intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu chế tạo Oligochitosan bằng phương pháp chiếu xạ Gamma Co-60 dung dịch Chitosan/H2O2 và khảo sát hiệu ứng gia tăng số lượng hoa trên cây dâu tây (Fragaria Vesca L.)

Chia sẻ: ViVatican2711 ViVatican2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

31
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong nghiên cứu này, chitosan đã được cắt mạch trong dung dịch chitosan/H2O2 bằng phương pháp chiếu xạ gamma Co-60. Khối lượng phân tử (Mw) và độ đề axetyl (ĐĐA) của chitosan lần lượt được xác định bằng phương pháp sắc ký gel thấm qua (GPC) và phương pháp phổ hồng ngoại (IR).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu chế tạo Oligochitosan bằng phương pháp chiếu xạ Gamma Co-60 dung dịch Chitosan/H2O2 và khảo sát hiệu ứng gia tăng số lượng hoa trên cây dâu tây (Fragaria Vesca L.)

TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 32 (57) - Thaùng 9/2017<br /> <br /> <br /> <br /> Nghiên cứu chế tạo Oligochitosan bằng phương pháp<br /> chiếu xạ Gamma Co-60 dung dịch Chitosan/H2O2 và<br /> khảo sát hiệu ứng gia tăng số lượng hoa trên cây dâu tây<br /> (Fragaria Vesca L.)<br /> A study on preparation of Oligochitosan by Gamma irradiation onto Chitosan/H2O2<br /> solution and examining effects of increase in the number of flowers on strawberry<br /> (Fragaria Vesca L.)<br /> <br /> TS. Đặng Xuân Dự,<br /> Trường Đại học Sài Gòn<br /> <br /> Dang Xuan Du, Ph.D.,<br /> Saigon University<br /> <br /> Tóm tắt<br /> Trong nghiên cứu này, chitosan đã được cắt mạch trong dung dịch chitosan/H2O2 bằng phương pháp<br /> chiếu xạ gamma Co-60. Khối lượng phân tử (Mw) và độ đề axetyl (ĐĐA) của chitosan lần lượt được<br /> xác định bằng phương pháp sắc ký gel thấm qua (GPC) và phương pháp phổ hồng ngoại (IR). Kết quả<br /> cho thấy oligochitosan khối lượng phân tử Mw < 10 kDa đã được chế tạo một cách hiệu quả bằng<br /> phương pháp chiếu xạ gamma Co-60 dung dịch chitosan/H2O2 ở liều xạ thấp, khoảng 8 kGy.<br /> Oligochitosan chế tạo được có hiệu ứng gia tăng số lượng hoa của cây dâu tây. Nồng độ phù hợp của<br /> oligochitosan để phun lên cây dâu tây là khoảng 50 ppm.<br /> Từ khóa: Oligochitosan, bức xạ Gamma, dâu tây.<br /> Abstract<br /> In this study, the degradation of chitosan in the presence of H2O2 solution by gamma irradiation was<br /> investigated. The molecular weight and the degree of deacetylation of chitosan were determined by gel<br /> permeation chromatography (GPC) and infrared spectra (IR), respectively. Results showed that<br /> oligochitosan with molecular weight Mw < 10 kDa were preparared efficiently by gamma irradiation in<br /> small doses, ~8 kGy. The obtained oligochitosan imposes effects of increase in the size of leaves of<br /> fracaria vesca L. The appropriate concentration of oligochitosan used to spray onto fracaria vesca L.<br /> trees was 50 ppm.<br /> Keywords: Oligochitosan, Gamma irradiation, fracaria vesca L.