BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ PHƯƠNG HẠNH
NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG NGÔ NĂNG SUẤT CAO CHỐNG CHỊU BỆNH GỈ SẮT (Puccinia sp.) CHO VÙNG TÂY NGUYÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ PHƯƠNG HẠNH
NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG NGÔ
NĂNG SUẤT CAO CHỐNG CHỊU BỆNH GỈ SẮT (Puccinia sp.) CHO VÙNG TÂY NGUYÊN
Chuyên ngành: Di truyền và Chọn giống cây trồng
Mã số: 62620111
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1: TS. Bùi Mạnh Cường
2: TS. Trần Quang Tấn
Hà Nội - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của
các cơ quan, thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS. Bùi Mạnh Cường, thầy
TS. Trần Quang Tấn đã tận tình giúp đỡ, động viên trong lúc khó khăn, truyền đạt
những kiến thức, những kinh nghiệm quí báu trong quá trình tôi làm đề tài và học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Lãnh đạo Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam, Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ Ban Đào tạo sau đại học đã nhiệt
tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi học tập.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Ngô, Phòng Khoa
học và Hợp tác Quốc tế, tập thể cán bộ Bộ môn Công nghệ Sinh học cùng toàn thể
công nhân viên Viện Nghiên cứu Ngô đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Trường Đại học Tây Nguyên,
Khoa KHTN&CN, quý thầy cô trong Bộ môn SHTN và tập thể quý thầy cô Trường
Đại học Tây Nguyên đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian
tôi học tập và công tác.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, quý cô đã đọc, nhận xét và đưa ra
những ý kiến đóng góp quí báu cho luận án.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và người thân luôn ở
bên chia sẻ, động viên giúp đỡ tôi.
Hà Nội, ngày 9 tháng 4 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Phương Hạnh
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự chỉ dẫn của
các thầy hướng dẫn và sự giúp đỡ của đồng nghiệp. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận án là trung thực, các thông tin trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu đã công bố trong luận án.
Người cam đoan
Trần Thị Phương Hạnh
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ..............................................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT .............................................. vii
DANH MỤC BẢNG ..................................................................................................ix
DANH MỤC HÌNH ...................................................................................................xi
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ..................................................................... 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .............................................................................. 2
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ................................ 3
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ................................................... 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................... 4
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ................................................................. 4
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ......... 7
1.2.1 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô trên thế giới ....................................... 7
1.2.2 Ưu thế lai và ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống ngô ..................... 8
1.2.3 Dòng thuần, các phương pháp chọn tạo và đánh giá dòng ...................... 10
1.2.3.1 Khái niệm dòng thuần ........................................................................ 10
1.2.3.2 Các phương pháp chọn tạo dòng thuần .............................................. 10
1.2.3.3 Khả năng kết hợp ............................................................................... 13
1.2.3.4 Phương pháp đánh giá khả năng kết hợp ........................................... 14
1.2.4 Đa dạng di truyền và ứng dụng trong chọn tạo giống ngô lai ................. 15
1.2.4.1 Chỉ thị hình thái ................................................................................. 16
1.2.4.2 Chỉ thị hoá sinh .................................................................................. 17
1.2.4.3 Chỉ thị phân tử ADN .......................................................................... 18
1.2.5 Bệnh gỉ sắt trên cây ngô........................................................................... 20
1.2.5.1 Tác nhân gây bệnh ............................................................................. 21
iv
1.2.5.2 Ảnh hưởng của môi trường đến sự lây nhiễm và phát triển bệnh ..... 24
1.2.5.3 Ảnh hưởng của bệnh gỉ sắt đến cây ngô ............................................ 26
1.2.5.4 Sự thay đổi của tác nhân gây bệnh .................................................... 27
1.2.5.5 Tính kháng bệnh gỉ sắt của cây ngô .................................................. 27
1.2.5.6 Kiểm soát bệnh gỉ sắt ở ngô .............................................................. 33
1.2.5.7 Những nghiên cứu chọn tạo giống ngô năng suất cao chống chịu
bệnh gỉ sắt. ..................................................................................................... 34
1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ...... 37
1.3.1 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô ở Việt Nam ...................................... 37
1.3.2 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô ở Tây nguyên ................................... 39
1.3.3 Dòng thuần và đánh giá dòng .................................................................. 42
1.3.4 Đa dạng di truyền và ứng dụng trong chọn tạo giống ngô lai ................. 44
1.3.4.1 Chỉ thị hình thái ................................................................................. 44
1.3.4.2 Chỉ thị phân tử ADN .......................................................................... 44
1.3.5 Những nghiên cứu về bệnh gỉ sắt và chọn tạo giống ngô chống chịu
bệnh gỉ sắt ......................................................................................................... 45
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU .......................................................................................................................... 46
2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU ........................................................................... 46
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .......................................................................... 48
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................. 48
2.3.1 Phương pháp điều tra tình hình sản xuất và bệnh hại trên ngô ............... 48
2.3.2 Phương pháp lây nhiễm bệnh nhân tạo .................................................... 49
2.3.3 Phương pháp đánh giá dòng, tổ hợp lai đỉnh, lai luân phiên ................... 51
2.3.4 Phương pháp đánh giá đa dạng di truyền bằng chỉ thị phân tử SSR ....... 54
2.3.5 Phương pháp khảo nghiệm ...................................................................... 57
2.3.6 Các phương pháp phân tích và sử lý số liệu ............................................ 57
2.4 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ............................................... 57
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .............................. 59
v
3.1 TÁC HẠI CỦA BỆNH GỈ SẮT TRÊN NGÔ Ở TÂY NGUYÊN ................ 59
3.1.1 Tình hình các bệnh hại ngô ở Tây Nguyên .............................................. 59
3.1.2 Tình hình bệnh gỉ sắt trên ngô ở Tây Nguyên ......................................... 60
3.2 ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC, KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA
TẬP ĐOÀN DÒNG CHỐNG CHỊU BỆNH GỈ SẮT ......................................... 63
3.2.1 Kết quả tuyển chọn tập đoàn dòng chống chịu bệnh gỉ sắt cho vùng
Tây Nguyên ...................................................................................................... 63
3.2.1.1 Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng ngô nghiên cứu
bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo .......................................................... 64
3.2.1.2 Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của dòng ngô ngoài đồng
ruộng .............................................................................................................. 68
3.2.2 Đặc điểm nông sinh học và khả năng chống chịu của tập đoàn dòng
chống chịu bệnh gỉ sắt ...................................................................................... 71
3.3 ĐA DẠNG DI TRUYỀN, ĐỘ THUẦN DI TRUYỀN VÀ KHẢ NĂNG
KẾT HỢP CỦA TẬP ĐOÀN DÒNG CHỐNG CHỊU BỆNH GỈ SẮT .............. 84
3.3.1 Đa dạng di truyền của tập đoàn dòng chống chịu bệnh gỉ sắt ................. 84
3.3.2 Khả năng kết hợp về năng suất của tập đoàn dòng chống chịu bệnh
gỉ sắt .................................................................................................................. 91
3.3.2.1 Đánh giá khả năng kết hợp về năng suất của tập đoàn dòng bằng
phương pháp lai đỉnh ..................................................................................... 92
3.3.2.2 Đánh giá khả năng kết hợp về năng suất bằng phương pháp lai
luân phiên ....................................................................................................... 93
3.4 ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC, KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU, ƯU
THẾ LAI CỦA CÁC TỔ HỢP LAI ĐỈNH, LAI LUÂN PHIÊN VÀ CHỌN
LỌC CÁC TỔ HỢP LAI TRIỂN VỌNG ............................................................ 94
3.4.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, ưu thế lai
của các tổ hợp lai đỉnh ...................................................................................... 94
3.4.2 Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, ưu thế lai
của các tổ hợp lai luân phiên .......................................................................... 102
vi
3.5 KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ TỔ HỢP LAI CHỐNG CHỊU
BỆNH GỈ SẮT TRIỂN VỌNG .......................................................................... 110
3.5.1 Kết quả khảo nghiệm cơ sở ................................................................... 110
3.5.2 Kết quả khảo nghiệm trong hệ thống khảo nghiệm quốc gia ................ 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 119
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ............................................................................................................... 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 121
vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ Viết tắt
Acide Désoxyribo Nucléique ADN
Amplified Fragment Length Polymorphism - Đa hình chiều dài AFLP
đoạn nhân bản
AMBIONET Asian Maize Biotechnology Network - Mạng lưới công nghệ
sinh học cây ngô châu Á
AUDPC Area Under Disease Progress Curve- chỉ số tích lũy bệnh
bp base pair - cặp bazơ
CIMMYT Centro Internacional de Mejoramiento de Maiz y Trigo - Trung
tâm cải lương giống ngô và lúa mì quốc tế
Coefficient of Variation - Hệ số biến động CV
Double Haploid - Đơn bội kép DH
General Combining Ability - Khả năng kết hợp chung GCA
Genetic Distance - Khoảng cách di truyền GD
Heterobeltiosis - Ưu thế lai thực Hbp
Midparent Heterosis - Ưu thế lai trung bình Hmp
Standard Heterosis - Ưu thế lai chuẩn Hs
Khả năng kết hợp chung KNKHC
Khả năng kết hợp riêng KNKHR
Least Significant Defference - Sai khác nhỏ rất có ý nghĩa LSD
MSTATC Management and Statistical Research Tool - Phần mềm xử lý
thống kê của Đại học Michigan, Mỹ.
Nhiễm sắc thể NST
Năng suất thực thu NSTT
Numerical Taxonomy System - Hệ thống phân loại số NTSYS
Polymerase Chain Reaction - Phản ứng chuỗi trùng hợp PCR
viii
QTLs Quantitative Trait Loci - Locus gen quy định tính trạng số
lượng
RAPD Random Amplified Polymorphic DNA - Đa hình đoạn ADN
được nhận ngẫu nhiên
RFLP Restriction Fragment Length Polymorphism - Đa hình chiều
dài đoạn cắt giới hạn
Statistical Analysis Systems SAS
Specific Combining Ability - Khả năng kết hợp riêng SCA
Simple Sequence Repeats SSR
Giá trị trung bình TB
Tổ hợp lai THL
Unweighted Pair Group Method with Arithmetic Averages UPGMA
Ưu thế lai ƯTL
ix
DANH MỤC BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở Tây Nguyên giai đoạn 2010 - 2013 ........ 39
2.1. Danh sách các dòng ngô nghiên cứu ............................................................. 46
2.2. Danh sách 29 mồi SSR .................................................................................. 47
2.3. Mức độ nhiễm bệnh của các dòng nghiên cứu .............................................. 50
2.4. Mức độ hình thành bào tử .............................................................................. 51
2.5. Thành phần của một phản ứng PCR .............................................................. 55
2.6. Chu trình nhiệt của phản ứng PCR ................................................................ 56
3.1. Thành phần bệnh hại và mức độ phổ biến trên ngô ở Tây Nguyên............... 59
3.2. Điều tra mức độ phổ biến của bệnh gỉ sắt (Puccina sp.) trên ngô tại
Tây Nguyên ................................................................................................... 60
3.3. Điều tra tác hại của bệnh gỉ sắt (Puccina sp.) đến năng suất ngô ở Tây
Nguyên (tạ/ha) ............................................................................................... 62
3.4. Phản ứng của các dòng ngô đối với bệnh gỉ sắt khi lây nhiễm nhân tạo ....... 65
3.5. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu ngoài đồng ruộng ......... 69
3.6. Thời gian sinh trưởng của các dòng nghiên cứu ............................................ 72
3.7. Khả năng chống chịu của các dòng nghiên cứu ............................................ 74
3.8. Một số đặc điểm hình thái của các dòng nghiên cứu tại Đan Phượng .......... 76
3.9. Một số đặc điểm hình thái của các dòng nghiên cứu tại Buôn Ma Thuột ........... 77
3.10. Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng nghiên cứu tại
Đan Phượng ................................................................................................... 79
3.11. Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng nghiên cứu tại
Buôn Ma Thuột ............................................................................................. 80
3.12. Tỷ lệ khuyết số liệu và tỷ lệ dị hợp tử của các dòng nghiên cứu .................. 85
3.13. Hệ số PIC, số băng ADN và số alen xuất hiện trên 29 cặp mồi SSR ............ 87
3.14. Khả năng kết hợp về năng suất của 20 dòng thí nghiệm nghiên cứu ............ 92
3.15. Khả năng kết hợp về năng suất của 8 dòng thí nghiệm ................................. 93
3.16. Thời gian sinh trưởng và đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai đỉnh ........... 95
x
3.17. Khả năng chống chịu của các tổ hợp lai đỉnh ................................................ 97
3.18. Yếu tố cấu thành năng suất các tổ hợp lai đỉnh ............................................. 99
3.19. Năng suất và ưu thế lai của các tổ hợp lai đỉnh ........................................... 101
3.20. Thời gian sinh trưởng và đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai luân phiên ....... 103
3.21. Khả năng chống chịu của các tổ hợp lai luân phiên .................................... 105
3.22. Yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai luân phiên ........................... 107
3.23. Năng suất và ưu thế lai của các tổ hợp lai luân phiên ................................. 109
3.24. Thời gian sinh trưởng và năng suất của VN5885, VN665 và VN667
tại Đan Phượng - Hà Nội ............................................................................. 111
3.25. Thời gian sinh trưởng (ngày) của VN5885, VN665 và VN667 .................. 112
3.26. Khả năng chống chịu của VN5885, VN665 và VN667 ở các tỉnh
Tây Nguyên ................................................................................................ 112
3.27. Năng suất của VN5885, VN665 và VN667 ở các tỉnh Tây Nguyên (tạ/ha) ..... 113
3.28. Một số đặc điểm nông sinh học của VN5885 ở Tây Nguyên ...................... 114
3.29. Năng suất của VN5885 tại các điểm khảo nghiệm sản xuất (tạ/ha) ............ 115
3.30. Một số đặc điểm nông sinh học của VN665 và VN667 ở Tây Nguyên ...... 116
xi
DANH MỤC HÌNH
Hình Tên hình Trang
1.1. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi ............................ 22
1.2. Mặt sau lá me đất (Oxalis) bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi
(Ổ bào tử xuân -aecial) . ................................................................................ 22
1.3. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia polysora ........................ 23
1.4. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Physopella zeae ........................... 24
3.1. Hình ảnh thí nghiệm nhiễm bệnh nhân tạo. ................................................... 64
3.2. Lá của các dòng ngô ở 3 mức độ phản ứng với bệnh gỉ sắt sau 30 ngày
lây nhiễm. ...................................................................................................... 66
3.3. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu sau 50 ngày
lây nhiễm. ...................................................................................................... 67
3.4. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu sau 80 ngày
gieo trồng ngoài đồng ruộng ......................................................................... 70
3.5. Sự biểu hiện tính chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu .............. 71
3.6. Ảnh cây và bắp của một số dòng nghiên cứu vụ Thu Đông 2009 ................. 83
3.7. Điện di sản phẩm SSR-PCR với mồi umc1153 và phi109188 ...................... 88
3.8. Sơ đồ hình cây về mối quan hệ di truyền của 30 dòng trên cơ sở phân
tích 29 locus SSR. ......................................................................................... 91
3.9. Ảnh bắp của một số tổ hợp lai đỉnh và đối chứng ....................................... 102
3.10. Tổ hợp lai C10N x C4N giai đoạn chín sinh lý ........................................... 110
3.11. Ảnh của 2 tổ hợp lai triển vọng VN665 và VN667 .................................... 117
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngô (Zea may L.) được xem là một trong những cây ngũ cốc quan trọng gắn
liền với đời sống và nền văn minh của nhiều dân tộc trên thế giới. Cây ngô nằm
trong nhóm các cây lương thực chính có tốc độ tăng trưởng cao nhất về năng suất
cũng như sản lượng. Năm 2013, diện tích trồng ngô trên thế giới lên đến 184,2 triệu
ha, năng suất bình quân đạt 5,52 tấn/ha, sản lượng đạt 1016,74 triệu tấn, so với năm
1995, diện tích trồng ngô tăng 13,38%, năng suất tăng 55,09% góp phần làm tăng
sản lượng lên 101,67% [138].
Ở Việt Nam, ngô là loại cây lương thực quan trọng chỉ đứng thứ hai sau cây
lúa. Ngô là thức ăn chính đối với các loại gia cầm, vật nuôi và là nguồn thu nhập
quan trọng của nhiều nông dân. Cây ngô không chỉ biết đến bởi giá trị kinh tế và giá
trị dinh dưỡng cao mà còn là một cây trồng quan trọng, có khả năng khai thác tốt
trên các loại đất khó khăn, trên các vùng đồi núi, vùng khô hạn. Trong những năm
gần đây, diện tích, năng suất và sản lượng của cây ngô không ngừng gia tăng. Giai
đoạn 1985 - 2004, diện tích, năng suất và sản lượng ngô tăng liên tục với tốc độ cao,
tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm trong suốt giai đoạn về diện tích là 7,5%/năm,
năng suất 6,7%/năm và sản lượng là 24,5%/ năm. Năm 2006, Việt Nam đã trở thành
một trong 20 nước có sản lượng ngô hạt cao nhất thế giới [139]. Năm 2013, diện
tích trồng ngô cả nước đạt 1,17 triệu ha với năng suất trung bình 4,44 tấn/ha, cao
hơn năng suất trung bình khu vực Đông Nam Á (4,14 tấn/ha) và một số nước trong
khu vực như Phillipines (2,56 tấn/ha) nhưng vẫn còn thấp hơn năng suất ngô trung
bình Châu Á (5,12 tấn/ha), thế giới (5,52 tấn/ha) và Mỹ (9,97 tấn/ha) [138]. Chiến
lược phát triển khoa học và công nghệ của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đối với cây ngô là phấn đấu đạt sản
lượng 7,15 triệu tấn ngô hạt vào năm 2015 và 9 triệu tấn năm 2020, nhằm cung cấp
đủ nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi và các nhu cầu khác trong nước,
từng bước tham gia xuất khẩu [2]. Để thực hiện được định hướng trên và đáp ứng
2
nhu cầu ngô ngày càng tăng trong khi diện tích trồng ngô chỉ có thể tăng lên tới 1,4
triệu ha thì việc chọn tạo ra những giống ngô lai mới có năng suất cao, chống chịu
tốt trên quy mô lớn sẽ là giải pháp có nhiều khả thi [2].
Vùng Tây Nguyên có điều kiện đất đai, khí hậu và thổ nhưỡng rất thích hợp
cho cây ngô. Năm 2013, với diện tích trồng ngô lớn chiếm 22% diện tích ngô của cả
nước, năng suất đạt 5,17 tấn/ha, tương đương với năng suất ngô của khu vực Đông
Nam Á và thế giới, là một trong những vùng có năng suất đứng thứ hai trong cả
nước sau đồng bằng sông Cửu Long (5,61 tấn/ha) [20], [138]. Ngô trồng ở Tây
Nguyên, ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, một phần còn đáp
ứng được nhu cầu lương thực cho đồng bào dân tộc.
Tuy nhiên, các giống ngô ở Tây Nguyên vẫn chưa phát huy được hết tiềm
năng. Các lý do hạn chế tới năng suất như khả năng đầu tư của bà con nông dân
thấp, cơ giới hóa trong sản xuất cũng như công nghệ chế biến còn lạc hậu và quan
trọng nhất là yếu tố chống chịu của các giống ngô. Ngoài yếu tố hạn, yếu tố hạn chế
lớn nhất là khả năng chống chịu bệnh. Trong những năm gần đây, nổi bật nhất là
bệnh gỉ sắt. Khả năng chống chịu bệnh của các giống ngô ở Tây Nguyên còn rất ít,
đặc biệt là bệnh gỉ sắt.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh gỉ sắt trên thế giới cho thấy, bệnh
gỉ sắt gây thiệt hại đáng kể đến cây ngô và làm giảm từ 10 - 70% năng suất và chất
lượng ngô ở nhiều nước trên thế giới [28], [84], [104], [109], [124]. Ở Tây Nguyên,
từ năm 2007 - 2010, Viện Nghiên cứu Ngô đã thống kê sự thất thoát về sản lượng do
bệnh gỉ sắt gây ra hàng năm là từ 15 - 20% ở vụ Hè Thu, 25 - 40% thậm chí có những
vùng đến 60% ở vụ Thu Đông [5]. Chính vì vậy, để khai thác hết những tiềm năng,
lợi thế ở Tây Nguyên, cần phải bổ sung thêm những giống ngô có năng suất cao,
chống chịu bệnh gỉ sắt để nâng cao năng suất và sản lượng ngô ở vùng Tây Nguyên.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống ngô
năng suất cao chống chịu bệnh gỉ sắt (Puccinia sp.) cho vùng Tây Nguyên” được
thực hiện.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xây dựng tập đoàn dòng thuần và chọn tạo được một số tổ hợp lai triển vọng
3
năng suất cao, chống chịu bệnh gỉ sắt, thích hợp với điều kiện sinh thái, tập quán
canh tác ở Tây Nguyên.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học
Cung cấp thêm các dẫn liệu, thông tin khoa học và khả năng ứng dụng tập
đoàn vật liệu trong công tác chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, chống chịu
bệnh gỉ sắt cho vùng Tây Nguyên.
Ý nghĩa thực tiễn
- Tuyển chọn được một tập đoàn vật liệu bao gồm 28 dòng có năng suất cao,
chống chịu bệnh gỉ sắt trên ngô ở Tây Nguyên;
- Giới thiệu một số tổ hợp lai triển vọng: VN5885 đã được công nhận sản
xuất thử, hai tổ hợp lai VN665 và VN667 đang được khảo nghiệm trong hệ thống
khảo nghiệm quốc gia có năng suất cao, chống chịu bệnh gỉ sắt cho sản xuất ngô ở
Tây Nguyên, góp phần nâng cao năng suất, sản lượng ngô của vùng này.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm các dòng ngô thuần được rút dòng từ các giống ngô lai thương mại
NK67, NK66, C919, CP888, CP999, P4097, DeKalbgold, Pacific 747, LVN10 và
LVN4; Các tổ hợp lai đỉnh, lai luân phiên, một số tổ hợp lai triển vọng; Các giống
đối chứng: LVN4, LVN99, LVN885, C919, DK9901, CP888, NK67.
Bệnh gỉ sắt trên ngô.
Phạm vi nghiên cứu
- Các thí nghiệm đánh giá dòng, tổ hợp lai, độ thuần di truyền, đa dạng di
truyền, phân nhóm cách biệt di truyền thông qua chỉ thị SSR;
- Đánh giá khả năng kết hợp, ưu thế lai, khả năng thích ứng, tính ổn định của
các tổ hợp lai tại Tây Nguyên. Đánh giá khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các
dòng và các giống triển vọng ở Tây Nguyên và các vùng sinh thái khác.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Cây ngô có tên khoa học là Zea mays L. thuộc chi Maydeae, họ hòa thảo
Poaceae, bộ nhiễm sắc thể 2n = 20. Ngô là cây hàng năm với hệ thống rễ chùm phát
triển, là loài cây giao phấn có hoa đơn tính cùng gốc [18].
Trải qua hàng ngàn năm tiến hóa và phát triển, thông qua quá trình chọn lọc tự
nhiên và nhân tạo, với đặc tính đa dạng di truyền rộng và khả năng thích nghi với
nhiều loại hình sinh thái, cho đến nay cây ngô được lan truyền và trồng ở hầu khắp
các châu lục trên thế giới với vai trò là một trong những cây ngũ cốc quan trọng của
loài người. Có thể nói ngô là cây ngũ cốc nuôi sống gần 1/3 dân số toàn cầu.
Một vai trò khó thay thế nhất của cây ngô đối với thế giới hiện nay là sử
dụng ngô làm thức ăn chăn nuôi. Giai đoạn 2000 - 2007 đã sử dụng 400 - 450 triệu
tấn chiếm 65% sản lượng ngô toàn thế giới làm thức ăn chăn nuôi [4]. Tỷ lệ dùng
ngô làm thức ăn chăn nuôi ở các nước thuộc châu Âu lên tới 82%, Italia 97,5%,
Croatia 95,5%; Trung Quốc 75,5%, Thái Lan 78% [137]. Ngoài ra, một số nước còn
sử dụng ngô như là một loại thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho gia súc, đặc biệt là
cho bò sữa trong điều kiện mùa rét khắc nghiệt kéo dài [19].
Những năm gần đây, ngô còn là cây thực phẩm. Bắp ngô bao tử làm rau cao
cấp. Các loại ngô nếp, ngô đường được làm quà ăn tươi hoặc đóng hộp làm thực
phẩm xuất khẩu. Ở một số nước Mỹ La Tinh và châu Phi còn sử dụng dạng huyền
phù của bột ngô làm thức uống hàng ngày trong gia đình [19].
Ngô còn là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu, cồn, tinh bột, bánh
kẹo, ethanol để chế biến xăng sinh học. Có khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các
ngành lương thực, thực phẩm, công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ được chế biến
từ ngô [19]. Ngô đang là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất ethanol thay thế
nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt dần. Năm 2011, nước Mỹ đã sử dụng 45
% sản lượng ngô để sản xuất ethanol [140].
5
Ngô là một loại hàng hóa xuất khẩu của ngành nông nghiệp. Trên thế giới
hàng năm, lượng xuất nhập khẩu ngô khoảng 95 - 100 triệu tấn. Đây là một nguồn
lợi lớn của các nước xuất khẩu. Các nước xuất khẩu chính là Mỹ, Argentina, Trung
Quốc... trong đó ở Mỹ, ngô là nông sản xuất khẩu hàng đầu. Năm 2012, lượng ngô
xuất khẩu của Mỹ là gần 45,8 triệu tấn, Argentina 15,8 triệu tấn, Brazil 9,4 triệu tấn,
Ukraina 7,8 triệu tấn, Pháp 6,2 triệu tấn...[138].
Mặc dù sản xuất ngô trong nước liên tục tăng trưởng về năng suất và sản
lượng nhưng hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng ngô khá lớn nhằm
đáp ứng cho nhu cầu ngành công nghiệp thức ăn gia súc. Ước tính khối lượng ngô
nhập khẩu trong tháng 8 năm 2014 đạt 171 nghìn tấn với giá trị đạt 45 triệu USD, đưa
khối lượng nhập khẩu mặt hàng này đạt 2,83 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 734 triệu
USD, tăng gấp 2,3 lần về lượng và 1,8 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Do vậy,
việc tăng sản lượng ngô rất cần thiết và cấp bách hiện nay, nó phải nằm trong chiến
lược thay thế hàng nhập khẩu của Việt Nam [3]. Cây ngô giúp sử dụng đất đai có
hiệu quả, phá thế độc canh cây lúa. Với yêu cầu chuyển đổi, đa dạng hóa cây trồng,
việc phát triển cây ngô là phù hợp. Đi đôi với việc tăng năng suất, chất lượng của
cây ngô là việc chuyển đổi những vùng đất không thích hợp đối với trồng lúa sang
cây trồng có hiệu quả hơn là ngô.
Vùng Tây Nguyên (gồm 5 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai và
Kon Tum) là vùng đất giàu tiềm năng để phát triển nông nghiệp. Tây Nguyên đã trở
thành một trong những vùng trồng ngô lớn đứng thứ hai trong nước [20]. Ngô được
trồng ở đây chủ yếu được dùng cho chăn nuôi và quan trọng ngô còn là thức ăn chính
cho đồng bào dân tộc. Với diện tích gieo trồng lớn, đất đai màu mỡ, thích hợp cho
cây ngô phát triển nên năng suất và sản lượng ngô cao cùng với giá trị sử dụng và giá
trị kinh tế lớn đã góp phần nâng cao kinh tế cho địa phương đặc biệt là đồng bào dân
tộc nơi đây, không những giúp xóa đói giảm nghèo mà có thể làm giàu từ cây ngô.
Tuy nhiên, sản xuất ngô của vùng này còn nhiều bất cập, chưa mang tính bền
vững. Phần lớn diện tích trồng ngô của vùng Tây Nguyên chủ yếu gieo trồng tại các
vùng miền núi có độ dốc cao, nhờ nước trời, không chủ động được nước tưới, ít
6
thâm canh. Hơn nữa, do điều kiện tự nhiên ấm áp quanh năm, nhiệt độ ở mức trung
bình (khoảng 220C), mưa nhiều, ẩm độ cao (83%) (phụ lục 13) là điều kiện thuận
lợi cho nhiều bệnh hại ngô phát triển, trong đó bệnh gỉ sắt gây thiệt hại lớn trên ngô
ở Tây Nguyên. Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Ngô, thất thoát về sản
lượng hàng năm do bệnh gỉ sắt gây ra từ 15 - 20% ở vụ Hè Thu, 25 - 40%, thậm chí
có những vùng đến 60% ở vụ Thu Đông [5]. Ngoài ra, khả năng chống chịu của
các giống ngô hiện đang trồng đáp ứng được yêu cầu phát triển ngô của địa
phương còn rất ít. Một số giống ngô chủ lực được phát triển diện rộng bao gồm:
LVN10, CP888, DK999, G49, C919... Đây là những giống dài ngày và trung ngày,
tồn tại lâu trong sản xuất nên đã biểu hiện giảm năng suất do nhiễm bệnh, nhất là
bệnh gỉ sắt. Kết quả điều tra tác hại bệnh gỉ sắt trên các giống ngô trồng phổ biến ở
Tây Nguyên năm 2009 cho thấy, năng suất giảm khoảng từ 10 -20% vụ Hè Thu, 20
- 40%, vụ Thu Đông. Như vậy, bệnh gỉ sắt làm giảm đáng kể năng suất và sản
lượng ngô của vùng Tây Nguyên.
