BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH

______________

ĐẾ TÀi NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

Mã số : B.2006.19.06.

Chủ nhiệm đề tài : TS. PHẠM THỊ XUÂN THỌ

TP. HỒ CHÍ MINH-2008

LỜI CẢM ƠN

Đề tài được hoàn thành với sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, phòng Khoa học

công nghệ và Sau đại học. Cán bộ giảng dạy khoa Địa lí, với sự nhiệt tình của các

công tác viên và sự cung cấp số liệu của các cơ quan ban ngành liên quan.

Nhân đây, chúng tôi xin cám ơn:

- Ban Giám hiệu

- Phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học

- Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận

Đã giúp đỡ vật chất và tinh thần, cung cấp tư liệu quý giá cho nhóm nghiên cứu

thực hiện đề tài.

TP. Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 4 năm 2008

Chủ nhiệm đề tài

TS. Phạm Thị Xuân Thọ

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ

Tên đề tài : Nghiên cứu chất lượng cuộc sống các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ phục vụ giảng dạy và

học tập – Trường hợp tỉnh Bình Thuận.

Mã số : B.2006.19.06

Chủ nhiệm đề tài : TS. Phạm Thị Xuân Thọ.

Tel: 0903.308.425. E-mail: ptxtho@yahoo.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

Cơ quan và cá nhân phối hợp :

1. ThS. La Nữ Ánh Vân – Trưởng khoa Du lịch Trường Cao đẳng Cộng đồng Bình Thuận.

2. ThS. Phạm Thị Bình - CBGD Khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

3. CN. Bùi Vũ Thanh Nhật - CBGD Khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

Thời gian thực hiện : Từ tháng 4 năm 2006 - tháng 4 năm 2008.

1. Mục tiêu

- Khái quát về chất lượng cuộc sống các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và tỉnh Bình Thuận.

- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trong tỉnh Bình Thuận nói

riêng và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nói chung.

- Làm nguồn tư liệu cho các giảng viên, sinh viên Địa lí tham khảo nhằm phục vụ cho công tác

giảng dạy và học tập.

2. Nội dung chính

- Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ

và tỉnh Bình Thuận.

- Nghiên cứu hiện trạng chất lượng cuộc sống các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và tỉnh Bình

Thuận.

- Nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị phát triển kinh tế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân

cư.

3. Kết quả đạt được :

Nghiên cứu thực hiện qua 2 giai đoạn :

- Giai đoạn 1 : Từ tháng 6 - 2006 đến 5 - 2007

 Thu thập tư liệu, thông tin

 Thực địa, điều tra xã hội học

Các kết quả cho thấy chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và tỉnh Bình

Thuận thuộc loại trung bình thấp so với nhiều vùng trong cả nước nhưng còn cao hơn vùng Bắc

Trung Bộ, Tây Bắc. Điều này cho thấy, các tỉnh DHNTB đã có nhiều chính sách phát triển KT -

XH và quan tâm đến các chính sách giảm đói nghèo, phát triển văn hóa, y tế, xã hội và bình đẳng

giới.

- Giai đoạn 2 : Từ tháng 6- 2007 đến thàng 2 - 2008

 Hoàn thiện cơ sở lí luận, phân tích đánh giá khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư

các tỉnh Duyên hải miền Trung và tỉnh Bình Thuận.

 Viết báo cáo về chất lượng cuộc sống dân cư, sử dụng GIS và phần mềm Mapinfo, thành lập

bản đồ chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và tỉnh Bình Thuận. Qua

đó thấy rõ mối tương quan giữa các yếu tố KT - XH với việc nâng cao chất lượng cuộc sống và

đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư.

SUMMARY

Project Title : Researching living quality of Middle Southern Coastal Area for teaching and studying

purposes - Binh Thuan Case

Code number : B.2006.19.06

Coordinator : Pham Thi Xuan Tho Ph.D

Tel: 0903.308.425. E-mail: ptxtho@yahoo.com

Implementing Institution : Hochiminh City University of Pedagogy

Cooperating Institution : Individuals to anttend the subject :

1. La Nu Anh Van – Dean of the faculty of Faculty of tourism – Binhthuan Junior College of

Community.

2. Pham Thi Binh – Lecturer of the faculty of Geography - Hochiminh City University of Pedagogy.

3. Bui Vu Thanh Nhat - Lecturer of the faculty of Geography - Hochiminh City University of

Pedagogy.

.Duration : From April, 2006 to April, 2008.

1. Objectives:

Overview about the living quality of Middle Southern Coastal province.

- Solutions proposed to improve the living quailty of the people of Middle Southern Coastal in

general and Binhthuan province in particular.

- Materials for Geography lecturers and students in studying and teaching

2. Main content :

 Understanding factors to living quality of Middle Southern Coastal provinces

 Researching current living quality of Middle Southern Coastal provinces

 Researching, proposing solutions to develop the economy to improve living condition

3. Result obtained: - 1th period : From April, 2006 to May. 2007

- Collect data and information

- Carry out sociological field research, investigation

- Results show that inhabitants living quality of Middle Southern Coastal and Binh Thuan

provinces is the average low among provinces in the country, yet still is higher than that of Middle

Northern Area, North West Area. This shows that Middle Southern Coastal provinces have got

many policies to develop sociology economy and concern about policies to reduce poor, drive

away hunger, improve sociology, hospitality, and sex equality. - 2th period : From June, 2007 to February. 2008

 Complete basic theory, analyse ability to upgrade living quality of inhabitants in Middle

Southern Coastal and Binh Thuan provinces

- Report about living quality, using GIS and Mapinfo software, creating living quality map of

Middle Southern Coastal and Binh Thuan provinces. Therefore we can observe the relationships of

socio-economical elements to living quality improvements and propose solutions to improve

inhabitants living quality.

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Ý NGHĨA

TỪ VIẾT TẮT - ANTT - BHYT - BVMT - BVTV - CĐ - CLCS - CNH-HĐH - CNKT - CN-XD - CNXH - ĐH - DHNTB - DV - GD – ĐT - GDP - GTSX - GTTN - GV - HĐND - KHCN & MT - KHHGĐ - KT – XH - LT – TP - LHQ - PCTP - SX - THCN - THCS - THPT - TM-DV - TNTN - UBND - VAC - VRAC - XĐGN - XH - XHCN

: : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : :

An ninh trật tự Bảo hiểm y tế Bảo vệ môi trường Bảo vệ thực vật Cao đẳng Chất lượng cuộc sống Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nhân kỹ thuật Công nghiệp-xây dựng Chủ nghĩa xã hội Đại học Duyên hải Nam Trung Bộ Dịch vụ Giáo dục và đào tạo Tổng thu nhập quốc nội Giá trị sản xuất Gia tăng tự nhiên Giáo viên Hội đồng nhân dân Khoa học công nghệ và môi trường Kế hoạch hóa gia đình KT - XH Lương thực thực phẩm Liên Hiệp Quốc Phòng chống tội phạm Sản xuất Trung học chuyên nghiệp Trung học cơ sở Trung học phổ thông Thương mại-dịch vụ Tài nguyên thiên nhiên Ủy ban nhân dân Vườn – Ao - Chuồng Vườn - Rừng - Ao - Chuồng Xóa đói giảm nghèo Xã hội Xã hội chủ nghĩa

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong phát triển KT - XH, nâng cao chất lượng cuộc

sống (CLCS) và nỗ lực xóa đói, giảm nghèo. Tỉ lệ nghèo đã giảm mạnh từ hơn 60% vào năm 1990

xuống còn 18,1% vào năm 2004, nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với mức tăng bình quân 8 -

9%/năm trong những năm gần đây và chính sách phát triển kinh tế gắn với giảm đói nghèo của Chính

phủ.

Tuy CLCS của dân cư Việt Nam đã tăng nhanh, chỉ số HDI năm 2007 tăng lên đạt 0,73, xếp

hạng 105 trên 177 quốc gia và lãnh thổ. Nhưng CLCS của dân cư Việt Nam có sự phân hóa mạnh mẽ

theo vùng, miền và theo nhóm dân cư. Để xã hội phát triển văn minh, công bằng, dân chủ, văn minh và

bền vững cần có sự nghiên cứu kĩ lưỡng các yếu tố, các chính sách nhằm đưa ra các giải pháp thích

hợp nâng cao CLCS dân cư, giảm bớt sự cách biệt giữa các vùng miền, các tỉnh.

CLCS là một khái niệm tổng hợp đo mức sống của con người. Cùng với sự phát triển của xã hội

loài người, CLCS của con người, cần được quan tâm nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp phát triển

kinh tế – xã hội để thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của con người, nâng cao CLCS. CLCS cũng phản

ánh trình độ phát triển về KT - XH của khu vực hay một quốc gia, một vùng, một tỉnh.

Đối với giáo viên, sinh viên ngành Địa lí, việc nghiên cứu CLCS, hiểu rõ bản chất, cách tính, các

nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư và tình hình biến chuyển CLCS dân cư một nước, một vùng cụ

thể có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc. Nhằm ứng dụng lí luận vào thực tiễn để nâng cao hơn nữa

CLCS cho dân cư địa phương và đây cũng là mục tiêu hướng tới của đất nước ta cũng như của các

quốc gia khác.

Duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm 8 tỉnh thành có những đặc điểm tương đồng nhau về mặt tự

nhiên, do đó có nhiều điểm tương đồng trong quá trình phát triển KT - XH và CLCS. Bình Thuận là

tỉnh cực Nam Trung Bộ, tiếp giáp vùng kinh tế Đông Nam Bộ, gắn với vùng kinh tế Đông Nam Bộ

năng động có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường tiêu thụ rộng lớn. Tạo điều kiện cho tỉnh

Bình Thuận đã phát triển, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong những năm gần đây. Nhưng tốc độ phát

triển kinh tế như vậy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao CLCS cho nhân dân trong tỉnh, đặc biệt

cuộc sống của dân cư các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao còn nhiều khó khăn. Sự cách biệt về CLCS

của dân cư giữa các địa phương còn khá lớn. Ở TP. Phan Thiết và các thị trấn kinh tế phát triển nhanh,

CLCS được nâng cao rõ rệt, trong khi các vùng nông thôn, miền núi của tỉnh còn nhiều xã nghèo, hộ

nghèo, CLCS còn thấp kém.

Tỉnh Bình Thuận cũng có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế xã hội, nhưng CLCS dân cư chưa

cao. Làm thế nào để nâng cao CLCS của dân cư Bình Thuận cũng như cho dân cư các tỉnh Duyên hải

Nam Trung Bộ? Tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao CLCS của dân cư vùng Duyên hải Nam Trung

Bộ và tỉnh Bình Thuận.

Nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải

Nam Trung Bộ phục vụ giảng dạy và học tập - Trường hợp tỉnh Bình Thuận” với mong mỏi tìm kiếm

một số giải pháp nâng cao CLCS của dân cư. Ở đây, tỉnh Bình Thuận được lựa chọn là một trường hợp

điển cứu có nhiều yếu tố nổi bật về tự nhiên còn khó khăn, nhưng cũng có nhiều ưu đãi trong phát triển

KT - XH của một tỉnh cực nam của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ,…

2. MỤC ĐÍCH – NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI

- Tổng quan có chọn lọc lí luận về CLCS.

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư các tỉnh DHNTB và tỉnh Bình Thuận.

- Tìm hiểu khái quát thực trạng CLCS dân cư các tỉnh DHNTB và thực trạng CLCS dân cư tỉnh

Bình Thuận.

- Phân tích sự biến động CLCS của dân cư các tỉnh trong vùng và CLCS của các nhóm dân cư

trong tỉnh.

- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLCS và giảm sự cách biệt giữa các nhóm dân cư ở Bình

Thuận nói riêng và các tỉnh DHNTB nói chung.

3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

* Đối tượng nghiên cứu :

Chất lượng cuộc sống của dân cư là vấn đề rộng lớn, phức tạp và biến đổi theo không gian, thời

gian, trong đó các tiêu chí để đánh giá CLCS rất đa dạng, trong đó có thể dựa vào chỉ số cơ bản nhất là

chỉ số phát triển con người (HDI).

Chỉ số HDI cho biết một cách tổng quát về sự phát triển con người: Sống cuộc sống khoẻ mạnh

và lâu dài (đo bằng tuổi thọ, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73,7 tuổi); được học hành (đo

bằng tỉ lệ biết chữ ở người lớn và tổng tỉ lệ đi học tiểu học, trung học, đại học - của Việt Nam là 90,3%

và 63,9%); có mức sống hợp lí (thu nhập GDP/đầu người theo sức mua tương đương - của Việt Nam

là 3.071 USD). Ngoài ra, còn phải tính đến những mặt khác như nhu cầu sống tốt hơn được đáp ứng

các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác như: cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, về nhà ở, điện nước,

giao thông đi lại, y tế và sống trong một môi trường tự nhiên không ô nhiễm, môi trường xã hội, an

toàn, lành mạnh,…

Các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm 8 tỉnh thành giáp biển là một địa bàn rộng lớn. Do

vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài, nhóm tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu khái quát về DHNTB và

điển cứu tỉnh Bình Thuận từ đó có những giải pháp có tính chất tương đồng để nâng cao CLCS cho

vùng, cũng như đề ra các giải pháp riêng cho tỉnh Bình Thuận.

 Thời gian nghiên cứu :

Nghiên cứu CLCS dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, điển cứu CLCS dân cư tỉnh Bình

Thuận trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 2006.

4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Vấn đề nghiên cứu CLCS dân cư đã được nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất sớm nhưng ở

các khía cạnh khác nhau như : mức sống, chỉ số phát triển con người nhưng chưa thật đầy đủ với nghĩa

CLCS. Kể từ khi cách mạng công nghiệp hình thành và phát triển đã nâng cao mức sống của con người

và tạo nên sự phân hóa sâu sắc giữ nhóm người giàu và nhóm người nghèo.

Ngày nay, trên thế giới người ta thường dùng chỉ số phát triển con người (HDI) để so sánh mức

sống của con người giữa các nước. Ở Việt Nam, nhiều cơ quan ban ngành trung ương và địa phương

có các đề tài liên quan đến CLCS dân cư như đánh giá mức sống dân cư, các báo cáo phát triển con

người. Chương trình phát triển của LHQ tham gia cùng tiến hành nghiên cứu mức sống trong cả nước

vào các năm 1992-1993 và 1997-1998, năm 2004. Năm 1996, Viện kinh tế TP. HCM tiến hành đề tài

“Phân hóa giàu nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế TP. HCM”, năm 2000 tiếp tục đề tài

“Nghiên cứu diễn biến mức sống dân cư và phân hóa giàu nghèo tại TP. HCM”. Ngoài ra còn có đề tài

: “Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở TP. HCM” của: Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường,

Nguyễn Quang Vinh. Báo có phát triển con người năm 2007 của UNDP.

Nhưng thực tế CLCS còn được thể thiện bằng nhiều tiêu chí khác ngoài mức sống và chỉ số HDI

như được sống trong môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn lành mạnh. Do vậy, nhóm đề tài

muốn nghiên cứu sâu hơn về CLCS dân cư phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy địa lí.

5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

5.1. Các quan điểm nghiên cứu

5.1.1. Quan điểm hệ thống

Các tỉnh DHNTB và Bình Thuận là đơn vị lãnh thổ tự nhiên, KT - XH trong tổng thể tự nhiên và

KT - XH của Việt Nam nói chung. Nghiên cứu CLCS gắn với sự phát triển KT - XH của từng tỉnh, của

vùng và cả nước. Để nâng cao CLCS cho nhân dân các tỉnh DHNTB và Bình Thuận cần phải đặt trong

bối cảnh chung của sự phát triển KT - XH và CLCS của cả nước.

CLCS thay đổi theo hướng nào liên quan đến sự phát triển KT - XH của đất nước, của tỉnh, việc

sử dụng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đường lối chính sách của Nhà nước và tỉnh. Do vậy, nghiên

cứu CLCS các tỉnh DHNTB và Bình Thuận phải đứng trên quan điểm hệ thống, xét Bình Thuận trong

vùng DHNTB, trong hệ thống KT - XH cả nước để đưa ra các giải pháp phù hợp tác động vào hệ

thống nhằm nâng cao CLCS một cách bền vững.

5.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Quan điểm tổng hợp lãnh thổ là quan điểm quan trọng, đặc trưng trong quá trình thực hiện các

công trình nghiên cứu Địa lí học. Các đối tượng địa lí không tồn tại đơn độc trên một lãnh thổ, mà

chúng tồn tại trong mối quan hệ tương tác có những tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy hoặc kìm hãm

sự phát triển của nhau, tạo nên những nét đặc thù riêng về mặt lãnh thổ KT - XH. Chẳng hạn như giữa

các tỉnh DHNTB có những nét tương đồng về mặt tự nhiên và KT - XH nên có những điểm khá tương

đồng về CLCS. Nhưng giữa các tỉnh cũng có những nét khác biệt và trong một tỉnh cũng có sự khác

biệt về mức sống. Ví dụ, ở Bình Thuận có mức sống trung bình, nhưng TP. Phan Thiết có CLCS cao

hơn so với Tánh Linh, huyện Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam...

Vì vậy, trên quan điểm tổng hợp lãnh thổ có thể đánh giá tổng hợp các yếu tố tự nhiên, KT - XH

tạo nên CLCS với nét đặc trưng riêng của lãnh thổ, đồng thời cũng khái quát được những nét tương

đồng cho những lãnh thổ lớn hơn. Từ đó đưa ra các giải pháp chung cho cả vùng cũng như các giải

pháp đặc thù cho từng địa phương.

5.1.3. Quan điểm lịch sử – viễn cảnh

CLCS dân cư không chỉ thay đổi theo không gian mà còn thay đổi theo thời gian. Đánh giá các

tác động đến CLCS dân cư trong qua khứ và hiện tại, chúng ta có thể dự báo được sự gia tăng hay suy

giảm CLCS trong tương lai. Trong các công trình nghiên cứu Địa lí nói chung và nghiên cứu CLCS nói

riêng, cần vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh để dự báo và có các chính sách, giải pháp phù hợp

nhằm biến đổi CLCS dân cư theo chiều hướng tích cực.

5.1.4. Quan điểm sinh thái, phát triển bền vững

CLCS dân cư chịu tác động mạnh mẽ của hai yếu tố tự nhiên, tài nguyên môi trường và KT - XH.

Việc gia tăng sản xuất, khai thác tài nguyên mạnh mẽ sẽ làm tăng thu nhập, góp phần nâng cao CLCS,

nhưng khi tài nguyên cạn kiệt, thu nhập sẽ giảm, hoặc phát triển kinh tế không chú ý đến việc bảo vệ

môi trường, con người không được sống trong môi trường trong sạch thì CLCS sẽ bị giảm. Do vậy, để

nâng cao CLCS cần chú ý đến phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường, tạo điều kiện tăng

trưởng, phát triển kinh tế liên tục gắn với nâng cao CLCS. Vì vậy, khi nghiên cứu CLCS cần xem môi

trường trong sạch, có thể khai thác, sử dụng lâu bền là bộ phận quan trọng để nâng cao CLCS.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

5.2.1. Phương pháp thống kê

Các số liệu CLCS được thu thập từ các cơ quan ban ngành từ Trung ương đến địa phương như:

Niên giám thống kê, tư liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo phát triển con người của Liên Hợp

Quốc, cục Thống kê, báo cáo của UBND tỉnh Bình Thuận, Sở Lao động - Thương binh Xã hội và

thống kê từ các phiếu điều tra xã hội học, … từ đó nhóm tác giả phân loại, thống kê theo các tiêu chí

CLCS.

5.2.2. Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Trên cơ sở các nguồn tư liệu, nhóm tác giả phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến CLCS dân

cư các tỉnh DHNTB và Bình Thuận. Đồng thời so sánh các chỉ tiêu CLCS Việt Nam với một số nước

trên thế giới, so sánh CLCS dân cư giữa các vùng, giữa vùng DHNTB với các vùng và CLCS dân cư

Bình Thuận với cả nước và một số tỉnh để thấy được nét tương đồng và di biệt giữa các vùng, các tỉnh

với nhau, phân tích nguyên nhân và đề ra giải pháp chung cho vùng, giải pháp riêng cho tỉnh Bình

Thuận.

5.2.3. Phương pháp thực địa, điều tra xã hội học

Điều tra thực địa nhằm kiểm chứng các số liệu thống kê, đảm bảo tính xác thực của số liệu về

CLCS ở địa bàn nghiên cứu. CLCS dân cư được thể hiện qua nhiều mặt vật chất và tinh thần, qua thực

địa nhóm nghiên cứu có nhận định tổng hợp, chính xác hơn về CLCS. Điều tra xã hội học và phỏng

vấn các nhà quản lí, lãnh đạo các ban ngành và dân cư địa phương để thấy được tâm tư nguyện vọng,

phương hướng phát triển kinh tế, dự án và các giải pháp nâng cao CLCS dân cư.

5.2.4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Bản đồ là phương tiện ban đầu cho nhóm nghiên cứu đánh giá khái quát về các nguồn lực phát

triển KT - XH và các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của dân cư. Đồng thời, bản đồ cũng là phương tiện

thể hiện sinh động kết quả nghiên cứu sự phát triển và phân hóa CLCS. Biểu đồ dùng để thể hiện các

mối liên hệ giữa các chỉ tiêu về CLCS. các chỉ tiêu CLCS thể hiện bằng biểu đồ dễ dàng so sánh, phân

tích mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành CLCS, giữa các địa phương.

5.2.5. Hệ thống thông tin Địa lí GIS và MapInfo

Sử dụng hệ thống thông tin đia lí chồng xếp các lớp thông tin, cho phép tổng hợp các yếu tố tạo

thành CLCS dân cư. Sử dụng phần mềm MapInfo cho phép thành lập bản đồ CLCS dân cư một cách

sinh động, các tiêu chí đánh giá CLCS phân hóa theo vùng lãnh thổ được thể hiện rõ nét trên bản đồ.

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Nâng cao CLCS dân cư là mục tiêu phấn đấu của thế giới nói chung cũng như các quốc gia,

các vùng nói riêng, đặc biệt là những vùng còn nghèo, khó. Nhưng quan niệm về CLCS cũng chưa thật

thống nhất. Trong thực tế có thể hiểu CLCS một cách chung nhất là sự thỏa mãn nhu cầu cuộc sống

của con người.

CLCS không chỉ là mức sống của người dân về phương diện vật chất mà CLCS còn thể hiện sự

cảm nhận hạnh phúc của một cá nhân hay nhóm dân cư như : được sống trong môi trường tự nhiên và

môi trường xã hội lành mạnh. CLCS thực chất không chỉ là một khái niệm hữu hình, bởi vậy khó có

thể tính toán cụ thể một cách chính xác mọi tiêu chí được. Tuy nhiên, một số tiêu chí về mức sống có

thể định lượng khá rõ ràng, các tiêu chí về đời sống tinh thần có thể đo bằng các chỉ số định tính tương

đối.

CLCS gồm có hai thành phần chính, trước hết xét về khía cạnh vật chất bao gồm thu nhập,

lương thực, thực phẩm và y tế - giáo dục. Mặt khác, tinh thần của con người như sự yên vui, an toàn

sống trong môi trường trong lành. Nghiên cứu CLCS dân cư đặc biệt quan trọng nhằm tìm cách nâng

cao CLCS cho con người.

Chất lượng cuộc sống1:

“Chất lượng cuộc sống được hiểu là sự thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản của con người, CLCS

được thể hiện qua hai mặt : lối sống và mức sống”.

- Mức sống là trình độ sinh hoạt vật chất của con người phản ánh trình độ đạt được về mặt SX và

là phương tiện để đánh giá CLCS.

- Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, giai cấp,

nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT - XH nhất định và biểu hiện trên

các lĩnh vực của đời sống : trong lao động, hưởng thụ, trong quan hệ, giữa người với người trong sinh

hoạt tinh thần và văn hóa.

LHQ đưa ra chỉ số phát triển con người Human Development Index (HDI) là tiêu chí chính để

đánh giá CLCS của con người bao gồm cả thu nhập quốc dân bình quân đầu người, thành tựu y tế xã

hội và trình độ văn hóa, giáo dục. Tổng hợp lại là chỉ số HDI có giới hạn trong khoảng từ 0,00 đến 1.

Nước nào có HDI lớn hơn chứng tỏ sự phát triển con người cao hơn. Chỉ số HDI sẽ thể hiện toàn diện

và đầy đủ hơn về sự phát triển, trình độ văn minh của một quốc gia, trên cơ sở đó cho phép nhìn nhận

các nước giàu, nghèo một cách chính xác và khách quan hơn.

Khái niệm mức sống chủ yếu nói lên khía cạnh số lượng vật chất của đời sống, khía cạnh kinh tế

của phúc lợi con người còn lối sống lại bao hàm cả đặc trưng chất lượng của hoạt động sống của con 1 Theo giáo sư Vũ Khiêu

người. CLCS là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện sự đáp ứng nhu cầu nâng cao thể chất, trí tuệ, vật chất và

tinh thần cho nhân dân. Do vậy, khó có thể định nghĩa một cách hoàn chỉnh thế nào là CLCS, nhưng có

thể định nghĩa một cách khái quát là: “CLCS là sự đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con

người trong hoạt động sống nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về

vật chất và tinh thần”.

Theo điều tra đánh giá của New Zeland trong các cuộc điều tra CLCS, họ đã chú ý đến các mặt

được hưởng thụ : Sức khỏe và hạnh phúc; Tính cộng đồng; Môi trường không tội ác và sự an toàn; Sự

giáo dục và công việc; Xây dựng môi trường; Văn hóa; Chế độ dân chủ.

1.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Các chỉ tiêu đánh giá CLCS chính là chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người thể hiện mức độ

đáp ứng các nhu cầu về vật chất cho con người như: lương thực - dinh dưỡng, mức độ đáp ứng nhu cầu

nhà ở, điện nước; tuổi thọ trung bình của con người, mức độ đáp ứng y tế và sự hưởng thụ các mặt tinh

thần khác như văn hóa, giáo dục, môi trường sống,…

1.2.1. Thu nhập bình quân đầu người

Tiêu chí chính đánh giá CLCS dân cư giữa các nước, các vùng là chỉ số thu nhập quốc dân tính

bình quân theo người (GNP/ người hay GNI/ người) hoặc tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân theo

người (GDP/ người). Tuy nhiên, chỉ số GDP/ người phản ánh mờ nhạt hơn hay có thể nói là chưa chính

xác về CLCS dân cư. Vì các nước đang phát triển có chỉ số GDP/ người lớn hơn GNP/ người, do các

nước này thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nên phần giá trị rất lớn của các công ty đầu tư nước

ngoài được tính gộp vào GDP. Do vậy, nhiều khi phải tính đến chỉ số GNP (hay GNI/ người) sẽ cho

thấy sự chênh lệch chính xác hơn về CLCS dân cư giữa các vùng.

Mặt khác, CLCS của dân cư không chỉ khác biệt do ảnh hưởng đơn thuần của giá trị thu nhập

theo đầu người, mà nó sẽ bị chi phối lại do giá cả sinh hoạt của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau.

Ngoài việc quy đổi giá trị GNP/ người hoặc GDP/ người ra USD theo tỉ giá hối đoái, LHQ đã đưa ra

phương pháp tính giá trị thu nhập của dân cư các vùng khác nhau theo sức mua tương đương (PPP), để

tránh những sai lệch về mức sống thực tế ở các vùng, các nước. Cách tính này cho thấy một cách xác

thực sự chênh lệch mức sống giữa các quốc gia khác nhau.

Bảng 1.1. GDP bình quân đầu người của các nhóm nước năm 2005

(Theo giá thực tế)

Tổng GDP

Tăng dân số

% GDP so với

Nhóm nước

GDP / người

thế giới

(tỉ USD)

%

1. Thu nhập cao

0,7

77,7%

43.437

2. Thu nhập trung bình

1,4

19,2%

4.155

34.446,2 8.535,1

3. Thu nhập thấp

2,3

3,1 %

1142

4. Toàn thế giới

1,2

100%

6.954

1.391,4 44.384,9

Nguồn: Niên giám thống kê 2006 và Ngân hàng Thế giới

Sự phân hóa GNP/người và GDP/ người rất khác nhau giữa các nước khác nhau tạo nên

khoảng cách giữa nhóm nước giàu và nhóm nước nghèo; sự khác biệt về các chỉ số gia tăng dân số và

tăng kinh tế liên quan chặt chẽ với thu nhập giữa các nhóm dân cư các vùng, các nước. Đó là nguyên

nhân dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo trong các nhóm dân cư và giữa các vùng trong một nước. Sự

chênh lệch về thu nhập dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt nhất giữa khu vực nông thôn và thành

thị. Theo WB ranh giới nghèo khổ là những người có thu nhập bình quân hàng năm dưới 1 USD/ngày.

Tuy nhiên, giữa các vùng và các quốc gia khác nhau chỉ số này có sự thay đổi. Ví dụ người nghèo khổ

ở Srilanca thu nhập là 27 USD/ người/ tháng, ở Bănglađét là 11 USD/ người/ tháng, ở Philippin là 85

USD/ người/ tháng. Đến năm 2007, đường ranh giới nghèo theo thu nhập bình quân đầu người được

tính dưới 2 USD/ ngày.

Thu nhập của dân cư theo nhóm nước rất khác biệt nhau, khoảng cách về thu nhập GDP/ người

theo PPP giữa dân cư nhóm nước giàu và nước nghèo rất lớn, năm 2006 là 13,07 lần, theo giá trị thực

tế là 56,98 lần. Trong khi tốc độ tăng dân số của nhóm nước thu nhập thấp lại cao hơn tộc độ tăng của

nhóm thu nhập cao tới 3,28 lần (Bảng 1.1). Điều đó càng làm cho các nước chậm phát triển càng khó

khăn hơn trong việc nâng cao CLCS.

Bảng 1.2. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế và theo PPP của một số

nước phát triển

Hàng năm tăng

Dân số

GDP (USD)

GDP (tỉ USD)

GDP/ thời kỳ

Tăng DS/

Nước

1990-2005

năm (%)

GDP theo giá thực tế

GDP theo PPP

Triệu người (2008)

(%)

GDP theo giá thực tế bình quân/ người

2006*

1.Canada

113,8

1078

34.484

2,2

GDP / người theo PPP WB -2007 36713

33,2

0,9

4534.0

3995,1

35.484

0,8

127,7

-0,02

31947

2. Nhật

3. Pháp

2126,6

1849,7

34.936

1,6

64,4

0,49

31992

4. Mỹ

12416,5

12416,5

41.890

2,1

303,9

0,97

43968

5. Anh

2198,8

2001,8

36.509

2,5

60,6

0,42

33087

6. Ý

1762.0

1672

30.073

1,3

59,4

0,03

29053

7. Đức

2794,9

2429,6

33.890

1,4

82,2

-0,07

32322

8. Nga

763,7

1552

5.336

-0,1

142

-0,51

13116

Nguồn: *UN Wordl Population Prospects 2006 dân số TG tăng TB: 1,17% năm.

