm khá cao đến 29,18%; Tiếp đến Công ty trách

nhiệm hữu hạn (TNHH 2 thành viên) chiếm đến 26,85%; và hình thức sở hữu Công

ty Cổ phần chiếm 24,12% và cuối cùng hình thức sở hữu Công ty trách nhiệm hữu

hạn (TNHH 1 thành viên) chiếm 19,84%. Số liệu khảo sát cho thấy tỷ lệ trên cũng

phản ánh đúng thực tế số lượng doanh nghiệp phân loại theo hình thức sở hữu tại tại

tỉnh Sóc Trăng.

Bảng 3.1: Hình thức sở hữu doanh nghiệp xây dựng

Phân loại

Tần số

(%) tỉ lệ

(%) hợp lệ

Công ty cổ phần

24,12

24,12

62

Công ty TNHH 2 TV

26,85

26,85

69

Công ty TNHH 1 TV

19,84

19,84

51

Doanh nghiệp tư nhân

29,18

29,18

75

257

Tổng

100,00

100,00

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

3.2.2 Vị trí địa lý doanh nghiệp

Lĩnh vực nghiên cứu doanh nghiệp xây dựng tập trung vào các huyện và

thành phố Sóc Tăng, khái quát vị trí địa lý doanh nghiệp hoạt động kinh doanh được

liệt kê trong Bảng 3.2. Trong đó các đối tượng khảo sát doanh nghiệp thành phố Sóc

Trăng chiếm cao nhất đến 24,12%; tiếp đến doanh nghiệp địa bàn huyện Mỹ Tú

chiếm 11,28%; các doanh nghiệp huyện Kế Sách chiếm đến 10,89%; và cùng hai

địa bàn huyện Long Phú và huyện Mỹ Xuyên chiếm 10,12%.; và huyện Châu

Thành, thị xã Ngã Năm chiếm 9,34%, và cuối cùng thĩ xã Vĩnh Châu chiếm 7,00%.

Do đó, vị trí địa lý doanh nghiệp được khảo sát được liệt kê 6 huyện và một thành

phố Sóc Trăng và 2 thị xã (Ngã Năm, Vĩnh Châu) .

56

Bảng 3.2: Vị trí địa lý hoạt động doanh nghiệp xây dựng

Vị trí địa lý (doanh nghiệp)

Phân loại

Tần số

(%) tỷ lệ

(%) hợp lệ

62

24,12

24,12

Thành phố Sóc Trăng

24

9,34

9,34

Huyện Châu Thành

28

10,89

10,89

Huyện Kế Sách

29

11,28

11,28

Huyện Mỹ Tú

20

7,78

7,78

Huyện Cù Lao Dung

26

10,12

10,12

Huyện Long Phú

26

10,12

10,12

Huyện Mỹ Xuyên

24

9,34

9,34

Thị xã Ngã Năm

18

7,00

7,00

Thị xã Vĩnh Châu

100,00

100,00

Tổng cộng

257

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

3.3 Kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây

dựng tỉnh Sóc Trăng

3.3.1 Cơ sở lý thuyết phân tích nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết phát triển doanh nghiệp xây dựng được sử dụng trong nghiên

cứu gồm 7 biến độc lập và một biến phụ thuộc, với 35 biến quan sát được đánh giá

sơ bộ thông qua hai công cụ chính: (1) Hệ số tin cậy Cronbach’s alpha, và (2)

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA.

Hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng nhằm loại các biến rác, không phù

hợp; các biến có hệ số tương quan biến - tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.30

sẽ bị loại và thang đo đạt khi độ tin cậy Cronbach’s alpha của thang đo từ 0.60 trở

lên (α ≥ 0.60). Để kiểm tra thang đo các thành phần khảo sát có thể thực hiện phân

tích nhân tố (EFA) được hay không, sử dụng hệ số KMO và Bartlett's, trong đó thỏa

mãn với điều kiện 0.5 < KMO < 1 và hệ số P của kiểm tra Bartlett's < 0.05 là thang

đo sẵn sàng để tiến hành phân tích yếu tố EFA. Thang đo được xây dựng là những

biến quan sát đạt yêu cầu khi có tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50%.

Phương pháp phân tích yếu tố khám phá EFA sử dụng phép trích yếu tố là

Principal Components Analsyis (PCA) và phép quay vuông góc Varimax, điểm

dừng khi trích các yếu tố có eigenvalue = 1.

57

Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50%

và trọng số yếu tố phải từ 0.50 trở lên.

3.3.2 Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha

Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s alpha thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến

phát triển doanh nghiệp xây dựng được trình bày trong bảng 3.3.

Kết quả này cho thấy các thang đo đều đảm bảo độ tin cậy, hệ số Cronbach’s

alpha nhỏ nhất là 0.693 và cao nhất là 0.879 được chấp nhận, hệ số tương quan biến

– tổng đều đạt trên 0.3, các thang đo đều đạt yêu cầu và được tiếp tục đưa vào phân

tích EFA.

Bảng 3.3: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha các thang đo

Biến quan sát

Tương quan biến-tổng

Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach's Alpha nếu loại biến

1. Nguồn vốn, Cronbach’s Alpha =.693

7.09

2.386

.477

.640

NV1

7.08

2.283

.552

.543

NV2

7.08

2.447

.496

.615

NV3

2. Kết nối thị trường, Cronbach’s Alpha = .855

17.88

12.604

.618

.836

TT1

17.75

12.461

.670

.826

TT2

17.86

12.165

.645

.831

TT3

17.82

12.095

.650

.830

TT4

17.96

12.471

.726

.818

TT5

17.90

12.982

.562

.846

TT6

3. Chính sách nhà nước, Cronbach’s Alpha = .857

11.12

5.885

.682

.827

CS1

10.56

5.247

.718

.810

CS2

10.64

5.434

.678

.827

CS3

10.70

5.181

.731

.804

CS4

4. Nguồn nhân lực, Cronbach’s Alpha = .866

10.32

5.607

.699

.837

NNL1

10.61

5.950

.724

.826

NNL2

10.23

5.834

.729

.824

NNL3

10.65

5.838

.715

.829

NNL4

58

Biến quan sát

Trung bình

Phương sai

Tương quan

Cronbach's

thang đo nếu loại

thang đo nếu

biến-tổng

Alpha nếu

biến

loại biến

loại biến

5. Công nghệ, Cronbach’s Alpha = .776

CN1

5.003

.493

.765

10.96

CN2

4.431

.649

.684

10.86

CN3

4.390

.635

.691

11.02

CN4

4.823

.543

.740

11.03

6. Môi trường, Cronbach’s Alpha = .879

MT1

9.129

.743

.846

14.29

MT2

9.439

.820

.830

14.30

MT3

10.032

.658

.866

14.14

MT4

9.111

.726

.851

14.22

7. Kiến trúc xây dựng, Cronbach’s Alpha = .803

KTXD1

5.457

.552

.784

10.57

KTXD2

5.188

.624

.750

10.63

KTXD3

4.582

.741

.688

10.73

KTXD4

5.424

.557

.782

10.67

8. Phát triển doanh nghiệp xây dựng, Cronbach’s Alpha = .826

KTXD1

5.457

.552

.784

10.57

KTXD2

5.188

.624

.750

10.63

KTXD3

4.582

.741

.688

10.73

KTXD4

5.424

.557

.782

10.67

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

3.3.3 Kết quả phân tích nhân tố EFA của thang đo các biến độc lập.

Kết quả phân tích yếu tố khám phá EFA (bảng 3.4.) cho thấy thang đo đạt

yêu cầu với tổng phương sai trích là 66,39% ( > 50%) và yếu tố phần lớn đều lớn

hơn 0.50; trích được 7 yếu tố có Eigenvalue >1 (Xem phụ lục 1).

59

Bảng 3.4: Kết quả phân tích EFA cho các biến độc lập

Các biến quan sát

X2

X6

X4

X5

X7

Yếu tố X3

X1 .661 .780 .788

.659 .681 .743 .730 .806 .614

.658 .812 .722 .817

.779 .787 .860 .815

.715 .763 .744 .670

.724 .824 .641 .697 .632

.610 .691 .733 .770

.857

.855

.879

.866

.776

.803

NV1 NV2 NV3 TT1 TT2 TT3 TT4 TT5 TT6 CS1 CS2 CS3 CS4 NNL1 NNL2 NNL3 NNL4 CN1 CN2 CN3 CN4 MT1 MT2 MT3 MT4 MT5 KTXD1 KTXD2 KTXD3 KTXD4 Eigenvalues Phương sai trích (%) Cronbach's Alpha Sig KMO

9.558 2.755 1.828 1.588 1.525 1.341 1.322 31.861 9.185 6.092 5.294 5.084 4.471 4.408 .693 .000 .898

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

60

3.3.4 Kết quả phân tích nhân tố EFA của thang đo biến phụ thuộc

Kết quả phân tích yếu tố khám phá EFA thang đo biến phụ thuộc (bảng 3.5 )

cho thấy thang đo đạt yêu cầu với tổng phương sai trích là 60,8% ( > 50%) và yếu

tố phần lớn đều lớn hơn 0,70; trích được 1 yếu tố có Eigenvalue =3,0441 (Xem phụ

lục 2.2).

Bảng 3.5: Kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc

Biến quan sát

Nhân tố

PTDN1

0,739

PTDN2

0,730

PTDN3

0,710

PTDN4

0,777

PTDN5

0,926

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

3.3.5 Kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây

dựng

3.3.5.1 Phân tích trung bình và độ lệch chuẩn

Theo kết quả xử lý được nêu trong bảng 3.6 cho thấy giá trị trung bình của

các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng dao động từ

3,48 đến 3,66 với thang điểm cho từ 1 đến 5 và độ lệch chuẩn từ dao động 0,694

đến 0,786 (dưới 1).

Bảng 3.6: Trung bình và độ lệch chuẩn của các yếu tố tác động

Yếu tố

X1: Nguồn vốn

Giá trị trung bình 3.54

Độ lệch chuẩn .717

X2: Kết nối thị trường

3.57

.696

X3: Chính sách nhà nước

3.58

.759

X4: Nguồn nhân lực

3.48

.786

X5: Công nghệ

3.66

.694

X6: Môi trường

3.56

.761

X7: Kiến trúc xây dựng

3.55

.734

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

61

Kết quả đánh giá theo điểm trung bình cho thấy các thang đo yếu tố ảnh

hưởng đều được đánh giá ở mức TB khá. Ý nghĩa độ lệch chuẩn là một giá trị thể

hiện mức độ hội tụ hay sức phân tán của một tập dữ liệu. Độ lệch chuẩn từ 0,694

đến 0,786 thể hiện một tập dữ liệu có độ lệch chuẩn nhỏ điều đó chứng tỏ các phần

tử dữ liệu nhìn trên phương diện tổng quát có sự tương đồng cao.

3.3.5.2 Phân tích tương quan

Theo số liệu được nêu ở phụ lục lục 2.5 cho thấy, mối quan hệ tuyến tính

giữa biến phụ thuộc phát triển doanh nghiệp xây dựng (Y) với 7 biến độc lập là các

yếu tố ảnh hưởng có tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc với từng

biến độc lập (các giá trị Sig. < .05) và mối quan hệ ở mức độ khá chặt chẽ thể hiện

qua hệ số tương quan Person từ 0.1 đến 0.5.

3.3.5.3 Phân tích hồi quy

1) Kiểm định mô hình nghiên cứu

Phần tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết phát triển các doanh nghiệp xây

dựng và kết quả phân tích có 7 yếu tố có khả năng tác động đến phát triển các doanh

nghiệp xây dựng, bao gồm: 1) Nguồn vốn; 2) Kết nối thị trường; 3) Chính sách nhà

nước; 4) Nguồn lực; 5) Công nghệ; 6) Môi trường; 7) Kiến trúc xây dựng.

Để ước lượng các tham số trong mô hình, các yếu tố tác động đến sự phát

triển các doanh nghiệp xây dựng được tính toán bằng tổng các biến quan sát của

từng yếu tố.

Phương trình hồi quy sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất, với

phương pháp ENTER, do tính chất nghiên cứu là khám phá. Các chỉ tiêu được lựa

chọn trong kiểm tra giả thuyết hồi quy bao gồm: hiện tượng đa cộng tuyến (VIF <

2.20); kiểm định White với mức ý nghĩa p > 0.1 (độ tin cậy 90%) để đảm bảo không

có hiện tượng đa cộng tuyến và hiện tượng phương sai thay đổi không xuất hiện.

2) Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình

Kết quả hồi quy trong bảng 3.7 cho thấy, trị số R = 0,756, có nghĩa mối quan hệ giữa các biến trong mô hình là khá chặt chẽ. Giá trị R2 = 0,572 thể hiện sự phù hợp của mô hình, hệ số R2 hiệu chỉnh là 0,560 (giải thích được 7 yếu tố có tác động

đến 56,0% phát triển doanh nghiệp xây dựng) và kiểm định F với giá trị F là 70.616

tại mức ý nghĩa Sig. rất nhỏ là .000.

62

Bảng 3.7: Bảng tóm tắt hệ số hồi quy

R

Thống kê thay đổi

Durbin- Watson

Mô hình

R2 R2 hiệu chỉnh

Độ lệch chuẩn của ước lượng

F

R2

df1 df2

thay đổi

Mức ý nghĩa F thay đổi

thay đổi

1

.756a

.572

.560 .66319992

.572 47.577

7 249

.000

2.146

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

Giả định về tính độc lập của phần dư cũng không bị vi phạm thể hiện qua hệ

số Durbin-Watson bằng 2.146 nằm trong khoảng từ 1 đến 3. Theo Hoàng Trọng và

Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), nếu 1

quan phần dư, nếu 0

thì kết luận mô hình có tự tương quan âm. Vì vậy, có thể kết luận tính độc lập của

phần dư đã được bảo đảm.

Mức độ phù hợp của mô hình: - Kết quả đánh giá giá trị R2 ở trên cho biết được mô hình hồi quy tuyến tính

đã xây dựng là phù hợp. Tuy nhiên để có thể suy diễn mô hình này thành mô hình

của tổng thể ta cần phải tiến hành kiểm định F thông qua phân tích phương sai.

- Theo kết quả trong bảng 3.8 phân tích phương sai (ANOVA) cho thấy Sig.

= 0,000 <0,01. Như vậy, mô hình phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

phù hợp với dữ liệu thực tế nghiên cứu. Hay nói cách khác, các biến độc lập có liên

quan tuyến tính với các biến phụ thuộc với mức độ tin cậy 99%.

Bảng 3.8: Phân tích phương sai (ANOVAb)

Mô hình

df

F

Sig.

Tổng bình phương

Bình phương trung bình

1

Hồi qui

146.481

7

20.926

47.577

.000a

.440

Phần dư Tổng

109.519 256.000

249 256

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp

xây dựng tỉnh Sóc Trăng được trình bày trong bảng 3.9 sau.

63

Kết quả kiểm định các giả định của mô hình hồi quy rút ra từ phương pháp

Enter cũng cho thấy các giả định không bị vi phạm và không có hiện tượng đa cộng

tuyến vì VIF nhỏ hơn 3.

Bảng 3.9: Bảng hệ số hồi quy

Mô hình

Thống kê cộng tuyến

Hệ số chưa chuẩn hóa

Hệ số chuẩn hóa

Mức ý nghĩa Sig.

Trọng số hồi quy

Sai lệch chuẩn

Giá trị t

Beta

Hệ số chấp nhận

Hệ số phóng đại phương sai VIF

Hằng số

1.513E-16

.000

1.000

.041

X1

.041

.234

5.643

.000

.820

.234

1.219

X2

.041

.388

9.366

.000

.608

.388

1.645

X3

.041

.139

3.356

.001

.614

.139

1.628

X4

.001

.750

.041

.145

3.501

.145

1.334

X5

.041

.383

9.237

.000

.714

.383

1.401

X6

.041

.279

6.725

.000

.480

.279

2.083

X7

.041

.319

7.708

.000

.601

.319

1.664

a. Biến phụ thuộc: Y: Phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

Kết quả từ bảng 3.9 cho thấy 7 biến độc lập của mô hình đều có ý nghĩa

thống kê vì có giá trị Sig.< 0,01(ở mức độ tin cậy đạt 99%), hơn nữa các hệ số hồi

quy này đều >0, có nghĩa, chúng đều có tác động dương đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng theo các mức độ khác nhau (như kỳ vọng ban đầu đặt giả thuyết).

Phương trình hồi quy có dạng như sau:

Y = 0,234X1 + 0,388X2 + 0,139X3 + 0,145X4 + 0,383X5 + 0,279X6 + 0,319X7

Có thể sắp xếp các yếu tố theo mức độ tác động đến phát triển DNXD Sóc

Trăng từ cao xuống thấp như sau:

X2: Kết nối thị trường; b2 = 0,388

64

X5: Công nghệ; b5 = 0,383

X7: Kiến trúc xây dựng; b7 =0,319

X6: Môi trường; b6 = 0,279

X1: Nguồn vốn; b1 = 0,234

X4: Nguồn nhân lực; b4 = 0,145

X3: Chính sách nhà nước; b3 = 0,139

 Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thuyết trong mô hình:

- Giả định phương sai của phần dư không đổi không bị vi phạm thể hiện qua

đồ thị phân tán (được nêu ở phụ lục 2.6) thể hiện phần dư chuẩn hóa theo giá trị dự

báo của biến phụ thuộc phát triển doanh nghiệp xây dựng (Y). Quan sát biểu đồ

phân tán, ta thấy phần dư phân tán ngẫu nhiên xung quanh đường đi qua tung độ 0

chứ không tạo nên hình dạng nào.

- Giả định về phân phối chuẩn của phần dư cũng không bị vi phạm thông qua

biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa (hình 3.1) và biểu đồ tần số P-P (hình 3.2).

Các kiểm định phân phối chuẩn của phần dư như biểu đồ tần số của phần dư chuẩn

hóa và biểu đồ tần số P-P. Quan sát biểu đồ tần số của phần dư có thể nói phân phối

phần dư xấp xỉ chuẩn vì giá trị trung bình Mean rất nhỏ và độ lệch chuẩn Std.Dev là

0.986 gần như bằng 1. Đồng thời quan sát biểu đồ tần số P-P cho thấy các điểm

quan sát không phân tán quá xa đường thẳng kỳ vọng mà phân tán dọc và sát đường

kỳ vọng nên phần dư có thể xem như chuẩn.

Hình 3.1: Biểu đồ tần số của phần dư

65

Hình 3.2: Biểu đồ tần số P-P

- Kiểm định phương sai phần dư không đổi (Kiểm định Spearman’s rho):

Theo kết quả bảng 3.10 cho thấy, tất các các biến độc lập X1, X2, X3, X4, X5, X6,

và X7 có mức ý nghĩa (Sig.) lớn hơn 0.01.

Bảng 3.10: Kiểm định phương sai phần dư không đổi

absres

F1

F2

F3

F4

F5

F6

F7

Spearma n's rho

Absre s

1.000

-.005

-.056

.001

.020

.043

.004

-.019

Correlation Coefficient Sig. (2- tailed) N

. 257

.936 257

.371 257

.987 257

.745 257

.489 257

.948 257

.757 257

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

3.3.5.4 Kiểm định giả thuyết.

Kết quả kiểm định giả thuyết được trình bày trong bảng 3.11 sau.

66

Bảng 3.11: Kết quả kiểm định giả thuyết của mô hình nghiên cứu

Kí hiệu

Giả thuyết

P value

Kết luận

H1

Nguồn vốn có tác động dương đến phát triển

0,000< 5% Chấp nhận

doanh nghiệp xây dựng

H2

Kết nối thị trường có mối quan hệ tích cực đến

0,000<5% Chấp nhận

phát triển doanh nghiệp xây dựng

H3

Chính sách nhà nước có tác động dương đến phát

0,001<5% Chấp nhận

triển doanh nghiệp xây dựng.

H4

Nguồn nhân lực có tác động dương đến phát triển

0,001<5% Chấp nhận

doanh nghiệp xây dựng.

H5

Công nghệ phù hợp có tác động dương đến phát

0,000<5% Chấp nhận

triển doanh nghiệp xây dựng.

H6

Kiến trúc xây dựng có mối quan hệ tích cực đến

0,000<5% Chấp nhận

phát triển doanh nghiệp xây dựng.

H7

Môi trường xây dựng có tác động dương đến phát

0,000<5% Chấp nhận

triển doanh nghiệp xây dựng.

Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của tác giả

3.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp

xây dựng.

Kết quả định lượng cho thấy tất cả 7 yếu tố đều có tác động đến sự phát triển

các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, có thể được xếp theo thứ tự ưu tiên mức

độ từ cao đến thấp sau:

1) Kết nối thị trường (X2):

Yếu tố kết nối thị trường có tác động mạnh nhất đến phát triển DNXD Sóc

Trăng (b2=0,388). Nhưng kết quả đánh giá chỉ ở mức trung bình khá (điểm TB =

3,57, độ lệch chuẩn là 0,696)

Qua kết quả nghiên cứu định tính đều nhận định kết nối thị trường tác động

mạnh đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với mức đồng thuận cao. Bởi thị

trường gắn với sản xuất hàng hoá, sản xuất hàng hoá là cơ sở kinh tế quan trọng của

thị trường, thị trường phản ánh trình độ và mức độ của nền sản xuất xã hội. Mối

quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài ngày càng được nhận

thức đầy đủ và đúng đắn. Ngày nay, trong nền kinh tế mỗi nước đều tồn tại nhiều

67

dạng thị trường, nhiều thể loại và nhiều cấp độ thị trường khác nhau. Với kết quả

nghiên cứu định lượng khẳng định kết nối thị trường có ảnh hưởng đến phát triển

doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.

2) Công nghệ (X5):

Yếu tố công nghệ có tác động mạnh thứ 2 đến phát triển DNXD Sóc Trăng

(b5 = 0,383). Kết quả đánh giá yếu tố này cũng ở mức trung bình khá (điểm TB=

3,66 và độ lệch chuẩn là 0,694).