Bệnh gỉ sắt trên ngô cũng rất phổ biến trên thế giới, gây thiệt hại nghiêm
trọng đến cây ngô và làm giảm đáng kể năng xuất ngô (từ 10 - 70%) [28], [30],
[84], [104], [109], [124]. Để hạn chế bệnh gỉ sắt, giảm thiệt hại về năng suất, sản
lượng ngô, biện pháp chọn tạo giống ngô chống chịu bệnh gỉ sắt mang lại hiệu quả và
có nhiều nghiên cứu chọn tạo giống ngô năng suất cao, chống chịu bệnh gỉ sắt đã được
thực hiện chủ yếu theo phương pháp truyền thống [48], [91], [110], [113], [114],
[134], [135]. Những năm gần đây, bằng phương pháp truyền thống kết hợp với công
nghệ sinh học cũng đã xác định được một số giống năng suất cao, chống chịu bệnh
gỉ sắt [71]. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn chế.
Như vậy, những đóng góp của cây ngô trong nền kinh tế thế giới nói chung,
trong nước cũng như vùng Tây Nguyên nói riêng là rất lớn. Tuy nhiên, yếu tố hạn
và bệnh, nhất là bệnh gỉ sắt là yếu tố chính làm giảm năng suất, sản lượng ngô ở các
tỉnh Tây Nguyên. Do đó, rất cần một bộ giống ngô chín sớm, năng suất cao chống
chịu bệnh gỉ sắt để giảm sự thất thoát về mặt sản lượng cho vùng Tây Nguyên.
7
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô trên thế giới
Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích sản
lượng đứng thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc. Năm 2013, diện
tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 184,19 triệu ha, năng suất bình quân 5,52 tấn/ha,
sản lượng 1.016,74 triệu tấn. Với lúa mỳ, diện tích 218,46 triệu ha, năng suất bình
quân 3,26 tấn/ha, sản lượng 713,18 triệu tấn. Còn lúa nước, các số liệu tương ứng
164,72 triệu ha, 4,53 tấn/ha, 745,71 triệu tấn. Mức tăng trưởng bình quân hàng năm
của cây ngô trên toàn thế giới giai đoạn 2000 - 2010 về diện tích là 1,8%, năng suất
là 2,1% và sản lượng là 4,3% [138].
Nước Mỹ đứng hàng đầu về diện tích và sản lượng ngô, là nước sử dụng
giống ngô lai vào sản xuất đại trà lần đầu tiên trên thế giới, nhờ đó năng suất ngô
bình quân từ 1,5 tấn/ha năm 1930 tăng lên hơn 7 tấn/ha và đến nay xấp xỉ 10 tấn/ha.
Năm 2013, với diện tích 35,48 triệu ha, năng suất bình quân 9,97 tấn/ha và tổng sản
lượng 353,70 triệu tấn chiếm 34,79% sản lượng ngô của thế giới. Hiện nay 100%
diện tích trồng ngô ở đây được sử dụng giống ngô lai trong đó 90% là giống lai đơn
[16], [138].
Trung Quốc có một nền sản xuất ngô phát triển, hiện là nước có diện tích và
sản lượng ngô đứng thứ 2 trên thế giới. Năm 2013, Trung Quốc sản xuất 35,28 triệu
ha ngô với năng suất bình quân là 6,17 tấn/ha và tổng sản lượng là 217,83 triệu tấn
chiếm 21,42% sản lượng ngô của thế giới. Từ những năm 1960, các giống ngô lai
đã được Trung Quốc đưa vào sử dụng và đến nay tỷ lệ trồng ngô lai là 84% tổng
diện tích gieo trồng. Đứng thứ 3 về diện tích trồng ngô trên thế giới là Brazil đạt
15,32 triệu ha, thứ tư là Ấn Độ (9,50 triệu ha), tiếp theo là Mexico (7,10 triệu ha),
Indonesia (3,82 triệu ha). Ngoài ra, nhiều nước có diện tích ngô trên 1 triệu ha là
Canada, Hungary, Rumani, Thái Lan, Việt Nam…[138].
Năm 2013, trên toàn thế giới có 14 nước có năng suất ngô trung bình trên 10
tấn/ha là Saint Vincent và the Grenadines 24,86 tấn/ha, Israel 22,56 tấn/ha, Jordan
20,10 tấn/ha, Kuwait 20,00 tấn/ha, Ả Rập 20,00 tấn/ha, Tajikistan 15,08 tấn/ha,
8
QaTar 12,00 tấn/ha, Hà Lan11,52 tấn/ha, tiếp đến là các nước Hy Lap, Bỉ, Tây Ban
Nha, New Zealand, Luxembourg và Chilê [138].
Kết quả trên có được trước hết nhờ ứng dụng rộng rãi ưu thế lai trong chọn
tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Những
năm gần đây, những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai có sự kết hợp giữa
phương pháp truyền thống và công nghệ sinh học cùng với việc ứng dụng công
nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô trên thế giới vượt
lên trên lúa mỳ và lúa nước.
1.2.2 Ưu thế lai và ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống ngô
Ưu thế lai là hiện tượng sinh học trong đó con lai của hai bố mẹ khác nhau
về di truyền, có sức sống mạnh hơn, sinh trưởng và phát triển nhanh hơn, cho năng
suất và chất lượng cao hơn so với bố mẹ [13].
Ưu thế lai - hiện tượng di truyền mà các nhà nghiên cứu đã lưu ý từ lâu.
Hiện tượng này đầu tiên được nhà thực vật học người Nga gốc Đức I. Koelreuler
(1733 - 1806) mô tả vào năm 1760, khi ông quan sát thấy hiện tượng tăng sức sống
của con lai giữa Nicotinana tabaccum và Nicotinana robusta so với các dạng bố mẹ
của chúng. Sau này, nhiều nhà khoa học khác cũng đề cập đến hiện tượng này. Tuy
nhiên, những vấn đề đầu tiên về ưu thế lai chỉ được Darwin nêu ra sau những
nghiên cứu của ông. Darwin trong tác phẩm “Tác động của giao phối và tự phối
trong thế giới thực vật” xuất bản năm 1876 (Darwin, 1939), khi nghiên cứu hàng
loạt những cá thể giao phấn và tự phối ở các loài khác nhau, Charles Darwin nhận
thấy các đặc điểm về chiều cao cây, tốc độ nảy mầm của hạt, số quả, sức chống chịu
với những điều kiện bất lợi và năng suất ở các cây giao phấn hơn hẳn so với cây tự
phối. Ông đã giải thích ưu thế lai là do sự khác biệt di truyền của tế bào sinh dục bố
và mẹ [19].
Darwin là người đầu tiên quan sát thấy hiện tượng ưu thế lai ở ngô vào năm
1871 khi ông thấy những cây giao phấn phát triển cao hơn các cây tự phối 20%. Sau
nhiều thí nghiệm ông tổng kết: Sự tự phối thường làm giảm sức sống (có hại) và
9
quá trình giao phấn thường có lợi. Darwin được coi là người đầu tiên đưa ra lý
thuyết về ưu thế lai.
Năm 1880, nhà nghiên cứu người Mỹ, Beal đã áp dụng thực tế ưu thế lai
trong việc tạo ra những giống ngô lai giữa giống. Ông đã thu được những cặp lai
hơn hẳn các giống bố mẹ về năng suất từ 10 - 15% [19].
Nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực chọn tạo giống ngô lai qui ước là
George Herrison Shull. Năm 1904, Shull tiến hành tự phối cưỡng bức ở ngô để thu
được các dòng thuần. Sau đó ông lai giữa các dòng thuần để tạo ra các giống lai
đơn. Vào các năm 1908, 1909 ông đã công bố những công trình nghiên cứu về ngô
lai, đánh dấu mốc đầu tiên của chương trình tạo giống ngô lai. Thuật ngữ
“Heterosis” chỉ ưu thế lai được Shull sử dụng lần đầu tiên vào năm 1913. Ngoài ra,
các nhà di truyền học người Mỹ như East, Hayes H.K (1912) cũng nghiên cứu về ưu
thế lai ở ngô. Jones D.F (1917) đã đề ra giải pháp lai kép để khắc phục nhược điểm
của các dòng tự phối thường rất yếu trong sản xuất hạt giống. Phát kiến này của
Jones rất quan trọng và nhanh chóng được áp dụng. Từ đó chương trình ngô lai thực
sự phát triển mạnh trong sản xuất.
Cho đến nay, ưu thế lai đã được nghiên cứu chi tiết. Ưu thế lai biểu hiện hầu
hết các tính trạng và được các nhà di truyền chọn giống cây trồng chia thành 5
dạng: Ưu thế lai về hình thái, ưu thế lai về năng suất, ưu thế lai về thích ứng, ưu thế
lai về chín sớm, ưu thế lai về sinh lý, sinh hóa [127].
Sự thể hiện ưu việt của tính trạng ở con lai đã đem lại lợi ích cho tiến hóa và
chọn tạo giống ở những điều kiện sinh thái và canh tác nhất định. Vì thế, tạo giống
ưu thế lai là con đường có hiệu quả cao nhằm tập hợp nhiều tính trạng mong muốn
vào một genotype. Đối với ngô lai, ưu thế lai về năng suất có vai trò quan trọng
nhất, thể hiện qua sự tăng các yếu tố cấu thành năng suất như chiều dài bắp, số hàng
hạt, số hạt/hàng…Theo Richey (1927) ưu thế lai về năng suất ở ngô với các giống
lai đơn có thể đạt từ 193% đến 263% so với trung bình của bố mẹ [22].
Thông thường, ưu thế lai được xem như sự tăng hay giảm có ý nghĩa về giá
trị một chỉ tiêu nào đó của con lai so với giá trị trung bình bố mẹ. Tuy nhiên, trên
10
quan điểm của các nhà chọn giống, việc tăng hơn bố mẹ tốt nhất ở giống thương
mại đại trà mới thực sự có ý nghĩa thực tế.
1.2.3 Dòng thuần, các phương pháp chọn tạo và đánh giá dòng
1.2.3.1 Khái niệm dòng thuần
Dòng thuần (inbred line) là khái niệm để chỉ các dòng tự phối đạt tới độ
đồng đều và ổn định cao ở nhiều tính trạng (chiều cao cây, chiều cao đóng bắp,
dạng hạt và năng suất). Dòng thuần thường đạt được sau 7 đến 9 đời phối. Ngoài
ra còn nhiều phương pháp khác để tạo dòng thuần nên có thể khái quát dòng thuần
như sau: Dòng thuần là dòng có kiểu gen đồng hợp tử, có đặc tính di truyền ổn
định qua nhiều thế hệ [37].
Tạo dòng thuần là khâu rất quan trọng của quá trình tạo giống lai. Tổng kết
quá trình phát triển cây ngô ở Mỹ cho thấy sự tăng năng suất ngô trong giai đoạn
1950 - 1990 là do các yếu tố: Chuyển đổi giống, nhu cầu dinh dưỡng đáp ứng tốt
hơn và kỹ thuật canh tác tiến bộ [106]. Trong đó giống là yếu tố đóng góp cho năng
suất quan trọng nhất. Khi so sánh mô hình giống lai cũ với giống lai thế hệ mới
nhiều nghiên cứu thấy rằng, sự sai khác năng suất cá thể là không có ý nghĩa, các
giống lai mới chịu được mật độ cao, khả năng chống chịu tốt hơn, năng suất ổn định
và đặc biệt là các dòng bố mẹ phải được cải tiến nâng cao năng suất dòng [54].
1.2.3.2 Các phương pháp chọn tạo dòng thuần
Tự thụ phấn cưỡng bức- tự phối: Shull (1909,1910) đã đưa ra việc tự phối để
tạo dòng thuần. Ngô là cây giao phấn, vì vậy cá thể dị hợp và quần thể là dị gen, do
đó nếu tiến hành chọn lọc cá thể thông qua kiểu hình nguồn vật liệu nào đó, không
thể tìm được kiểu gen mong muốn. Để tạo cho vật liệu phân ly giúp quá trình chọn
lọc dễ dàng và chuẩn xác, cần phải tiến hành đồng huyết hóa mà tự thụ phấn là dạng
đồng huyết hóa mạnh nhất. Tự phối gây ra 3 hiện tượng điển hình là: 1) làm giảm sức
sống và năng suất, 2) gây ra sự phân ly kiểu gen, 3) làm tăng độ thuần, trong đó 2 hiện
tượng sau giúp chọn được kiểu gen và làm thuần nó để thu được dòng thuần. Sự chọn
lọc trong quá trình tự phối là khâu quan trọng để có được những dòng ưu tú. Công việc
chọn lọc thường được tiến hành theo mục tiêu tạo giống nhưng có đặc điểm chung bao
11
gồm: Khả năng sinh trưởng và phát triển; khả năng chống chịu các điều kiện bất thuận
(chịu hạn, chống đổ gẫy…), khả năng chống chịu sâu bệnh hại; Trạng thái cây, tán lá;
Trạng thái bắp và các chỉ tiêu cấu thành năng suất. Trong quá trình tạo dòng, chọn lọc
được tiến hành ít nhất vào 3 thời kỳ: Khi ngô mọc, trước và trong thời kỳ ra hoa, khi
thu hoạch. Chọn lọc được tiến hành theo 2 bước: Chọn lọc giữa các gia đình trong một
nguồn vật liệu và chọn lọc cá thể trong gia đình đã chọn [62].
Thụ phấn chị em - cận phối (fullsib, halfsibs): Năm 1974, Stringfield đã đưa ra
phương pháp này thay cho sự thụ phấn để tạo “dòng rộng” nhằm làm giảm mức độ suy
thoái do tự phối kéo dài gây ra. Tạo dòng thuần bằng phương pháp này, quá trình đạt
đến độ đồng hợp tử chậm hơn phương pháp tự phối nhưng có thể tạo ra những dòng
thuần có sức sống cao hơn nên được nhiều nhà tạo giống quan tâm và sử dụng [9].
Ngoài ra, còn một số phương pháp cải tiến của phương pháp chuẩn được đề
xuất và sử dụng như: Phương pháp một hốc (single hill method), phương pháp hỗn
hợp (bulk method).
Phương pháp tạo dòng đơn bội kép sử dụng các dòng mang gen cảm ứng
tạo đơn bội
Dòng mang gen cảm ứng tạo đơn bội (haploid inducer) là những dòng có khả
năng tham gia vào quá trình thụ phấn nhưng không đóng góp bộ nhiễm sắc thể vào
việc hình thành hạt. Do đó đã tạo thành hạt đơn bội một cách tự nhiên [19].
Những cơ chế dẫn đến việc gây tạo cây đơn bội cho đến nay vẫn chưa được
làm rõ. Theo Lashermes, Becker (1988); Rober và cộng sự (2005), quá trình tạo cây
đơn bội ở ngô in vitro được kiểm soát bởi nhiều gen nằm trên các locus khác nhau.
Wedzony và cộng sự (2004) [129], khi nghiên cứu những noãn của dòng cảm ứng
RWS trong 20 ngày đầu sau khi thụ phấn đã tìm thấy 10% phôi có nhân sinh sản và
các kích cỡ khác nhau trong tế bào chất và tế bào chồi mầm. Rotarenco và Eder
(2003) [105] cũng đã xác định tỷ lệ thụ phấn khác gốc cao hơn 3 lần khi sử dụng
dòng cảm ứng đơn bội MHI so sánh với các dòng nội phối khác.
Ưu thế của phương pháp này ít bị phụ thuộc vào kiểu gen, có thể áp dụng
trong điều kiện không có phòng thí nghiệm, nhưng vẫn còn hạn chế vì tần suất
12
lưỡng bội rất thấp (0 - 10%). Ngoài ra việc tách hạt đơn bội và hạt lưỡng bội rất khó
khăn. Phương pháp sử dụng các dòng mang gen cảm ứng tạo đơn bội để tạo dòng
đơn bội kép (double haploid - DH) đòi hỏi nhiều công lao động và tốn nhiều thời
gian. Các dòng cảm ứng có khả năng tạo hạt đơn bội chủ yếu có nguồn gốc ôn đới,
nên rất khó thích nghi với điều kiện nhiệt đới như ở Việt Nam [7], [75].
Phương pháp tạo dòng đơn bội kép bằng nuôi cấy noãn ngô
Phương pháp tạo dòng đơn bội kép bằng nuôi cấy noãn ngô in vitro đã được
đề cập và nghiên cứu từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20. Các nhà nghiên cứu đã
tạo mô sẹo từ noãn ngô chưa thụ tinh, sau đó tái sinh cây từ mô sẹo đã thu được. Ở
mức độ phân tử cho thấy, cây ngô được tái sinh là do tế bào noãn chưa thụ tinh tự
lưỡng bội hóa tạo thành. Sự thành công của kỹ thuật nuôi cấy noãn chưa thụ tinh
phụ thuộc rất lớn vào khả năng sản sinh đơn tính cái đại bào tử (megaspore -
gynogenesis) của các nguồn vật liệu nuôi cấy. Sự phản ứng tạo mô sẹo và khả năng
tái sinh cây phụ thuộc vào kiểu gen (genotypes), điều kiện sinh trưởng, chất liệu của
vật liệu cho noãn và kỹ thuật nuôi cấy nên hiệu quả của quá trình nuôi cấy còn thấp.
Vì vậy, phương pháp này chưa được ứng dụng rộng rãi [4], [90].
Phương pháp tạo dòng đơn bội kép bằng nuôi cấy bao phấn hoặc hạt phấn
tách rời
Phương pháp nuôi cấy bao phấn ngô được thực hiện từ năm 1975 [79]. Cấu
trúc dạng phôi được hình thành từ nuôi cấy hạt phấn tách rời được nghiên cứu vào
cuối những năm 80 đầu năm những năm 90 của thế kỷ 20. Những nghiên cứu hoàn
thiện kỹ thuật nuôi cấy bao phấn và hạt phấn tách rời có vai trò rất lớn trong việc
tạo ra các dòng ngô thuần để tạo giống ngô lai [90]. Sự thành công của kỹ thuật
nuôi cấy bao phấn và hạt phấn tách rời phụ thuộc rất lớn vào khả năng sản sinh đơn
tính đực (androgenesis) của các nguồn vật liệu nuôi cấy. Trong tự nhiên, tần suất
sinh sản đơn tính ở ngô khoảng 1/1.000.000, trong đó sự sinh sản đơn tính đực
1/80.000 [39]. Ngoài ra, tương tự nuôi cấy noãn ngô, sự thành công của kỹ thuật
nuôi cấy bao phấn và hạt phấn tách rời cũng phụ thuộc vào kiểu gen (genotypes),
điều kiện sinh trưởng, chất liệu của vật liệu và kỹ thuật nuôi cấy. Nhiều công trình
13
nuôi cấy bao phấn cho thấy, bào tử phát triển ở giai đoạn một nhân muộn và hai
nhân sớm là giai đoạn thích hợp nhất đối với quá trình sinh sản đơn tính in vitro.
Trong môi trường cảm ứng, các tiểu bào tử có thể tạo thành mô sẹo hoặc tái sinh
cây trực tiếp. Tùy thuộc vào mục đích và điều kiện thí nghiệm, có thể sử dụng các
phương pháp khác nhau để nâng cao tỷ lệ tái sinh cây [51].
Điều kiện sinh trưởng của cây cho bao phấn và mùa vụ ảnh hưởng đến tỷ lệ
phản ứng. Yếu tố nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến của các bao phấn nuôi cấy. Xử lý
lạnh trước khi nuôi cấy đã kích thích các tiểu bào tử phát triển tạo phôi, nhiệt độ
và thời gian xử lý khác nhau thì hiệu quả thu được cũng khác nhau. Ngoài ra, các
yếu tố kỹ thuật như pH môi trường, thời gian chiếu sáng, kỹ thuật cấy chuyển…
cũng đều ảnh hưởng tới sự phát triển của tiểu bào tử để phát sinh phôi và tái sinh
cây [51].
Chu và cộng sự (1975) đã sử dụng môi trường N6 để thay thế môi trường
MS và đã thu được tỷ lệ tái sinh cây là 1% [41]. Nhiều môi trường có thành phần
khoáng đa lượng, vi lượng, vitamin và các hợp chất điều hoài sinh trưởng thực vật
khác nhau đã được các tác giả nghiên cứu và sử dụng như môi trường Yu-pei (YP),
Zhen 14, 6M và 6N1…[41], [98].
1.2.3.3 Khả năng kết hợp
Khả năng kết hợp là một đặc tính được chế định di truyền, truyền lại thế hệ
sau qua tự phối và qua lai [19], [50]. Khả năng kết hợp được xác định thông qua
đánh giá khả năng kết hợp chung và khả năng kết hợp riêng.
Khả năng kết hợp chung (GCA - General Combining Ability) biểu thị giá trị
trung bình của ưu thế lai quan sát ở tất cả các tổ hợp lai.
Khả năng kết hợp riêng (SCA - Specific Combining Ability) biểu thị độ lệch
của một cặp lai nào đó so với giá trị trung bình.
Khả năng kết hợp là một phức hợp tính trạng do nhiều gen kiểm soát. Do
vậy, để đánh giá khả năng kết hợp thực chất là xác định tác động gen. Khả năng kết
hợp chung được kiểm soát bởi kiểu di truyền cộng gộp của các gen trội nên khá ổn
định dưới tác động của các yếu tố môi trường. Còn khả năng kết hợp riêng được xác
14
định bởi các yếu tố trội, siêu trội, yếu tố ức chế của các gen và chịu tác động rõ rệt
của điều kiện môi trường [19].
1.2.3.4 Phương pháp đánh giá khả năng kết hợp
Để đánh giá khả năng kết hợp, trong nghiên cứu thường sử dụng hai hệ thống
lai thử, đó là lai đỉnh và lai luân phiên [61], [62], [117].
- Đánh giá khả năng kết hợp bằng phương pháp lai đỉnh (topcross)
Lai đỉnh là phương pháp lai thử để xác định khả năng kết hợp chung do
Devis đề xuất năm 1927, Jenkins và Bruce phát triển năm 1932 [66]. Phương pháp
lai đỉnh rất có ý nghĩa trong giai đoạn đầu của quá trình chọn lọc, khi khối lượng vật
liệu trong thí nghiệm còn quá lớn. Trong lai đỉnh tất cả các vật liệu cần xác định khả
năng kết hợp được lai với một dạng chung là cây thử (tester) và quyết định sự thành
công của lai đỉnh là chọn đúng cây thử. Cây thử có thể có nền di truyền rộng (giống,
giống tổng hợp, giống lai kép…) hoặc có nền di truyền hẹp (dòng thuần, giống lai
đơn…). Tuy nhiên, chỉ tiêu chung được các nhà chọn giống chấp nhận đó là chọn
cây thử không có quan hệ họ hàng với các vật liệu đem thử và tốt nhất là thuộc ưu
thế lai đối ứng. Để tăng mức độ tin cậy người ta thường sử dụng hai hoặc nhiều cây
thử có nền di truyền khác nhau [63], [65], [64].
- Đánh giá khả năng kết hợp bằng phương pháp lai luân phiên
Lai luân phiên là hệ thống lai thử trong đó các vật liệu đem thử được lai với
nhau theo tất cả các tổ hợp lai có thể, các dòng này vừa là cây thử của dòng khác
vừa là cây thử của chính mình. Qua phân tích luân phiên sẽ thu đựợc tất cả các
thông tin về: Bản chất và ước lượng các chỉ số di truyền, khả năng kết hợp chung và
riêng của bố mẹ và các tổ hợp lai của chúng.
Có 2 phương pháp chính trong phân tích lai luân phiên [61].
+ Phương pháp Hayman: Phương pháp phân tích này giúp xác định các tham
số di truyền của vật liệu bố mẹ cũng như ước đoán giá trị các tham số này ở các tổ
hợp lai. Tuy nhiên, việc xác định các tham số di truyền nêu trên khó đạt được kết quả
chính xác vì bố mẹ không hoàn toàn thỏa mãn 6 điều kiện mà Hayman nêu ra [67].
15
+ Phương pháp Griffing: phương pháp này cho biết thành phần biến động do
khả năng kết hợp chung, khả năng kết hợp riêng được qui đổi sang thành phần biến
động do hiệu quả cộng tính, hiệu quả trội và siêu trội của các gen. Griffing đã đưa
ra 4 sơ đồ lai luân phiên để đánh giá khả năng kết hợp của các vật liệu:
Sơ đồ lai 1: Gồm các tổ hợp lai thuận, nghịch và dòng bố mẹ. Số tổ hợp lai là n2.
Sơ đồ lai 2: Gồm các tổ hợp lai thuận và dòng bố mẹ. Số tổ hợp lai là
n(n+1)/2.
Sơ đồ lai 3: Chỉ các tổ hợp lai thuận và nghịch. Số tổ hợp lai là n(n-1).
Sơ đồ lai 4: Gồm tổ hợp lai thuận. Số tổ hợp lai là n(n-1)/2.
Trong nghiên cứu, căn cứ vào mục đích và điều kiện cụ thể để chọn sơ đồ lai
cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao. Với mục đích xác định khả năng kết hợp của
các dòng, người ta thường chọn sơ đồ 4 vì khối lượng công việc là ít nhất, để nghiên
cứu ảnh hưởng của các dòng mẹ đối với tổ hợp lai thì sử dụng sơ đồ 3, muốn so sánh
tổ hợp lai với bố mẹ thì sử dụng sơ đồ 2, để nghiên cứu toàn diện thì dùng sơ đồ 1.
Kết quả đánh giá khả năng kết hợp bằng phương pháp lai luân phiên giúp các
nhà nghiên cứu có được những số liệu ở các dòng nghiên cứu, phân nhóm ưu thế lai
và sử dụng chúng trong tạo giống, chọn ra những tổ hợp lai tốt phục vụ cho sản xuất,
làm cơ sở để chuẩn đoán một số tính trạng lai đơn, lai kép ở các bước tiếp theo.
1.2.4 Đa dạng di truyền và ứng dụng trong chọn tạo giống ngô lai
Các nghiên cứu về hiện tượng ưu thế lai cho thấy sự khác biệt di truyền của
bố mẹ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự biểu hiện ưu thế lai của các tổ hợp lai đơn.
Shull G, H (1948) đã kết luận: Ưu thế lai sinh lý của một cơ thể được biểu hiện qua
sự phát triển nhanh, qua chiều cao và ưu thế lai có mối tương quan thuận với độ
không giống nhau trong giao tử mà từ đó con lai được hình thành. Sự khác nhau
giữa giao tử càng nhiều thì sự biểu hiện ưu thế lai ở con lai càng lớn [18].
Trong công tác giống cây trồng, đa dạng di truyền có tầm quan trọng hết sức
to lớn. Nhiều nhà khoa học đã kết luận: Những thông tin về đa dạng di truyền và
mối quan hệ giữa các nguồn vật liệu có ý nghĩa to lớn và là sức mạnh của công tác
cải tạo cây trồng. Vì thế việc xác định tính đa dạng di truyền để khai thác những
16
khác biệt di truyền có lợi của nguồn gen hiện có là mục tiêu của các nhà tạo giống.
Ngoài ra, việc chọn nguồn vật liệu ban đầu có ý nghĩa quyết định đối với sự thành
công của quá trình chọn tạo giống. Chọn được nguồn vật liệu ban đầu tốt, phù hợp,
quá trình tạo giống sẽ nhanh và đạt hiệu quả cao.
Cây ngô là loài cây giao phấn điển hình, quần thể rất đa dạng và cá thể di
hợp tử về kiểu gen. Vì thế những thông tin về đa dạng di truyền của các nguồn gen
là rất cần thiết và vô cùng hữu ích trong công tác đánh giá dòng, phân nhóm ưu thế
lai và dự đoán các tổ hợp lai ưu tú có khả năng cho năng suất cao [47].
Khi có được nhiều và chính xác thông tin về đa dạng di truyền của các dòng
bố mẹ, việc dự đoán ưu thế lai càng có độ tin cậy cao. Tuy nhiên đánh giá sự đa
dạng di truyền và xác định mối quan hệ giữa các nguồn vật liệu là một công việc
khó, mất nhiều thời gian, công sức và chi phí tốn kém. Vì để tìm ra sự khác biệt di
truyền của các vật liệu nghiên cứu không chỉ dựa vào các đặc điểm thực vật học dễ
nhận biết và riêng rẽ, cần phải phân tích trên cơ sở nhiều tính trạng theo một số
phương pháp như phân loại thực vật, phân loại dựa trên các tính trạng số lượng, các
chỉ tiêu sinh hóa, phương pháp đánh giá locus gen [45], [102].
Trong phân tích tính đa dạng di truyền của thực vật người ta có thể tiến hành
thực hiện ở các cấp độ và phương pháp khác nhau, từ các đặc điểm hình thái, sinh lý
và hoá sinh đến đặc điểm của phân tử ADN, protein.
Phân tích đa dạng di truyền ở ngô dựa trên một số chỉ thị như chỉ thị hình
thái, chỉ thị hoá sinh và chỉ thị phân tử ADN. Mỗi loại cung cấp thông tin khác
nhau. Việc lựa chọn phương pháp đánh giá dựa vào loại chỉ thị nào phụ thuộc vào
mục đích của người nghiên cứu.