<br /> <br /> <br /> 1. Mở đầu phản ứng cắt mạch. Oligochitosan tự phân<br /> Chitosan là polyme có nguốn gốc tự hủy sinh học, là prebiotic có độc tính thấp,<br /> nhiên, là sản phẩm biến tính từ chitin bằng có khả năng kháng khuẩn [8], [7] và kháng<br /> cách loại các nhóm axetyl. Oligochitosan là nấm [6]. Ngoài ra, oligochitosan còn làm<br /> dẫn xuất của chitosan được chế tạo bằng tăng sinh tế bào, tăng cường miễn dịch của<br /> <br /> 49<br /> NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO OLIGOCHITOSAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾU XẠ GAMMA CO-60…<br /> <br /> <br /> cơ thể động vật bằng cách kích thích sản (Fragaria vesca L), loại cây cho hiệu quả<br /> sinh bạch cầu, giảm cholesterol trong máu kinh tế cao, được trồng phổ biến ở cao<br /> và có tác dụng làm lành các vết thương, vết nguyên Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu<br /> bỏng [11]. Hoạt tính của oligochitosan hướng đến cung cấp các chất kích thích<br /> thường được quyết định bởi khối lượng tăng trưởng trong nông nghiệp có nguồn<br /> phân tử (KLPT, Mw) và độ đề axetyl gốc tự nhiên góp phần phát triển nền nông<br /> (ĐĐA). Do có nhiều hoạt tính sinh học độc nghiệp sinh thái bền vững.<br /> đáo, oligochitosan được ứng dụng khá đa 2. Thực nghiệm<br /> dạng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như 2.1. Nguyên vật liệu, hóa chất<br /> làm chất điều hòa sinh trưởng, phòng trị α - chitosan được chế tạo từ vỏ tôm có<br /> nấm bệnh thực vật và gia tăng khả năng ĐĐA khoảng 90%, Mw khoảng 50 kDa.<br /> miễn dịch trên động vật... Dâu tây Labiang (Fragaria vesca L.) được<br /> Các phương pháp cắt mạch chitosan để mua ở tại vườn giống Dâu tây xã An Phú,<br /> chế tạo oligochitosan đã được phổ biến bao thành phố Pleiku, Gia Lai. Hydro peroxit<br /> gồm: phương pháp hóa học, phương pháp (H2O2) là sản phẩm tinh khiết của Merck,<br /> enzym và phương pháp chiếu xạ. Ưu điểm Đức. Các hóa chất axit lactic, etanol,<br /> của phương pháp hóa học là dễ dàng tiến amoniac… được dùng ở dạng tinh khiết<br /> hành với quy mô lớn do điều kiện phản phân tích. Nước cất một lần được sử dụng<br /> ứng đơn giản. Tuy nhiên, hạn chế của cho toàn bộ thí nghiệm.<br /> phương pháp này là cho hiệu suất thấp và 2.2. Phương pháp nghiên cứu<br /> có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. 2.2.1. Phương pháp chế tạo oligochitosan<br /> Phương pháp enzym cho hiệu suất cao Trong nghiên cứu này, oligochitosan<br /> nhưng chi phí đắt. Trong khi đó, phương được chế tạo bằng cách hòa tan 5 g<br /> pháp chiếu xạ có lợi thế là có thể tiến hành chitosan trong dung dịch axit lactic 3%,<br /> dễ dàng với quy mô lớn nhưng để chế tạo thêm một lượng H2O2 30% và định mức<br /> được oligochitosan đòi hỏi phải sử dụng đến 100 mL để thu được dung dịch chiếu<br /> liều xạ cao [2]. Điều này dẫn đến khả năng xạ chứa 5% chitosan và 1% H2O2. Tiến<br /> sản phẩm tạo thành dễ bị cắt mạch nhóm hành chiếu xạ trên nguồn SVST Co-60/B<br /> amin và phá vỡ vòng glucopyranose [5], tại trung tâm Nghiên cứu và Triển khai<br /> làm giảm hoạt tính của oligochitosan. Công nghệ Bức xạ VINAGAMMA, Viện<br /> Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình Năng lượng Nguyên tử Việt Nam với suất<br /> bày kết quả chế tạo oligochitosan dựa trên liều 1,33 kGy/h, khoảng liều đến 15 kGy<br /> sự kết hợp đồng thời giữa bức xạ gamma [5]. Dung dịch sau khi chiếu xạ được trung<br /> Co-60 và H2O2. Ưu điểm của phương pháp hòa bằng NH4OH 5%, thêm một lượng cồn<br /> là có thể tiến hành ở nhiệt độ phòng, giảm bằng 6 lần thể tích dung dịch mẫu, khuấy<br /> thời gian và liều xạ, có thể chế tạo được đều, sau đó lọc kết tủa và rửa sạch bằng<br /> sản phẩm với quy mô lớn ở dạng lỏng hay cồn [1]. Mẫu sau khi rửa sạch, để khô tự<br /> dạng rắn đáp ứng yêu cầu sử dụng. Ngoài nhiên rồi sấy ở nhiệt độ 60°C trong 2 giờ.<br /> ra, tác nhân cắt mạch là H2O2 và bức xạ 2.2.2. Xác định khối lượng phân tử và<br /> gamma Co-60 là những tác nhân được cho độ đề axetyl của chitosan<br /> là khá thân thiện với môi trường. Sản phẩm Khối lượng phân tử của các mẫu<br /> cắt mạch được nghiên cứu ứng dụng làm chitosan được xác định bằng phương pháp<br /> chất gia tăng số lượng hoa của cây dâu tây sắc kí gel (GPC), trên máy LC-20AB<br /> <br /> <br /> 50<br /> ĐẶNG XUÂN DỰ<br /> <br /> <br /> Shimadzu, Nhật, sử dụng detector RID - oligochitosan để làm đối chứng. Thời điểm<br /> 10A và cột Ultrahydrogel 250 của hãng bắt đầu phun oligochitosan là sau khi cây<br /> Water, Mỹ, nhiệt độ vận hành cột là 40°C, giống được trồng khoảng 1 tuần. Sau đó,<br /> pha động là đệm axetat CH3COOH oligochitosan được phun bổ sung vào ngày<br /> 0,25M/CH3COONa 0,25M, tốc độ dòng là thứ 30 và 60 kể từ lần phun đầu tiên. Cây<br /> 1mL/phút. Chất chuẩn được sử dụng là được chăm sóc theo quy trình thông thường<br /> polysacarit Pullulan có khối lượng phân tử được canh tác tại địa phương, xã An Phú,<br /> khác nhau từ 738 đến 380 000 Da [1]. Mẫu thành phố Pleiku, Gia Lai. Số hoa dâu tây<br /> chitosan được chuẩn bị bằng cách hòa tan được đếm vào các ngày thứ 120, 130 và<br /> trong axit axetic 0,25M với nồng độ 0,3% 140 kể từ khi trồng. Kết quả được tính<br /> đến khi tan hoàn toàn, thêm muối trung bình cho một cây trên mỗi lô. Sau<br /> CH3COONa 0,25M sau đó lọc dung dịch 140 ngày tuổi, mỗi lô thí nghiệm được chia<br /> qua màng 0,45μm (Millipore filters). Mẫu làm 5 nhóm, mỗi nhóm 8 cây được đếm số<br /> chitosan được tiêm vào cột sắc kí với thể hoa lặp lại để phân tích thống kê, đánh giá<br /> tích khoảng 50 μl. Dựa vào thời gian lưu và sự khác biệt giữa các lô nghiên cứu.<br /> so sánh với đường chuẩn xác định được 3. Kết quả và thảo luận<br /> KLPT chitosan. Sự thay đổi KLPT của chitosan theo<br /> Độ đề axetyl của chitosan được xác liều xạ được thể hiện trên hình 1. Kết quả<br /> định bằng phương pháp hồng ngoại trên cho thấy KLPT giảm nhanh trong khoảng<br /> máy FT – IR 8400S, Shimadzu, Nhật. thời gian đầu chiếu xạ, khoảng liều từ 0<br /> ĐĐA được tính dựa theo phương trình [3]: đến 5 kGy. Sau khoảng liều trên, KLPT<br /> ĐĐA,% = 100 – ([31,92 × của chitosan suy giảm khá chậm theo liều<br /> (A1320/A1420)] -12,00). Trong đó, A1320 và xạ. Điều này là do nồng độ H2O2 trong<br /> A1420 lần lượt