Thực tiễn các doanh nghiệp xây dựng trong những năm gần đây đã ghi nhận

sự đầu tư và phát triển các công nghệ hiện đại, như công nghệ xây kết cấu bao che

với hệ mặt tiền thông gió và hệ thống cách nhiệt, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng

các công trình tiết kiệm năng lượng. Nhưng trên thực tế cho thấy công nghệ trong

nước hiện nay chưa hoàn thiện để có thể sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng

cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu về công nghệ của các doanh nghiệp xây

dựng hiện hữu ở nhiều lĩnh vực như công nghệ sản xuất gạch không nung; công

nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ xử lý môi trường, công nghệ vật liệu xây

dựng, công nghệ thi công. Như vậy, có thể nói, nhu cầu về ứng dụng, đổi mới công

nghệ trong các doanh nghiệp xây dựng là rất lớn, vấn đề là cần lựa chọn các công

nghệ phù hợp. Xét về công nghệ mới, các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư nước

ngoài và doanh nghiệp bên ngoài là nguồn cung quan trọng, nhưng đó không phải là

nguồn cung duy nhất. Do đó, các doanh nghiệp xây dựng trong nước có thể hợp tác

chuyển giao những công nghệ thích hợp với doanh nghiệp nước ngoài.

3) Kiến trúc xây dựng (X7):

Yếu tố kiến trúc xây dựng có tác động mạnh thứ 3 đến phát triển DNXD Sóc

Trăng (b7= 0,319). Kết quả đánh giá yếu tố này cũng ở mức trung bình khá (điểm

TB= 3,55 và độ lệch chuẩn là 0,743).

Với kết quả nghiên cứu định tính được đánh giá đồng tình rất cao. Nhưng kết

quả nghiên cứu định lượng cho thấy yếu tố này tác động rất mạnh đến sự phát triển

các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, chỉ sau yếu tố thị trường và công nghệ.

Ngày nay kiến trúc xây dựng đang theo chiều hướng kiến trúc xanh, khi các nhà tư

vấn thiết kế xây nhà hoặc xây dựng các công trình kiến trúc khác theo xu hướng

xanh, sẽ tiết kiệm được năng lượng, thân thiện với môi trường, hầu hết các khách

hàng đều rất thích.

68

4) Môi trường xây dựng (X6):

Yếu tố môi trường xây dựng có ảnh hưởng đến phát triển DNXD Sóc Trăng

nhưng yếu hơn 3 yếu tố trên (b6= 0,279). Kết quả đánh giá yếu tố này cũng ở mức

trung bình khá (điểm TB= 3,56 và độ lệch chuẩn là 0,761).

Các doanh nghiệp xây dựng đang cố gắng khắc phục những ảnh hưởng đến

môi trường xây dựng bằng nhiều biện pháp như đưa sản xuất vật liệu không nung

vào trong xây dựng các công trình và áp dụng các kỹ thuật công nghệ hiện đại để

xây dựng. Chính sách nhà nước định hướng thiết kế sản phẩm và công trình xây

dựng trước tiên phải tuân thủ quy chuẩn quốc gia và phải phù hợp với tiêu chuẩn

quản lý chất lượng công trình được Chính phủ quy định. Để thực hiện tiêu chuẩn

yêu cầu cần thiết là phải thẩm định môi trường và sản phẩm công trình xây dựng,

các kết cấu của nó và vật liệu xây dựng dưới tác động của môi trường bên ngoài.

Như vậy, khi các doanh nghiệp xây dựng đưa ra chiến lược phát triển sản phẩm của

mình rất chú trọng đến vấn đề sản phẩm xanh, hạn chế đến tác động đến môi

trường. Điều này chứng tỏ rằng kết quả nghiên cứu tại tỉnh Sóc Trăng phù hợp với

đề xuất của Jahangir H. Khan, Abdul Kader Nazmul, Md. Farooque Hossain,

Munsura Rahmatullah, (2012); Mohammed S. Chowdhury, Rabiul Islam and

Zahurul Alam, (2013).

5) Nguồn vốn (X1):

Yếu tố nguồn vốn cũng có tác động đến phát triển DNXD Sóc Trăng (b1=

0,234). Kết quả đánh giá yếu tố này cũng ở mức trung bình khá (điểm TB= 3,54 và

độ lệch chuẩn là 0,717).

Kết quả nghiên cứu định tính cũng cho thấy rằng yếu tố nguồn vốn doanh

nghiệp hầu hết gặp khó khăn và các doanh nghiệp rất quan tâm đến nguồn vốn.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn

tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn vốn đủ mạnh, đây là một trong

những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh

doanh. Trong nền kinh tế thị trường nguồn vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa

quyết định tới mọi khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,

nguồn vốn kinh doanh là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ,

mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập

cho người lao động.

69

6) Nguồn nhân lực (X4):

Yếu tố nguồn nhân lực có tác động ở mức yếu đến phát triển DNXD Sóc

Trăng (b4= 0,145). Kết quả đánh giá yếu tố này cũng ở mức trung bình khá (điểm

TB= 3,48 và độ lệch chuẩn là 0,786).

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy nguồn nhân lực doanh nghiệp tác

động mạnh đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với mức đồng thuận khá cao.

Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong lĩnh vực xây dựng hiện nay là nhu cầu cấp

thiết đối với các nhà quản lý doanh nghiệp nhằm thực hiện tốt chiến lược phát triển

nguồn nhân lực trong ngành xây dựng. Đồng thời cần đánh giá lại thực trạng, cơ cấu

nguồn nhân lực, vai trò vị trí, những yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực, từ đó

đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng một cách đồng bộ,

hợp lý về cơ cấu, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học kỹ thuật xây dựng hiện

đại, có kiến thức, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập của doanh

nghiệp.

7) Chính sách nhà nước (X3):

Yếu tố chính sách nhà nước có ảnh hưởng ít nhất đến phát triển các DNXD

Sóc Trăng (b3= 0,139). Kết quả đánh giá yếu tố này cũng ở mức trung bình khá

(điểm TB= 3,58 và độ lệch chuẩn là 0,759).

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy rằng yếu tố chính sách nhà nước có

tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng.

Tóm tắt chương 3

Chương 3 đã thực hiện phân tích các yếu tố tác động đến phát triển DNXD

Sóc Trăng thông qua dữ liệu khảo sát từ 257 DNXD tỉnh Sóc Trăng. Luận án đã

thực hiện phân tích sơ bộ thang đo (thông qua hệ số tin cậy Cronbach Alpha, và

phương pháp phân tích yếu tố khám phá EFA), phân tích hồi quy, kiểm định giả

thuyết và thảo luận kết quả.

Kết quả nghiên cứu này là cơ sở kết hợp với tìm hiểu những nguyên nhân,

hạn chế thực trạng phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng ở chương 4

nhằm đề xuất các nhóm giải pháp phát triển các doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng

ở chương 5.

70

Chương 4

THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP

TỈNH SÓC TRĂNG

Chương này tiếp tục phân tích hiện trạng 7 yếu tố đã được kiểm định có tác

động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Trên cơ sở phân tích

hiện trạng các doanh nghiệp xây dựng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

nhằm tìm hiểu thuận lợi, khó khăn và những mặt hạn chế trong quá trình phát triển

doanh nghiệp xây dựng thời gian qua. Từ đó, rút ra được những đặc thù của quá

trình phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng.

4.1 Giới thiệu doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

4.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Đầu tháng 4 năm 1992, tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động. Những

ngày đầu tái lập tỉnh, Sóc Trăng được biết đến là một trong những tỉnh nghèo nhất

nước. Kinh tế chậm phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, hệ thống giao thông, giáo

dục xuống cấp nghiêm trọng,… Nhưng với ý thức tự lực, tự cường ngay từ ngày

đầu tái lập tỉnh Sóc Trăng đã không ngừng nỗ lực ra sức khai thác các tiềm năng,

phát huy lợi thế, tranh thủ các nguồn lực để xây dựng, phát triển và đã đạt được

những thành tựu đáng ghi nhận trên lĩnh vực kinh tế - văn hoá, xã hội. Đặc biệt, ở

lĩnh vực phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng tăng dần từ khi mới

tái lập tỉnh đến nay, cụ thể giai đoạn năm 2009-2013 số lượng doanh nghiệp mới

thành lập tăng đều qua các năm, cụ thể năm 2009 là 1.230 doanh nghiệp thành lập

mới đến năm 2013 là 1.540 doanh nghiệp thành lập.

Hiện nay, tình hình chung của các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh đang

gặp rất nhiều khó khăn; chi phí sản xuất kinh doanh tăng cao, thị trường tiêu thụ thu

hẹp do sức mua bị giảm mạnh, lượng hàng tồn kho lớn và tập trung chủ yếu ở một

số doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng,

công nghiệp chế biến, chế tạo, thương mại, vận tải kho bãi,… Trong bối cảnh đó,

cộng đồng doanh nghiệp cả nước cũng như ở tỉnh Sóc Trăng mong muốn các nỗ lực

điều hành chính sách của Chính phủ, tỉnh điều hành chính sách kinh tế vĩ mô thông

71

qua chi phí đầu vào của doanh nghiệp giảm, cũng như hỗ trợ giải quyết vấn đề thị

trường đầu ra, với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và tạo niềm tin cho

doanh nghiệp.

4.1.2 Số lượng doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp

 Số lượng thành lập doanh nghiệp

Tình hình thành lập mới năm 2014 của tỉnh Sóc Trăng toàn tỉnh có thêm 145

doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 93% so cùng kỳ, tổng nguồn vốn đăng ký

đầu tư 349 tỷ đồng, tăng 6,3%; bên cạnh đó, có 31 doanh nghiệp đăng ký giải thể,

tăng 29%, với tổng nguồn vốn 56,5 tỷ đồng.

Tính đến nay, toàn tỉnh có 1.672 doanh nghiệp, với số nguồn vốn đăng ký

5.321 tỷ đồng. Số lượng doanh nghiệp xây dựng được trình bày trong bảng 4.1.

Bảng 4.1: Số lượng doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

giai đoạn 2010 - 2014

Stt

Năm thành lập

Tổng số doanh

Số lượng doanh

Tỷ trọng

doanh nghiệp

nghiệp

nghiệp xây

(%) DN xây

dựng

dựng

1

2010

1.310

260

19,8%

2

2011

1.360

280

20,6%

3

2012

1.380

302

21,9%

4

2013

1.540

342

22,2%

5

2014

1.672

389

23,3%

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng

Nhìn chung các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thành lập tăng đều

qua các năm, năm 2010 thành lập 260 doanh nghiệp xây dựng, chiếm 19,8% trong

tổng số doanh nghiệp thành lập, tăng đều đến năm 2014 là 389 doanh nghiệp xây

dựng, chiếm 23,3% tổng số doanh nghiệp. So với các ngành nghề kinh doanh khác

(trên 10 ngành nghề tiêu biểu của tỉnh) ngoài xây dựng thì doanh nghiệp xây dựng

mang tính đặc trưng trong tỉnh, chiếm tỷ trọng rất cao trên 23,3% hàng năm.

72

 Phân theo loại hình doanh nghiệp

Theo loại hình và nguồn vốn đóng góp tính đến năm 2014, toàn tỉnh chủ yếu

là loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh

nghiệp tư nhân có trên 1.672 các doanh nghiệp với tổng số nguồn vốn là 9.017 tỷ

đồng. Trong đó, doanh nghiệp tư nhân số lượng thành lập nhiều nhất là 798 doanh

nghiệp, với số nguồn vốn đăng ký kinh doanh là 2.350 tỷ đồng, trong khi đó Công

ty cổ phần có số lượng chỉ 123 doanh nghiệp và lại thấp hơn so với doanh nghiệp tư

nhân nhưng nguồn vốn đăng ký kinh doanh là 2.866 tỷ đồng gấp hơn rất nhiều lần.

Bảng 4.2: Phân theo loại hình doanh nghiệp

Stt

Loại hình doanh nghiệp

Số lượng DN

Nguồn vốn đăng

ký KD (tỷ đồng)

Công ty cổ phần

1

2.866

123

Công ty TNHH 2 TV

2

1.311

320

Công ty TNHH 1 TV

3

2.490

431

Doanh nghiệp tư nhân

4

2.350

798

Tổng số

1.672

9.017

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng

Qua số liệu phân loại doanh nghiệp ở bảng 4.2 cho thấy khoảng 50% doanh

nghiệp thuộc loại hình doanh nghiệp tư nhân, nhưng các doanh nghiệp này chỉ

chiếm số nguồn vốn đăng ký kinh doanh khoảng 2.350 tỷ đồng của tổng doanh

nghiệp trong tỉnh.

 Phân theo ngành nghề kinh doanh

Theo danh mục các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh được Phòng đăng ký

kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng cấp giấy đăng ký kinh doanh

năm 2013 tập trung chủ yếu phân bố trong lĩnh vực xây dựng.

Số liệu từ bảng 4.3 cho thấy lĩnh vực xây dựng có 389 doanh nghiệp, chiếm

tỷ trọng rất cao trong các lĩnh vực doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh

73

doanh, do đó xây dựng mang tính đặc thù của tỉnh, có số lượng doanh nghiệp hoạt

động tương đối cao so với các lĩnh vực khác tại tỉnh Sóc Trăng.

Bảng 4.3: Ngành nghề kinh doanh đang hoạt động doanh nghiệp

Stt

Ngành nghề kinh doanh

Doanh nghiệp hoạt động năm 2012

2011

2013

2014

2010

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

1 2 Công nghiệp khai khoáng 3 Công nghiệp chế biến, chế tạo

118 3 176

85 3 161

76 3 159

89 3 159

79 3 169

4

24

26

25

25

25

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí Cung cấp nước; Hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

5 6 Xây dựng

3 260

4 280

4 302

5 342

3 389

Bán buôn và bán lẻ; Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác

7 8 Vận tải kho bãi 9 Dịch vụ lưu trú và ăn uống

624 25 39

651 30 41

666 30 43

690 32 53

807 36 46

Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ

10

24

65

70

80

81

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh 2014, Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh

4.1.3 Quy mô lao động doanh nghiệp xây dựng

Mặc dù các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn chung của kinh tế, nhưng

các doanh nghiệp đang cố gắng ổn định sản xuất và tìm giải pháp thoát khỏi tình

trạng khủng hoảng. Tình hình lao động sẽ có nhiều thay đổi theo chiều hướng khởi

sắc hơn tại tỉnh Sóc Trăng.

Nhìn chung, tình hình lao động trong các doanh nghiệp cũng sẽ có nhiều

chuyển biến tích cực so với các năm trước. Việc chú trọng khắc phục khó khăn, mở

rộng sản xuất kinh doanh sẽ hứa hẹn tạo thêm nhiều việc làm mới, giúp ổn định đời

sống cho người lao động. Bên cạnh đó, chính quyền tỉnh Sóc Trăng đưa ra nhiều

chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp phục hồi, đầu tư và mở rộng sản xuất

trong thời gian tới. Đặc biệt ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp ở lĩnh vực

công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2010 có 15.957 lao động đến năm 2011 tăng lên

16.209 lao động, nhưng đến năm 2014 tăng lên 18.520 lao động; đối với doanh

nghiệp xây dựng thì lượng lao động năm 2010 là 5.963 lao động đến năm 2011 tăng

74

lên 6.108 lao động, nhưng đến năm 2014 lại giảm xuống còn 5.209 lao động (bảng

4.4).

Bảng 4.4: Số lượng lao động phân theo ngành nghề kinh doanh

Số lượng lao động (người)

Stt

Ngành nghề kinh doanh

2010

2011

2012

2013

2014

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy

1

sản

3.173

1.727

1.280

617

980

2 Công nghiệp khai khoáng

954

920

28

56

66

3 Công nghiệp chế biến, chế tạo

15.958

16.209 14.015 17.750

18.520

Sản xuất và phân phối điện, khí

đốt, hơi nước và điều hòa không

4

khí

198

198

157

154

165

Cung cấp nước; Hoạt động quản lý

5

và xử lý rác thải, nước thải

513

552

604

616

627

6 Xây dựng

5.963

6.108

5.355

4.700

5.209

Bán buôn và bán lẻ; Sửa chữa ô tô,

mô tô, xe máy và xe có động cơ

7

khác

5.039

4938

5.324

5.688

5.920

8 Vận tải kho bãi

636

688

681

619

710

9 Dịch vụ lưu trú và ăn uống

494

443

504

528

601

Hoạt động chuyên môn, khoa học

10

và công nghệ

366

618

620

668

697

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng 2014

Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp cho thấy lực lượng lao động chưa

ổn định. Để giúp doanh nghiệp xây dựng vượt qua khó khăn, Chính phủ cũng đã có

những giải pháp như hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng tiếp cận nguồn vốn ngân

hàng, giảm lãi suất vay. Đặc biệt là hỗ trợ gói 30.000 tỷ đồng nhằm cứu ngành xây

dựng. Với chính sách này, doanh nghiệp xây dựng đã có thể tiếp cận lại với nguồn

vốn vay để đầu tư vào nhiều lĩnh vực và sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động.

Lúc đó đời sống, việc làm và thu nhập của người lao động sẽ bớt khó khăn hơn.

Nhìn chung tình hình lao động tại các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

không có nhiều biến động. Tình trạng khan hiếm lao động không còn diễn ra như

những năm gần đây. Các doanh nghiệp xây dựng cũng cố gắng khắc phục tình trạng

75

khó khăn, mở rộng sản xuất nhằm góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.

Đồng thời đối với doanh nghiệp xây dựng có chiều hướng ngày càng giảm lượng

lao động như năm 2012 là 5.355 lao động đến năm 2014 giảm còn 5.209 lao động.

Với những việc làm thiết thực của các doanh nghiệp xây dựng và người lao động

hứa hẹn sẽ mang lại nhiều khởi sắc trong những năm tới.

4.1.4 Quy mô nguồn vốn sản xuất kinh doanh

 Vốn sản xuất kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như tối đa

hoá lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá

hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp,… song tất cả các mục tiêu

đó đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Do đó mỗi

doanh nghiệp phải có cơ cấu nguồn vốn hợp lý, cân nhắc các yếu tố bên trong và

bên ngoài để đưa ra các quyết định nhằm tối thiểu hóa chi phí, tăng giá trị tài sản

của chủ sở hữu. Nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu

cá nhân, tập thể. Sở hữu cá nhân thì số nguồn vốn đó nằm trong doanh nghiệp tư

nhân. Tại tỉnh Sóc Trăng nhìn qua bốn năm chúng ta thấy loại hình doanh nghiệp tư

nhân có số nguồn vốn sản xuất kinh doanh tăng đều qua các năm, thể hiện vốn ở

loại hình doanh nghiệp tư nhân rất ổn định, cụ thể công ty cổ phần năm 2010 có

tổng nguồn vốn là 1.593 tỷ đồng đến năm 2011 giảm xuống còn 1.018 tỷ đồng,

nhưng đến năm 2013 tăng lên 1.760 tỷ đồng; tương tự công ty trách nhiệm hữu hạn

1 thành viên và 2 thành viên có nguồn vốn sản xuất kinh doanh tăng, giảm và thể

hiện tính chưa ổn định như năm 2010 là 6.073 tỷ đồng, và đến năm 2011 tăng lên

không đáng kể là 5.058 đồng, và đến năm 2013 tăng lên đến 6.650 tỷ đồng.

Như vậy, số lượng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lớn hay

nhỏ là một trong những tiêu chí quan trọng để xếp doanh nghiệp vào qui mô lớn,

hay nhỏ và nó cũng là điều kiện để sử dụng các tiềm năng hiện có cũng như các yếu

tố đầu vào doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có lượng nguồn vốn lớn thì có khả

năng sử dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm được nhiều chi phí và nhân công.

Ngoài ra nguồn vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ còn quyết định đến qui

mô thị trường và khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp.

76

Bảng 4.5: Nguồn vốn sản xuất kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp

Stt Loại hình doanh nghiệp

Nguồn vốn sản xuất kinh doanh (tỷ đồng)

2010

2011

2012

2013

2014

1 Công ty cổ phần

1.593

1.018

1.335

1.526

1.760

2 Công ty TNHH 1 và 2 TV

6.073

5.058

6.252

6.420

6.650

3 Doanh nghiệp tư nhân

2.816

2.898

3.757

3.980

4.190

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng 2014

Nhìn chung, vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Sóc Trăng chỉ có loại hình công ty cổ phần có số vốn tăng nhanh và sau đó đến loại

hình doanh nghiệp tư nhân. Nguồn vốn của doanh nghiệp rất quan trọng, bởi đảm

bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục từ thực hiện khoản mua

sắm vật tư, thiết bị, sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm đầu ra.

Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp

muốn tồn tại và phát triển phải có các bí quyết công nghệ tiên tiến để nâng cao năng

suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tiêu thụ sản phẩm. Để thực hiện

được cả quá trình trên thì doanh nghiệp phải có nguồn vốn để đầu tư. Từ vấn đề này

cho thấy loại hình công ty cổ phần ở tỉnh Sóc Trăng hoạt động hiệu quả cao hơn so

với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, hay doanh

nghiệp tư nhân.

 Nguồn vốn sản xuất kinh doanh phân theo ngành nghề doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường cùng với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách

nhiệm trong sản xuất kinh doanh, việc có vốn và tập trung vốn nhiều hay ít đầu tư

vào ngành nghề kinh nào là vấn đề hết sức quan trọng của doanh nghiệp, nó có vai

trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnh việc sản xuất kinh doanh.

Đồng thời nó cũng là nguồn lực để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh

nghiệp, là điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược, kinh doanh một cách có

hiệu quả nhất. Tại tỉnh Sóc Trăng có thể nhóm lại 10 ngành nghề kinh doanh của

doanh nghiệp có mối quan hệ với lĩnh vực xây dựng (như bảng 3.5).

77

Nhìn chung trong 10 ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa

bàn tỉnh Sóc Trăng chỉ có 3 ngành nghề kinh doanh có giá trị vốn sản xuất kinh

doanh lớn (bảng 4.6):

Thứ nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có vốn năm 2010 là 7.059

tỷ đồng và đến năm 2014 tăng lên 8.620 tỷ đồng;

Thứ hai là ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có

động cơ khác năm 2010 với số vốn sản xuất kinh doanh là 2.833 tỷ đồng và đến

năm 2014 tăng lên 4.672 tỷ đồng;

Thứ ba là ngành nghề kinh doanh xây dựng năm 2010 với số vốn sản xuất

kinh doanh là 2.583 tỷ đồng và sang năm 2014 tăng lên 3.702 tỷ đồng.