Nhìn chung, mức sống dân cư được cải thiện khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên, trong

một số trường hợp mức sống sẽ không được cải thiện; Đặc biệt, đối với nhóm dân cư nghèo, nếu tăng

trưởng kinh tế không gắn với phát triển bền vững và chú ý đến vấn đề giảm nghèo đói. Trong thực tế,

có nhiều nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhưng mức sống không cao tương ứng vì giá các

mặt hàng cao và việc chăm lo sức khỏe, phát triển y tế, đảm bảo phúc lợi xã hội cho dân cư còn thấp.

Ngược lại, có nước tuy có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn, đời sống vật chất còn khó khăn,

nhưng lại quan tâm tới mục tiêu nâng cao trình độ dân trí, phát triển giáo dục, đáp ứng nhu cầu y tế,

đảm bảo sức khỏe cho mọi thành viên thì chất lượng cuộc sống dân cư lại cao hơn. Do vậy, LHQ đã

dùng chỉ số phát triển con người, một chỉ số tổng hợp để phản ánh cơ bản CLCS trên toàn thế giới từ

GDP (USD)

thập kỉ 90 của thế kỉ XX đến nay.

Bảng 1.3. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế và theo PPP của một số nước đang phát triển ở châu Á Dân số GDP (tỉ USD)

Nước

GDP theo PPP

GDP theo giá thực tế

Triệu người (2008)

Tăng DS % năm (2006)

Giá thực tế bình quân/người

GDP/ người theo PPP

1. Trung Quốc 1.323

0,6

2.234,3

8.814,9

1.713

6.757

Hàng năm tăng GDP/ thời kỳ 1990-2005 (%) 8,8

2. Ấn Độ 3. Inđônêxia

1.131 231,6

1,46 1,16

805,7 287,2

3.779 847,6

736 1.302

3.452 3.843

4,2 2,1

4. Hàn Quốc

48,2

0,34

787,6

22.029

1.063,9

16.309

4,5

5. Malaixia

27,5

1,69

130,3

275,8

5.142

10.882

3,3

6. Philippin

88,6*

1,72

99

426,7

1.192

5.137

1,6

7. Singapore

4,7

1,19

116,8

128,8

26.893

29.663

3,6

8. Thái Lan

63

0,66

176,6

557,4

2.750

8.677

2,7

1,32

52,4

255,3

631

3.071

5,9

87,4*

9. Việt Nam Nguồn: Ngân hàng Thế giới 2006

Các kết quả tính toán các tiêu chí HDI cho thấy CLCS dân cư thế giới không ngừng được cải

thiện. Tuổi thọ trung bình của dân cư Thế giới luôn tăng lên (năm 2005 là 69), tỉ lệ biết chữ của người

lớn và tỉ lệ nhập học các cấp cũng được tăng lên rõ rệt, GDP bình quân đầu người được cải thiện với

mức tăng trung bình năm 1%.

Chỉ số HDI của một số nước giàu có thu nhập cao nhưng thứ hạng theo HDI thấp hơn vị trí GDP

do chưa đầu tư cho y tế, giáo dục hoặc giá cả đắt đỏ. Ngược lại, một số nước thu nhập thấp hơn, nhưng

lại có biện pháp, chính sách tích cực quan tâm đến y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục cộng đồng nên

thứ hạng theo chỉ số HDI, vị trí nước này tăng lên. Trong số 177 quốc gia cung cấp số liệu để xây

dựng HDI cho năm 2007, 70 quốc gia xếp hạng HDI cao với giá trị từ 0,800 đến 0,944; 85 quốc gia

trong đó có Việt Nam được xếp hạng HDI trung bình với giá trị từ 0,501 đến 0,799 và 22 quốc gia xếp hạng HDI thấp2.

Chênh lệch HDI giữa các quốc gia trong phạm vi một khu vực cũng đáng kể, khu vực Đông Nam

Á, giá trị HDI cao nhất thuộc về Singapore, thấp nhất là Lào. Có điều cần chú ý là mối quan hệ giữa

các chỉ số thành phần tạo nên giá trị HDI ở mỗi quốc gia rất khác nhau. Vì vậy, có những nước HDI

2 Năm 2001 : 55 nước có chỉ số HDI cao, 88 nước HDI trung bình và 34 nước được xếp hạng HDI thấp

như nhau song mức thu nhập lại không giống nhau. Có những nước thu nhập bình quân đầu người như

nhau nhưng giá trị HDI lại khác nhau.

Bảng 1.4. So sánh mức thu nhập và chỉ số HDI giữa các quốc gia năm 2007 Nước GDP/người theo PPP

Nguồn: WB 2007,

Côoet Croatia Trung Quốc Thái Lan Angiêri Indonesia Giá trị HDI 0.891 0.846 0.777 0.781 0,733 0.728 39360 14310 4644 7599 6347 3454

Ở nước ta, nhờ chính sách và sự quan tâm tới phát triển con người của Đảng và Nhà nước, các

chỉ số phát triển con người có sự tiến bộ rõ rệt, với đặc điểm nổi bật là các chỉ số về mặt xã hội cao hơn

chỉ số phát triển kinh tế.

Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua tương đương đã tăng

liên tục qua các năm: năm 1995 mới đạt 1.236 USD, năm 2003 đạt khoảng 2.493 USD, năm 2004 đạt

khoảng 2.644 USD. Theo Báo cáo phát triển con người năm 2007 do UNDP công bố GDP/người theo

sức mua tương đương (PPP) của Việt Nam đạt 3.071 USD xếp thứ 122/177 nước. Nhưng nếu theo HDI

, báo cáo phát triển con người năm 2007 của UNDP thì Việt Nam xếp hạng 105 trên 177 nước theo chỉ

số HDI. Xếp hạng của Việt Nam về HDI đã cao hơn xếp hạng về GDP bình quân đầu người tính bằng

USD theo tỉ giá sức mua tương đương (xếp hạng HDI là 105/177 so với hạng GDP/ người theo PPP là

122/177.

Bảng 1.5. So sánh mức thu nhập và thứ hạng HDI năm 2007

Nước GDP/người theo PPP (USD) Giá trị HDI

Nguồn: Báo cáo phát triển con người, 2007 của UNDP, WB và IMF

Việt Nam Ấn Độ 0,733 Hạng thứ 105/177 0,619 Hạng thứ 128/177 3.071 Hạng thứ 122/177 3.452 Hạng thứ 121/177

So với các nước ASEAN, chỉ số HDI năm 2007 của Việt Nam chỉ trên thứ hạng của

Indonesia hạng thứ 107, Lào hạng 130 và Campuchia hạng 131, Myanmar hạng 132, Đông Timor hạng

150, và xếp sau Philippines hạng 90, Thái Lan hạng 78, Malaysia hạng 63, Singapore hạng 25. Như

vậy, với tốc độ tăng trưởng hiện nay của Việt Nam và Malaysia thì sau 35 năm nữa GDP/đầu người

của Việt Nam mới đuổi kịp Malaysia về phương diện lí thuyết.

LƯỢC ĐỒ CHỈ SỐ HDI CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI NĂM 2007

0,950 trở lên

0,700–0,749

0,450–0,499

0,900–0,949

0,650–0,699

0,400–0,449

0,850–0,899

0,600–0,649

0,350–0,399

0,800–0,849

0,550–0,599

dưới 0,350

0,750–0,799

0,500–0,549

không có số liệu

Biểu đồ 1. GDP/người của Việt Nam so với một số nước trong khu vực

1.2.2. Lương thực và dinh dưỡng

Lương thực, thực phẩm là nhu cầu quan trọng thiết yếu hàng ngày của con người. Nhu cầu về

cung cấp năng lượng cũng thay đổi theo vùng, theo thời gian, theo độ tuổi, theo giới, theo nghề nghiệp

(cường độ lao động),… Lương thực, thực phẩm là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức sống dân

cư. Khả năng cung cấp lương thực, thực phẩm đủ đáp ứng nhu cầu năng lượng hàng ngày cho con

người và việc đảm bảo cân đối giữa các hàm lượng chất đạm, chất béo, chất đường và các loại khoáng

chất, vitamin trong bữa ăn là một chỉ số quan trọng đo lường mức sống - một mặt quan trọng của

CLCS.

Bảng 1.6. Lượng calori thực phẩm tính trung bình một người /ngày của 2 nhóm nước cao nhất và

thấp nhất thế giới (Đơn vị: Calori)

10 nước có lượng Calori/ người thấp nhất 10 nước có lượng Calori/người cao nhất

Thứ hạng 165 166 Tên nước Zambia Liberia Giá trị 1,927 1,900 Thứ hạng 1 2 Tên nước Hoa Kì Bồ Đào Nha Giá trị 3,774 3,741

167 Ethiopia 1,857 3 Ai Cập 3,721

168 169 Tajikistan Comoros 1,828 1,754 4 5 Áo Italy 3,673 3,671

170 Burundi 1,649 6 Israel 3,666

Somalia Congo (DRC) Apganistan Eritrea 1,628 1,599 1,539 1,513 7 8 9 10 Ireland Pháp Canada Malta 3,656 3,654 3,589 3,587 171 172 173 174 Nguồn: Encarta 2007

Nhưng khả năng đáp ứng lương thực, thực phẩm cũng rất khác nhau trên toàn thế giới. Có

những nơi dân cư thừa dinh dưỡng, ngược lại có nhiều nơi dân cư thiếu lương thực thực phẩm một

cách trầm trọng như các nước kém phát triển ở châu Phi, châu Á. Theo tổ chức Lương Nông của LHQ đưa ra lượng Calori tối thiểu cho một người là 2360 Calori/ ngày là ranh giới cho sự nghèo đói3. Như

vậy, các nước đang phát triển ở châu Phi và châu Á là các nước nghèo đói.

1.2.3. Chăm sóc sức khỏe - Dịch vụ y tế

Sức khỏe của dân cư là điều kiện quan trọng để xã hội tồn tại và phát triển. Chăm sóc sức khỏe

và đảm bảo dịch vụ y tế thể hiện sự quan tâm đến cộng đồng, là nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng

cao CLCS dân cư của mỗi khu vực, mỗi quốc gia. Theo WHO, chỉ tiêu sức khỏe - dịch vụ y tế gồm

mức đầu tư ngân sách cho chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế tính theo tổng chi ngân sách hoặc GDP,

chất lượng và số lượng y bác sĩ, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho khám chữa bệnh - chăm sóc sức

khỏe, tuổi thọ bình quân của dân cư, tỉ suất tử vong nói chung. Đặc biệt là tỉ suất chết của trẻ em, tỉ lệ

dân số mắc các loại bệnh truyển nhiễm, bệnh xã hội, bệnh hiểm nghèo ở một quốc gia. Người có thu

nhập cao sẽ có điều kiện chăm sóc sức khỏe, nâng cao tuổi thọ và trình độ. Có sức khỏe tốt sẽ có điều

kiện để nâng cao trình độ học vấn và có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao

CLCS, nâng cao tuổi thọ,…

Sức khỏe có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lao động, năng suất lao động của người dân. Nếu

không có sức khỏe tốt, sẽ dẫn tới năng suất lao động thấp, thu nhập thấp, đồng thời chi phí cho bệnh tật

nhiều và dẫn đến hiện tượng đói nghèo. Để nâng cao dịch vụ y tế, đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng

thường phải tăng số lượng, chất lượng bác sĩ, nhân viên y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh, tăng số

giường bệnh,… Vì vậy, các chỉ số bác sĩ / 10.000 dân hoặc số dân/ bác sĩ, số giường bệnh / 1000 dân

hoặc số dân / 1 giường bệnh,… là tiêu chí để xác định mức độ đảm bảo y tế cho nhân dân.

Bảng 1.7. Tình hình phát triển cơ sở y tế một số nước trên thế giới

3 Theo Tổ chức Y tế Thế giới ranh giới của nghèo đói là 2100

10 nước có tỉ lệ người tính trung trên 1 giường bệnh thấp nhất

10 nước có tỉ lệ người tính trung trên 1 giường bệnh cao nhất

Tên nước

Tên nước

Bình quân số người / 1 giường

Thứ hạng

Thứ hạng

Bình quân số người / 1 giường

Niger Nepal Bê nanh Mali Ethiopia Bangladesh Apganistan Senegal Somalia Madagascar 8.333 5.000 4.281 4.167 4.141 3.333 2.500 2.500 2.500 2.381 Azerbaijan Lithuania CH Sec Ukraine Đức Nga Belarus Mông Cổ Nhật Bản 168 169 170 171 172 173 174 175 176 120 115 114 114 112 95 88 87 70 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Nguồn : Tổ chức Y tế thế giới 2006

Mức độ đảm bảo sức khỏe cho người dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển

kinh tế, mức thu nhập quốc dân, sự phát triển dân số. Các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình

quân đầu người cao thì mức độ đầu tư cho y tế cao và chăm sóc sức khỏe tốt. Số lượng bác sĩ nhiều,

trình độ cao, trang thiết bị hiện đại, có khả năng chữa được những bệnh hiểm nghèo. Ở các nước đang

phát triển thu nhập bình quân thấp hơn rất nhiều, dân số phát triển nhanh cho nên việc đầu tư phát triển

y tế và chăm sóc sức khỏe không theo kịp. Chi cho y tế thấp chỉ có 1,7% so với GNP chỉ bằng 1/5 so

với các nước có thu nhập cao.

Ở các nước kém phát triển thu nhập chủ yếu chi cho ăn uống. Tỉ lệ chi cho y tế, giáo dục, vui

chơi giải trí ít. Chất lượng khám chữa bệnh chưa đáp ứng kịp thời với nhu cầu thực tế. Tỉ lệ bác sĩ/

10.000 dân thấp. Việc quan tâm đến các loại bệnh nhất là bệnh truyền nhiễm tại các nước này chưa

được chú trọng, 3 nhóm bệnh phổ biến nhất là bệnh truyền nhiễm, bệnh hô hấp, bệnh do ký sinh trùng

chiếm gần nửa số nguyên nhân tử vong. Trong khi đó, ở những nước phát triển thì những bệnh này

được kiểm soát khá tốt.

Các cơ sở y tế thiếu trầm trọng ở nhóm nước nghèo ở châu Á, châu Phi như Ethiopia,

Bănglađét, Apganistan,... Ngược lại, các nước kinh tế phát triển cao như Nhật Bản, Đức và một số

nước XHCN trước đây có chính sách phát triển xã hội tốt như Nga, Ucraine, Belarus, Mông cổ có số

cơ sở y tế và giường bệnh nhiều (Bảng 1.7). Tình hình này cũng có thể nhận thấy tương tự về số lượng

dân cư quá lớn tính trung bình trên 1 bác sĩ ở các nước nghèo như Malawi, Rwanda.. và số dân trung

bình khá ít tính trung bình trên 1 bác sĩ ớ các nước giàu như Hoa Kì, Italy, Bỉ và một số nước XHCN :

Cuba, Nga , Belarus (Bảng 1.8).

Bảng 1.8. Số dân tính trung bình trên 1 bác sĩ của một số nước trên thế giới

Tên nước Tên nước Bình quân số người / 1 bác sĩ Thứ hạng Bình quân số người / 1 bác sĩ Thứ hạng

Nguồn : Tổ chức Y tế thế giới 2006

Malawi Rwanda Tanzania Liberia Mozambique Chad Ethiopia Eritrea Niger CH Trung Phi 88363 53370 44133 43478 41061 39524 34988 33333 29907 28571 178 179 180 181 182 183 184 185 186 187 Lithuania Nga Bỉ Hy Lạp Belarus St Lucia Hoa Kì Monaco Cuba Italy 248 240 239 227 222 193 182 171 169 165 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đảm bảo nhu cầu y tế khám và chữa bệnh cho nhân dân qua số

liệu thống kê (Bảng 1.9 và 1.10) cho thấy chỉ số tuổi thọ phản ánh rõ nét hơn mức sống nói riêng và CLCS

nói chung. Nhưng nhìn chung, các nước nghèo mức độ đảm bảo y tế và tuổi thọ thấp hơn nhiều so với các

nước kinh tế phát triển.

*Tuổi thọ bình quân hay còn gọi là kỳ vọng sống

Trên thế giới do điều kiện sống ngày càng nâng cao, tuổi thọ trung bình trên toàn thế giới có xu

hướng ngày càng tăng. Qua nghiên cứu, người ta nhận thấy những nước có thu nhập cao thì tuổi thọ

cũng cao. Tuổi thọ bình quân của các nước có kinh tế phát triển luôn cao hơn các nước đang phát triển

khoảng 2 - 4 tuổi, cao nhất là Nhật Bản 80, Canađa là 78. Tuổi thọ trung bình của các nước đang phát

triển là 63 (nếu không kể đến Trung Quốc còn 61).

Bảng 1.9. Tuổi thọ trung bình của một số nước trên thế giới năm 2006

TÊN NƯỚC STT

Trung Quốc

TỔNG SỐ 77,8 80,2 81,3 72,6 77,0 72,3 70,8 69,9 59,3 43,3 52,8 48,8 48,5 49,0 32,6 34,4 NỮ 80,8 83,7 84,7 74,5 80,8 74,7 73,8 72,5 61,3 43,5 54,0 51,5 50,3 50,2 33,2 33,2 NAM 75,0 76,9 78,0 70,9 73,6 70,0 68,0 67,4 57,4 43,2 51,6 46,2 46,7 47,9 32,1 35,5 1 Hoa Kỳ 2 Canađa 3 Nhật Bản 4 5 Hàn Quốc 6 Thái Lan 7 Việt Nam Indonesia 8 9 Campuchia 10 Apganistan 11 CH Congo 12 Bờ Biển Ngà 13 Somalia 14 Ethiopia 15 Swaziland 16 Lesotho Nguồn: Thống kê dân số thế giới 2006 Trên thế giới có sự chênh lệch rất lớn về tuổi thọ dân cư giữa các nước kinh tế phát triển (trung

bình khoảng 80 tuổi) và các nước đang phát triển dao động từ 50 -70 tuổi, cá biệt có một số nước châu

Phi tuổi thọ của cư quá thấp, trung bình chỉ 34 - 40 tuổi: Lesotho 34,4 tuổi, Swaziland 32,6 tuổi. Các

nước kinh tế phát triển tuổi thọ cao, tỉ lệ người già cao, hiện tượng lão hóa phổ biến, nên thiếu hụt lực

lượng lao động là khó tránh khỏi. Đây là vấn đề mà các nước phát triển phải chú ý giải quyết.

Ngược lại, các nước đang và kém phát triển dân số tăng nhanh, kinh tế chậm phát triển, thu

nhập thấp và các điều kiện chăm sóc y tế không được đảm bảo, nên tuổi thọ thấp. Một số nước có tuổi

thọ thấp nhất thế giới chỉ bằng 1/2 lần tuổi thọ của các nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới.

Tuổi thọ bình quân có mối liên hệ mật thiết với GDP/đầu người (Bảng 1.10).

Việt Nam là một trường hợp ngoại lệ, không theo quy luật trên, do chính sách xã hội chú trọng

đến CLCS của dân cư nhất là vấn đề phát triển y tế và giáo dục. Tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của

Việt Nam tăng khá qua các năm: năm 1995 đạt 65,2, năm 1999 đạt 67,4; năm 2002 đạt 69, năm 2007

đạt 70,3; về đích trước 2 năm so với mục tiêu do Đại hội IX đề ra cho năm 2005. Chỉ số tuổi thọ bình

quân của Việt Nam đạt 0,76, cao gấp 1,4 lần chỉ số GDP bình quân đầu người và cao hơn HDI, cao

hơn mức của thế giới, của các nước đang phát triển và tương đương của các nước châu Á - Thái Bình

Dương,...

Bảng 1.10. Quan hệ giữa tuổi thọ trung bình với GDP/người

Tuổi thọ(b) Số nước Số dân(triệu người) GDP/người (1991)

Nguồn: Việt Nam dân số và phát triển - Trung tâm dân số, lao động xã hội, UBDS - KHHGĐ

b=,< 55 b=55-64 b=65-69 b=70-72 b>=73 42 31 34 36 46 629 1594 624 1651 859 270 660 1950 1140 20080

Tuổi thọ bình quân tăng và hiện đạt ở mức khá cao là kết quả của việc tăng lên của GDP bình

quân đầu người, của công tác y tế và chăm sóc sức khỏe được cải thiện và thu được thành tựu đáng

khích lệ : các tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh, tỉ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi, tỉ lệ tiêm chủng đầy đủ, tỉ lệ xã có

bác sĩ đã vượt mục tiêu đề ra cho năm 2005, thậm chí 2010; đã thanh toán bệnh bại liệt, loại trừ uốn

ván sơ sinh, thanh toán bệnh phong,... Nếu theo quy luật trên (Bảng 1.10), thì tuổi thọ bình quân của

nước ta sẽ là 55 tuổi vì GDP/người thấp hơn 600 USD. Nhưng thực tế, mặc dù có thu nhập thấp nhưng

tuổi thọ trung bình của Việt Nam lại cao hơn của thế giới 1 tuổi, cao hơn các nước đang phát triển tới 4

tuổi. Ngoài ra, trên thế giới nhiều nước đang phát triển cũng có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, thu

nhập bình quân cũng ngày càng cao. Mức sống được nâng cao nên tuổi thọ trung bình được nâng cao

đến năm 2006: ở Cuba 77,4 tuổi, ở Chilê 76,8 tuổi và Uruguay 76,3 tuổi.

Sức khỏe của dân cư phụ thuộc vào nhiều yếu tố : Trước hết, phụ thuộc vào khả năng đáp ứng

nhu cầu về lương thực, dinh dưỡng cộng với điều kiện sống, môi trường, nhà ở, điện, nước, chăm sóc

sức khỏe, chủng ngừa, thuốc chữa bệnh, bác sĩ,…Thỏa mãn được những yếu tố trên thì con người sẽ

phát triển về thể chất, tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển.

1.2.4. Giáo dục

Giáo dục thể hiện trình độ học vấn, là chỉ tiêu cơ bản phản ánh mức sống dân cư, mức độ phát

triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia. Trình độ học vấn cao là điều kiện quan trọng để con

người phát triển toàn diện về mặt trí tuệ, góp phần vào sự phát triển của KT - XH và khoa học kỹ thuật.

Người dân có trình độ văn hóa cao và được đào tạo hợp lí có thể sử dụng có hiệu quả các nguồn tài

nguyên, tiếp thu KHKT, công nghệ từ các nước tiên tiến. Qua đó, tạo thu nhập cao và nâng cao chất

lượng cuộc sống của dân.

Thực tế, ở các nước nghèo, khoảng 2/3 số người trưởng thành bị mù chữ trong khi ở các nước

phát triển, tỉ lệ này thường ít hơn 1%. Các nước nghèo cần phát triển mạnh giáo dục nhưng lại gặp trở

ngại lớn là ngân sách không đủ chi cho giáo dục: như chi phí cho đào tạo giáo viên, xây trường, in sách

và các thiết bị dạy học. Ngoài ra sự thiếu giáo viên cũng cho thấy việc đào tạo không kịp với sự gia

tăng quá nhanh của dân số. Tỉ lệ giáo viên trên số học sinh trong độ tuổi đi học ở các nước phát triển

thường lớn hơn 25 đến 35 lần so với các nước kém phát triển. Ở Đan Mạch, vào giữa thập niên 90 của

thế kỷ XX, tỉ lệ này là 1/12, trong khi ở Burkina Faso là 1/270. Tỉ lệ này cũng có sự khác biệt ngay

trong các nước được xem là có nền kinh tế phát triển. Chẳng hạn giữa Qutar và Ả Rập Saudi, thì tỉ lệ

giáo viên trên số dân trong độ tuổi đi học có sự chênh nhau rất rõ giữa 1/11 với 1/30. Tỉ lệ này ở Israel

cũng cao hơn các nước giàu khác như Mỹ, Thụy Sĩ.

Chỉ tiêu giáo dục của mỗi quốc gia được thể hiện ở ngân sách đầu tư cho giáo dục tính theo

tổng chi ngân sách. Theo đánh giá của LHQ, trình độ học vấn là một trong ba thành phần cơ bản có

liên quan đến sự phát triển con người gồm: tỉ lệ người lớn biết chữ, số năm đến trường, tỉ lệ nhập học ở

các cấp.

- Tỉ lệ người lớn biết chữ: là tỉ lệ % số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc , biết viết.

Quân sự (2005)

Bảng 1.11. Mức chi tiêu ngân sách cho y tế, giáo dục, quân sự ở một số nước trên thế giới và Việt Nam Giáo dục

Y tế (2004)

Nước

1. Trung Quốc 2. Ấn Độ

1,8 0,9

(2002 - 2005) 1,9 3,8

2,0 2,8

3. Indonesia

1,6

0,9

1,2

4. Hàn Quốc

2,9

4,6

2,6

5. Malaixia

2,2

6,2

2,4

6. Phlippin

1,4

2,7

0,9

7. Singapore

1,3

3,7

4,7

8. Thái Lan

2,3

1,1

9. Việt Nam

1,5

4,2 5,6%4

?

4 Báo cáo của Bộ Giáo dục - Đào tạo (2007) cho biết chi giáo dục từ Ngân sách nhà nước tính theo GDP là 5,6% (năm 2006)

HDR của UNDP 2007 Chú ý: Trong các công bố chính thức của thế giới, Việt Nam không được ghi.

- Tỉ lệ nhập học ở các cấp: tỉ lệ giữa số học sinh và dân số ở trong độ tuổi từng cấp học (mẫu

giáo, tiểu học, trung học, đại học). Tỉ số này cho thấy mức độ phát triển giáo dục của từng cấp học.

- Số năm đến trường: là số năm trung bình đến trường

Ngoài những chỉ tiêu chính trên còn có những chỉ tiêu khác như: số học sinh trung bình trong

một lớp, chỉ tiêu số học sinh trung bình trên một giáo viên,…

Thông thường các nước kinh tế phát triển chú ý đầu tư cho giáo dục, còn các nước đang phát mức đầu

tư cho giáo dục còn rất hạn chế. Sự chênh lệch rất lớn về giáo dục giữa các quốc gia, các quốc gia có tỉ người

lớn biết chữ cao tới 92,5% như: Hàn Quốc, Singapore, 96% là Philippin, trong khi Ấn Độ chỉ 61%. Chỉ số

giáo dục của Việt Nam tăng cao do tỉ lệ nhập học các cấp: 88% nhập học Tiểu học và 69% nhập học Trung

học cơ sở và phổ cập giáo dục PTTH. Chỉ số giáo dục của Việt Nam cao hơn nhiều nước có chỉ số HDI hạng

trên và cao hơn hẳn các nước có mức thu nhập bình quân đầu người theo PPP.

Ở Singapore, vấn đề giáo dục được chú ý phát triển và tăng cường đầu tư, Thủ tướng Lí Quang

Diệu đã khẳng định “Thắng cuộc đua trong giáo dục sẽ thắng trong kinh tế”, quả thực giáo dục luôn

là một vấn đề hết sức quan trọng mà bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển theo kịp trình độ của thế

giới đều cần phải chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.

Nước

Tỉ lệ nhập học cấp 1 (%)

Tỉ lệ nhập học trung học (%)

Học xong lớp 5 (%)

Biết chữ thanh niên 15-24 tuổi (%)

Biết chữ người lớn từ 15+ tuổi (%)

Số sinh viên học các trường kỹ thuật, khoa học trong tổng sinh viên (%)

Bảng 1.12. Một số chỉ tiêu chủ yếu về giáo dục Việt Nam và một số nước châu Á

1. Trung Quốc 2. Ấn Độ 3. Inđônêxia 4. Hàn Quốc 5. Malaysia 6. Philipin 7. Singapore 8. Thái Lan 9. Việt Nam 90,9 61 90,4 92,5 88,7 92,6 92,5 92,6 90,3 98,9 76,4 98,7 99,5 97,2 95,1 99,5 98 93,9 - 89 96 - 95 94 - 88 88 - - 58 - 76 61 - 64 69 86 73 89 - 98 75 - - 87 - 22 x - 40 27 - - 20 Nguồn: HDR của UNDP 2007

1.2.5. Nhà ở và tình hình sử dụng điện nước

Nhu cầu về nhà ở, điện nước luôn là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống. Nhà ở, điện nước

luôn là mối quan tâm của người dân và các cấp lãnh đạo.

Nhà ở là vấn đề bức xúc của nhiều quốc gia, kể cả các nước giàu có, nhưng nó là vấn đề đặc

biệt nghiêm trọng đối với các nước đang phát triển. Chẳng hạn TP. Bombay ở Ấn Độ có khoảng 0,5

triệu người sống trong các căn hộ tồi tàn, rách nát, 100 nghìn người vô gia cư. LHQ ước tính trên thế

giới có khoảng 1 tỉ người không có nhà ở đúng nghĩa. Đây là một vấn đề hết sức nan giải khi mà việc

đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh, khó kiểm soát. Nhu cầu nhà ở được tính bằng diện tích m2/người, chất lượng nhà được phân làm 3 loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà tạm.

Tình hình sử dụng điện, nước căn cứ trên tỉ lệ % dân cư có khả năng sử dụng điện và có khả

năng sử dụng nước sạch vào các mục đích ăn, uống, nấu nướng và vệ sinh cá nhân. Giữa điện và nước

sạch thì chỉ tiêu nước sạch được coi là quan trọng hơn vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu về sức

khỏe và vệ sinh.

Hiện nay, vấn đề nước cho sinh hoạt luôn là vấn đề quan tâm lớn đối với các nước, bởi khi mà

kinh tế phát triển mạnh thì đi kèm với nó là mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường mà môi trường nước

là không thể tránh khỏi. Qua khảo sát ở hạ lưu sông Chao Phaya (Thái Lan), lượng vi khuẩn côli hình

que lên tới 705.000/1lít nước nên nước không thể dùng trong sinh hoạt được. Hầu hết, các dòng sông ở

các đô thị lớn đều bị ô nhiễm. Nhiều người không được sử dụng nước sạch trong sinh hoạt. Ngay cả

dân cư đô thi Việt Nam cũng chỉ có khoảng 60% được sử dụng nước máy.