là mật độ quang tương ứng khoảng thời gian đầu chiếu xạ còn ở mức<br /> tại các đỉnh 1320 và 1420 cm-1. cao. Ngoài ra, quá trình chiếu xạ hình<br /> 2.2.3. Khảo sát hiệu ứng gia tăng số thành nên gốc tự do hydroxyl đã làm phân<br /> lượng hoa của oligochitosan đối với dâu tây hủy nhanh H2O2 [4]. Do đó, gần như quá<br /> Chuẩn bị 4 lô thí nghiệm được đánh số trình cắt mạch chủ yếu xảy ra ở giai đoạn<br /> từ 1 đến 4 mỗi lô gồm có 40 cây. Tiến hành đầu của quá trình chiếu xạ. Khi liều xạ lớn<br /> phun oligochitosan có KLPT khoảng 7,5 hơn 5 kGy, phần lớn H2O2 đã bị phân hủy,<br /> kDa với các nồng độ 50 ppm, 100 ppm, 150 nồng độ giảm mạnh nên hiệu quả cắt mạch<br /> ppm từ lô 2 đến lô 4. Lô 1 không phun cũng giảm theo.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 1. Sự thay đổi KLPT của chitosan theo liều xạ<br /> <br /> 51<br /> NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO OLIGOCHITOSAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾU XẠ GAMMA CO-60…<br /> <br /> <br /> Cơ chế cắt mạch khi có mặt đồng thời khoảng 80%. Giá trị này được nội suy từ<br /> H2O2 và tia γ đã được Ulanski và các cộng bảng 1. Nguyễn Quốc Hiến và cộng sự đã<br /> sự đề nghị [12]. Theo đó, gốc tự do chế tạo oligochitosan bằng kỹ thuật chiếu<br /> hydroxyl (•OH) được hình thành nhờ quá xạ. Kết quả cho thấy để chế tạo được<br /> trình phân ly bức xạ nước và H2O2 đã đóng oligochitosan có KLPT < 10 kDa phải sử<br /> vai trò như là tác nhân oxy hóa mạnh cắt dụng liều xạ cao hơn 100 kGy [2]. Điều<br /> mạch chitosan: này cho thấy sự có mặt H2O2 chỉ ở nồng<br /> H2O <br /> γ ray<br />  eaq- , H• , • OH, H 2O2 , H 2 , H3O+ (1) độ thấp khoảng 1% trong nghiên cứu của<br /> H2O2 <br /> γ ray<br />  2 • OH (2) chúng tôi cũng làm giảm đáng kể liều xạ<br /> Hơn nữa, sản phẩm của quá trình phân ly cần thiết để chế tạo oligochitosan. Nguyên<br /> bức xạ là e-aq và H• có thể phản ứng với nhân của hiện tượng này được giải thích<br /> H2O2 để gia tăng gốc hydroxyl •OH [9]: bằng hiệu ứng đồng vận (synergistic<br /> effect) của các tác nhân cắt mạch. Hiệu<br /> eaq- + H 2O2  • OH + OH - (3) ứng đồng vận được định nghĩa là sự tương<br /> H • + H 2O 2  •<br /> OH + H 2O (4) tác đồng thời của hai tác nhân phản ứng<br /> Theo Ulanski và cộng sự [12], gốc lớn hơn tổng tương tác của các thành phần<br /> • riêng lẻ [5]. Duy và cộng sự đã nghiên<br /> OH bắt hydro, làm đứt liên kết C – H hình<br /> thành gốc cacbohydrat R•, dẫn đến quá cứu hiệu ứng đồng vận của tia γ và H2O2<br /> trình chuyển vị và cuối cùng liên kết để chế tạo oligochitsan trong dung dịch.<br /> glycoside bị cắt, tạo thành phân tử CTS có Kết quả cho thấy để chế tạo oligochitosan<br /> KLPT thấp hơn. Hằng số tốc độ của phản có KLPT < 10 kDa thì liều xạ cần thiết<br /> ứng (3) và (4) lần lượt là k3 = 1,1×1010 cũng chỉ khoảng 10 kGy [5]. Tuy nhiên,<br /> l.mol-1.s-1 và k4 = 9×107 l.mol-1.s-1 [4]. nghiên cứu của Duy và cộng sự được thực<br /> Điều này giải thích tại sao nồng độ H2O2 hiện trên β – chitosan, loại chitosan dễ cắt<br /> giảm nhanh và quá trình cắt mạch chitosan mạch hơn α – chitosan, nồng độ áp dụng<br /> xảy ra có hiệu quả trong khoảng thời gian là 3%, thấp hơn so với nghiên cứu của<br /> đầu chiếu xạ. Hình 1 cũng cho thấy chúng tôi. Như vậy, việc áp dụng hiệu ứng<br /> oligochitosan, KLPT < 10 kDa, có thể chế đồng vận của bức xạ γ và H2O2 cho phép<br /> tạo được ở liều xạ khá thấp, khoảng 8 giảm đáng kể năng lượng chiếu xạ, tăng<br /> kGy, tương ứng với độ suy giảm KLPT hiệu quả chế tạo oligochitosan.