Bảng 4.6: Vốn sản xuất kinh doanh phân theo ngành nghề doanh nghiệp

Stt

Ngành nghề kinh doanh

Vốn sản xuất kinh doanh (tỷ đồng) 2012

2013

2011

2014

2010

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

1

865

646

1.218

1.421

2 Công nghiệp khai khoáng

4,7

4,7

3 Công nghiệp chế biến, chế tạo

8.290

8.423

4,9 4,8 7.888

7.059

1.520 4,8 8.620 87

4

49

68

75

82

5

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí Cung cấp nước; Hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

6 Xây dựng – Construction

139 2.583

151 2.879

175 3.353

198 3.642

209 3.702 4.672

7

Bán buôn và bán lẻ; Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác

2.833

3.065

4.115

4.522

8 Vận tải kho bãi

96

119

120

140

9 Dịch vụ lưu trú và ăn uống

155

186

286

312

149 342 286

Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ

10

85

151

237

264

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng 2014

78

Như vậy, các doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng là một trong lĩnh vực

ngành nghề có mức vốn sản xuất kinh doanh rất cao trong 3 lĩnh vực kinh doanh.

Còn bảy ngành nghề sản xuất kinh doanh còn lại có giá trị rất thấp như công nghiệp

khai khoáng có vốn sản xuất kinh doanh năm 2010 là 4,9 tỷ đồng và đến năm 2014

giảm xuống còn 4,8 tỷ đồng.

4.1.5 Quy mô doanh thu thuần sản xuất kinh doanh

Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng

phân theo ngành nghề của 10 ngành nghề kinh doanh chính. Trong đó có 03 ngành

nghề kinh doanh có doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

phân theo ngành nghề cao nhất đó là: Thứ nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế

tạo có vốn năm 2010 với doanh thu thuần sản xuất kinh doanh 10.067 tỷ đồng và

đến năm 2014 doanh thu tăng lên 20.420 tỷ đồng; Thứ hai là ngành bán buôn và bán

lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác năm 2010 với doanh thu

thuần sản xuất kinh doanh là 9.625 tỷ đồng và đến năm 2014 doanh thu tăng lên

14.920 tỷ đồng; Thứ ba là ngành nghề kinh doanh doanh nghiệp xây dựng năm

2010 với số vốn sản xuất kinh doanh là 1.431 tỷ đồng và sang năm 2014 doanh thu

tăng lên 1.982 tỷ đồng.

Bảng 4.7: Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

phân theo ngành nghề

Stt

Doanh thu thuần sản xuất KD (tỷ đồng) 2012

2013

2011

2010

2014

Ngành nghề kinh doanh Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

227

186

240 210 852 32 7 20 9 7 10.067 16.042 18.924 19.817 20.420

4

59

51

41

76

80

1 2 Công nghiệp khai khoáng 3 Công nghiệp chế biến, chế tạo Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí Cung cấp nước; Hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

93

143

124

5 6 Xây dựng

160 1.431 1.418 1.537 1.787

180 1.982

Bán buôn và bán lẻ; Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác

12.195

12.302

9.625

7 8 Vận tải kho bãi 9 Dịch vụ lưu trú và ăn uống

155 371 197 179 57 71 126 108

14.343 14.920 190 110

Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ

10

57

82

112

118

120

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng 2014

79

Như vậy, các doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng là một trong lĩnh vực

ngành nghề có doanh thu thuần sản xuất kinh doanh rất cao trong 3 lĩnh vực kinh

doanh. Còn bảy ngành nghề sản xuất kinh doanh còn lại có doanh thu thuần sản

xuất kinh doanh rất thấp như công nghiệp khai khoáng có vốn sản xuất kinh doanh

năm 2010 là 32 tỷ đồng và đến năm 2014 giảm xuống còn 7 tỷ đồng.

Đặc biệt các doanh nghiệp xây dựng có doanh thu thuần giảm, cụ thể năm

2010 là 1.431 tỷ đồng đến năm 2011 chỉ còn 1.418 tỷ đồng nhưng tỷ lệ giảm không

đáng kể, bởi do tình hình chung của nền kinh tế và trong đó có doanh nghiệp xây

dựng gặp rất nhiều khó khăn, cùng với các doanh nghiệp kinh doanh thuộc ngành

nghề như: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp khai khoáng; Sản

xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí cũng có doanh thu

thuần sản xuất kinh doanh giảm năm 2010 so với năm 2011.

4.2 Thực trạng các yếu tố tác động phát triển doanh nghiệp xây dựng

4.2.1 Yếu tố môi trường xây dựng

Hiện nay, không ít cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc

Trăng bước đầu đã mở rộng quy mô sản xuất, sử dụng các thiết bị và công nghệ tiên

tiến, góp phần phát triển công nghiệp bền vững trên địa bàn. Trong quá trình đó,

công nghệ lò gạch không nung liên tục được các doanh nghiệp xây dựng quan tâm

đầu tư. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số lò gạch xây dựng bằng thủ công vẫn còn

hoạt động gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng và chất lượng gạch

cũng không đảm bảo. Các chất ô nhiễm trong ngành xây dựng chủ yếu là tiếng ồn

xây dựng, bụi xây dựng, chất thải xây dựng và được phản ánh ở một số khía cạnh

trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng sau:

 Ô nhiễm tiếng ồn trong xây dựng là vấn đề bị người dân phản ánh nhiều nhất

và thường xảy ra. Hiện nay, phần lớn các tòa nhà có kết cấu khung bê tông cốt thép,

các quy trình được thực hiện theo thứ tự trộn bê tông, vận chuyển, đổ và chính

những quy trình này đã tạo ra tiếng ồn trong quá trình thi công. Nguồn gây ô nhiễm

tiếng ồn tại công trường thi công bao gồm: máy xúc, máy ủi, máy ép cọc, máy cắt.

 Bụi xây dựng chủ yếu được tạo ra bởi một số hoạt động: đào xới đất tại công

trường thi công, xử lý và vận chuyển, chôn lấp, đào đất làm đường; vật liệu xây

80

dựng (vôi, xi măng, cát, sỏi, gạch,…) cũng tạo ra bụi khi vận chuyển và chồng xếp;

bụi từ rác thải thi công; bụi tạo ra trong quá trình xe qua lại công trường.

 Rác thải xây dựng chủ yếu là những nguyên vật liệu thải bỏ, bao bì nguyên

liệu xây dựng và bán thành phẩm xây dựng. Rác thải xây dựng được thải ra với số

lượng lớn, trên diện tích rộng, có mức độ ảnh hưởng lớn, nếu không được xử lý, về

lâu dài tính chất thổ nhưỡng tại khu vực đó sẽ bị thay đổi, ảnh hưởng tới sự sinh

trưởng của thực vật, đồng thời gây ảnh hưởng xấu tới cảnh quan đô thị.

 Khí thải trong xây dựng chủ yếu được thải ra từ vật liệu trang trí xây dựng

như: sơn phủ, sơn trang trí,… Lượng khí thải được thải ra trong ngành Xây dựng

tuy có số lượng nhỏ, nhưng lại có sự ảnh hưởng lớn tới môi trường không khí. Do

các khí thải này mang theo nhiều loại chất gây ô nhiễm, có độc tính cao, thường

được sản sinh ra tại những khu vực có lượng dân cư đông đúc, khả năng thông gió

kém, nên gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người.

 Nước thải trong xây dựng được thải ra chủ yếu từ các giếng nước ngầm nhân

tạo, nước bùn thải khi thi công móng cọc, nước thải trong quá trình bảo dưỡng bê

tông, nước thải từ thiết bị thí nghiệm thủy lực và nước thải sinh hoạt từ các công

nhân thi công,… Một số điểm cấp nước tạm thời trong công trường bị rò rỉ nước và

không được theo dõi, quản lý phù hợp dẫn đến tình trạng nước chảy tràn lan tại

công trường. Hay do một số đơn vị thi công đã thải trực tiếp bùn, các chất lỏng khác

vào hệ thống thoát nước, các chất thải này lắng xuống đáy cống, lâu ngày sẽ làm

cho hệ thống thoát nước bị tắc nghẽn, gây ô nhiễm về môi trường nước.

Ngoài ra, một số dự án “treo” trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng chưa hoàn thành

các thủ tục như quyết định cho thuê đất của Ủy ban nhân dân tỉnh và hoàn thành

công tác thu hồi, đền bù giải phóng mặt bằng đất, nhưng đơn vị này đã tiến hành tập

kết máy ép cọc, đổ đất san lấp hồ chứa nước, làm tắc các hệ thống thoát nước, gây

ngập úng, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt và

hư hỏng tài sản, hàng hóa của các hộ đang kinh doanh và sinh sống của người dân.

 Các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng chưa quan tâm đến việc sử dụng

nguyên liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô nhiễm. Tiết kiệm chi phí bằng

sản xuất sạch hơn trong bối cảnh suy giảm kinh tế, làm cách nào để tiết kiệm chi phí

sản xuất là mối quan tâm của các doanh nghiệp. Sản xuất sạch hơn được xem là một

81

giải pháp khả thi vừa cắt giảm chi phí sản xuất vừa cải thiện điều kiện môi trường.

Sản xuất sạch hơn cũng phù hợp mọi qui mô sản xuất, từ hộ gia đình đến các doanh

nghiệp xây dựng. Hiện trạng trong sản xuất công nghiệp của nước ta là quá trình sản

xuất ra sản phẩm nhưng phát sinh khí thải, chất thải lỏng và chất thải rắn nguy hại

cho môi trường. Ở tỉnh Sóc Trăng trong những năm qua, ngành công nghiệp phát

triển với tốc độ khá cao, nhưng nhiều khu vực sản xuất có mức độ ô nhiễm môi

trường lại quá mức cho phép nhiều lần. Cùng với sự phát triển của công nghiệp, mọi

người đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm về môi trường ngày càng nghiêm

trọng. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã tạo hành lang pháp lý trong công tác

quản lý, bảo vệ môi trường. Nhưng phần lớn các doanh nghiệp xây dựng chưa tập

trung xử lý chất thải, chưa quan tâm đến sử dụng nguyên liệu sạch để thi công nhằm

đáp ứng các quy định pháp luật về môi trường.

 Mức độ giải quyết ô nhiễm trong ngành xây dựng, theo Sở Tài nguyên và

Môi trường có nhiều doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa

bàn tỉnh. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường đã được Ủy

ban nhân dân tỉnh đề nghị khắc phục xử lý ô nhiễm môi trường. Việc tăng cường

quản lý công tác bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp hiện nay, toàn tỉnh có

gần 1.672 doanh nghiệp hoạt động, trong đó có 389 doanh nghiệp xây dựng tạo việc

làm cho người lao động và giải quyết phần nào bài toán thất nghiệp của tỉnh, tạo thu

nhập ổn định cho nhiều lao động và góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế

của địa phương. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển sản xuất công nghiệp, vấn đề ô

nhiễm môi trường đang ngày càng báo động. Phần lớn các doanh nghiệp còn ở quy

mô nhỏ, công nghệ, thiết bị lạc hậu phát sinh nhiều chất thải, thiếu nguồn vốn để

đầu tư thiết bị xử lý về môi trường..., chưa nêu cao ý thức trong việc bảo vệ môi

trường. Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp đều vi phạm các quy định của pháp luật

về bảo vệ môi trường. Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó có

phần lớn nằm trong khối doanh nghiệp. Theo kết quả điều tra của Trung tâm Quan

trắc và phân tích tài nguyên môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh,

hầu như các doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy

định về bảo vệ môi trường như: chưa lập hoặc đã có nhưng thực hiện không đúng

các yêu cầu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (cam kết bảo vệ môi

trường, đề án bảo vệ môi trường…) chưa thực hiện quan trắc môi trường định kỳ

82

trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, không đầu tư hệ thống xử lý chất thải đảm

bảo đạt tiêu chuẩn Việt Nam trước khi thải ra môi trường. Nhiều cơ sở chưa quan

tâm bố trí cán bộ làm công tác môi trường.

Thực trạng các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thời gian qua, phần

lớn chưa quan tâm nhiều đến việc bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển

doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp xây dựng bị vi phạm về môi trường và bị xử

phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trường tăng rất nhanh, như năm 2010 có

20 doanh nghiệp bị vi phạm môi trường sang năm 2011 tăng lên 28 doanh nghiệp và

tiếp tục đến năm 2014 trăng đến 69 doanh nghiệp (bảng 4.8).

Bảng 4.8: Doanh nghiệp xây dựng vi phạm pháp luật môi trường

Stt

Khoản mục

2010

2011

2012

2013

2014

1

Doanh nghiệp chưa tuân thủ đúng các

quy định về pháp luật môi trường.

13

19

23

31

45

2

Doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm hành

chính về lĩnh vực môi trường

7

9

14

18

24

Tổng cộng doanh nghiệp

20

28

37

49

69

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng năm 2015

Bản thân doanh nghiệp và chính quyền địa phương chưa thể hiện được mối

quan hệ chặt chẽ đến công tác kiểm tra, kiểm soát và tổ chức quản lý, giám sát cộng

đồng để quản lý môi trường và áp dụng các hình thức xử phạt nghiêm đối với các

cơ sở sản xuất không tuân thủ quy định của Luật Bảo vệ môi trường để giảm thiểu

tình trạng xả thải tùy tiện của các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường.

 Với tình trạng ô nhiễm môi trường như trên, chính quyền tỉnh Sóc Trăng cần

tập trung huy động các nguồn vốn để thực hiện các chương trình nhằm ngăn chặn

và xóa bỏ tình trạng ô nhiễm môi trường; trong đó ưu tiên phát triển làng nghề để

các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tách khỏi khu dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho

việc xử lý môi trường. Hàng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cần quan tâm

nhiều đến công tác kiểm tra việc thực hiện các nội dung báo cáo đánh giá tác động

môi trường đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn; qua đó đã kịp thời

phát hiện, nhắc nhở và xử lý nghiêm đối với các trường hợp sai phạm. Bên cạnh đó,

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cần thường xuyên tuyên truyền Luật bảo vệ môi

83

trường để các doanh nghiệp tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường. Nhờ đó, nhiều

doanh nghiệp đã nắm vững Luật bảo vệ môi trường và thực hiện tốt công tác bảo vệ

môi trường. Hiện nay, đã có nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quan tâm đến công

tác bảo vệ môi trường gắn với sản xuất nhưng ở mức độ còn thấp.

4.2.2 Yếu tố kiến trúc xây dựng

Các kiến trúc kết cấu tăng cường khả năng ổn định cho công trình chịu sự tác

động của gió bão và những đề xuất mới phù hợp trong điều kiện Việt Nam. Việc

định hướng phát triển kiến trúc xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng nhằm đáp ứng với nhu

cầu xây dựng công trình và kiến trúc tạo dấu ấn trong kiến trúc không gian đô thị và

nông thôn trên cơ sở khai thác tốt những tiến bộ, văn minh thế giới, đồng thời phải

đảm bảo phát huy tốt những đặc trưng của bản sắc văn hoá dân tộc. Những người

làm kiến trúc cần biết kế thừa những truyền thống văn hoá tốt đẹp để tạo ra các

không gian kiến trúc hiện đại, có bản sắc, tồn tại và phát triển bền vững trong môi

trường cân bằng sinh thái, thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày một cao của

nhân dân trong tỉnh. Xã hội ngày càng phát triển, quá trình đô thị hóa đã dần phá vỡ

những kiến trúc xanh ở các vùng nông thôn. Tuy không thể hoài niệm những cái cổ

xưa, nhưng đó là những bài học, là triết lý trong thiết kế mà kiến trúc hiện đại có thể

kế thừa và phát huy.

 Đối với doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng: Năng lực các doanh nghiệp

tư vấn của tỉnh chuyên môn không đáp ứng yêu cầu trong việc thiết kế kiến trúc qui

hoạch, nếu thuê các đơn vị ở xa thì thường không đạt kết quả cao trong khâu điều

tra hiện trạng, cập nhật thông tin trong quá trình thiết kế, kiến trúc, qui hoạch dẫn

đến kéo dài thời gian, chưa cập nhật kịp thời các qui định, tiêu chuẩn, qui chuẩn để

tham mưu, tư vấn cho chủ đầu tư các phương án tốt nhất.

Không có bộ qui chuẩn, tiêu chuẩn, khoảng lùi, khoảng không thống nhất

nên thiết kế đô thị mất mỹ quan.

 Đối với chính quyền tỉnh Sóc Trăng chưa quan tâm nhiều về kiến trúc xây

dựng: Theo các nghiên cứu, một trong những nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu

là việc tiêu thụ năng lượng quá lớn từ các công trình xây dựng vì các công trình xây

dựng chiếm khoảng 35 – 40% việc tiêu thụ năng lượng toàn cầu và cũng phát thải

khoảng 37% khí nhà kính. Chính vì thế, việc phát triển kiến trúc xanh để tạo ra các

công trình xanh có tác dụng rất lớn trong việc sử dụng tài nguyên một cách có hiệu

84

quả, giảm phát thải khí nhà kính và xa hơn nữa là giảm nhẹ tác động của biến đổi

khí hậu. Tuy nhiên, nhiều chủ đầu tư, chính quyền địa phương tỉnh Sóc trăng chưa

nhận thức được giá trị thật sự những công trình này mang lại. Thêm vào đó, chi phí

xây dựng cũng có phần cao hơn các công trình khác, nên vấn đề “xanh” chưa được

quan tâm đúng mức.

Thực trạng đối với mạng lưới đô thị của tỉnh Sóc Trăng mà trọng tâm là

thành phố Sóc Trăng có thể thấy vẫn còn nhiều điều đáng bàn. Số lượng đô thị tăng

lên nhưng chất lượng chưa được quan tâm đúng mức; hệ thống hạ tầng kỹ thuật và

hạ tầng xã hội không đồng bộ và quá tải; hệ thống cấp nước sạch và thoát nước

không đồng bộ, tình trạng ngập úng cục bộ diễn ra nhiều nơi; tình trạng ô nhiễm

môi trường ngày càng nghiêm trọng do rác thải, nước thải chưa được xử lý; quá

trình xây dựng, phát triển đô thị còn sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, tiêu

hao nhiều năng lượng và phát thải lớn, gây mất cân bằng sinh thái, suy thoái môi

trường.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, các doanh nghiệp xây dựng tư vấn thiết kế

kiến trúc ở tỉnh Sóc Trăng đã phải đối mặt với những thách thức, bất cập lớn trong

việc tổ chức, quản lý hoạt động và hành nghề của kiến trúc sư. Việc đào tạo, bồi

dưỡng nâng cao tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển, mô hình

đào tạo chưa tương thích với xu thế hội nhập quốc tế, chương trình đào tạo chưa

được quốc tế công nhận,… Bên cạnh đó, kiến trúc sư Việt Nam phần lớn chưa có cá

tính sáng tạo, chưa tạo được trường phái riêng cho mình, thiếu những người khởi

xướng mang tính đột phá, đề ra những ý tưởng táo bạo đồng thời sẵn sàng đón nhận

thách thức khi bảo vệ quan điểm. Mặt khác, cơ chế chung về quản lý hiện nay đã

tạo ra nhiều bất cập trong hành nghề kiến trúc sư.

4.2.3 Yếu tố nguồn vốn

Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ nguồn vốn cho

các doanh nghiệp xây dựng như bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ tín dụng. Tuy nhiên,

trên thực tế mới có một số lượng nhỏ các doanh nghiệp xây dựng đã được thụ

hưởng chính sách hỗ trợ này. Phần lớn cho thấy có trở ngại do thủ tục vay (hồ sơ

vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục nguồn vốn vay đơn giản cho các doanh nghiệp);

và trở ngại yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng

không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản thu…); và tỷ lệ

85

lãi suất chưa phù hợp; Các điều kiện nguồn vốn vay hiện nay chưa phù hợp với

doanh nghiệp. Hiện nay, nhiều tỷ đồng vốn nợ đọng nằm trong các công trình mà

doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng đang thi công nhưng vẫn chưa được chủ đầu

tư thanh toán, trong khi đơn vị vẫn phải trả lãi vay cho ngân hàng, nguồn vốn lưu

động của doanh nghiệp xây dựng đã cạn. Do phải đầu tư nguyên vật liệu cho thi

công các công trình cao, lãi suất ngân hàng tăng, công trình nhận thi công quá ít,

vốn nợ đọng từ công trình đã hoàn thành nhiều nên công ty không lo được việc làm,

tiền lương và tiền đóng bảo hiểm cho công nhân. Hiện nay, doanh nghiệp xây dựng

chỉ còn đóng bảo hiểm cho bộ phận cán bộ văn phòng, còn lại công nhân tự lo việc

làm và tự đóng bảo hiểm.

Hiện nhiều dự án đang thực hiện dang dở không thể thu hút thêm vốn để

triển khai, dẫn đến bị đình trệ hoặc tạm hoãn, khiến nhiều doanh nghiệp xây dựng

phải “oằn mình” gánh chi phí lãi vay và các chi phí đầu vào liên tục tăng cao. Trong

hai năm qua, không ít doanh nghiệp xây dựng đã thực hiện việc giảm giá bán hoặc

áp dụng các chính sách khuyến mãi, dự thưởng, hỗ trợ lãi suất cho khách hàng mua

nhà nhằm kích cầu và giải quyết tình trạng thị trường. Thực trạng vốn sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng trong thời gian qua cho thấy có

sự tăng đều qua các năm, nhưng mức tăng không đáng kể, năm 2010 là 2.583 tỷ

đồng đến năm 2011 tăng lên là 2.879 tỷ đồng và chỉ riêng đến năm 2014 tăng lên

cao là 3.890 tỷ đồng (bảng 4.9).