1.2.4.1 Chỉ thị hình thái
Nghiên cứu đa dạng di truyền dựa vào chỉ thị hình thái là phương pháp
đánh giá thông qua các đặc điểm chính về hình thái như dạng thân, dạng lá, màu
sắc hoa, hạt và hình dạng của hạt,... Hiện nay, phương pháp này vẫn được sử dụng
phổ biến để nhận biết và phân biệt các giống khác nhau trên thực địa một cách
nhanh chóng.
17
Đối với cây ngô, chỉ thị hình thái được nghiên cứu thông qua các tính trạng
số lượng như: Thời gian sinh trưởng, số lá, kích thước lá, chiều cao cây, chiều cao
đóng bắp, số hàng hạt… và các tính trạng chất lượng như: màu sắc thân, cờ, bao
phấn, chất lượng hạt, nội nhũ… Biểu hiện khả năng kháng và nhiễm bệnh về mặt
hình thái ở thực vật được xác định theo các tiêu chí nhất định. Đây là chỉ thị quan
trọng để tìm kiếm và tạo giống kháng bệnh. Sự đa dạng về đặc điểm hình thái có
thể giúp nghiên cứu về khả năng kết hợp, dự đoán ưu thế lai và xác định cặp lai
trong quá trình tạo giống ngô lai [78].
Mặc dù chỉ thị hình thái được sử dụng như một chỉ thị di truyền, song khả
năng ứng dụng của nó trong chọn giống gặp phải nhiều hạn chế bởi chúng luôn
chịu ảnh hưởng của các nhân tố di truyền như sự tương tác giữa các sản phẩm của
gen. Các nhân tố môi trường như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm cũng có tác động qua
lại giữa kiểu gen và kiểu hình, gây ảnh hưởng không nhỏ đến các giai đoạn phát
triển của thực vật. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của các chỉ thị phân tử ADN và chỉ
thị hoá sinh học, những khó khăn trên đang từng bước được giải quyết [4], [19].
1.2.4.2 Chỉ thị hoá sinh
Các chỉ thị hoá sinh có trong hầu hết các protein đa hình như isozyme và các
protein dự trữ (stograge protein). Các isozyme có thể được phân tách theo trọng
lượng, kích thước phân tử và các chất mang. Nhờ vậy, bằng kỹ thuật điện di trên gel
tinh bột hoặc gel polyacrylamide, người ta có thể phát hiện ra các biến dạng khác
nhau của phân tử enzyme, ví dụ như isozyme amylase, esterase… Các biến dạng
này có thể cung cấp thông tin như là một loại chỉ thị đồng trội [46].
Phương pháp phân tích isozyme tiết kiệm về mặt kinh tế, kỹ thuật và đơn
giản hơn phân tích ADN. Tuy nhiên, isozyme là sản phẩm của gen, số lượng của
chúng có hạn và chúng chỉ thể hiện ở những giai đoạn nhất định trong quá trình
phát triển của cá thể. Vì vậy, loại chỉ thị này chỉ phản ánh chính xác một phần bản
chất di truyền nên được ứng dụng tương đối hạn chế trong đánh giá đa dạng di
truyền và phân nhóm ưu thế lai [80].
18
Stuber và cộng sự (1980) đã phân tích đa hình các isozyme phục vụ công tác
chọn tạo giống ngô năng suất cao [119]. Sau đó, Stuber và Goodmam (1983) đã
phân tích đa hình của 23 locus isozyme để phân loại 406 dòng ngô, kết quả đã chỉ ra
sự đa dạng di truyền của 73% giống ngô [120].
1.2.4.3 Chỉ thị phân tử ADN
Chỉ thị phân tử ADN [81] trong thời gian đầu chủ yếu là RFLP, dựa trên cơ
sở mẫu dò đặc hiệu. Sau khi phát minh ra PCR, người ta phát triển tiếp các chỉ thị
dựa trên phương pháp này như RAPD, AFLP, SSR, SNP,... Bên cạnh đó, QTL
(Quantitative Trait Loci) - bản đồ locus các tính trạng số lượng xác định mối liên
kết giữa các chỉ thị phân tử với một số tính trạng số lượng cũng đang được các nhà
khoa học quan tâm [30], [32], [101], [133].
Chỉ thị SSR
Kỹ thuật SSR (Simple Sequence Repeat - trình tự lặp lại đơn giản) do Litt và
Luty (1989) phát hiện lần đầu tiên trên đối tượng người [83]. Nghiên cứu này đã chỉ
ra rằng, ở người trình tự lặp lại đơn là TG với tần số lặp lại là 10-60 lần, chúng phân
bố rải rác trong hệ gen tạo nên có khoảng 50.000 bản sao. Bằng kỹ thuật PCR,
người ta đã phát hiện ra trình tự SSR ở gen tổng hợp actin của người và xác định
được 12 alen trên 37 kiểu gen được nghiên cứu và nhận thấy các SSR này là những
yếu tố trội di truyền theo quy luật của Mendel.
SSR là một đoạn ADN có sự lặp lại của một trật tự nucleotide nào đó. Hiện
tượng tồn tại các SSR trong cơ thể sinh vật nhân chuẩn là khá phổ biến. Tuy nhiên,
tuỳ từng loài mà số lượng nucleotide trong mỗi đơn vị lặp lại có thể thay đổi từ 1
đến hàng chục và số lượng đơn vị lặp lại có thể biến động từ 2 đến hàng ngàn lần
hoặc nhiều hơn. Các đoạn lặp lại hai, ba, bốn nucleotide như (CA)n, (AAT)n và
(GATA)n phân bố rộng rãi trong hệ gen của các loài động và thực vật. Phương thức
lặp lại được phân thành 3 loại chính: Lặp lại hoàn toàn (các đơn vị lặp lại sắp xếp
nối tiếp nhau); Lặp lại không hoàn toàn (xen kẽ vào các đơn vị lặp lại là một số
nucleotide khác); Lặp lại phức tạp (sự xen kẽ giữa những đơn vị lặp lại khác nhau).
19
Việc sử dụng các chỉ thị SSR trong lập bản đồ di truyền của các locus đặc
trưng bao gồm các bước sau: (i) Phân lập đoạn SSR từ thư viện hệ gen; (ii) Xác
định trình tự của vùng có SSR; (iii) Xác định các cặp mồi đặc trưng là các trình tự
ADN bảo thủ giới hạn hai đầu của đoạn SSR; (iv) Nhân vùng gen tương ứng bằng
PCR sử dụng các mồi đặc trưng; (v) Phân tích kích thước của sản phẩm PCR nhằm
xác định được sự có mặt của các alen SSR.
Phản ứng PCR - SSR với mồi được thiết kế dựa trên hệ gen của từng loài,
nên chỉ thị SSR cho kết quả đa hình cao hơn là các chỉ thị phân tử khác. Kỹ thuật
này chỉ đòi hỏi một lượng nhỏ ADN mẫu nhưng lại cho phép phát hiện nhanh sự
khác biệt ADN giữa các cá thể trong cùng một giống. Phản ứng không mất nhiều
thời gian. Hầu hết các locus SSR ở thực vật có sự đa hình cao hơn các chỉ thị phân
tử khác và cho kết quả nhanh và đáng tin cậy hơn chỉ thị RAPD. Chỉ thị SSR với
các locus đặc trưng, đa alen và cung cấp nhiều thông tin nên chúng hết sức có ích
trong việc thay đổi trình tự hiếm. Đây chính là những ưu điểm chính của kỹ thuật
SSR. Nói chung, chỉ thị SSR tương đối đơn giản hơn so với chỉ thị RFLP hay
AFLP. Vì vậy, chỉ thị này được quan tâm hơn trong ứng dụng vào chọn giống thực
vật. Ứng dụng của kỹ thuật SSR trong nghiên cứu đa dạng di truyền, SSR được áp
dụng để nghiên cứu đa dạng trên cả đối tượng động vật và thực vật vì nó cho độ đa
hình cao và đáng tin cậy. Ở thực vật, tần số và số lượng SSR đã được xác định trên
một số loài cây như lạc, mơ, lúa mì và đang phát triển ở các giống cây trồng khác
như ngô, đậu tương [103], [128]. Trong việc nghiên cứu tạo giống mới, chỉ thị SSR
liên quan đến một số tính trạng đã được xác định như chọn giống nhờ chỉ thị (chỉ
thị-assisted selection). Các chỉ thị SSR đã được dùng để chọn dòng kháng sâu bệnh,
chọn các dòng lúa có năng suất cao và hàm lượng protein dự trữ cao hoặc để xác
định mối quan hệ họ hàng giữa các giống cây trồng ở một số đối tượng như lúa,
mía, đậu tương, cà chua, ngô… hoặc xây dựng bản đồ di truyền liên kết tính trạng ở
cà chua, lúa và xác định giới tính thực vật trên đối tượng đu đủ.
Ở ngô, có rất nhiều alen trên mỗi locus [82]. Chính vì vậy, chỉ thị SSR được
sử dụng nhiều để nghiên cứu sự đa dạng di truyền của các dòng ngô thuần, nghiên
20
cứu mối tương quan giữa các dòng giữa khoảng cách di truyền với ưu thế lai [99],
đánh giá và xây dựng bản đồ gen. Dự án Nghiên cứu bản đồ di truyền cây ngô
Missouri đã tìm được 2095 cặp mồi SSR và công bố trên cơ sở dữ liệu về cây ngô
tại Website http://www.maizegdb.org/ssr.php [142].
Ya Zhang và cộng sự (2009) đã lập bản đồ gen kháng bệnh gỉ sắt do nấm
Puccinia polysora ở dòng ngô thuần W2D (Zea mays L.). Trong nghiên cứu này,
các thế hệ con lai F2 và F2:3 từ phép lai giữa 2 dòng W2D (kháng bệnh gỉ sắt) và
dòng W222 (mẫn cảm). Kết quả cho tỷ lệ 3:1 ( kháng bệnh: nhiễm bệnh) cho thấy
tính kháng này do gen trội qui định (gen RppD). Tổng cộng 11 chỉ thị, trong đó có 5
chỉ thị SSR, 5 chỉ thị STS, và 1 chỉ thị CAPS, để xác định gen RppD. Trong đó, 2
chỉ thị nằm gần với gen RppD nhất là chỉ thị SSR umc1291và chỉ thị CAPS
CAPS858 với khoảng cách di truyền là 2,9 và 0,8 cM tương ứng. Ngoài ra, gen
RppD có thể là một gen kháng mới Rpp hoặc là một haplotype khác từ RppQ và
RppP25 thông qua 3 phép lai W2D × Qi319, W2D × P25 and Qi319 × P25. Như
vậy, gen RppD có thể được sử dụng để tăng cường tính kháng hay chọn tạo giống
ngô kháng bệnh gỉ sắt [133].
1.2.5 Bệnh gỉ sắt trên cây ngô
Ngô và một số cây trồng họ hòa thảo khác là cây chủ của nấm gây bệnh gỉ
sắt Puccinia và Physopella. Bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia thuộc bộ Uredinales, lớp
Nấm Đảm được phát hiện đầu tiên ở Italia vào khoảng năm 1874. Năm 1894,
Ericksson đã phát hiện ra nấm gây bệnh gỉ sắt trên cây ngũ cốc (Puccinia graminis).
Sau này còn thấy các chủng gây bệnh trên nhiều đối tượng khác cả cây một lá mầm
và cây hai lá mầm như Puccinia asparagi gây bệnh gỉ sắt trên măng tây, Puccinia
horiana gây bệnh gỉ sắt trên hoa cúc, Puccinia recondita, Puccinia sessilis,
Puccinia striiformis, Puccinia triticina gây bệnh gỉ sắt trên lúa mì, Puccinia sorghi
gây bệnh gỉ sắt trên lúa mì, lúa miến, ngô… Đây là nấm ký sinh bắt buộc [11], [28],
[38], [57], [97], [123].
21
Hiện nay, ở ngô có ba loài nấm được ghi nhận đã gây ra bệnh gỉ sắt là:
Puccinia sorghi, Puccinia polysora, Physopella zeae. Nấm Puccinia sorghi gây
bệnh gỉ sắt chung (Common Corn Rust) xuất hiện ở vành đai ngô nước Mỹ, châu
Âu, châu Phi và nhiều vùng khác trên thế giới [11], [28], [91]. Nấm Puccinia
polysora thường gặp ở những vùng trồng ngô có nhiệt độ, độ ẩm cao hơn nên còn
được gọi là bệnh gỉ sắt phương nam (Southern Corn Rust). Đầu tiên bệnh xuất hiện
ở Bắc, Nam và Trung Mỹ. Đến năm 1949 bệnh xuất hiện ở Tây Bắc Châu Phi sau
đó lây lan đến Đông Phi qua các vùng nhiệt đới Châu Phi, những vùng ẩm ướt xung
quanh Ấn Độ dương, Đông Nam Á, Philipin và Đài Loan [69], [111]. Nấm
Physopella zeae gây bệnh gỉ sắt nhiệt đới (Tropical Corn Rust) giới hạn ở Floriada,
Trung Mỹ [28] [38].
1.2.5.1 Tác nhân gây bệnh
Nấm Puccinia sorghi gây bệnh gỉ sắt chung (Common Corn Rust) phát triển
ba giai đoạn chính: Bào tử hạ (urediniospore), bào tử đông (telliospore) được hình
thành trên cây ký chủ chính là ngô (Zea mays L.), teosinte (Euchlaena Zea
mexicana Schrad.) và perennial teosinte (Euchlaena Zea perennis Hitch.), bào tử
xuân (aeciospores) trên cây ký chủ trung gian là cây me chua đất (Oxalis spp.)
[53], [122]. Bệnh hại chủ yếu ở phiến lá, có khi ở bẹ lá và lá bi. Vết bệnh lúc đầu
rất nhỏ chỉ là một chấm vàng trong, xếp không có trật tự, khó phát hiện, nhưng về
sau to dần, vết vàng nhạt tạo ra các vết đốm nổi hình cầu kéo dài ra thành hình
elip, kích thước 23-29 x 26-32 μm. Tế bào biểu bì nứt vỡ, chứa một khối bột nâu
đỏ, vàng gạch non, có vách dày (giai đoạn hình thành ổ bào tử hạ - Uredia) (Hình
1.1A, B). Đến cuối giai đoạn sinh trưởng của ngô, trên lá bệnh có thể xuất hiện
một số vết bệnh thay thế bào ổ tử hạ là những ổ nổi màu đen, bên trong có các bào
tử Hình elip dài hơi thắt lại ở vách ngăn giữa hai tế bào, kích thước 16-23 x 29-54
μm, có cuống dài gấp 1 -2 lần chiều dài của bào tử (giai đoạn hình thành các ổ
bào tử đông - telia) (Hình 1.1C, D) [53], [122]. Bào tử đông đóng vai trò là nguồn
bệnh bảo tồn cho vụ sau.
22
A B
D C
Hình 1.1. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi
A: Ổ bào tử hạ, B: Bào tử hạ, C: Ổ bào tử đông, D: Bào tử đông [53]
Ổ bào tử xuân (aecial) (Hình 1.2) thường không phổ biến, không thấy xuất
hiện ở Mỹ, chỉ thấy xuất hiện ở một số vùng như Thụy Sỹ, Nam Phi, và
Mexico…[28]
Hình 1.2. Mặt sau lá me đất (Oxalis) bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi
(Ổ bào tử xuân -aecial) [53]
Vòng đời bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi khác nhau tùy theo từng vùng trên
thế giới. Ở Hawaii và các khu vực lân cận trồng ngô liên tục, tác nhân gây bệnh chỉ
đơn giản là bào tử hạ tồn tại trên cây trồng vụ trước lây sang cây trồng vụ sau. Ở
Mỹ, nấm lan truyền từ phía Bắc đến vùng vành đai ngô và từ phía Nam đến phía
Đông, nơi nó trải qua mùa đông có thể ở Mexicô. Vòng đời này cũng diễn ra tương
tự ở phía Nam Châu Âu. Ở Thụy Sỹ, Nam Phi, Cao nguyên Mexicô, Ấn Độ và các
nơi khác vào mùa hạ, bào tử hạ của nấm Puccinia sorghi lây nhiễm vào cây ngô và
phát triển thành ổ bào tử hạ. Đến mùa đông, bào tử đông được hình thành. Bào tử
đông được lây nhiễm sang cây ký chủ trung gian (cây me chua đất) đến mùa xuân
23
nảy mầm thành bào tử xuân (aeciospores) phát triển thành ổ bào tử xuân. Bào tử
này lây nhiễm lại vào cây ngô [28].
Khác với nấm Puccinia sorghi, nấm Puccinia polysora chỉ phát triển hai giai
đoạn chính: bào tử hạ (urediniospore) và bào tử đông (telliospore) được hình thành
trên cây ký chủ chính là ngô, giai bào tử xuân không rõ và không tìm thấy ký chủ
trung gian của nấm này. Những ổ nấm bệnh này nhỏ hơn, tròn hơn, có màu nhạt
hơn những ổ bào tử nấm Puccinia sorghi và được hình thành chủ yếu mặt trên của
lá. Bào tử hạ màu vàng nâu, hình tròn, elip hoặc hình trứng, kích thước 23-29 x 29-
36 μm, có vách đôi mỏng (Hình 1.3 A, B) [53], [122]. Ổ bào tử đông màu nâu đen
xuất hiện xung quanh ổ bào tử hạ. Bào tử đông cũng gồm 2 tế bào được ngăn cách
bởi 2 vách. Bào tử này có hình elip hoặc hình chữ nhật có kích thước 20-27 x 29-31
μm, có cuống ngắn chỉ bằng 1/4 chiều dài của bào tử (Hình 1.3 C, D). Bào tử hạ
đóng vai trò là nguồn lây nhiễm chính và lan truyền bệnh. Bào tử đông không có vai
trò trong phát triển bệnh [28], [53].
A B B
C D
Hình 1.3. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia polysora
A: Ổ bào tử hạ, B: Bào tử hạ, C: Ổ bào tử đông, D: Bào tử đông [53]
Nấm Physopella zeae gây bệnh gỉ sắt nhiệt đới (Tropical Corn Rust) rất bất
định và chỉ thấy ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ từ Mexico đến Colombia nơi có thời tiết
mát mẻ hay những nơi sườn núi [28], [122]. Các ổ bào tử có hình dạng thay đổi từ
24
tròn sang bầu dục. Chúng có kích thước nhỏ và nằm dưới biểu bì. Ở giữa ổ nấm vết
bệnh có màu trắng đến vàng nhạt và có 1 lỗ hiện rõ. Những ổ nấm đôi khi có quầng
đen nhưng ở giữa vẫn có màu vàng nhạt. Bào tử hạ có kích thước 12-20 × 18-30 μm
bào tử đông có kích thước 10-18 × 12-20 μm, không có cuống (Hình 1.4). Bào tử hạ
là nguồn lây lan thứ cấp, không thấy ký chủ trung gian của nấm này. Bệnh gỉ sắt
nhiệt đới do nấm Physopella zeae ít gây thiệt hại kinh tế hơn so với hai loại nấm
trên [28], [53].
B A
Hình 1.4. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Physopella zeae
A: Ổ bào tử hạ, B: Bào tử hạ [53]
1.2.5.2 Ảnh hưởng của môi trường đến sự lây nhiễm và phát triển bệnh
Sự lây nhiễm và lan truyền bệnh của Puccinia sorghi và Puccinia polysora bị
ảnh hưởng nhiều bởi môi trường [28], [53].
Nấm Puccinia sorghi, bào tử đông ở trạng thái miên trạng phải được phá vỡ
bởi nhiệt độ thấp trước khi nảy mầm. Bào tử hạ khô vẫn sống sót và có thể lưu giữ
trong thời gian dài ở -260C đến 100C. Bào tử hạ có thể nảy mầm và tăng trưởng ống
mầm khoảng 4 - 31°C, tối ưu từ 15 - 25°C. Sự nảy mầm này đạt tối đa ở độ ẩm
tương đối 100 % và ánh sáng thuận lợi cho nảy mầm. Thời gian cần thiết cho sự lây
nhiễm khoảng 4 giờ, tỷ lệ nhiễm tăng sau 6 - 12 giờ. Thời gian phát sinh bào tử là
khoảng 16, 10, 7 hoặc 5 ngày ở nhiệt độ 10°C, 15°C, 20°C, và 25°C tương ứng. Bào
tử phát sinh mạnh nhất ở 200C. Ổ bào tử hạ thường phát triển từ 3-6 ngày, sau
khoảng 7-10 ngày các ổ bào tử bị vỡ. Nhìn chung, ở vùng ôn đới, sự lây lan qua bào
tử hạ mạnh nhất khi thời tiết ẩm ướt. Ở vùng nhiệt đới, sự lây lan này xảy ra mạnh
nhất khi ẩm ướt và nhiệt độ giảm về đêm [28], [53].
25
Bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia sorghi gây ra phổ biến ở hầu hết các vùng trồng
ngô ôn đới, cận nhiệt đới. Ở vùng trồng ngô nhiệt đới, chủ yếu là những vùng cao
nguyên có độ cao trên 1000 m. Bệnh gỉ sắt được tìm thấy ở cả những cây con và cây
trưởng thành [28], [53].
Sự phát triển bệnh phụ thuộc vào từng vùng trên thế giới. Ở Mỹ, khu vực
phía Nam bệnh gỉ sắt phát triển mạnh vào đầu mùa thu, vùng vành đai ngô, các
Bang ở Đông và Bắc Mỹ bệnh gỉ sắt bắt đầu xuất hiện sau khi ngô trỗ cờ và phát
triển mạnh sau đó. Bào tử phát tán trong không khí sau đó rơi xuống và phủ trên bề
mặt đồng ruộng. Khi điều này xảy ra, các lá phía trên bắt đầu bị nhiễm trong khi đó
những lá thấp hơn xuất hiện những ổ bào tử. Ở Hawaii, ngô được trồng quanh năm
trên cùng một đồng ruộng, bệnh gỉ sắt phát triển liên tục ngay cả lúc cây con. Sự lây
nhiễm trên lá thường bắt đầu khi cây ngô trong giai đoạn lá xoáy nõn. Năm 1945 -
1947, bệnh gỉ sắt phát triển mạnh thành dịch bệnh ở Thụy Sỹ, nguồn bệnh lây
nhiễm chính ở đây là bào tử xuân được hình thành ở cây trung gian - me chua đất
(Oxalis) [28].
Ở nấm Puccinia polysora, khí hậu nóng ẩm là điều kiện cần thiết cho sự tồn
tại và lan truyền bệnh [133]. Bào tử hạ có thể nảy mầm khoảng 23 - 28°C, không
thể nảy mầm dưới 20°C. Ổ bào tử hạ thường phát triển từ 3-6 ngày, sau khoảng 7 -
10 ngày các ổ bào tử bị vỡ. Từ khi lây nhiễm cho đến khi hình thành bào tử có thể
kéo dài đến 15 tuần. Dưới điều kiện khô hạn, quá trình này còn diễn ra dài hơn. Sau
khi xâm nhập khoảng một tuần, có thể xuất hiện vết bệnh với ổ bào tử mới, từ đó lại
lây lan rộng ra nhiều đợt kế tiếp trong thời kỳ sinh trưởng của cây ngô [28], [35],
[36], [76], [124].
Nấm Puccinia polysora phổ biến chủ yếu ở nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới nơi
có khí hậu nóng ẩm. Trong điều kiện thuận lợi, nấm có thể lây lan từ vùng nhiệt đới
vào vùng ôn đới. Tại Hoa Kỳ, bệnh gỉ sắt phía Nam được giới hạn chủ yếu đến các
thung lũng hạ lưu sông Mississippi, có thể lan xa lên phía Bắc Illinois và Wisconsin
và trở thành dịch bệnh tại Hoa Kỳ vào năm 1972, 1973, 1974, 1979, và 1981 [28].
Ở Trung Quốc bệnh phát hiện lần đầu tiên ở Hainan vào năm 1972, đến năm 1998,
bệnh là nguyên nhân làm giảm năng suất đến 50% [28], [133].
Ở những nơi ngô được trồng liên tục, tác nhân gây bệnh có thể lây lan từ cây
ngô của vụ trước đến cây ngô ở vụ sau và lây nhiễm vào bất cứ giai đoạn sinh
26
trưởng, phát triển nào nhưng chủ yếu vào giai đoạn sau trỗ cờ 5-10 ngày. Sự nhiễm
bệnh xảy ra chủ yếu trên lá nhưng có thể xảy ra trên lá bi, đôi khi trên thân cây. Các
giống ngô lai là rất dễ bị nhiễm nấm Puccinia polysora [28], [53].
1.2.5.3 Ảnh hưởng của bệnh gỉ sắt đến cây ngô
Thiệt hại chính do bệnh gỉ sắt là làm giảm năng suất hạt. Vùng ôn đới như
Argentina và Vành đai ngô nước Mỹ, thiệt hại về năng suất lên đến 25%. Trong các
thử nghiệm về mức độ suy giảm năng suất ở các giống ngô lai do bệnh gỉ sắt gây ra
cho thấy, thiệt hại về mặt năng suất phụ thuộc vào diện tích lá bị bệnh. Năng suất
giảm từ 4%, 6%, 15%, 21%, đến 24%, tương ứng với các cây có từ 10, 30, 50, 60,
và 70% diện tích lá bị bệnh sau 50 ngày gieo trồng hoặc ngay sau trổ cờ [68]. Ở
Hawaii, bệnh gỉ sắt xảy ra ở các giai đoạn sinh trưởng sớm của cây ngô, với 80%
cây ngô lai bị nhiễm bệnh, năng suất trung bình giảm 35%. Sự thất thoát năng suất
chủ yếu là do giảm kích thước hạt [28].
Bệnh gỉ sắt ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây ngô theo những
cách khác nhau. Tác hại của bệnh gỉ sắt là làm cho lá cây ngô giảm hoặc mất khả
năng quang hợp do diện tích quang hợp giảm bởi mô lá bị chết hay lớp bào tử nấm
bệnh che phủ bề mặt lá. Cường độ hô hấp tăng mạnh ở những vùng mô bị bệnh làm
tiêu hao các chất dinh dưỡng trong cây. Đồng thời, bệnh gỉ sắt làm cây thoát hơi
nước mạnh, sự vận chuyển nước bị ngắt quãng, cây mất sự cân bằng nước. Kết quả
cây dễ bị héo dẫn đến giảm năng suất hạt, giảm chiều cao cây, khối lượng cây,
chiều dài bắp, đường kính bắp, hàm lượng tinh dầu, hàm lượng protein, và làm tăng
khả năng nhiễm bệnh khác như bệnh thối thân. Hạt từ cây bị nhiễm bệnh thường có
độ ẩm thấp khi thu hoạch [28].
Bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia polysora là một bệnh nghiêm trọng đã ảnh
hưởng đến kinh tế trong khu vực có khí hậu nóng ẩm. Sau 7-10 ngày bị nhiễm bệnh,
cây có thể bị chết, lá nhanh chóng bị cháy [28].
Khi nấm Puccinia polysora lan truyền vào Châu Phi, sản lượng ngô những
năm đầu tiên có khi giảm đến 50% [126]. Tại Philippines, sản lượng bị mất lên đến
80-84 % đối với các giống ngô mẫn cảm. Giống ngô có tiềm năng năng suất cao đôi
khi năng suất giảm mạnh hơn các giống có tiềm năng năng suất thấp khi bị bệnh [28].
27
Tại Hoa kỳ, đã thử nghiệm và quan sát thiệt hại về năng suất bằng cách gây
nhiễm nhân tạo nấm Puccinia polysora cho thấy, 50% năng suất bị giảm trong thử
nghiệm nhà kính, 24-37% trong thử nghiệm thực địa. Futrell (1975) đã ghi nhận
khoảng 45% sản lượng bị mất khi nhiễm bệnh tự nhiên ngoài đồng ruộng. Thiệt hại
năng suất đã được nghiên cứu ở Mississippi bằng cách gây nhiễm nhân tạo trên các
giống kháng và giống mẫn cảm ở ba ngày trồng khác nhau cho thấy, hầu hết những
giống kháng không bị bệnh gỉ sắt. Khoảng 75% bề mặt lá bị phủ bởi bào tử hạ ở các
giống mẫn cảm. Năng suất giảm từ 4 - 45% phụ thuộc vào ngày trồng. Năng xuất
giảm là do số lượng và kích thước hạt giảm. Các tác giả khác cũng ghi nhận, cây ngô
sẽ chết nếu như gây nhiễm bệnh nhân tạo sớm vào giai đoạn cây ngô 7 lá [28].
1.2.5.4 Sự thay đổi của tác nhân gây bệnh
Giống như hầu hết bệnh gỉ sắt ở ngũ cốc, các chủng Puccinia sorghi khác
nhau về tính độc đối với thực vật mang alen kháng chính [68]. Bằng thực nghiệm
cho thấy những gen độc và không độc của nấm Puccinia sorghi không được phát
tán ngẫu nhiên trên khắp thế giới. Các dạng sinh học Puccinia sorghi khác nhau, tác
động đến cây chủ được tính bằng lượng bào tử trong quá trình lan truyền bệnh trên
những cây mẫn cảm [28].
Tác nhân gây bệnh Puccinia polysora cũng có nhiều chủng gây độc khác
nhau đối với những dòng ngô mang những gen kháng chính. Có ít nhất 10 chủng đã
được biết đến, ba chủng EA1, EA2 và EA3 đã tìm thấy ở Đông Phi. Sáu chủng
PP.3, PP.4, PP.5, PP.6, PP.7 and PP.8 được xác định trên các giống ngô ở vùng Bắc
Mỹ, Trung Mỹ và Đông Phi. Chủng thứ 10, PP.9 được Ullstrup phát hiện từ một
giống ngô ở Nam Phi (PI186208) [28], [122].