<br /> <br /> Bảng 1: Sự thay đổi KLPT và ĐĐA của chitosan theo liều xạ<br /> <br /> Liều xạ(*), kGy 0 2,7 6,7 11,0 15<br /> Thời gian, giờ 0 2 5 8 11<br /> KLPT, kDa 50 20,5 12,5 7,5 5,5<br /> Độ giảm KLPT, % 0 59 75 85 89<br /> ĐĐA, % 90 87 87 86 83<br /> (*)<br /> Suất liều 1,33 kGy/h<br /> <br /> <br /> 52<br /> ĐẶNG XUÂN DỰ<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 2. Phổ FT - IR của chitosan ban đầu (a) và chitosan được chiếu xạ ở liều 6,7<br /> kGy (b); 11 kGy (c); 15 kGy (d)<br /> <br /> Phổ FT- IR của mẫu chitosan ban đầu [10]. Các đỉnh ở 1320 và 1420 cm-1 tương<br /> và các mẫu chitosan sau khi chiếu xạ ở các ứng đặc trưng cho dao động kéo giãn của<br /> liều khác nhau được thể hiện trên hình 2. liên kết C–N trong nhóm CH3CONH–<br /> Kết quả cho thấy cấu trúc chính của (amide III) và dao động biến dạng của liên<br /> oligochitosan thu được (hình 2b, c, d) hầu kết C–H, đây là hai đỉnh đặc trưng được sử<br /> như không thay đổi so với chitosan ban đầu dụng để tính toán sự thay đổi ĐĐA của<br /> (hình 2a). Các đỉnh đặc trưng tiêu biểu cho chitosan [3]. Kết quả xác định cho thấy<br /> các nhóm liên kết trong chitosan đều xuất oligochitosan KLPT khoảng 5,5 kDa, thu<br /> hiện trong các mẫu oligochitosan. Đỉnh được tại liều xạ 15 kGy, có ĐĐA giảm<br /> phổ nằm trong vùng 3200 – 3500 cm-1 đặc khoảng 8% so với chitosan ban đầu (bảng<br /> trưng cho dao động kéo giãn của liên kết 1). Kết quả này khá phù hợp với nghiên<br /> N–H trong nhóm amine và liên kết O–H. cứu của Duy và cộng sự khi cắt mạch<br /> Đỉnh ở 1655 và 1595 cm-1 đặc trưng cho chitosan trong dung dịch chứa 3% chitosan<br /> dao động kéo giãn của liên kết C=O trong bằng tia γ và H2O2 với độ giảm ĐĐA<br /> nhóm –CONH– (amide I) và dao động uốn khoảng 10% [5]. Như vậy, sử dụng H2O2 ở<br /> của –NH trong nhóm –CONH– (amide II). nồng độ thấp khoảng 1% kết hợp đồng thời<br /> Các đỉnh ở 1072, 1028, 1153 và 893 cm-1 với tia γ cho phép chế tạo hiệu quả<br /> lần lượt đặc trưng cho dao động kéo giãn oligochitosan ở liều xạ khá thấp khoảng 8<br /> của liên kết C–O, dao động kéo giãn của kGy. Oligochitosan thu được có cấu trúc<br /> C–O–C trong vòng glucopyranose và các hầu như không thay đổi so với chitosan<br /> dao động của liên kết β – 1,4 glycoside ban đầu.