Bảng 4.9: Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng

Stt

Doanh nghiệp

2010

Vốn sản xuất kinh doanh (tỷ đồng) 2012

2013

2011

2014

nghiệp

xây

2.583

2.879

3.353

3.642

Doanh dựng

1

3.890

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh 2014

Gần như trong bất cứ hội nghị, hội thảo nào về doanh nghiệp chúng ta đều

thấy các doanh nghiệp kêu ca rằng họ gặp vô vàng khó khăn, từ vấn đề về nguồn

vốn, hàng tồn kho, lãi suất ngân hàng, thủ tục hành chính, thuế, họ đổ trách nhiệm

điều hành chính sách cho nhà nước. Ngoài những khó khăn từ tình hình chung của

điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước cũng có một khó khăn không nhỏ do chính

86

doanh nghiệp gây ra. Do đó, chúng tôi cho rằng, doanh nghiệp cần xem lại mình

trước khi đổ hết trách nhiệm cho nhà nước; cụ thể như:

 Hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh mà chưa chuẩn bị đủ nguồn

vốn, kiến thức, kinh nghiệm, năng lực quản lý điều hành của chính doanh nghiệp.

Chính giai đoạn khủng hoảng này, doanh nghiệp có thời gian để đánh giá xem trình

độ, năng lực, kinh nghiệm quản lý, điều hành của mình còn yếu và thiếu ở lĩnh vực

nào để cập nhật và bổ sung thêm. Nhiều người hiện nay kinh doanh theo cảm tính,

chạy theo phong trào mà chưa chuẩn bị những kiến thức, kỹ năng quản lý cơ bản

khi kinh doanh.

 Các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng chưa chú trọng và xem thường

quy trình xây dựng, dự báo, đánh giá, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động

kinh doanh, nhất là năng lực quản lý nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy, khi có vấn đề

khủng hoảng hoặc rủi ro thì họ sẽ không biết xử lý như thế nào; có khi chỉ một trục

trặc nhỏ mà phải tạm dừng hoạt động, giải thể, phá sản. Nhiều doanh nghiệp kinh

doanh dựa vào một hoặc một vài cá nhân, do đó khi cá nhân đó gặp vấn đề thì xem

như doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động.

 Một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn đầu tư chưa đúng

lợi thế của bản thân doanh nghiệp dẫn đến không cân đối thu chi.

Nhìn chung, còn nhiều doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng chưa xây

dựng được chiến lược quản lý nguồn vốn kinh doanh của mình trong dài hạn và

chưa hợp tác với những doanh nghiệp có chiến lược quản lý, kinh doanh có hiệu

quả hiện nay đặc biệt là doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư nước ngoài, chậm hợp

tác mở rộng thị trường mới từ các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Trong giai đoạn hiện nay vẫn có nhiều doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư nước

ngoài vẫn hoạt động có hiệu quả, tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh.

Tại sao doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng của chúng ta không hành động trước

khi điều đó đã quá muộn.

4.2.4 Về yếu tố kết nối thị trường

Thị trường gắn với sản xuất hàng hóa, sản xuất hàng hóa là cơ sở kinh tế

quan trọng của thị trường, thị trường phản ánh trình độ và mức độ của nền sản xuất

xã hội; Mối quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài ngày càng

được nhận thức đầy đủ và đúng đắn. Kết nối thị trường là quá trình giao dịch hàng

87

hoá xây dựng giữa các bên có liên quan. Là nơi diễn ra các hoạt động mua bán,

chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ có liên quan như tư vấn thiết kế

xây dựng công trình, dự án đầu tư và nhà ở, tư vấn quy hoạch, sản xuất và kinh

doanh vật liệu xây dựng tại thị trường tỉnh Sóc Trăng, ... liên quan đến lĩnh vực xây

dựng giữa các chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò quản lý nhà nước có tác động

quyết định đến sự thúc đẩy phát triển hay kìm hãm hoạt động kinh doanh khi kết nối

thị trường. Để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải

quyết nợ xấu, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 nhằm

có các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho kết nối thị trường.

 Hiện nay kết nối thị trường còn nhiều bất cập; do sự phát triển quá nóng thời

gian qua cũng khiến cho nhiều đô thị mọc lên song lại chưa có đầy đủ các yếu tố cơ

bản của một đô thị hoàn chỉnh. Như vậy, việc phát triển kết hợp bảo vệ môi trường,

hoàn thiện hạ tầng xã hội đô thị vẫn là bài toán chưa có lời giải. Nhiều dự án đô thị

phát triển mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, ảnh hưởng tới diện mạo đô thị và sự

phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản. Xây dựng và phát triển đô thị còn

nhiều khó khăn thách thức. Việc khắc phục các vấn đề bất cập không thể giải quyết

chỉ bằng sự hỗ trợ, giúp đỡ của nguồn lực từ bên ngoài mà cần bắt đầu ngay từ khâu

quy hoạch của tỉnh Sóc Trăng.

 Thị trường bất động sản có luật nhưng chưa đáp ứng được thực tế, như rõ

ràng từ khâu giao đất dự án đến kinh doanh sản phẩm xây dựng. Chính sách pháp

luật liên quan tới lĩnh vực bất động sản được quy định tại nhiều Luật chuyên ngành

khác nhau dẫn đến còn có nhiều nội dung chưa thống nhất, thậm chí mâu thuẫn

trong quá trình thực hiện thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng có liên quan. Các văn bản

này được ban hành ở những thời điểm khác nhau, cơ quan chủ trì xây dựng khác

nhau nên đã dẫn đến sự chồng chéo, có nhiều điểm chưa thống nhất, làm cho các cơ

quan quản lý và các doanh nghiệp xây dựng khó khăn, lúng túng trong việc áp dụng

pháp luật và gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật của người dân và doanh

nghiệp.

 Việc kiểm tra thi hành pháp luật về kinh doanh bất động sản chưa được thực

hiện thường xuyên, còn thiếu tính chủ động, nghiêm túc, chưa đáp ứng yêu cầu đòi

hỏi của thực tiễn; đặc biệt là vai trò của Ủy ban nhân dân thành phố Sóc Trăng, Thị

Xã, Huyện trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong hoạt động kinh

88

doanh bất động sản. Việc xử lý sau thanh tra chưa kiên quyết, triệt để, kịp thời làm

hạn chế đến hiệu quả hoạt động thanh tra.

Nguyên nhân chính của những tồn tại trên là do: Bất động sản là loại hàng

hóa đặc biệt và quản lý thị trường bất động sản ở nước ta là vấn đề còn khá mới;

Việc thực hiện một số nội dung cụ thể về kinh doanh bất động sản có liên quan đến

nhiều Bộ, ngành, cơ quan, song việc phối hợp trong xây dựng, ban hành các văn

bản có nội dung điều chỉnh liên quan đến kinh doanh bất động sản còn thiếu chặt

chẽ và chưa đồng bộ.

 Chưa có tiêu chí xếp hạng doanh nghiệp, năng lực cỡ nào thì thi công công

trình cỡ đó, hiện tại trong tỉnh còn nhiều công trình thi công còn rất chậm và gián

đoạn vì nhà thầu thiếu năng lực. Tại một số công trình xây dựng trụ sở các cơ quan,

trường học, nhất là tại các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước đang xuất

hiện khá nhiều ý kiến phàn nàn từ chính chủ đầu tư rằng quá trình triển khai thi

công bị chậm do năng lực tài chính yếu kém của các nhà thầu xây dựng. Lại có

nhiều ý kiến cho rằng, đang có một khoảng cách lớn giữa hồ sơ kinh nghiệm, khả

năng tài chính được thể hiện qua bài thầu với thực lực của nhiều nhà thầu. Phải

chăng, các chủ đầu tư đang bị nhà thầu qua mặt do tồn tại một phương pháp đánh

giá năng lực tài chính của các nhà thầu thiếu chính xác, nặng về cảm tính. Theo quy

định hiện hành về đấu thầu, bất kỳ ứng thầu nào muốn lọt vào “cuộc thi chính thức”

đều phải vượt qua các đợt sơ tuyển ban đầu. Có chủ đầu tư mở hẳn cuộc sơ tuyển

rồi công bố ứng thầu có đủ điều kiện vào dự đấu thầu, có trường hợp chủ đầu tư chỉ

xét các hồ sơ dự thầu thoả mãn 2 tiêu chí cơ bản: năng lực tài chính, kinh nghiệm

thi công.

Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao rất nhiều chủ đầu tư dù đã tiến hành đầy đủ các

bước tuyển chọn ngặt nghèo vẫn bị hớ khi trao thầu cho các nhà thầu không đủ năng

lực. Quan trọng hơn, hiện tượng này tại sao chỉ xuất hiện phổ biến tại các dự án sử

dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

4.2.5 Yếu tố tiếp cận các chính sách nhà nước

Các doanh nghiệp xây dựng chưa tiếp cận được các chính sách nhà nước một

cách hiệu quả. Tỷ lệ doanh nghiệp xây dựng tham gia vào các chương trình hỗ trợ

của Chính phủ như: Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Quỹ đổi mới Khoa

học công nghệ,… còn rất khiêm tốn (dưới 10%). Do các doanh nghiệp xây dựng

89

hoặc là có nguồn lực hạn chế, hoặc chưa chuẩn bị để tiếp cận các nguồn lực phân bổ

bởi Chính phủ để phát triển các ngành, nghề và lĩnh vực ưu tiên. Việc tiếp cận hạn

chế này còn bắt nguồn từ nguyên nhân thiếu thông tin, hoặc thủ tục quá phức tạp.

 Chính sách nhà nước về nhà ở và thị trường bất động sản tỉnh Sóc Trăng cần

cụ thể hoá chương trình phát triển nhà ở, trong đó chú ý xây dựng các chỉ tiêu phát

triển nhà ở vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của

tỉnh; khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động về phát triển nhà ở và thị trường

bất động sản năm 2014; các sở ngành có liên quan rà soát những chính sách liên

quan đến nhà ở, thị trường bất động sản thuộc lĩnh vực ngành quản lý, trên cơ sở đó

kịp thời theo dõi, đề xuất ủy ban nhân dân tỉnh hoặc các Bộ, ngành xử lý kịp thời

những phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện; nghiên cứu phương án, kế hoạch

sử dụng quỹ đất tại các địa phương trên địa bàn tỉnh làm cơ sở để chỉ đạo triển khai

các dự án về phát triển nhà ở theo chương trình nhà ở của tỉnh.

Tuy nhiên, bên cạnh bàn về những chính sách trên vẫn còn những vấn đề cần

phải “giải mã” để đúng nghĩa là “Trải thảm đỏ” mời gọi các nhà đầu tư trong nước

và quốc tế đến với tỉnh Sóc Trăng, về danh mục các dự án đầu tư của tỉnh chưa sát

với tình hình thực tế, cung cấp thông tin thiếu và chưa chi tiết, đầy đủ cũng làm cho

công tác kêu gọi đầu tư chưa cao bằng các tỉnh bạn. Đặc biệt, tỉnh Sóc Trăng chưa

quan tâm nhiều vấn đề chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng như: Chính sách

đất đai; Chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; Chính sách đấu thầu; Chính

sách bất động sản; Chính sách tín dụng; Chính sách môi trường,…

 Những hạn chế về chính sách phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam

và tỉnh Sóc Trăng còn khá nhiều điểm yếu của thị trường bất động sản. Trong đó,

nhận định bao trùm vẫn là một thị trường bất động sản thiếu minh bạch và hiệu lực,

hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường này đang bộc lộ nhiều hạn chế.

Luôn trong tình trạng thiếu nguồn vốn: thị trường bất động sản ở tỉnh Sóc

Trăng đang còn ở cấp độ phát triển thấp, các thành tố của thị trường hình thành

chưa đầy đủ, khi luật pháp hạn chế các chủ đầu tư phân lô bán nền và thu tiền ứng

trước của bên mua, thị trường bất động sản phụ thuộc nhiều vào nguồn tín dụng từ

hệ thống ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng thương mại chủ yếu cung cấp nguồn vốn

ngắn hạn trong khi thị trường bất động sản cần nguồn vốn trung và dài hạn. Hệ

90

thống tài chính cần thiết cho thị trường bất động sản như các văn bản pháp quy về

quỹ đầu tư bất động sản; trái phiếu bất động sản; hệ thống thế chấp thư cấp bất động

sản; quỹ tiết kiệm bất động sản,... vẫn chưa có. Hệ quả là, thị trường bất động sản

luôn lâm vào trạng thái thiếu hụt nguồn vốn ngay cả khi khi hệ thống ngân hàng

thương mại không giảm cung cấp tín dụng.

Thiếu minh bạch, do bên bán chi phối: thông tin thị trường bất động sản nói

chung, thị trường bất động sản là nhà ở nói riêng hiện nay rất kém minh bạch, hệ

quả là người mua thường bị thua thiệt. Trên thực tế, đến nay không có một cơ quan

nào nắm được thông tin chính xác hiện đang có bao nhiêu dự án (dưới mọi hình

thức và loại hình sản phẩm) đang được triển khai, sản phẩm đã và đang được bán

cho ai, giá cả chính xác như thế nào.

Mặc dù Luật Kinh doanh bất động sản đã quy định mọi giao dịch mà có một

bên là chủ thể kinh doanh bất động sản phải giao dịch qua sàn giao dịch bất động

sản, nhưng rất nhiều giao dịch vẫn chưa giao dịch qua sàn. Tình hình mua các sản

phẩm bất động sản tại các dự án cho đến nay vẫn chưa đi vào quy củ, Nhà nước vẫn

chưa quản lý được. Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản đã quy định các

chủ đầu tư không được huy động nguồn vốn của bên mua khi chưa hoàn thành

móng nhưng trong thực tế, các bên vẫn giao dịch thông qua các hợp đồng góp

nguồn vốn, hợp đồng vay tiền... để mua các sản phẩm từ khi dự án được hình thành.

Chi phí không chính thức cao: Các quy trình đầu tư một dự án bất động sản

rất phức tạp, chi phí tốn kém về vật chất và thời gian. Các doanh nghiệp xây dựng

khi bắt đầu tìm hiểu, tiếp cận đất đai để hình thành và phát triển dự án bất động sản

thường gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù văn bản pháp quy đã chỉ khá rõ trình tự thủ

tục và quy trình; nhưng trên thực tế diễn ra lại rất phức tạp và không rõ ràng. Điều

này cho thấy hệ thống văn bản chưa theo kịp những diễn biến thực tiễn của cuộc

sống. Những phức tạp của trình tự thủ tục đã làm chi phí dự án tăng cao. Đặc biệt,

trong bối cảnh hiện nay, rất nhiều dự án bị kéo dài rất lâu vì các văn bản pháp quy

không phân định rõ trách nhiệm của các bên trong một sự việc. Điều này dẫn đến

việc đền bù, giải phóng mặt bằng bị chậm trễ.

Chính sách hay thay đổi, khó dự báo: cho rằng, trong những năm qua, hệ

thống chính sách phát triển thị trường rất hay thay đổi, nhiều khi thay đổi đột ngột

làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của thị trường. Cụ thể, cho đến nay để có

91

thể tiến hành tính toán các chỉ số liên quan đến thị trường bất động sản thì một trong

những chỉ tiêu cơ bản là số lượng diện tích xây dựng trên địa bàn; số lượng nguồn

vốn đầu tư vào bất động sản trên địa bàn; số lượng giao dịch và giá trị giao dịch thật

sự trên địa bàn hiện vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Hệ thống thống kê hiện tại

vẫn chỉ đang thống kê vật chất thay vì thống kê về giá trị, hướng tới tín hiệu thị

trường.

Nhiều vấn đề căn bản về thị trường đất đai, bất động sản chưa được ban

hành: hiện nay khá nhiều chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng còn nhiều bất

cập, làm cả doanh nghiệp xây dựng và người dân đều không được phân chia một

cách thỏa đáng. Hay như vấn đề thời hạn giao đất và hạn điền giao đất đã tỏ ra rất

bất cập, nhưng vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề đặt ra là tiếp tục giao như hiện nay

hay có chính sách nào khác rất cần được trả lời. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có kết

luận. Cũng như vậy, vấn đề hạn điền đã và đang trở thành vấn đề xung đột với tích

tụ đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa cũng chưa có lời giải có sức thuyết phục.

Hiệu lực, hiệu quả quản lý còn hạn chế: việc các dự án chậm triển khai,

chậm tiến độ đã được quy định là phải thu hồi. Tuy nhiên, cho đến nay, thống kê

chưa đầy đủ cho thấy trên cả nước có khoảng 2500 dự án bất động sản đang triển

khai và tỉnh Sóc Trăng cũng có khoảng 20 dự án đang triển khai. Tuy nhiên, số dự

án chậm tiến độ hay chậm triển khai là khá nhiều, nhưng số dự án thu hồi còn rất

nhỏ. Vấn đề đặt ra là, có rất nhiều dự án này đã và đang bị đình lại để chờ xem xét,

đối chiếu quy hoạch để tiếp tục triển khai hay dừng hẳn. Vì vậy, có thể thấy chính

chúng ta đã đặt ra những tồn tại, hạn chế cho phát triển thị trường bất động sản

thông qua sự không rõ ràng trong chính sách, trong điều hành (Lê Xuân Bá, 2013).

4.2.6 Yếu tố nguồn nhân lực

Một doanh nghiệp muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát

triển doanh nghiệp như: Xây dựng qui chế tuyển dụng thật hoàn chỉnh; Thực hiện

nghiêm chỉnh Luật lao động; Xây dựng qui chế đào tạo, đãi ngộ người giỏi,... Trong

các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết

định trong sự tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp từ trước đến nay. Một doanh

nghiệp xây dựng cho dù có máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con

92

người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng

có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.

 Hạn chế một số doanh nghiệp xây dựng hiện nay chưa thực sự chú tâm vào

việc quản trị nguồn lực doanh nghiệp. Nhân sự của doanh nghiệp chưa thực hiện

theo qui trình quản lý chiến lược từ các phòng ban khác nhau trong doanh nghiệp.

Đặc biệt, chưa xây dựng được chiến lược dài hạn phục vụ cho phát triển doanh

nghiệp xây dựng trong tương lai. Theo đó, quy trình quản lý nguồn nhân lực gồm:

Lập kế hoạch, xây dựng Thương hiệu tuyển dụng, tuyển dụng nhân sự, đào tạo và

phát triển quản lí, phát triển hiệu quả lao động, đội ngũ kế cận, hệ thống lương

thưởng và chế độ đào thải. Cụ thể, kế hoạch nhân sự phải luôn gắn với kế hoạch

phát triển của doanh nghiệp: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Kế hoạch nhân sự phải

gắn kết với tầm nhìn và giá trị cốt lõi của doanh nghiệp. Tuy nhiên có một tồn tại là

kế hoạch nhân sự thường thụ động và đi sau.

 Tuyển dụng nguồn nhân lực phải được coi là một khâu “chiến lược” trong

quy trình quản trị nhân sự, giống đầu vào trong quy trình sản xuất, phải có quy trình

tuyển dụng chặt chẽ và những ai tham gia vào quy trình tuyển dụng phải được đào

tạo. Tuy nhiên, khâu tuyển dụng vẫn còn nhiều tồn tại ở rất nhiều doanh nghiệp như

các ông chủ doanh nghiệp không có thời gian cho tuyển dụng mà phó thác công

việc này cho nhân viên tuyển dụng nhưng những vị trí chủ chốt mang tính quyết

định thì ông chủ doanh nghiệp xây dựng bắt buộc phải tham gia; không có quy trình

tuyển dụng; không biết mình muốn gì, cần gì. Những người tham gia tuyển dụng

không được đào tạo về kỹ năng phỏng vấn, đánh giá.

Hiện nay doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng chưa xem việc đào tạo và

phát triển nguồn nhân là một khâu “chiến lược” trong quy trình quản trị nhân sự;

phải có quy trình chặt chẽ; phải đo lường được hiệu quả; phải rất sáng tạo, không

chỉ đào tạo trên lớp mà còn nhiều hình thức khác như đào tạo tại chỗ, trực tuyến.

Chính công tác đào tạo này là nguồn chính để xây dựng đội ngũ kế cận.

 Hệ thống lương thưởng: Với xu hướng hiện nay các doanh nghiệp hoàn toàn

có thể xem xét lại cách trả lương thưởng của các lao động trong doanh nghiệp xây

dựng. Về việc thay đổi và đào thải nhân viên cực kỳ quan trọng nhưng đây là việc

“không dễ chịu” nhưng cần thiết nên chúng ta phải làm có quy trình và không gây

“bất ngờ” cho nhân viên.

93

Bảng 4.10: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp xây dựng

Nguồn nhân lực (người)

Stt

Doanh nghiệp

2010

2011

2012

2013

2014

1

Doanh nghiệp xây dựng

5.963

6.108

5.355

4.700

5.100

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh 2014

Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Sóc Trăng được trình bày ở bảng 4.10 cho

thấy nguồn nhân lực của doanh nghiệp xây dựng tăng giảm qua các năm, thể hiện

sự chưa ổn định trong phát triển doanh nghiệp xây dựng, như năm 2010 nguồn lực

có đến 5.963 người và đến năm 2011 tăng lên 6.108 người nhưng sang năm 2012 lại

giảm xuống còn 5.355 người và tiếp tục đến năm 2014 chỉ còn 5.100 người.

Tuy nhiên, hiện nay thị trường lao động đang thể hiện một bất cập lớn và nó

cũng phản ánh gần như đầy đủ diện mạo về vấn đề nguồn nhân lực trong doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Đó là tình trạng người thất nghiệp rất nhiều trong

khi các doanh nghiệp luôn kêu thiếu nhân lực. Có mấy lý do: đó là sự thừa thãi của

những lao động mà muốn tuyển họ cũng không biết họ có thể làm được việc gì

trong khi nguồn nhân lực thật sự cần thiết cho doanh nghiệp lại thiếu trầm trọng;

nguồn nhân lực sẵn có trong doanh nghiệp không phát huy được đúng khả năng của

mình; người có tài thực sự lại thiếu cơ hội để phát triển. Thực trạng này bắt nguồn

từ chính những khó khăn của công tác đào tạo và quản lý nguồn nhân lực của tỉnh.