1.2.6. Mức độ hưởng thụ văn hóa, tinh thần

Con người sống trong xã hội không chỉ cần đáp ứng những nhu cầu về vật chất, mà cần đáp ứng

cả các nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu hưởng thụ của con người về mặt văn hóa, tinh thần và được sống

trong môi trường trong lành, an bình. Nhu cầu về tinh thần của con người ngày càng đa dạng và phát

triển theo thời gian và mang tính khác biệt theo không gian. Tuy nhiên, có thể dùng tiêu chí chung để

đánh giá mức độ hưởng thụ cao hay thấp. Đó là những tiêu chí như: số thư viện, số đầu sách, số lần

xem biểu diễn văn hóa nghệ thuật, số người tham gia tập luyện thể thao, các hoạt động đi nghỉ mát, du

lịch… Đó chính là những tiêu chí cơ bản để có thể đánh giá văn hóa tinh thần của người dân.

1.2.7. Môi trường sống

Chất lượng cuộc sống của con người cao hay thấp còn không chỉ là có thu nhập cao, có học vấn

rộng và sống lâu, mà còn thể hiện cuộc sống con người sống có hạnh phúc, vui vẻ trong môi trường

sống an toàn, lành mạnh, trong lành hay không. Để con người có thể hưởng thụ những thành quả lao

động, có cơ hội nâng cao mức sống được làm việc trong xã hội an lành, cảm giác an toàn thoải mái,

trong môi trường tự nhiên trong lành, sạch sẽ, không ô nhiễm,…

Con người được sống trong môi trường tốt được xã hội chăm lo tạo điều kiện vật chất, tinh thần,

họ sẽ an tâm làm việc, cống hiến trong xã hội và tạo điều kiện cho xã hội phát triển. Như vậy, CLCS

cần được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau trong tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống vật chất

tinh thần ngày càng cao cho các thành viên trong xã hội.

* Nhận định về mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư.

Các chỉ tiêu của CLCS có một sự tác động qua lại với nhau, Chỉ tiêu về lương thực thực phẩm,

dinh dưỡng được đảm bảo đầy đủ là yếu tố tiền đề cho việc đảm bảo sức khỏe tốt cho dân cư. Dân cư

có sức khỏe tốt là tiền đề cho việc nâng cao dân trí, nâng cao tuổi thọ,… Phần lớn các nước phát triển

có khả năng đảm bảo tốt các chỉ tiêu vật chất thì cũng có khả năng đảm bảo tốt đời sống tinh thần và

tạo môi trường sống tốt cho dân cư.

Tuy nhiên, trong thực tế, có nhiều trường hợp vẫn có sự không đồng nhất giữa thu nhập GDP/

người ở mức cao với chỉ số HDI không cao lắm. Do vậy, cần phải chú ý nâng cao mức sống vật chất

đồng thời với việc chú ý đến nhu cầu vui chơi, giải trí, học hành, nâng cao đời sống tinh thần cho con

người. Các tiêu chí vật chất sẽ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của con người và tạo ra lối sông riêng

cho công đồng dân cư.

Chất lượng cuộc sống dân cư bao gồm tổng thể các chỉ tiêu trong mối quan hệ hữu cơ với

nhau tạo ra một tổng thể chất lượng cuộc sống dân cư. Nên khi nghiên cứu chất lượng dân cư cần phải

đánh giá một cách tổng thể tránh phiến diện, chủ quan dẫn đến nhận định sai và đưa ra những giải pháp

không đúng. Chính vì vậy, cần phân tích chính xác mối quan hệ giữa các bộ phận với nhau, nên cẩn

Phạm Thị Xuân Thọ - Bùi Vũ Thanh Nhật

thận khi đưa ra những biện pháp cụ thể.

CHƯƠNG II

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TỈNH BÌNH THUẬN

2.1. HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

2.1.1. Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ

 Vị trí địa lí Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng lãnh thổ kéo dài dọc theo bờ biển, về mặt hành chính bao gồm các

tỉnh, thành: TP. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận với tổng diện tích 44.366,1 km2, dân số : 9.862,1 ngàn người (2006) chiếm 14,5 % diện tích tự nhiên và dân số chiếm 11,7% dân số cả nước5. Duyên hải Nam Trung Bộ nằm trên trục giao thông xuyên

Việt (kể cả đường bộ, đường sắt và nhiều tuyến đường ngang Đông Tây lên Tây Nguyên, có cảng biển

quốc tế Đà Nẵng giữ vai trò quan trọng để xuất nhập khẩu cho vùng và là cửa ngõ quan trọng ra biển của

nước bạn Lào anh em.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có đường giao thông quan trọng như QL 1A, đường sắt Bắc –

Nam và các QL Đông – Tây nối với Tây Nguyên và Nam Lào, đông bắc Thái Lan, đông bắc

Campuchia. Trong vùng có nhiều địa điểm thuận lợi để xây dựng cảng nước sâu (Liên Chiểu, Tiên Sa,

Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh), gần đường hàng hải quốc tế, cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên.

Trong tương lai, vùng này có nhiều cửa khẩu quan trọng của hệ thống đường Xuyên Á, thuận lợi cho

việc mở rộng quan hệ về mọi mặt với các nước trong khu vực Đông Nam Á và thế giới thông qua hệ

thống đường biển, phát triển các ngành kinh tế biển khác như nuôi trồng và đánh bắt hải sản, làm muối,

khai thác cát thủy tinh, khai thác khoáng sản biển (Titan), mở ra khả năng to lớn hơn cho Duyên hải

Nam Trung Bộ.

Với vị trí địa lí có tính chất trung gian và bản lề như vậy, Duyên hải Nam Trung Bộ có ý nghĩa

chiến lược về giao lưu kinh tế Bắc – Nam và đặc biệt là Đông – Tây, quan hệ chặt chẽ với Tây

Nguyên, với các nước Tiểu vùng sông Mê Kông.

5 Ninh thuận : 3363,1 km2, Dân số :567,9 nghìn người, Bình Thuận: 7836,9 km2. Dân số 1163,0 nghìn người . Dân số 6 tỉnh còn lại là 7131,4 nghìn người và diện tích 33166,1 km2

 Địa hình Về mặt địa hình, phía tây của vùng là dãy Trường Sơn Nam, phía Bắc của vùng có những khối

núi đâm thẳng ra tận bờ biển, phía Nam địa hình có phần thoải hơn và có những đồng bằng hẹp ven

biển. Phía đông, đồng bằng đan xen giữa đồi núi lại có những tài nguyên dưới lòng đất và trên mặt đất.

Một số dãy núi sát biển hình thành những cảng, thuận lợi cho việc phát triển giao thông vận tải với các

vùng trong nước và xuất khẩu.

Ngoài thuận lợi, DHNTB có địa hình phức tạp, chia cắt lớn, hẹp ngang và lại kéo dài. Đại bộ

phận lãnh thổ là đồi núi, sườn phía Đông hướng ra biển địa hình dốc lớn, đồng bằng nhỏ hẹp và bị chia

cắt, sông suối dốc, chảy xiết, thường gây lũ lụt bất ngờ ảnh hưởng đến đời sống và SX của dân cư.

 Khí hậu Vùng DHNTB, có tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa; phía nam vùng này có tính chất khí hậu á xích

đạo, lượng bức xạ cao, biên độ dao động nhiệt độ thấp. Tổng nhiệt lượng trong năm lớn. Lượng mưa

nhìn chung tương đối thấp, trung bình hàng năm khoảng 1200 mm / năm, trong vùng có Ninh Thuận,

Bình Thuận lượng mưa thấp nhất nước, trung bình 700 mm / năm. Cát, nước mặn thường xuyên xâm

lấn vào đất liền do tác dụng của thủy triều và gió bão… Đây cũng là vùng hàng năm thường bị bão, lũ

lụt tàn phá gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đời sống và sản xuất. Do khí hậu không thuận khô

hạn nên một số địa phương chỉ trồng được một vụ lúa một năm, nên đời sống dân cư còn nhiều khó

khăn cả về lương thực, thực phẩm và thiếu cả nước tưới tiêu lẫn nước sinh hoạt ăn uống trong mùa

khô.

 Thủy văn Vùng DHNTB có hệ thống sông suối ngắn và dốc. Các sông chính trong vùng là: sông Thu Bồn,

sông Tam Kì ở Quảng Nam, sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi, sông Ba ở Phú Yên, sông Cái ở Khánh

Hòa,… Nước ngầm có trữ lượng không lớn, phân bố không đều, tập trung nhiều ở phía Bắc. Hiện nay

nước ngầm đang được khai thác quy mô nhỏ phục vụ cho sinh hoạt và SX công nghiệp, một số nguồn

nước suối, nước khoáng, nước nóng được khai thác với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng (nước khoáng

Nha Trang, nước khoáng Hội Vân - Phù Cát – Bình Định và SX nước khoáng giải khát đóng chai như

nước khoáng Vĩnh Hảo – Bình Thuận. Sông ngòi của vùng cũng là nguồn dự trữ thủy năng cho phát

triển thủy điện như : Thủy điện sông Hinh – Phú Yên, thủy điện sông Côn – Bình Định.

Tài nguyên nước mặn, nước lợ là một trong những thế mạnh của vùng, có giá trị cho việc nuôi

trồng thủy sản và công nghiệp muối. Vùng có 670 km đường bờ biển, 23 cửa sông, nhiều hải sản, bãi

tắm và cảng nước sâu thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển. Vùng biển DHNTB có nhiều bãi biển

đẹp thuận lợi cho du lịch phát triển như: Cảnh Dương, Nha Trang, Ninh Chữ (Ninh Thuận),… Ngoài

ra, vùng còn có nhiều bãi bồi đầm phá, có khả năng nuôi trồng hải sản rất lớn. Các cánh đồng muối :

Sa Huỳnh, Ninh Chữ, Cà Ná có khả năng khai thác lớn.

 Đất đai – Động thực vật

Nhóm đất phù sa phân bố chủ yếu dọc các lưu vực sông, phần lớn được sử dụng vào mục đích

nông nghiệp. Đất cát hoặc cát pha ven biển, chất lượng kém, chỉ trồng được một số loại cây hoa màu,

trồng rừng phi lao, bạch đàn chống gió và cát bay ven biển. Nhìn chung, đất vùng DHNTB có độ phì

thấp. Đất nghèo chất dinh dưỡng, lại có địa hình dốc nên nhiều chất dinh dưỡng bị cuốn trôi ra biển.

Diện tích đất NN theo đầu người thấp. Đất chưa sử dụng còn lớn, đất trống, đồi trọc nhiều cần được

trồng rừng phát triển lâm nghiệp. Đây là tiềm năng lớn cần được khai thác trong tương lai.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cũng là một trong những vùng có thế mạnh về rừng. Rừng có trữ

lượng lớn, song hiện đang bị tàn phá, cạn kiệt. Đó là việc khai thác và chế biến các loại gỗ, kết hợp

kinh doanh một số đặc sản như nhựa thông, mây, lá buông, song mây, trầm kì, các loại dược liệu quý

và trồng rừng phòng hộ ven biển. Về động vật rừng, vùng có nhiều loại đặc trưng như voi, bò rừng,

cheo cheo, sóc chân vàng, voọc ngũ sắc, voọc xanh bạc, gà tiền mặt đỏ, gà lôi hồng tía, trăn gấm. Do

khí hậu đa dạng nên động vật có thành phần phong phú và cũng có những dạng đặc hữu. Ở đây có

đồng bằng, đầm bãi ven biển nên khu hệ chim nước, chim di cư, chim biển, các loại bò sát, nhất là họ

rắn biển, họ rùa, họ vích phong phú.

Nguồn động thực vật biển của vùng DHNTB cũng rất phong phú và đa dạng. Vùng biển ở đây có

nhiều loài cá có giá trị. Ở tầng nổi có cá trích, cá nục, cá mòi, cá nhồng; ở tầng trung có cá thu (độ sâu

21m), cá chim và ở tầng đáy có cá hồng, cá phèn, cá mối, cá mập, tôm hùm. Trong các đầm phá ven bờ,

ngoài những thuận lợi cho việc sinh sản và phát triển của tôm, cá, đây còn là điều kiện tốt cho việc nuôi

trồng các loại rong biển.

 Khoáng sản Khoáng sản vùng DHNTB khá phong phú. Các loại khoáng sản chủ yếu là graphít, thạch anh,

vàng, chì, kẽm, các loại đá ngọc, đá quý, đá ốp lát, đá xây dựng, nhưng trữ lượng không lớn, khó khăn

cho việc đầu tư, khai thác công nghiệp.

Đặc biệt, vùng này có mỏ cát ở Cam Ranh với trữ lượng lớn, chất lượng tốt, có ý nghĩa kinh tế.

Cát ở đây được sử dụng để SX và tinh luyện các loại thủy tinh đặc biệt, sử dụng cho công nghiệp và

xây dựng. Ngoài ra, dọc ven biển còn có ti tan với trữ lượng khá lớn, có giá trị công nghiệp.

2.1.2. Các nhân tố KT - XH ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ

 Dân cư

Năm 2006 dân số đô thị vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là 2,720 triệu người chiếm 27,58% dân số toàn vùng. Mật độ dân số 222 người /km2, thấp hơn mật độ trung bình của cả nước. Như vậy, dân cư

của vùng vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn. Điều này cũng sẽ có những tác động nhất định

đến chất lượng cuộc sống dân cư.

Vùng DHNTB cũng là nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, đặc biệt là khu vực phía

Tây của vùng. Đây là những vùng núi, điều kiện giao thông và SX còn khó khăn, chính vì vậy mà kinh

tế của đồng bào dân tộc ở khu vực này còn chậm phát triển, đời sống còn khó khăn. Trong toàn vùng,

dân tộc Chăm sinh sống chủ yếu dọc các vùng ven biển và một số khu vực khác thuận lợi hơn nên đời

sống của họ có phần khá hơn, người Chăm sinh sống chủ yếu ở 2 tỉnh: Ninh Thuận và Bình Thuận.

Vùng DHNTB có khoảng 88% người dân biết chữ, lao động của vùng khá dồi dào và trình độ

tay nghề cũng khá cao.

 Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật của vùng DHNTB khá phát triển. Vùng có các tuyến

đường bộ theo hướng Bắc – Nam và Đông – Tây có chất lượng, được đầu tư xây dựng trong những

năm qua. Do lãnh thổ dài và hẹp nên trục đường QL 1A, đường sắt Bắc – Nam và các thành phố, thị xã

nằm dọc theo các trục đường này tạo thành trục kinh tế xương sống của vùng. QL 1A và đường sắt Bắc

– Nam đã và đang được nâng cấp, hiện đại hoá, giúp đẩy mạnh sự giao lưu giữa DHNTB với các cực

phát triển của cả nước là Đồng bằng sông Hồng (ở phía Bắc) và Đông Nam Bộ (ở phía Nam). Hệ thống

sân bay của vùng đã được khôi phục, hiện đại, gồm sân bay quốc tế Đà Nẵng và các sân bay trong

nước Vinh, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang. DHNTB là khu vực thuận lợi nhất của nước ta để xây dựng

các cảng nước sâu. Đây là lợi thế của vùng để phát triển nền kinh tế mở. Hiện nay, hệ thống cảng biển

trong vùng đang được nâng cấp, trong đó có cảng quốc tế Đà Nẵng, các cảng Quy Nhơn, Phú Yên, Nha

Trang. Các cảng nước sâu đã, đang và sẽ xây dựng là Tiên Sa (Đà Nẵng), Quy Nhơn (Bình Định),

Vũng Rô (Phú Yên), Dung Quất (Quảng Ngãi),…

Dự án đường Hồ Chí Minh nhằm hiện đại hoá các tuyến đường xuyên Trường Sơn, nối với đường

QL 1A bằng các tuyến đường ngang theo hướng Đông – Tây, trong đó có các tuyến đường sang Lào, lên

Tây Nguyên, nối các vùng khai thác với các cơ sở chế biến và các cảng xuất khẩu, làm cho sự phân công

lao động theo lãnh thổ được phát triển ngày một hoàn chỉnh hơn. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin liên

lạc, điện, nước cũng như là các cơ sở vật chất kĩ thuật như nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở chế biến, nhà

nghỉ, khách sạn được đầu tư xây dựng và nâng cấp trong những năm qua.

 Đường lối chính sách phát triển KT - XH

Trong quá trình phát triển KT - XH thì đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là rất quan

trọng, là định hướng cho quá trình phát triển KT - XH của các vùng kinh tế cũng như các địa phương

trong cả nước. Vùng tập trung đẩy mạnh khai thác các lợi thế do biển mang lại cũng như chú trọng đến

việc khai thác các tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây. Trong những năm vừa qua, đường lối – chính

sách của Nhà nước và của các địa phương trong vùng tập trung thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước,

nhất là phát triển những ngành thế mạnh nhằm tạo ra một sức bật lớn cho sự phát triển KT - XH của

vùng. Bên cạnh đó, vùng cũng rất chú trọng đến việc thu hút nguồn lao động có chất lượng từ các nơi

về đây để xây dựng, phát triển kinh tế vùng DHNTB.

 Kinh tế

Kinh tế của vùng đã có những bước phát triển mạnh trong những năm vừa qua. Trong vùng đã nổi lên

2 cực tăng trưởng, phát triển mạnh là: Đà Nẵng ở phía Bắc và Khánh Hòa ở phía Nam, bên cạnh đó còn có

Bình Định với Quy Nhơn là một trung tâm kinh tế phát triển mạnh trong thời gian gần đây. Đặc biệt, trong

vùng, hiện nay đang xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) và Khu kinh tế mở Chu Lai

(Quảng Nam). Trong tương lai với sự phát triển mạnh của các trung tâm này cũng như các ngành công

nghiệp mũi nhọn sẽ tạo ra những đóng góp đáng kể cho GDP trong toàn vùng cũng như cả nước và sẽ nâng

cao chất lượng cuộc sống người dân ở vùng này trong những năm tới.

Cơ cấu kinh tế của vùng đang chuyển dịch theo hướng tích cực với việc tăng dần tỉ trọng công

nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông – lâm – ngư nghiệp. Mặc dù, hiện nay tỉ trọng ngành

CN có tăng nhưng so với tiềm năng và yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước thì vùng còn phát

triển kinh tế chậm chạp, đặc biệt ngành CN chiếm tỉ trọng thấp trong cơ cấu giá trị SXCN của cả nước.

Vùng DHNTB có thế mạnh về các ngành CN chế biến nông – lâm – thủy sản, ngành CN khai thác,

SX vật liệu xây dựng, các ngành CN dệt may đòi hỏi nhiều lao động. Thêm vào đó, ngành du lịch của vùng

cũng phát triển rất mạnh với trung tâm là Nha Trang, Đà Nẵng và trung tâm mới nổi lên gần đây là Phan

Thiết. Đây là những thuận lợi cho việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống

người dân trong vùng.

2.1.3. Hiện trạng chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ

 Tỉ lệ hộ nghèo vùng Duyên hải Nam Trung Bộ so với cả nước Bảng 2.1. Tỉ lệ hộ nghèo theo vùng

(Đơn vị: %)

STT

Vùng

1 Đồng bằng sông Hồng 2 Đông Bắc 3 Tây Bắc 4 Bắc Trung Bộ 5 Duyên hải Nam Trung Bộ 6 Tây Nguyên 7 Đông Nam Bộ 8 Đồng bằng sông Cửu Long

Theo chuẩn nghèo LTTP 2004 4.59 9.35 21.81 12.24 7.58 12.30 1.82 5.22

Theo chuẩn nghèo của CP đã qui về giá tháng 1/2004 12.90 23.20 46.10 29.40 21.30 29.20 6.10 15.30

Theo chuẩn nghèo của CP (giá hiện hành) 18.48 29.21 51.93 36.45 27.09 32.87 8.40 20.11

Nguồn: Tổng Cục thống kê 2005

Tỉ lệ hộ nghèo của vùng DHNTB tương đối thấp so với các vùng khác trong cả nước. Theo chuẩn

nghèo mới hiện nay thì tỉ lệ nghèo của vùng DHNTB cao hơn so với vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông

Nam Bộ và ĐBSCL. Nhưng vùng DHNTB có tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn các vùng núi và trung du phía Bắc,

vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, tỉ lệ nghèo như trên cũng phản ánh đúng tình hình phát triển KT - XH

hiện nay ở các vùng. Vùng DHNTB có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế hơn so với các vùng

còn lại. Chính vì vậy, mà tỉ lệ hộ nghèo của vùng thấp hơn so với các vùng khác.

Bảng 2.2. Doanh thu trung bình 1 hộ SX kinh doanh phi nông,

(Đơn vị: Nghìn đồng)

lâm nghiệp, thuỷ sản theo vùng

STT

Vùng

Tây Bắc Bắc Trung Bộ

Tây Nguyên

Chung 40949,2 19281,3 13808,9 17566,6 23104,2 23825,8 61246,7 33281,4

Thành thị 38930,5 38116,6 17961,1 36301,9 33159,6 34600,4 77836,1 39147,0

Nông thôn 41681,6 12552,8 11886,5 12632,8 17129,9 14352,3 39079,4 30699,3

1 Đồng bằng sông Hồng 2 Đông Bắc 3 4 5 Duyên hải Nam Trung Bộ 6 7 Đông Nam Bộ 8 Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: Tổng Cục thống kê – 2005

(Đơn vị:%)

 Thu nhập của dân cư vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Bảng 2.3. Tỉ lệ hộ chia theo cách xử lí rác thải vùng

Chia ra theo cách xử lí rác thải

Khác Chung Có người đến lấy đi

Nguồn: Tổng cục Thống kê 2005

1 Đồng bằng sông Hồng 2 Đông Bắc 3 Tây Bắc 4 Bắc Trung Bộ 5 Duyên hải Nam Trung bộ 6 Tây Nguyên 7 Đông Nam Bộ 8 Đồng bằng sông Cửu Long 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 33,64 13,61 7,40 14,55 24,60 15,73 50,00 11,07 Vứt xuống ao, hồ, sông, suối 5,54 3,04 3,72 3,70 2,63 3,02 2,48 16,80 Vứt ở khu vực gần nhà 34,75 46,70 72,59 40,99 29,48 42,53 20,20 52,28 26,07 36,65 16,29 40,76 43,29 38,72 27,32 19,85

Trong 8 vùng kinh tế hiện nay ở nước ta, vùng DHNTB có thu nhập trung bình 1 hộ SX phi

nông lâm nghiệp, thủy sản là khá cao, cao hơn 1,3 lần so với Bắc Trung Bộ, so với Tây Bắc con số

tương ứng là 1,7 lần (Bảng 2.2).

Vùng DHNTB có nhiều điều kiện rất thuận lợi để phát triển hơn các vùng Đông Bắc và Tây

Bắc, do đó cũng tạo điều kiện cho các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ có chất lượng cuộc sống khá hơn

các vùng khác.

Chung

Điện lưới

Khác

1 Đồng bằng sông Hồng 2 Đông Bắc 3 Tây Bắc 4 Bắc Trung bộ

100,00 100,00 100,00 100,00

99,51 90,94 72,07 97,02

Chia ra theo nguồn sáng Điện ắc quy, máy nổ 0,15 0,21 0,49 0,22

Đèn dầu các loại 0,28 4,75 16,14 2,09

0,06 4,10 11,30 0,67

Bảng 2.4. Tỉ lệ hộ dùng điện chia theo các vùng Đơn vị:%

5 Duyên hải Nam Trung Bộ 6 Tây Nguyên 7 Đông Nam Bộ 8 Đồng bằng sông Cửu Long

100,00 100,00 100,00 100,00

97,29 87,41 96,33 85,66

0,51 1,52 1,54 3,09

2,03 9,22 1,89 11,01

0,17 1,85 0,24 0,24

Nguồn: Tổng cục Thống kê 2005

Về tình hình sử dụng điện, các số liệu thống kê (Bảng 2.4) cũng chỉ ra rằng vùng DHNTB có tỉ

lệ số hộ dân được sử dụng nguồn điện thắp sáng, nguồn nước ăn phục vụ cho sinh hoạt và đời sống và

biện pháp xử lí rác thải hợp vệ sinh là khá cao. Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng trong việc nâng

cao CLCS cho người dân trong vùng. Tỉ lệ dùng điện của vùng DHNTB vào loại cao nhất cả nước, chỉ

đứmg sau ĐBSH. Như vậy, cơ sở năng lượng đảm bảo khá tốt cho dân cư của vùng.

Các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ được đảm bảo mức độ y tế khá cao, cao hơn mức trung

bình của toàn quốc về chỉ tiêu số bác sĩ trên 1 vạn dân, cũng như số lượng y sĩ, y tá và nữ hộ sinh.

Trong vùng có Đà Nẵng và Khánh Hòa, Phú Yên là các tỉnh thành có mức bình quân số cán bộ y tế

trên 1 vạn dân cao. Đây cũng là những vùng có sự phát triển kinh tế cao trong vùng.

Tóm lại : Chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ khá cao so với cả nước

về các chỉ số vật chất và tinh thần. Do các tỉnh này có nhiều lợi thế trong phát triển các ngành kinh tế công

nghiệp, NN và du lịch, dịch vụ, nhất là các ngành kinh tế biển. Đồng thời các tỉnh DHNTB cũng đang

được Nhà nước chú trong đầu tư phát triển KT - XH nhằm nâng cao mức sống, giảm di dân tự do nông

thôn đô thị.

Vùng

Khác

Nước mưa

Suối có lọc

Giếng đất

Nước mưa

Sông hồ, ao

Nước máy riêng

Nguồn nước Giếng khơi, giếng xây

Giếng khoan có bơm

Nước máy công cộng

17,46 1,58 2,26 9,78 3,29 - 7,15 1,35 9,36

0,23 29,62 7,75 0,07 1,05 0,10 19,96

12,21 47,88 23,55 50,07

0,07 0,42 37,89 0,19 0,33 0,85 13,92 2,49 3,43 11,57 6,10 13,98 2,04 5,41 37,43 0,72 7,97 6,11 0,77 3,59

0,41 23,81 2,38 0,13 2,23 34,51

48,85 22,33 10,57

0,28 7,62 - 1,32 1,84 1,49 52,06 1,10 3,62 5,10 0,41 13,47 0,98 1,15 1,05

0,40 24,65

1,29

0,27 0,70 21,13 31,05 0,10

Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ 12,96 2,91 10,04 1,75 Tây Nguyên 30,01 5,62 Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 12,10 8,31 Nguồn: Tổng cục Thống kê 2005

Bảng 2.5. Tỉ lệ hộ chia theo nguồn nước sử dụng của các vùng năm 2006 Đơn vị :%

Bảng 2.6. Mức độ đảm bảo y tế các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2006

(Đơn vị:người)

Bác sĩ / vạn dân Y sĩ

YSĩ / vạn dân Y tá

Y tá / vạn dân

Nữ hộ sinh

Nữ HS/ vạn dân

Bác sĩ

5.6

5

2.2

5.6 46909

18320

47129

41986

5.4 4.4

5.6 5.2

1.7 2.4

4.5 10223 6.6 5529

8141 7000

9866 4655

3053 2608

4941 301 1027 715 666 421 607 373 831

4455 738 668 505 726 435 555 276 552

6.2 9.4 4.5 3.9 4.6 5 4.9 4.9 4.7

6.9 3.8 7.0 5.5 4.3 4.8 5.3 6.6 7.1

4813 650 874 603 916 389 653 195 533

6.7 8.2 5.9 4.7 5.8 4.5 5.8 3.4 4.6

2290 251 492 344 264 214 294 126 305

3.2 3.2 3.3 2.7 1.7 2.5 2.6 2.2 2.6

TỔNG SỐ Đồng bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên Khánh Hòa Ninh Thuận Bình Thuận Nguồn: Xử lí của tác giả từ Niên giám thống kê 2007

Phạm Thị Xuân Thọ - Bùi Vũ Thanh Nhật

t ậ h N h n a h T ũ V

i ù B - ọ h T n â u X

ị h T m ạ h P

2.2. HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH BÌNH THUẬN

2.2.1. Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Thuận

2.2.1.1 Vị trí địa lí

Bình Thuận là tỉnh nằm ở cực nam Trung Bộ có hệ tọa độ địa lí từ 100 33’42’’ đến 11033’18’’ vĩ độ Bắc và từ 107023’41’’ đến 108052’42’’ kinh độ Đông. Tỉnh nằm trong khu vực ảnh hưởng của địa

bàn kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh Bình Thuận giáp Lâm Đồng và Ninh Thuận, Đồng Nai và Bà

Rịa - Vũng Tàu, Đông và Đông Nam giáp Biển Đông, bờ biển dài 192 km. Ngoài khơi có đảo Phú Quý

cách TP. Phan Thiết 120 km. Bình Thuận cách TP. Hồ Chí Minh 200 km, cách TP. Nha Trang 250 km,

có QL 1A, đường sắt Thống Nhất chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam đất

nước; QL 28 nối liền TP. Phan Thiết với các tỉnh nam Tây Nguyên; QL 55 nối liền với trung tâm dịch

vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu.

Bảng 2.7. Diện tích và dân số tỉnh Bình Thuận năm 2006

Mật độ dân số (người/km2) Số xã Diện tích (km2)

Nguồn : Niên giám thống kê, Bình Thuận 2006 Với vị trí địa lí thuận lợi tạo mối quan hệ kinh tế với địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình

Số phường, thị trấn 29 14 5 2 1 2 1 1 2 1 7.830 206 183 793 1.825 1.283 1.052 1.174 535 761 18 Dân số trung bình năm 2006 (người) 1.165.599 209.473 103.208 137.608 121.314 161.799 94.994 103.072 137.616 72.187 24.328 149 1.017 564 174 66 126 90 88 257 95 1.352 TỔNG SỐ Phan Thiết La Gi Tuy Phong Bắc Bình Hàm Thuận Bắc Hàm Thuận Nam Tánh Linh Đức Linh Hàm Tân Phú Quý 97 4 4 10 17 15 12 13 11 8 3

Thuận còn có điều kiện mở rộng quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên và cả

nước. Sức hút của các TP. và trung tâm phát triển như TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Nha Trang tạo

điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh SX hàng hóa, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật. Đồng thời cũng là một

thách thức lớn đặt ra cho Bình Thuận phải phát triển kinh tế nhanh nhất là những lĩnh vực, những sản

phẩm đặc thù như nguồn lợi biển để mở rộng liên kết, không bị tụt hậu so với khu vực và cả nước. Tỉnh Bình Thuận có diện tích là 7.830 km2 với dân số 1.165.599 người (2006). Tỉnh có 10 đơn vị hành

chính, trung tâm hành chính là TP. Phan Thiết. Toàn tỉnh có 97 xã, 19 phường, 10 thị trấn (Bảng 2.7).