1.2.5.5 Tính kháng bệnh gỉ sắt của cây ngô
Việc xác định tính kháng bệnh gỉ sắt của cây ngô là một mục tiêu quan trọng.
Trong quần thể cây ký chủ mẫn cảm đối với một loài/chủng tác nhân gây bệnh, một
hiện tượng thường thấy là có một số cá thể cây vẫn có khả năng kháng lại sự tấn
công. Từ các cá thể này, người ta có thể chọn tạo ra các giống kháng bệnh chống lại
một chủng nào đó. Giống cây tạo được gọi là giống kháng (resistant) còn chủng tác
nhân gây bệnh gọi là chủng không độc (avirulent). Tuy nhiên, sau một thời gian
28
trồng ngoài đồng ruộng, tính kháng này lại bị mất. Người ta đã nhận thấy rằng,
trong quần thể chủng tác nhân gây bệnh đã hình thành các đột biến có thể khắc phục
được tính kháng của giống cây kháng bệnh. Trong trường hợp này, chủng tác nhân
gây bệnh trở thành chủng độc (virulent) đối với giống kháng đó. Như vậy, giữa tác
nhân gây bệnh và cây ký chủ dường như tồn tại một mối quan hệ đồng tiến hóa dẫn
tới sự tồn tại lâu dài của cả tác nhân gây bệnh và ký chủ. Mối quan hệ đồng tiến hóa
này có thể giải thích bằng thuyết gen - đối - gen [58]. Theo đó, để xuất hiện tính
kháng bệnh ở cây cần có gen trội hoặc bán trội ở cây (dominant resistance gene) và
cả gen không độc cũng mang tính trội (dominat avirulence gene) ở vật ký sinh. Nói
cách khác cả gen kháng của ký chủ và gen không độc của ký sinh đều phải được
biểu hiện để tạo ra tính kháng.
Sự tương tác giữa vật chủ và vật ký sinh theo mô hình gen đối gen (gene-for-
gene) liên quan đến hai quá trình cơ bản: Nhận biết sự tấn công của tác nhân gây
bệnh và tiếp theo là quá trình đối phó lại để hạn chế bệnh. Quá trình nhận biết sự
tấn công của tác nhân gây bệnh liên quan đến các thụ thể được mã hóa bởi gen
kháng bệnh có tính đặc hiệu cao với các chủng gây bệnh. Hệ thống phòng thủ ở
thực vật được hoạt hóa nhờ những protein kháng (protein R). Những protein này
được mã hóa bởi gen kháng (gen R). Khi thực vật nhiễm bệnh sẽ được nhận biết và
ngăn ngừa bởi protein R khác nhau [52], [132].
Tiềm năng lớn của những gen liên quan đến việc kháng bệnh với sự đặc hiệu
đa dạng được phát hiện ở các loài thực vật. Sự di truyền đa hình của gen R liên
quan đến quá trình sao chép của gen, đột biến điểm, đứt đoạn, lặp đoạn trong đoạn
ADN lặp lại mã hóa cho 1 cụm các nhân tố giàu leucine (LRR:leucine rich repeat)
[59], [60]. Sự tái tổ hợp các gen liên quan bằng những cách khác nhau làm cho
trình tự của gen trở nên đa dạng hơn. Áp lực của các nhân tố gây bệnh chọn lọc ra
các chức năng kháng đặc hiệu và dẫn đến sự duy trì đa dạng của gen R. Những dữ
liệu về trình tự hệ gen gần đây được công bố cho thấy rằng nhóm NBS- LRR
(nucleotide binging site - leucine rich repeat) của các gen R hiện diện chiếm gần
1% của hệ gen Arapidopsis [34]. Các gen Rp, Rpp (gen kháng bệnh gỉ sắt ở ngô)
29
liên quan chặt chẽ với họ gen kháng mã hóa cho protein ở vị trí gắn kết NBS-LRR
(nucleotide binding site (NBS) - leucine-rich repeat (LRR) [60], [74], [77], [112],
[132], [131]. Các dữ liệu thực nghiệm đã cho thấy rằng LRR có một vai trò trong
việc xác định loài [56], [60], [75], [86].
Đặc tính kháng bệnh gỉ sắt của ngô là không ổn định và khá phức tạp [28],
[73], [132]. Chúng có thể do một hoặc một số gen trội quyết định và được di truyền
cho thế hệ sau theo các quy luật di truyền cơ bản [133] hoặc có thể là di truyền theo
qui luật tương tác gen, liên kết gen hay cộng gộp. Có hai loại kháng bệnh gỉ sắt ở
ngô: tính kháng chất lượng (tính kháng đặc hiệu) và tính kháng số lượng (tính
kháng một phần). Hai loại kháng bệnh này tương tác và phối hợp với nhau trong
quá trình sinh trưởng, phát triển của cây ngô [28], [73], [116].
Tính kháng bệnh gỉ sắt đặc hiệu ở ngô
Tính kháng bệnh gỉ sắt đặc hiệu (Race-specific resistance) ở ngô có tính
kháng cao nhưng chỉ kháng được một số kiểu gen (chủng, nòi) của tác nhân gây
bệnh. Nó còn được gọi là tính kháng Rp (resistance-Puccinia) do đơn gen trội
(single dominant gene) qui định và tính kháng này được di truyền riêng rẽ. Các tổn
thương do bệnh gỉ sắt gây ra như các nốt vàng, số lượng, kích thước bào tử hạ
(urediniospores) hình thành hoặc không có sự hình thành bào tử hạ phụ thuộc vào
gen kháng đặc hiệu hoặc những alen liên quan. Đến nay, các nhà khoa học đã phát
hiện thấy có khoảng 11 gen trội kháng bệnh gỉ sắt do Puccinia polysora và khoảng
25 gen trội kháng bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi gây ra [28], [89], [88], [121].
Tính kháng bệnh gỉ sắt do Puccinia polysora gây ra được qui định bởi một
hoặc vài gen trội có ảnh hưởng lớn đến sự biểu hiện tính kháng. Mức độ lớn này đủ
để tạo ra các tính trạng kháng riêng rẽ không liên tục (tính kháng gen chủ -Major
gene resistance). Có 11 gen chủ (Major gene) (Rpp1 - Rpp11), trong đó Rpp1 có
khả năng kháng chủng EA1 của Puccinia polysora nhưng không kháng được chủng
EA2 [28], [133]. Rpp2 có phản ứng kháng trung gian với cả 2 chủng EA1 và EA2.
hai gen này liên kết với nhau với tần suất tái tổ hợp là 12,23%. Gen Rpp3 và Rpp8
tồn tại trong dòng ngô có khả năng kháng chủng 3 - 8. Gen Rpp9 điều có thể kháng
30
với chủng số 9 và gen này liên kết RpD khoảng 1,6 đơn vị trao đổi chéo có khả
năng kháng Puccinia sorghi. Rpp10 có tính kháng trội hoàn toàn với cả 2 chủng
EA1 và EA2, còn Rpp11 có tính kháng trội không hoàn toàn với cả 2 chủng trên.
Không có sự liên kết gen giữa Rpp10 và Rpp11 [28]. Các gen kháng chủ và các tính
trạng di truyền số lượng (QTLs) nằm trên nhiễm sắc thể số 10 [42], [133].
Ở Mexico, Chávez-Medina và cộng sự (2007) nghiên cứu tính kháng bệnh gỉ
sắt ở ngô do nấm Puccinia polysora gây ra cho thấy, một số nguồn tiềm năng kháng
bệnh gỉ sắt nói chung và bệnh gỉ sắt ở ngô do nấm Puccinia polysora đã được xác
định từ 1.890 cá thể được sàng lọc (sceening) cho phản ứng kháng với chủng
Puccinia polysora số 9. Có 4 dạng kháng khác nhau đã được tìm thấy trong quá
trình sàng lọc. Tính kháng nấm Puccinia polysora được tìm thấy Ở PI 186.215
(dòng thuần Argentina 2-687) chỉ xuất hiện một vài đốm vàng (chlorotic). Dựa vào
các kiểm tra alen (tests of allelism), phản ứng mạnh này được quy định bởi gen trội
là đơn gen hoặc có liên kết chặt chẽ với gen Rpp9. Tính kháng ở Ames 19016
(Va59) có hiệu quả được thể hiện ở con lai F1. Tính kháng này cũng do gen trội qui
định. Tuy nhiên, tính kháng này chỉ làm chậm sự xuất hiện bệnh gỉ sắt. Nó chỉ ảnh
hưởng đến cây trưởng thành và dường như không ảnh hưởng đến cây con. Mức độ
nghiêm trọng của bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia polysora ít hơn 10% ở thế hệ con lai
khi lai với Va59 so với mức độ nghiêm trọng trên 70% ở thế hệ sau của các dòng
mẫn cảm. Sự kết hợp giữa PI 186.209 (đá lửa Venezuela) và NSL 75.976 (IA
DS61), tính kháng không hiệu quả, thế hệ con lai F1 không thể hiện tính kháng. Có
thể, tính kháng ở PI 186.209 được quy định bởi đơn gen, do gen lặn qui định còn
tính kháng ở NSL 75.976 có thể là đồng trội [40].
Zhao và cộng sự (2013) đã lập bản đồ gen RppP25 kháng bệnh gỉ sắt ở ngô
do nấm Puccinia polysora gây ra. Gen RppP25 được xác định có ở dòng ngô thuần
P25. Việc phân tích và lập bản đồ gen RppP25 từ dòng chuẩn F939 kháng bệnh gỉ
sắt mang gen RppP25 trên nền di truyền của dòng ngô F349 dễ nhiễm bệnh. bằng
phương pháp lai hồi quy giữa hai dòng F939 và F349, thế hệ lai BC1F1, BC3F1 đều
có tỷ lệ 1:1 (kháng bệnh: nhiễm bệnh). Như vậy tính kháng này được điều khiển bởi
31
một gen trội. 10 chỉ thị bao gồm 3 chỉ thị SSR, 7 chỉ thị InDel đã được sử dụng để
phát hiện gen RppP25. Gen RppP25 được giới hạn trong vùng P091 và M271 có
chiều dài 40Kb dựa trên bản đồ vật lý của B73. Trong vùng này, gen biểu hiện mã
hóa cho protein NBS-LRR (nucleotide-binding site leucine-rich repeat) [136].
Đối với các gen Rp trội kháng bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi bao gồm: ít
nhất 6 locus nằm trên 3 nhiễm sắc thể được xác định có gen kháng. Cụm gen Rp1,
Rp5 và Rp6 và Rpp9 được tìm thấy trên đầu mút cánh ngắn của nhiễm sắc thể số
10. Tổng khoảng cách bản đồ giữa các gen khoảng 3,0 đơn vị bản đồ. Locus Rp1 có
14 alen (được đánh dấu A - N), trong đó một số trường hợp có hiện tượng liên kết
gen chặt chẽ. Kết quả lai phân tích với trên 1900 cây được sử dụng nghiên cứu. Đơn
vị tái tổ hợp giữa Rp1G - Rp1L, Rp1A - Rp1K, Rp1A - Rp1C, R1pC - Rp1K và
Rp1B - Rp1C tương ứng là 0,37; 0,27; 0,22; 0,16 và 0,10%. Không có sự tái tổ hợp
giữa alen Rp1D với alen khác. Kiểu gen tái tổ hợp Rp1C - Rp1K đã được nghiên
cứu cho phản ứng kháng với nhiều chủng Puccinia. Gen Rp3, gen Rp4 nằm trên
nhiễm sắc thể số 3 và số 4 tương ứng . Sáu alen kháng bệnh gỉ sắt (được đánh dấu A
- F) ở locus Rp3 nằm trên nhiễm sắc thể số 3. Trong đó, alen Rp3B và Rp3C kháng
2 biotypes của Puccinia sorghi. Các gen này di truyền theo qui luật tương tác át chế
trội. Locus Rp4 nằm trên nhiễm sắc thể số 4 gồm có 2 alen (Rp4A, Rp4B) [28],
[40], [89], [92], [95], [125].
Locus Rp1 là một locus phức tạp, hiện diện nhiều trong các giống ngô lai và
một số giống ngô đường. Trong đó alen đặc trưng nhất là gen Rp1D [95], [121].
Những homolog của họ gen kháng bệnh gỉ sắt trên ngô này cũng được tìm thấy ở
các loài ngũ cốc như lúa mì và lúa mạch [31]. Ngoài ra, alen Rp3C tại locus Rp3
cũng có khả năng kháng bệnh gỉ sắt mạnh. Hai locus này, đoạn ADN lặp lại mã hóa
cho 1 cụm các nhân tố giàu leucine (LRR:leucine rich repeat) [44], [100]. Do đó,
tính kháng bệnh gỉ sắt do alen tại locus Rp1, Rp3 thường chiếm ưu thế. Mức độ
biểu hiện của các gen tăng mạnh trong vòng 7 - 12 tiếng sau khi gây nhiễm ở cả
thực vật kháng bệnh và nhiễm bệnh. Sau đó mức độ biểu hiện trở lại trạng thái bình
thường sau khoảng 72 giờ. Các phản ứng này được phát hiện ở cả các giống nhiễm
32
và giống kháng. Tại Hoa Kỳ, Alen Rp1D hiện đang sử dụng rộng rãi chống lại bệnh
gỉ sắt do Puccinia sorghi gây ra. Khi alen Rp1D có mặt, các đốm vàng nhỏ phát
triển tại vị trí nhiễm nấm, nhưng các tổn thương này không phát triển hơn nữa và
không có sự hình thành bào tử hạ (urediniospores). Tuy nhiên, alen này đã bị khắc
phục trong các khu vực trồng ngô khác của thế giới như Hawaii và không hiệu quả
trong việc kiểm soát bệnh trong các vùng này [28], [69], [70], [89], [88], [111].
Những gen lặn và gen bị đột biến có khả năng kháng Puccinia sorghi cũng
được biết đến [68], tính kháng này cũng bị chi phối bởi 1, 2 hoặc 3 gen lặn.
Tính kháng không hoàn toàn bệnh gỉ sắt ở ngô
Tính kháng không hoàn toàn hay tính kháng một phần (partial resistance)
được xác định và mô tả dựa trên thời gian ủ bệnh và số lượng cụm bào tử hạ
(urediniospores) có trong phần thương tổn [28], [53]. Tính kháng một phần ở ngô
được thể hiện rõ nhất trong ở các cây trưởng thành, nhưng nó cũng có thể được phát
hiện trong giai đoạn cây con. Tính kháng một phần ảnh hưởng đến sự phát triển
bệnh bằng một số cách như làm giảm số lượng, kích thước của bào tử. Tỷ lệ nảy
mầm của bào tử hạ (urediniospores) thấp, có thể kéo dài thời gian ủ bệnh đến khi
hình thành bào tử hạ. Điều này đã làm giảm tỷ lệ lây lan dịch bệnh và làm chậm sự
phát triển của dịch bệnh. Tính kháng một phần là tính trạng đa gen, được di truyền
cho thế hệ sau theo theo qui luật cộng gộp. Tính kháng từ thấp đến cao tùy thuộc
vào sự góp mặt của gen. Tính kháng này có khả năng kết hợp chung cao. Tính
kháng một phần bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi gây ra được sử dụng rộng rãi ở
những vùng trồng ngô ở Mỹ. Ngoài những khác biệt sinh lý khi cây trưởng thành,
các điều kiện môi trường cũng có thể gây ảnh hưởng khi cây trưởng thành trong các
khoảng thời gian khác nhau [28], [69] [71], [89], [94], [111].
Rey và cộng sự (2009) xác định các QTL (locus tính trạng số lượng) liên
quan đến khả năng kháng bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi và thối bắp do
Fusarium moniliforme Sheldon gây ra ở các giống ngô Argentinia cho thấy, hai
bệnh này gây hại nghiêm trọng và làm giảm năng suất đáng kể ở Argentinia. Sự
kháng đa dạng hai bệnh này được thấy giữa hai nguồn ưu thế lai thường được sử
33
dụng trong chọn tạo giống ngô ở Argentina. Đối với bệnh thối bắp là tính kháng
không hoàn toàn, còn bệnh gỉ sắt là tính kháng đặc hiệu chủng. Quần thể 190 cây
ở thế hệ F2:3 của lai chéo giữa 2 dòng thuần có khả năng kháng 2 bệnh trên trong
điều kiện gây nhiễm bệnh nhân tạo cũng như ngoài tự nhiên. Một trăm ba mươi
SSR đã được sử dụng. Sáu QTL liên quan kháng bệnh gỉ sắt và thối bắp được
xác định [103].
Brown và cộng sự (2000) nghiên cứu các locus tính trạng số lượng (QTL)
liên quan đến tính kháng một phần bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi, bệnh đốm lá
do Exserohilum turcicum và bệnh héo do Erwina stewartii, hay syn. Pantoea
stewartii gây ra của quần thể F2:3 từ thực hiện lai giữa 2 dòng IL731a và W6786.
Tổng cộng có 33 vùng trong hệ gen của ngô liên quan với tính kháng một phần
làm thay đổi kiểu hình từ 5,9-18%. Trong đó, có 2 vùng nằm trên nhiễm sắc thể
2:04 và 3:04 liên quan đến tính kháng một phần bệnh gỉ sắt. QTL liên quan đến
bệnh gỉ sắt trên bản đồ 3S trong vùng 20 cM ở locus Rp3 giải thích 17,7% kiểu
hình bị biến đổi [36].
1.2.5.6 Kiểm soát bệnh gỉ sắt ở ngô
Cách thức hợp lý nhất để kiểm soát dịch bệnh là thông qua tính kháng ký chủ
trong đó tính kháng số lượng được sử dụng chủ yếu trong nông nghiệp. Hình thức
kháng này có hiệu quả và có thể kháng lại tất cả dạng sinh học của Puccinia sorghi,
khá dễ dàng thông qua chọn tạo giống để tích lũy alen kháng với tần số cao. Với
việc sử dụng tính kháng này, bệnh gỉ sắt đã được kiểm soát và không phải là một
bệnh chính ở vùng vành đai ngô [28].
Bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia polysora được kiểm soát bởi các giống kháng
hoặc bởi các giống lai. Các giống kháng số lượng hoặc kháng chất lượng đã được
được chọn tạo ở các vùng nhiệt đới. Nhiều nguồn kháng từ giai đoạn cây con đã
được xác định và các gen kháng bệnh gỉ sắt chính trên ngô có tính kháng mạnh
nhưng xuất hiện với tần số thấp ở Caribbean và Mexico. Tuy nhiên, tính kháng hoặc
tính chống chịu không hoàn toàn phụ thuộc vào các gen, chúng được tăng cường
bởi một hệ thống đa gen [28], [53].
34
Giai đoạn đầu, các gen kháng chính đã được sử dụng trong chọn tạo giống ở
Đông và Tây Phi. Tuy nhiên, trước khi những giống kháng được trồng rộng rãi, các
giống địa phương cũng có khả năng kháng thông qua lựa chọn hàng loạt của nông
dân bản địa [126]. Các nguồn gen của giống địa phương ở vùng nhiệt đới Châu Phi
thay đổi đáng kể từ tính nhạy cảm cao đến tính kháng trong 10-15 thế hệ. Có 3 loại
giống có tính kháng đã được trồng: 1) Giống địa phương được tăng tính kháng bệnh
gỉ sắt, 2) Giống được cải thiện về năng suất và khả năng kháng bệnh gỉ sắt, 3)
Giống hỗn hợp giữa giống địa phương và giống được cải thiện.
Nên tránh trồng vụ sau gần kề với vụ trước đó đã bị nhiễm bệnh và nên trồng
đúng mùa vụ nơi không bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, khi dịch bệnh xảy ra sẽ trở nên
khó kiểm soát, thiệt hại về năng suất rất lớn.
Ngoài ra, có thể sử dụng biện pháp hóa học như một số loại chất HOE 2873,
HOE 6052, HOE 6053, lưu huỳnh, và zineb- để kiểm soát nhiễm bệnh gỉ sắt do nấm
Puccinia polysora hay dithane M-45, maneb, zineb, và các hợp chất có liên quan
như Azoxystrobin, mancozeb, mancozeb plus copper hydroxide, metconazole,
myclobutanil, propiconazole, pyraclostrobin, triadimefon, trifloxystrobin, and
triticonazole,… [31], [55] có hiệu quả để kiểm soát nhiễm bệnh gỉ sắt do nấm
Puccinia sorghi. Các chất này làm trì hoãn phát triển bệnh gỉ sắt và tăng đáng kể
sản lượng trong điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bệnh gỉ sắt [124]. Nhưng lý do
chính là vấn đề kinh tế, biện pháp này ít được sử dụng rộng rãi như một phương tiện
kiểm soát dịch bệnh. Phun thuốc hóa học lên lá đã được sử dụng ở mức độ hạn chế
trong sản xuất hạt giống có giá trị cao và ngô đường... [28].
1.2.5.7 Những nghiên cứu chọn tạo giống ngô năng suất cao chống chịu bệnh gỉ sắt.
Trên thế giới, những nghiên cứu chọn tạo giống ngô năng suất cao, chống chịu
bệnh gỉ sắt được thực hiện. Những nghiên cứu này chủ yếu vẫn được thực hiện bằng
phương pháp chọn tạo truyền thống như:
Zerekidze (1971) đã tìm được giống ngô lai Krasnodar-5, Kartuli krugi có
khả năng kháng bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi và các giống lai Dnepropetrovskii
90T, Dneprovskii 691A có khả năng miễn dịch với bệnh này. Malm và Hooker
(1962) nghiên cứu giống ngô thuần Amargo 47 và Midland 125 có khả năng
35
kháng bệnh gỉ sắt. Hooker và Russel (1962) tạo ra các dòng D42, R308 bằng
phương pháp lai hồi quy giữa các dòng chuẩn kháng bệnh gỉ sắt khác nhau được
thu thập trên thế giới [68], [135].
Sinha và cộng sự (1974) nghiên cứu khả năng kháng bệnh gỉ sắt do Puccinia
sorghi gây ra ở Bihar, Ấn Độ ghi nhận, với 35 dòng bố được chọn tạo, trong đó có
các dòng J1 syn 16, J1Mexico JWC, R2 syn 29 và EH407 có khả năng kháng bệnh
gỉ sắt [114].
Singh (1978) trong lúc tiến hành đánh giá tỷ lệ bị bệnh gỉ sắt và sự thất thoát
do Puccinia sorghi gây ra ở Bihar, Ấn Độ cho thấy, giống Ganga 4 có khả năng
chống bệnh gỉ sắt [113].
Sharma và Payak (1979), nghiên cứu tính kháng bệnh gỉ sắt trên ngô ở Ấn
Độ cho thấy, khả năng chống gỉ sắt được kiểm soát bởi đa gen. Trong đó các dòng
GE 440, CM 105 và CM 104 được tổ hợp từ các gen kháng tốt nhất [110].
Ở Trung Quốc, Yeh (1984) sàng lọc từ 984 dòng có khả năng kháng bệnh gỉ
sắt do Puccinia sorghi và Puccinia polysora gây ra ghi nhận, các dòng Tainungyu
351, ER172, ER418, ER325 và ER504 có khả năng kháng bệnh gỉ sắt tốt [134].
Davis và cộng sự (1988) nghiên cứu một số nguồn gen kháng bệnh gỉ sắt ở
ngô và chọn tạo giống ngô có khả năng kháng bệnh gỉ sắt ghi nhận, trong số 70 kiểu
gen của ngô được thử nghiệm ngoài đồng ruộng có Pl163558, Pl163597, Pl193909
và Pl198896 có tính kháng một phần bệnh gỉ sắt [48].
Neelam và cộng sự (1989) đánh giá các giống ngô có khả năng kháng bệnh
gỉ sắt cho thấy, trong số 79 kiểu gen được chọn lọc, chỉ có hai giống lai EH 5041 và
EH 5091 có khả năng kháng bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi gây ra [91].
Widrlechner và Dragula (1992) khảo sát 11 dòng ngô thuần xác định, các
dòng OC1, OC5 và OC11 có khả năng kháng bệnh gỉ sắt trong điều kiện đồng
ruộng [130].
Patil và các cộng sự. (2000), tham gia Dự án hợp tác cải thiện ngô ở Ấn Độ cho
thấy rằng các dòng CI-4, NAI-113 và CM-501 có khả năng kháng bệnh gỉ sắt [96].
Maria Elisa Ayres Guidetti Zagatto Paterniani và cộng sự (2000) đã lai luân
36
phiên giữa 10 dòng ngô ưu tú có khả năng kháng bệnh trên lá và các giống lai đơn
được đánh giá ở 4 trạm thí nghiệm của Viện nông học Campinas, São Paulo, Brazil.
Các thí nghiệm được thiết lập trong một khối hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp
lại, trong đó có 4 đối chứng. Các ô thí nghiệm bao gồm hai hàng 5m cách nhau 0,9
m, với tổng số 50 cây. Những chỉ tiêu được đánh giá bao gồm: thời gian từ gieo -
tung phấn, chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, năng suất hạt, khả năng chống đổ,
bệnh đốm lá và bệnh gỉ sắt, khả năng kết hợp chung và khả năng kết hợp riêng được
xác định. Có sự biến động di truyền lớn giữa các giống lai với các giống lai tốt nhất
(HS 04 x 10 và 10 x 11 HS), không có sự khác với đối chứng. Các dòng có tiềm
năng lớn nhất để tạo giống lai bao gồm: L5, L10, L11 và L13. Chúng có khả năng
kết hợp chung cao về năng suất và khả năng kháng tốt bệnh đốm lá, bệnh gỉ sắt do
nấm Puccinia polysora gây ra, làm giảm chiều cao đóng bắp, trong đó dòng L5 có
khả năng kháng bệnh tốt nhất [85].
Basandrai và cộng sự (2004) nghiên cứu khả năng kháng bệnh gỉ sắt ở các
dòng ngô thuần ở Ấn Độ ghi nhận, trong số 400 dòng ngô, GE440, CM104 và
CM105 là các tổ hợp lai có khả năng kháng bệnh gỉ sắt tốt trong điều kiện lây
nhiễm bệnh nhân tạo [33].
Dhanju và SainDas (2005) xác định các dòng ngô kháng bệnh gỉ sắt và sử
dụng chúng trong lai tạo giống ngô xác nhận các dòng HKI-295, HKI 1354, HKI
1348-6 và HKI 488 là những dòng quan trọng nhất để tạo giống lai có khả năng
kháng bệnh gỉ sắt như HHM-1, HM-5 và HM-6 [49].
Utpal Dey và cộng sự (2012), nghiên cứu sàng lọc các giống ngô lai và các
dòng ngô có khả năng kháng bệnh gỉ sắt bằng phương pháp lây nhiễm bệnh nhân
tạo ngoài đồng ruộng ghi nhận, trong số 43 giống ngô lai có 14 giống lai (NK 6240,
NK 61, NK-7305, CP-808, GK-3090, 30R77, CP-818, C-1945, JKMH-502, PAC-
740, NK-121, Pro-311, DK-984 và Swarna) có phản ứng kháng mạnh, 11 giống lai
có phản ứng kháng vừa phải, 18 giống lai mẫn cảm với bệnh gỉ sắt. Trong số 43 dòng
thuần, có 8 dòng thuần (CI-4, CM-144, NEI-9202B, HYD. Sel.-17, HYD Sel.-2,
NAI-104, NAI-113 và CM-119) có phản ứng kháng. Trong đó, chỉ có 2 dòng MI-12,
37
Indimyt-345 có phản ứng kháng mạnh, 9 dòng có phản ứng kháng vừa phải, 20 dòng
khá mẫn cảm và 4 dòng mẫn cảm với bệnh gỉ sắt [124].
Trong những năm gần đây, bằng phương pháp chọn tạo truyền thống kết
hợp với công nghệ sinh học cũng xác định được một số giống ngô năng suất cao,
kháng bệnh gỉ sắt. Tuy nhiên những nghiên cứu này vẫn còn hạn chế.
Jedidah và cộng sự (2008) đã sử dụng 28 chỉ thị phân tử SSR và gây nhiễm
bệnh nhân tạo để nghiên cứu các QTL (locus tính trạng số lượng) liên quan đến khả
năng kháng bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia shorghi, và đốm lá (GLS), do nấm
Cercospora zeae-maydis gây ra ở cây ngô ghi nhận, với tổng cộng có 41 kiểu gen được
thu thập từ Kenya, CIMMYT, IITA và Nam Phi bao gồm 23 dòng cận giao tái tổ hợp,
14 dòng bố mẹ và 4 giống đối chứng. Trong đó, 14 dòng bố mẹ, chỉ có 4 dòng có QTL
liên quan đến khả năng kháng bệnh gỉ sắt và đốm lá, 10 dòng trong số 23 dòng cận giao
tái tổ hợp được thừa kế các tính trạng liên quan từ bố mẹ. Mức độ nhiễm bệnh phụ
thuộc vào kiểu gen của những QTLs khác nhau khi gây nhiễm bệnh nhân tạo. Mức độ
nhiễm bệnh được đánh giá theo thang điểm từ 1 - 5 (điểm 1 tốt nhất, điểm 5 kém nhất).