4.2.7 Về yếu tố công nghệ phù hợp

Hiện nay các doanh nghiệp trong nước thực hiện việc đổi mới và tiếp nhận

chuyển giao công nghệ tiên tiến từ doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Trong môi trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, hiện nay, công nghệ được

xem là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và

bền vững. Thực tế đang đặt ra cho các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

những yêu cầu bức thiết về đổi mới công nghệ, nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá

thành sản phẩm, tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường. Bất kỳ một doanh

nghiệp nào nếu không có những hoạt động nhằm đổi mới công nghệ thì chắc chắn

hệ thống công nghệ, dây chuyền sản xuất, máy móc, trang thiết bị sẽ trở nên lạc

94

hậu, hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến bị đào thải, làm cho sự tồn tại và phát triển của

doanh nghiệp xây dựng bị đe doạ. Đổi mới công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp xây

dựng, nhà sản xuất cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố, duy trì và mở

rộng thị phần của sản phẩm; đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên,

nhiên liệu; cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao mức độ an toàn sản xuất cho

người và thiết bị, giảm tác động xấu đến môi trường. Đặc biệt, về mặt lợi ích

thương mại, nhờ đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm được nâng lên đồng

nghĩa với việc doanh nghiệp xây dựng sẽ tạo được ưu thế vững vàng trên thị trường

cạnh tranh.

Thực trạng các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng và các cơ sở nghiên

cứu ứng dụng chưa có mối quan hệ mật thiết với các cơ quan nghiên cứu, công nghệ

thông tin hạn chế nên chưa tiếp cận được với khoa học công nghệ tiên tiến. Trong

khi các doanh nghiệp xây dựng chi cho đầu tư nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào

lĩnh vực sản xuất kinh doanh còn rất nhiều hạn chế, chưa quan tâm đúng mức; cụ

thể như: Doanh nghiệp chưa dành nhiều kinh phí tiếp cận công nghệ xây dựng mới;

chưa quan tâm đến cải tiến công nghệ xây dựng; chưa quan tâm đến việc đào tạo

đội ngũ lao động đáp ứng trình độ công nghệ mới; công nghệ sản xuất của doanh

nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu khách hàng.

4.3 Đánh giá chung tình hình phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

4.3.1 Những ưu điểm

Các doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng đã phát triển để đáp ứng nhu cầu của

xã hội. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa cao, nhưng các doanh nghiệp

xây dựng ngày nay với số lượng lao động dồi dào, trình độ tay nghề cao, trang thiết

bị máy móc hiện đại, đã sử dụng các phương pháp thi công tiên tiến, áp dụng các

thành tựu khoa học vào xây dựng các công trình. Xuất phát từ thực tế, hầu như các

doanh nghiệp xây dựng hiện nay đủ sức đảm nhận thi công những công trình có quy

mô lớn và kỹ thuật phức tạp trong tỉnh và ngoài tỉnh Sóc Trăng. Về mặt tổ chức

quản lý sản xuất, các doanh nghiệp xây dựng ngày càng thay đổi để phù hợp với

nhu cầu của xã hội. Từ những doanh nghiệp nhỏ, phân tán, hoạt động trong phạm vi

hẹp, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, đến nay đã hình thành những Tổng công ty

hoạt động trong lĩnh xây dựng, các doanh nghiệp xây dựng mang lại hiệu quả cao

95

không những cho bản thân doanh nghiệp và còn đóng góp đáng kể vào sự phát triển

kinh tế - xã hội của tỉnh. Sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp xây dựng phụ

thuộc vào từng địa phương, từng tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và

cả nước. Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp này tương đối gay gắt dẫn tới có sự

chuyên môn hoá theo ngành xây dựng. Công nghệ xây dựng thế giới hiện nay

thường tập trung vào xây dựng nhà cao tầng, xây dựng đường hầm và ngoài biển

với các khoản chi phí đầu tư nghiên cứu tương đối lớn ở các nước đã và đang phát

triển. Ngành xây dựng giữ một vai trò quan trọng trong việc nộp thuế cho ngân sách

tỉnh Sóc Trăng và thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Cụ thể theo số liệu (Niên

giám thống kê tỉnh Sóc Trăng 2013).

Nguồn vốn sản xuất kinh doanh: Trong 10 ngành nghề kinh doanh của các

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng chỉ có 3 ngành nghề kinh doanh có giá trị

vốn sản xuất kinh doanh lớn; đó là doanh nghiệp xây dựng có vốn sản xuất kinh

doanh năm 2010 là 2.583 tỷ đồng và đến năm 2013 tăng lên 3.642 tỷ đồng. Như

vậy, các doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng là một trong lĩnh vực ngành nghề

có mức vốn sản xuất kinh doanh rất cao trong 3 lĩnh vực kinh doanh.

Lao động trong doanh nghiệp xây dựng: tình hình lao động trong các doanh

nghiệp cũng sẽ có nhiều chuyển biến tích cực so với các năm trước. Việc chú trọng

khắc phục khó khăn, mở rộng sản xuất kinh doanh sẽ hứa hẹn tạo thêm nhiều việc

làm mới, giúp ổn định đời sống cho người lao động. Bên cạnh đó Chính phủ, tỉnh

Sóc Trăng nhiều chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp phục hồi, đầu tư và

mở rộng sản xuất trong thời gian tới. Đặc biệt ngành nghề kinh doanh của doanh

nghiệp ở lĩnh vực. Tuy nhiên, tình trạng khan hiếm lao động không còn diễn ra như

những năm gần đây, các doanh nghiệp xây dựng cũng cố gắng khắc phục tình trạng

khó khăn, mở rộng sản xuất nhằm góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.

Đồng thời đối với doanh nghiệp xây dựng có chiều hướng ngày càng giảm lượng

lao động trong ngành xây dựng như năm 2010 là 5.963 lao động đến năm 2014

giảm còn 5.209 lao động.

Về doanh thu thuần sản xuất kinh doanh: Doanh thu thuần sản xuất kinh

doanh của các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng phân theo ngành nghề của 10 ngành

nghề kinh doanh chính. Trong đó có 03 ngành nghề kinh doanh có doanh thu cao

nhất đó là công nghiệp chế biến, chế tạo có doanh thu năm 2010 là 10.067 tỷ đồng

96

và đến năm 2014 tăng lên 20.420 tỷ đồng; và ngành kinh doanh Bán buôn và bán lẻ;

Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác có doanh thu năm 2010 là

9.625 tỷ đồng và đến năm 2014 tăng lên 14.343 tỷ đồng. Đặc biệt các doanh nghiệp

xây dựng có doanh thu thuần giảm năm 2010 là 1.431 tỷ đồng và đến năm 2014

tăng lên 1.982 tỷ đồng. Tuy nhiên trong năm 2011, doanh thu thuần giảm 1.418 tỷ

đồng. Bởi do tình hình chung của nền kinh tế và trong đó có doanh nghiệp xây dựng

gặp rất nhiều kho khăn, cùng với các doanh nghiệp kinh doanh thuộc ngành nghề

như Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp khai khoáng; Sản xuất và

phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí; Bán buôn và bán lẻ; Sửa

chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác cũng có doanh thu thuần sản xuất

kinh doanh giảm.

Ngoài ra, còn một số lĩnh vực khi kết nối thị trường cũng có nhiều biến động;

chính sách nhà nước thay đổi liên tục dẫn đến khó khăn đối với tình hình hoạt động

của các doanh nghiệp xây dựng; công nghệ xây dựng và kiến trúc xây dựng ngày

càng được nâng cao, các doanh nghiệp dần dần áp dụng các thành tựu khoa học vào

xây dựng nhằm rút ngắn được thời gian hoàn thiện dự án, công trình; đối với lĩnh

vực kiến trúc đã có nhiều công trình thiết kế mang tầm khu vực và được người tiêu

dùng chấp nhận, tin tưởng vào đội ngũ kiến trúc sư. Đặc biệt, lĩnh vực môi trường là

một trong những vấn đề đang được cộng đồng xã hội rất quan tâm trong thời gian

gần đây. Các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng bước đầu

đã mở rộng quy mô sản xuất, sử dụng các thiết bị và công nghệ tiên tiến, góp phần

phát triển công nghiệp bền vững trên địa bàn.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đối với các doanh nghiệp xây

dựng tỉnh Sóc Trăng vẫn còn một số doanh nghiệp xây dựng cũng còn gặp những

hạn chế, khó khăn nhất định.

4.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân

Tình hình chung của các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh đang gặp rất

nhiều khó khăn; chi phí sản xuất kinh doanh tăng cao, thị trường tiêu thụ thu hẹp do

bởi sức mua bị giảm mạnh, lượng hàng tồn kho lớn và tập trung chủ yếu ở một số

doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng,

công nghiệp chế biến, chế tạo, thương mại, vận tải kho bãi… Trong bối cảnh đó,

cộng đồng doanh nghiệp cả nước cũng như ở tỉnh Sóc Trăng mong muốn các nỗ lực

97

điều hành chính sách của Chính phủ, tỉnh điều hành chính sách kinh tế vĩ mô thông

qua chi phí đầu vào của doanh nghiệp giảm, cũng như hỗ trợ giải quyết vấn đề thị

trường đầu ra, với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và tạo niềm tin cho

doanh nghiệp. Từ vấn đề thực trạng phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc

Trăng thời gian qua và trên cơ sở kết quả nghiên cứu phân tích 7 yếu tố tác động

đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, đồng thời phân tích thực trạng những hạn

chế và nguyên nhân của từng yếu tố cụ thể.

Về kết nối thị trường

Trong những năm gần đây chứng kiến rất nhiều sự biến động của ngành xây

dựng, thị trường bất động sản vẫn chưa thể khởi sắc dù đã có những chuyển biến

đáng ghi nhận. Mặc dù Chính phủ đã thể hiện rõ quyết tâm “phá băng” thị trường

bằng nhiều chính sách, song để chính sách ngấm dần, đi vào thực tiễn vẫn cần thời

gian và sự nỗ lực. Khi triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ về một số

giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường, Bộ Xây

dựng cho biết, sau những bước khởi động chậm chạp hồi đầu năm 2013, tới nay, thị

trường bất động sản đã có bước chuyển biến tích cực khi nhiều dự án được khởi

động trở lại và nhu cầu tăng dần. Trong bối cảnh kết nối thị trường xây dựng có

nhiều u ám, Bộ Xây dựng đã phê duyệt 14 đề án tái cơ cấu của các công ty trực

thuộc. Dù các doanh nghiệp xây dựng cũng xác định việc tái cơ cấu là cần thiết

nhằm duy trì sản xuất, kinh doanh, nhưng các đơn vị đều bị chậm tiến độ tái cơ cấu.

Lo ngại mất phần vốn nhà nước tại các đơn vị thành viên nên các tổng công ty

không dám đẩy mạnh việc tái cơ cấu. Biện pháp mà các đơn vị này triển khai là sắp

xếp lại, tinh giản đội ngũ và duy trì sản xuất ở mức cầm chừng.

Các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng cũng không nằm ngoại lệ so với

tình hình của kết nối thị trường chung của cả nước. Đặc biệt các doanh nghiệp xây

dựng trong tỉnh cạnh tranh nhau rất quyết liệt để dành được các sản phẩm như xây

dựng nhà dân dụng, cầu đường, giao thông, phần hạ tầng kỹ thuật; tư vấn quy

hoạch; sản xuất vật liệu xây dựng; kinh doanh bất động sản; kinh doanh vật liệu xây

dựng; tư vấn thiết kế, kiến trúc. Để có được sản phẩm các doanh nghiệp này còn

phải tăng mức độ bôi trơn lên để được chỉ định thầu xây dựng, giao lập dự án, tư

vấn thiết kế,…Từ vấn đề trên cho thấy mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng ngày càng khốc liệt. Ngoài vấn đề cạnh tranh về chất

98

lượng sản phẩm, còn cạnh tranh về mức độ bôi trơn để chỉ định thầu, giao dự án,

trong khi kết nối thị trường còn nhiều ảm đạm mới chỉ có dấu hiệu phục hồi thông

qua các chính sách của Chính phủ.

Về công nghệ phù hợp

Theo kết quả khảo sát nhằm nắm bắt thực trạng nhu cầu công nghệ trong các

doanh nghiệp do Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ thuộc Bộ Khoa học và

Công nghệ tiến hành, phần lớn doanh nghiệp và địa phương hiện nay đều đã nhận

thức được tầm quan trọng của việc đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, hoạt động

chuyển giao công nghệ còn hạn chế, lực hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp

còn yếu (nguồn: http://truyenthongkhoahoc.vn/vn).

Thực tế trên cho thấy công nghệ trong nước hiện nay chưa hoàn thiện để có

thể sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam

và kể cả doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng đã nhận thức được tầm quan trọng

của việc đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp và đã tiến hành đầu tư để đổi mới

công nghệ, hoặc đang xây dựng dự án đầu tư công nghệ. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng

30% doanh nghiệp chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của việc đổi mới

công nghệ trong doanh nghiệp, chưa có chiến lược phát triển hoặc chưa định hướng

được phương thức - hướng đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp.

Phần lớn các dự án đầu tư có kinh phí dưới 10 tỷ đồng, trình độ công nghệ đạt được

của thiết bị mang tính chất cải tiến, hoàn thiện công nghệ có sẵn là chủ yếu. Có ít dự

án đầu tư công nghệ mang tính đổi mới, nâng cao hẳn trình độ công nghệ.

Bên cạnh đó, nguồn thông tin về thiết bị công nghệ, công nghệ của các doanh

nghiệp còn thiếu và điều này gây khó khăn cho việc xây dựng và thực hiện các dự

án đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp vẫn chưa tin

tưởng vào thiết bị và công nghệ do các tổ chức trong nước cung cấp, vì cho rằng

chúng không bảo đảm chất lượng và hoạt động hậu mãi kém.

Ngoài những công nghệ tiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành, lĩnh

vực như xi măng, công nghệ xây dựng dân dụng nhìn chung trình độ công nghệ của

các doanh nghiệp sản xuất nước ta hiện lạc hậu khoảng 2 - 3 thế hệ công nghệ so

với các nước trong khu vực. Tình trạng này hạn chế năng lực cạnh tranh của các

doanh nghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

99

Đặc biệt đối với những dự án lớn và có tính chất kỹ thuật xây dựng phức tạp trên

địa bàn tỉnh, và kể cả trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Về kiến trúc xây dựng

Đối với lĩnh vực quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị được Chính

phủ ban hành Nghị định số 38/2010/NĐ-CP ngày 07 tháng 4 năm 2010 nhưng

thực chất trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng việc xây dựng các công trình, dự án phần lớn

chưa đúng quy hoạch không gian, kiến trúc và cảnh quan đô thị; mỗi dự án, công

trình đều thể hiện thiết kế có kiến trúc riêng biệt không theo quy định chung. Trong

khi chính phủ có quy định như tại Điều 3 Nghị định số 38/2010/NĐ-CP về nguyên

tắc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị: Ủy ban nhân dân thành phố, thị

xã, thị trấn (sau đây gọi là chính quyền đô thị) quản lý toàn diện không gian, kiến

trúc, cảnh quan đô thị trong phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý. Cơ quan

có chức năng quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị ở địa phương có trách nhiệm giúp

chính quyền đô thị quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị.

Việc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị phải tuân thủ theo quy

hoạch đô thị, thiết kế đô thị và quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị. Đối với

những khu vực đô thị, tuyến phố chưa có quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị, quy chế

quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị thì thực hiện việc quản lý theo quy chuẩn, tiêu

chuẩn về quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và

phải phù hợp với các quy định trong Nghị định này; Đảm bảo tính thống nhất trong

việc quản lý từ không gian tổng thể đô thị đến không gian cụ thể thuộc đô thị; phải

có tính kế thừa kiến trúc, cảnh quan đô thị và phù hợp với điều kiện, đặc điểm tự

nhiên, đồng thời tôn trọng tập quán, văn hoá địa phương; phát huy các giá trị truyền

thống để gìn giữ bản sắc của từng vùng, miền trong kiến trúc, cảnh quan đô thị;

Việc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị phải căn cứ vào quy hoạch,

thiết kế đô thị được cấp có thẩm quyền duyệt và phải được chính quyền đô thị quy

định cụ thể bằng Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị.

Tuy nhiên, đã có quy định quản lý về kiến trúc xây dựng nhưng thời gian qua

những công trình xây dựng được tiến hành chưa phù hợp với quản lý không gian,

kiến trúc, cảnh quan đô thị. Khi tiến hành xin phép cải tạo, sửa chữa hoặc xây dựng

100

mới thì các chủ đầu tư, nhà tư nhân chưa tuân thủ theo quy hoạch được duyệt. Các

đơn vị tư vấn thiết kế dự án, công trình chưa thể hiện được kiến trúc hài hòa với

khung cảnh thiên nhiên, khí hậu; kiến trúc cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi

trường sông nước; tính kế thừa dòng kiến trúc dân gian; tính kế thừa dòng kiến trúc

truyền thống. Những hạn chế này phần lớn do đội ngũ thiết kế công trình, dự án

chưa đủ năng lực; các đơn vị tư vấn chạy theo số lượng tư vấn dự án, chưa quan tâm

nhiều đến chất lượng thiết kế. Từ đó, thời gian qua trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đối

với lĩnh vực tư vấn thiết kế đã xuất hiện rất nhiều doanh nghiệp xây dựng được

thành lập mới, họ thành lập chỉ quan tâm đến việc chạy dự án, tranh thủ sự quen

biết để có dự án chứ chưa không quan tâm nhiều đến chất lượng thiết kế dự án,

công trình.

Về môi trường

Khai thác hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên địa phương, chính quyền địa

phương tỉnh Sóc Trăng rất quan tâm đến đến việc các doanh nghiệp xây dựng khai

thác hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên hợp lý, đặc biệt là đối với việc khai thác

các mỏ đất sét để sản xuất gạch ngói trên địa bàn. Tuy nhiên, hiện tại Ủy ban nhân

dân tỉnh chưa có đề án quy hoạch, tổ chức triển khai thực hiện Luật Khoáng sản số

60/2010/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII,

kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010; rà soát khu vực cấm, tạm cấm hoạt động

khoáng sản; khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo quy định; thực

hiện lựa chọn tổ chức, cá nhân cấp phép thăm dò khoáng sản tại các khu vực không

đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Nhiều huyện, thành phố đã hạn chế việc cấp

phép mới về khai thác khoáng sản mà chỉ gia hạn cho những đơn vị thực hiện

nghiêm túc, đúng quy định về khai thác khoáng sản.

Bên cạnh, các doanh nghiệp xây dựng ít quan tâm đến việc sử dụng nguyên

liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô nhiễm; mức độ giải quyết ô nhiễm

trong ngành xây dựng; đánh giá tác động môi trường của sản xuất và kinh doanh

xây dựng hàng năm; trang bị bảo hộ lao động và mua bảo hiểm đầy đủ cho người

lao động.

Về nguồn vốn kinh doanh

Ở tỉnh Sóc Trăng cũng như các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu

Long, doanh nghiệp đang ngày càng khẳng định vai trò đối với phát triển kinh tế -

101

xã hội. Theo thống kê, các doanh nghiệp đóng góp trên 40% GDP, thu hút hơn 50%

tổng số lao động, chiếm 17,26% tổng nộp ngân sách nhà nước hàng năm. Bên cạnh

những đặc điểm thuộc thế mạnh như: nguồn vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi nguồn

vốn nhanh và hiệu quả; bộ máy tổ chức, quản lý sản xuất gọn nhẹ; có khả năng

thâm nhập vào những thị trường ngách và lĩnh vực sản xuất kinh doanh có lợi nhuận

không cao; khả năng ứng biến linh hoạt. Nhưng các doanh nghiệp xây dựng tỉnh

Sóc Trăng hiện nay cũng có những hạn chế như: tồn tại và phát triển tự phát, nhỏ lẻ,

thiếu sự liên kết về kinh tế và kỹ thuật; trình độ quản lý và năng lực về nguồn vốn

kinh doanh còn hạn chế. Những điểm yếu này khiến doanh nghiệp xây dựng rất

nhạy cảm trước những thay đổi của môi trường kinh tế, xã hội. Vì vậy, trong khủng

hoảng kinh tế, số lượng doanh nghiệp xây dựng thường giảm nhiều do gặp khó khăn

trong sản xuất kinh doanh, trong đó có vấn đề về nguồn vốn của doanh nghiệp;

nguồn vốn huy động khác của doanh nghiệp; nguồn vốn vay các tổ chức tín dụng để

duy trì hoạt động và tiếp tục đầu tư kinh doanh.

Về nguồn nhân lực

Một số hạn chế đối với nguồn nhân lực của doanh nghiệp xây dựng thời gian

qua: do trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý nói chung còn thấp, cơ cấu cán bộ

quản lý chưa phù hợp; Cơ cấu đào tạo, cơ cấu và trình độ chuyên môn chưa thực sự

phù hợp với yêu cầu của quản lý doanh nghiệp; Mức độ đáp ứng của trình độ

chuyên môn so với yêu cầu công việc còn thấp; Xây dựng qui chế tuyển dụng thật

hoàn chỉnh; Thực hiện nghiêm chỉnh Luật lao động; Xây dựng qui chế đào tạo, đãi

ngộ người giỏi; Xây dựng quy chế phối hợp tốt trong công việc; Về kỹ năng của cán

bộ quản lý doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thể hiện qua một số hạn chế

chính như: Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ và công nghệ thông tin trong công việc còn

thấp; Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng khuyến khích động viên người khác, kỹ năng giải

quyết mâu thuẫn... còn là khoảng trống trong kiến thức và kinh nghiệm quản lý;

Một số nguyên nhân của những hạn chế: nguyên nhân khách quan thuộc về

môi trường kinh doanh, sự tác động của cơ quan quản lý chính quyền địa phương.

Trong những năm vừa qua, mặc dù trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đã hình thành chiến

lược về cơ cấu kinh tế nhưng việc quy hoạch phát triển các loại ngành nghề, sản

phẩm chưa được xác định một cách bài bản, có căn cứ mang tính chất chiến lược

lâu dài. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp xây dựng một chiến lược dài hạn

102

phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, trong thời gian qua các Bộ ngành trung ương,

chính quyền tỉnh Sóc Trăng đã thực hiện nhiều chính sách để khuyến khích, hỗ trợ

các doanh nghiệp xây dựng nhưng kết quả còn hạn chế. Hiệu quả chung của nền

kinh tế với tư cách là các hoạt động cung ứng đầu vào, hỗ trợ đầu ra cho các hoạt

động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng còn thấp. Chất lượng giáo dục đào

tạo, kể cả đào tạo đại học chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp xây dựng

và dạy nghề yếu kém chậm được khắc phục.