2.2.1.2. Địa hình Phần lớn địa hình tỉnh Bình Thuận là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, phân hóa thành

4 dạng địa hình sau:

- Đồi cát và cồn cát ven biển, chủ yếu là những đồi lượn sóng chiếm khoảng 19% diện tích tự

nhiên, phân bố ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân; rộng nhất là ở Bắc Bình: dài khoảng 52 km, rộng

20 km. Địa hình bờ biển Bình Thuận đẹp thơ mộng có nhiều cảnh quan đẹp như mũi Né, mũi Khe Gà,

Suối Tiên, Hòn Rơm,… rất thuận lợi cho phát triển du lịch, tăng thu nhập nâng cao CLCS dân cư Bình

Thuận.

- Đồng bằng phù sa chiếm gần 10% diện tích tự nhiên, gồm: đồng bằng phù sa ven biển ở các

lưu vực từ sông Lòng Sông đến sông Dinh nhỏ hẹp độ cao từ 0 – 12 m. Đồng bằng thung lũng sông La

Ngà, độ cao từ 90 - 120 m.

- Vùng đồi gò chiếm hơn 31% diện tích, độ cao 30 - 50 m kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây

Nam từ Tuy Phong đến Đức Linh.

- Vùng núi thấp chiếm hơn 40 % diện tích, đây là những dãy núi của khối Trường Sơn Nam

chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam từ phía bắc huyện Bắc Bình đến Đông Bắc huyện Đức Linh.

Nhìn chung, địa hình tỉnh Bình Thuận có thể phát triển các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp,

ngư nghiệp và du lịch. Nhưng điều kiện tự nhiên Bình Thuận cũng như các tỉnh DHNTB không thuận

lợi cho phát triển NN do diện tích đất phù sa ít, chủ yếu là đất cát pha, lại có độ cao tương đối lớn.

2.2.1.3. Khí hậu

Bình Thuận nằm trong khu vực có vùng khô hạn nhất cả nước, nhiều nắng, gió không có mùa đông, nhiệt độ trung bình năm 26,50C - 27,50C, tổng nhiệt độ năm 6.8000c - 9.9000c lượng mưa trung

bình 800 – 1600 mm/năm, thấp hơn trung bình cả nước. Thuận lợi cho phơi sấy nông sản, hải sản và

SX muối, thuận lợi cho phát triển du lịch. Vấn đề khô hạn là một trong những hạn chế trong phát triển

NN và sinh hoạt của tỉnh Bình Thuận cần đảm bảo thủy lợi để SX và sinh hoạt.

2.2.1.4. Tài nguyên biển Bình Thuận diện tích lãnh hải 52.000 km2 giàu hải sản; nhiều tiềm năng để phát triển nghề

muối, du lịch và khai thác khoáng sản biển. Tổng trữ lượng cá vùng biển ven bờ của Bình Thuận 220 -

240 nghìn tấn, khả năng khai thác 100 - 120 nghìn tấn/năm tập trung ở 3 ngư trường Phan Thiết, Hàm

Tân, đảo Phú Quý, sản lượng mực 10 nghìn - 20.nghìn tấn, sò điệp trữ lượng 50 nghìn tấn, khả năng

khai thác hàng năm 25 - 30 nghìn tấn, tập trung ở các bãi Lai Khê, Hòn Rơm, Cù Lao Câu, Phan Rí

Cửa.

Vùng ven biển Bình Thuận còn có nhiều khả năng nuôi trồng thủy sản, nghề làm muối và du

lịch: toàn tỉnh có trên 3.000 ha mặt nước triều có thể đưa vào nuôi tôm, làm ruộng muối. Trong đó,

diện tích có khả năng nuôi tôm là 1.500 ha, tập trung ở Tuy Phong (575ha), Bắc Bình (50ha), Phan

Thiết (115ha), Hàm Thuận Nam (360ha), Hàm Tân (340ha). Khả năng diện tích phát triển ruộng muối

2.000 ha tại Tuy Phong, Phan Thiết, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân. Ngoài ra, còn có gần 1.000 ha mặt

nước hồ, đầm và các công trình thủy lợi có khả năng nuôi cá nước ngọt.

Bình Thuận bãi biển nước trong, cát trắng mịn như Phan Thiết - Mũi Né, Đồi Dương (Hàm

Tân), Mũi Điện - Kê Gà (Hàm Thuận Nam) phong cảnh đẹp, thuận lợi để phát triển du lịch, tạo công

ăn việc làm, tăng thu nhập nâng cao CLCS dân cư.

2.2.1.5. Tài nguyên đất Diện tích tỉnh Bình Thuận là 783.047 ha, với các nhóm đất khác nhau:

- Đất cát, cồn cát và đất mặn phân bố dọc bờ biển từ nam Tuy Phong đến Hàm Tân, có thể phát

triển nông lâm kết hợp: trồng rừng, kết hợp trồng cây ăn quả và các loại hoa màu như dưa, đậu các

loại… Trên đất mặn có thể làm muối hoặc nuôi tôm.

- Đất phù sa phân bố ở các đồng bằng ven biển và thung lũng sông La Ngà. Hầu hết diện tích

đất này đã được trồng lúa nước, hoa màu, cây ăn quả…

- Đất xám có phân bố hầu hết trên địa bàn tỉnh có khả năng sử dụng vào nông, lâm nghiệp và sử

dụng để xây dựng các khu CN. Trong đó, 85% diện tích có thể phát triển cây điều, cao su, cây ăn quả

và các loại cây có giá trị kinh tế cao.

- Diện tích còn lại chủ yếu là nhóm đất đồi núi, đất đỏ vàng, đất nâu vùng bán khô hạn…Trên

các loại đất này có thể sử dụng vào các mục đích nông lâm nghiệp.

- Trong quá trình khai thác sử dụng các loại đất ở Bình Thuận cần cải tạo và bảo vệ đất như:

trồng rừng phòng hộ chống cát bay ven biển, cải tạo xây dựng đồng ruộng, bảo vệ nghiêm ngặt rừng

đầu nguồn. Xây dựng cơ cấu cây trồng và chế độ canh tác hợp lí theo không gian nhiều tầng phù hợp

với từng tiểu vùng sinh thái.

Năm 2005, đất SX NN khoảng 283.950 ha, đất lâm nghiệp 393.840,18 ha; đất thổ cư, chuyên

dùng 230.600 ha, đất chưa sử dụng 57.961,43 ha (7,4% tổng diện tích đất); trong đó đất có khả năng mở rộng để phát triển NN thời kỳ 2006 - 2010 khoảng 37.000 ha, chủ yếu là đất có độ dốc trên 150,

Khi khai hoang cần đầu tư đồng bộ, nước và thâm canh ngay từ đầu để sử dụng đất lâu bền và có hiệu

quả.

2.2.1.6. Tài nguyên rừng

Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 393.840,18 ha (2005), trong đó rừng tự nhiên là 345.497 ha. Tổng trữ lượng gỗ khoảng 21 – 22 triệu m3. Rừng tự nhiên của Bình Thuận khá đa dạng và phong phú với nhiều

loại gỗ quý có giá trị kinh tế cao: cẩm lai, giáng hương, gõ đỏ, sao đen, trắc,… Rừng tự nhiên chủ yếu là rừng gỗ lá rộng (23,76 triệu m3), rừng lá kim (334,4 ngàn m3), rừng hỗn giao và rừng đặc sản. Trữ lượng rừng tự

nhiên tập trung nhiều nhất ở Tánh Linh (32,1%) tiếp đến là Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam.

Nhìn chung, tổng trữ lượng rừng còn khá lớn nhưng phần lớn ở trạng thái nghèo kiệt, rừng non

cây nhỏ và chất lượng không cao. Động vật rừng Bình Thuận rất phong phú với các loài thú quý hiếm

như voi, cọp, nai, vượn, bò rừng… Rừng được khai thác và chế biến lâm sản, phát triển du lịch là

nguồn sống của bộ phận khá lớn dân cư các huyện Tánh Linh, Bắc Bình, Đức Linh... Tuy nhiên, do

khai thác quá mức nên rừng đang có nguy cơ cạn kiệt, thú rừng bị săn bắn bừa bãi nên số lượng còn rất

ít hoặc không còn. ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, gây ra gây lũ lụt. Do vậy, Bình Thuận cần

khôi phục lại vốn rừng nhằm đảm bảo cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho một bộ phận dân

cư ven rừng đồng thời bảo vệ môi trường.

2.2.1.7. Tài nguyên nước và thủy điện

Bình Thuận có 7 lưu vực sông chính là: sông Lòng Sông, sông Lũy, sông Cái ở Phan Thiết, sông Cà Ty, sông Phan, sông Dinh và sông La Ngà. Tổng diện tích lưu vực 9.880 km2 và chiều dài sông suối 663 km. Nguồn nước mặt nước của tỉnh khoảng 5,4 tỉ m3/ năm, trong đó lượng dòng chảy từ bên ngoài đến 1,25 tỉ m3, riêng sông La Ngà chiếm 2,1 tỉ m3. Nguồn nước phân bố mất cân đối theo

không gian và thời gian. Lưu vực sông La Ngà thừa nước thường gây ngập úng; nhưng vùng Tuy

Phong, Bắc Bình, ven biển (lưu vực sông Phan, sông Dinh) lại thiếu nước trầm trọng, có những nơi

như Tuy Phong, Bắc Bình, có dấu hiệu tình trạng hoang mạc hóa. Nguồn nước ngầm ít, bị nhiễm mặn,

phèn rất ít có khả năng phục vụ nhu cầu SX, chỉ đáp ứng được phần nhỏ cho sinh họat và SX trên một

số vùng nhỏ thuộc Phan Thiết và sông La Ngà.

Nguồn thủy năng khá lớn, tổng trữ năng lí thuyết khoảng 450.000 kw, tập trung chủ yếu trên

sông La Ngà. Riêng 4 bậc thủy điện La Ngà với công suất lắp máy 417.000kw, sản lượng điện dự kiến

khai thác 1,8 tỉ kwh. Khả năng khai thác nguồn thủy năng trên các lưu vực từ sông Dinh đến sông

Lòng Sông rất nhỏ, chủ yếu là các công trình thủy điện nhỏ (15 công trình) với công suất lắp máy

1.900 kw.

Tài nguyên nước ít gây khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu SX va2d9o7i2 sống. Ở nhiều

vùng người dân thiếu nước sinh hoạt, phải sử dụng những nguồn nước dơ hay phải mua nước sạch với

rất đắt. Điều này cũng gây ra những tác động lớn đến CLCS dân cư. Nhưng hệ thống thủy điện: Hàm

Thuận - Đa Mi, các công trình thủy lợi phục vụ NN như: hồ Sông Quao, hồ Cà Giây góp phần phát

triển SX, nâng cao CLCS.

2.2.1.8. Tài nguyên khoáng sản

Bình Thuận có gần 100 mỏ với 30 nhóm khoáng sản đa dạng như: vàng, chì, kẽm, nước

khoáng. Trong đó, nước khoáng và các khoáng sản (sét, đá xây dựng…) có giá trị thương mại và CN

đang khai thác khá nhiều trong những năm gần đây:

+ Cát thủy tinh: có 17 điểm phân bố dọc vùng duyên hải từ Hàm Thuận đến Tuy Phong. Hiện

nay, loại cát này đang được khai thác ở mỏ Hồng Liêm.

+ Đá ốp lát và đá xây dựng: rất phong phú, chất lượng cao, đẹp dùng để ốp lát xuất khẩu và

nhu cầu trong nước. Hiện tại, đang khai thác đá xây dựng ở mỏ Tà Zôn, Núi Nạng, Núi Đất, Tân Hà, Núi Nhọn. Sản lượng năm 2000 đạt 346.000 m3.

+ Sét gạch ngói được tập trung khai thác ở Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Đức Linh với sản

lượng 155 triệu viên (2000).

+ Nước khoáng đang được khai thác ở Vĩnh Hảo (công suất 30 triệu lít/năm) và Đa Kai (công

suất 25 triệu lít/năm). Những loại khoáng sản trên chủ yếu phân bố ở những vùng thiếu đường giao

thông. Để khai thác những khoáng sản này, cần phải đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khá lớn, làm cho

giá thành sản phẩm lên cao. Vì vậy, khó hấp dẫn các nhà đầu tư.

2.2.2. Nhân tố dân cư, KT - XH

2.2.2.1. Dân cư  Sự gia tăng dân số

Bình Thuận là tỉnh NN với thế mạnh ngư nghiệp, quan niệm của nhân dân còn lạc hậu, mong

muốn nhiều con, nhất là con trai. Mặt khác, tỉnh có nhiều dân tộc ít người dân trí thấp, nên tỉ suất sinh

và tỉ suất tăng dân số tự nhiên còn cao.

 Tỉ suất sinh thô

Bảng 2.8 cho thấy tỉ suất sinh thô vẫn còn cao từ 1999 - 2002, trung bình khoảng 21,50/00, nhưng từ 2003 - 2006 tỉ suất sinh thô giảm rõ rệt trung bình còn khoảng 19,20/00/năm. Kết quả này đạt

được nhờ vào việc tuyên truyền KHHGĐ cho người dân, nâng cao hiểu biết về dân số KHHGĐ, đặc

biệt là đối với dân tộc ít người.

Đơn vị: 0/00

Bảng 2.8. Tỉ suất sinh thô tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2006

2000 2003 2002 2005 2001 2004

1999 2006 Năm 21,86 22,24 21,41 20,74 20,05 19,41 19,02 18,50 Toàn tỉnh Thành thị 17,10 17,50 17,04 16,76 16,42 16,15 16,09 15,67 Nông thôn 23,92 24,33 23,34 22,71 21,83 21,15 20,78 20,20 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận

Tỉ suất sinh của Bình Thuận thấp hơn mức trung bình cả nước, nhưng so với nhiều địa phương

khác còn tương đối cao. Trong tỉnh, các địa phương vùng sâu, vùng xa có tỉ suất sinh cao hơn, chẳng

hạn: huyện Hàm Thuận Bắc có các xã như Đông Giang, Đông Tiến, La Dạ - là những xã miền núi của

tỉnh, đông đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, nên việc phổ biến các chủ trương chính sách

của nhà nước cũng như việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, tỉ

suất sinh tương đối cao gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế, nâng cao CLCS dân cư những nơi

này. Ngược lại những địa phương ở vùng đồng bằng tỉ suất sinh thấp hơn như: Phan Thiết trung tâm

kinh tế, chính trị của tỉnh, nơi có trình độ dân trí cao và phát triển khá mạnh về kinh tế thì tỉ suất sinh

thấp hơn nhiều, CLCS cao hơn.

Tỉ suất sinh có sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn trong tỉnh do nông thôn còn mang nặng

tư tưởng truyền thống “trời sinh voi, sinh cỏ”, mong muốn có con trai nên tỉ suất sinh cao hơn thành thị

của tỉnh, ảnh hưởng SX và đời sống, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho sự chênh lệch

CLCS giữa thành thị và nông thôn.

Những năm gần đây, tỉ lệ sinh ở khu vực nông thôn giảm đi, nhưng vẫn còn ở mức cao hơn

thành thị. Do vậy, cần tích cực giảm tỉ lệ sinh xuống để có điều kiện nâng cao CLCS dân cư. Tỉ suất

sinh phụ thuộc vào rất nhiều vào độ tuổi, trình độ dân trí, điều kiện xã hội, phong tục tập quán. Nên

cần phân tích nguyên nhân để đưa ra những biện pháp giải quyết đồng bộ và đúng đắn nhằm tạo ra hiệu

quả tốt nhất.

 Tỉ suất tử

Tỉ suất tử ở Bình Thuận thấp hơn so với mức trung bình của cả nước và nhiều vùng khác trong nước, như đồng bằng sông Hồng (5,60/00 năm 2006), DHNTB (4,9 0/00). Tỉ suất tử của tỉnh luôn thấp hơn 50/00, tỉ suất tử thô chỉ dao động trong khoảng từ 4,10/00 đến 4,50/00. Tỉ suất tử thô có sự khác nhau

giữa khu vực thành thị và nông thôn. Vùng sâu, vùng xa tỉ suất tử cao, mặc dù mạng lưới y tế tuyến

huyện, tuyến xã có sự tiến bộ đáng kể, song vẫn còn mỏng và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người

dân việc chăm sóc y tế cũng gặp không ít khó khăn.

Bảng 2.9. Tỉ suất tử thô tỉnh Bình Thuận theo thành thị và nông thôn

Đơn vị:%o

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Thuận, 2006

Năm Toàn tỉnh Thành thị Nông thôn 1999 4,83 4,25 5,08 2000 4,62 4,06 4,87 2001 4,55 4,01 4,79 2002 4,50 3,99 4,75 2003 4,48 3,97 4,73 2004 4,47 3,96 4,72 2005 4,45 3,95 4,75 2006 4,42 3,97 4,70

Tỉ suất tử vong trẻ em ở nhóm dưới 1 tuổi và 5 tuổi giảm đáng kể trong những năm gần đây.

Các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được thực hiện trong toàn tỉnh. Do ngành y tế

tỉnh có nhiều nỗ lực để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân. Mức tử vong của tỉnh đã

phần nào phản ánh CLCS dân cư.

 Gia tăng dân số tự nhiên

Bảng 2.10. Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên của tỉnh qua các năm

(Đơn vị:%)

Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Thuận, 2006

1,7 1,76 1,69 1,62 1,56 1,49 1,46 1,41 Tỉ suất tăng dân số tự nhiên

Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên của Bình Thuận đã giảm đáng kể kể từ 1,7% xuống còn 1,41%

giảm được gần 0,3%. Đây là kết quả của công tác dân số và KHHGĐ của tỉnh Bình Thuận. Tuy vậy, tỉ

lệ gia tăng tự nhiên toàn tỉnh vẫn ở mức cao, cao hơn mức trung bình của cả nước (1,26% năm 2006).

Biểu đồ 2: Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên tỉnh Bình Thuận

%

2.5

2

1.5

1

0.5

0

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

Năm

Tỉ lệ tử

Tỉ lệ sinh

Tỉ lệ tăng tự nhiên

Ở các địa phương miền núi tỉ lệ sinh cao, gia tăng tự nhiên vẫn còn khá cao. Điều này gây khó

khăn cho việc nâng cao CLCS dân cư. Đối với thành thị, miền đồng bằng như: Phan Thiết, Hàm Tân

thì tỉ suất sinh thấp hơn, gia tăng tự nhiên cũng thấp, vì vậy thuận lợi trong việc CLCS người dân. Vấn

đề quan trọng là Tỉnh cần chú trọng hơn nữa đến những vùng xa xôi còn khó khăn trong phát triển kinh

tế, coi trọng công tác KHHGĐ góp phần cải thiện đời sống người dân.

 Gia tăng cơ giới

Đối với Bình Thuận gia tăng cơ giới không đáng kể, chủ yếu tăng dân số là do gia tăng tự nhiên

quyết định. Tuy nhiên, vừa qua Bình Thuận đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế, đặc biệt là

du lịch và việc xây dựng các khu CN đã thu hút dân cư các tỉnh đến Bình Thuận để lập nghiệp. Nhưng

số lượng người nhập cư vẫn ít.

2.2.2.2. Kết cấu dân số  Kết cấu sinh học

- Kết cấu theo độ tuổi

Dân số Bình Thuận có cơ cấu dân số trẻ: nhóm 0 – 14 tuổi chiếm 35,1%, nhóm dân số trong độ

tuổi lao động chiếm 57,3%, nhóm trên tuổi lao động 7,6%. Sự biến động cơ cấu tuổi của dân số : tỉ lệ

dân số phụ thuộc giảm dần từ 0,85 (1999) xuống 0,81 (2000) và 0,74 (2004).

- Kết cấu dân số theo giới tính

Kết cấu dân số theo giới tính ảnh hưởng đến việc nâng cao mức sống dân cư. Theo thống kê thì

năm 1999 nữ chiếm 50,64% dân số, đến năm 2002 thì dân số nữ chiếm 51,61% và năm 2006 con số

này là 50, 41%. Có thể thấy rằng cơ cấu giới tính của tỉnh đã tiến dần và đạt sự cân bằng hợp lí hơn so

với cơ cấu giới tính trung bình của cả nước. Nhưng tỉ lệ nữ cao, cần chú ý đưa ra những giải pháp tạo

công ăn việc làm phù hợp với nữ giới nhằm tạo thêm thu nhập nâng cao đời sống người dân.

Bảng 2.11. Dân số phân theo giới tính của các địa phương

tỉnh Bình Thuận năm 2006

Đơn vị: Người

TỔNG SỐ

Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận – 2006

Phan Thiết La Gi Tuy Phong Bắc Bình Hàm Thuận Bắc Hàm Thuận Nam Tánh Linh Đức Linh Hàm Tân Phú Quý Tổng số Người 1165599 209473 103208 137608 121314 161799 94994 103072 137616 72187 24328 Phân theo giới tính Nữ (%) Nam (%) 50,4 49,6 51,4 48,6 50,4 49,6 50,6 49,4 50,1 49,9 50,2 49,8 50,4 49,6 49,8 50,2 49,6 50,4 51,0 49,0 49,7 50,3

 Kết cấu dân tộc

Bình Thuận là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc có kinh nghiệm SX và văn hóa riêng.

Các dân tộc ít người sống ở những vùng cao, vùng sâu thì điều kiện phát triển kinh tế cũng như trình

độ dân trí không cao. Điều này cũng có tác động lớn đến CLCS dân cư cũng như việc nâng cao đời

sống của họ. Bình Thuận có 37 dân tộc anh em sinh sống trong đó đông nhất là dân tộc Kinh chiếm

93,04% sinh sống ở tất cả các địa phương trong toàn tỉnh. Dân tộc Chăm chiếm 2,84% tập trung nhiều

ở Bắc Bình, Tuy Phong, đây là dân tộc có trình độ học vấn và trình độ canh tác cao, với một nền văn

minh rực rỡ. Các dân tộc khác như Raglay: 1,21%, Hoa: 1,07%, còn lại 1,84% là các dân tộc anh em

khác. Hiểu rõ các dân tộc để chỉ đạo với những chính sách đúng đắn và kịp thời nhằm nâng cao CLCS

cho người đồng bào dân tộc thiểu số.

 Kết cấu xã hội

- Kết cấu dân số theo lao động

Bình Thuận có lực lượng lao động khá dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho Bình Thuận phát

triển kinh tế, giảm tỉ lệ dân số phụ thuộc và góp phần vào việc nâng cao CLCS cho người dân trong

tỉnh.

Bảng 2.12. Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh Bình Thuận

Năm

1996 1998 1999 2000 2002 2006

Dân số (người) 956.000 1.004.000 1.038.246 1.070.024 1.106.012 1.165.599

Trong tuổi lao động (người) 488.298 515.687 552.783 590.290 611.531 702.782

Tỉ lệ % LĐ so với tổng dân số 51,07 51,36 53,24 55,17 55,29 60,29

Nguồn : Phòng Lao động - Việc làm - Sở LĐTBXH tỉnh Bình Thuận, 2006 Song song với sự gia tăng dân số trong độ tuổi lao động, thì lao động ở nhiều ngành kinh tế

cũng gia tăng đáng kể. Số lượng và tỉ trọng lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản có xu hướng

giảm, tỉ trọng lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng, trong đó, tốc độ ngành

dịch vụ nhanh hơn. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã nâng cao thu nhập và CLCS dân cư. Nhưng tốc

độ phát triển của ngành CN còn chậm chưa đáp ứng được nhu cầu CNH – HĐH, CLCS dân cư dân cư

chưa cao.

Bảng 2.13. Lực lượng lao động trong các ngành kinh tế 1999 - 2006 Đơn vị tính: người, % Dịch vụ lâm ngư Năm Tổng số Công nghiệp - xây dựng % % %

Số lượng 84.168 98.122

Nguồn : Sở LĐTBXH tỉnh Bình Thuận

Số lượng 421.891 46.741 426.613 51.193 482.964 51.106 538.000 59.000 559.000 62.000 1999 2000 2002 2005 2006 Nông nghiệp Số lượng 11,08 290.982 68,97 19,95 12,00 277.298 65,00 23,00 10,58 320.962 66,46 110.896 22,96 11,00 349.000 64,80 130.000 24,20 11,10 358.000 64,00 139.000 24,90

Biểu đồ 3: Cơ cấu lao động tỉnh Bình Thuận 1999 - 2006

100%

90%

19.95

23

22.96

24.2

24.09

80%

70%

60%

50%

68.97

65

66.46

64.8

64

40%

30%

20%

10%

12

11

10.58

11.08

11.01

0%

1999

2000

2002

2005

2006

Công nghiệp Nông, lâm, ngư nghiệp

Dịch vụ

Lao động có việc làm tăng 1,43 lần từ năm 1996: 388.434 người, năm 2006 : 559 nghìn lao

động. Nhưng lao động không có việc làm cũng tăng lên 1,2 lần; tỉ lệ không có việc làm ở thành thị tăng

lên 1,4 lần cao hơn nông thôn, vấn đề lao động việc làm ở khu vực thành thị tỉnh Bình Thuận căng

Lao động trong ngành nông lâm thủy sản giảm dần. Năm 1996 chiếm tỉ trọng 75% đến năm

thẳng hơn vùng nông thôn.

2006 còn 64%. Ngành CN và xây dựng năm 1996 chiếm 8,15% đến năm 2006 lên 11,1% và ngành

dịch vụ cũng tăng lên từ 6, 85% (1996) lên 24,9% (2006). Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề theo

hướng giảm tỉ trọng nông lâm thủy sản sang CN và dịch vụ, tuy chậm nhưng phù hợp với xu hướng

CNH - HĐH.

- Kết cấu theo trình độ văn hóa

Bình Thuận có nhiều cố gắng trong công tác xóa mù chữ và phổ cập tiểu học. Năm 1991 tỉ lệ

người mù chữ là 20,1% giảm xuống còn 18,5% năm 1995 và năm 2000 là 8,3%. Đến năm 2006 đã có

9/9 huyện, thành phô. và 103/111 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học và xóa mù.

Nhưng tỉ lệ tái mù chữ vẫn còn cao so với cả nước. Trình độ học vấn của lực lượng công nhân viên ở

tỉnh được nâng lên qua các năm, số người có trình độ đại học và trên đại học có sự phát triển nhưng

chậm. Lực lượng lao động ở Bình Thuận có chất lượng rất thấp và cơ cấu bất hợp lí. Đào tạo chưa gắn

với nhu cầu thực tế. Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế, nâng cao thu

nhập cho người lao động.

2.2.2.3. Phân bố dân cư

Mật dộ dân số thấp hơn so với mật độ dân số trung bình của cả nước 148 người/km2 so với 254 người/km2 năm 2006. Tuy vậy, mật độ có sự chênh lệch giữa các địa phương trong toàn tỉnh. Huyện Phú Quý là nơi có mật độ dân số cao nhất 1131 người/km2. Huyện đảo này khá phát triển với nghề

biển và là nơi có mức sống dân cư khá cao. Sau Phú Quý là Phan Thiết trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh. Huyện có mật độ dân số thấp nhất là huyện Bắc Bình với 53 người/km2, đây là huyện có diện tích

lớn nhất trong toàn tỉnh. Mật độ dân số không đều giữa thành thị và nông thôn, giữa các huyện với

nhau, gây khó khăn cho việc sử dụng lao động ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội của

tỉnh và tác động không nhỏ đến CLCS dân cư.

2.2.2.4. Kinh tế Cơ cấu kinh tế Bình Thuận có sự chuyển dịch kinh tế theo hướng CNH khá mạnh mẽ trong

những năm gần đây. Trước đổi mới, kinh tế của tỉnh phát triển chậm: Nông lâm nghiệp chiếm tỉ trọng

cao, CN chiếm tỉ trọng thấp, tốc độ phát triển CN thấp. Từ khi đổi mới, cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình

Thuận hợp lí hơn: tỉ trọng CN tăng, tốc độ phát triển CN khá nhanh. Giai đoạn 1991-1995, ngành CN

của tỉnh từng bước ổn định và tăng trưởng khá cao: tăng bình quân hàng năm 20,34%. Bước sang giai

đoạn 2000 - 2005 SX CN tăng trưởng thấp hơn đạt 16,18%, năm 2006 tốc độ tăng trưởng CN đạt

19,2% cao hơn mức trung bình của cả nước.

Trong cơ cấu ngành CN, CN chế biến chiếm tỉ trọng khá cao (khoảng 90%) tập trung vào một

số ngành như chế biến hải sản, nông sản, nước khoáng, muối…Tuy nhiên, ngành CN vẫn chưa tận

dụng hết tiềm năng của tỉnh và sản phẩm CN chưa có khả năng cạnh tranh cao. Cần có những biện

pháp phát triển CN có hiệu quả hơn nữa.

Thiên nhiên đã ưu đãi cho Bình Thuận có đường bờ biển khá dài, có ngư trường lớn. Do đó,

ngành thủy sản được chú trọng đầu tư phát triển. Sản lượng hải sản khai thác không ngừng tăng qua

các năm từ 128.000 tấn (2000) lên 145.000 tấn (2005), với tốc độ tăng bình quân 2,52%/năm (2001 -

2005), trong đó cá các loại, nhuyễn thể và mực chiếm tỉ trọng lớn. Giai đoạn 2001 – 2005, nuôi trồng

thủy hải sản tiếp tục phát triển và tăng nhanh hơn khai thác. Giá trị sản lượng nuôi trồng tăng

37,13%/năm trong khi khai thác tăng 7,05%/năm. Để có thể phát triển thành ngành mũi nhọn trong

tương lai, tỉnh đã đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, vốn cho người dân. Ngành nông, lâm nghiệp cũng

phát triển khá. Ngành trồng trọt và chăn nuôi phát triển khá tốt, SX nông, lâm nghiệp duy trì ở mức

tăng trưởng cao (bình quân 7,1%/năm). Các cây trồng như: mía, điều, thanh long là những nguyên liệu

cho ngành CN chế biến. Cây mía là nguyên liệu cho nhà máy đường Bình Thuận, cây thanh long trong

những năm qua đã là nguồn của cải của người dân trong tỉnh. Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng phát

triển đàn gia súc, gia cầm tăng lên khá nhanh. Giai đoạn 1992-1995 đàn bò tăng bình quân 9,49%, đàn

heo tăng 13,4%, đàn gia cầm tăng 11,11%. Sang giai đoạn 2001 - 2004, đàn bò tăng bình quân 2,82%,

đàn heo tăng 4,84 %, đàn gia cầm tăng 12,37%. Số lượng các loại gia súc, gia cầm không ngừng tăng

qua các năm và giá trị SX ngành chăn nuôi vì vậy mà cũng tăng theo. Năm 2004 tổng giá trị SX ngành

chăn nuôi là 315,8 tỉ đồng theo giá cố định năm 1994, trong đó chăn nuôi gia súc chiếm tỉ trọng

74,12%, chăn nuôi gia cầm chiếm 12,2% và chăn nuôi khác chiếm 11,6%.