Hầu hết các dòng thuần có khả năng chịu bệnh gỉ sắt và đốm lá (dưới 2,5 điểm) tốt hơn
đối chứng (3,5 điểm). Kiểu gen kháng 2 bệnh này tốt nhất đạt 1,5 điểm. Những kiểu
gen của bố mẹ MAL40, MAL9, MAL13, MAL41, MAL11, MAL19, MAL23-2,
MAL24, and MAL19-1 đều mang QTL liên quan đến khả năng kháng bệnh gỉ sắt và
đốm lá. Các dòng này được lựa chọn để chọn tạo các giống lai đơn, lai kép và lai ba có
khả năng kháng bệnh [71].
1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.3.1 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô ở Việt Nam
Cây ngô du nhập vào Việt Nam hơn 300 năm. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi
cho cây ngô sinh trưởng và phát triển nên trên cả nước có 8 vùng trồng ngô chính,
mỗi vùng có những đặc trưng riêng về vị trí cây ngô trong hệ thống trồng trọt, thời
vụ, khả năng kinh tế sản xuất ngô và cây ngô đã trở thành cây lương thực quan trọng
thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái
khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác. Sản xuất ngô cả nước
qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng [19].
38
Năm 1975 -1980, sản xuất ngô ở nước ta chưa phát triển với diện tích trồng
ngô là 267 - 389,6 nghìn ha, năng suất từ 1,0 - 1,1 tấn/ha. Từ năm 1980 - 1990, diện
tích ngô tăng chậm chỉ đạt 431,8 nghìn ha, nhưng năng suất tăng đến 1,55 tấn/ha
(1990) nhờ sử dụng các giống ngô thụ phấn tự do cải tiến đưa vào sản xuất [19]. Từ
năm 1991 đến nay, là thời kỳ phát triển các giống ngô lai. Nếu như năm 1991 cả
nước trồng khoảng 500 ha ngô bằng hạt lai, ngày nay ngô lai đã là giống chủ yếu ở
các vùng, chiếm khoảng trên 900.000 ha (90% diện tích trồng ngô cả nước). Điều
này đã góp phần quan trọng trong việc tăng năng suất ngô trung bình toàn quốc lên
4,44 tấn/ha, đạt tổng sản lượng 5.193,5 nghìn tấn năm 2013 [20].
Vào những năm 60, nước ta đã có những nghiên cứu về chọn tạo và sử dụng
ngô lai vào sản xuất. Tuy nhiên, do vật liệu còn nghèo nàn và không phù hợp, nên
ngô lai đã không phát huy được vai trò của nó. Đến những năm 90, Viện Nghiên
cứu Ngô đã lai tạo và chuyển giao vào sản xuất nhiều giống ngô lai không quy ước
được công nhận giống quốc gia: LS3, LS6, LS7, LS8. Bộ giống ngô này có năng
suất từ 3 -7 tấn/ha, cao hơn các giống thụ phấn tự do 1 tấn/ha [27].
Từ năm 1996 đến nay, các nhà chọn tạo giống ngô Việt Nam đã chú trọng
chọn tạo dòng thuần để tạo giống ngô lai. Kết quả đã tạo được tạo được nhiều giống
ngô lai có năng suất cao và đưa ra khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau như:
LVN4, LVN10, LVN25, LVN99, VN8960, LVN145, LVN146, LVN885,
HQ2000 (chất lượng Protein cao)… Một số giống ngô lai thế hệ mới tiêu biểu đã
được công nhận là giống quốc gia đang được mở rộng thị trường đưa vào sản xuất
trong những năm gần đây như: LVN885, LVN61, LVN66, LVN145, LVN45,
LVN146, SB099, Đường lai 10, Nếp lai số 1, Nếp lai LSB4 (không quy ước), giống
nếp tổng hợp VN2 và VN6. Ngoài ra, đã đạt được một số kết quả bước đầu trong
công tác chọn tạo giống bằng công nghệ sinh học như: Tạo dòng từ nuôi cấy bao
phấn; Dùng chỉ thị phân tử phân tích đa dạng di truyền, phân nhóm ưu thế lai,
chuyển ngô thường thành ngô chất lượng Protein cao, tạo dòng kháng bệnh khô vằn
ở ngô… Một số giống ngô được tạo ra nhờ kết hợp giữa phương pháp truyền thống
và công nghệ sinh học trong chọn tạo giống ngô như: LVN145, LVN146, LVN092,
LVN154... Các giống được tạo ra phù hợp, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng và
điều kiện sinh trưởng từng vùng [141].
39
Bên cạnh những thành tựu về giống, các tiến bộ kỹ thuật về canh tác đã góp
phần to lớn cho sự phát triển của cây ngô. Những năm qua, nhà nước cũng đã hết
sức quan tâm đầu tư cho việc nghiên cứu phát triển cây ngô, đã có nhiều cơ chế
chính sách hỗ trợ giống đã khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước sản
xuất, cung cấp giống, giới thiệu các giống mới có năng suất, chất lượng tốt vào sản
xuất, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất ngô đã được chuyển giao đến
người nông dân.
1.3.2 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô ở Tây nguyên
Vùng đất Tây Nguyên có diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp ước
khoảng 1354,7 nghìn ha, chiếm 24,7% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất dành cho
sản xuất ngô ước khoảng 243,9 nghìn ha, chiếm 20,6% diện tích trồng ngô toàn quốc.
Năm 2013, diện tích sản xuất ngô của vùng Tây Nguyên là 252,4 nghìn ha trong đó
tập trung chủ yếu ở ba tỉnh: Đắk Lắk (123,4 nghìn ha), Gia Lai (52,6 nghìn ha) và
Đắk Nông (52,9 nghìn ha). Năng suất ngô của vùng là 51,7 tạ/ha, đứng thứ 3 trong
các vùng trồng ngô cả nước, cao hơn so với năng suất trung bình của cả nước (44,4
tạ/ha) [2020] và tương đương với năng suất trung bình của thế giới (55,2 tạ/ha) [138].
Do diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô của vùng tăng 7,56 % so với năm
2012 đạt 1.306,1 nghìn tấn chiếm 25,14% sản lượng ngô cả nước (Bảng 1.1) [20].
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở Tây Nguyên
giai đoạn 2010 - 2013
Diện tích (1000 ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Tỉnh, thành phố
7,2
7,3
7,3 35,5 36,0 36,8 36,8 28,2
26,5
28,4
89,6
77,8
236,8 235,1 249,3 252,4 50,0 51,3 49,8 51,7 1.079,2 1.117,2 1.214,3 1.306,1
2010 2011 2012 2013 2010 2011 2012 2013 2010 2011 2012 2013 8,0 26,9 Kon Tum 56,9 50,7 53,2 52,6 38,4 40,9 41,1 40,4 194,2 208,4 218,8 212,4 Gia Lai Đắk Lắk 115,7 115,4 119,8 123,4 53,4 54,0 50,0 53,7 578,1 565,9 599,5 663,2 Đắk Nông 40,0 41,8 45,8 52,9 62,0 61,2 61,1 60,8 205,0 236,7 279,9 321,6 Lâm Đồng 16,2 16,3 17,9 16,2 44,0 46,9 50,1 50,6 73,7 82,0 Tây Nguyên
Nguồn: Niên giám thống kê 2013[20].
Sản xuất ngô lai ở Tây Nguyên được nông dân chú trọng phát triển, nguyên
nhân chủ yếu là do: Công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng được chú trọng, một số
40
diện tích cà phê già cỗi, sâu bệnh, năng suất thấp ở nhiều vùng đang được thanh lý
để trồng tái canh hay chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Trong thời gian luân canh đất
sau chu kỳ dài trồng cà phê, cây ngô được lựa chọn là cây trồng luân canh vì có giá
trị kinh tế khá cao, dễ gieo trồng trên diện rộng. Sản xuất ngô vụ 2 (Vụ Thu Đông)
cũng được chú trọng tăng cường với những giống ngô thích hợp; Sự gia tăng dân số,
nhất là các vùng khó khăn, các vùng có đông người nhập cư từ các địa phương khác
vào Tây Nguyên làm nảy sinh nhu cầu sản xuất nông nghiệp phục vụ đời sống trước
mắt, ngô được xem là cây trồng dễ tính, khá hấp dẫn phù hợp cho việc giải quyết
nhu cầu này; Những năm gần đây, giá ngô hạt tương đối ổn định và khá hợp lý, lưu
thông buôn bán dễ dàng, chủ yếu phục vụ cho công nghiệp chế biến thức ăn gia súc
đang trên đà phát triển mạnh; Kỹ thuật trồng ngô khá đơn giản, dễ làm, đầu tư ít,
các khâu trồng tỉa, chăm sóc thu hoạch, sơ chế dễ dàng thuận tiện nhờ sự trợ giúp
của các tiến bộ kỹ thuật như sử dụng thuốc diệt cỏ, cơ giới hóa khâu đập hạt; Các
giống ngô lai có tiềm năng năng suất cao được các Công ty và Viện nghiên cứu đưa
vào giới thiệu và sử dụng ngày càng nhiều. Các giống ngô lai đưa vào sản xuất đều
cho năng suất bình quân cao, đạt từ 45-50 tạ/ha. Hàng năm, diện tích ngô lai tại Tây
Nguyên được gieo trồng lên đến hơn 200 nghìn ha với trên 95% giống ngô lai được
đưa vào gieo trồng. Các giống ngô lai như: NK67, NK7328, B9698, C919, G49,
CP888, LVN10, LVN146, LVN66, DK9901, DK9955, DK8868, P4199… được đưa
vào sản xuất đại trà mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong đó có hai giống ngô chiếm
thị phần cao nhất, giống NK67 chiếm 70% và CP888 chiếm 15% cơ cấu giống ngô.
Căn cứ diễn biến các yếu tố khí hậu, thời vụ ngô ở các tỉnh Tây Nguyên
được bố trí như sau:
Vụ ngô Hè Thu (vụ 1): Đây là vụ ngô trồng chính trong năm. Thời điểm này
có lượng mưa lớn (86,7-355,8 mm/tháng) và số ngày mưa nhiều nhất trong năm
(7,8- 25,6 ngày/tháng ), độ ẩm không khí cao (26,0% - 88,0%) rất thích hợp cho sự
sinh trưởng của cây ngô (phụ lục 13). Do vậy cần bố trí gieo trồng trong khung thời
vụ tốt nhất, gieo từ trung tuần tháng 4, ngô trỗ cờ cuối tháng 6, thu hoạch tháng 8.
41
Các giống ngô được trồng trong vụ này thường là LVN10, LNV61,VN8960, C919,
NK67, CP333, CP888, MX4, SSC557,…
Vụ ngô Thu Đông (vụ 2): Gieo cuối tháng 8, ngô trỗ cờ tháng 10, thu hoạch
tháng 12. Trong giai đoạn này, lượng mưa lớn (35,3 - 345,9 mm/tháng), số ngày
mưa nhiều (6,8 - 23,9 ngày/tháng) và độ ẩm cao (38,0% - 89,0%). Tuy nhiên, có
hiện tượng hạn về cuối vụ nên đối với ngô gieo trồng vụ Thu Đông cần chủ động
chống hạn cuối vụ, giống sử dụng vụ này cần giống chín sớm, chịu hạn như NK67,
C919, LVN146, LVN66, P4097, C919, DK9901, G49,...
Vụ ngô Đông Xuân (vụ 3): gieo trong tháng 11, trỗ cờ tháng 1 và thu hoạch
vào tháng 3. Đây là thời điểm mùa khô ở Tây Nguyên nên chỉ gieo trồng đối với
những vùng chủ động nước tưới. Các giống ngô thường trồng là NK67, NK7328,
B9698, C919, G49, CP888, LVN10, DK9955, DK8868, P4199…
Bên cạnh những thuận lợi trên, sản xuất ngô của vùng này còn nhiều bất cập,
chưa mang tính bền vững. Phần lớn diện tích trồng ngô của vùng Tây Nguyên chủ
yếu gieo trồng tại các vùng miền núi có độ dốc cao, nhờ nước trời, không chủ động
được nước tưới, ít thâm canh. Ngô Đông Xuân có tưới được trồng thử nghiệm ở
nhiều vùng đất cho năng suất cao, tuy vậy diện tích ngô Đông Xuân đến nay còn rất
hạn chế vì nước tưới thường được ưu tiên dành cho cây trồng có giá trị cao hơn.
Ngô được gieo trồng trên các loại đất đen, đất phù sa, đất xám và cả trên những
vùng đất bazan không có điều kiện tưới trong mùa khô. Các vùng đất bazan thuận
tưới thường được trồng các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cà phê, hồ tiêu.
Do đó, năng suất cây ngô đạt thấp so với tiềm năng năng suất của giống. Địa bàn
sản xuất ngô xa, diện tích sản xuất ngô manh mún nên hiệu quả sản xuất bị giảm do
tăng chi phí vận chuyển, tăng chi phí lao động. Bên cạnh đó, trình độ hiểu biết khoa
học kỹ thuật còn thấp, không đồng đều giữa các vùng trồng ngô, điều kiện kinh tế
khó khăn, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất và việc đưa các tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất gặp rất nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, gần như toàn bộ diện tích gieo trồng ngô
lai sử dụng các giống ngô lai của các công ty liên doanh nước ngoài giá thành cao,
còn các giống trong nước chiếm tỷ trọng thấp. Nguyên nhân dẫn đến các giống ngô
42
lai của Việt Nam ở vùng này chiếm tỷ trọng rất thấp là do: Chưa có bộ giống phù
hợp với vùng sinh thái, phần lớn các giống ngô lai được lai tạo Viện nghiên cứu
Ngô - Hà Nội khi đưa vào sản xuất trong điều kiện sinh thái của vùng Tây Nguyên
bị nhiễm bệnh nặng đặc biệt là bệnh gỉ sắt, kỹ năng quảng bá sản phẩm của các đơn
vị trong nước thấp hơn so với các công ty nước ngoài…
Với mục đích phát triển mạnh các giống ngô lai của Việt Nam cho vùng Tây
Nguyên, cần đẩy mạnh công tác chọn tạo giống năng suất cao, có khả năng kháng
bệnh, đặc biệt là bệnh gỉ sắt trong đó bao gồm việc nghiên cứu chọn tạo, chọn lọc
được những dòng thuần thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng, lai tạo và khảo
nghiệm tổ hợp lai tại chỗ để nâng cao hiệu quả trong sản xuất ngô là những yêu cầu
hết sức cần thiết ở vùng Tây Nguyên.
1.3.3 Dòng thuần và đánh giá dòng
Ở Viện nghiên cứu ngô, từ năm 1990 đã chú trọng chọn tạo dòng thuần để tạo
giống ngô lai. Đến nay đã tạo nhiều dòng ngô thuần năng suất cao bằng phương pháp
truyền thống như tự phối, fullsib, halfsibs… đã có nhiều giống ngô lai năng suất cao,
có khả năng chống chịu tốt được chọn tạo từ các dòng thuần này [5], [9].
Ngoài ra còn ứng công nghệ sinh học cũng đã tạo nhiều dòng ngô thuần năng
suất cao. Tại Viện Di truyền Nông nghiệp và Viện Nghiên cứu Ngô, bằng Phương
pháp tạo dòng đơn bội kép sử dụng các dòng mang gen cảm ứng tạo đơn bội, các
nghiên cứu về nuôi cấy noãn ngô, nuôi cấy bao phấn hoặc hạt phấn tách rời cũng đã
được tiến hành. Bước đầu, các nghiên cứu về việc xác định các công công thức môi
trường, các nguồn vật liệu cho phản ứng tạo mô sẹo, tạo phôi và tái sinh cây cao [4],
[6], [21]. Đến năm 2003 dòng ngô đơn bội kép đầu tiên được tạo ra và cũng là thời
điểm hoàn thành công nghệ. Từ năm 2004 - 2005 giai đoạn tìm kiếm vật liệu có khả
năng tái sinh cao, từ kết quả nuôi cấy hơn 1000 nguồn vật liệu địa phương và nhập
nội đã xác định được 2 nguồn có khả năng tái sinh cây tốt là giống Xiêm Sông Bôi
và quần thể Q431 nhập nội. Năm 2005, là năm khởi đầu cho việc khai thác các
nguồn vật liệu có giá trị đã mở ra hướng nghiên cứu mới chuyển đổi dòng ngô
43
thường thành dòng ngô QPM, tạo dòng ngô nếp thuần, dòng C156N tham gia vào tổ
hợp lai thương mại LVN45 từ vật liệu ( LVN10 × Xiêm Sông Bôi)…[4], [7], [23].
Từ năm 2006 đến nay, đánh dấu tính hiệu quả của công nghệ đơn bội kép. Tỷ
lệ tạo phôi tăng từ 2,4% (năm 2005) lên 7,07% (năm 2009), tỷ lệ cây hữu thụ từ
13,8% (năm 2005) lên 14,3% (năm 2009) và đã tạo ra được các dòng C152N, V72,
V64, V272,… từ vật liệu ( LVN10 × Xiêm Sông Bôi) tham gia vào nhiều tổ hợp lai
thương mại có năng suất cao, chống chịu tốt, một phần nhờ vào dòng cảm ứng
AC24 được chọn tạo từ quần thể Q431 và các vật liệu được cải thiện nền di truyền.
Các dòng đơn bội kép phần lớn có khả năng kết hợp chung và riêng cao, đồng đều, ổn
định, khả năng thích ứng rộng (LVN 146, LVN092, LVN152…) [5].
Năm 2010, đã chọn và đưa vào sử dụng dòng đơn bội kép phong phú và đa
dạng bao gồm 130 dòng ngô tẻ và 22 dòng ngô nếp. Kết hợp với phương pháp chọn
tạo truyền thống, đã lai tạo được một số tổ hợp lai có giá trị thương mại như
LVN145, LVN146, LVN092, LVN154, LVN152 [5].
Để chọn được các dòng ưu tú có khả năng tham gia vào các tổ hợp lai cho ưu
thế lai cao phục vụ sản xuất, các nhà chọn tạo giống ngô Việt Nam đã áp dụng
phương pháp lai đỉnh và lai luân phiên trong nghiên cứu: Bùi Mạnh Cường (1994)
[5] chọn 2 cây thử LDB3, TSB1 cho nhóm chín muộn và 2 cây thử LDSB2, TSB2
để đánh giá khả năng kết hợp của 50 giống ngô. Mai Xuân Triệu (1998) [22] sử
dụng các cây thử khác nhau để đánh giá khả năng kết hợp của 12 dòng dài ngày, 10
dòng trung ngày, 11 dòng ngắn ngày với các cặp cây thử tương ứng là IL25 và
TSB1, P11 và Bighei, TSB2 và IL246. Ngô Thị Minh Tâm (2012) [16] từ 8 dòng
ngô thuần, tiến hành lai luân phiên theo sơ đồ Griffing 4 đã xác định được các dòng
C4N, C7N, C10N, C89N và C90N là các dòng tốt về khả năng kết hợp có thể bổ
sung vào tập đoàn dòng phục vụ công tác chọn giống ngô lai năng suất cao…
Sử dụng phương pháp lai luân phiên để đánh giá khả năng kết hợp, nhiều tác
giả thu được các kết quả ở các khía cạnh khác nhau như: Quan hệ giữa khả năng kết
hợp với nguồn gốc xuất xứ của dòng [22]; Biểu hiện khả năng kết hợp của dòng ở
các tính trạng [26]; Xác định hiệu ứng gen của các nguồn ngô nhiều bắp [10]; Quan
hệ giữa khả năng kết hợp với môi trường [26].
44
1.3.4 Đa dạng di truyền và ứng dụng trong chọn tạo giống ngô lai
1.3.4.1 Chỉ thị hình thái
Ở Việt Nam, dựa vào các chỉ tiêu hình thái, một số tác giả đã tiến hành
nghiên cứu đa dạng di truyền của các nguồn vật liệu ngô. Ngô Hữu Tình và cộng sự
(1996) dựa trên những tính trạng số lượng của tập đoàn các mẫu giống ngô địa
phương và sử dụng phương pháp phân tích nhóm để phân nhóm cách biệt di truyền
các giống ngô địa phương [17]. Mai Xuân Triệu (1998) đã sử dụng phương pháp
phân tích nhóm của Mahalanobis để phân loại dòng thuần theo sự cách biệt di
truyền dựa trên 13 chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái và năng suất
để đánh giá đa dạng di truyền và phân nhóm ưu thế lai của 24 dòng ngô có nguồn
gốc khác nhau. Kết quả 24 dòng ngô thuần được phân thành 4 nhóm [22].
1.3.4.2 Chỉ thị phân tử ADN
Ở Việt Nam, chỉ thị phân tử ADN được sử dụng hỗ trợ công tác chọn tạo
giống ngô lai như: Sử dụng chỉ thị RAPD, SSR phân tích đa dạng di truyền của tập
đoàn dòng, phân nhóm và dự đoán ưu thế lai [5], [8].
Trong những năm gần đây, chỉ thị SSR cũng được sử dụng để đánh giá đa
dạng di truyền, phân nhóm và dự đoán ưu thế lai trong chương trình chọn tạo giống
ngô lai [5].
Tại Viện Nghiên cứu Ngô, đã phân lập một số chủng Rhizoctonia solani gây
bệnh trên bắp cải, đậu đỗ, lúa và ngô thông qua đoạn bảo tồn 16S và 18S ribosom.
Kết quả cho thấy, các mẫu thu thập đều thuộc loài Rhizoctonia solani. Tuy nhiên,
trong điều kiện Việt Nam đã có sự khác biệt giữa các chủng gây bệnh trên ngô so
với các chủng gây bệnh trên đối tượng cây trồng khác. Xác định chủng Rhizoctonia
solani gây bệnh đặc trưng trên cây ngô ở phía Bắc Việt Nam. Xác định sơ bộ
phi123 và phi 065 liên quan tới khả năng chịu bệnh khô vằn với các chủng đặc
trưng được phân lập, xác định được 2 tổ hợp F93 và F90 kháng bệnh khô vằn, các
dòng C156N, C347, C110. Xác định được chỉ thị phi088 liên kết với gen rab 15
tổng hợp acid abscisic và chỉ thị phi084 liên kết với gen nacl mã hóa cho protein 1-
NaCl liên quan tới khả năng chịu hạn của các dòng VNL38, DF1, DF2, C26, C36,
45
C156N. Phân lập và giải trình tự dhnl tham gia tổng hợp LEA protein - chống hạn ở
cây ngô. Đánh giá dòng và các phương pháp đánh giá dòng [5].
Sử dụng các chỉ thị phân tử trong nghiên cứu đa dạng di truyền và dự đoán
ưu thế lai ở ngô là một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam. Việc ứng dụng phương
pháp này là cần thiết để hỗ trợ cho phương pháp truyền thống trong công tác tạo
giống ngô lai hiệu quả hơn.
1.3.5 Những nghiên cứu về bệnh gỉ sắt và chọn tạo giống ngô chống chịu bệnh
gỉ sắt
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt trên cây ngô còn hạn chế, các
nghiên cứu đã ghi nhận có 2 loài nấm gây bệnh gỉ sắt trên ngô. Nấm Puccinia
polysora thường gặp ở những vùng trồng ngô có nhiệt độ cao, như ở Đồng bằng
sông Cửu Long. Ở miền Bắc, bệnh gỉ sắt trên ngô có thể do loài Puccinia sorghi
[11]. Viện Bảo vệ thực vật chỉ mới nghiên cứu về cách phòng chống bệnh gỉ sắt trên
cây ngô bằng biện pháp bảo vệ thực vật.
Tại Viện Nghiên cứu Ngô, thông qua đánh giá thực địa và phân lập gen Rp1 đã
xác định được các dòng C152N, V272, C7N, Dekalbgold kháng bệnh gỉ sắt, hiện
đang ứng dụng trong chọn tạo giống kháng bệnh gỉ sắt phục vụ sản xuất ngô ở các
tỉnh Tây Nguyên. Đồng thời qua công tác truyển chọn thực địa 109 THL 3 năm, 4
vùng sinh thái đã xác định được một số tổ hợp lai có năng suất đạt 9 tấn/ha, khả năng
chống chịu bệnh gỉ sắt khá (điểm 1, 2) có khả năng phát triển trong sản xuất [5].
Ở cây đậu tương, bệnh gỉ sắt cũng là bệnh rất phổ biến nên có nhiều nghiên
cứu về bệnh gỉ sắt [1], [24]. Nguyễn Thị Bình và cộng sự đã nghiên cứu tương đối
về bệnh gỉ sắt và đưa ra quy trình lây nhiễm nhân tạo bệnh gỉ sắt trên cây đậu tương
[1]. Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tham khảo phương pháp này để
ứng dụng cho nghiên cứu bệnh gỉ sắt trên cây ngô. Đây là công trình nghiên cứu
chọn tạo giống ngô năng suất cao, chống chịu bệnh gỉ sắt đầu tiên ở Việt Nam.
46
CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Vật liệu là các dòng ngô thuần được tạo ra từ các giống ngô lai thương
mại NK67, NK66, C919, CP888, CP999, P4097, DeKalbgold, Pacific 747,
LVN10 và LVN4.
Bảng 2.1. Danh sách các dòng ngô nghiên cứu
TT
TT
Tên dòng
Đời tự thụ
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13
Tên dòng B67a B67b B67c M67a M67b G1 G2 G3 G16 G17 G18 G19 G20
Vật liệu rút dòng NK67 NK67 NK67 NK67 NK67 NK66 NK66 NK66 CP888 CP888 CP888 CP888 CP888
Đời tự thụ S8 S8 S8 S8 S8 S8 S8 S8 S11 S11 S11 S11 S11
Vật liệu rút dòng C919 C919 Dekalbgold Dekalbgold Dekalbgold Dekalbgold P4097 P4097 P4097 P4097 P4097 Pacific747 Pacific747
G46 G47 G286 G287 G288 G289 G1234 G1235 G1236 G1237 G1238 C2N C3N
21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33
14
S11
34
G31
CP888
C4N
LVN4
S11 S11 S12 S12 S12 S12 S8 S8 S8 S8 S8 S8 S8 Nuôi cấy bao phấn
15
G40
C919
S11
C10N
S8
35
16 17 18 19 20
G41 G42 G43 G44 G45
C919 C919 C919 C919 C919
S11 S11 S11 S11 S11
C89N C90N C88N T5(đ/c) DF2(đ/c)
Dekabgold 528 CP999 CP999 CP999 Cargill777 LVN10
S12 S12 S12 S12 S12
36 37 38 39 40
Các tổ hợp lai đỉnh, tổ hợp lai luân giao; Các giống sử dụng làm đối chứng
trong thí nghiệm chọn lọc tổ hợp lai là NK67, C919, trong khảo nghiệm quốc gia là
C919, DK9901, CP888. LVN4, LVN99.
Bộ mồi SSR được sử dụng trong các thí nghiệm đánh giá độ thuần di truyền,
47
đa dạng di truyền được chọn lọc từ 29 cặp mồi của hãng Invitrogen được công bố
tại website http://www.maizegdb.org/ssr.php [142]
Bảng 2.2. Danh sách 29 mồi SSR
Vị trí gắn mồi trên
TT
Primer
Kiểu lặp lại
Phạm vi kích Thước các alen (bp)
Chiều dài mồi (nt)
NST
7,01
1 phi 057
(GCC)n
159-165
21
7,01
2 umc1066
(GCCAGA)5
127-135
22
6,08
3 phi 299852
AGC
111-147
19
3,07
4 umc1399
(CTAG)5
111-127
25
10,04
5 phi 062
ACG
159-165
21
2,04
6 phi 083
AGCT
125-137
24
4,08
7 phi 093
AGCT
274-294
26
10,02
8 phi 96342
ATCC
234-250
22
3,1
9 umc1136
GCA
132-159
23
10,04
10 phi 084
GAA
150-156
24
10,07
11 umc1196
CACACG
137-161
24
3,04
12 phi 029
AG/AGCG***
148-162
28
3,04-3,05
13 phi 102228
AAGC
132-159
23
3,05
14 phi 053
ATAC
169-195
25
1,12
15 phi 227562
ACC
307-328
21
2,09
16 phi 101049
AGAT
230-274
19
4,01
17 phi 213984
ACC
286-304
22
3,02
18 phi 374118
ACC
216-230
19
6,01
19 phi 423796
AGATG
121-141
22
9,00
20 umc1279
(CCT)6
92-101
20
5,09
21 umc1153
(TCA)4
105-114
23
4,10
22 umc1109
ACG
104-116
24
1,10
23 phi 308707
AGC
116-134
19
9,05
24 phi 448880
AAG
173-188
20
5,06
25 Phi0 87
ACC
150-177
24
5,00
26 phi 109188
AAAG
148-174
18
8,02
27 umc1304
(TCGA)4
129-137
24
8,09
28 phi 233376
CCG
138-155
18
9,03
29 phi 065
CACTT
131-151
24
48
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1- Điều tra tác hại của bệnh gỉ sắt trên ngô ở Tây Nguyên;
2- Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu của tập đoàn dòng
chống chịu bệnh gỉ sắt;
3- Đánh giá đa dạng di truyền, độ thuần di truyền và khả năng kết hợp của
tập đoàn dòng chống chịu bệnh gỉ sắt;
4- Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, ưu thế lai của các
tổ hợp lai đỉnh, lai luân phiên và chọn lọc các tổ hợp lai triển vọng;
5- Khảo nghiệm các giống ngô lai chống chịu bệnh gỉ sắt ở Tây Nguyên và
các vùng sinh thái.