Về chính sách của nhà nước

Các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung đang chịu ảnh hưởng nặng nề của

suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp trong nước đang đứng trên bờ vực phá sản

trong khi giá cả đầu vào, lãi suất, tiền lương, các loại thuế,... tăng cao. Trong đó,

phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng cũng chịu ảnh hưởng chung

của suy thoái kinh tế.

Trong bối cảnh kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn và có những diễn biến khó

lường như hiện nay thì các đối tượng doanh nghiệp xây dựng là một trong những

loại hình doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động ở một số lĩnh vực sản xuất như: vật

liệu xây dựng, gia công, xây dựng nhà ở, dự án đầu tư, và xây dựng các công trình

hạ tầng kinh tế - xã hội là những đối tượng dễ bị tác động nhiều nhất và cần được hỗ

trợ để vượt qua khó khăn, sớm ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên,

trong các năm từ 2008 đến năm 2013, Bộ Tài chính đã tham mưu trình cấp có thẩm

quyền (Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ) ban hành các chính sách hỗ trợ,

giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, sớm ổn định sản xuất kinh doanh. Theo dự

báo, năm 2014 nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, vì vậy các đối tượng

doanh nghiệp xây dựng nói chung sử dụng nhiều lao động hoạt động trong một số

lĩnh vực nêu trên vẫn tiếp tục gặp khó khăn, cần được tiếp tục hỗ trợ thông qua các

công cụ và chính sách tài chính, tiền tệ. Theo đó, để hỗ trợ các đối tượng này trong

lĩnh vực thuế, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

04/2012/QĐ-TTg ngày 19/01/2012 về việc gia hạn nộp thuế thêm 03 tháng với số

thuế thu nhập doanh nghiệp. Số thuế được tiếp tục gia hạn thêm theo quy định nêu

trên ước tính là khoảng 7.843 tỷ đồng. Gia hạn nộp thuế này sẽ tạo điều kiện cho

các doanh nghiệp đã được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được tăng thêm

thời gian gia hạn có thêm nguồn vốn để ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh.

103

Hiện nay các doanh nghiệp xây dựng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn cần sự

quan tâm của các Bộ ngành trung ương tham mưu trình cấp có thẩm quyền (Quốc

hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ) những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp kịp

thời như: Chính sách thuế; Chính sách cải cách thủ tục hành chính; Chính sách quản

lý kinh doanh bất động sản; Chính sách quản lý đấu thầu;… nhằm giúp cho doanh

nghiệp ổn định và duy trì sản xuất kinh doanh.

Tóm tắt chương 4

Chương 4 đã thực hiện phân tích hiện trạng phát triển doanh nghiệp xây

dựng tỉnh Sóc Trăng thời gian qua thông qua 7 yếu tố tác động sự phát triển doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng như: Kết nối thị trường; Công nghệ; Kiến trúc xây

dựng; Môi trường; Nguồn vốn; Nguồn nhân lực; Chính sách nhà nước.

Chương này cũng đã đưa ra nhận định chung về hiện trạng các yếu tố tác

động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng. Tìm hiểu những ưu

điểm trong quá trình phát triển doanh nghiệp xây dựng thời gian qua; Rút ra một số

hạn chế và nguyên nhân tác động phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng;

Phân tích 7 yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp nhằm thấy được

một số nhược điểm, thiếu sót cần tìm giải pháp khắc phục ở chương 5, nhằm phát

triển doanh nghiệp xây dựng trong thời gian tới ở tỉnh Sóc Trăng.

104

Chương 5

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

XÂY DỰNG TỈNH SÓC TRĂNG

5.1 Quan điểm về giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

Phát triển tốt các doanh nghiệp xây dựng không những góp phần to lớn vào

sự phát triển kinh tế, mà còn tạo sự ổn định chính trị, xã hội tỉnh Sóc Trăng và trong

cả nước. Tại tỉnh Sóc Trăng, các doanh nghiệp xây dựng đã tạo được môi trường

đầu tư phát triển khá thuận lợi và đạt được những kết quả nhất định, song những kết

quả ấy chưa tương xứng với vị trí và vai trò của doanh nghiệp, do phần lớn các

doanh nghiệp xây dựng đang trong giai đoạn phát triển, còn yếu kém, sự phát triển

của doanh nghiệp vẫn mang tính tự nhiên, chưa theo một chiến lược phát triển

chung của tỉnh và cũng như đất nước. Phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

và trong đó có doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới. Kế hoạch

phát triển doanh nghiệp được xây dựng có sự tham gia và sự hỗ trợ của Dự án Phát

triển doanh nghiệp do Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) tài trợ thực hiện.

Định hướng và giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh

Sóc Trăng trong thời gian tới cụ thể:

Thứ nhất, Doanh nghiệp xây dựng phải nâng cao khả năng cạnh tranh, tiếp

cận thị trường, tiếp cận nguồn vốn và tham gia trong ngành xây dựng chung cả

nước, nhà nước tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt động

kinh doanh xây dựng;

Thứ hai, Chính quyền địa phương quan tâm nhiều lĩnh vực đầu tư các công

trình cơ sở hạ tầng cơ bản để tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp;

Thứ ba, Phát triển doanh nghiệp xây dựng hạn chế tác động đến môi trường,

cộng đồng nơi doanh nghiệp đang hoạt động.

Thứ tư, Tạo sự phối hợp hiệu quả giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước

thông qua việc hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp xây dựng phát

triển. Kết quả mong đợi của việc triển khai kế hoạch để tỉnh Sóc Trăng có phát triển

thêm 1.500 đến 2.000 doanh nghiệp trong thời gian tới.

105

Cùng với việc thay đổi mạnh mẽ về mặt bản chất của quá trình quản trị nội

bộ doanh nghiệp xây dựng, có cơ chế giám sát từ phía hội đồng cổ đông, chủ tịch

hội đồng quản trị, tổng giám đốc và các thành viên đại diện chủ sở hữu nguồn vốn

trong doanh nghiệp phải được tăng cường. Cơ chế giám sát hoạt động của doanh

nghiệp xây dựng phải được kiện toàn và đồng bộ, cần thiết lập các chỉ tiêu về hoạt

động của doanh nghiệp xây dựng để có thể đánh giá được một cách toàn diện hoạt

động sản xuất, kinh doanh.

Doanh nghiệp xây dựng cần chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính

bền vững và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng. Tạo điều kiện để

doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản

xuất kinh doanh. Đồng thời nhà nước có chính sách tháo gỡ khó khăn của doanh

nghiệp để từng bước khôi phục và phát triển nhằm cải thiện đời sống nhân dân, tạo

việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.

Đặc điểm của sản phẩm doanh nghiệp xây dựng, là sản phẩm xây dựng

nhưng nó có tính đặc thù riêng, đặc thù đó quyết định tới quá trình tổ chức quản lý,

điều hành sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng. Sản phẩm xây dựng

mang tính chất đơn chiếc, đối với sản phẩm xây dựng thường được sản xuất theo

đơn đặt hàng thông qua hợp đồng kinh tế giữa người mua và người bán đó là những

công trình kiến trúc. Trong khi sản phẩm của những ngành khác thường sản xuất

hàng loạt, trong điều kiện ổn định. Sản phẩm xây dựng được phân bố ở khắp mọi

nơi tuỳ theo địa điểm yêu cầu của người mua do vậy dẫn tới các chi phí cũng khác

nhau cho cùng một loại sản phẩm. Nơi sản xuất sản phẩm xây dựng cũng là nơi tiêu

thụ sản phẩm: Các công trình xây dựng đều được sản xuất, thi công tại một địa điểm

nơi đó đồng thời gắn liền với quá trình tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng. Địa

điểm thi công xây dựng thường do chủ đầu tư quyết định để thoả mãn các giá trị sử

dụng của sản phẩm.

Như vậy, quan điểm phát triển doanh nghiệp xây dựng của tỉnh Sóc Trăng

nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp xây dựng, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, lành mạnh để các

doanh nghiệp xây dựng đóng góp ngày càng cao vào phát triển kinh tế, nâng cao

năng lực cạnh tranh của địa phương và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây cũng là quan

điểm nhất quán đã được xây dựng từ kết quả nghiên cứu.

106

5.2 Một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng

5.2.1 Giải pháp về kết nối thị trường

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy kết nối thị trường tác động mạnh

thứ nhất đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b2 = 38.8%, trung bình

đánh giá là 3.57 và độ lệch chuẩn là 0.696. Bởi thị trường gắn với sản xuất hàng

hoá, sản xuất hàng hoá là cơ sở kinh tế quan trọng của thị trường, thị trường phản

ánh trình độ và mức độ của nền sản xuất xã hội; Mối quan hệ giữa thị trường trong

nước và thị trường nước ngoài ngày càng được nhận thức đầy đủ và đúng đắn. Ngày

nay, trong nền kinh tế mỗi nước đều tồn tại nhiều dạng thị trường, nhiều thể loại và

nhiều cấp độ thị trường khác nhau.

So với các sản phẩm sản xuất khác, sản phẩm xây dựng của doanh nghiệp

xây dựng có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng, được thể hiện rất rõ ở sản

phẩm xây lắp và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của xây dựng. Những đặc điểm này

có tác động lớn tới giá trị sản xuất xây dựng theo một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá

trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng

thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành. Do đó, một hệ thống truyền thông hiệu

quả là một tiêu chí của phát triển doanh nghiệp xây dựng.

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy kết nối thị trường có ảnh hưởng

mạnh đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, từ đó đề xuất một số

giải pháp phát triển kết nối thị trường thông qua các dịch vụ của doanh nghiệp xây

dựng Sóc Trăng. Một số giải pháp có thể thực hiện nhằm phát triển kết nối thị trường

như sau:

1) Giải pháp mở rộng thị trường cho doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng

Đối với doanh nghiệp xây dựng cần tập trung vào các quy hoạch được chính

quyền địa phương phê duyệt, từ đó hàng năm để tiếp cận các dự án, các công trình

nhằm để nhận thầu tư vấn, xây dựng cho doanh nghiệp mình. Đây là một trong những

giải pháp mở rộng kết nối thị trường trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, các

doanh nghiệp tư vấn xây dựng, đấu thầu xây dựng, thi công công trình chưa mấy quan

tâm khai thác quy hoạch của chính quyền địa phương.

Bên cạnh những vấn đề quan trọng mở rộng kết nối thị trường, các doanh

nghiệp xây dựng cần chú ý một số khía cạnh liên quan tới quan hệ cung - cầu đối

với hoạt động xây dựng trong kinh tế thị trường: Trên thị trường, cung và cầu luôn

107

luôn vận động và biến đổi. Cung và cầu luôn tác động qua lại với nhau một cách

khách quan. Cung - cầu - giá cả phản ánh sự tác động qua lại giữa cung và cầu thể

hiện ở giá cả và số lượng hàng hoá. Các doanh nghiệp xây dựng, các nhà thầu, các

nhà đầu tư kinh doanh bất động sản, xây dựng nhà ở thương mại cần đặc biệt chú ý

vấn đề này. Thực tế, trong thị trường vật liệu xây dựng, doanh nghiệp xây dựng

chịu nhiều ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả của xi măng, sắt thép trong thời gian qua.

2) Giải pháp đối với sản phẩm dịch vụ tư vấn của doanh nghiệp ngày càng

đáp ứng được yêu cầu khách hàng

Các dịch vụ tư vấn sản phẩm xây dựng tích hợp do doanh nghiệp xây dựng

thực hiện bao gồm nhiều dịch vụ đa dạng theo yêu cầu của khách hàng, cung cấp

các sản phẩm thiết kế, lập dự án đầu tư, quản lý dự án và triển khai thi công các dự

án nhằm đáp ứng tốt nhất cho khách hàng. Vì sự cần thiết của công tác khảo sát

phải cẩn thận kỹ lưỡng, các kiến trúc sư, kỹ thuật của doanh nghiệp xây dựng sẽ

làm việc cùng với khách hàng và phát triển một phương án tốt nhất đáp ứng những

yêu cầu đòi hỏi của khách hàng cho việc thực hiện các sản phẩm dịch vụ tốt nhất.

Để có được một giải pháp tốt nhất xứng đáng với chi phí đầu tư của khách hàng,

bản thiết kế của doanh nghiệp xây dựng sẽ lựa chọn và tích hợp những sản phẩm,

những công nghệ và giải pháp phù hợp với yêu cầu của khách hàng.

3) Giải pháp kinh doanh bất động sản đối với doanh nghiệp xây dựng

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tác động mạnh kinh doanh bất động

sản đến các doanh nghiệp xây dựng, các doanh nghiệp cần thực hiện giải pháp đồng

bộ, có những động thái kịp thời, đưa ra hàng loạt những giải pháp nhằm vượt qua

những khó khăn của thị trường bất động sản. Tuy nhiên, trong thời điểm khó khăn

này, các doanh nghiệp thực hiện giải pháp chủ động, nỗ lực phấn đấu, nhạy bén

nắm bắt cơ hội, đi đôi với tái cơ cấu, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh để

tìm ra giải pháp thích hợp giúp bản thân doanh nghiệp vượt qua thử thách. Một

trong những giải pháp giúp cho các doanh nghiệp xây dựng làm ấm thị trường bất

động sản trong thời gian tới chính là phát triển phân khúc nhà ở dành cho người có

thu nhập trung bình thấp. Đối tượng của phân khúc thị trường này cụ thể là cán bộ

công nhân viên, là những gia đình trẻ có từ 3 – 5 thành viên. Loại hình nhà ở này

đang có nhu cầu thực tế nay đang còn bị bỏ ngõ. Để thực hiện được vấn đề nêu trên,

ngoài các vấn đề mang tính chủ quan, các doanh nghiệp cũng cần sự hỗ trợ rất lớn

108

từ các cấp chính quyền trong việc hoàn tất thủ tục của dự án trong việc cấp phép

xây dựng, góp phần giúp việc tạo lập những dự án mới trở nên đơn giản và dễ dàng

hơn.

5.2.2 Giải pháp về công nghệ phù hợp

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy công nghệ phù hợp tác động mạnh

thứ hai đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b5 = 38.3%, trung bình

đánh giá là 3.66 và độ lệch chuẩn là 0.694.

Công nghệ xây dựng đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ,

thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài. Nhờ đó,

trình độ công nghệ xây dựng trong một số ngành sản xuất, xây dựng đã được nâng

lên đáng kể, nhiều sản phẩm công trình xây dựng có sức cạnh tranh cao hơn. Đặc

biệt, trong lĩnh vực xây dựng dự án công trình nhà ở, trụ sở làm việc, cầu đường,

giao thông,.. Năng lực cạnh tranh và công nghệ xây dựng doanh nghiệp hoạt động

đáp ứng được yêu cầu đổi mới, chuyển giao công nghệ chủ yếu do các doanh

nghiệp Việt Nam thực hiện. Điều này chứng tỏ rằng, sự lan tỏa công nghệ giữa các

doanh nghiệp trong nước là một yếu tố quan trọng trong chuyển giao công nghệ nói

chung, thay vì chỉ từ doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, lý do quan trọng là khả

năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước còn thấp. Bởi thế, ngay cả khi

doanh nghiệp FDI mang công nghệ vào Việt Nam nhưng doanh nghiệp trong nước

không có năng lực hấp thụ thì việc chuyển giao công nghệ cũng không xảy ra.

Ngày nay, các doanh nghiệp xây dựng rất quan tâm đến việc tiết kiệm chi phí

cũng như giảm bớt nhân lực và đảm bảo tiến độ, chất lượng công trình trong xây

dựng là một trong những khâu quan trọng và kiên quyết để có một công trình hoàn

chỉnh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp xây dựng tiềm lực về công nghệ trong thời gian

dài còn chưa được chú trọng đúng mức, thiếu tập trung vào lĩnh vực trọng điểm, ưu

tiên, dẫn đến cơ sở công nghệ xây dựng vẫn còn lạc hậu, hiệu quả đầu tư thấp. Từ

đó, trong thời gian tới doanh nghiệp xây dựng cần tập trung vào một số giải pháp về

công nghệ xây dựng như sau:

1) Doanh nghiệp bổ sung kinh phí để tiếp cận công nghệ xây dựng mới

Với sự hỗ trợ của tỉnh thời gian qua, nhiều doanh nghiệp xây dựng trên địa

bàn đã chú trọng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ

vào công trình xây dựng và đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, tình

109

trạng công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp xây dựng vẫn còn lạc hậu là một trong

những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc lãng phí năng lượng, tăng chi phí đầu tư

mà sản phẩm vẫn chưa có tính cạnh tranh cao. Các doanh nghiệp xây dựng trên địa

bàn tỉnh chưa đủ khả năng đầu tư đổi mới công nghệ. Kinh phí dành cho hoạt động

hỗ trợ đổi mới công nghệ của tỉnh còn thấp. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp chưa

nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của hoạt động đổi mới công nghệ nên không chủ

động trích lập quỹ phát triển khoa học công nghệ để tạo nguồn vốn quỹ đầu tư cho

công tác đổi mới công nghệ và nghiên cứu ứng dụng cải tiến công nghệ. Như vậy,

thời gian tới các doanh nghiệp xây dựng cần ưu tiên dành kinh phí tiếp cận công

nghệ xây dựng mới để ứng dụng vào các công trình xây dựng nhằm nâng cao tính

cạnh tranh hơn.

2) Doanh nghiệp cần thực hiện liên tục cải tiến công nghệ xây dựng

Trong quá trình triển khai cải tiến liên tục công nghệ xây dựng của doanh

nghiệp xây dựng là nhằm thực hiện tiết kiệm chi phí trong đầu tư xây dựng dự án,

công trình. Để thực hiện các nhiệm vụ này, các cán bộ quản lý của doanh nghiệp

tham gia vào các nhóm nghiên cứu lại toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện dự án,

công trình theo chuỗi giá trị của doanh nghiệp, xác định những công đoạn và chi phí

đầu tư chính và đặt ra các chỉ số cụ thể để theo dõi cải tiến công nghệ xây dựng.

Trong môi trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, hiện nay, công nghệ được

xem là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và

bền vững. Thực tế này đang đặt ra cho các doanh nghiệp xây dựng những yêu cầu

bức thiết về cải tiến liên tục công nghệ, nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản

phẩm, tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường,… Mặc dù số doanh nghiệp có khả

năng đầu tư cải tiến, đổi mới công nghệ còn hạn chế nhưng có thể coi đây là một

trong những giải pháp tích cực của các doanh nghiệp xây dựng trong quá trình tìm

đến những công nghệ mới, tiên tiến, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất trong thời gian

tới.

3) Doanh nghiệp cần quan tâm đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng trình độ công

nghệ mới

Một trong những khó khăn mà nhiều doanh nghiệp xây dựng đang gặp phải

là thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng nhu cầu ứng dựng trình

độ công nghệ mới để phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

110

Để có đủ nguồn nhân lực, đội ngũ lao động nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh,

mở rộng kinh doanh của mình, các doanh nghiệp xây dựng phải chủ động tìm kiếm

lao động trên thị trường. Con đường mà các nhà tuyển dụng truyền thống là thông

qua các hội chợ việc làm, đăng tuyển lao động trên các website, băng rôn nơi công

cộng. Hiện nay, doanh nghiệp xây dựng cần liên kết với nhà trường, để tuyển dụng

sinh viên ra trường sẽ nhận được đội ngũ lao động phù hợp với yêu cầu của mình.

Doanh nghiệp chủ động đưa ra bảng mô tả nhu cầu lao động trong thời gian tới, hợp

tác với nhà trường để định hướng đào tạo cho sinh viên là một việc làm vô cùng có

lợi, chủ động được nguồn nhân lực. Như vậy, giải pháp đào tạo đội ngũ lao động

đáp ứng trình độ công nghệ mới của doanh nghiệp phải thực hiện liên kết đào tạo

giữa các trường đại học và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích

cả hai phía, mối liên kết này vừa mang lại tính tất yếu, vừa có tính khả thi cao và tạo

được đội ngũ lao động của doanh nghiệp đáp ứng được trình độ ứng dụng công

nghệ mới trong xây dựng.

4) Doanh nghiệp cần quan tâm hơn công nghệ sản xuất đáp ứng nhu cầu khách

hàng

Mục đích khi ứng dụng công nghệ sản xuất của doanh nghiệp là nhằm tạo ra

sản phẩm xây dựng đáp ứng được nhu cầu khách hàng và giảm giá thành xây dựng,

chất lượng công trình nâng cao và tiến độ thi công công trình nhanh, để đưa công

trình vào sử dụng trong thời gian sớm nhất. Các giải pháp công nghệ sản xuất của

doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu khách hàng trong thời gian tới sẽ giúp cho doanh

nghiệp xây dựng, thực hiện kết cấu các công trình xây dựng đạt kết quả tốt nhất và

nâng cao được năng lực trong thiết kế, thi công các công trình, dự án xây dựng

trọng điểm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và của quốc gia. Để thực hiện

được điều này, các doanh nghiệp xây dựng khi chọn công nghệ xây dựng phải nghĩ

đến vấn đề công nghệ này có tạo ra sản phẩm đáp ứng được nhu cầu khách hàng

mong muốn, khi đáp ứng được yêu cầu công nghệ sẽ tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu

cầu khách hàng rồi mới quyết định đầu tư công nghệ mới.

5.2.3 Giải pháp về thiết kế kiến trúc xây dựng

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy thiết kế kiến trúc xây dựng tác động

mạnh thứ ba đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b7 = 31.9%, trung

111

bình đánh giá là 3.55 và độ lệch chuẩn là 0.743. Để thực hiện giải pháp về thiết kế

kiến trúc xây dựng doanh nghiệp cần tập trung vào một số giải pháp như:

1) Thiết kế kiến trúc hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, khí hậu

Mỗi một công trình kiến trúc gắn theo nó hai mối quan hệ. Quan hệ thứ nhất

là với tự nhiên, bao gồm khung cảnh thiên nhiên và đặc thù khí hậu, thời tiết. Quan

hệ thứ hai là với con người. Khi hai mối quan hệ này được giải quyết thì sẽ có sự

hòa hợp trọn vẹn. Khi người Pháp vào nước ta, họ bắt đầu khai thác, xây dựng theo

nhu cầu sử dụng của chính họ. Điều đầu tiên họ quan tâm là làm sao công trình phù

hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam mà chưa quan tâm đến khía cạnh văn hóa bản

địa.