Những chuyển biến trong các ngành CN, NN, đặc biệt ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy hải

sản đã tạo cho người dân có công ăn việc làm, tạo ra nguồn thu nhập đáng kể, góp phần nâng cao

CLCS cho người dân.

Bình Thuận được thiên nhiên ưu đãi cho một vùng biển khá đẹp, những nét văn hóa lễ hội của

các dân tộc đã tạo tiền đề cho ngành du lịch phát triển mạnh mẽ. Trong năm 1995 tăng lên 53200 lượt

và năm 2006 con số này là 1,7 triệu lượt khách, trong đó khách du lịch quốc tế chiếm 10%. Chứng tỏ

sức hấp dẫn của Bình Thuận đối với du khách rất lớn. Du lịch phát triển nhanh, có đóng góp lớn và là

một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng bình quân của du lịch là 18%/năm. Ngành

du lịch đã đóng góp vào tổng sản phẩm toàn tỉnh từ 16 tỉ đồng năm 1997 lên 347 tỉ đồng năm 2005,

chiếm 4,5% tổng GDP toàn tỉnh. Ngành này đang tiếp tục được đầu tư về mọi mặt để trở thành một

ngành mũi nhọn, nhằm phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao CLCS của dân cư trong tỉnh.

Ngoài ra, kinh tế đối ngoại cũng phát triển, nhiều mặt hàng được xuất khẩu chủ yếu là hải sản,

bên cạnh đó còn có các mặt hàng thủ công mỹ nghệ lấy nguyên liệu từ vùng biển giàu tiềm năng. Kinh

tế của tỉnh có xu hướng phát triển nhanh CN và dịch vụ làm cho cơ cấu kinh tế của tỉnh hợp lí hơn qua

các năm:

Bảng 2.14. Cơ cấu GDP tỉnh qua các năm

Đơn vị:%

Nguồn : Cục Thống kê Bình Thuận 2006 Tỉ trọng CN không ngừng tăng qua các năm từ 1999 - 2006. Trong vòng 8 năm, tỉ trọng ngành

Ngành Nông lâm nghiệp – Thủy sản Công nghiệp – xây dựng Dịch vụ 1999 43,68 22,14 34,18 2000 42 22,7 35,3 2006 27,55 33,74 38,72

CN tăng lên khoảng 12%, trong khi đó ngành nông lâm nghiệp lại giảm khá nhanh từ 43,68% xuống

còn 27,55%, đặc biệt ngành dịch vụ cũng phát triển chiếm tỉ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế của

tỉnh. Sự phát triển kinh tế tạo ra công ăn việc làm, nâng cao thu nhập từ đó giúp ổn định cuộc sống,

nâng cao CLCS dân cư. Trong những năm gần đây, tỉnh đã dần dần hình thành nên nhữngtiểu vùng

kinh tế phát triển:

Tiểu vùng kinh tế động lực: Phan Thiết-Hàm Thuận Nam-Hàm Tân-Phú Quý. Đây là vùng giàu

tiềm năng về tài nguyên biển, khoáng sản, nhiều nguồn nguyên liệu. Vùng có nhiều khu vực ven QL

28, QL 1A, gần điện, nước có thể hình thành những khu CN. Đây là nơi có thể phát triển CN chế biến

nông sản, thực phẩm, hải sản, nhiều tiềm năng phát triển du lịch.

Tiểu vùng kinh tế Tuy Phong - Bắc Bình - Hàm Thuận Bắc : Là khu vực có tiềm năng về SX ngư

nghiệp: nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản; nhiều tiềm năng về khoáng sản:đá ốp lát, đá xây

dựng, muối CN, đặc biệt là nước khoáng Vĩnh Hảo có trữ lượng lớn nhất và chất lượng tốt nhất trong

tỉnh.

Tiểu vùng kinh tế thung lũng sông La Ngà: là khu vực có thế mạnh về SX NN đối với cây lương

thực, cây công nghiệp và cây ăn quả, rừng và vật liệu xây dựng, các tuyến điểm du lịch (Biển Lạc-Núi

Ông, thác Bà, thác Reo… ). Các tiểu vùng kinh tế là động lực thúc đẩy kinh tế của từng địa phương

cũng như kinh tế của toàn tỉnh phát triển. Điều này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến CLCS dân cư tỉnh Bình

Thuận.

2.2.2.5. Cơ sở hạ tầng Những năm qua tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng phục vụ

cho việc phát triển kinh tế của tỉnh. Toàn tỉnh có 238 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, tổng năng lực

thiết kế là 37.300 ha tăng hơn 9000 ha so với năm 1995. Tổng diện tích gieo trồng được tưới gấp 1,54

lần, từ 39.232 ha nâng lên 64.400 ha; diện tích canh tác chủ động tưới từ 20.000 ha tăng lên 25.000 ha.

Đến nay, một số công trình vừa được vào sử dụng như Sông Quao, Ba Bàu, Cà Giây, Đá Bạc đã được

đưa vào đầu tư hoàn chỉnh đưa vào sử dụng. Tỉnh đã nâng cấp và đầu tư xây dựng các nhà máy nước

Phan Thiết, Bắc Bình, Hàm Tân, Tuy Phong, nâng công suất và chất lượng nước. Nước sạch nông thôn

cũng đã được đầu tư xây dựng và cải tạo đưa vào sử dụng 4.000 công trình cấp nước theo quy chuẩn,

49% số hộ được sử dụng nước sạch.

Hạ tầng giao thông được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới đường giao thông, cầu mới. Ngoài

ra, làm hàng trăm km đường đất giao thông nông thôn. Nâng cấp và nhựa hóa các đường phố của TP.

Phan Thiết và trung tâm các huyện. Xây dựng và đưa vào sử dụng các cảng cá Phan Thiết, Phú Quý,

nạo vét các cảng cá La Gi, Phan Rí…

Mạng lưới điện Bình Thuận được cấp từ 3 nguồn điện lưới quốc gia: thủy điện Hàm Thuận, Đa

Mi, Đa Nhim và nguồn Diesel đảo Phú Quý, Hàm Liêm. Mạng lưới điện nông thôn: 100% xã đều có

điện, đáp ứng khoảng 88,7% số hộ dân dùng điện, tiêu thụ điện bình quân 160 kwh/người/năm. Hệ

thống các công trình phúc lợi xã hội được củng cố xây dựng mới trên 1000 phòng học, trường dân tộc

nội trú tỉnh, đài truyền hình 1 kw và 7 trạm tiếp phát hình cho các huyện thị, đầu tư xây dựng mới.

Ngoài ra, các doanh nghiệp nhà máy SX trong tỉnh chú trọng đổi mới trang thiết bị sản xuất. Mạng lưới

bưu chính – viễn thông phát triển rộng khắp, 100% xã có điện thoại. Cơ sở hạ tầng góp phần phát triển

kinh tế cũng là điều kiện để nâng cao CLCS dân cư.

2.2.2.6. Đường lối-chính sách

Đường lối chính sách của tỉnh có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, thực hiện các

kế hoạch xã hội. Các chương trình y tế, xóa đói giảm nghèo, đào tạo có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng

cao thu nhập, cải thiện CLCS dân cư. Đây có thể nói là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát

triển của tỉnh.

2.2.3. Chất lượng cuộc sống dân sư tỉnh Bình Thuận 2.2.3.1. Thu nhập bình quân đầu người

Thu nhập bình quân đầu người là tiêu chí quan trọng thể hiện CLCS. Thu nhập bình quân đầu

người ở nước ta tăng từ 168,1 nghìn đồng (1994) lên đến 484,4 nghìn đồng/người/tháng (2004). Bình

Thuận tổng sản phẩm của tỉnh gia tăng qua các năm: từ 1999 đến 2003 tăng chậm; từ 2003 - 2006 tăng

nhanh (tổng sản phẩm năm 2006 gấp hơn 2 lần năm 2003).

Bảng 2.15. Thu nhập bình quân đầu người/năm tỉnh Bình Thuận Đơn vị: nghìn đồng 1999 2004 2005 2000 2006 2002

2. 624 8.728 3.592 6.659 2.898 5.390

Năm Thu nhập bình quân đầu người Nguồn : Cục thống kê tỉnh Bình Thuận Thu nhập bình quân đầu người của Bình Thuận tăng từ 2.624 nghìn đồng/người/năm (1999) lên

8.728 nghìn đồng/người/năm (2006), tăng 3,3 lần. Nhưng so với TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, Đồng

Nai, Khánh Hòa thì Bình Thuận rất thấp. Năm 2006, thu nhập bình quân/ người ở TP. Hồ Chí Minh

cao gấp 2 lần Bình Thuận, nhưng đã giảm so với năm 2000 chênh lệch tới 5,4 lần. Nhưng CLCS ở

Bình Thuận không chênh lệch như thu nhập, vì giá cả ở TP. Hồ Chí Minh đắt đỏ hơn.

Bảng 2.16. Thu nhập bình quân đầu người năm 2006 của Bình Thuận và một số địa phương Đơn vị: nghìn đồng

Nguồn : Tổng hợp từ Cục Thống kê của các địa phương

TP. HCM 17.580 Đồng Nai 10.440 Khánh Hòa 13.888 Đà Nẵng 11.200 Địa phương Thu nhập bình quân

Biểu đồ 4. Thu nhập bình quân đầu người/năm - Năm 2006

Biểu đồ thu nhập bình quân đầu người/năm năm 2006

Đồng

18000000

16000000

14000000

12000000

10000000

8000000

6000000

4000000

2000000

0

Tỉnh, thành

Đà Nẵng

TPHCM Đồng Nai Khánh Hòa

Bình Thuận

Thu nhập bình quân đầu người của Bình Thuận vào loại trung bình thấp so với các địa phương

trong vùng DHNTB. Điều này, đòi hỏi Bình Thuận phải phát huy những lợi thế và tận dụng triệt để các

nguồn lực bên ngoài đẩy mạnh phát triển kinh tế nâng cao thu nhập, CLCS cho người dân trong tỉnh.

Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh tăng nhanh chóng do kinh tế phát triển và giảm gia

tăng dân số tự nhiên.

Bảng 2.17. Mối quan hệ giữa gia tăng dân số và thu nhập bình quân đầu người

1999

2000

Đơn vị: (1):triệu đồng, (2):nghìn đồng 2002

2004

2005

2006

1,7

1,76

1,62

1,49

1,46

1,41

2.723.447 3.101.316 3.973.407 6.147.026 7.700.737 10.174.255

2. 624

2.898

3.592

5.390

6.659

8.728

Năm Gia tăng tự nhiên (%) Tổng sản phẩm quốc dân (1) Thu nhập bình quân đầu người/năm (2)

Nguồn : Cục thống kê tỉnh Bình Thuận, 2006

Biểu đồ 5. Thể hiện mối quan hệ giữa gia tăng dân số và thu nhập bình quân đầu người

Nghìn đồng

10000

2 %

9000

1.8

8000

1.6

7000

1.4

6000

1.2

5000

1

Thu nhaäp bình quaân ñaàu ngöôøi/năm

4000

0.8

Gia taêng töï nhieân

3000

0.6

2000

0.4

1000

0.2

0

0

Năm

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2001

Năm 2004

Năm 2005

Bảng 2.18. Bình quân nộp ngân sách của một lao động ở Bình Thuận

6,95

Năm 2002 6,72

Năm 2003 6,56

7,82

8,09

Tổng số I. Chia theo loại hình Nhà nước - DN Nhà nước Trung ương

7,87 14,95

10,40 1,35

10,14 3,41

11,49 4,14

15,81 2,44

- DN Nhà nước Địa phương

6,30

12,78

12,19

14,09

25,62

- Công ty TNHH Nhà nước - Công ty cổ phần Nhà nước Ngoài Nhà nước - DN tập thể - D N tư nhân -TNHH tư nhân - Công ty CP vốn Nhà nước <=50% DÂN có vốn đầu tư nước ngoài II. Chia theo đơn vị hành chính - TP. Phan Thiết - Thị xã Lagi - Huyện Tuy Phong - Huyện Bắc Bình - Huyện Hàm Thuận Bắc - Huyện Hàm Thuận Nam - Huyện Tánh Linh - Huyện Hàm Tân - Huyện Đức Linh - Huyện Phú Qúy III. Chia theo ngành SX chính Nông Lâm Nghiệp và Thủy sản

19,06 4,25 6,05 2,01 8,97 5,36 7,33 6,28 6,28 - 3,89 2,37 24,06 -0,58 2,10 3,51 1,38 39,96 0,97

20,37 2,98 3,15 1,30 5,05 1,77 3,35 18,16 7,99 - 3,54 6,37 2,46 14,23 0,95 2,42 1,88 13,04 2,41

15,52 6,25 4,54 1,92 6,93 3,38 3,69 5,09 7,60 - 3,96 2,18 8,32 2,96 2,99 3,89 3,30 7,98 2,10

5,73 11,47 6,16 2,58 9,53 4,58 4,59 6,32 8,66 - 3,41 4,32 21,27 3,11 3,44 3,79 3,26 8,70 2,64

0,70 9,57 5,82 3,86 6,30 5,92 5,01 6,91 10,22 4,36 2,20 5,83 3,66 2,93 4,18 2,56 5,05 5,16 2,37

Công nghiệp và Xây dựng Dịch vụ

6,05 11,46

3,88 17,69

3,60 16,92

5,41 16,59

5,09 16,86

Nguồn : Niên giám thống kê Bình Thuận 2006

Thu nhập bình quân/người/tháng ở khu vực thành thị luôn cao hơn so với nông thôn. Năm 1996

mức chênh lệch 1,4 lần, thì năm 2000 giảm còn 1,1 lần. Mức chênh lệch thu nhập giữa thành thị và

nông thôn được rút ngắn theo thời gian, cho thấy CLCS dân cư nông thôn đã được cải thiện. Ngoài ra,

còn có sự chênh lệch giữa các nhóm dân cư trong các ngành. Thương nghiệp và dịch vụ có thu nhập

cao nhất, đặc biệt là ở thành thị, sự chênh lệch thu nhập dẫn đến phân hóa giàu, nghèo giữa nông thôn

và thành thị; giữa các ngành và các địa phương.

Tỉ lệ hộ giàu đã tăng lên qua các năm, từ 5,7% năm 1996 lên 7,93% năm 2002 (Bảng 6 phụ lục).

Trong khi đó, tỉ lệ hộ nghèo đói giảm đáng kể từ 18,9% năm 1996 xuống còn 9,6% năm 2000. Đây là

một nỗ lực của tỉnh trong việc nâng cao CLCS dân cư. Đến năm 2002 lại tăng lên là do nguyên nhân

Sở LĐ-TB&XH đã đưa ra chuẩn nghèo mới, làm cho tỉ lệ này tăng lên nhanh chóng. Trên thực tế nếu

tính theo chuẩn cũ thì tỉ lệ này cũng giảm, điều đó được xác nhận qua điều tra thực địa đã tiến hành ở

huyện Hàm Thuận Bắc, Hàm Tân, Phan Thiết. Các ngành nghề khác nhau có những mức thu nhập

khác nhau dẫn tới có sự phân hóa giàu, nghèo như ở Phú Quý những hộ hoạt động ngư nghiệp rất giàu

có, nếu phát triển cả chế biến thì càng có thu nhập cao, trung bình/năm khoảng100 triệu, hộ vừa kinh

doanh vừa đi biển thu nhập cao hơn nhiều.

Nhưng ở huyện Hàm Thuận Bắc, những hộ lao động thuần nông thu nhập rất thấp, còn những

hộ kinh doanh đời sống lại khá hơn, CLCS cao hơn. Ở Hàm Tân, người dân ở ven biển hoạt động ngư

nghiệp là chủ yếu, cũng có đời sống khá, nhưng những hộ làm muối thì đời sống lại bấp bênh, do thời

tiết và giá cả thấp lại không ổn định. Những hộ trồng thanh long (đây cũng là huyện trồng thanh long

nhiều nhất tỉnh) đời sống có vẻ khả quan hơn, do loại trái cây đặc sản có thể xuất khẩu, giá trị cao.

Trong quá trình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao CLCS dân cư là sự quan tâm

của các cấp lãnh đạo tỉnh Bình Thuận. Năm 1995, toàn tỉnh có 43.202 hộ nghèo đói, chiếm 24,74%,

đến năm 2000 tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 17,03%, năm 2005 còn 4,57% (theo chuẩn cũ). Đầu tư cơ sở hạ

tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, đời sống xã hội, giải quyết nhà ở cho hộ nghèo đã góp nâng cao

CLCS dân cư.

Bảng 2.19 Cơ cấu số hộ nghèo tỉnh Bình Thuận

Đơn vị:%

Chia ra

Tổng số

Hộ khác

Hộ xây dựng

Hộ vận tải

Hộ hoạt động dịch vụ khác

Hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản

Hộ công nghiệp TTCN

Hộ thương nghiệp

100,00 100,00

30,92 44,22

12,46 21,93

0,11 0,36

18,35 21,93

4,89 9,88

6,34 6,27

16,57 16,63

4,00 5,54

13,68 3,37

23,58 14,10

H.Tuy Phong

100,00

57,96

30,97

0,35

26,65

10,45

2,91

13,33

4,87

4,22

6,26

H.Bắc Bình

100,00

75,19

73,29

0,08

1,82

2,50

2,30

10,14

0,73

3,96

5,19

H.Hàm Thuận Bắc

100,00

68,86

68,41

0,11

0,34

5,02

3,95

9,10

0,72

4,26

8,09

H.Hàm Thuận Nam

75,36

71,28

0,26

3,82

1,95

1,88

10,15

0,85

2,91

6,91

100,00

77,85

77,61

0,03

0,20

5,47

1,90

5,45

0,35

2,54

6,45

H.Tánh Linh

100,00

H.Đức Linh

100,00

71,99

71,32

0,07

0,59

4,66

2,43

6,41

0,64

5,05

8,82

100,00

63,28

67,12

0,21

3,63

4,16

3,25

9,40

1,47

6,04

8,56

100,00

73,15

-

34,26

0,93

0,93

9,26

0,93

3,70

11,11

H.Hàm Tân H.Phú 38,89 Quí Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận 2006

TP.Phan Thiết TX. La Gi

Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005 của Bộ LĐTBXH, qua điều tra hộ nghèo cuối năm 2002, toàn

tỉnh có 57.454 hộ với 57.453 khẩu thuộc diện nghèo (chiếm 26,65% so với tổng số hộ toàn tỉnh). Trong 5 năm

(2001- 2005) trung bình mỗi năm giảm khoảng 4.193 hộ. 11 xã thuần dân tộc thiểu số vùng cao tỉ lệ hộ nghèo

giảm từ 43,85% (2001) xuống 13,62% (2005). 4 xã thuần dân tộc Chăm tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 23,59% vào 2001

giảm còn 6,1% (2005). Tuy nhiên, cũng qua cuộc điều tra có thể thấy số hộ đói nghèo xuất phát từ những nguyên

nhân thuộc về người dân do: do thiếu vốn SX : 67,22%; Thiếu kiến thức SX : 16,18%; Thiếu đất SX : 33,18%;

Đông con : 20,0%; Có người mắc tệ nạn xã hội /lười lao động : 0,80%; Tai nạn rủi ro : 1,85%; Ốm đau, tàn tật,

già cả, mất khả năng lao động ; 32,78%.

Qua cuộc điều tra thực tế làm rõ nguyên nhân nghèo đói ở huyện Hàm Thuận Bắc khi đi lên những

xã còn nghèo đói, chủ yếu là đồng bào dân tộc K’ho như : Đông Tiến, Đông Giang, La Dạ khi phỏng vấn

thực tế nhiều hộ dân ở đây còn có nhiều vấn đề nổi cộm. Đặc thù ở xã này có nhiều đồng bào dân tộc sinh

sống, họ không có kinh nghiệm làm nông nghiệp, thiếu vốn và thiếu kiến thức trong SX nông nghiệp. Khi

được nhà nước cho vay vốn, nhưng họ không biết cách làm ăn. Trong NN, huyện đã cử cán bộ xuống chỉ

dẫn tận tình, khi cán bộ đi, mọi chuyện lại như cũ. Đồng bào ở đây đa số còn tin vào việc họ nghèo là do

số, họ chấp nhận hiện tại, không có chí tiến thủ, nên mọi công việc làm ăn đều không có sự tính toán nhiều,

chỉ mang tính tức thời, đảm bảo đơn giản là cái ăn hàng ngày. Từ hiện trạng trên, nhà nước và chính quyền

địa phương cần có những biện pháp cụ thể sát thực, “cầm tay chỉ việc” cho đồng bào, đến khi họ biết cách

làm thì thôi.

Cuộc sống của đồng bào ở đây chủ yếu là làm thuê, trồng điều và bắp thuê. Mặc dù được chính

quyền địa phương rất quan tâm đối với dân tộc, họ được cấp nhà, trợ cấp hàng tháng, cấp thẻ BHYT

miễn phí,… nhưng cuộc sống đồng bào dân tộc vẫn nghèo. Nhưng lại không lo làm ăn hay nhậu nhẹt.

Cuộc sống của họ bấp bênh, lo bữa từng ngày, nhiều điều kiện sinh hoạt tối thiểu cũng thiếu, đặc biệt

là nước, điện.

Cũng cần thấy rõ rằng, khi xây dựng thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi làm cho đời sống người dân

ở đây thay đổi. Người dân tộc sống nhờ vào sản vật từ rừng như: dầu rái, lồ ô,…nay mất đi và hệ sinh

thái thay đổi. Do vậy, công tác xóa đói giảm nghèo cần chú ý đến điều kiện sống, kinh nghiệm sản xuất

lẫn phong tục tập quán của dân cư.

2.2.3.2. Lương thực và dinh dưỡng

Chỉ tiêu 2003 1995 2001 1999 2005

Bảng 2.20. Sản lượng lương thực tỉnh Bình Thuận 1997 Sản lượng lương thực (tấn) 233.718 279.822 309.557 385.482 420.278 426.607 285 374 251 354 299 369 Lương thực kg/người Nguồn: Cục thống kê Bình Thuận, 2005 Sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng từ 251 kg/người (1995) lên 369 kg/người

(2005), tăng gần 1,5 lần trong 10 năm. So với mức trung bình của cả nước thì tỉnh còn thấp (476

kg/người). Theo các chuyên gia, để đủ no về chất và lượng mỗi người cần khoảng 800 – 1000 kg lương

thực/năm vừa dùng cho người và cho chăn nuôi. Vùng Lương thực bình quân đầu người của tỉnh ngày

càng tăng nhưng rất chậm cần nỗ lực rất nhiều trong quá trình nâng cao sản lượng mức tiêu thụ lương

thực.

Đơn vị : kg/người

Bảng 2.21. Lương thực bình quân đầu người phân theo địa phương

2006

1995

1999

2003

2004

2005

Phan Thiết TX.La Gi Tuy Phong Bắc Bình Hàm Thuận Bắc Hàm Thuận Nam Tánh Linh Đức Linh Hàm Tân Phú Quý

28 - 104 366 523 268 447 371 113 20

23 - 125 477 690 253 514 432 110 12

15 - 92 554 693 412 903 563 176 3

16 - 94 545 774 354 913 543 197 4

12 - 74 547 467 431 1.043 660 184 10

12 149 94 580 772 372 920 610 308 3

Nguồn: Niên giám Thống kê - Cục thống kê tỉnh Bình Thuận, 2005 Ở Bình Thuận, Tánh Linh là huyện có sản lượng lương thực bình quân đầu người cao nhất, sau

đó là Đức Linh, Bắc Bình - những huyện có thuần nông. Sản lượng lương thực bình quân đầu người ở

Phan Thiết, Phú Quý rất thấp là vì : TP. Phan Thiết là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh, ngành kinh

tế chính là phát triển du lịch và dịch vụ. Chất lượng cuộc sống của dân cư vào loại cao nhất tỉnh nhờ

thu nhập bằng các ngành nghề phi SX nông nghiệp. Lương thực, thực phẩm được nhập từ các vùng

trong hoặc ngoài tỉnh. Huyện đảo Phú Quý, không có điều kiện để phát triển SX lương thực nhưng đây

là huyện đảo có điều kiện thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp, người dân có thu nhập cao nhất tỉnh và

khá ổn định nên chất lượng cuộc sống cao.

1200

1043

Kg/người

1000

800

660

547

467

431

600

1995

2001

400

2005

184

74

200

12

10

0

Tánh Linh

Đức Linh

Hàm Tân

Phú Quý

Phan Thiết

Tuy Phong

Bắc Bình

Hàm Thuận Nam

Hàm Thuận Bắc

Biểu đồ 6: Lương thực bình quân đầu người phân theo các địa phương trong tỉnh Bình Thuận

(2006)

Lương thực bình quân đầu người biểu hiện mức độ đảm bảo vật chất của CLCS. Khi đảm bảo

lương thực và thu nhập bình quân đầu người tăng thì mức độ chi tiêu của dân cư sẽ gia tăng. Chi tiêu

trung bình 1 hộ /1 tháng ở khu vực thành thị năm 1995 là 961 ngàn đồng, năm 2000 là 1.781 tăng gần

gấp đôi, trong khi ở nông thôn con số tương ứng là 634 và 1.479 ngàn đồng tháng thấp hơn so với khu

vực thành thị.

Nhưng mức tăng chi tiêu ở khu vực thành thị trong cùng kì tăng khoảng 1,85 lần. Còn khu vực

nông thôn tăng 2,3 lần. Thực tế đã chứng minh rằng CLCS của nông thôn được cải thiện rõ rệt, nhờ

nông thôn xuất hiện nhiều hộ làm ăn khá lên, họ có kiến thức, nắm bắt được khoa học và có sự hỗ trợ

tốt từ các cấp chính quyền. Về cơ cấu chi tiêu của các hộ : cả hai khu vực thành thị và nông thôn đều

dành phần lớn thu nhập chi cho lương thực. Do đó, có thể khẳng định CLCS của dân cư tuy được cải

thiện nhưng vẫn còn thấp, những nhu cầu về văn hóa, vui chơi, giải trí vẫn ít được quan tâm.

Tóm lại, trong những năm gần đây tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao CLCS, các chỉ số

thu nhập, lương thực, dinh dưỡng đều tăng nhưng còn chậm. Do đó tỉnh cần thực hiện các biện pháp

phát triển kinh tế, cải thiện CLCS cho dân cư.

*Chăm sóc sức khỏe, y tế

Xác định sức khỏe là vốn quý của người dân, sức khỏe tốt có thể có hiệu suất lao động cao.

Tỉnh đã có những chính sách đầu tư thích đáng cho việc phát triển ngành y tế, chăm lo cho sức khỏe

người dân. Nguồn vốn đầu tư cho ngành y tế liên tục tăng qua các năm. Ngoài những nguồn vốn như

trên còn có vốn đầu tư từ nước ngoài như:dự án phát triển hệ thống y tế của Bộ y tế và Cộng đồng

Châu Âu và các tổ chức phi chính phủ khác. Chính những khoản đầu tư như vậy, ngành y tế tỉnh đã

đầu tư phát triển cả về cơ sở vật chất trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế. Hiện nay, tỉnh có 3 bệnh viện

tỉnh, 8 bệnh viện huyện, 17 trung tâm kế hoạch hóa gia đình liên xã, 13 phòng khám đa khoa khu vực,

100% xã có trạm y tế được kiên cố hóa.

Các chương trình y tế quốc gia, phòng chống các bệnh xã hội, công tác giám sát dịch tễ được

chú trọng, hoạt động có hiệu quả. Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm đáng kể từ 51,1% năm

1992 xuống còn 30% năm 2002 và năm 2006 là 21%: tỉ lệ trẻ sơ sinh nặng dưới 2.500 kg giảm từ 16%

năm 1992 xuống còn 9% năm 2002, 2,8% năm 2006, tỉ suất trẻ chết dưới 1 tuổi giảm từ 36% xuống

còn 24% (2005) . Tỉ lệ các cháu được tiêm chủng đủ 6 bệnh bình quân giai đạt trên 99%; có 4 huyện

đạt tiêu chuẩn quốc gia về loại trừ bệnh phong. Có thể thấy rằng công chăm sóc sức khỏe đã được chú

trọng trong những năm qua và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Bên cạnh những cố gắng nỗ lực trong công tác y tế vẫn có những khó khăn còn tồn tại. Số dân

trên một cơ sở y tế gia tăng từ 6.274 người năm 1992 lên 9476 người năm 2006. Điều này cho thấy

rằng, dân số tăng nhanh, mạng lưới y tế không đáp ứng kịp so với nhu cầu khám chữa bệnh của người

dân. Tình trạng quá tải là điều không thể tránh được, gây ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh.

Ngành y tế tỉnh sẽ tiếp tục phát triển mạng lưới, nâng cao chất lượng phục vụ công tác khám

chữa bệnh, công tác vận động tuyên truyền phòng bệnh, khám và chữa bệnh. Công tác phòng chống

dịch bệnh được quan tâm, đặc biệt là những nơi là vùng sâu, vùng xa. Tỉ lệ bác sĩ /1000 dân gia tăng

qua các năm, tỉ lệ giường bệnh /10.000 dân cũng có sự cải thiện đáng kể, năm 2005 đạt 19,1

giường/10.000 dân. Số lượng cơ sở y tế, tỉ lệ y, bác sĩ trên 1000 dân có sự khác nhau giữa các địa

phương: Phan Thiết là nơi có điều kiện y tế tốt nhất. Ở các địa phương khác điều kiện y tế thấp hơn,

thấp nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Ở một số địa phương khác như Bắc Bình, Hàm Thuận Nam tỉ lệ bác

sĩ trên 1000 dân khá cao, cao hơn cả Phan Thiết là do ở những địa phương này có dân số ít hơn so với

t ậ h N h n a h T

ũ V

i ù B - ọ h T n â u X

ị h T m ạ h P

Phan Thiết.