<br /> <br /> 53<br /> NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO OLIGOCHITOSAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾU XẠ GAMMA CO-60…<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 3. Cây dâu tây 140 ngày tuổi ở lô đối chứng 1 (a) và lô 2, được phun<br /> oligochitosan nồng độ 50 ppm (b)<br /> <br /> <br /> Hình 3 cho thấy sự khác nhau về số thêm. Tuy nhiên, theo nhận định của chúng<br /> lượng cuống hoa và quả của dâu tây sau tôi có thể do oligochitosan là kháng sinh<br /> 140 ngày tuổi. Ở lô đối chứng (hình 3a) số thực vật [9] khi được sử dụng ở liều cao<br /> lượng cuống hoa thu được tương đối ít hơn (150 ppm) có thể gây ngộ độc cho cây dẫn<br /> so với lô có phun oligochitosan ở nồng độ đến ức chế khả năng ra hoa. Ảnh hưởng<br /> 50 ppm (hình 3b). Trong quá trình theo của oligochitosan đến khả năng cho hoa<br /> dõi, chúng tôi nhận thấy dâu tây bắt đầu ra của cây dâu tây theo ngày tuổi được thể<br /> hoa ở 120 ngày tuổi trên các lô 1, 2, 3, hiện trên hình 4. Kết quả cho thấy số lượng<br /> riêng lô 4 thì vẫn chưa quan sát thấy hoa hoa thu được sau 120, 130 và 140 ngày<br /> sau thời gian trên. Nguyên nhân của vấn đề trên các lô 2 và 3 có phun oligochitosan<br /> này vẫn chưa rõ cần được nghiên cứu tương đối lớn hơn so với lô đối chứng 1.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 4. Ảnh hưởng của oligochitosan đến khả năng cho hoa của dâu tây<br /> <br /> <br /> <br /> 54<br /> ĐẶNG XUÂN DỰ<br /> <br /> <br /> Bảng 2. Số lượng hoa trung bình của cây dâu tây sau 140 ngày tuổi ở các lô khác nhau<br /> Nhóm Lô đối Lô 2 Lô 3<br /> (8 chứng 1 (50 (100<br /> cây/nhóm) (0 ppm) ppm) ppm)<br /> 1 42,8 43,8 43,7<br /> 2 42,7 43,5 43,6<br /> 3 42,7 43,7 43,7<br /> 4 42,9 43,9 43,5<br /> 5 42,7 43,6 43,5<br /> Trung 42,8 ± 0,1 43,7 43,6<br /> bình ± 0,2 ± 0,1<br /> <br /> Kết quả phân tích ANOVA một chiều ở liều xạ khá thấp, khoảng 8 kGy. Cấu trúc<br /> và kiểm định LSD bằng chương trình SPSS chính của oligochitosan thu được hầu như<br /> 16.0 đối với 5 nhóm lặp lại trên các lô thí không khác biệt so với chitosan ban đầu.<br /> nghiệm ở 140 ngày tuổi (Bảng 2) cho thấy ĐĐA của oligochitosan KLPT 5,5 kDa<br /> nồng độ 50 và 100 ppm của oligochitosan giảm khoảng 8%. Oligochitosan KLPT<br /> phun lên dâu tây đều cho hiệu quả gia tăng khoảng 7,5 kDa có hiệu ứng gia tăng số<br /> số lượng hoa cao hơn so với lô đối chứng lượng hoa đối với dâu tây. Nồng độ phù<br /> (p = 0,00). Ngoài ra, số lượng hoa trên các lô hợp của oligochitosan để phun lên cây dâu<br /> 2 và 3 tương ứng với nồng độ của tây là khoảng 50 ppm.<br /> oligochitosan được phun là 50 và 100 ppm<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> cũng khác nhau có ý nghĩa thống kê<br /> (p = 0,002). Điều này chứng tỏ oligochitosan 1. Đặng Xuân Dự, Đinh Quang Khiếu, Diệp<br /> Khanh, Nguyễn Quốc Hiến. “Nghiên cứu hiệu<br /> ở nồng độ thấp khoảng 50 ppm có khả năng ứng đồng vận dung Co – 60 và H2O2 cắt mạch<br /> kích thích gia tăng số lượng hoa tốt hơn so chitosan chế tạo oligochitosan”, Tạp chí Hóa<br /> với ở nồng độ 100 ppm. Đối với lô 4, nồng Học, 51(2C), 627-631 (2003).<br /> độ oligochitosan 150 ppm, cây chỉ cho hoa 2. Nguyễn Quốc Hiến, Lê Hải, Lê Quang Luân,<br /> sau 133 ngày tuổi, những quan sát ban đầu Trương Thị Hạnh, Phạm Thị Lệ Hà. “Nghiên<br /> cho thấy số lượng hoa ít hơn và không đồng cứu chế tạo oligochitosan bằng kỹ thuật bức<br /> xạ”, Tạp chí Hóa học, 38(2), 22-44 (2000).