Kiến trúc nào cũng là sản phẩm của một giai đoạn riêng biệt. Vừa là sản

phẩm vật chất, vừa là sản phẩm về mặt tinh thần. Một nền kiến trúc trong giai đoạn

nào thì lệ thuộc vào bối cảnh kinh tế, xã hội trong giai đoạn ấy. Trước kia con người

rất lệ thuộc vào tự nhiên, kiến trúc phải dựa vào thiên nhiên. Ngôi nhà như vậy cần

có không gian cho cây cối với đất đai rộng bao quanh. Nhưng khi đô thị phát triển

như hiện nay thì không thể có nhiều đất được nữa. Như vậy không còn cơ sở tồn tại

ở khía cạnh vật chất cho một số đặc thù quan trọng của kiến trúc bản địa truyền

thống và kiến trúc thời Pháp thuộc.

Để có một tác phẩm thực thụ, cần phải có đầy đủ đầu vào. Đó là tri thức cho

người nghệ sĩ. Để rồi thông qua xúc cảm, tạo ra được giải pháp mới. Đó mới là cái

được kết tinh lại. Qua đó doanh nghiệp mới tạo được kiến trúc phù hợp với thời đại

mới, một thứ kiến trúc hiện đại nhưng vẫn kế thừa bản sắc văn hoá cũ. Phải đưa

được các giá trị truyền thống vào tâm thức người nghệ sĩ, để họ hiểu được, cảm

nhận được, và biến chúng thành cái của mình. Bản sắc đến một cách tự nhiên nhưng

qua sáng tạo, và là kết quả của một quá trình lắng đọng, những gì được cuộc sống

kiểm nghiệm và chấp nhận từ giải pháp thiết kế kiến trúc hài hòa với khung cảnh

thiên nhiên, khí hậu của Việt Nam.

2) Thiết kế kiến trúc cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường sông nước ở

tỉnh Sóc Trăng cũng như khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Giải pháp đối với các doanh nghiệp xây dựng khi thực hiện thiết kế phải chú

trọng đến tính đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với các công trình,

dự án đầu tư dân dựng, cầu đường,… mang tính chất đặc thù vùng sông nước, liên

112

quan đến mực thủy triều, an toàn cho việc lên xuống bờ sông cũng như ghe thuyền

lưu thông trên sông và tiếp cận. Công trình thể hiện nét đặc trưng văn hóa tỉnh Sóc

Trăng, hài hoà với cảnh quan môi trường. Công trình thiết kế ấn tượng, cô đọng, dễ

nhớ và có tính biểu tượng cao. Giải quyết hài hòa giữa yếu tố thẩm mỹ và kỹ thuật

công trình. Chú trọng yếu tố cây xanh, vườn hoa và ánh sáng về đêm. Do đó, khi tư

vấn lập dự án, thiết kế kiến trúc phải cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường

sông nước ở tỉnh Sóc Trăng. Từ đó tạo được điểm nhấn cho các dự án, công trình

mang tầm vóc khu vực và cả nước.

3) Thiết kế của các doanh nghiệp xây dựng phải có tính kế thừa dòng kiến trúc

dân gian, dòng kiến trúc truyền thống

Tỉnh Sóc Trăng là vùng đất trù phú của đồng bằng ven biển Nam bộ với đặc

điểm có sự đoàn kết, gắn bó ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, trải qua thời gian với sự

giao thoa hài hòa về văn hóa, Sóc Trăng là địa phương có những lễ hội phong phú,

đa dạng, những ngôi chùa thật ấn tượng và tạo nên truyền thống, bản sắc văn hóa rất

riêng biệt, là nơi để các nhà nghiên cứu và du khách tìm đến để cảm nhận, khám

phá và hiểu thêm về mảnh đất con người Sóc Trăng cần cù, cởi mở, hiếu khách.

Riêng tại thành phố Sóc Trăng hiện có 7 ngôi chùa Phật giáo Khmer Nam tông, đa

số đều đã trải qua hàng trăm năm tuổi.

Do đó, thời gian tới các doanh nghiệp tư vấn xây dựng cần tập trung thiết kế

phải có tính kế thừa dòng kiến trúc dân gian, dòng kiến trúc truyền thống gắn bó ba

dân tộc Kinh, Hoa, Khmer để thời gian tới có sự giao thoa hài hòa về văn hóa nơi

đây.

4) Đối với doanh nghiệp xây dựng thực hiện công tác tư vấn thiết kế kiến trúc

xây dựng cần quan tâm.

Làm đẹp cho mặt tiền ngôi nhà: Mặt tiền của công trình, ngôi nhà được thiết

kế đẹp sẽ tạo thêm điểm nhấn và nâng tầm vẻ đẹp của công trình, ngôi nhà. Chỉ là

những hình khối đơn giản nhưng sang trọng hoặc những đường nét mềm mại duyên

dáng làm cho công trình, ngôi nhà thu hút ánh nhìn và trở nên nổi bật hơn. Hiện

nay, ngày càng có nhiều công trình, ngôi nhà có thiết kế lạ mắt và ấn tượng, làm

mỗi chúng ta đi qua đều phải ngắm nhìn. Điều đầu tiên để tạo mặt tiền cho phù hợp

thì phải quan tâm đến màu sắc. Vì mỗi người khi bước vào công trình, ngôi nhà,

điểm chú ý đầu tiên là vẻ bề ngoài của nó. Việc phối màu mặt tiền sao cho phù hợp

113

với không gian xung quanh đóng vai trò quan trọng trong thẩm mỹ, giúp công trình,

ngôi nhà hoà vào một thể thống nhất.

Do đó để sở hữu một công trình, ngôi nhà hoàn hảo, kiến trúc sư cần khéo

léo lựa chọn những mảng màu hợp lý để tôn lên vẻ đẹp cho ngôi nhà, hiện đại, ấm

cúng hay tinh tế… tuỳ theo ý muốn của chủ đầu tư, gia chủ. Khi đó kiến trúc sư có

thể tha hồ sáng tạo chỉ cần tạo được sự đồng điệu và sự hài lòng của gia chủ về tính

thẩm mỹ lẫn công năng. Cần chú trọng khâu trang trí mặt tiền bằng màu sắc vì ở

đây cần có sự phối hợp ăn ý giữa các mảng tường bởi mặt tiền của ngôi nhà. Không

chỉ chú trọng tới màu sắc của sơn tường mà còn phải chú ý đến màu sắc của vật

liệu. Chẳng hạn như bạn chọn vật liệu bằng gỗ cho cửa chính, cửa sổ, lan can nên

lựa chọn những màu tương đồng sao cho tạo sự gần gũi và ấm cúng như màu vàng

đất, sẫm hoặc dùng vật liệu hiện đại như kính, sắt, inox tông màu lựa chọn sẽ đa

dạng hơn với trắng, sữa, xanh dương, xanh cốm,…

Thiết kế kiến trúc – nội thất ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm

tất cả các công việc thiết kế để tạo nên hình dáng kiến trúc và trang trí nội thất công

trình, không chỉ giới hạn trong phạm vi công việc của kiến trúc sư hay họa sĩ thiết

kế. Nó bao gồm rất nhiều chuyên ngành như kiến trúc, kết cấu, cấp điện và chiếu

sáng, cấp thoát nước, điều hoà và thông gió,…trong đó kiến trúc sư đóng vai trò

thiết yếu. Nên việc thiết kế một công trình đẹp mang tầm vóc thì doanh nghiệp xây

dựng tư vấn cần phải quan tâm đến các khâu phối hợp với nhau giữa các chuyên

ngành trong thiết kế kiến trúc công trình, ngôi nhà.

5.2.4 Giải pháp về môi trường

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy môi trường tác động mạnh thứ tư

đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b6 = 27.9%, trung bình đánh giá là

3.56 và độ lệch chuẩn là 0.761.

Hiện nay, không ít cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc

Trăng bước đầu đã mở rộng quy mô sản xuất, sử dụng các thiết bị và công nghệ tiên

tiến, góp phần phát triển công nghiệp bền vững trên địa bàn. Trong quá trình đó,

công nghệ lò gạch không nung liên tục được các doanh nghiệp xây dựng quan tâm

đầu tư. Bởi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mà gây ô nhiễm môi trường sẽ tạo sự

phản ứng của cộng đồng nơi doanh nghiệp đang hoạt động; chính quyền địa phương

thực hiện thanh tra về môi trường sẽ bị ảnh hưởng đến phát triển lâu dài đối với

114

doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên, hiện nay các chất ô nhiễm

trong ngành xây dựng chủ yếu là tiếng ồn xây dựng, bụi xây dựng, chất thải xây

dựng và tiếp tục thực hiện một số giải pháp cải thiện tình trạng ô nhiễm trên địa bàn

tỉnh Sóc Trăng:

1) Giải pháp đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực

xây dựng.

Dựa vào kết quả nghiên cứu và thực trạng phát triển doanh nghiệp xây dựng

tỉnh Sóc Trăng, doanh nghiệp đang hoạt động lĩnh vực sản xuất, xây dựng đề xuất

một số giải pháp công nghệ nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản

xuất điển hình của tỉnh Sóc Trăng như tại các nhà máy sản xuất gạch (gạch ống,

gạch thẻ, gạch ốp vỉa hè...) và các lò gạch tư nhân. Theo kết quả nghiên cứu của lý

thuyết trên khẳng định rằng cũng một tòa nhà được thiết kế năng lượng thấp có thể

đạt được với cách nhiệt tốt, chi tiết cấu trúc kín, cửa sổ hiệu suất cao, hệ thống

thông gió, hệ thống nhiệt và phục hồi lạnh. Chu kỳ sống và việc sử dụng các vật

liệu tái chế cũng đóng một vai trò quan trọng trong bối cảnh hiệu quả tài nguyên và

giảm carbon.

Khí thải chủ yếu sinh ra do đốt dầu FO, DO khi sấy, nung gạch với khói có

chứa các chất ô nhiễm như oxit lưu huỳnh, oxit nitơ, oxit cacbon, hydrocacbon sinh

ra do phân hủy đất sét. Bụi thải chủ yếu phát sinh trong các công đoạn vận chuyển

nguyên liệu, nghiền, sấy phun, tráng men, lò nung rolic và chủ yếu là bụi than, các

hạt bụi vô cơ (đất đá), bụi silic có kích thước rất nhỏ. Nguồn ô nhiễm chủ yếu là bụi

từ xyclon lọc bụi của nhà máy sản xuất gạch.

Để các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng hạn chế tình trạng ô nhiễm

môi trường không khí, tại các nhà máy sử dụng biện pháp phát tán qua ống khói;

cần lắp đặt hệ thống xử lý khói thải từ lò nung, lò sấy (cho khói thải đi qua thiết bị

lọc ướt dạng đĩa hoặc dạng đệm...) để giảm nồng độ các chất ô nhiễm trước khi phát

tán vào khí quyển; trang bị hệ thống hút bụi, thiết bị tách bụi xyclon hoặc buồng

lắng, thiết bị lọc bụi túi vải. Đối với các doanh nghiệp xây dựng có lò gạch sản xuất

theo công nghệ lò đứng, không có hệ thống xử lý khí thải hoặc hệ thống xử lý đã cũ,

hỏng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải dừng thực hiện và cần đầu tư

thay đổi công nghệ hiện đại hơn nhằm thực hiện đúng qui hoạch - xây dựng như hệ

thống lò nung tuynen có trang bị hệ thống xử lý chất thải (trong khi chờ qui hoạch,

115

các lò gạch thay phiên nhau hoạt động hoặc chuyển đổi sản xuất); đồng thời các

doanh nghiệp xây dựng cần phải đầu tư lắp đặt hệ thống lọc bụi túi xử lý khói bụi

cho các lò sản xuất gạch không nung để tạo thực sự chuyển biến tích cực về cải

thiện môi trường.

2) Giải pháp đối với các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thực hiện

một số cam kết về quản lý, sử dụng và khai thác tài nguyên hiệu quả và tiết kiệm

như:

- Khai thác hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên địa phương

Các nhà máy sản xuất gạch thủ công trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng phải kiên

quyết dừng hoạt động, bởi các doanh nghiệp sản xuất gạch thủ công này phần lớn

khai thác và sản xuất gạch gây ô nhiễm môi trường. Nên các doanh nghiệp xây

dựng cần phải đầu tư lắp đặt hệ thống lọc bụi túi xử lý khói bụi cho các lò sản xuất

gạch không nung để tạo thực sự chuyển biến tích cực về cải thiện môi trường.

- Sử dụng nguyên liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô nhiễm trong

doanh nghiệp xây dựng

Giải pháp về sản xuất sạch hơn là việc doanh nghiệp xây dựng phải áp dụng

liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất,

sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con

người và môi trường. Trong quá trình sản xuất, việc áp dụng sản xuất sạch hơn bao

gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng. Loại trừ các nguyên liệu độc hại, giảm

lượng và tính độc hại của tất cả chất thải ngay tại nguồn thải. Đối với sản phẩm, sản

xuất sạch hơn sẽ giảm các ảnh hưởng tiêu cực trong suốt vòng đời của sản phẩm, từ

khâu thiết kế đến thải bỏ. Sản xuất sạch hơn còn góp phần đưa các yếu tố về môi

trường vào trong thiết kế và phát triển các dịch vụ.

- Thực hiện cam kết mức độ giải quyết ô nhiễm môi trường trong ngành xây

dựng

Hiện nay vấn đề ô nhiễm ở hầu hết các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng,

tình trạng ô nhiễm không khí luôn ở mức báo động; chất lượng môi trường không

khí đang bị suy giảm, bụi có chiều hướng tăng cao. Thời gian tới các doanh nghiệp

xây dựng tỉnh Sóc Trăng cần giải pháp đồng bộ, để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi

trường phù hợp với quy định của Luật Bảo vệ môi trường và Nghị định của Chính

phủ. Đồng thời các doanh nghiệp xây dựng cần tập trung kiểm tra đối với các khâu

116

trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời phải giám sát việc chống bụi ngay tại

các công trường xây dựng, các bãi khai thác, trung chuyển cát, sỏi, các phương tiện

vận chuyển vật liệu và phế thải xây dựng đến năm 2025, doanh nghiệp xây dựng

tỉnh Sóc Trăng triển khai xây dựng xử lý dứt điểm tình trạng gây ô nhiễm môi

trường và tất cả các doanh nghiệp thực hiện cam kết mức độ giải quyết ô nhiễm

trong ngành xây dựng.

- Doanh nghiệp xây dựng phải đánh giá tác động môi trường của sản xuất và

kinh doanh xây dựng hàng năm.

Đối với doanh nghiệp xây dựng định kỳ hàng năm phải đánh giá lại sự tác

động gây ô nhiễm môi trường doanh nghiệp các hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp gây ra, doanh nghiệp cần phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định

của nhà nước về bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là vấn đề chiến lược phát

triển của doanh nghiệp xây dựng, tuy không phải tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

trực tiếp chi phí vấn đề môi trường mà là hình ảnh của doanh nghiệp trong lòng

khách hàng tốt đẹp sẽ tạo được niềm tin cho xã hội, cộng đồng doanh nghiệp đang

hoạt động. Đây chính là lợi thế cho doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững hơn

trong tương lai.

Đối với chính quyền địa phương doanh nghiệp đang hoạt động cần lập kế

hoạch kiểm tra tình hình hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vật

liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng về việc chấp hành, tuân thủ pháp luật về

môi trường đối với các doanh nghiệp sản xuất, gia công vật liệu xây dựng, kiểm tra

cần tập trung vào các nội dung như: Phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường

hoặc đề án bảo vệ môi trường chi tiết được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê

duyệt; Có đăng ký cam kết bảo vệ môi trường hoặc đăng ký đề án bảo vệ môi

trường đơn giản với cơ quan có thẩm quyền (đối với dự án đầu tư có tính chất, quy

mô, công suất không thuộc danh mục hoặc dưới mức quy định).

- Trang bị bảo hộ lao động và mua bảo hiểm đầy đủ cho người lao động ở

doanh nghiệp xây dựng.

Đối với doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng thời gian tới cần

tập trung về chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động được thực

hiện theo Thông tư số 10/TT-BLĐ-TBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã

hội. Yêu cầu đối với phương tiện bảo vệ cá nhân: Phương tiện bảo vệ cá nhân là

117

những dụng cụ phương tiện cần thiết mà người lao động phải được trang bị để sử

dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện có các yếu tố nguy

hiểm, độc hại khi các thiết bị an toàn; Vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể

loại trừ hết các yếu tố nguy hiểm độc hại; Phương tiện bảo vệ cá nhân trang bị cho

người lao động phải phù hợp với việc ngăn ngừa có hiệu quả các tác hại của các yếu

tố độc hại, nguy hiểm trong môi trường lao động nhưng dễ dàng trong sử dụng, bảo

quản và không gây tác hại khác, phương tiện phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn chất

lượng của Nhà nước quy định.

Để tạo niềm tin cho đội ngũ nhân viên làm việc tại doanh nghiệp xây dựng

trong thời gian tới, cần chú trọng việc mua bảo hiểm tai nạn cho lao động. Toàn bộ

người lao động của doanh nghiệp xây dựng đều được ký hợp đồng lao động, tham

gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ. Doanh nghiệp xây dựng còn phải tự tự

nguyện mua bảo hiểm tai nạn con người 24/24 giờ cho toàn bộ người lao động. Mức

bảo hiểm này sẽ phần nào đảm bảo chi phí cho người lao động khi bị tổn thất trong

công việc, sinh hoạt, đi lại vui chơi giải trí hàng ngày. Điều này đã giúp cho người

lao động của doanh nghiệp xây dựng an tâm làm việc và gắn bó lâu dài với doanh

nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng hơn.

5.2.5 Giải pháp về nguồn vốn

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy nguồn vốn tác động mạnh thứ năm

đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b1 = 23.4%, trung bình đánh giá là

3.54 và độ lệch chuẩn là 0.717. Thời gian tới doanh nghiệp xây dựng cần triển khai

một số giải pháp nguồn vốn như: Vốn của doanh nghiệp (vốn hữu hình, vô hình);

Vốn phát hành cổ phiếu; Vốn vay các tổ chức tín dụng.

1) Đối với nguồn vốn của doanh nghiệp

Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ, các doanh

nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng cần phải có một lượng nguồn vốn nhất

định, số nguồn vốn kinh doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài sản trong hoạt động

tài chính của doanh nghiệp, quản lý nguồn vốn kinh doanh và sử dụng nguồn vốn

kinh doanh có hiệu quả là yếu tố quan trọng nhất có tính chất quyết định đến mức

độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Do vậy, để có giải pháp nâng cao

hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng cần phải nắm

118

rõ về nguồn vốn và giải pháp thực hiện như: Vốn hữu hình là những tài sản có hình

thái biểu hiện vật chất cụ thể như trụ sở doanh nghiệp, nhà kinh doanh, nhà xưởng,

máy móc, thiết bị, đất đai, vật tư; Vốn vô hình là những tài sản không có hình thái

vật chất cụ thể như bằng phát minh sáng chế, bí quyết, bản quyền, chi phí sáng lập

doanh nghiệp, lợi thế thương mại, thương hiệu doanh nghiệp,… trong nền kinh tế

thị trường, doanh nghiệp xây dựng để nâng cao khả năng cạnh tranh thì việc đầu tư

tài sản cố định, vô hình là rất quan trọng, những chi phí đó cũng được quan niệm

như giá trị của một số tài sản cố định và phải được thu hồi dần để mua sắm tài sản

cố định mới.

2) Đối với nguồn vốn huy động khác của doanh nghiệp xây dựng

Giải pháp vốn huy động khác là một kênh rất quan trọng đối với doanh

nghiệp xây dựng, để huy động nguồn vốn dài hạn cho doanh nghiệp xây dựng một

cách rộng rãi thông qua mối quan hệ với thị trường chứng khoán. Ngày nay, thị

trường chứng khoán là nơi hội tụ những hoạt động tài chính sôi động nhất của nền

kinh tế thị trường. Như vậy, giải pháp tới các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn

tỉnh Sóc Trăng cần tận dụng thêm kênh huy động từ nguồn vốn khác như liên kết

nguồn vốn giữa các doanh nghiệp, chủ đầu tư, các cá nhân thực hiện từng dự án cụ

thể, đây là một trong những hình thức tài trợ nguồn vốn cho các doanh nghiệp có

hiệu quả. Có rất nhiều kênh để doanh nghiệp có thể tìm kiếm các nguồn tài chính

như: vay ngân hàng, huy động liên kết góp nguồn vốn thực hiện từng dự án cụ thể.

Nhưng tại sao trong thời gian gần đây có rất nhiều doanh nghiệp lại lựa chọn hình

thức này; bởi xét dưới góc độ kinh tế nói chung thì khi doanh nghiệp tăng nguồn

vốn sẽ có nhiều lợi thế trong quá trình phát triển của doanh nghiệp đó. Khi đó,

doanh nghiệp xây dựng cần phải chủ động về nguồn vốn, ít phụ thuộc vào vốn vay

ngân hàng với lãi suất khá cao, nên có thể tỷ lệ lợi nhuận mang lại sẽ cao hơn trong

trường hợp sử dụng quá nhiều vốn vay của ngân hàng.

Nhìn chung, khi doanh nghiệp huy động liên kết góp vốn thực hiện từng dự

án cụ thể tuy có thể bị ảnh hưởng nhất định trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn các

doanh nghiệp hoạt động tốt thì vẫn phát huy được hiệu quả kinh doanh.

3) Giải pháp nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp

119

Vốn vay của doanh nghiệp là một trong những những nguồn vốn khá quan

trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, không chỉ đối với phát triển của doanh

nghiệp xây dựng mà còn đối với phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Sóc Trăng. Sự

hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp xây dựng đều gắn với dịch vụ tài

chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, đặc biệt là cung ứng các nguồn tín

dụng. Khi thành lập doanh nghiệp xây dựng hoạt động cho đến lúc mở rộng quy mô

sản xuất kinh doanh thì không có doanh nghiệp nào chỉ dựa vào nguồn vốn sẵn để

phát triển được.