Bảng 2.22. Số lượng cán bộ y tế tỉnh Bình Thuận năm 2006

Đơn vị: người

Số bác sĩ, y sĩ, y tá của trạm y tế

B/quân số y, bác sĩ của trạm y tế

Chia ra

Tổng số T.đó: nữ

Số thôn có cán bộ y tế

Trên một xã

Trên 1000 dân

Bác sĩ T.đó: nữ Y sĩ

Trên 1 trạm y tế

T.đó: nữ Y tá T.đó: nữ 16 17 60

90

81

10

5

63

5

5,00

5,00

0,48

TP.Phan Thiết

30

23

6

4

16

11

8

-

8

3,33

3,75

0,31

TX.La Gi

77

51

16

1

42

31

19

11

19

6,42

6,42

0,58

H.Tuy Phong

83

58

12

2

49

37

22

66

19

4,61

4,61

0,72

H.Bắc Bình

66

16

2

62

47

27

64

17

6,18

6,18

0,67

105

H.Hàm Thuận Bắc

70

47

14

4

42

31

14

12

27

5,38

5,38

0,76

H.Hàm Thuận Nam

67

43

6

-

43

29

18

74

14

4,79

4,79

0,67

H.Tánh Linh

69

37

12

1

33

19

24

40

17

5,31

5,75

0,55

H.Đức Linh

43

29

4

1

23

16

16

19

12

4,78

5,38

0,63

H.Hàm Tân

12

8

3

1

9

7

-

3

-

4,00

4,00

0,51

H.Phú Quí

Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận năm 2006

2.2.3.3. Giáo dục

Ngành giáo dục Bình Thuận gần đây kinh tế đã được quan tâm hơn. Bình Thuận chi cho giáo

dục từ 25 – 28% ngân sách. Tỉnh đã đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng. năm học 1992 -1993 có 286 trường

tăng lên 420 trường học với 4.870 phòng học cho các cấp năm 2005. Cuộc sống được cải thiện, người

dân quan tâm đến giáo dục. Tỉ lệ nhập học các cấp tăng và đạt mức cao, tỉ lệ đi nhà trẻ 6,4%, mẫu giáo

54,2%, THCS là 78% và THPT là 43%. Số người trong độ tuổi trên 15 biết chữ là 93,6%.

Bảng 2.23. Gia tăng học sinh các cấp của tỉnh Đơn vị : học sinh

204.154 139.329 45.669 8.831 1997-1998 247.257 150.594 57.547 13.936 1999-2000 274.125 161.179 45.351 21.165 2003-2004 279.474 150.564 96.548 32.262 2005-2006 273.742 128.894 103.189 41.659 Các chỉ tiêu 1995-1996 Học sinh Tiểu học THCS THPT Nguồn: Cục thống kê Bình Thuận , 2005

Số lượng học sinh các cấp hầu như đều tăng (trừ tiểu học), cấp III tăng 4,7 lần, cấp II tăng 2,2

lần (bảng 2.23). Số lượng học sinh tăng mạnh nhất là cấp Trung học, thấp nhất là Tiểu học.Trong đó,

số học sinh tăng cao nhất là 2 huyện Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam (7,44%); Tăng thấp nhất là hai

huyện Tuy Phong (4,64%), Tánh Linh (5,10%). Năm 1996 số người đi học trên tổng số dân là 22%,

đến năm 2006 là 24%, tăng 2%. Số người có trình độ trên Đại học chỉ là 0,03% trên tổng số dân, số

người có trình độ CĐ, ĐH là 0,66% và tỉ lệ THCN là 1,92%. Số GV năm học 1995-1996 là 5321

người, đến năm học 2005 - 2006 là 11.043 người. Số GV tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu

của giáo dục của tỉnh, vì tỉ lệ GV cho một lớp học còn thấp. GV vẫn còn thiếu nhiều, nhưng nhiều nơi

thừa GV đó là những nơi có điều kiện thuận lợi, trong khi vùng sâu, vùng xa thì lực lượng GV lại quá

mỏng.

Bảng 2.24. Tỉ lệ học sinh/1 giáo viên và học sinh phổ thông/số hs tỉnh Bình Thuận năm 2006

Năm 2004

Năm 2006

Địa phương

Tỉ lệ HSPT/số HS (%)

Số HS/1GV

Tỉ lệ HSPT/số HS (%) 16,28

Số HS/1GV 23,9

13,03

26,2

Toàn tỉnh

20,82

26,78

23,38

24,89

TP.Phan Thiết

-

-

25,58

29,67

TX.La Gi(*)

9,71

25,21

12,77

24,55

H.Tuy Phong

11,3

25,74

14,66

23,00

H.Bắc Bình

9,84

25,90

13,78

22,58

H.Hàm Thuận Bắc

7,7

26,57

11,16

23,05

H.Hàm Thuận Nam

10,63

23,05

13,38

21,07

H.Tánh Linh

15,16

24,92

17,87

22,54

H.Đức Linh

14,14

31,07

5,74

27,6

H.Hàm Tân

5,81

25,37

9,3

22,06

H.Phú Quý

(*): Năm 2004 La Gi chưa tách ra H.Hàm Tân

Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận 2006

Giáo dục Bình Thuận phát triển, tỉ lệ mù chữ giảm theo thời gian và tỉ lệ người có học vấn

sẽ tăng lên. Công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học được tiến hành. Trong giai đoạn 1996 -

2000 huy động học viên đến lớp xóa mù tăng lên 10.000 học viên, học sinh tham gia các lớp phổ cập

bình quân hàng năm khoảng 8000 em. Do đó, tỉ lệ số người mù chữ trong độ tuổi, đến năm 2005 có 9/9

huyện, 126/126 phường, xã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học và xóa mù chữ. Ngoài ra, công tác

đào tạo nghề cũng khá phát triển. Hiện tỉnh có 1 trường Cao Đẳng Cộng Đồng, 2 trường trung học

chuyên nghiệp, 3 trung tâm giáo dục thường xuyên, 2 cơ sở dạy nghề tư nhân về tin học ứng dụng.

Hiện các cơ sở này đang đào tạo 726 học viên thuộc CĐ, 447 thuộc hệ THCN và khoảng 5.000 người

tham gia đào tạo nghề. Đây sẽ là nguồn bổ sung nguồn nhân lực quan trọng cho tỉnh trên con đường

phát triển.

2.2.3.5 Tình hình cung ứng điện, nước, nhà ở Nhà ở, điện nước luôn luôn là mỗi nhu cầu thiết yếu của mọi người. Nhà ở còn liên quan đến

sức khỏe, tinh thần của người dân. Nên đáp ứng nhà ở, điện, nước sạch là tiêu chí khá quan trọng trong

việc đánh giá CLCS dân cư. Nhà ở của tỉnh Bình Thuận có sự phân hóa rõ rệt giữa thành thị và nông

thôn, giữa đồng bằng và vùng sâu, vùng núi, vùng xa về loại nhà ở (Bảng 2.25).

Bảng 2.25. Cơ cấu hộ chia theo tình trạng nhà ở tỉnh Bình Thuận Đơn vị: %

Chia ra

Tổng số Nhà kiên

Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ (%)

cố

Nhà bán kiên cố

Nhà đơn sơ

Nhà khung gỗ lâu bên mái lá

26,12

59,13

7,33

7,42

TP.Phan Thiết

43.486

11.357

25.715

3.189

3.225

9,89

70,89

6,4

12,82

TX La Gi

21.728

2.148

15.404

1390

2.786

10,97

59,25

5,63

24,15

H.Tuy Phong

26.971

2.958

15.979

1.521

6.513

7,83

62,69

17,51

11,96

H. Bắc Bình

24.413

1.911

15.306

4.275

2.921

2,91

72,82

17,33

6,94

H.Hàm Thuận Bắc

35.914

1.044

26.152

6.225

2.493

H.Hàm Thuận

4,48

69,84

13,72

11,96

14.161

2.783

2.425

Nam

20.277

908

9,24

67,78

8,19

14,79

H.Tánh Linh

21.979

2030

14.897

1.802

3250

6,65

78,94

4,76

9,65

H. Đức Linh

28.043

1.866

22.137

1.335

2.705

4,46

61,76

19,05

14,73

H. Hàm Tân

15.658

698

9.671

2.306

2.983

6,58

91,37

0,41

1,64

H.Phú Quí

4830

318

4.413

79

20

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận năm 2006

Loại nhà ở của hộ

Bảng 2.25 cho thấy rõ ràng sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn về nhà ở. Ở thành

thị tỉ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố cao hơn nông thôn, ở nông thôn chủ yếu là nhà tạm bợ, tranh tre,

vách đất. Tình trạng nhà ở lại có sự khác nhau giữa các địa phương: Tỉ lệ hộ có nhà ở kiên cố cao nhất

là Phan Thiết, thấp nhất là huyện Bắc Bình, đây cũng là huyện có khí hậu khá khắc nghiệt, đất đai xấu

là những đồi cát, khó khăn đối với sản xuất và sinh sống của con người.

Một điều đặc biệt là nhà bán kiên cố ở huyện Phú Quý có tỉ lệ rất cao nhất 91,37 % cao hơn

Phan Thiết và gấp đôi nhiều huyện khác, Phú Quý là huyện đảo có CLCS cao, dân cư sống chủ yếu là

ngư nghiệp.

Tuy nhiên còn khoảng 0,04% số hộ không có nhà ở với 95 hộ, trong đó ở nông thôn khoảng 73

hộ. Trong các địa phương tỉ lệ hộ không có nhà ở cao nhất là huyện Hàm Thuận Bắc với 0,07% (22

hộ). Đây là huyện có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống và là nơi có tỉ lệ hộ thuần nông khá cao.

Tính đến năm 2005 toàn tỉnh có 126 phường, xã trong đó có 123 phường, xã có nguồn từ điện

lưới quốc gia, 3 xã sử dụng nguồn điện khác thuộc huyện Phú Quý. Mạng lưới điện nông thôn được

đầu tư đến các xã trong tỉnh, 100% xã đều có điện đến trung tâm và đường dây truyền tải được kéo đến

các thôn, ấp đáp ứng khoảng 88,7% số hộ sử dụng điện (trong đó Phan Thiết là 98,4%, một số huyện

miền núi Đức Linh : 73,7%, Tánh Linh: 89,7%, Bắc Bình: 83,8%...). Nguồn điện góp phần nâng cao

dân trí và CLCS.

Ở Phan Thiết là nơi có số hộ sử dụng điện cao nhất so với các địa phương khác (gần 100%),

Hàm Tân có số hộ sử dụng điện đứng thứ 2, Phú Quý có tỉ lệ hộ sử dụng điện khá cao. Nhưng Bình

Thuận là tỉnh có số hộ sử dụng điện tương đối thấp. Nước là nhu cầu thiết yếu cho người dân, được

tỉnh chú trọng đầu tư nâng. Tỉnh Binh Thuận có 262 công trình thủy lợi lớn nhỏ, với tổng năng lực

thiết kế tưới 62.600 ha, trong đó có 15 hồ chứa, 107 đập dâng, 20 trạm bơm điện và hệ thống kênh

mương. Hệ thống thủy lợi phục vụ cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp với công suất tưới năm

2005 khoảng 100.000 ha (chiếm khoảng 38% tổng diện tích gieo trồng), chủ yếu theo phương thức tưới

tự chảy và tười động lực cấp nước sinh hoạt công nghiệp cho TP Phan Thiết và các khu công nghiệp

Phan Thiết, Hàm Tân và Tuy Phong.

Đơn vị: hộ, %

Bảng 2.26. Cơ cấu hộ sử dụng điện theo vùng ở Bình Thuận

Không sử

Hộ có sử dụng điện

Tỉ lệ

dụng

Nguồn

(%)

Tỉ lệ

Tỉ lệ

Tổng

Tỉ lệ

điện

điện

Điện lưới

(%)

(%)

số

khác

quốc gia

(%)

TỔNG SỐ

232.316

95,49

224.614

96,68

3,32

10.983

4,51

7.702

1. Chia theo vùng

- Đồng bằng

852

1,27

65.934

98,73

65.555

99,43

379

0,57

- Trung du

1.311

3,24

39.197

96,76

38.843

99,1

354

0,9

- Miền núi

7.518

6,24

112.932

93,76

110.979

98,27

1.953

1,73

- Vùng cao

1.236

11,52

9.489

88,48

9.237

97,34

252

2,66

- Hải đảo

66

1,37

4.764

98,63

-

-

4.764

100

2. Chia theo đơn vị hành

chính

TP.Phan Thiết

210

0,48

428

0,99

43.276 99,52

42.848

99,01

TX. La Gi

710

3,27

71

0,34

21.018 96,73

20.947

99,66

H.Tuy Phong

319

1,18

149

0,56

26.652 98,82

26.503

99,44

H.Bắc Bình

1.759

7,21

648

2,86

22.654 92,79

22.006

97,14

2.141

5,96

528

1,56

H.Hàm Thuận Bắc

33.773 94,04

33.245

98,44

1.894

9,34

299

1,63

H. Hàm Thuận Nam

18.383 90,66

18.084

98,37

H.Tánh Linh

784

3,57

290

1,37

21.195 96,43

20.905

98,63

H.Đức Linh

5,13

320

26.604 94,87

26.284

98,80

1,2

1.439

H.Hàm Tân

1.661

10,61

205

1,46

13.997 89,39

13.792

98,54

H.Phú Quí

66

1,37

100

4.764 98,63

-

-

4.764

Nguồn : Cục Thống kê Bình Thuận , 2006

Người dân Bình Thuận dùng nước từ nhiều nguồn khác nhau: nước giếng, nước mưa, nước

sông…. Tỉ lệ hộ sử dụng nước sạch của tỉnh khá cao khoảng 90%, tỉ lệ này đã tăng lên so với năm

2000, nguồn nước sạch này từ nhiều nguồn khác nhau, nhất là ở nông thôn với chương trình nước sạch

cho nông thôn thì nhiều giếng hợp vệ sinh được xây dựng để cung cấp nước cho sinh hoạt. Đặc biệt ở

xã Lê Hồng Phong, huyện Bắc Bình, với sự tài trợ của UNICEF, 1200 lu nước ngọt đã được cung cấp

vào mùa khô hạn, đã góp phần cung cấp nguồn nước ngọt cho người dân tại đây.

Tình hình sử dụng nước sạch ở các huyện cũng có sự khác biệt. Ở Phan Thiết có tỉ lệ hộ dùng

nước máy cao nhất, còn các huyện như Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình, tỉ lệ dùng nước khác không hợp vệ

sinh khá cao ở Hàm Thuận Bắc là 29,8%. Vì khu vực này là khu vực miền núi, khí hậu ở đây khô hạn,

lại là nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc ít người. Ở nhiều nơi người dân phải dùng nước sông có

nhiều rác bẩn để sử dụng vì họ không thể tìm đâu ra nguồn nước ở những vùng núi cao, vùng khô hạn.

Đây là nguồn lây nhiễm bệnh khá nguy hiểm cho người dân.

Hộ sử dụng Nguồn nước

Nước Máy

Nước mưa

Nước suối

Nước giếng khoan

Nước giếng xây

Nước giếng khác

Nguồn nước khác

Nước sông, hồ, ao

A

5

7

8

9

10

11

12

13

Nước mua (Xì téc, bình chai) 6

Bảng 2.27. Số hộ sử dụng các nguồn nước ở tỉnh Bình Thuận

81.008

9.888 5.275 25.218 100.427 14.571 3.545 2.026

1.341

TỔNG SỐ

1. Theo vùng

43.278

4.804

642 5.640

10.958

1.091

94

56

223

- Đồng bằng

18.052

1.831 1.403 7.524

9.457

1.648

159

76

358

- Trung du

19.002

3.211 2.896 9.908

70.669 10.231 2.867 1.008

658

- Miền núi

676

29

319

693

6.053

1.546

425

885

99

- Vùng cao

-

13

15 1.453

3.290

55

-

1

3

- Hải đảo

2. Đơn vị Hành chính

31.508

485

126 6.254

3.897

884

3

18

311

TP.Phan Thiết

10.410

517

141 3.850

6.430

262

28

46

44

TX.La Gi

18.190

6.569

34

397

1.443

119

175

6

38

H.Tuy Phong

11.108

281

625 2.774

6.421

1.353 1.426

120

305

H.Bắc Bình

6.249

700 2.059 2.871

19.983

2.494

701

559

298

H.Hàm Thuận Bắc

2.094

705 1.829 3.351

8.787

1.585

909

898

119

H.Hàm Thuận Nam

300

56

32 1.077

15.824

4.342

97

85

166

H.Tánh Linh

200

124

27 2.305

23.017

2.251

35

83

1

H. Đức Linh

949

438

387

886

11.335

1.226

171

210

56

H. Hàm Tân

-

13

15 1.453

3.290

55

-

1

3

H. Phú Quí

Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận 2006

Tỉnh Bình Thuận hiện có 3 nhà máy nước ở Phan Thiết, thị xã Lagi, thị trấn Chợ Lầu. Tỉ lệ

hộ được cấp nước sạch là: TP. Phan Thiết 80%, thị xã Lagi là Hàm Tân 55% và Bắc Bình 60%. Tại các

thị trấn còn lại như Liên Hương, Phan Rí Cửa, Ma Lâm, Lạc Tánh có các trạm cung cấp nước khai thác

từ các giếng khoan. Thời gian qua, tỉnh đã đầu tư mới 45 hệ thống cấp nước quy mô nhỏ, hơn 4000

công trình cấp nước quy chuẩn, nâng tỉ lệ hộ nông thôn được cấp nước sạch từ 39,32% vào năm 1998

lên 56% đến năm 2005, giảm bớt tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho nhiều vùng.

2.2.3.6 Mức độ hưởng thụ văn hóa Tỉnh luôn quan tâm đến vấn đề nâng cao mức độ hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân dân.

Hàng năm, tỉnh có khoảng 76 lễ hội truyền thống cùng với các giá trị văn hóa dân gian phi vật thể đặc

trưng được tổ chức ở các huyện và thành phố. Bình Thuận là nơi có nhiều văn hóa lễ hội truyền thống

như lễ giỗ tổ chùa Linh Sơn, lễ hội Mbang Katê… thu hút nhiều khách du lịch đến trẩy hội. Năm 2005

tỉnh có 9 trung tâm văn hóa ở khắp các địa phương làm nơi hội tụ vui chơi cho nhân dân.

Bảng 2.28. Tình hình phát triển văn hóa nghệ thuật tỉnh Bình Thuận

Chỉ tiêu

Đơn vị

1995

2000

2005

-Tỉ lệ huyện, thị phủ sóng truyền thanh

%

80

80

97

Tỉ lệ huyện, thị phủ sóng truyền hình

%

60

75

97

-Tổng số thư viện

Thư viện

15

364

10

Tổng số tài liệu hiện có

Bản

115.980

123.219

173.308

Tổng số lượt bạn đọc trong năm

Lượt

96.305

175.973

220.102

-Tổng số lượt người xem biểu diễn nghệ thuật

Lượt

415.000

828.400

Số buổi phục vụ vùng sâu,vùng xa

Buổi

134

246

231

-Đội thông tin lưu động

Đội

9

9

13

Số buổi hoạt động trong năm

Buổi

176

237

Lượt người xem

Lượt

172.000

212.500

Nguồn: Sở văn hóa thông tin tỉnh Bình Thuận, 2005

Số thư viện giảm nhưng số đầu sách và số lượt bạn đọc đã tăng lên, chứng tỏ chất lượng các thư

viện này đã được nâng lên, đầu tư và trang bị ngày càng đáp ứng nhu cầu bạn đọc. Trong những năm

qua tỉnh đã đáp ứng về mặt tinh thần : lượng độc giả đến thư viện tăng khoảng 3 lần trong vòng 10

năm. Các hoạt động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nếp sống văn minh,

làng văn hóa, khu dân cư văn hóa, gia đình văn hóa được phát triển sâu rộng, có hiệu quả thiết thực.

Đến năm 2005, tỉnh đã có 87% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa.

Các phương tiện liên lạc như điện thoại gia tăng qua các năm. Năm 1995 là 9016 chiếc với tỉ lệ

là 0,95 chiếc/100 dân đến năm 2005 là 106.340 chiếc với tỉ lệ 9,2 chiếc/100 dân. Tuy con số này vẫn

còn thấp so với TP. HCM hay Vũng Tàu nhưng đã tăng gần 10 lần trong 10 năm. Ngoài ra, hiện nay

còn có nhiều hộ đã kết nối Internet để liên lạc với nhiều người và tìm kiếm thông tin.

Chất lượng cuộc sống đồng bào dân tộc ít người tăng chậm, đòi hỏi cần có biện pháp phát triển

kinh tế và nâng cao đời sống tinh thần cho người dân.

Bảng 2.29. Bưu điện, nhà văn hóa, thư viện, thông tin liên lạc tỉnh Bình Thuận

Số xã có điểm bưu điện văn hóa xã T.đó: Số

Số máy vi

có nối

tính có

Số xã có nhà văn hóa

Số xã có tủ sách Pháp luật

Số xã có thư viện

Số điểm dịch vụ internet tư nhân

Tổng số

Số thôn có nhà văn hoá thôn/nhà sinh hoạt cộng đồng

Số xã có hệ thống loa truyền thanh đền thôn

Số xã có trạm bưu điện (trừ điểm bưu điện văn hoá)

Số thôn được công nhận nhà văn hoá

mạng Internet

nối mạng internet

A

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

TP.Phan Thiết

5

1

2

10

112

35

25

63

18

-

14

TX.La Gi

5

-

-

2

60

17

17

2

6

-

4

H.Tuy Phong

9

3

3

6

16

20

9

41

12

2

11

H.Bắc Bình

13

5

5

7

11

31

22

25

18

-

17

15

2

2

10

5

29

73

38

16

2

16

H.Hàm Thuận Bắc

9

3

3

7

8

24

14

29

12

-

13

H.Hàm Thuận Nam

Huyện Tánh Linh

11

6

7

6

15

24

44

43

14

-

14

Huyện Đức Linh

11

4

4

8

20

26

28

34

13

-

13

Huyện Hàm Tân

6

2

3

4

18

18

2

4

7

2

9

Huyện Phú Quí

1

-

-

2

-

6

-

10

3

-

2

Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận 2006

Con người sinh sống trong xã hội chịu rất nhiều sự tác động, đồng thời con người cũng tac

động rất nhiều vào môi trường cung quanh, đặc biệt là môi trường tư nhiên. Chính sự tác động qua lại

đòi hỏi con người phải đảm bảo hài hòa mối quan hệt ấy để cùng nhau phát triển. Nhưng trong quá

trình ấy, con người có thể đảm bảo được mối quan hệ ấy hay không? Khi con người sống trong một

môi trường xã hội an toàn thì họ mới có thể yên tâm làm việc, cống hiến và hưởng thụ những thành

quả mình làm ra. Do vậy, có thể nói vấn đề an ninh là một vấn đề khá quan trọng, có thể là bước khởi

đầu cho sự lựa chọn cuộc sống con người.

2.2.3.7

Môi trường sống

Cùng với các hoạt động sản xuất tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con

người. Trong quá trình sản xuất con người tác động vào tự nhiên, làm cho môi trường tự nhiên bị biến

đổi và trở nên ô nhiễm. Điều này lại gây tác hại trở lại đối với con người.

Khi Bình Thuận phát triển du lịch, nhất là những vùng đất khô cằn, khí hậu khắc nghiệt trước

đây các hoạt động nông nghiệp, sản xuất không tiến hành được thì nay ngành du lịch phát triển rộng rãi

và là hoạt động chính thì những bãi tắm tuy hoang sơ nhưng sạch sẽ trước đây đã không còn mà thay

vào đó là những bãi tắm bị nhiễm bẩn bởi rác thải, của những người bán hàng rong và những khách du

lịch. Có thời kì báo chí đã chỉ trích nhiều về hoạt động du lịch thiếu sự quản lí chặt chẽ của tỉnh, dẫn

đến những tác hại rất lớn cho tỉnh nhà mà nguy cơ lớn nhất là sẽ mất đi lượng khách đến đây.

Tỉnh phát triển mạnh về đánh bắt cá với nhiều nhà máy chế biến thủy hải sản. Theo số liệu

thống kê đến hết năm 2004, toàn tỉnh có 5.188 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tăng

311 cơ sở so với năm 2000. Các ngành sản xuất công nghiệp tại Bình Thuận công nghệ lạc hậu, quy

mô nhỏ, một số còn xen kẽ trong khu dân cư. Ở đây còn có cả những khu phố chuyên chỉ sản xuất một

loại mặt hàng từ biển, chẳng hạn như khu làm nước mắm Phan Thiết nổi tiếng. Đây là những công việc

đòi hỏi phải có một công đoạn xử lí nước thải thật hữu hiệu, bởi vì các phế phẩm đều là các chất hữu

cơ nên rất dễ gây ô nhiễm môi trường, vì mùi hôi trực tiếp từ các nơi sản xuất này dễ ảnh hưởng đến

đời sống sinh hoạt của người dân.

Điển hình là nhà máy xử lí nước thải cảng cá Phan Thiết đã gây ô nhiễm cho nhiều ngư dân ở

đây bởi mùi hôi khó chịu của nó. Nguyên nhân là do người ta không tuân thủ những quy định của Bộ

KHCN & MT khi xây dựng nhà máy này. Không chỉ có trong ngành du lịch, chế biến hản sản mà trong

nông nghiệp cũng gây ra ô nhiễm nghiêm trọng và dẫn đến tử vong. Người nông dân lạm dụng phân

bón và thuốc bản vệ thực vật đã làm ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm nguồn nước ngầm và bị ngộ

độc.

Từ năm 1995 đến nay trồng trọt bình quân chiếm 75% giá trị sản xuất nông nghiệp, hàng năm

sử dụng một lượng lớn phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, trong đó riêng lượng thuốc bảo vệ

thực vật là 83-85 tấn/năm (trung bình :0,6 đến 0,7 kg/ha). Khu vực có sự dụng nhiều thuốc BVTV là

các vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu của tỉnh như Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình, Đức Linh.

Hiện nay Bình Thuận đang phải đối mặt với một số vấn đề lớn về môi trường như tình trạng

suy thoái đất, suy giảm tài nguyên rừng, tài nguyên thủy sản, hoang mạc hóa, nhiễm mặn và xói lở bờ

biển. Bên cạnh đó, việc khai thác khoáng sản chưa được kiểm soát tốt trên địa bàn đã gây ảnh hưởng

xấu tới môi trường.

Đó thật sự là những con số đáng báo động, những tác hại do ô nhiễm môi trương gây ra sẽ làm cho con

người bị bệnh tật hành, ảnh hưởng đến hiệu suất lao động. Không những vậy, nếu dẫn đến tử vong sẽ

làm mất đi một lực lượng lao động cho gia đình và xã hội. Không thể có chất lượng cuộc sống cao nếu

sống trong một môi trường lúc nào cũng ô nhiễm sẽ tác động đến tinh thần lẫn thể xác của người dân.

Họ không yên tâm sống thoải mái để có thể cống hiến lao động được.

Trong sinh hoạt hàng ngày của con người cũng là mầm mống gây ra sự ô nhiễm. Những hộ gia

đình không có hố xí hợp vệ sinh cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm.

Bảng 2.30.Tỉ lệ hộ sử dụng hố xí tỉnh Bình Thuận

Chỉ tiêu

Số hộ

Tỉ lệ %

Hố xí tự hoại và bán tự hoại

61.288

28,42

Hố xí hợp vệ sinh

41.630

19,3

Hố xí khác

33.025

15,32

Không có hố xí

79.649

36,94

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Thuận, 2002

Số hộ có hố xí các loại chiếm >50% nhưng tỉ lệ không có hố xí vệ sinh còn chiếm khá lớn, tập

trung nhiều ở khu vực nông thôn. Người dân ở đây vẫn theo lối truyền thống, ít quan tâm đến vấn đề

vệ sinh, hơn nữa ở nông thôn nhà ở cũng rộng hơn thành thị. Trong chuyến điều tra thực tế ở La Dạ ở

những vùng đồng bào dân tộc ít người vẫn quen ở lối nhà sàn, các hố xí không được xây dựng, họ

thường sống ở trên, chăn thả súc vật bên dưới, ngoài ra, việc ăn ở không vệ sinh, nguồn nước bị ô

nhiễm, tù đọng, ruồi nhặng cũng là nguyên nhân gây những bệnh truyền nhiễm. Chính những ô nhiễm

là mầm mống gây nên các dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh về hô hấp, bệnh đường ruột…

Theo kết quả điều tra, tổng lượng rác sinh hoạt khu vực đô thị tại tỉnh là 320 tấn/ngày. Đến

nay, Phan Thiết và các thị trấn đều có tổ chức thu gom, xử lí rác, với tỉ lệ tho gom rác thải ở Phan Thiết

là 70%, Liên Hương là 55%, Lagi 55%, các thị trấn còn lại là 45%. Các địa phương đều đã có quy

hoạch bãi chôn lấp rác với diện tích từ 10-30 ha. Toàn bộ các bãi rác hiện có đều chưa được đầu tư

đúng quy cách. Lượng rác không được thu gom, nhân dân tự đổ xuống sông, biển, chôn lấp hoặc đổ

bừa bãi ở các góc đường, bãi đất trống.

Trong những năm qua theo thống kê số người nhiễm các bệnh sốt rét, bệnh phổi, bệnh về mắt,

sốt xuất huyết… đều có xu hướng gia tăng lên. Điều này cho thấy chất lượng môi trường Bình Thuận

co chiều hướng xấu đi. Tuy nhiên, đến năm 2005 có 45% tỉ lệ hộ nông thôn đã có hố xí hợp vệ sinh.

Điều kiện vệ sinh môi trường khu vực nông thôn tại tỉnh nhìn chung còn khá hạn chế, đặc biệt là các

huyện phía Bắc, tỉ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh còn khá cao. Vì vậy, công tác tuyên truyền, vận

động người dân có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường sống là một việc làm cần thiết. Đồng thời, tỉnh

cần ban hành những biện pháp bảo vệ môi trường trong thời gian tới.

Bên cạnh môi trường tự nhiên cần đảm bảo thì con người cần có môi trường sống thật an toàn.

Đây luôn là vấn đề hết sức quan trọng khi mà tình hình hiện nay có những diễn biến phức tạp về xã

hội. Các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm diễn biến phức tạp. Trong những năm qua tỉnh đã có nhiều

biện pháp tích cực giảm thiểu tình hình tội phạm tạo điều kiện cho người dân yên ổn làm ăn. Đây là

những nỗ lực rất lớn và là một thành công của nước ta nói chung và Bình Thuận nói riêng. Nhiều nước

phát triển trên thế giới tình hình tội phạm, an ninh cho môi trường các nhân luôn bất ổn, gây tâm lí

hoang mang, lo sợ cho người dân như tại các nước phát triển.