<br /> đều so với các lô 1, 2 và 3. Cơ chế kích thích<br /> và ức chế khả năng cho hoa của 3. J. Brugnerotto, J. Lizardi, F. M. Goycoolea,<br /> W. Arguelles – Monal, J. Desbrieres, M.<br /> oligochitosan lên dâu tây vẫn cần được Rinaudo. “An infrared investigation in<br /> nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, việc sử dụng relation with chitin and chitosan<br /> oligochitosan phun cho dâu tây theo chúng characterization”, Polymer, 42, 3569-3580<br /> tôi nên tiến hành ở liều thấp, với nồng độ (2001).<br /> nhỏ hơn 100 ppm. 4. G. V. Buxton, C. L. Greenstock, W. P.<br /> 4. Kết luận Helman, A. B. Ross. “Critical review of rate<br /> Oligochitosan có KLPT < 10 kDa đã constants for hydrated electron, hydrogen<br /> atoms and hydroxyl radical (OH/O-) in<br /> được chế tạo hiệu quả bằng phương pháp aqueous”, Journal of Physical and Chemical<br /> chiếu xạ dung dịch chitosan 5%, H2O2 1% Reference Data, 17(2), 513-886 (1988).<br /> <br /> 55<br /> NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO OLIGOCHITOSAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾU XẠ GAMMA CO-60…<br /> <br /> 5. N. N. Duy, D. V. Phu, N. T. Anh, N. Q. Hien. 9. S. K. Kim, N. Rajapakse. “Enzymatic<br /> “Synergistic degradation to prepare production and biological activities of<br /> oligochitosan by  - irradiation of chitosan chitosan oligosaccharides (COS): A review”,<br /> solution in the presence of hydrogen Carbohydrate Polymers, 62, 357-368 (2005).<br /> peroxide”, Radiation Physical Chemistry, 80, 10. 10.J. Kumirstra, M. Czerwicka, Z.<br /> 848-853 (2011). Kaczynski, A. Bychowska, K. Brozowski, J.<br /> 6. S. Hirano, N. Nagao. “Effects of chitosan, Thoming, P. Stepnowski. “Application of<br /> pectic acid, lysozyme and chitinase on the spectroscopic methods for structural<br /> growth of several phytopathogens”. analysis of chitin and chitosan”, Marine<br /> Agricultural and Biological Chemistry, 53, Drugs, 8, 1567-1636 (2010).<br /> 3065-3066 (1989). 11. J. Shao, Y. Yang, Q. Zhong. “Study on<br /> 7. Y. J Jeon, S. K. Kim. “Effect of antimicrobial preparation of oligoglucosamine by<br /> activity by chitosan oligosaccharides N- oxidative degradation under microwave”,<br /> conjugated with asparagines”, Journal of Polymer Degradation and Stability, 82, 395-<br /> Microbiology and Biotechnology, 11, 281-286 398 (2003).<br /> (2001). 12. P. Ulanski, C. von Sontag. “OH – radical<br /> 8. Y. J. Jeon, P. J. Park, S. K. Kim. induced chain scission of chitosan in the<br /> “Antimicrobial effect of chitooligosaccharides absence and present of dioxygen”, Journal<br /> produced by bioreactor”, Carbohydrate of the Chemical Society, Perkin Transactions,<br /> Polymers, 44, 71-76 (2001). 2, 2022-2028 (2000).<br /> <br /> <br /> Ngày nhận bài: 28/7/2017 Biên tập xong: 15/9/2017 Duyệt đăng: 20/9/2017<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 56<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=31

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2