Tuy nhiên, giải pháp nguồn vốn vay là rất quan trọng đối với hoạt động của

doanh nghiệp, thông qua các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng để

doanh nghiệp huy động vốn vay nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động

sản xuất kinh doanh của mình, đặc biệt là đảm bảo đủ vốn cho các dự án mở rộng

hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp. Bên cạnh những ưu điểm về nguồn vốn

vay, các doanh nghiệp xây dựng cũng cần quan tâm một số ảnh hưởng đến quá trình

phát triển của doanh nghiệp nhất định, đó là các hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm

soát của ngân hàng và các chi phí sử dụng vốn. Như vậy, các doanh nghiệp sử dụng

nguồn vốn vay cần phải phối hợp với các nguồn vốn khác để cân đối khả năng trả

nợ gốc và lãi hàng năm, nhằm phát huy tốt nhất các nguồn vốn trong doanh nghiệp.

5.2.6 Giải pháp về nguồn nhân lực

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy nguồn nhân lực tác động mạnh thứ

sáu đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, với hệ số b4 = 14.5%, trung bình đánh

giá là 3.48 và độ lệch chuẩn là 0.786

Các vấn đề nguồn nhân lực doanh nghiệp xây dựng hiện nay, đánh giá thực

trạng, cơ cấu nguồn nhân lực, vai trò vị trí, những yêu cầu về chất lượng nguồn

nhân lực, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng một

cách đồng bộ, hợp lý về cơ cấu, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học kỹ thuật

xây dựng hiện đại, có kiến thức, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội

nhập. Một số giải pháp có thể thực hiện:

1) Đối với doanh nghiệp cần phải xây dựng qui chế tuyển dụng thật hoàn

chỉnh trong thời gian tới.

120

Giải pháp xây dựng qui chế tuyển dụng thật hoàn chỉnh về lao động để tạo

điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia có quan hệ lao động, không can thiệp trực

tiếp vào quyền tự chủ của bộ phận tổ chức tuyển dụng, quyền thương lượng lao

động, giám đốc doanh nghiệp tạo điều kiện để các bên cùng nhau thương lượng, đạt

được thoả thuận về những điều kiện thuận lợi hơn cho người lao động so với quy

định pháp luật lao động. Đồng thời, hướng dẫn hai bên xây dựng mối quan hệ lao

động mới, hài hoà và ổn định vì sự phát triển của doanh nghiệp. Cuối cùng giám

đốc là người quyết định tuyển dụng sau cùng.

2) Đối với doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh Luật lao động nhằm đáp

ứng nguyên tắc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc.

Thực hiện nghiêm chỉnh Luật lao động và quy định nội dung quy chế dân

chủ ở cơ sở tại nơi làm việc ở các doanh nghiệp sử dụng lao động làm việc theo

hợp đồng lao động. Trong đó, các doanh nghiệp xây dựng cần thực hiện một số

biện pháp sau.

 Nội dung người sử dụng lao động phải công khai: Doanh nghiệp

phải thực hiện tốt các nội quy, quy chế, quy định của doanh nghiệp, bao gồm: nội

quy lao động; quy chế tuyển dụng, sử dụng lao động; định mức lao động; thang,

bảng lương, quy chế nâng bậc lương, quy chế trả lương, trả thưởng; trang bị bảo

hộ lao động, quy trình vận hành máy, thiết bị, an toàn lao động, vệ sinh lao động,

bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ; bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công

nghệ; thi đua, khen thưởng, kỷ luật;

Tình hình thực hiện các chế độ, chính sách tuyển dụng, sử dụng lao động,

trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng chuyên

môn, nghiệp vụ, tay nghề, tiền lương, tiền thưởng, khấu trừ tiền lương, bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế cho người lao động;

 Hình thức thực hiện dân chủ tại nơi làm việc: Doanh nghiệp cần

thực hiện đối thoại tại nơi làm việc: Đối thoại định kỳ tại nơi làm việc do người sử

dụng lao động chủ trì, phối hợp với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở thực

hiện 03 tháng một lần để trao đổi, thảo luận các nội dung quy định tại Điều 64 của

Bộ Luật Lao động; khoảng cách giữa hai lần đối thoại định kỳ liền kề tối đa không

quá 90 ngày. Trường hợp thời gian tổ chức đối thoại định kỳ trùng với thời gian tổ

chức hội nghị người lao động thì doanh nghiệp không phải tổ chức đối thoại định

121

kỳ; Trường hợp một bên có yêu cầu tổ chức đối thoại thì trong thời hạn 10 ngày

làm việc kể từ ngày nhận được nội dung yêu cầu đối thoại, người sử dụng lao

động có trách nhiệm chủ trì phối hợp với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ

sở tổ chức đối thoại.

Thường xuyên tổ chức hội nghị người lao động: Doanh nghiệp có từ 10

người lao động trở lên phải tổ chức hội nghị người lao động; Hội nghị người lao

động được tổ chức 12 tháng một lần; Hội nghị người lao động được tổ chức theo

hình thức hội nghị toàn thể đối với doanh nghiệp có dưới 100 lao động, theo hình

thức hội nghị đại biểu đối với doanh nghiệp có từ 100 lao động trở lên.

3) Doanh nghiệp xây dựng được qui chế đào tạo, đãi ngộ người giỏi

Doanh nghiệp xây dựng cần xây dựng các qui chế đào tạo, đãi ngộ tốt trong

thời gian tới. Trước hết doanh nghiệp phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật

về các vấn đề lao động trước khi xây dựng cơ chế đào tạo, trả lương, đãi ngộ người

lao động giỏi là việc làm bắt buộc. Tính chất đặc thù công việc và mức độ ưu tiên

đối với các vị trí chức danh khác nhau.

Nhu cầu đào tạo của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

ngày càng tăng nhanh, một mặt do ngày càng có nhiều doanh nghiệp xây dựng ra

đời; mặt khác, do nhận thức của các doanh nghiệp trong xu thế hội nhập, những

thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng

vươn lên, tiếp thu những kiến thức quản trị mới để nâng cao khả năng cạnh tranh,

duy trì thị trường sẵn có và tìm kiếm thị trường mới.

Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp xây dựng một mặt tạo

điều kiện cho nhiều doanh nghiệp xây dựng hoạt động có hiệu quả, mở rộng quy mô

sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần làm

giảm tỷ lệ thất nghiệp và thu hẹp khoảng cách tài chính giữa doanh nghiệp xây dựng

với nhau; mặt khác là điều kiện để các doanh nghiệp xây dựng chuyển thành các

doanh nghiệp lớn trong tương lai. Để các chương trình đào tạo có tính khả thi, hoạt

động đào tạo cần hướng vào việc giúp các nâng cao được nhận thức trong hoạt

động sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ, năng lực quản lý, nâng cao trình độ

tay nghề cho lao động kỹ thuật, đặc biệt là kỹ sư xây dựng, kiến trúc sư,... tạo ra

sức cạnh tranh của sản phẩm và sức cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng trên địa

bàn tỉnh Sóc Trăng.

122

Trình độ đào tạo, kinh nghiệm chuyên môn, kiến thức và kỹ năng cần có để

thực hiện công việc. Tính trách nhiệm và áp lực trong các công việc thực tế đảm

nhận. Trên cơ sở những yếu tố này, bạn xác định hệ số hoặc số điểm tương ứng với

mỗi chức danh. Doanh nghiệp xây dựng cần cân nhắc kỹ lưỡng đến hệ số khoảng

cách giữa các vị trí chức danh sao cho đảm bảo sự hợp lý giữa người cao nhất và

thấp nhất trong doanh nghiệp xây dựng và các vị trí liền kề. Một cơ chế phù hợp có

tác dụng nâng cao năng suất và chất lượng lao động, giúp doanh nghiệp thu hút và

duy trì được những cán bộ, nhân viên giỏi.

4) Đối với việc xây dựng được quy chế phối hợp tốt trong công việc tại

doanh nghiệp xây dựng

Giải pháp đối với các doanh nghiệp xây dựng quy chế phối hợp tốt trong

công việc; Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp xây dựng thực hiện theo mô hình trực

tuyến, chức năng và giao việc kinh doanh nên có mối quan hệ công tác được quy

định như sau:

 Mỗi quan hệ công tác giữa ban tổng giám đốc và các đơn vị được thực hiện

theo mô hình trực tuyến. Các đơn vị nhận lệnh từ tổng giám đốc hoặc chỉ đạo từ phó

tổng giám đốc hoặc giám đốc. Các đơn vị phải chấp hành đúng quy định về tham

mưu, báo cáo và phản hồi thông tin.

 Mối quan hệ công tác giữa các đơn vị trong doanh nghiệp xây dựng là mối

quan hệ hợp tác, hỗ trợ, hướng dẫn. Kiểm tra để cùng hoàn thành nhiệm vụ của

doanh nghiệp xây dựng. Các đơn vị phải có trách nhiệm cung cấp thông tin, hồ sơ,

tài liệu cần thiết cho nhau theo chỉ đạo của tổng giám đốc, giám đốc nhằm hoàn

thành tốt các công tác hoạch định, tổ chức thực hiện và quản lý chuyên môn nghiệp

vụ đạt hiệu quả cao nhất.

 Mối quan hệ công tác giữa các đơn vị có liên quan trong doanh nghiệp xây

dựng là mối quan hệ chức năng. Các đơn vị liên quan được tổng giám đốc, giám

đốc ủy quyền quản lý theo chức năng có trách nhiệm hướng dẫn và quản lý hoạt

động theo quy định của doanh nghiệp xây dựng đối với các đơn vị trực thuộc và các

đội xây dựng, xí nghiệp thiết kế.

123

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Xuất phát từ tình hình thực tế phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc

Trăng, luận án đã phân tích được những nguyên nhân, hạn chế cơ bản tác động đến

phát triển doanh nghiệp xây dựng; và rút ra 7 yếu tố tác động đến phát triển doanh

nghiệp xây dựng.

Kết quả nghiên cứu định tính và kết hợp kiểm định bằng phương pháp định

lượng, theo kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết đặt ra, gồm có 7 giả thuyết

và xếp theo thứ tự ưu tiên mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp tác động đến sự phát

triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, như yếu tố (Kết nối thị trường;

Công nghệ; Kiến trúc xây dựng; Môi trường; Nguồn vốn; Nguồn nhân lực; Chính

sách nhà nước) đều có mối quan hệ tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng

tỉnh Sóc Trăng.

Từ kết quả nghiên cứu có 7 yếu tố tác động vào sự phát triển các doanh

nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, và các giải pháp chỉ tập trung vào những yếu tố tác

động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng.

2. Kiến nghị

2.1 Kiến nghị đối với nhà nước

Kiến nghị chính quyền địa phương

Một là, đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh rất cần được sự quan tâm

ở tầm chiến lược phát triển toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long và kể cả tỉnh Sóc

Trăng, nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, trong đó có phát triển

các doanh nghiệp xây dựng. Ủy ban nhân tỉnh Sóc Trăng, Sở Xây dựng, Sở Kế

hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng cần có sự quan tâm đúng mức và xây dựng chiến

lược mang tính định hướng, mục tiêu phát triển doanh nghiệp toàn vùng và cả nước

theo Quyết định số 1231/QĐ-TTg của Chính Phủ phê duyệt Kế hoạch phát triển

doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011 – 2015; và Quyết định số 2457/QĐ-TTg

của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình quốc gia phát triển công

nghệ cao đến năm 2020.

Hai là, đối với Ủy ban nhân tỉnh cần rà soát lại quy hoạch phát triển doanh

nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng để bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp

124

với tình hình phát triển doanh nghiệp cụ thể ở Quyết định số 206/QĐ-UBND của

Ủy ban nhân tỉnh Sóc Trăng về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển doanh nghiệp,

đồng thời bổ sung thêm Kế hoạch phát triển doanh nghiệp, trong đó có các doanh

nghiệp xây dựng để có cơ sở ban hành các cơ chế, chính sách thúc đẩy các doanh

nghiệp xây dựng của tỉnh phát triển.

Ba là, các Sở, Ban ngành tham mưu Ủy ban nhân tỉnh, trước hết Sở Kế hoạch

và Đầu tư cần được nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động; nhất là mảng quản lý

nhà nước về phát triển các doanh nghiệp xây dựng được tăng cường về nhân sự có

chuyên môn sâu, bản lĩnh và tâm huyết. Sở Kế hoạch và Đầu tư là cầu nối với các

ban ngành khác, tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các cấp về cơ chế, chính

sách phát triển các doanh nghiệp xây dựng như kết quả nghiên cứu cho thấy 07 yếu

tố tác động vào sự phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thời gian

tới.

Kiến nghị chính sách nhà nước

Một là, đối với chính sách cải cách thủ tục hành chính của chính quyền

Cùng với kết quả nghiên cứu định tính cũng cho thấy rằng yếu tố chính sách

nhà nước tác động mạnh đến phát triển doanh nghiệp xây dựng. Khi nghiên cứu

định lượng, kết quả cho thấy chính sách nhà nước có ảnh hưởng đến phát triển

doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, từ đó đề xuất một số giải pháp về chính

sách nhà nước tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng cụ thể như:

Quan trọng nhất đối với chính quyền địa phương cần thiết kế một mô hình

quản lý đầu tư xây dựng các dự án công bằng ngân sách nhà nước theo hướng tích

cực và năng động hơn. Mô hình mới không chỉ quan tâm đến đầu tư xây dựng mà

cần quản lý khai thác công trình một cách hiệu quả nhất. Mô hình là sự liên kết hữu

hiệu giữa các thành phần liên quan như Quy hoạch – Đầu tư xây dựng – Quản lý

khai thác. Từ mô hình tổng thể, căn cứ vào Luật xây dựng, Luật đấu thầu và các văn

bản dưới luật để thiết kế một hệ thống thực hiện. Hệ thống này cần thể hiện rõ các

công đoạn của công việc, chỉ ra cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết, nội dung,

phạm vi, thời gian của mỗi công đoạn cần được chỉ rõ ràng và yêu cầu về cán bộ,

trang thiết bị thực hiện dự án, để hoàn thành nhiệm vụ; khi vận hành hệ thống sẽ

bộc lộ các khâu yếu, các cán bộ không đủ năng lực. Hệ thống này cần được thiết lập

với các yêu cầu và tiêu chuẩn hoá như ISO.

125

Hai là, chính sách thuế đối với các doanh nghiệp xây dựng

Đối với Chính phủ, chính quyền địa phương cần giãn, giảm, hoàn nhiều loại

thuế để giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hạ giá

thành và tiêu thụ sản phẩm. Chính phủ có quyết định: Gia hạn thời hạn nộp thuế

Thu nhập doanh nghiệp đối với số thuế Thu nhập doanh nghiệp cho các doanh

nghiệp xây dựng có quy mô (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian

và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng); doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động

(sử dụng trên 300 lao động) trong lĩnh vực sản xuất, gia công; xây dựng các công

trình hạ tầng kinh tế - xã hội; doanh nghiệp đầu tư - kinh doanh (bán, cho thuê, cho

thuê mua) nhà ở và doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng: Sắt, thép, xi măng, gạch,

ngói.

Ba là, đối với chính sách nhà nước quản lý kinh doanh bất động sản

Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa

phương rà soát tất cả các dự án phát triển nhà ở để phân loại các dự án được tiếp tục

thực hiện, các dự án cần tạm dừng, các dự án cần điều chỉnh cơ cấu, loại hình nhà ở,

chuyển đổi sang phát triển nhà ở xã hội cho phù hợp với nhu cầu của thị trường và

nguồn lực xã hội.

Nhà nước có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp bất động sản chủ động điều

chỉnh hoạt động kinh doanh, tái cơ cấu doanh nghiệp cho phù hợp, như: Giảm giá

bán, điều chỉnh cơ cấu hàng hóa cho phù hợp với khả năng chi trả của thị trường; áp

dụng các phương thức bán hàng linh hoạt, khuyến khích chuyển sang hình thức cho

thuê, thuê mua; chuyển sang nhà ở xã hội; sử dụng đúng mục đích các khoản vay và

huy động vốn từ khách hàng, thực hiện công khai, minh bạch, đúng cam kết tiến độ,

tạo niềm tin với khách hàng.

Chính phủ yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền thực hiện rút ngắn thời gian

thẩm định, phê duyệt quy hoạch, đặc biệt là giải quyết nhanh chóng các thủ tục cho

phép điều chỉnh cơ cấu dự án đang tồn kho, thi công dở dang cho phù hợp với nhu

cầu thị trường, thủ tục chuyển đổi từ dự án nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội. Đặc

biệt, cho phép chuyển các dự án nhà ở thương mại sang làm nhà ở xã hội để cho

thuê hoặc cho thuê mua cho các đối tượng chính sách: Người thu nhập thấp, cán bộ,

công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, công nhân, sinh viên và làm các công

126

trình dịch vụ như: Bệnh viện, trường học, khách sạn, dịch vụ thương mại đang có

nhu cầu nhưng phải phù hợp quy hoạch và điều kiện cơ sở hạ tầng.

Bốn là, đối với chính sách quản lý đấu thầu trong hoạt động xây dựng

Đối với Nhà nước cần thực hiện đổi mới công tác đấu thầu, chọn thầu và

giám sát chế tài các nhà thầu. Những công trình quan trọng hay phức tạp cần ưu tiên

lựa chọn theo các tiêu chí kỹ thuật, năng lực nhà thầu xây dựng cũng không nên chỉ

xét trên “bài dự thi” như hiện nay. Qua hội thảo “đấu thầu chuyên nghiệp”, hiện nay

hầu hết đã thuê Tư vấn đấu thầu chuyên nghiệp (không thuộc chủ đầu tư) thực hiện

các dịch vụ từ chuẩn bị hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu (tất nhiên lựa chọn

cuối cùng là quyền của chủ đầu tư nhưng không thể chọn 1 nhà thầu ngoài danh

sách đề nghị của Tư vấn đấu thầu). Chúng ta cũng nên khuyến khích các tổ chức Tư

vấn đấu thầu chuyên nghiệp. Họ không chỉ chấm thầu trên cơ sở “bài thi” mà còn

phải thẩm tra thực tế năng lực của các nhà thầu. Sự sơ suất hoặc cố tình gian lận của

cán bộ đấu thầu có thể dẫn đến phá sản của doanh nghiệp này ngoài vấn đề liên

quan đến cơ quan bảo vệ pháp luật. Hiện nay nếu cán bộ của Chủ đầu tư có vi phạm

thì chỉ có thể xử lý kỷ luật mà không thể chế tài cơ quan thực hiện.

Nhìn chung, Công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây

dựng còn chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố dẫn đến chất lượng quản lý

và ban hành chính sách còn nhiều thay đổi, đặc biệt là yếu tố môi trường quản lý

chính sách trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Do đó, giải pháp quản lý nhà

nước đối với vốn đầu tư xây dựng bao gồm: Chính sách cải cách thủ tục hành chính;

Chính sách thuế; Chính sách quản lý kinh doanh bất động sản; Chính sách quản lý

đấu thầu.

Năm là, chính quyền địa phương cần hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh

doanh bất động sản nhằm nâng cao tính hấp dẫn của thị trường.

Thủ tục hành chính liên quan đến việc giao đất, xây dựng quy hoạch ở tỉnh

Sóc Trăng thường thực hiện mất từ 2 – 3 năm nên nhiều dự án khâu tiếp cận vấn đề

đất đai rất khó khăn và triển khai chậm tiến độ. Nhà nước cần rà soát, sửa đổi bổ

sung các quy định về thủ tục hành chính trong đầu tư kinh doanh bất động sản theo

hướng công khai, minh bạch, giản tiện cho nhà đầu tư và rút ngắn thời gian thực

hiện xuống còn từ 3 – 5 tháng như các nước trong khu vực;

127

Chính quyền tỉnh Sóc Trăng sớm xây dựng và ban hành các quy chế về tổ

chức và hoạt động của tổ chức môi giới bất động sản, tổ chức tư vấn bất động sản,

tổ chức định giá bất động sản, tổ chức quản lý sàn giao dịch bất động sản, tổ chức

quản lý bất động sản;

Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về bất động sản để cho các nhà

đầu tư dễ dàng tra cứu, tìm hiểu thông tin trước khi đi đến quyết định có đầu tư vào

lĩnh vực kinh doanh bất động sản hay không.

2.2 Một số hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Một số hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo, cũng như bất kỳ nghiên

cứu khoa học nào, luận án nghiên cứu này cũng có một số hạn chế nhất định.

Thứ nhất là, luận án nghiên cứu này chỉ thực hiện tại thị trường nghiên cứu ở

tỉnh Sóc Trăng, nên khả năng tổng quát hóa kết quả nghiên cứu chưa cao hơn, nếu

được lặp lại nghiên cứu ở một số thị trường lớn như vùng đồng bằng sông Cửu

Long hoặc một số vùng, thành phố lớn ở Việt Nam. Hay xa hơn nữa là tại thị trường

của các vùng miền trong cả nước về lĩnh vực phát triển doanh nghiệp xây dựng Việt

Nam và xây dựng thang đo cho phát triển doanh nghiệp xây dựng. Đây chính là

định hướng nghiên cứu tiếp theo của các đề tài khoa học cấp nhà nước.

Hai là, mục tiêu chính của luận án là nhằm khám phá các yếu tố và xây dựng

thang đo để đo lượng phát triển doanh nghiệp xây dựng địa phương tại thị trường

tỉnh Sóc Trăng. Kết quả nghiên cứu chỉ xem xét tác động của các biến độc lập (Kết

nối thị trường; Công nghệ; Kiến trúc xây dựng; Môi trường; Nguồn vốn; Nguồn

nhân lực; Chính sách nhà nước) vào biến phụ thuộc (Y: Phát triển các doanh nghiệp

xây dựng tỉnh Sóc Trăng). Ngoài ra, còn một số biến khác cũng tác động vào sự

phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng nhưng trong nghiên cứu của

luận án này chưa phát hiện. Nhưng đây là định hướng nữa cho vấn đề nghiên cứu

tiếp của đề tài khoa học khác.