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp phỏng vấn
2.3.1 Phương pháp điều tra tình hình sản xuất và bệnh hại trên ngô
Lập phiếu điều tra tình hình sản xuất và bệnh hại ngô ở Tây Nguyên.
Địa điểm: Tại các huyện trồng ngô chính ở 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông
gồm: Cư M’gar, Krông Păk, Ea Kar, Krông Bông, TP Buôn Ma Thuột, Cư Jút và
Đắk Mil.
Số hộ điều tra: 30 hộ/huyện (diện tích trồng ngô ≥ 1000m2).
Nội dung phỏng vấn (theo phiếu điều tra phỏng vấn nông hộ - phụ lục 2):
+ Tình hình sản xuất, năng suất và sản lượng ngô năm trước;
+ Tình hình bệnh hại trên cây ngô;
+ Khả năng chống chịu của các giống ngô;
+ Các biện pháp phòng trừ và hiệu quả.
Phương pháp điều tra ngoài đồng ruộng
Áp dụng phương pháp nghiên cứu, điều tra và phát hiện bệnh hại theo
“Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật” của Viện Bảo vệ thực vật, 2003 [25].
Tiến hành điều tra bệnh hại ngoài đồng ruộng vùng chuyên canh ngô thuộc địa
điểm nghiên cứu. Điều tra theo phương pháp 5 điểm trên đường chéo góc, mỗi điểm
100 cây đối với ruộng có diện tích lớn từ 1000m2 trở lên. Điều tra 100% số cây đối
49
với ruộng có diện tích dưới 1000m2. Nếu cây có biểu hiện triệu chứng bệnh sau 10
đến 20 ngày kể từ ngày xuất hiện những biểu hiện đầu tiên được coi là nhiễm bệnh.
Chỉ tiêu theo dõi:
- Thành phần bệnh
- Mức độ phổ biến
+: tỷ lệ bệnh < 5% +++: tỷ lệ bệnh từ 25% - 50%
++: tỷ lệ bệnh từ 5% - 25% ++++: tỷ lệ bệnh từ > 50%
Số cây có triệu chứng nhiễm bệnh Tỷ lệ bệnh (%) = x 100 Tổng số cây điều tra - Đánh giá thiệt hại về năng suất: Tiến hành so sánh năng suất một số giống
ngô trồng phổ biến tại địa điểm nghiên cứu được trồng trên ruộng được và
không được bảo vệ bằng thuốc trừ nấm.
2.3.2 Phương pháp lây nhiễm bệnh nhân tạo
Áp dụng phương pháp lây nhiễm nhân tạo của Meena Shekhar, Sangit
Kumar [87] và Nguyễn Thị Bình (1990) [1].
Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
(RCBD), mỗi dòng nghiên cứu 10 cây, 3 lần nhắc lại trong khu cách biệt để đánh
giá khả năng kháng bệnh. Gồm 2 lô: Lô đối chứng (không lây nhiễm) và lô thí
nghiệm (lây nhiễm).
Kỹ thuật lây nhiễm:
Chuẩn bị nguồn bệnh: Lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt nặng, còn nguyên vẹn
được thu hái tại ruộng ngô bị bệnh gỉ sắt nặng, điển hình tại ở vùng nghiên cứu để
vào túi nilon trong tối ở điều kiện nhiệt độ thích hợp nhất 20 - 250C từ 12 giờ đến
24 giờ cho bào tử nảy mầm với những bào tử mới rất đồng đều.
Khi lây nhiễm, rửa bào tử trực tiếp trên lá với nước cất vô trùng có bổ sung
0,02% Tween 20, lọc qua 1 lần vải để loại bỏ cặn bẩn, xác định mật độ bào tử trong
dịch vẩn bằng buồng đếm Goriaev dưới kính hiển vi và điều chỉnh bằng phương
50
pháp pha loãng. Dịch vẩn bào tử với mật độ 60.000 bào tử/ml được đưa đều lên hai
mặt lá bằng bình phun với lượng phun 0,5 ml/dm2 lá.
Trình tự nhiễm bệnh được tiến hành như sau:
- Các dòng nghiên cứu được gieo trồng trong chậu ở điều kiện vườn ươm,
khi cây được 6 -8 lá, chuyển sang nhà lưới bắt đầu gây nhiễm bệnh và được lặp lại
sau 2 tuần lây nhiễm. Cách ly chậu đối chứng với chậu thí nghiệm.
- Độ ẩm bão hoà được tạo ra trong thời gian 24 giờ bằng cách chụp túi
nylon lên cây. Trước đó, cây được tưới đẫm nước, đồng thời mặt trong của túi cũng
được phun nước. Sau khi lây nhiễm cây được giữ ở chỗ mát, không có ánh sáng trực
tiếp. Sau đó, các cây được để trong điều kiện phát triển bình thường và tưới nước
thường xuyên để tạo độ ẩm cao.
Đánh giá mức độ nhiễm bệnh của các dòng ngô
Thời kỳ ủ bệnh: Được tính khi cây ngô được lây nhiễm bệnh nhân tạo đến
khi trên một cây bất kỳ của dòng ngô nghiên cứu xuất hiện triệu chứng bệnh (ngày).
Mức độ nhiễm bệnh của các dòng nghiên cứu:
Đánh giá mức độ nhiễm bệnh của các dòng nghiên cứu theo thang điểm
(Bảng 2.3).
Bảng 2.3. Mức độ nhiễm bệnh của các dòng nghiên cứu
Cấp bệnh
Mức độ hại (%)
Đánh giá
Cấp 1
1 – 10
Chống chịu tốt
Cấp 2
>10 - 25
Chống chịu
Cấp 3
>25 - 50
Nhiễm
Cấp 4
>50 - 75
Nhiễm vừa
Cấp 5
> 75
Nhiễm nặng
Từ cấp bệnh, chỉ số tích lũy bệnh theo thời gian AUDPC (Area Under
Disease Progress Curve) được tính theo công thức sau:
51
Trong đó:
Ri: Chỉ số bệnh của cây của lần đánh giá thứ i
Ri+1: Chỉ số bệnh của cây của lần đánh giá thứ i+1
j: Tổng số lần đánh giá
k: Tổng số lá của cây được đánh giá
Ti: Khoảng thời gian giữa lần đánh giá thứ i và i +1
n : Tổng số cây trong một dòng (giống) đánh giá
Màu sắc bệnh:
Ổ bệnh có màu vàng hoặc nâu nhạt: Đặc trưng cho dòng chống chịu.
Ổ bệnh có màu nâu vàng hoặc nâu đậm: Đặc trưng cho dòng nhiễm.
Trên lá có cả hai loại vết bệnh trên: Dòng có phản ứng trung gian.
Mức độ hình thành bào tử được đánh giá theo thang điểm (Bảng 2.4).
Bảng 2.4. Mức độ hình thành bào tử
Điểm
% vết bệnh có hình thành bào tử /cm2
Mức độ
1
0
Không
2
1-25
Ít
3
>25-50
Trung bình
4
>50 -75
Nhiều
5
>75
Rất nhiều
Khả năng chống chịu bệnh được xác định thông qua các chỉ tiêu trên, chỉ số
AUDPC của dòng chống chịu và giống nhiễm bệnh dùng làm đối chứng so với các
dòng cần phân tích, đồng thời kết hợp với các phân tích về phản ứng bệnh.
Đối chứng chống chịu: Dòng T5; Đối chứng nhiễm: Dòng DF2.
2.3.3 Phương pháp đánh giá dòng, tổ hợp lai đỉnh, lai luân phiên
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, năng suất của các
dòng, các tổ hợp lai và thu thập số liệu theo hướng dẫn của CIMMYT (1985) [43].
- Đánh giá tổ hợp lai đỉnh, lai luân phiên
Những cặp lai thu được qua lai đỉnh, lai luân phiên được so sánh theo
phương pháp thí nghiệm đồng ruộng và số liệu được xử lý thống kê theo phương
pháp phân tích phương sai.
52
Mẫu hình toán học chung của các cặp lai đỉnh:
Xik = μ + gi + gj + sij + eijk
Trong đó: Xịk - Độ lớn tính trạng con lai (i×j) ở lần nhắc thứ k.
- Khả năng kết hợp chung của dòng i.
μ - Tính trạng trung bình trong thí nghiệm.
- Khả năng kết hợp chung của dòng j.
gi
gj
sij - Tương tác giữa dòng i và cây thử j.
eijk - Sai số ngẫu nhiên.
Đánh giá tổ hợp lai luân phiên theo mô hình Griffing 4 (1956). Mô hình toán
𝑏 𝑘=1 ijk ∑ e
học chung:
Xịk = μ + gi + gj + sij + rij +1 𝑏
Trong đó: Xịk - Độ lớn tính trạng con lai (i×j) ở lần nhắc thứ k.
- Tác động của khả năng kết hợp chung của các dòng i và
μ - Tác động trung bình của thí nghiệm.
gi và gj
dòng j.
sij - Tác động của khả năng kết hợp riêng giữa 2 dòng i và dòng j.
rij - Tác động tương hỗ giữa 2 dòng đó.
eijk - Sai số ngẫu nhiên.
Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm cho công tác lai tạo: Mỗi dòng nghiên cứu gieo 5 - 7 hàng, mỗi
hàng dài 5 m để đảm bảo đạt từ 100 - 140 cây phục vụ cho lai đỉnh, lai luân phiên.
- Thí nghiệm khảo sát dòng, tổ hợp lai được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn
chỉnh (RCBD), 3 lần nhắc lại, 4 hàng/ô, hàng dài 5 m, khoảng cách gieo 70cm ×25 -
28cm/hốc, 1 cây 1 hốc.
Chăm sóc thí nghiệm: Các thí nghiệm đánh giá dòng, tổ hợp lai được
chăm sóc theo quy trình của Viện Nghiên cứu Ngô
- Phân bón cho 1 ha: 2.500kg phân vi sinh +140kg N + 80kg P2O5+60kg K2O
- Cách bón: Bón lót: Toàn bộ phân vi sinh và phân lân
Bón thúc: chia làm 2 lần
53
Lần 1: Khi ngô được 3-4 lá, bón ½ lượng phân đạm + ½ lượng phân kali, kết
hợp xới phá váng, làm cỏ, tỉa định cây trước khi bón
Lần 2: Khi ngô được 7-9 lá, làm cỏ, bón lượng phân còn lại, kết hợp vun đất.
- Tưới tiêu nước chủ động, đảm bảo độ ẩm đất từ 70-80%.
- Thăm ruộng thường xuyên để có biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại kịp thời.
Các chỉ tiêu theo dõi
- Thời gian sinh trưởng: Theo dõi số ngày từ gieo đến mọc, trỗ cờ, tung
phấn, phun râu (khi có > 75% số cây trỗ cờ, tung phấn, phun râu), ngày chín sinh lý
(khi 100% số bắp có điểm đen ở chân hạt).
- Hình thái cây: Mỗi công thức đo đếm 10 cây.
+ Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến đốt phân nhánh cờ đầu tiên;
+ Chiều cao đóng bắp (cm): Đo từ mặt đất đến đốt đóng bắp trên cùng;
+ Số lá: Tất cả các lá từ lá mầm đến lá dưới bông cờ;
+ Độ phủ lá bi: Thang điểm từ 1 (lá bi phủ kín bắp) - 5 (bị hở đầu bắp);
- Các yếu tố cấu thành năng suất: Mỗi công thức đo đếm 10 bắp.
+ Chiều dài bắp (cm): Đo ở phần bắp có hạt dài nhất;
+ Đường kính bắp (cm): Đo ở phần giữa bắp;
+ Số hàng hạt/bắp: Hàng hạt được tính khi có 50% số hạt so với hàng dài nhất;
+ Số hạt/hàng: Được đếm theo hàng có chiều dài trung bình;
+ Khối lượng 1000 hạt (g) (P1000 hạt);
+Tỷ lệ hạt trên bắp (%);
+ Độ ẩm hạt (%) (A0);
- Khả năng chống chịu theo tiêu chuẩn ngành 10TCN 982-2006 do Bộ Nông
nghiệp và PTNT ban hành. Đánh giá khả năng chịu bệnh hại theo thang điểm từ 1
đến 5 (điểm 1: tốt nhất; điểm 5: kém nhất).
+ Bệnh gỉ sắt;
+ Bệnh khô vằn;
+ Bệnh đốm lá;
+ Sâu đục thân, sâu cắn lá;
54
+ Đổ gốc: % số cây nghiêng từ 300 trở lên (so với phương thẳng đứng).
- Đánh giá năng suất
+ Năng suất thực thu (NSTT) (ta/ha) (qui ra năng suất hạt ở độ ẩm 14%)
P.ô x tỉ lệ hạt tươi/bắp tươi x (100-A0) NSTT (tạ/ha) = x 100 86 x S.ô
Trong đó: P.ô là khối lượng bắp tươi/ô (kg)
A0 là độ ẩm hạt khi thu hoạch
S.ô là diện tích ô thí nghiệm (m2)
- Đánh giá ưu thế lai [15]
+ Ưu thế lai trung bình (HMP): Giá trị một tính trạng nào đó của con
lai (F1) so với giá trị trung bình của bố mẹ (MP).
+ Ưu thế lai chuẩn (HS): Giá trị một tính trạng nào đó của con lai (F1)
so với giá trị giống thương mại đại trà (S).
2.3.4 Phương pháp đánh giá đa dạng di truyền bằng chỉ thị phân tử SSR
Phương pháp tách chiết và tinh chế ADN tổng số
Mỗi dòng lấy 5-7 cây đại diện, mỗi cây lấy 1 lá ở giai đoạn 3 tuần tuổi. ADN
tổng số được tách chiết từ lá theo phương pháp CTAB của Saghai-Maroof và cộng
sự, (1994) [107]. Quy trình như sau:
Bước 1: Nghiền mẫu lá tươi trong nitơ lỏng thành dạng bột mịn, cho vào mỗi
ống eppendorf khoảng 0,3 g bột lá.
Bước 2: Bổ sung 1 ml đệm CTAB, ủ mẫu ở 65oC trong thời gian 50-60 phút
(trong quá trình ủ đảo đều mẫu 3-4 lần).
Bước 3: Bổ sung 1 ml hỗn hợp Chloroform : isoamyl alcohol (24:1), đảo đều,
ly tâm 13000 vòng/phút trong 10 phút.
55
Bước 4: Chuyển dịch trong ở pha trên sang ống eppendorf mới và thêm một
thể tích tương ứng isopropanol, có bổ sung 100μl sodium acetate 3M, đảo đều, giữ
qua đêm ở nhiệt độ -200C.
Bước 5: Ly tâm 13000 vòng/phút trong 15 phút để thu tủa ADN.
Bước 6: Rửa tủa ADN bằng ethanol 70%, lặp lại bước này 2 lần và để khô tự nhiên.
Bước 7: Hòa tan tủa bằng 100μl dung dịch đệm TE.
Bước 8: Loại ARN bằng cách bổ sung 2μl Rnase (10mg/ml) và ủ ở 37oC
trong 1 giờ. Sau đó hỗn hợp lại được tiến hành lặp lại các bước 3, 4, 5, 6 và 7 như
đã mô tả ở trên.
Các mẫu ADN tổng số sẽ được kiểm tra độ tinh sạch và nồng độ bằng máy
đo quang phổ ở bước sóng λ = 260nm và λ = 280nm, khi tỷ lệ OD260/OD280 trong
khoảng 1,8-2,0 là phù hợp với yêu cầu về độ tinh sạch của ADN tổng số. Ngoài ra,
kiểm tra sản phẩm tách chiết ADN tổng số bằng điện di trên gel agarose 1%.
Phương pháp PCR, chạy điện di và nhuộm mẫu
Mỗi phản ứng PCR bao gồm các thành phần với hàm lượng cụ thể được trình
bày ở Bảng 2.5.
Bảng 2.5. Thành phần của một phản ứng PCR
STT
Thành phần
Nồng độ phản ứng
Thể tích (µl)
Nước cất hai lần khử ion
1
-
5,60
Đệm PCR 10x
2
1x
1,0
2,0 mM
0,8
3 MgCl2 25 mM
dNTPs 10 mM
4
0,25 mM
1,0
5
Taq DNA polymerase 5U/µl
0,5 U
0,1
6 Mồi xuôi 5 µM
0,25 µM
0,25
7 Mồi ngược 5 µM
0,25 µM
0,25
8
DNA 10 ng/µl
10 ng
1,0
10,0
Tổng thể tích của một phản ứng
Phản ứng PCR được thực hiện trên máy PCR PTC-100TM theo chu trình
được trình bày ở Bảng 2.6.
56
Bảng 2.6. Chu trình nhiệt của phản ứng PCR
Các bước
Nhiệt độ (oC)
Chu trình nhiệt, thời gian
Biến tính ban đầu
1
94oC trong 2 phút
Biến tính
2
94oC trong 30 giây
Gắn mồi
3
56oC trong 1 phút
Kéo dài chuỗi
4
72oC trong 1 phút
Lặp lại chu kỳ
5
Trở về bước 2, 29 lần
6
Kéo dài chuỗi cuối cùng
72oC trong 5 phút
7
Bảo quản
4oC, ∞
Sản phẩm SSR-PCR sau khi biến tính được điện di trên gel polyacrylamide
4,5% với công suất 60W, nhiệt độ trên gel khoảng 50-55oC trong thời gian 55-60
phút. Sau đó sản phẩm điện di sẽ được biểu hiện bằng phương pháp nhuộm bạc
(được tiến hành trên máy lắc ngang với tốc độ 120 lần/phút).
Thành phần bản gel polyacrylamide 4,5% (có kích thước 30cm x 38cm)
được chuẩn bị như sau:
+ Dung dịch acrylamide 4,5%: 60 ml
+ Dung dịch APS 10%: 600 µl
60 µl + Dung dịch TEMED:
Phương pháp cho điểm, thống kê và đánh giá
Kết quả điện di các sản phẩm PCR được thống kê dựa vào sự xuất hiện hay
không xuất hiện của các băng ADN.
Các số liệu thống kê và xử lý theo hướng dẫn của AMBIONET-CIMMYT
(2004) [29]. Dựa vào thang chuẩn (ΦX174/HinfI), số liệu được cho điểm theo quy
ước: Các alen có xuất hiện băng ADN (1); Các alen không xuất hiện băng ADN (0)
và khuyết số liệu (9). Số liệu được nhập và xử lí bằng chương trình Excel 5.0.
+ Hệ số PIC (Polymorphism Information Content) - chỉ số thông tin đa hình
của mồi được tính theo công thức của Nei (1973) [93], [115]:
PIC = 1 - ∑ Pi2 (Pi: tần số xuất hiện của alen thứ i).
57
+ Tỷ lệ dị hợp tử (H%) của mỗi dòng:
Số mồi có xuất hiện 2 alen/1 locus SSR H (%) = X 100 Tổng số mồi sử dụng - Số mồi khuyết số liệu
+ Tỷ lệ khuyết số liệu được tính cho mỗi dòng ngô (M% dòng)
Số mồi khuyết số liệu M (%) = x 100 Tổng số mồi nghiên cứu
+ Khoảng cách di truyền (GD - genetic distance) được tính theo công thức:
GD = 1 - GS
Trong đó, GS (genetic similarity) là hệ số tương đồng di truyền Jaccard.
2.3.5 Phương pháp khảo nghiệm
Áp dụng quy phạm khảo nghiệm giống ngô 10 TCN - 341 - 2006 của Bộ
Nông Nghiệp và PTNT.
2.3.6 Các phương pháp phân tích và sử lý số liệu
Thu thập, xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học. Kết quả thí
nghiệm xử lý bằng chương trình excel 5.0 và phần mềm trình MSTATC 2.0.
Chỉ số AUDPC được sử dụng để phân tích thống kê theo chương trình SAS 9.1.
Phân tích khả năng kết hợp về năng suất qua mô hình lai đỉnh, lai luân phiên
Griffing 4 được xử lý bằng chương trình Diallel version 2.0 của Nguyễn Đình Hiền.
Lập sơ đồ hình cây: bằng phần mềm chuyên dụng NTSYS pc version 2.1
[72]. Phân tích và đánh giá hệ số tương đồng di truyền theo phương pháp phân
nhóm UPGMA.
2.4 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Năm 2009: + Điều tra tác hại bệnh gỉ sắt trên cây ngô tại Tây Nguyên.
+ Tuyển chọn tập đoàn dòng năng suất cao, có khả năng chống
chịu bệnh gỉ sắt tại Tây Nguyên và Đan Phượng - Hà Nội.
+ Đánh giá đa dạng di truyền của tập đoàn dòng năng suất cao, có
khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt tại Viện Nghiên cứu Ngô - Hà Nội.
- Năm 2010: + Đánh giá các tổ hợp lai đỉnh, lai luân phiên tại Tây Nguyên.
+ Thực hiện khảo sát tổ hợp lai tại Tây Nguyên.
58
- Năm 2011: + Thực hiện khảo sát tổ hợp lai tại Tây Nguyên.
+ Khảo nghiệm cơ sở một số tổ hợp lai triển vọng tại Tây
Nguyên và Đan Phượng - Hà Nội.
- Năm 2011 - 2014: Khảo nghiệm một số tổ hợp lai triển vọng trong hệ thống
khảo nghiệm quốc gia ở phía Bắc, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
59
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 TÁC HẠI CỦA BỆNH GỈ SẮT TRÊN NGÔ Ở TÂY NGUYÊN
3.1.1 Tình hình các bệnh hại ngô ở Tây Nguyên
Để đánh giá sự phổ biến các bệnh hại ngô ngoài đồng ruộng, tiến hành điều
tra ở 2 vụ Hè Thu và Thu Đông năm 2009 tại Tây Nguyên.
Tây nguyên có diện tích đất tự nhiên khoảng 5.556.800 ha chiếm 16,7% diện
tích tự nhiên cả nước trong đó đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so
với mặt biển chiếm diện tích khoảng 1 triệu ha, đất đỏ vàng diện tích khoảng 1,8
triệu ha. Ngoài ra còn có đất xám phân bố trên các sườn đồi thoải phía Tây Nam và
trong các thung lũng, đất phù sa ven sông [14]. Những loại đất đều này rất thích hợp
để trồng ngô. Diện tích gieo trồng hàng năm duy trì trên 200 nghìn ha đứng thứ 2
trong cả nước [20].
Ngày nay, nhu cầu sử dụng ngô ngày càng tăng trong khi đó tình hình bệnh hại
trên ngô và điều kiện thời tiết diễn biến ngày một phức tạp hơn. Trong quá trình điều
tra mức độ phổ biến của các bệnh hại ngô ở 2 vụ Hè Thu và Thu Đông năm 2009 ở
Tây Nguyên cho thấy, các bệnh hại ngô nói chung đều phát sinh, phát triển mạnh
trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, trời ấm áp, mưa ẩm nhiều nên ở Tây Nguyên,
tỷ lệ bệnh ở vụ Thu Đông thường cao hơn vụ Hè Thu (Bảng 3.1), (phụ lục 13).
Bảng 3.1. Thành phần bệnh hại và mức độ phổ biến trên ngô ở Tây Nguyên
TT
Tên bệnh
Tên khoa học
Mức độ phổ biến Vụ Hè Thu Vụ Thu Đông
1 2 3 4
Gỉ sắt Khô vằn Đốm lá lớn Đốm lá nhỏ
++ ++ ++ ++
++++ +++ ++ +++
5
Thối thân
+
+
Puccinia sp. Rhizoctonia solani Bipolaris turcica Bipolaris maydis Erwinia carotovora Fusarium moniliforme, Maccrophomima phaseoli, Botryodiplodia theobrroma
Vụ Hè Thu và Thu Đông năm 2009 Ghi chú: +: tỷ lệ bệnh < 5% ++: tỷ lệ bệnh từ 5% - 25% ++++: tỷ lệ bệnh từ > 50%
+++: tỷ lệ bệnh từ 25% - 50%
60
Hầu hết các bệnh như bệnh gỉ sắt, bệnh khô vằn, bệnh đốm lá lớn, bệnh đốm
lá nhỏ và bệnh thối thân gây hại phổ biến trên ngô. Mức độ phổ biến của bệnh gỉ sắt
ở mức khá cao khoảng 25% vào vụ Hè Thu, trên 50% đối với vụ Thu Đông. Các
bệnh còn lại bệnh khô vằn, bệnh đốm lá lớn, bệnh đốm lá nhỏ phổ biến trên ngô ở
mức trung bình từ 5% - 25% vào vụ Hè Thu, ở mức khá cao từ 25% - 50% đối với
vụ Thu Đông. Bệnh thối thân chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 5% cả hai vụ. Như vậy, trong các
bệnh hại trên ngô ở Tây Nguyên, bệnh gỉ sắt là nổi bật nhất (Bảng 3.1).
3.1.2 Tình hình bệnh gỉ sắt trên ngô ở Tây Nguyên
Kết quả điều tra bệnh gỉ sắt trên ngô được trình bày ở Bảng 3.2 và Bảng 3.3.
Bảng 3.2. Điều tra mức độ phổ biến của bệnh gỉ sắt (Puccina sp.)
trên ngô tại Tây Nguyên
TT
Huyện, tỉnh
Vụ Hè Thu
Vụ Thu Đông
1
Cư M’gar
++++
+++
2
Krông Păk
++++
+++
3
Ea Kar
++++
++
4
Krông Bông
++++
++
5
Buôn Ma Thuột
++++
++
6
Cư Jút
+++
++
7
Đắk Mil
+++
++
Vụ Hè Thu và Thu Đông năm 2009 Ghi chú: +: tỷ lệ bệnh < 5% ++: tỷ lệ bệnh từ 5% - 25% ++++: tỷ lệ bệnh từ > 50%
+++: tỷ lệ bệnh từ 25% - 50%
Bệnh gỉ sắt bắt đầu xuất hiện sớm ở giai đoạn 4 - 5 lá và tăng nhanh ở giai
đoạn cây trưởng thành, nhất là sau khi trổ cờ, tung phấn 5 - 10 ngày. Bệnh phát sinh
trước hết ở lá già, lá bánh tẻ rồi lan dần lên các lá phía trên ngọn, có thể lây bệnh
vào lá bi (phu lục 1).
Kết quả điều tra bệnh gỉ sắt trên ngô tại các vùng trồng ngô chính ở Tây
Nguyên cho thấy, bệnh xuất hiện phổ biến ở vụ Thu Đông cao hơn vụ Hè Thu.
61
Vụ Hè Thu, hai huyện Cư M’gar và Krông Păk có tỷ lệ bệnh gỉ sắt ở mức
khá cao khoảng 25-50%, các huyện còn lại huyện Ea Kar, Krông Bông, Cư Jút, Đắk
Mil và Thành phố Buôn Ma Thuột có tỷ lệ bệnh gỉ sắt trung bình từ 5-25%.
Vụ Thu Đông, tỷ lệ bệnh gỉ sắt cao hơn hẳn. Hầu hết các huyện đều có tỷ lệ bệnh
gỉ sắt cao trên 50%, hai huyện Cư Jút, Đắk Mil có tỷ lệ bệnh gỉ sắt khá từ 25-50%.
Ở vụ Thu Đông tỷ lệ các bệnh hại trên ngô nói chung và bệnh gi sắt nói
riêng, tỷ lệ bệnh cao hơn vụ Hè Thu nguyên nhân là do điều kiện thời tiết thuận lợi
cho bệnh hại phát triển. Vụ Thu Đông, nhiệt độ vừa phải (23,70C), ẩm độ trung bình
88,78% và mưa nhiều (lượng mưa 2217,75mm) (phụ lục 13).
Trên cây ngô bị bệnh gỉ sắt, bắp nhỏ, thường có đuôi chuột dài nên năng suất
hạt ngô giảm. Kết quả điều tra thiệt hại về năng suất của bộ giống ngô bao gồm 5
giống trồng phổ biến ở Tây nguyên vụ Hè Thu và Thu Đông 2009 được thể hiện
qua Bảng 3.3.
Năng suất ngô bị bệnh gỉ sắt giảm hẳn so với ngô được bảo vệ bằng thuốc diệt
nấm không nhiễm bệnh gỉ sắt. Tùy vào từng giống ngô và từng mùa vụ, mức độ thiệt
hại về năng suất là khác nhau. Vụ Thu Đông năng suất giảm mạnh hơn so với vụ Hè
Thu cả những cây không bị bệnh và cây bị bệnh. Nguyên nhân là do điều kiện thời tiết
vụ Thu Đông 2009 thuận lợi cho bệnh gỉ sắt phát triển hơn so với vụ Hè Thu. Ngoài ra,
vào tháng 11, tháng 12 năm 2009, lượng mưa giảm (phụ lục 13) gây hạn cục bộ vào
cuối vụ. Các giống ngô trồng ở nơi đây là các giống trung ngày và dài ngày do vậy ảnh
hưởng đến năng suất và chất lượng ngô hạt.
Giống DK9901 không thấy biểu hiện triệu chứng bệnh gỉ sắt cả ở ruộng không
được bảo vệ và được bảo vệ bằng thuốc diệt nấm, nên không có sự thất thoát về mặt
năng suất do bệnh gỉ sắt. Các giống còn lại NK67, CP888, C919, LVN10 có biểu hiện
triệu chứng bệnh gỉ sắt ở các mức độ khác nhau nên có sự khác biệt về năng suất giữa
ruộng ngô không nhiễm bệnh và nhiễm bệnh gỉ sắt của các giống là khác nhau.