Trong những năm qua, tình hình an ninh Bình Thuận đã đạt được những kết quả trên nhiều mặt:

Về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia phòng chống tội phạm. UBND các

sở, ban ngành đã tổ chức nhiều loại hình tuyên truyền thiết thực, sâu rộng trong cán bộ và nhân dân về

chủ trương và các biện pháp đấu tranh, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, đã tổ chức > 7.400

lượt tuyên truyền cổ động, tổ chức cho 364.217 hộ nhân dân tuyên truyền về PCTP…

Về công tác quản lí Nhà nước về ANTT: Đã tổ chức quán triệt,triển khai thực hiện Nghị Định

40/CP về Công an xã, tổ chức huấn luyện nghiệp vụ, tập huấn kiến thức pháp luật cho công an xã, các

lực lượng bảo vệ cơ quan… Chú trọng phát huy tốt vai trò trách nhiệm của các ngành, đoàn thể, lực

lượng vũ trang nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, đồng bộ trong đấu tranh trấn áp tội phạm và ma túy ở

địa phương.

Về công tác tấn công trấn áp tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Nhờ có sự tham mưu tích

cự, nòng cốt của các ngành chức năng và sự chỉ đạo kịp thờ, nên tình hình hoạt động các loại tội phạm

đã giảm, đã điều tra khám phá 4,525 vụ, bắt 5.204 đối tượng, triệt phá 338 ổ nhóm tội phạm, truy bắt

và vận động đầu thú 718 đối tượng truy nã… Có được những thành công như trên còn có những đóng

góp của lực lượng dân phòng, của những người dân ở các khu phố. Người dân đã có ý thức trong việc

bảo vệ, giữ gìn môi trường sống của mình.

*Mối liên hệ giữa các chỉ tiêu của mức sống dân cư

Môi trường tự nhiên được đảm bảo tốt thì mầm mống gây bệnh sẽ giảm hăn, vấn đề ý tế đảm

bảo sẽ nâng cao sức khỏe cho người dân tốt hơn. Điều này sẽ nâng cao khả năng làm việc, chi phí y tế

sẽ được giảm, tạo điều kiện cho người dân tiết kiệm một khoản nhất định và sẽ dành chúng cho việc

nâng cao chất lượng cuộc sống. Đây là một mối quan hệ tất yếu và các chỉ tiêu đó hình thành nên tổng

thể chặt chẽ. Vì vậy, khi nghiên cứu tìm hiểu chất lượng cuộc sống dân cư cần phải có cái nhìn tổng

thể, nhìn từ mối quan hệ giữa các thành tố với nhau. Có như vậy, mới có thể xây dựng nên những biện

pháp nâng cao chất lượng cuộc sống một cách hợp lí, hiệu quả.

*Một vài nhận định về mức sống dân cư tỉnh Bình Thuận.

Cùng với cả nước, Bình Thuận đã có sự chuyển dịch kinh tế đúng hướng với sự tăng dần tỉ

trọng các ngành sản xuất phi vật chất, giảm các ngành sản xuất vật chất. Chính điều này đã thúc đẩy

kinh tế tỉnh phát triển khá nhanh trong những năm qua. Và vì vậy đã nâng dần chất lượng cuộc sống

người dân trong tỉnh. Biểu hiện dễ thấy nhất đó là thu nhập bình quân đầu người đã tăng lên đáng kể,

năm 1996 thu nhập khoảng 1.965 nghìn đồng/người/năm đến năm 2005 đã tăng lên 6659 nghìn đồng/

người/ năm , tăng khoảng 3 lần trong vòng 9 năm. Nhưng nếu so với thu nhập bình quân đầu người của

TPHCM _một địa phương trong khu vực Đông Nam Bộ thì thu nhập Bình Thuận vẫn thấp. Năm 2002

thu nhập bình quân đầu người tại TPHCM là 10.849,2 nghìn đồng/ người/ năm, năm 2004 là 13.977,6

nghìn đồng/ người/ năm. Trong khi năm 2004 thu nhập bình quân đầu người của tỉnh chỉ là 5.390

nghìn đồng/ người/ năm, tức là khoảng cách chênh lệch khoảng 2,5 lần. Đây là khoảng cách cũng khá

lớn.

Không chỉ thu nhập bình quân đầu người gia tăng mà các mặt như y tế, giáo dục cũng được

đảm bảo tốt hơn. Trong lĩnh vực y tế, đã đầu tư nâng cấp cơ sở hiện có, chất lượng khám cữa bệnh

được cải thiện đáng kể, người dân yên tâm, tin tưởng với công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe của y tế.

Tuy vậy, vẫn có sự chênh lệch giữa các vùng miền, khu vực và các huyện, nhất là các huyện, xã vùng

sâu, vùng xa, vùng núi. Và nếu so với mặt bằng chất lượng y tế với các tỉnh khác vẫn còn kém nhiều.

TPHCM là nơi có chất lượng khám chữa bệnh tốt, với nhiều cơ sở hiện đại, đội ngũ cán bộ tài năng,

mạng lưới y tế phục vụ rộng khắp, và đầu tư về nhiều mặt, đạt tiêu chuẩn cao. Năm 1996 tại TPHCM tỉ

lệ bác sĩ/10.000 là 6,72 đến năm 2000 là 7,14, năm 2002 là 7.4. Trong khi đó tại thời điểm năm 2002

này tại Bình Thuận tỉ lệ bác sĩ/ 10.000 dân chỉ là 4,8 người. Con số này không chỉ thấp hơn thành phố

mà con thấp hơn mức trung bình của cả nước.

Khi điều kiện y tế được đảm bảo chất lượng cuộc sống được nâng lên thì tuổi thọ bình quân

cũng sẽ gia tăng. Năm 2000 tuổi thọ bình quân của Bình Thuận là 68 tuổi, đến năm 2002 là 69 tuổi.

Con số 69 tuổi chỉ là con số của TPHCM năm 1996, năm 2000 tuổi thọ bình quân của TPHCM là 70

tuổi tương đương với mức trung bình của cả nước.

Đối với giáo dục, Bình Thuận cũng đã ngày càng được phát triển, mở và xây dựng nhiều

trường lớp, nhiều loại hình đào tạo và giáo dục đủ mọi đối tượng. Số học sinh các cấp, số người biết

chữ gia tăng qua các năm. Tuy nhiên, số lượng những người có trình độ trên Đại học, Cao đẳng vẫn

còn ít so với nhu cầu phát triển kinh tế. Lực lượng này còn kém xa so với TPHCM, nơi có lực lượng

lao động có trình độ chiếm tỉ lệ cao và là 1 trong 2 trung tâm khoa học kĩ thuật của cả nước.

Về mức độ hưởng thụ tinh thần, thì cùng với sự đi lên của các mặt khác thì nhu cầu, mức độ

hưởng thụ văn hóa cũng được nâng lên. Người dân khi đã đảm bảo về vật chất, họ sẽ có đủ điều kiện,

thời gian, sẽ quan tâm nhiều hơn đến đời sống tinh thần của mình, nhu cầu vui chơi, giải trí sẽ phong

phú hơn, đa dạng hơn. Và hiện nay, mức độ đáp ứng về dịch vụ này cho người dân ngày càng tốt hơn,

đã phần nào đáp ứng được nhu cầu cho người dân. Tuy nhiên, so với TPHCM_đây là một trung tâm về

văn hóa, chính trị của cả nước thì mức độ hưởng thụ ở đây vẫn lớn và tốt hơn nhiều ở Bình Thuận, chất

lượng cuộc sống người dân ở dây rất cao, chính vì vậy đời sống tinh thần của họ luôn được xem là một

nhu cầu cơ bản và thiết yếu rồi, còn ở Bình Thuận thì chất lượng cuộc sống người dân còn thấp, lại

chênh lệch lớn giữa các vùng miền, chưa đảm bảo được tốt cái ăn thì đương nhiên về mặt tinh thần vẫn

còn hạn chế hơn.

Nhìn chung có thể thấy rằng, những năm vừa qua tuy có nhiều kết qủa trong việc nâng cao chất

lượng cuộc sống dân cư. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều việc giải quyết để có thể ngày một

nâng cao và hoàn thiện. Chất lượng cuộc sống người dân lên ngang tầm với cả nước, trước tiên là

ngang tầm với những địa phương trong cùng khu vực. Điều này đòi hỏi tỉnh cần có những biện pháp

đúng đắn kịp thời, bám sát với thực tế đời sống người dân. Có như vậy mới có thể hi vọng đạt được

những kết quả tốt trong tương lai, tránh nguy cơ tụt hậu so với cả nước và vùng, góp phần cùng với

những địa phương khác trong nước thực hiện thành công công cuộc CNH-HĐH đất nước.

CHƯƠNG III : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TỈNH BÌNH THUẬN

CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG

Chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ nói chung và Bình Thuận nói

riêng đã được cải thiện nhanh chóng trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn thấp so với nhiều tỉnh

thành khác trong cả nước và so với nhu cầu cải thiện chất lượng cuộc sống. Chính vì vậy, mong muốn

nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư luôn được chính quyền các tỉnh coi là nhiệm vụ cần thiết và

hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc nghiên cứu đua ra

các giải pháp hợp lí và đúng đắn phát triển kinh tế nhằm cải thiện đời sống dân cư cần dựa trên điều

kiện cụ thể của vùng và của tỉnh. Để đạt được mục đích phấn đấu nâng cao chất lượng cuộc sống dân

cư phải đẩy mạnh phát triển kinh tế mạnh mẽ và vững chắc. Đồng thời kết hợp với các chính sách xã

hội khác như giảm tốc độ tăng dân số, hướng các chính sách xã hội đến khả năng tiếp cận của người

nghèo.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung

Bộ và tỉnh Bình Thuận, nghiên cứu các nguồn lực phát triển KTXH trong mối tương quan với sự phát

triển KTXH; tình hình biến động dân số. Kết hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm

2010 và năm 2020, chương trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh đến năm 2010, định hướng đến năm

2020, chương trình xóa đói giảm nghèo tới năm 2010 và năm 2020 của cả nước.

Mục tiêu chung đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật

chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một

nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Phát huy nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ,

kết cấu hạ tầng tạo tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân.

Đẩy mạnh giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Chuyển

dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tạo nhiều việc làm; đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Đầu tư cải tạo cơ sở hạ tầng

giao thông vận tải, điện nước, tăng năng suất lao động xã hội, phát triển kinh tế nhanh và bền vững tận

dụng thế mạnh của các vùng; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, ổn định xã hội, giảm bớt sự cách

biệt giữa các vùng. Phấn đấu đến năm 2010 giảm 2/5 tỉ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế và giảm 3/4

tỉ lệ nghèo về lương thực thực phẩm so với năm 2000.

Bảng 3.1. So sánh thu nhập các tỉnh DHNTB với các vùng

Năm CẢ NƯỚC Thu nhập TB nghìn đồng/ người % Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc 1995 359.1 100 90.14 82.23 2000 651.5 100 84.60 90.47 2005 1297.1 100 92.51 92.62 Sơ bộ 2006 1484.6 100 93.15 92.21

Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên Khánh Hòa Ninh Thuận Bình Thuận Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 88.46 93.25 96.18 95.47 84.51 98.45 96.58 75.96 119.72 92.33 98.07 95.69 135.87 96.61 93.80 93.37 99.38 101.67 91.41 104.56 108.16 79.78 109.90 87.78 93.45 96.02 125.91 96.97 92.44 95.82 96.05 89.50 87.20 98.30 100.61 87.98 116.61 81.23 99.04 100.30 124.28 96.69 83.32 95.71 92.20 87.25 87.25 80.76 88.83 91.14 112.75 118.91 89.59 88.30 140.85 92.68 Nguồn : Tổng cục Thống kê 2006

3.2. .NHỮNG MỤC TIÊU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH BÌNH THUẬN VÀ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

.1. Mục tiêu chung Mục tiêu về phát triển dân cư, xã hội

Cùng cả nước, các tỉnh DHNTB và Bình Thuận phấn đấu đảm bảo công trình hạ tầng thiết yếu

cho người nghèo, cộng đồng nghèo và xã nghèo. Tiếp tục cải tạo, nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới

các công trình hạ tầng thiết yếu (thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế xã, đường giao thông, điện chiếu

sáng, nước sinh hoạt, chợ, bưu điện, nhà văn hóa xã, ...) bảo đảm đến năm 2010 cho 100% xã nghèo có

các cơ sở hạ tầng thiết yếu.

 Tiếp tục giảm tỉ lệ sinh để giảm tốc độ tăng tự nhiên dân số. Tốc độ tăng tự nhiên dân số

là 1,2%/ năm thời kì 2006 - 2010 và khoảng 1 - 1,1% thời kì 2011 -2020.

Tăng khả năng giải quyết việc làm hàng năm cho lao động, tăng tỉ lệ sử dụng thời gian lao động

nông thôn 85% (2010) và hơn 90% (2020), giảm tỉ lệ thất nghiệp khu vực đô thị còn khoảng dưới 4%

năm 2010 và 3 – 3,5% năm 2020. Nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào năm 2010.

 Giảm tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử vong và suy dinh dưỡng của trẻ em

Duy trì vững chắc xu thế giảm tỉ lệ sinh ở vùng DHNTB và tỉnh Bình Thuận, đặc biệt là các

huyện, xã vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010. Đến năm 2010 giảm tỉ lệ sinh

xuống dưới 25‰; giảm tỉ suất tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi, giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em

dưới 5 tuổi xuống dưới 20% vào năm 2010. Giảm tỉ lệ trẻ sinh thiếu cân (dưới 2.500 gram) xuống còn

5% năm 2010.

 Sức khỏe sinh sản, các bệnh dịch, HIV/AIDS và các bệnh xã hội

Giảm tỉ suất chết của bà mẹ trong khi sinh nở xuống 8/10.000 trẻ sinh ra còn sống đến năm

2010 xuống dưới 7/10.000 ở vùng DHNTB (10/10.000 ở miền núi). Cải thiện tình trạng sức khỏe của

bà mẹ sau khi sinh nở. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến cách phòng chống bênh HIV và các bệnh

truyền nhiễm, bệnh xã hội khác.

 Tạo điều kiện tăng thu nhập phấn đấu tăng từ 1,8 – 2 lần, giảm tỉ lệ nghèo (theo chuẩn

mới) còn 5 – 7% năm 2010, đến năm 2020 giảm hơn 2/3 tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn tương ứng trong

cùng thời kì.

 Phổ cập giáo dục và cải thiện chất lượng giáo dục

Củng cố, duy trì và phát huy thành quả phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ ở DHNTB,

đặc biệt ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện phổ cập THCS trong cả vùng. Tăng tỉ lệ

trẻ em dưới 3 tuổi đến nhà trẻ từ 12% năm 2000 lên 18% năm 2010. Đối với trẻ em từ 3 - 5 tuổi tăng tỉ

lệ đến trường, lớp mẫu giáo từ 50% năm 2000 lên 67% năm 2010. Tăng tỉ lệ học sinh đi học trong độ

tuổi lên lên 99% vào năm 2010. Phổ cập giáo dục THCS ở các thành phố, khu đô thị vào năm 2010.

Tăng tỉ lệ học sinh THCS và THPT trong độ tuổi lên 90% vào năm 2010.

Ở Bình Thuận, phấn đấu hoàn thành phổ cập tiểu học đúng tuổi và phổ cập THCS năm 2007

và phổ cập THPT trước 2015. Nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo lên 30 – 35% năm 2010 và khoảng 45 –

50% năm 2020.

 Tăng tuổi thọ lên 71 – 72 tuổi năm 2010 và 75-76 tuổi (2020).

Bình Thuận phấn đấu giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi xuống dưới 15% năm 2010 và

dưới 5% năm 2020. Như vậy Bình Thuận phấn đấu phát triển mạnh hơn tốc độ phát triển chung của cả

nước nói chung và vùng DHNTB .

Tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ thuật, lí luận cho đội ngũ cán bộ, chú

trọng đào tạo cán bộ tại chỗ cho y tế cơ sở.

Đẩy mạnh xã hội hóa công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân, tăng chi ngân

sách cho hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe đạt 8 USD/ người/ năm.(năm 2010).

 Giảm tỉ lệ hộ nghèo

Cùng với Vùng DHNTB và cả nước, Bình Thuận phấn đấu giảm nghèo nhằm đạt mục tiêu đến

năm 2010 giảm 2/5 tỉ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế và giảm 3/4 tỉ lệ nghèo về lương thực thực

phẩm so với năm 2000. Đảm bảo công trình hạ tầng thiết yếu cho người nghèo, cộng đồng nghèo và xã

nghèo

Tiếp tục cải tạo, nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các công trình hạ tầng thiết yếu (thuỷ lợi

nhỏ, trường học, trạm y tế xã, đường giao thông, điện chiếu sáng, nước sinh hoạt, chợ, các điểm bưu

điện văn hóa xã, nhà hội họp...) đến 2010 cho 100% xã nghèo có các cơ sở hạ tầng thiết yếu.

3.2.1.2 Về phát triển kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỉ trọng NN trong GDP xuống 16 -17% ; tăng tỉ trọng CN

lên 40 - 41% và dịch vụ 42 - 43% vào năm 2010.

Tỉ trọng lao động trong CN lên 23-24%, giảm lao động nông, lâm, ngư nghiệp xuống 50%,

tăng tỉ trọng lao động dịch vụ lên 26-27% vào năm 2010.

Tỉnh Bình Thuận đẩy nhanh và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của

cả nước, tốc độ tăng GDP thời kì 2006 - 2010 khoảng 14,32%, thời kì 2011 – 2015 khoảng 12,3 –

14,1% và thời kì 2016 – 2020 khoảng 11,5 – 12,6%. GDP/ người năm 2010 tăng khoảng 3,73 lần so

năm 2000 (tăng 1,95 lần so với năm 2005) và năm 2015 tăng khoảng 1,86 lần so năm 2010 (tăng 6,94

lần so năm 2000) và năm 2020 tăng khoảng 3,3 lần so với năm 2010 (tăng 12,3 lần so với năm 2000).

Cơ cấu kinh tế Bình Thuận tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỉ trọng khu vực CN -

XD và DV. Tỉ trọng GDP khu vực CN - XD tăng từ 32,1% năm 2005 lên 39,9% năm 2010 và 45%

năm 2020, của khu vực dịch vụ theo các mốc trên sẽ là 37,3%, 39,6% và 46,9%. GDP khu vực nông

nghiệp giảm dần từ 30,7% hiện nay xuống còn 20,5% năm 2010 và 8,1% năm 2020.

Kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội được xây dựng đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất

và đời sống nhân dân trên phạm vị toàn tỉnh.

Tăng nhanh đầu tư toàn xã hội, giải quyết tốt quan hệ tích lũy và tiêu dùng, thu hút mạnh các

nguồn vốn bên ngoài, thời 2006 – 2010 tổng vốn đầu tư xã hội đạt 45 -48% GDP, thời kì 2011 – 2020

khoảng 43 – 45%

Phát triển kinh tế đối ngoại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu. Tăng cường năng lực

cạnh tranh của các doanh nghiệp chủ động và khẩn trương trong hội nhập kinh tế quốc tế. Kim ngạch

xuất khẩu tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 19,9%/năm và 2011-2020 khoảng 26-28%0. Phấn

đấu kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt khoảng 235 triệu USD, năm 2015 đạt khoảng 480-500

triệu USD và đến năm 2020 đạt khoảng trên dưới 1 tỉ USD.

3.2.1.3 Về bảo vệ môi trường Phòng ngừa có hiệu quả khả năng ô nhiễm môi trường do các hoạt động phát triển KTXH gây

ra. Giữ gìn môi trường biển và ven biển để phát triển du lịch và đảm bảo tái tạo tài nguyên biển. Nâng

tỉ lệ che phủ rừng lên 52% vào năm 2010. Giảm thiểu tình trạng khô hạn (cả về diện rộng và độ dài

thời gian).

Cải thiện chất lượng môi trường: đảm bảo nguồn nước hợp vệ sinh cho dân số và đến năm

2010 khoảng 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch, 80% số hộ nông thôn có hố xí hợp vệ

sinh, thu gom và xử lí 100% rác thải sinh hoạt. Các khu CN đều có hệ thống quản lí và xử lí 100% chất

thải CN nguy hại, chất thải y tế. Bảo tồn và sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa

dạng sinh học, nhất là ở các khu bảo tổn thiên nhiên Đức Linh, khu vực biển và ven biển bảo vệ môi

trường

Đảm bảo 95 -98% đối tượng được giáo dục, tuyên truyền và nâng cao nhận thức bảo vệ môi

trường. Đảm bảo 100% cơ sở có đủ những điều kiện cần thiết và năng lực quản lí môi trường.

3.2.1.4 Phát triển các vùng lãnh thổ Hình thành một cơ cấu lãnh thổ hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp CNH - HĐH

đất nước, của vùng và tỉnh. Từ đó tạo đà cho sự phát triển kinh tế hợp lí, tận dụng các lợi thế so sánh

của vùng, tránh tụt hậu xa so với cả nước. Cần lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên phát triển, thu hút đầu tư

để phát huy mạnh mẽ vai trò trung tâm tăng trưởng và phát triển, tạo liên kết thúc đẩy sự phát triển các

vùng… Mặt khác, trên cơ sở thế mạnh và khả năng phát triển của từng tiểu vùng kinh tế trên địa bàn

tỉnh cần xác định hướng ưu thế cần tập trung để phát triển nền kinh tế ổn định và hiệu quả. Hình thành

và phát triển không gian đô thị trên địa bàn tỉnh với những trung tâm và khu đô thị chủ yếu sau:

Vùng kinh tế Hàm Tân - Phan Thiết - Hàm Thuận Nam - Phú Quý: phát triển vùng thành vùng

công nghiệp - du lịch của tỉnh.

Kêu gọi đối tác đầu tư phát triển 2 khu công nghiệp tập trung tại Phan Thiết, Hàm Tân. Tập

trung phát triển các cụm du lịch sinh thái, nghỉ ngơi vui chơi, đầu tư nâng cấp về cơ sở hạ tầng.

Vùng kinh tế Tuy Phong - Bắc Bình - Hàm Thuận Bắc: phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa,

xây dựng và hoàn thiện vùng sản xuất lúa thâm canh ở Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình, phát triển các vùng

trồng cây ăn quả như: thanh long, nho. Đầu tư xây dựng khu công nghiệp Tuy Phong với nhiều ngành

khác nhau như: nước khoáng, tảo, nuôi tôm… Đầu tư xây dựng phát triển khu du lịch Cà Ná-Vĩnh Hảo

- Cù Lao Câu.

Vùng kinh tế thung lũng sông La Ngà: tập trung phát triển các loại cây công nghiệp làm nguyên

liệu cho chế biến. Phát triển các ngành chế biến nông lâm sản, chế biến gỗ, vật liệu xây dựng…

Vùng miền núi, vùng sâu, vùng cao: tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng, ổn định, nâng cao đời

sống vật chất và tinh thần cho người dân, thực hiện khoán đất, khoán rừng, lập những quỹ hỗ trợ người

nghèo ở những nơi này. Phát triển về văn hóa, y tế, giáo dục, đào tạo cán bộ phục vụ cho các địa

phương này.

Mục tiêu cụ thể

3.2.2.1 Thu nhập Bảng 3.2. cơ cấu hộ theo mức sống năm 2000 và dự báo đến năm 2010

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010

% 6,75 9,25 13 Tỉ lệ hộ giàu

-Thành thị ‘’ 9,09 11,34 14,34

-Nông thôn ‘’ 6,05 8,55 12,3

‘’ 23,82 24,12 25,92 Tỉ lệ hộ khá

-Thành thị ‘’ 24,24 25,79 28,09

-Nông thôn ‘’ 21,48 21,95 22,43

‘’ 59,83 62,79 61,08 Tỉ lệ hộ trung bình

-Thành thị ‘’ 60,54 61,37 57,57

-Nông thôn ‘’ 62,90 64,21 65,27

‘’ 9,6 3,84 Dưới trung bình

-Thành thị ‘’ 6,13 1,84

-Nông thôn ‘’ 9,57 4,0

Nguồn: Sở LĐTB và XH tỉnh Bình Thuận Đây là một trong những mục tiêu quan trọng nhằm nâng cao mức sống dân cư của tỉnh. Hiện

GDP/người tại tỉnh vẫn còn thấp và có một khoảng cách khá lớn so với những nơi khác như: Thành

phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương, Khánh Hòa. Tỉnh chú trọng tăng cao tổng sản phẩm quốc

dân trong tỉnh và tạo đà cho việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người. Phấn đấu đến năm 2010 thu

nhập bình quân gấp 2,7 - 2,8 lần so với năm 2000; đến năm năm 2010 đạt 680-715 USD..Tổng sản

phẩm quốc dân tăng lên 12.244 Tỉ đồng năm 2010.

Trong thu nhập bình quân đầu người sẽ nâng cao tỉ lệ hộ giàu và giảm tỉ lệ hộ nghèo.

3.2.2.2 Lương thực và dinh dưỡng Khi xã hội càng phát triển, vấn đề dinh dưỡng phải được đảm bảo không chỉ về số lượng mà còn

về chất lượng. Đối với một tỉnh có tỉ lệ nông nghiệp khá cao, cần chú ý nâng cao năng suất lao động và

hiệu quả kinh tế NN nhằm giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp, nhưng trong những năm tới vẫn đảm bảo

tăng sản lượng lương thực 548.820 tấn vào năm 2010. Lương thực bình quân đầu người gia tăng từ

tăng lên 433 kg/người năm 2010.

Trong thu nhập bình quân đầu người của một hộ thì mức tích lũy năm 2000 khoảng 16%, còn lại

84% là chi tiêu các khoản, năm 2010 là 21% còn lại giành cho chi tiêu. Cùng với mức sống ngày một

nâng cao thì những nhu cầu đòi hỏi về mặc và chi tiêu khác ngày càng lớn hơn như chi cho ăn uống sẽ

thấp hơn so với trước.

Bảng 3.3. Cơ cấu chi tiêu của dân cư tỉnh Bình Thuận

Năm 2000 Năm 2010

Tổng chi:(%) 100 100

+Chi ăn uống 69 65

+Mặc 13 15

+Học hành 4 4

+Chữa bệnh 4 4

+Chi tiêu khác 10 12

Nguồn: Sở LĐTB và XH tỉnh Bình Thuận 3.2.2.3 Y tế sức khỏe Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu y tế ở Bình Thuận

Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2005 2010

Số giường bệnh/10.000 dân Giường 18,11 17,5 16,7

Số cán bộ y tế/10.000 dân Người 23,2 25,76 26

Số bác sĩ/10.000 dân Người 4,8 5,1 6,2

Nguồn:Quy hoạch tổng thể tỉnh Bình Thuận, 2001-2010

Xuất phát từ mục tiêu: “Sức khỏe cho mọi người đến năm 2010”, lấy công tác chăm sóc sức

khỏe ban đầu làm nhiệm vụ chủ yếu. Nâng cao một bước sức khỏe toàn dân theo quan điểm dự phòng

tích cực, giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể đi đôi với nâng cao với hiệu quả

trị bệnh. Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền.

Thanh toán cơ bản các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng như: sốt rét, bệnh tả, dịch hạch, bệnh

lao, bướu cổ, 6 bệnh của trẻ em và ngăn chặn bệnh AIDS, tập trung củng cố tuyến y tế cơ sở. Xây dựng

và nâng cấp cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu tối thiểu về khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu

và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Hiện đại hóa công nghệ chế biến dược liệu, tăng thuốc chữa bệnh tại

chỗ.

3.2.2.4 Giáo dục - Đào tạo Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân: đảm bảo đủ cơ sở trường lớp cho

học sinh, thực hiện kiên cố hóa trường lớp. Thực hiện yêu cầu giáo dục tòan diện: đức, trí, thể, mỹ ở tất

cả các ngành học, bậc học. Hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách cho học sinh. Mở

rộng quy mô đa dạng hóa các hình thức giáo dục, đào tạo. Đối với nội dung phương pháp dạy và học ở

tất cả các bậc học, cấp học.

Chú trọng phát triển giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và dân tộc

thiểu số. Tích cực nâng tỉ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến lớp: nâng tỉ lệ huy động các cháu vào nhà

trẻ lên 12-13% vào năm 2010; các cháu vào mẫu giáo đạt 70-80% vào năm 2010. Năm 2005 hầu hết

trẻ em trong độ tuổi vào tiểu học; có 90% các em trong độ tuổi vào trung học cơ sở và mục tiêu đạt xấp

xỉ 100% vào năm 2010; phấn đấu đạt tỉ lệ 70%thanh thiếu niên trong độ tuổi vào trung học phổ thông

vào năm 2010.

Giữ vững công tác phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ. Phấn đấu đến số xã, phường hoàn

thành phổ cập THCS và đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS trước năm 2010. Nâng cấp và xây dựng

đảm bảo 100% cơ sở vật chất trường học, phòng học và nhu cầu tối thiểu trang thiết bị phục vụ dạy và

học. Đẩy mạnh đào tạo nghề cơ bản ngắn hạn ở các trung tâm dạy nghề, các cơ sở sản xuất, kinh doanh

để nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo từ 7,78% năm 2000 lên 30% vào năm 2010.

3.2.2.5 Nhà ở, điện nước  Đầu tư xây dựng những khu dân cư cho người dân, có những chính sách hỗ trợ nhà cho

những người là cán bộ công nhân viên. Đối với những vùng khó khăn, những vùng đồng bào dân tộc,

tỉnh đã có chủ trương xây dựng, giúp đỡ người dân tái định cư. Có những chính sách giúp đỡ cho các

gia đình chính sách, neo đơn. Các phong trào nhà tình thương, nhà tình nghĩa được phát triển.

Trong những năm tới phấn đấu không có hộ nào không có nhà ở, nâng tỉ lệhộ có nhà kiên cố và

bán kiên lên, giảm tỉ lệnhững nhà đơn sơ không đủ tiêu chuẩn.

 Điện sinh hoạt: Tỉnh phấn đấu đến năm 2010, 100% số xã được phủ mạng lưới điện

quốc gia, 95% hộ gia đình sử dụng điện. Nâng mức tiêu thụ điện từ 85 kwh/ người/ năm hiện nay lên

mức 500 kwh/người vào năm 2010. Tiếp tục cải tạo và nâng cấp mạng lưới điện trong toàn tỉnh nhằm

phục vụ cho SX và tiêu dùng.

 Nước sinh hoạt: mục tiêu phấn đấu đến năm 2010, 100% dân số được dùng nước sạch.

Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh hệ thống cấp nước đô thị, nâng công suất cấp nước của hệ thống Phan

Thiết, Hàm Tân, Bắc Bình, Tuy Phong lên 1,5 - 2 lần để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Đầu tư xây dựng hệ

thống cấp nước ở các huyện Hàm Thuận Bắc, Đức Linh, Tánh Linh. Nghiên cứu đầu tư xây dựng hệ

thống nước tập trung cho các cụm dân cư có quy mô 2.000 hộ dân trở lên.

3.2.2.6 Văn hóa Nâng cao chất lượng và hiệu quả của mọi hoạt động văn hóa, thông tin, phát thanh, truyền

hình, thực hiện phủ sóng phát thanh và truyền hình trên 100% địa bàn lãnh thổ để nâng số hộ được

xem truyền hình từ 45,1% lên 90% năm 2010. Nâng số hộ được nghe phát thanh từ 39,4% lên 100%

năm 2010.

Xây dựng củng cố và phát triển đời sống văn hóa cơ sở lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan. Đẩy

mạnh phong trào văn nghệ quần chúng, đưa văn hóa nghệ thuật về cơ sở, chú ý các vùng sâu, vùng xa.

Phấn đấu đến năm 2010 có 95%. số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Đến năm 2010 có trên 80% đạt

số thôn, khu phố đạt tiêu chuẩn làng văn hóa, 100% cơ quan đơn vị đạt danh hiệu nếp sống văn minh,

Xây dựng các trung tâm vui chơi thể thao, giải trí. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, dân

gian, các công trình kiến trúc cổ.

3.2.2.7 Môi trường sống Đảm bảo ngày càng tốt hơn môi trường sinh sống của người dân. Hạn chế số người bị nhiễm

các bệnh có liên quan đến tình trạng ô nhiễm môi trường gây ra. Đẩy mạnh việc thực hiện các chương

trình xử lý chất thải sinh hoạt và sản xuất.

Đẩy mạnh công tác trất tự, trị an đảm bảo an ninh và an toàn xã hội, cần nâng cao ý thức cảnh

giác, tố giác tội phạm. Mục tiêu trong những năm tới là hạn chế tối đa tình hình tội phạm các loại, kiên

quyết đấu tranh và bài trừ các tệ nạn xã hội. Xây dựng các khu dân cư an ninh, trật tự, phục vụ cho

cuộc sống người dân.

3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CỤ THỂ

3.3.1. Nâng cao thu nhập

Đây là giải pháp rất quan trọng và nó có ý nghĩa chi phối trực tiếp và mạnh mẽ đến các tiêu chí

khác. Có thể nói biện pháp hiệu quả nhất và đúng đắn nhất. Đó là mở rộng và phát triển kinh tế, đa

dạng hóa các ngành nghề nhằm tạo ra việc làm và thu nhập, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế một

cách hợp lý.

 Tận dụng các tiềm năng sẵn có để phát triển kinh tế: khai thác và phát triển ngành ngư

nghiệp, phát triển mạnh mẽ về du lịch. Trên thực tế ngành du lịch của tỉnh phát triển rất mạnh mẽ

trong những năm qua tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách tỉnh. Đồng thời, còn có thể tận dụng các di

tích lịch sử văn hóa phát triển du lịch.

 Đẩy mạnh hơn nữa việc đưa những giống mới những biện pháp khoa hoc kỹ thuật vào

nông nghiệp. Gắn nông nghiệp với sản xuất hàng hóa .Đẩy mạnh việc hình thành các vùng chuyên

canh cây công nghiệp, cây ăn quả ở các địa phương, phát triển công nghệ sau thu hoạch nhằm mang lại

hiệu quả kinh tế cao hơn. Nâng cao các biện pháp hỗ trợ nông dân, tỉnh cần có những chính sách hợp lí

để xây dựng các vùng NN chuyên môn hóa theo hướng SX hàng hóa ổn định..

 Đầu tư hoàn thiện mạng lưới thủy lợi, xây dựng hệ thống kênh mương, hồ chứa nước nhằm

phục vụ cho sản xuất.Khuyến khích ngưới nông dân thực hiện các mô hình kinh tế VAC, VRAC để

nhằm tăng thêm thu nhập cho người dân.

 Đẩy mạnh phát triển công nghiệp

Công nghiệp luôn là ngành quan trọng trong công cuộc CNH - HĐH. Tỉnh có một số tài

nguyên khoáng sản: nước khoáng, đá xây dựng, cát thủy tinh… có thể tận dụng những điều kiện xây

dựng các nhà máy chế biến tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu trong tỉnh và dùng cho xuất1

khẩu.

Tỉnh sẽ nâng cấp, đầu tư về trang thiết bị công nghệ cho các nhà máy, xí nghiệp nhằm tạo ra

những sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Cần tận dụng lợi thế của khu vực để tranh thủ sự đầu tư, giúp

đỡ từ nhiều nguồn khác nhau tạo đà cho phát triển. Đối với khu vực nông thôn đẩy mạnh tiến hành

CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm tao công ăn, việc làm, tăng thu nhập giảm sức ép vào đô

thị.

 Khuyến khích các ngành nghề thủ công truyền thống có thể tận dụng nguồn nhân công nhàn

rỗi vào hoạt động tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho nhân dân.

 Tuyên truyền công tác dân số, kiểm soát tình hình gia tăng dân số. Đẩy mạnh công tác xóa đói

giảm nghèo ở các địa phương trong toàn tỉnh, đặc biệt là đối với các xã miền núi, căn cứ cách mạng, các

diện chính sách. Có những quỹ hỗ trợ người nghèo để giúp họ vượt qua khó khăn, làm ăn có lãi, nâng cao

thu nhập, ổn định cuộc sống.

 Nâng cao dân trí, tăng cường phát triển, đầu tư cho giáo dục nâng cao trình độ cho người

lao động để tiếp thu khoa học kỹ thuật, áp dụng những thành tựu công nghệ vào trong sản xuất nhằm

tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng. Vì vậy, nên chú ý công tác đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ lao

động, nâng cao tay nghề để tăng thu nhập cho người lao động là hết sức cần thiết.

Ngoài ra, để có thể nâng cao chất lượng cuộc sống thì cần phải tạo cuộc sống an bình, tư tưởng

thoải mái, cho người lao động yên tâm phấn khởi. Có như vậy sẽ nâng cao hiệu suất làm việc và có thể

tạo ra năng suất lao động cao, thu nhập nhiều hơn.

3.3.2. Giải pháp về lương thực và dinh dưỡng

 Tăng sản lượng lương thực, thực phẩm bình quân đầu người  Sử dụng giống mới có năng suất cao vào sản xuất, lựa chọn cơ cấu cây trồng hợp lý phù

hợp với điều kiện sinh thái để có thể tạo ra năng suất cao nhất. Ứng dụng khoa học kỹ thuật để có thể mang

lại hiệu quả cao và tạo ra các sản phẩm có chất lượng.

 Đẩy mạnh thâm canh tăng vụ: Đối với những vùng đồng bào dân tộc ít người cần giúp

đỡ về kỹ thuật trong quá trình canh tác. Cần tăng cường đội ngũ cán bộ, nâng cao năng lực cho lực

lượng cán bộ để có thể đáp ứng với tình hình phát triển SX NN theo quy mô lớn và hướng hang hóa.

 Trợ giá cho người nông dân, đảm bảo đầu ra cho họ. Hình thành những vùng chuyên

canh ổn định phát triển trồng trọt và chăn nuôi đẩy mạnh xuất khẩu nông sản.

 Đẩy mạnh việc phát triển ngành chăn nuôi để bổ sung lượng đạm cần thiết cho nhu cầu

dinh dưỡng của dân cư, tăng sản phẩm xuất khẩu. Trước tiên cần xác định cơ cấu vật nuôi: gia súc, gia

cầm, các giống tôm, cá và chọn giống nuôi tốt có năng suất cao. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi dưới

nhiều hình thức hộ gia đình, trang trại, hướng đến việc sản xuất háng hóa.

 Tuyên truyền phổ biến cho dân cư về chế độ dinh dưỡng

Để đảm bảo sức khỏe cần có chế độ dinh dưỡng hợp lí, các kênh thông tin tuyên truyền cho

người dân biết về tầm quan trọng của các loại lương thực, thực phẩm để người dân có chế độ ăn hợp lý,

thực hiện các biện pháp giữ gìn sức khỏe. Đặc biệt chú ý chế độ dinh dưỡng cho trẻ em để các em phát

triển tốt cả trí lực và thể lực.

3.3.3. Y tế, sức khỏe

 Tăng tỉ trọng đầu tư cho y tế dự phòng, chủ động phòng chống dịch, tiến tới giải quyết

căn bản các bệnh nhiễm khuẩn, chủ động phòng chống các bệnh tim mạch, tâm thần, HIV - AIDS...

đảm bảo vệ sinh môi trường, năm 2010 có 100% số hộ được sử dụng nước sạch và 90% số hộ có hố xí

hợp vệ sinh.

 Tập trung xây dựng các cơ sở y tế tuyến tỉnh, huyện theo đúng tiêu chuẩn phân tuyến

kinh tế của ngành. Nâng cao chất lượng hoạt động chẩn đoán, điều trị bệnh, chấn chỉnh trong hoạt

động khám chữa bệnh theo BHYT, phát triển loại hình BHYT toàn dân, BHYT người nghèo.

 Thực hiện các biện pháp giảm sinh, khống chế tỉ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,2%,

giảm nhanh tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ < 5 tuổi xuống còn 15% (2010). Tuyên truyền cho thai phụ ăn

uống đủ dinh dưỡng, chăm sóc trẻ tốt.

 Tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ thuật, lí luận cho đội ngũ cán

bộ, chú trọng đào tạo cán bộ tại chỗ cho y tế cơ sở.

 Đẩy mạnh xã hội hóa công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân, tăng

cho ngân sách cho hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe đạt 8 USD/ người/ năm. (năm 2010). Có thể nói

công tác chăm sóc y tế giáo dục luôn luôn là vấn đề quan trọng cần phải quan tâm chăm sóc cho người

dân.

3.3.4. Giáo dục - Đào tạo

 Nâng cao đội ngũ giáo viên cả số lượng và chất lượng để có thể nâng cao số giáo viên

trung bình trên một lớp học, giáo viên cần nâng cao trình độ chuyên môn, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ

giảng dạy. Có những chính sách ưu đãi cho giáo viên về những vùng sâu, vùng xa. Nâng cao trình độ

của người dân ở những vùng này. Đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, đảm bảo đủ giáo

viên cả số và chất lượng, đồng bộ về cơ cấu các bộ môn, có chính sách đào tạo, thu hút và sử dụng giáo

viên là người dân tộc và địa phương

 Tăng cường đầu tư nâng cấp các cơ sở trường học, các trang thiết bị phục vụ cho việc

giảng dạy và học tập. Cần có những quỹ hỗ trợ những học sinh nghèo học giỏi, những trẻ em không có

điều kiện học tập để tạo để tạo cơ hội cho các em có thể học tập. Tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ cập

giáo dục tiểu học và tiến tới phổ cập trung học cơ sở nhằm nâng cao trình độ học vấn cho người dân.

 Đẩy mạnh xã hội hóa công tác GD - ĐT. Mở rộng hệ thống mầm non tư thục, dân lập,

xây dựng một số trường mầm non trọng điểm. Các huyện xây dựng và chuyển dần một số trường

THCS công lập thành các trường THCS ngoài công lập đảm bảo thu hút khoảng 30% số học sinh

THCS. Chuẩn bị chuyển một số trường THPT thành Trung học phân ban, Trung học kĩ thuật nhằm

phân luồng học sinh sau THCS.

Đa dạng hóa các nguồn vốn trong xây dựng cơ sở vật chất trường học, lồng ghép nguồn vốn từ

các chương trình, dự án để sử dụng có hiệu quả trong điều kiện nguồn lực hạn chế.

3.3.5. Nhà ở, điện, nước

 Tăng cường cải tạo mạng lưới điện. Trong những năm tới tỉnh sẽ tiếp tục đầu tư, nâng

cấp mạng lưới đường dây truyền tải điện, xây dựng các máy phát điện ở các địa phương nâng tỉ lệ hộ có

điện sử dụng lên trên 90% trong những năm tới. Đối với những vùng khó khăn cần có chính sách trợ giá

cho người dân sử dụng điện, thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm để hoàn chỉnh

mạng lưới cung cấp điện.

 Tăng cường xây dựng, cải tạo nhà ở. Tăng cường đầu tư xây dựng các khu dân cư nhằm

đáp ứng cho nhu cầu của đại đa số người dân. Có những chính sách hỗ trợ nhà ở cho người dân có thu

nhập thấp. Nhân rộng phong trào xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa để xây nhà cho người có công

với cách mạng, gia đình neo đơn, hoàn cảnh khó khăn. Đối với những vùng đồng bào dân tộc ít người,

cần giúp đỡ họ định cư yên ổn làm ăn, hỗ trợ cho họ xây nhà ổn định cuộc sống.

Thực hiện các chương trình “Ngày vì người nghèo”, lá lành đùm lá rách, quyên góp tiền ủng hộ

những gia đình khó khăn.

 Nâng cao năng suất các nhà máy nước cung cấp cho nhu cầu người dân, đầu tư xây

dựng thêm các nhà máy ở Bắc Bình, Tuy Phong. Thực hiện các dự án nước sạch cho vùng nông thôn

bằng việc xây dựng các giếng nước hợp vệ sinh nhằm phục vụ cho nhu cầu người dân. Song song với

những biện pháp trên cần có những biện pháp tuyên truyền cho ngươì dân ý thức tiết kiệm điện và

nước, giữ gìn nguồn nước sạch phục vụ cho người dân.

3.3.6. Văn hóa tinh thần

 Xây dựng Trung tâm văn hóa tỉnh tại thành phố Phan Thiết, xây dựng và hoàn thiện

thiết chế văn hóa – thông tin cấp quận, huyện. Đến 2010 đảm bảo 100% các xã, phường thị trấn có nhà

văn hóa, thư viện kết hợp điểm vui chơi cho trẻ em.

 Tổ chức và sắp xếp lại các loại hình hoạt động văn hóa - nghệ thuật, rạp chiếu phim,

biểu diễn nghệ thuật. Đẩy mạnh xã hội hóa các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, tăng chỉ số hưởng thụ

nghệ thuật của nhân dân, phát triển nghệ thuật quần chúng.

 Quy hoạch tổ chức các lễ hội truyền thống và văn hóa dân gian nhằm phátr huy tính

cộng đồng, hướng về cội nguồn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa.

 Tập trung xây dựng môi trường văn hóa cơ sở, xây dựng làng văn hóa, khu dân cư văn

hóa, tăng cường hoạt động của các tổ dân phố tăng cường tình nhà, nghĩa xóm. Củng cố, phát triển hệ

thống cơ sở dịch vụ văn hóa nghệ thuật.

 Xây dựng kế hoạch sưu tầm, phục chế hiện vật nhằm bảo tồn văn hóa vật thể và phi vật

thể. Phát huy các giá trị du tích danh thắng và khoanh vùng cảnh quan liên quan đến di tích, thắng

cảnh, khai thác theo hướng bảo vệ môi trường.

Phát triển hệ thống thư viện từ cấp tỉnh đến các cấp cơ sở, đưa công nghệ thông tin vào hoạt

động thông tin vào hoạt động và quản lí của thư viện, tăng cường xây dựng mạng lưới thư viện, tủ sách

cơ sở tại các xã, phường, thị trấn, cơ quan, trường học... góp phần mở mang dân trí và làm phong phú

thêm đời sống tinh thần của nhân dân.

3.3.7. Môi trường sống

 Xây dựng các nhà máy xử lý chất thải ở những nơi sản xuất, các cơ sở y tế, ở những khu

vực thành phố, những vùng đông dân cư. Bên cạnh đó cần có những biện pháp xử lý nghiêm những

trường hợp vi phạm vệ sinh môi trường. Công tác tuyên truyền cho người dân ý thức giữ gìn vệ sinh

môi trường sống xung quanh như: phải có hố xí hợp vệ sinh, những nơi xử lý rác thải.

Từng bước hạn chế và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường đặc biệt ở các khu công nghiệp và đô

thị, đảm bảo mội trường lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi cho người lao động, tiến tới nâng cao chất

lượng môi trường sống, chấm dứt tình trạng ô nhiễm rác thải.

Hạn chế quá trình suy thoái môi trường, đặc biệt quá trình hoang mạc hóa, đất trống đồi

trọc...Quy hoạch, khai thác hợp lí TNTN, bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng biển và các vùng đồi cát tự

nhiên.

Nâng cao nhận thức cộng đồng về BVMT, nâng cao năng lực quản lí môi trường

Chấm dứt tình trạng khí thải ô nhiễm của các dự án đầu tư, nhà máy, bệnh viện...áp dụng rộng

rãi công nghệ sạch, ít phế thải, ít tiêu hao năng lượng.

Đối với vấn đề an ninh trật tự phải hết sức coi trong công tác xây dựng đội ngũ an ninh trật tư

ở các khu phố, phát huy sức mạnh của mặt trật an ninh nhân dân. Có những biện pháp xử lý thật

nghiêm minh đối với những trường hợp phạm tội. Phát huy phong trào xây dựng khu phố văn hóa, gia

đình văn hóa, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư.

Thường xuyên quán triệt sâu sắc và thực hiện đầy đủ nghị quyết của Đảng về nhiệm vụ quốc

phòng-an ninh

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh và đối

ngoại, xây dựn thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và biêtn phòng nhân

dân, xây dựng các lực lượng vũ trang của tỉnh trong sạch vững mạnh, đủ sức đánh bại âm mưu diễn

biến hòa bình , bạo loạn lật đổ, sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lượng của địch trong mọi tình

hướng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng và phát triển tỉnh nhà giàu mạnh.

3.4 KIẾN NGHỊ

Để thực hiện những giải pháp trên được hiệu quả theo chúng tôi cần tiến hành những biện pháp

sau:

Quy hoạch rõ ràng những khu vực phát triển kinh tế, những khu vực phục vụ cho những nhu

cầu người dân như: vui chơi, mua sắm, y tế, văn hóa nghệ thuật,…Chú trọng phát triển những ngành

kinh tế là thế mạnh của tỉnh.

Cần tiến hành đồng bộ những giải pháp ở các cấp, các địa phương và cần được kiểm tra đôn

đốc kịp thời, tránh xảy ra những sai phạm dẫn đến hiệu quả không cao.

Tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong việc phát triển kinh

tế, cũng như phát triển các mặt xã hội khác.Vì vậy, cần có những chính sách thu hút nguồn đầu tư đó.

Đối với các dân tộc ít người cần có những chính sách hỗ trợ, giúp đỡ họ kịp thời bằng những

biện pháp đúng đắn phù hợp với tập quán, phong tục của họ.

Trong khi thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao mức sống dân cư, cần phải nhìn rõ mối quan

hệ giữa những chỉ tiêu hình thành nên mức sống dân cư để từ đó có những các giải quyết phù hợp.

Xây dựng đội ngũ cán bộ có chuyên môn trong việc hoạch định những biện pháp thực hiện.

Muốn tiến hành các biện pháp một cách suôn sẻ, đạt hiệu quả cao, trong quá trình thực hiện

phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể.

KẾT LUẬN

Phấn đấu nâng cao CLCS dân cư là mục tiêu của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Xem xét các

tiêu chí CLCS dân cư, có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Các tiêu chí

quan trọng thể hiện CLCS: thu nhập, thu nhập bình quân đầu người, sản lượng lương thực/ người là

tiêu chí vật chất quan trọng nhất, các tiêu chí phi kinh tế như giáo dục và tuổi thọ và tinh thần, môi

trường sống.

Tỉnh Bình Thuận với vùng biển giàu tiềm năng, nhiều tài nguyên thiên có giá trị, các nhiều dân

tộc sinh sống trên khắp tỉnh. Những gần đây, kinh tế tỉnh Bình Thuận đã tăng trưởng nhanh : Các

ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch phát triển với tốc độ cao góp phần nâng cao CLCS dân cư. Thu

nhập của Bình Thuận đã tăng từ hơn 800 nghìn đồng/ người tăng lên hơn 3 triệu (2001), hiện nay năm

2005 khoảng 6 triệu đồng /người. Mức chênh lệch giữa thành thị và nông thôn được rút ngắn theo thời

gian, nếu năm 1996 là 1,4 lần thì đến năm 2000 con số này là đã giảm còn 1,1 lần chứng tỏ mức sống

người dân nông thôn được cải thiện mạnh mẽ đây là kết quả đáng khích lệ. Ngoài ra, lương thực bình

quân đầu người cũng tăng, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm hẳn.

Việc chăm sóc sức khỏe, y tế cho người dân được đảm bảo tốt hơn. Mạng lưới các cơ sở y tế

được mở rộng, số lượng các cán bộ y tế, bác sĩ cũng gia tăng qua các năm. Tỉ lệ bác sĩ trên 10.000 dân

tăng nhanh, 100% số xã có trạm y tế, các cán bộ y tế về phục vụ cho những vùng sâu, vùng xa được ưu

đãi, tình hình nhận thức về y tế của các bộ phận dân cư có sự thay đổi theo thời gian. Giáo dục phát

triển : tỉ lệ người biết chữ tăng cao, số lương cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học tăng cao. Mạng lưới

trường lớp, giáo viên, học sinh được phát triển một cách mạnh mẽ. Các trường dạy nghề, trung học

chuyên nghiệp được đầu tư phát triển

Nhà ở được cải thiện, tỉ lệ nhà ở thô sơ, hộ không có nhà ở giảm hẳn qua các năm. Tỉ lệ hộ

nghèo đói giảm, số hộ giàu tăng theo các năm. Tình hình cung cấp điện, nước được đầu tư xây dựng và

phát triển. Tỉ lệ hộ có nước sạch để dùng gia tăng, tỉ lệcác hộ dùng điện cũng có gia tăng đáng kể.

Nhu cầu văn hóa tinh thần gia tăng, số lượng các buổi biểu diễn nghệ thuật, số lượng các thư

viện, nhà văn hóa phát triển qua các năm. Số xã được phú sóng phát thanh, phát hình gia tăng qua các

năm. Bên cạnh đó, môi trường sống, an ninh được củng cố tạo cảm giác an toàn và thoải mái cho người

dân.

Nhìn chung, có thể thấy mức sống dân cư đã có những cải thiện đáng kể. Tuy vậy, vẫn còn

những hạn chế nhưng sự phân hóa khá lớn giữa thành thị và nông thôn. Tỉ lệ hộ nghèo đói vẫn còn cao,

mạng lưới cơ sở hạ tầng vẫn còn yếu. Những khu vực có nhiều đồng bào dân tộc ít người, vùng thuần

nông mức sống dân cư vẫn còn thấp. Vì vậy, cần có những biện pháp để nâng cao mức sống cho người

dân. Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn,

thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao các mặt về xã hội như: y tế, giáo dục, văn hóa, y tế…Những

biện pháp này hết sức cấp bách và cần thiết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Thị An, Nguyễn Thị Nghĩa, Tài liệu tập huấn phương pháp phân tích giới và kế hoạch

hành động giới, Dự án phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ, Bộ NN và phát triển nông thôn

2. Bộ Kế hoạch và đầu tư 2006, Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận đến năm

2020, Phan Thiết tháng 8 năm 2006

3. Nguyễn Thị Cành (chủ biên) 2001, Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các

giải pháp XĐGN trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn TPHCM,

NXB Lao động xã hội, TPHCM. 2001

4. Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, Niên giám Thống kê 1995-2005

5. Thái thị Ngọc Dư, 2004, Giới và phát triển, 178 trang, Đại học mở bán công xuất bản.

6. FAO, Socio – Economic and Gender analysis Programme (SEAGA), 2004, Rural Households

and Resourcess, a pocket guide for extension workers, 44 trang.

7. PGS. TS Phạm Xuân Hậu 1996, Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam, phần 2. ĐHSP. TP. HCM

8. Ngân hàng thế giới, 2007, Đưa vấn đề giới vào phát triển, 385 trang, Nhà xuất bản Văn hóa-

Thông tin.

9. Sở Công an tỉnh Bình Thuận 2004, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình quốc gia

về phòng chống tội phạm,

10. Sở Lao động thương bình tỉnh Bình Thuận, Quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực tỉnh Bình

Thuận 2003-2010.

11. Sở Lao động thương binh xã hội tỉnh Bình Thuận, Công tác xóa đói giảm nghèo tỉnh Bình

Thuận.

12. Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bình Thuận, Bình Thuận 10 năm hình thành và phát triển.

13. Tạp chí Thế giới toàn cảnh, 2002-2005

14. Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức 2002, Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam . NXB Giáo dục

15. Lê Thông 2005. , Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam NXB Giáo dục

16. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, Địa lý kinh tế xã hội đại cương.

NXB Đại học Sư phạm.

17. Nguyễn Minh Tuệ 1996, Dân số và sự phát triển kinh tế xã hội, trường Đại học Sư phạm Hà

Nội,

18. Lê thị Nhâm Tuyết, 2005, Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trên thềm thế kỷ XXI, 335 trang,

Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội.

19. Ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình, Việt Nam dân số và phát triển, tăng trưởng dân số lao

động xã hội

20. Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, 2004, Hướng dẫn lồng ghép giới trong họach định

và thực thi chính sách.

21. Trang web: http://www.fao.org/sd/seaga

http://www.un-instraw.org

http://www.adb.org

http:// www.apafri.org

Chữ kí của chủ nhiệm đề tài

TS. Phạm Thị Xuân Thọ

PHỤ LỤC

6.156 1.520

6.294

4.384 3.954

1.220 930 786

1.155 1.084 993 888 820

Bảng 1.Thu nhập bình quân đầu người của một số tỉnh thành Việt Nam Đơn vị : USD 5 TØnh giµu nhÊt: GDP b×nh qu©n GDP b×nh qu©n tÝnh theo PPP 10.543 Bµ RÞa Vòng Tµu Tp. Hå ChÝ Minh 7.375 Hµ Néi B×nh D­¬ng §µ N½ng 5 TØnh nghÌo nhÊt: GDP b×nh qu©n GDP b×nh qu©n tÝnh theo PPP 238 - Hoµ B×nh 223 - S¬n La 194 - B¾c K¹n 174 - Hµ Giang - Lai Ch©u 169 TØnh giµu nhÊt so víi tØnh nghÌo nhÊt: Th«ng th­êng Søc mua 6.116 / 169 = 36,4 lÇn 10.543 / 820 = 12,8 lÇn (Nguån: Ph¸t triÓn con ng­êi ViÖt Nam 1999 - 2004. NXB ChÝnh trÞ Quèc gia HN.2006) Bảng 2. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội chủ yếu trong kế hoạch 5 năm 2001 – 2005

Kế hoạch <10 22 – 25 1,2 70 60

Thực hiện 6,9 (1) 25,2 1,33 71,5 62,0

1. Tỉ lệ hộ nghèo đến năm 2005 2. Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đến năm 2005 3. Tỉ lệ tăng dân số vào năm 2005 4. Tuổi thọ bình quân năm 2005 5. Tỉ lệ dân cư nông thôn được cung cấp nước sạch vào năm 2005

(1) Năm 2004

Đơn vị : %

Thu nhập bình quân một người một tháng theo giá thực tế (Nghìn đồng)

Nhóm thu nhập cao nhất

Nhóm thu nhập thấp nhất

Chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất so với nhóm thu nhập thấp nhất (Lần)

1995 1996 1999 2001-2002 2003-2004

519,6 574,7 741,6 872,9 1 182,3

74,3 78,6 97,0 107,7 141,8

7,0 7,3 7,6 8,1 8,3

Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP, 2005

Bảng 3.Thu nhập bình quân một người / tháng và khoảng cách chênh lệch giàu nghèo

Theo chuẩn nghèo LTTP 2004

Bảng 4. Tỉ lệ hộ nghèo theo thành thị, nông thôn và theo vùng

Đơn vị : % Theo chuẩn nghèo của CP (giá hiện hành) Theo chuẩn nghèo của CP đã qui về giá tháng 1/2004

Thành thị Nông thôn Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long

6,92 3,33 8,13 4,59 9,35 21,81 12,24 7,58 12,30 1,82 5,22

18,10 8,60 21,20 12,90 23,20 46,10 29,40 21,30 29,20 6,10 15,30

23,17 13,74 26,35 18,48 29,21 51,93 36,45 27,09 32,87 8,40 20,11

- Chuẩn nghèo LTTP năm 2004 là 124 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực nông thôn

và 163 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị.

- Chuẩn nghèo của Chính phủ thời kỳ 2006-2010 là 200 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với

khu vực nông thôn và 260 nghìn đồng 1 người 1 tháng đối với khu vực thành thị.

Nguồn : www.gso.gov.vn

Chung Nhà kiên

Loại nhà Nhà bán kiên cố

Nhà tạm và nhà khác

Bảng 5. Phân loại nhà ở thành thị, nông thôn Việt Nam

58,78

20,45

cố 20,77

52,37 60,95

8,92 24,33

38,71 14,72

100.00 100.00 100.00

CẢ NƯỚC Thành thị, nông thôn Thành thị Nông thôn

Nguồn : www.gso.gov.vn

Bảng 6. Tỉ lệ hộ giàu, nghèo tỉnh Bình Thuận

Khá Trung bình Nghèo, đói Giàu Mức sống

Năm % % % Số lượng % Số lượng

97.864

6.451 54,8

Số Số lượng lượng 54,1 34.214 18,9 5,7 38.490 21,3 10.253 9.658 21,83 24.415 55,18 6.899 15,59 7,4 3.274 5,11 28.831 21,11 73.449 53,78 27.315 20,0 6.979 6,0 36.668 21,7 102.908 56,0 29.900 16,3 11.024 8,1 10.122 22,6 14,5 24.544 3.672 78.364 56,49 23.449 16,91 5,3 29.546 21,3 7.352 11.978 6,1 41.969 21,6 109.608 56,1 31.515 16,2 55,2 25.717 8,4 10.343 22,2 14,2 6.570 3.960 56,5 24.945 16,8 83.891 5,4 31.626 21,3 8.018 13.273 6,42 46.954 22,71 122.761 59,27 23.760 11,6 4.947 10,16 4.256 8,74 11.298 23,2 28.198 57,9 1996 Thành thị Nông thôn 1997 Thành thị Nông thôn 1998 Thành thị Nông thôn 1999 Thành thị

5,72 35.656 21,39 94.563 59,71 18.813 13,18 9.017 9,6 14.041 6,74 49.624 23,82 124.665 59,84 20.000 9,08 12.097 24,2 8,8 4.539 29.355 58,72 3.999 6,04 34.011 21,48 98.764 62,38 16.001 10,10 9.564 17.103 7,93 45.614 21.15 95.422 44.26 57.453 26.65 41,6 14.541 20,5 7.992 45,5 40.912 28,3 9.111 11,3 16.843 23,7 6,3 28.771 19,9 29.518 65.904

1.171 4.023 12.181 8959 Nông thôn 2000 Thành thị Nông thôn 2002 Thành thị Nông thôn Trong đó các xã khó khăn

Nguồn : Sở LĐTBXH tỉnh Bình Thuận, 2002