62
Bảng 3.3. Điều tra tác hại của bệnh gỉ sắt (Puccina sp.) đến năng suất ngô
ở Tây Nguyên (tạ/ha)
Vụ Hè Thu
Vụ Thu Đông
Năng suất (tạ/ha)
Năng suất (tạ/ha)
TT
Giống ngô
Huyện, tỉnh
Thiệt hại (%)
Thiệt hại (%)
Ruộng được bảo vệ
Ruộng được bảo vệ
Ruộng nhiễm bệnh gỉ sắt
Ruộng nhiễm bệnh gỉ sắt
Cư M’gar
Krông Păk
Ea Kar
Krông Bông
Buôn Ma Thuột
Cư Jút
Đắk Mil
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35
NK67 CP888 C919 LVN10 DK9901 NK67 CP888 C919 LVN10 DK9901 NK67 CP888 C919 LVN10 DK9901 NK67 CP888 C919 LVN10 DK9901 NK67 CP888 C919 LVN10 DK9901 NK67 CP888 C919 LVN10 DK9901 NK67 CP888 C919 LVN10 DK9901
68,74 60,08 61,55 54,68 - 66,26 62,51 62,31 52,56 - 64,23 59,21 61,63 51,52 - 68,33 62,53 57,58 50,8 - 74,76 62,28 63,21 51,38 - 69,80 64,38 70,35 52,52 - 72,92 64,63 73,27 55,05 -
77,91 74,92 69,61 65,35 73,95 75,63 71,89 71,09 61,21 78,74 72,78 73,9 71,19 62,05 75,90 76,73 74,69 69,78 62,49 73,85 83,88 74,61 72,66 61,00 84,73 78,81 77,99 81,19 62,30 83,87 82,51 77,59 82,88 63,67 83,19
75,15 71,62 64,22 58,1 72,55 72,15 69,19 63,49 58,24 77,29 74,99 71,39 66,48 57,45 75,31 71,8 70,09 66,89 57,66 70,08 77,47 70,13 68,28 57,62 79,21 76,42 74,32 78,54 56,1 81,41 80,32 71,81 79,48 59,17 79,91
59,98 44,49 50,51 39,23 - 57,56 44,56 46,05 40,29 - 59,74 43,93 52,21 39,71 - 56,5 42,63 52,86 40,22 - 61,93 44,99 52,34 40,25 - 60,64 50,24 60,71 40,32 - 63,74 48,55 60,98 40,74 -
4,09
7,53
Trung bình CV% LSD0,05
11,77 19,80 11,58 16,32 - 12,39 13,04 12,35 14,13 - 11,75 19,88 13,44 16,97 - 10,94 16,28 17,47 18,70 - 10,87 16,53 13,01 15,77 - 11,43 17,45 13,35 15,69 - 11,62 16,71 11,60 13,53 - 14,44
20,19 37,88 21,34 32,49 - 20,22 35,59 27,46 30,83 - 20,34 38,46 21,47 30,88 - 21,31 39,19 20,98 30,24 - 20,06 35,84 23,35 30,14 - 20,06 32,40 22,70 28,12 - 20,65 32,38 23,28 31,15 - 27,46
3,245
5,378
Vụ Hè Thu và Thu Đông năm 2009
63
Giống NK67, CP888, C919 là giống ngô thuộc nhóm chín trung bình sớm
còn giống LVN10 là giống thuộc nhóm chín muộn. Giống CP888 năng suất giảm
mạnh nhất từ 13,04 - 19,88% vụ Hè Thu, từ 32,40 - 39,19% vụ Thu Đông. Tiếp
theo là giống LVN10, năng suất giảm từ 13,53 - 18,70 % vụ Hè Thu, từ 28,12 -
32,49% vụ Thu Đông. Các giống còn lại năng suất của ruộng ngô bị bệnh gỉ sắt
cũng giảm rõ rệt. Giống C919, năng suất giảm khoảng 11,58 - 17,47% vụ Hè Thu,
từ 20,98 - 27,46% vụ Thu Đông, giống NK67, năng suất của ruộng nhiễm bệnh gỉ
sắt giảm từ 10,87 - 12,39% vụ Hè Thu, từ 20,06 - 21,31% vụ Thu Đông. Trung bình
thất thoát về năng suất do bệnh gỉ sắt gây ra từ 14,14% vụ Hè Thu; 27,46% vụ Thu
Đông, trong đó giống CP888 thất thoát về năng suất do bệnh gỉ sắt gây ra là lớn
nhất (19,88% vụ Hè Thu; 39,19% vụ Thu Đông).
Như vậy, bệnh gỉ sắt ảnh hưởng lớn đến năng suất ngô, người dân đã quan
tâm và xem bệnh gỉ sắt là một trong những bệnh gây hại nghiêm trọng trên cây ngô.
Biện pháp phòng trừ bệnh chính là vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch và phơi đốt hết các
tàn dư cây bệnh. Một số ruộng ngô bị hại nặng thường sử dụng biện pháp hóa học.
Các thuốc hóa học thường được sử dụng như: Boocdo 1%, Funguran - OH 50 BHN,
Bayleton 25 EC, Anvil 5 SC... Các biện pháp này nhìn chung là có hiệu quả nhưng
tốn công và chi phí cao. Một trong những hướng được đề cập là nghiên cứu chọn
tạo giống ngô chịu bệnh gỉ sắt, bổ sung thêm vào cơ cấu giống góp phần ổn định
năng suất và sản lượng.
Tóm lại, yếu tố hạn và bệnh nhất là bệnh gỉ sắt là yếu tố chính làm giảm
năng suất ngô ở các tỉnh Tây Nguyên (thất thoát về năng suất do bệnh gỉ sắt gây ra
trung bình 14,44% vụ Hè Thu; 27,46% vụ Thu Đông). Do đó, rất cần một bộ giống
ngô năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn và có khả năng chống chịu bệnh gỉ
sắt để giảm sự thất thoát về mặt năng suất cho vùng Tây Nguyên.
3.2 ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC, KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA TẬP
ĐOÀN DÒNG CHỐNG CHỊU BỆNH GỈ SẮT
3.2.1 Kết quả tuyển chọn tập đoàn dòng chống chịu bệnh gỉ sắt cho vùng Tây
Nguyên
Trên cơ sở tập đoàn dòng của Viện Nghiên cứu Ngô, đã lựa chọn 40 dòng
được tạo bằng phương pháp truyền thống và nuôi cấy bao phấn để đánh giá tuyển
64
chọn các dòng có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt với mong muốn xây dựng tập
đoàn dòng có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt, năng suất cao bằng phương pháp lây
nhiễm nhân tạo và đánh giá ngoài đồng ruộng trong vụ Thu Đông năm 2009, kết
quả được thể hiện ở Bảng 3.4 và 3.5.
3.2.1.1 Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng ngô nghiên cứu bằng
phương pháp lây nhiễm nhân tạo
Hạt của các dòng nghiên cứu được gieo trồng tại các khu cách biệt trong nhà
lưới. Khi cây ngô được 6 - 8 lá, bắt đầu tiến hành lây nhiễm bệnh nhân tạo và được
lặp lại sau 2 tuần lây nhiễm (Hình 3.1). Bào tử nấm sau khi được phun đều trên bề
mặt lá, bắt đầu nẩy mầm và mọc lan trên bề mặt lá cho đến khi hình thành các dạng
u lồi. Các u này xuyên qua lớp cutin rồi đi vào trung tâm của các tế bào biểu mô
hình thành đốm vàng nâu (Hình 3.2). Sau 1 tháng lây nhiễm, các vết bệnh mới biểu
hiện rõ trên bề mặt lá. Phản ứng của cây đối với bệnh được theo dõi trong suốt quá
trình sinh trưởng và phát triển của cây, kết quả được trình bày ở Bảng 3.4.
A
B
Hình 3.1. Hình ảnh thí nghiệm nhiễm bệnh nhân tạo.
A: đối chứng, B: lây nhiễm nhân tạo Sự biểu hiện bệnh ở các dòng trong suốt thời gian sinh trưởng, phát triển
khá rõ rệt. Thí nghiệm sử dụng 2 dòng làm đối chứng chống chịu bệnh (T5) và đối
chứng nhiễm bệnh gỉ sắt (DF2).
65
Bảng 3.4. Phản ứng của các dòng ngô đối với bệnh gỉ sắt khi lây nhiễm nhân tạo
TT
Tên dòng
Bào tử
Cấp bệnh
Phản ứng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40
B67a B67b B67c M67a M67b G1 G2 G3 G16 G17 G18 G19 G20 G31 G40 G41 G42 G43 G44 G45 G46 G47 G286 G287 G288 G289 G1234 G1235 G1236 G1237 G1238 C2N C3N C4N C10N C89N C90N C88N T5(đ/c) DF2(đ/c)
Ít Nhiều Ít Ít Ít Nhiều Ít Ít Nhiều Trung bình Nhiều Nhiều Nhiều Trung bình Trung bình Trung bình Nhiều Ít Nhiều Ít Ít Ít Ít Nhiều Ít Ít Ít Ít Nhiều Ít Ít Trung bình Trung bình Ít Ít Trung bình Trung bình Trung bình Ít Nhiều
Chỉ số AUDPC 71,67jkl 154,26defg 64,81l 70,56kl 75,56ijkl 161,85defg 72,41jkl 76,11ijkl 186,57bcd 117,13ghij 196,76abcd 185,65bcde 198,80abcd 144,72efgh 116,94ghij 121,11fghi 226,76ab 69,07l 217,87ab 84,26ijkl 80,93ijkl 84,63ijkl 68,89l 208,80abc 69,26l 93,52ijkl 91,67 ijkl 77,22 ijkl 213,98abc 77,22ijkl 71,48jkl 161,94defg 155,09defg 79,44ijkl 68,33l 154,91defg 162,78def 172,59cde 68,55l 218,06a
Chống chịu Nhiễm Chống chịu Chống chịu Chống chịu Nhiễm Chống chịu Chống chịu Nhiễm Trung gian Nhiễm Nhiễm Nhiễm Trung gian Trung gian Trung gian Nhiễm Chống chịu Nhiễm Chống chịu Chống chịu Chống chịu Chống chịu Nhiễm Chống chịu Chống chịu Chống chịu Chống chịu Nhiễm Chống chịu Chống chịu Trung gian Trung gian Chống chịu Chống chịu Trung gian Trung gian Trung gian Chống chịu Nhiễm
2 3 2 2 2 3 1 2 3 2 3 3 3 2 2 2 3 2 3 1 1 1 1 3 1 2 1 1 3 1 1 2 2 1 1 2 2 2 1 3 Vụ Thu Đông năm 2009 tại Buôn Ma Thuột
Các dòng có cấp bệnh và chỉ số AUDPC càng thấp, càng có khả năng chống
chịu bệnh, phản ứng trung gian bao gồm sự hiện diện của cả phản ứng chống chịu và
nhiễm. Bên cạnh quá trình theo dõi mức độ nhiễm bệnh bằng phương pháp đánh giá
66
phần trăm vết bệnh trên diện tích lá qua cấp bệnh, chỉ số AUDPC, còn đánh giá thêm
các chỉ tiêu về phản ứng của dòng đối với bệnh, mức độ hình thành bào tử, thời gian
hình thành bào tử.
Nhóm trung gian bao gồm 9 dòng thí nghiệm là G17, G31, G40, G41, C2N, C3N,
C90N, C89N, C88N mang đặc điểm trung gian của hai loại vết bệnh nhiễm nhẹ và chống
chịu, bệnh cấp 2, chỉ số bệnh AUDPC từ 116,94 - 172,59 (Hình 3.2B, Hình 3.3B).
G287, G1236 và đối chứng DF2. Các dòng này có phản ứng nhiễm bệnh là các lá bệnh
Nhóm nhiễm bệnh gồm 10 dòng: B67b, G1, G16, G18, G19, G20, G42, G44,
thường có nhiều vết bệnh, trên mặt lá bào tử hình thành nhiều và nhanh, vết bệnh có
màu nâu vàng của gỉ sắt, xung quanh nốt bệnh thường có quầng vàng, bệnh cấp 3, chỉ
số bệnh AUDPC từ 154,26 - 226,76 (Hình 3.2C, Hình 3.3C).
Từ kết quả phản ứng của 40 dòng ngô đối với bệnh gỉ sắt khi lây nhiễm nhân
tạo cho thấy, có 28 dòng nghiên cứu trên có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt khá
tốt, mười dòng nghiên cứu bị nhiễm bệnh. Các dòng nghiên cứu này cũng được
đánh giá khả năng chịu bệnh gỉ sắt trực tiếp ngoài đồng ruộng nơi thường xuyên
xuất hiện bệnh gỉ sắt trên cây ngô.
A B
C
Hình 3.2. Lá của các dòng ngô ở 3 mức độ phản ứng với bệnh gỉ sắt sau 30 ngày lây nhiễm.
A: chống chịu bệnh (dòng G41), B: trung gian (dòng G17), C: nhiễm bệnh (dòng G42)
67
\
A
B
C
Hình 3.3. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu sau 50 ngày lây nhiễm.
A: cấp 1(dòng G46) B: cấp 2 (dòng G17) C: cấp 3 (dòng G42)
68
3.2.1.2 Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của dòng ngô ngoài đồng ruộng
Song song với phương pháp lây nhiễm nhân tạo, các dòng nghiên cứu được
thử nghiệm khả năng chịu bệnh gỉ sắt tại 2 địa điểm xã Ea-uy- Huyện Krông Pak
và xã Hòa Phú - TP. Buôn Ma Thuột trong vụ Thu Đông 2009. Kết quả được trình
bày ở Bảng 3.5.
Sự biểu hiện bệnh ở các dòng trong suốt thời gian sinh trưởng, phát triển
tương tự như lây nhiễm nhân tạo. Ngoài đồng ruộng, bệnh phát triển mạnh sau khi
cây ngô trỗ cờ và sự thể hiện của các dòng chống chịu và nhiễm bệnh gỉ sắt rất rõ
(Hình 3.4, Hình 3.5). Các dòng nghiên cứu có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt từ
cấp1 đến cấp 3. Trong đó, có 14 dòng là G2, G43, G45, G46, G47, G286, G288,
G289, G1234, G1235, G1237, G1238, C4N, C10N có khả năng chống chịu bệnh
gỉ sắt tốt (cấp 1), tương đương với dòng đối chứng T5 (Hình 3.4A). Tiếp đến là
các dòng B67a, B67c, M67a, M67b, G3, G17, G31, G40, G41, C2N, C3N, C90N,
C89N, C88N có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt (cấp 2) (Hình 3.4B). Các dòng
còn lại: B67b, G1, G16, G18, G19, G20, G42, G44, G287, G1236 bị nhiễm bệnh
gỉ sắt, tương đương với dòng đối chứng DF2 (điểm 3), (Hình 3.4C).
Chỉ số AUDPC của các dòng nghiên cứu ngoài đồng ruộng thấp hơn so với
trong điều kiện lây nhiễm bệnh gỉ sắt nhân tạo kể cả đối chứng T5 và DF2. Chỉ số
AUDPC của các dòng nghiên cứu ngoài đồng ruộng biến động từ 58,33 - 226,76.
Các dòng có chỉ số AUDPC tương đương đối chứng T5 (58,70) là B67a, B67c,
M67a, M67b, G2, G3, G43, G45, G46, G47, G286, G288, G289, G1234, G1235,
G1237, G1238, C4N, C10N (50,56 - 75,74). Các dòng có chỉ số AUDPC thấp hơn
so với dòng đối chứng DF2 (190,00) là G17, G31, G40, G41, C2N, C3N, C90N,
C89N, C88N (110,00 - 138,33). Các dòng có chỉ số AUDPC tương đương với
dòng đối chứng DF2 là B67b, G1, G16, G18, G19, G20, G42, G44, G287 (157,59
- 192,04).
69
Bảng 3.5. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu
ngoài đồng ruộng
Chỉ số AUDPC 62,96h 157,59abcd 50,56h 60,93h 67,78h 174,07abc 63,89h 68,33h 186,02a 116,85def 178,43ab 178,52ab 181,30a 116,67def 110,00efg 120,28def 190,37a 54,63h 192,04a 71,48gh 58,15h 66,85h 52,78h 174,35abc 53,15h 75,74gh 75,56gh 69,44h 178,15ab 64,44h 57,04h 132,50def 124,26def 66,67h 52,04h 131,02def 138,33bcde 135,93cde 58,70h 190,00a
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40
Tên dòng B67a B67b B67c M67a M67b G1 G2 G3 G16 G17 G18 G19 G20 G31 G40 G41 G42 G43 G44 G45 G46 G47 G286 G287 G288 G289 G1234 G1235 G1236 G1237 G1238 C2N C3N C4N C10N C89N C90N C88N T5(đc) DF2 (đc)
Cấp bệnh 2 2 2 2 2 3 1 2 3 2 3 3 3 2 2 2 3 1 3 1 1 1 1 3 1 1 1 1 3 1 1 2 2 1 1 2 2 2 1 3 Vụ Thu Đông 2009 tại xã Ea-uy- Krông Pak và xã Hòa Phú - TP. Buôn Ma Thuột
70
Sự biểu hiện khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu ngoài
đồng ruộng tương tự như khi đánh giá bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo, chỉ có
chỉ số tích lũy bệnh AUDPC là thấp hơn. Có lẽ trong điều kiện tự nhiên chưa phải là
điều kiện tối ưu để phát triển bệnh gỉ sắt như trong trong điều kiện lây nhiễm nhân tạo.
Tuy nhiên sự biểu hiện khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu
ngoài đồng ruộng cũng khá rõ vì thí nghiệm được bố trí ở nơi tâm điểm bệnh gỉ sắt,
mầm bệnh vẫn còn tồn tại trong tàn dư thực vật, đất, nước…và vụ Thu Đông năm 2009
ở Tây Nguyên, là thời điểm các bệnh hại ngô nói chung đều phát sinh, phát triển mạnh
trong điều kiện nhiệt độ vừa phải (23,70C), nóng ẩm (ẩm độ trung bình 88,775%) và
mưa nhiều (lượng mưa 2.217,75mm) (phụ lục 13) rất thuận lợi cho bệnh hại phát triển
đặc biệt là bệnh gỉ sắt.
Như vậy, qua đánh khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của 40 dòng nghiên cứu
bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo và trực tiếp ngoài đồng ruộng cho thấy, có 28
dòng nghiên cứu có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt khá tốt là B67a, B67c, M67a,
M67b, G2, G3, G17, G31, G40, G41, G43, G45, G46, G47, G286, G288, G289,
G1234, G1235, G1237, G1238, C4N, C10N, C2N, C3N, C90N, C89N, C88N. Các
dòng này có thể tham gia vào chọn tạo giống ngô năng suất cao, chống chịu bệnh gỉ
sắt cho vùng Tây Nguyên.
C B A
Hình 3.4. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu
sau 80 ngày gieo trồng ngoài đồng ruộng
A: cấp 1 (dòng G46) B: cấp 2 (dòng B67a) C: cấp 3 (dòng G18)
71
Hình 3.5. Sự biểu hiện tính chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu
(bên trái: nhiễm bệnh, bên phải: chống chịu bệnh)
3.2.2 Đặc điểm nông sinh học và khả năng chống chịu của tập đoàn dòng chống
chịu bệnh gỉ sắt
Kết quả đánh giá dòng về đặc điểm nông sinh học và khả năng chống chịu
được thực hiện trong vụ Thu Đông năm 2009 tại 2 địa điểm Đan Phượng- Hà
Nội đại diện cho khu vực phía Bắc và Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk đại diện cho
vùng Tây Nguyên.
Thời gian sinh trưởng
Đánh giá thời gian sinh trưởng của các dòng có ý nghĩa khoa học và thực
tiễn. Trên cơ sở xác định thời gian sinh trưởng của dòng thuộc nhóm chín sớm, chín
trung bình hay chín muộn, để từ đó có thể bố trí sơ đồ lai đảm bảo sự trùng pha khi
tung phấn của dòng bố và phun râu của dòng mẹ cũng như xác định được thời gian
sinh trưởng của các tổ hợp lai [16].
Thông qua kết quả đánh giá thời gian sinh trưởng trong vụ Thu Đông năm
2009 tại Đan Phượng và Buôn Ma Thuột (Bảng 3.6) cho thấy:
Các dòng thí nghiệm đều có thời gian từ gieo - phun râu từ 56 đến 61 ngày ở
phía Bắc, 59 ngày đến 66 ngày ở Tây Nguyên. Ở Tây Nguyên, thời gian từ gieo đến
trỗ cờ và từ gieo đến phun râu dài hơn ở phía Bắc từ 3-5 ngày. Chênh lệch trỗ cờ,
phun râu từ 1- 4 ngày ở cả 2 vùng đều nằm trong phạm vi an toàn, thuận lợi cho quá
trình thụ phấn.
72
Bảng 3.6. Thời gian sinh trưởng của các dòng nghiên cứu
Gieo - tung phấn (ngày)
Gieo - phun râu (ngày)
Thời gian sinh trưởng (ngày)
TT Tên dòng
Chênh lệch tung phấn - phun râu (ngày)
ĐP 58 59 60 61 64 63 63 62 62 62 63 61 62 62 60 59 65 61 62 61 60 61 58 61 60 60 60 61 57 61
BMT 65 66 66 64 68 70 69 66 63 69 69 65 64 65 63 65 68 66 66 64 65 65 63 62 62 62 64 66 61 65
ĐP 2 3 1 1 3 2 3 3 3 3 3 3 3 3 2 3 4 3 3 3 2 3 2 1 1 1 1 2 1 1
BMT 3 3 2 2 3 3 4 4 3 3 3 3 2 3 3 3 4 3 2 3 3 3 3 1 1 1 2 2 2 1
ĐP 108 108 106 106 110 110 108 110 108 108 108 106 108 112 112 108 108 108 106 108 112 112 112 110 112 106 108 108 106 112
BMT 114 114 110 110 113 113 112 114 114 114 114 112 112 116 116 114 114 114 114 116 114 116 116 114 114 108 109 112 114 116
B67a 1 B67c 2 3 M67a 4 M67b G2 5 G3 6 G17 7 G31 8 G40 9 G41 10 G43 11 G45 12 G46 13 G47 14 G286 15 G288 16 17 G289 18 G1234 19 G1235 20 G1237 21 G1238 C2N 22 C3N 23 C4N 24 C10N 25 C89N 26 C90N 27 C88N 28 29 T5 30 DF2(đ/c)
ĐP 56 57 59 60 61 61 60 59 59 59 60 58 59 59 58 56 61 58 59 58 58 58 56 60 59 59 59 59 56 60
BMT 62 63 64 62 65 67 65 62 60 66 66 62 62 62 60 62 64 63 64 61 62 62 60 61 61 61 62 64 59 64
Vụ Thu Đông năm 2009 tại Đan Phượng( ĐP) và Buôn Ma Thuột (BMT)
Thời gian sinh trưởng của các dòng giao động từ 106 - 112 ngày ở phía
Bắc, từ 110 - 116 ngày ở Tây Nguyên đều thuộc nhóm chín trung bình. Ba dòng
có thời gian sinh trưởng dài nhất là C2N, C3N và G286 (116 ngày) ở Tây Nguyên
và 112 ngày ở phía Bắc tương đương dòng DF2. Các dòng còn lại có thời gian
sinh trưởng tương đương dòng đối chứng T5.
73
Như vậy, các dòng thí nghiệm đều có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm
chín trung bình, thời gian chênh lệch trỗ cờ phun râu ngắn, thuận lợi cho quá trình
thụ phấn.
Khả năng chống chịu
Đánh giá khả năng chống chịu của các dòng nghiên cứu là rất cần thiết.
Những đánh giá phản ứng của các dòng với sự tác động của thời tiết khí hậu hay
khả năng chống chịu với các tác nhân gây bệnh là những thông tin hữu ích để có thể
dự đoán về khả năng chống chịu đối với thế hệ con lai.
Khả năng chống chịu của các dòng được theo dõi thông qua một số chỉ tiêu:
Chống đổ, chịu hạn, chống chịu bệnh khô vằn, gỉ sắt, đốm lá và sâu đục thân được
thể hiện ở Bảng 3.7.
Nhìn chung, trong điều kiện vụ Thu Đông năm 2009 các dòng đều có khả
năng chống chịu khá với các điều kiện bất thuận, khả năng chống chịu của các
dòng ở Buôn Ma Thuột kém hơn so với Đan Phượng.
Về khả năng chống đổ: Các dòng có khả năng chống đổ tốt tương đương với
T5 (điểm 1) là B67a, B67c và C10N. Các dòng có khả năng chống đổ khá hơn DF2
là G2, G3, G17, G31, G40, G41 G43, G45, G47, C2N, C3N, C88N (điểm 2). Các
dòng còn lại có khả năng chống đổ tương đương với DF2 (điểm 3).
Khả năng chịu hạn trên đồng ruộng: Các dòng có khả năng chịu hạn khá hơn
cả 2 đối chứng DF2 và T5 là B67a, B67c, G3, G1234, G1237 (điểm 1). Các dòng
còn lại tương đương với cả 2 đối chứng (điểm 2).
Khả năng chống chịu bệnh đốm lá: 4 dòng có khả năng chống chịu bệnh đốm
lá tốt điểm 1 ở cả 2 vùng là G286, G288, G1234, G1235. Các dòng G2, G3, G40,
G41, G43, G47, C89N, C90N, C88N, G1237 điểm 1 ở phía Bắc, điểm 2 ở Tây
Nguyên. Các dòng còn lại có khả năng chống chịu bệnh đốm lá khá tương đương so
với 2 đối chứng T5 và DF2 (điểm 2 - 3).
74
Bảng 3.7. Khả năng chống chịu của các dòng nghiên cứu
TT Tên dòng
Gỉ sắt
Khô vằn
Chịu hạn
Khả năng chống chịu (điểm 1- 5) Chống đổ Đốm lá ĐP BMT ĐP BMT ĐP BMT ĐP BMT ĐP BMT 1 1 3 3 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 2 2 3 1 3 3 2 1 3
B67a 1 2 B67c 3 M67a 4 M67b G2 5 G3 6 G17 7 G31 8 G40 9 G41 10 G43 11 G45 12 G46 13 G47 14 G286 15 G288 16 17 G289 18 G1234 19 G1235 20 G1237 21 G1238 C2N 22 C3N 23 C4N 24 C10N 25 C89N 26 C90N 27 C88N 28 29 T5 30 DF2 (đ/c)
1 1 3 3 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 2 3 1 2 1 2 3 3 3 2 2 2 2 1 3
2 2 3 3 2 2 3 3 2 2 2 2 2 2 1 1 3 1 1 2 3 3 3 2 2 2 2 2 2 3
2 2 2 2 1 1 2 2 1 1 1 2 2 1 1 1 1 1 1 1 2 3 3 2 2 1 1 1 2 2
1 1 1 1 1 1 2 2 2 2 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 2 1 3 2 2 1 3
2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 1 2 1 2 1 1 1 1 1 1 2 2 2 1 3 2 2 1 3
1 1 2 2 1 1 1 2 2 2 1 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 1 3 3 2 1 2
2 2 3 3 2 2 3 3 3 3 2 2 2 2 3 3 3 2 2 2 2 3 3 1 1 2 2 1 1 3
2 1 2 1 2 2 2 2 1 2 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 1 2 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 1 2 1 2 3 3 3 3 1 3 1 2 2 2 1 2 1 2 1 1 2 2 Vụ Thu Đông năm 2009 tại Đan Phượng và Buôn Ma Thuột
Ghi chú: Điểm 1-5: chống chịu tốt nhất - kém nhất
BMT: Buôn Ma Thuột, ĐP: Đan Phượng
75
Khả năng chống chịu bệnh khô vằn: Các dòng có khả năng chống chịu bệnh
khô vằn tốt tương đương với đối chứng T5 (điểm 1) là C4N, C10N, C88N cả 2
vùng. Các dòng có khả năng chống chịu bệnh khô vằn khá hơn dòng đối chứng DF2
là G2, G3, G45, G46, G1237, G1238, C90N điểm 1 ở phía Bắc, điểm 2 ở Tây
Nguyên, Các dòng còn lại có khả năng chống chịu bệnh đốm lá tương đương so với
đối chứng DF2 (điểm 2 - 3).
Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt: Hầu hết các dòng có khả năng chống chịu
bệnh gỉ sắt tốt hơn so với đối chứng DF2 (điểm 3). Trong những dòng nghiên cứu,
các dòng G45, G47, G288, G289, G1234, G1235, G1237, C10N có khả năng chống
chịu tốt nhất (điểm 1) ở cả 2 vùng tương đương với đối chứng T5. Các dòng B67a,
B67c, M67a, G1238, M67b, G2, G3 có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt tốt điểm 1
ở phía Bắc, điểm 2 ở Tây Nguyên. Dòng C89N chống chịu kém nhất (điểm 3) tương
đương với đối chứng DF2. Các dòng còn lại khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt ở
điểm 2. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả đánh giá khả năng chống chịu bệnh
gỉ sắt của các dòng nghiên cứu bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo.
Như vậy, khả năng chống chịu của 28 dòng ngô thuần khá hơn hoặc tương
đương so với 2 dòng đối chứng, đáp ứng được yêu cầu để tiến hành các thí nghiệm
tiếp theo.
Đặc điểm hình thái
Đặc điểm hình thái của các dòng nghiên cứu được thể hiện ở Bảng 3.8 và 3.9.
Nhìn chung, các đặc điểm hình thái của các dòng nghiên cứu ít có sự biến
động giữa 2 vùng sinh thái.
Các dòng nghiên cứu có chiều cao cây khá cao như M67a, M67b, G2,
G3, G31, G40, G43, G47, G288, G289, G1234, G1235, G1237, G1238, C10N,
C90N, C89N, C4N có chiều cao biến động từ 170,0 - 205,5cm tương đương với
dòng đối chứng DF2 (187cm), các dòng có chiều cao cây trung bình là B67a,
B67c, G17, G41, G45, G46, G286, C3N, C10N, C88N biến động từ 141,7 -
169,0 cm, dòng C2N có chiều cao cây thấp nhất đạt 127,4 cm, tương đương với
dòng T5 (127,5cm).
76
Bảng 3.8. Một số đặc điểm hình thái của các dòng nghiên cứu tại Đan Phượng
Số nhánh cờ
Chiều cao cây (cm)
Chiều cao đóng bắp (cm)
Chiều dài cờ (cm)
TT Tên dòng
Cm CV%
cm
CV%
cm CV% Nhánh CV%
1
B67a
165,5
6,4
80,2
6,9
27,6
7,8
8,7
9,3
2
B67c
168,7
4,8
80,6
5,1
28,3
8,3
11,6
7,3
3
M67a
185,6
6,1
92,8
4,8
29,6
5,8
6,6
6,5
4
M67b
190,0
6,2
96,4
6,4
28,7
4,6
7,9
3,4
5
G2
205,5
6,5
99,1
4,9
30,8
6,3
9,0
6,2
193,3
11,5
6
G3
91,4
6,1
29,8
3,7
9,8
5,9
156,6
3,5
7
G17
71,8
6,1
30,2
4,6
10,2
6,1
173,3
10,3
8
G31
84,3
6,2
28,7
5,8
8,6
3,7
9
G40
178,0
3,4
85,4
3,4
31,2
4,3
13,4
6,2
10
G41
161,0
6,9
79,2
6,9
30,8
7,0
12,5
4,8
11
G43
173,3
4,8
89,9
7,9
29,9
8,9
14,1
6,9
12
G45
168,7
5,3
89,9
5,3
30,2
4,4
14,0
6,4
13
G46
168,8
6,9
80,0
6,9
32,1
6,1
12,9
5,3
14
G47
193,5
5,8
92,3
4,8
30,7
6,3
13,8
5,8
15
G286
151,6
6,1
72,2
8,6
27,9
5,8
6,6
7,9
16
G288
173,3
5,1
71,6
7,7
28,5
4,9
7,3
3,5
17
G289
189,0
6,2
86,6
5,8
27,6
7,3
7,9
6,1
18
G1234
183,3
8,6
87,3
8,6
30.1
6,3
8,1
8,6
19
G1235
179,3
7,7
80,0
6,6
29,8
5,8
11,3
7,9
20
G1237
205,0
7,9
97,1
6,1
30,6
4,9
12,0
5,6
21
G1238
198,1
10,3
92,4
4,8
30,2
6,6
11,8
8,3
22
C2N
127,4
4,8
48,8
16,3
30,5
6,4
6,1
8,6
23
C3N
154,9
3,5
56,4
8,4
32,8
4,8
14,2
6,5
24
C4N
178,9
6,2
93,1
11,0
34,9
11,1
19,1
11,3
25
C10N
169,0
4,8
60,9
17,1
27,9
6,6
11,2
8,6
26
C89N
187,8
3,4
81,8
5,8
31,0
12,7
7,4
7,4
27
C90N
191,4
6,2
94,3
8,8
30,2
11,5
10,6
9,3
28
C88N
141,7
5,9
65,4
10,8
28,1
6,9
15,4
7,3
29
T5
127,5
6,1
53,1
6,7
34,4
10,3
9,5
6,5
30 DF2 (đ/c)
187,5
3,5
89,9
4,4
33,3
10,3
8,6
8,6
Vụ Thu Đông 2009
77
Bảng 3.9. Một số đặc điểm hình thái của các dòng nghiên cứu tại Buôn Ma Thuột
Số nhánh cờ
Chiều cao cây (cm)
Chiều cao đóng bắp (cm)
Chiều dài cờ (cm)
TT Tên dòng
Cm CV%
CV%
cm
CV% Nhánh CV%
cm
81,7
8,6
29,3
3,6
8,2
5,9
1
B67a
168,5
6,2
79,6
8,3
26,5
5,4
10,7
6,1
2
B67c
164,2
3,5
90,2
7,2
29,1
5,7
6,9
4,8
3
M67a
175,7
3,5
91,5
9,3
27,7
6,3
7,6
6,9
4
M67b
189,1
6,1
96,4
5,8
29,8
6,7
9,5
5,7
5
G2
200,0
8,6
89,9
8,6
30,8
8,3
9,2
6,3
6
G3
186,2
7,7
73,1
6,1
31,2
5,6
11,4
6,7
7
G17
162,7
5,9
79,2
7,9
28,9
5,5
8,3
5,8
8
G31
166,9
9,3
81,6
6,2
30,2
6,1
13,0
7,2
9
G40
170,0
3,5
73,1
6,9
30,6
6,4
12,3
5,6
10
G41
169,1
6,4
81,9
8,4
29,1
4,9
13,9
7,1
11
G43
169,8
8,6
84,2
6,5
29,4
6,2
14,2
5,3
12
G45
161,9
8,9
816
3,4
31,7
6,9
12,6
6,1
13
G46
160,3
6,2
90,5
6,9
30,2
5,9
13,1
6,8
14
G47
190,0
7,9
71,8
5,1
28,9
9,3
6,9
7,6
15
G286
150,2
4,8
73,6
5,8
28,6
5,9
7,2
7,9
16
G288
169,7
6,9
89,9
7,3
28,3
9,6
7,1
8,7
17
G289
180,0
6,1
80,5
6,5
29.6
4,8
8,6
9,6
18
G1234
185,6
6,2
82,1
3,5
29,4
11,8
6,3
19
G1235
170,8
10,3
10,1
94,8
6,1
30,0
6,2
12,3
4,8
20
G1237
200,0
6,6
90,0
6,1
30,1
3,5
10,9
6,3
21
G1238
190,0
4,8
43,7
12,1
30,5
6,1
6,7
8,6
22
C2N
122,1
9,3
61,4
5,8
32,8
5,3
13,2
3,7
23
C3N
149,8
3,4
95,2
8,8
34,9
6,9
18,6
6,5
24
C4N
171,7
6,1
61,1
3,5
27,9
6,4
12,1
9,6
25
C10N
164,0
4,8
80,0
7,9
31,0
4,9
8,4
8,2
26
C89N
180,3
3,5
95,2
6,2
30,2
5,7
11,6
7,4
27
C90N
189,9
6,4
69,4
3,4
28,1
6,3
15,0
3,7
28
C88N
146,7
6,8
52,6
6,9
34,4
10,5
10,5
6,9
29
T5
128,3
5,8
89,9
6,9
33,3
5,3
8,9
6,9
5,4
30 DF2 (đ/c) 184,6
Vụ Thu Đông 2009
78
Chiều cao đóng bắp của các dòng nghiên cứu cũng có sự biến động lớn, dao
động từ 48,8 cm (dòng C2N) đến 99,1cm (dòng G2) tương đương với dòng đối
chứng DF2 (89,9 cm), T5 (53,1 cm).
Chiều dài cờ và số nhánh cờ cũng là một chỉ tiêu hình thái được nhà tạo
giống quan tâm, đặc biệt đối với dòng được chọn làm bố trong sản xuất hạt lai, nó
ảnh hưởng mức độ cho phấn. Các dòng nghiên cứu đều có chiều dài cờ biến động
từ 27,6 - 34,9 cm tương đương với 2 dòng đối chứng, tuy nhiên số nhánh cờ có
sự biến động hơn từ 6,1 - 19,1 nhánh. Dòng M67a, M67b, G31, G286, G288,
G289, C2N có số nhánh cờ ít nhất đạt 6,1 - 8,6 nhánh. Các dòng còn lại có nhiều
số nhánh cờ biến động từ 10,6 - 19,1 nhánh nhiều hơn 2 dòng đối chứng là T5
(10,5 nhánh ) và DF2 (8,9 nhánh).
Độ biến động về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp và chiều dài bông cờ
của các dòng < 15% (chỉ 1 chỉ tiêu chiều cao đóng bắp của dòng C2N có CV%
là 16,3% ở phía Bắc) thể hiện sự đồng đều về đặc điểm hình thái đáp ứng được
yêu cầu sử dụng trong lai tạo giống ngô lai.
Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất
Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất bị tác động mạnh bởi môi trường.
Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất ở 2 địa điểm phía Bắc và Tây Nguyên
trong vụ Thu Đông năm 2009 của các dòng nghiên cứu được thể hiện ở Bảng 3.10
và 3.11.
Ở phía Bắc, các dòng thí nghiệm đều có chiều dài bắp biến động từ 10,6 -
16,3 cm. Các dòng G289 (14,4 cm), G1238 (14,1 cm), C4N (15,7 cm), C10N (15,6
cm), C89N (15,7 cm), C90N (16,3 cm), C88N (14,3 cm) cao hơn 2 đối chứng T5
(13,5cm), DF2 (11,9 cm). Các dòng có chiều dài bắp cao hơn đối chứng DF2 là
M67a, G31, G43, G45, G46, G286, G288, G1237, C88N. Các dòng còn lại có chiều
dài bắp tương đương với đối chứng.
79
Bảng 3.10. Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
của các dòng nghiên cứu tại Đan Phượng
Dài bắp Đường kính bắp Số hàng hạt Số hạt/hàng P1000
TT
Tên dòng
Cm CV% Cm
CV% Hàng CV% hạt CV%
hạt (g)
2,9 3,6 3,9 3,4 3,2 3,3 3,4 2,7 3,3 3,2 3,6 3,6 3,1 3,6 3,3 3,5 3,3 3,7 3,6 3,2 3,4 4,1 4,0 4,0 4,0 4,0 3,6 4,1 3,6
9,4 22,0 14,8 228,2 11,7 21,3 13,1 242,7 236,9 9,6 27,0 8,9 7,9 21,5 13,7 237,4 14,4 26,0 10,5 224,0 25,0 11,9 241,3 0,0 13,5 23,0 10,7 236,8 12,4 22,0 16,4 233,0 26,2 13,6 238,5 8,6 10,0 25,2 232,3 8,9 29,6 11,4 225,2 8,6 25,3 10,4 232,6 8,0 10,0 27,7 228,3 4,9 10,2 25,3 12,7 237,8 14,1 19,6 12,8 244,1 25,6 8,1 230,9 8,3 25,5 5,1 237,4 0,0 225,2 7,4 22,6 0,0 23,8 14,7 213,9 7,0 21,6 11,9 219,9 8,6 220,1 6,8 22,3 0,0 20,4 10,2 306,0 5,8 293,6 5,5 21,9 3,3 323,6 8,6 24,1 3,7 302,6 5,6 32,0 6,1 305,3 5,8 7,3 28,6 280,3 6,3 10,2 32,0 280,5 7,1 26,7 7,1 260,7 6,9 27,0 6,6
Năng suất (tạ/ha) 22,6 25,2 37,1 30,1 28,0 28,9 30,2 28,0 31,1 31,8 36,3 34,4 32,5 34,8 28,0 35,4 31,6 26,9 30,9 26,9 31,2 29,0 31,0 35,1 37,6 38,5 36,2 31,0 21,7
12,2 12,4 14,0 14,1 12,2 12,2 12,6 12,4 12,5 12,1 12,0 12,2 14,3 12,1 12,6 12,2 12,0 14,5 14,0 14,3 14,0 14,8 14,8 13,1 13,6 14,4 11,7 12,0 11,6
5,9 4,2 5,6 4,4 8,1 2,6 2,7 17,3 5,8 3,2 5,3 3,9 12,8 7,4 7,0 3,5 3,1 2,3 6,1 4,9 0,0 1,4 6,4 8,6 5,7 6,3 5,8 5,8 6,4
11,9
4,4
30
3,2
5,1
12,0
14,1 24,4
8,5
244,8
24,8
1 B67a 12,0 9,2 2 B67c 10,6 17,3 8,6 3 M67a 11,1 7,0 4 M67b 11,2 G2 5 8,6 11,8 11,2 10,6 G3 6 7 G17 11,9 14,1 2,2 8 G31 12,3 5,7 9 G40 11,9 5,5 10 G41 11,4 7,9 11 G43 13,3 4,7 12 G45 11,3 5,5 13 G46 11,5 14 G47 11,3 4,0 15 G286 12,9 11,4 6,6 16 G288 13,1 4,1 17 G289 14,4 1,4 18 G1234 10,6 4,7 19 G1235 12,0 20 G1237 12,6 6,8 21 G1238 14,1 10,5 3,1 22 C2N 11,3 8,6 23 C3N 11,2 8,4 24 C4N 15,7 2,3 25 C10N 15,6 7,6 26 C89N 15,7 5,7 27 C90N 16,3 3,7 28 C88N 14,3 T5 6,3 13,5 29 DF2 (đ/c)
CV% LSD 0,05
6,58 3,318
Vụ Thu Đông năm 2009
80
Bảng 3.11. Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
của các dòng nghiên cứu tại Buôn Ma Thuột
Dài bắp
ĐK bắp
Số hàng hạt Số hạt/hàng P.1000
TT
Tên dòng
Cm CV% Cm CV% hàng CV% hạt CV% 13,9 4,5 12,6 10,5 4,9 10,7 17,3 13,6 8,9 11,4 10,4 4,9 12,7 14,1 8,9 5,4 8,5 15,0 12,9 6,9 11,4 5,7 8,2 6,6 5,4 6,7 8,1 9,1 7,6
11,7 22,3 8,9 28,3 21,5 7,9 14,4 27,1 10,2 25,9 13,5 24,0 12,4 21,0 27,6 8,6 25,2 10 25,6 8,6 8,3 25,5 10,0 27,1 10,2 24,0 14,1 20,6 23,6 8,3 27,1 3,9 22,0 4,0 24,9 7,8 21,6 8,6 22,3 7,1 20,4 5,8 21,9 3,3 27,1 3,7 32,7 6,1 7,3 28,1 10,2 30,0 26,1 7,1 27,3 6,6 22,8 8,6
7,3 6,1 7,0 8,3 7,2 6,1 3,7 6,1 7,3 6,1 5,8 5,8 6,3 4,3 5,6 11,4 10,7 8,7 5,8 8,0 6,7 10,2 5,8 6,1 3,7 5,8 6,3 4,5 6,1
4,6 5,6 4,3 6,3 5,1 6,6 7,6 10,2 8,2 6,1 8,3 8,3 10,6 4,5 5,8 6,2 3,3 6,6 5,8 7,3 6,3 6,3 4,2 8,3 6,7 5,8 3,4 3,7 8,0
12,3 14,0 14,3 13,0 13,0 12,2 12,1 12,8 12,2 12,6 13,3 14,1 12,0 12,2 12,2 12,6 14,5 14,2 14,0 14,8 14,8 14,8 14,4 13,6 14,0 12,0 12,0 12,0 12,0
3,4 3,4 3,8 3,8 3,4 3,6 3,2 3,6 3,4 3,7 3,3 3,6 3,6 3,4 3,3 3,2 3,6 3,7 3,8 4,0 3,9 4,4 4,4 4,4 4,5 4,3 3,8 4,1 3,7
hạt (g) 239,3 242,0 258,0 260,0 242,0 257,6 252,5 240,0 252,6 248,6 243,3 242,2 243,3 251,1 256,8 244,9 254,0 244,0 234,5 242,0 237,6 310,0 299,1 333,7 334,1 310,2 293,6 285,5 261,7
Năng suất (tạ/ha) 23,6 24,8 38,6 32,5 28,6 29,8 28,3 30,0 30,7 32,4 35,6 36,6 33,3 34,7 29,6 36,3 34,5 30,3 34,7 27,6 30,7 32,1 30,4 36,3 38,5 36,5 35,5 30,3 24,7
B67a 12,8 1 2 B67c 13,3 3 M67a 14,3 4 M67b 16,1 12,8 G2 5 12,8 G3 6 12,6 G17 7 14,0 8 G31 14,8 G40 9 12,1 10 G41 12,8 11 G43 13,0 12 G45 13,6 13 G46 14 G47 12,0 15 G286 13,8 16 G288 13,6 17 G289 12,7 18 G1234 12,3 19 G1235 13,8 20 G1237 13,6 21 G1238 12,7 11,3 22 C2N 11,2 23 C3N 14,7 24 C4N 25 C10N 14,6 26 C89N 13,7 27 C90N 14,3 28 C88N 14,3 T5 13,5 29 DF2 (đ/c)
14,4
5,6
3,1
6,3
12,0
8,2
25,3
4,8
CV% LSD 0,05
30
233,5
22,4 6,48 3,331
Vụ Thu Đông năm 2009
81
Nhìn chung, chiều dài bắp của các dòng thí nghiệm ở Tây Nguyên dài hơn ở
phía Bắc, các dòng thí nghiệm đều có chiều dài bắp biến động từ 11,2 - 16,3 cm. Các
dòng M67b (16,1 cm), C4N (15,7 cm), C10N (15,6 cm), C89N (15,7 cm), C90N
(16,3 cm) cao hơn 2 đối chứng T5 (13,5cm), DF2 (11,9 cm). Các dòng có chiều dài
bắp tương đương đối chứng DF2 là B67c, M67a, G31, G40, G45, G46, G286, G288,
G1235, G1236, C88N. Các dòng còn lại thấp hơn so với đối chứng. Dòng đối chứng
DF2, chiều dài bắp ở phía Bắc thấp hơn vùng Tây Nguyên là 2,5 cm.
Với chỉ tiêu đường kính bắp giữa các dòng có sự chênh lệch không đáng kể.
Hầu hết các dòng có đường kính bắp tương đương 2 dòng đối chứng. Các dòng
G1237, C2N, C10N, C89N, C88N có đường kính bắp đạt trên 4 cm cao hơn hai
dòng đối chứng T5 (3,7 cm), DF2 (3,1 cm) ở cả 2 vùng.
Ngoài chỉ tiêu chiều dài bắp và đường kính bắp thì chỉ tiêu về số hàng hạt và
số hạt/hàng cũng đóng góp đáng kể vào năng suất của dòng. Số hàng hạt là tính
trạng phụ thuộc chủ yếu vào kiểu gen và khá ổn định khi dòng có độ thuần cao. Còn
số hạt/hàng phụ thuộc vào điều kiện môi trường và chế độ chăm sóc. Các dòng thí
nghiệm đều đạt 12 hàng hạt trở lên, tương đương 2 dòng đối chứng T5, DF2 (12
hàng hạt), các dòng M67a, M67b, G1234, G1235, G1237, G1238, C2N, C3N,
C10N đạt 14 - 16 hàng hạt, cao hơn 2 dòng đối chứng. Số hạt/hàng có sự khác nhau
rõ rệt giữa các dòng. Các dòng thí nghiệm có số hạt/hàng biến động từ 19,6 - 32
hạt/hàng ở phía Bắc, từ 20,2 - 32,7 hạt/hàng ở Tây Nguyên. Dòng C4N có số
hạt/hàng nhiều nhất ở Tây Nguyên (32,7 hạt/hàng ), dòng C10N và C90N có số
hạt/hàng nhiều nhất ở phía Bắc (32,0 hạt/hàng).
Khối lượng 1000 hạt có sự biến động lớn giữa các dòng, dao động từ 228,2
đến 323,6 g ở phía Bắc, từ 234,5 đến 334,1 g ở Tây Nguyên. Các dòng có khối
lượng 1000 hạt trên 300 g là C10N, C4N, C89N cao hơn so với đối chứng T5
(260,7 g), DF2 (244,8 g).
82
Năng suất hạt là chỉ tiêu quan trọng nhất, là kết quả tổng hợp của nhiều
nhân tố. Đây là một tính trạng do đa gen quy định và biến động lớn dưới tác
động của môi trường. Năng suất của các dòng nghiên cứu chênh lệch khá rõ,
điều này được thể hiện ở Bảng 3.9 và 3.10. Đa số các dòng nghiên cứu đều có
năng suất cao hơn dòng đối chứng T5 (21,7 - 24,7 tạ/ha), dòng DF2 (22,4 - 24,8
tạ/ha) ở cả 2 vùng. Dòng có năng suất cao nhất đạt 38,6 tạ/ha là M67a; G45 (36,6
tạ/ha). Dòng có năng suất thấp nhất B67a đạt 23,6 tạ/ha. Dòng có năng suất
tương đương dòng DF2 là B67c. Như vậy, các dòng thí nghiệm đều có năng suất
khá cao, năng suất ở vùng Tây Nguyên cao hơn phía Bắc trung bình 0,7 tạ/ha.
Kết quả hệ số biến động về các chỉ tiêu cấu thành năng suất cho thấy, giá
trị CV% ở hầu hết các chỉ tiêu của các dòng đều < 15%. Chỉ có một số dòng:
B67c có CV% của dài bắp là 17,3%, dòng G31 có CV% của đường kính bắp là
17,3% và CV% của số hạt trên hàng 16,4% >15% (Bảng 3.9). Như vậy, các dòng
có đồng đều, đảm bảo yêu cầu của một dòng có thể sử dụng cho mục đích tạo
giống ngô lai.
Đánh giá tổng thể về đặc điểm nông sinh học và khả năng chống chịu cho
thấy, 28 dòng được tuyển chọn để tạo giống chín sớm, có khả năng chịu bệnh gỉ
sắt đạt yêu cầu về thời gian sinh trưởng (110 - 116 ngày ở Tây Nguyên, 106 -
112 ngày ở phía Bắc), giai đoạn cây con khỏe, đồng đều về đặc điểm hình thái,
tạ/ha), cây cao vừa phải, khả năng chống chịu khá tốt và năng suất khá cao (23,6-
36,6 ) đáp ứng được chương trình chọn tạo giống ngô lai năng suất cao,chống
chịu bệnh gỉ sắt phục vụ cho vùng Tây Nguyên (Hình 3.6).
83
Hình 3.6. Ảnh cây và bắp của một số dòng nghiên cứu vụ Thu Đông 2009
84
3.3 ĐA DẠNG DI TRUYỀN, ĐỘ THUẦN DI TRUYỀN VÀ KHẢ NĂNG KẾT
HỢP CỦA TẬP ĐOÀN DÒNG CHỐNG CHỊU BỆNH GỈ SẮT
3.3.1 Đa dạng di truyền của tập đoàn dòng chống chịu bệnh gỉ sắt
Đối với chương trình chọn tạo giống ngô lai, chọn được kiểu gen mong
muốn là rất cần thiết để tạo được giống lai có năng suất cao, có khả năng chống
chịu bệnh và thích ứng với các điều kiện sinh thái khác nhau. Đánh giá các dòng
thuần nhằm xác định được các dòng có đặc điểm nông sinh học và khoảng cách di
truyền đáp ứng được yêu cầu của dòng bố/mẹ từ đó có thể tạo ra các giống ngô lai
mới triển vọng trong sản xuất bằng phương pháp truyền thống với sự hỗ trợ của
công nghệ sinh học [16].
Để giảm thiểu công việc đồng ruộng, rút ngắn thời gian lai tạo và có thể dự
đoán nhanh các tổ hợp có khả năng cho ưu thế lai cao về năng suất, bằng cách áp
dụng biện pháp sử dụng chỉ thị phân tử SSR trong việc đánh giá đa dạng di truyền
của tập đoàn dòng và phân nhóm cách biệt di truyền. Đây là một trong các công cụ
ứng dụng công nghệ sinhh học hỗ trợ rất hiệu quả cho các nhà chọn tạo giống ngô
lai, giúp đánh giá nhanh và chính xác đa dạng di truyền tập đoàn dòng [4]. Vì vậy,
trước khi đánh giá khả năng kết hợp của các dòng bằng phương pháp lai thử, chỉ thị
SSR được sử dụng để đánh giá đa dạng di truyền của tập đoàn dòng và phân nhóm
cách biệt di truyền là cơ sở cho việc hạn chế số lượng dòng khi thiết kế sơ đồ lai
đỉnh, lai luân phiên .
Kết quả đánh giá độ thuần di truyền của các dòng
Trong công tác chọn tạo giống ngô lai yêu cầu dòng thuần phải có tỷ lệ đồng
hợp tử về kiểu gen >80% [29]. Do đó, cần đánh giá độ thuần di truyền của các dòng
nghiên cứu dựa vào việc tính toán tỷ lệ dị hợp tử (H%) của các dòng căn cứ vào
việc phân tích sự xuất hiện các băng ADN trên gel điện di theo từng locus SSR, nếu
xuất hiện 1 băng ADN (1 alen) thì locus đó là đồng hợp tử, nếu xuất hiện 2 băng
ADN (2 alen khác nhau/locus SSR) thì locus đó dị hợp tử. Tỷ lệ dị hợp tử được tính
đối với mỗi dòng. Thí nghiệm được thực hiện với 29 locus SSR. Kết quả được thể
hiện ở Bảng 3.12.
85
Bảng 3.12. Tỷ lệ khuyết số liệu và tỷ lệ dị hợp tử của các dòng nghiên cứu
TT
Tên dòng
Tỷ lệ khuyết số liệu (%M)
Tỷ lệ dị hợp tử (H%)
3,45
1
B67a
0,00
0,00
2
B67c
0,00
0,00
3
M67a
3,45
0,00
4
M67b
0,00
0,00
5
G2
3,45
0,00
6
G3
3,45
10,34
7
G17
3,45
0,00
8
G31
0,00
3,45
9
G40
0,00
0,00
10
G41
0,00
0,00
11
G43
13,80
0,00
12
G45
0,00
3,45
13
G46
0,00
0,00
14
G47
0,00
3,45
15
G286
3,45
0,00
16
G288
0,00
3,45
17
G289
13,80
3,45
18
G1234
13,80
3,45
19
G1235
13,80
3,45
20
G1237
13,80
3,45
21
G1238
3,45
0,00
22
C2N
0,00
0,00
23
C3N
6,90
0,00
24
C4N
0,00
0,00
25
C10N
0,00
0,00
26
C89N
0,00
3,45
27
C90N
0,00
0,00
28
C88N
0,00
0,00
29
T5
3,45
0,00
30
DF2 (đ/c)
3,45
86
Tỷ lệ khuyết số liệu (M%) cao nhất ở dòng G17 với tỉ lệ 10,34% (khuyết số
liệu ở 3 mồi). Các dòng B67a, G40, G46, G286, G289, G1234, G1235, G1237,
G1238 và C90N có tỉ lệ khuyết số liệu là 3,45% (khuyết số liệu ở 1 mồi). Còn lại 19
dòng (B67c, M67a, M67b, G2, G3, G31, G41, G43, G45, G47, G288, C2N, C3N,
C4N, C10N, C89N, C88N, DF2, T5) không bị khuyết số liệu ở tất cả các mồi. Đối
với tỷ lệ khuyết số liệu tính trên từng mồi cho giá trị M% (0,00 - 10,34%) <15%,
như vậy, số liệu thống kê sau khi điện di sản phẩm PCR là đáng tin cậy.
Tỷ lệ dị hợp tử (H%) ở các dòng ngô nghiên cứu rất khác biệt và rõ ràng. Tỷ
lệ dị hợp tử cao nhất ở dòng G43, G289, G1235, 1237 với tỷ lệ 13,8%, C3N với tỷ
lệ 6,9%, các dòng M67a, G2, G3, G17, G286, G1234, G1238, DF2 và T5 với tỷ lệ
3,45%. Còn lại 16 dòng có tỷ lệ dị hợp tử 0% có nghĩa là các dòng này đều đồng
hợp ở cả 29 mồi nghiên cứu (chỉ có 1 alen duy nhất/locus). Như vậy, tất cả các các
dòng nghiên cứu thỏa mãn yêu cầu trong nghiên cứu đa dạng di truyền, đáp ứng
được điều kiện, có tỷ lệ đồng hợp tử về kiểu gen > 80%.
Kết quả phân tích đa hình ADN các dòng nghiên cứu
Khi quan sát trên bản gel điện di sản phẩm PCR với 29 mồi cho thấy, hầu hết
các dòng ngô nghiên cứu chỉ xuất hiện 1 băng ADN (1alen). Có một số dòng ngô
xuất hiện 2 băng ADN (2 alen khác nhau) như dòng G1235, T5 và G289 (tương ứng
với ký hiêu dòng số 16, 19 và 30 ở mồi umc1153 trên Hình 3.7), dòng G1234,
G1237 (tương ứng với ký hiệu dòng số 15 và 18 mồi phi 109188 trên Hình 3.7).
Nhưng cũng có dòng ngô không xuất hiện băng ADN nào như dòng G17 (tương
ứng với ký hiệu dòng số 9 ở mồi umc1153 trên Hình 3.7). Có thể dòng này không
có vị trí bắt cặp cho mồi trong phản ứng PCR.
Kết quả thu được từ bộ tiêu bản điện di sản phẩm PCR của 29 cặp mồi SSR
với tập đoàn dòng nghiên cứu được thể hiện ở Bảng 3.13.
Thống kê số băng ADN xuất hiện trên từng locus SSR với tập đoàn dòng
nghiên cứu thu được tổng số 889 băng ADN thuộc 110 loại alen khác nhau. Locus
SSR xuất hiện nhiều băng ADN nhất là umc1399 (36 băng ADN), các locus còn lại
giao động từ 28 - 32 băng ADN. Số alen đa hình tại mỗi locus biến động từ 2 - 7
87
alen, (trung bình 3,793 alen/locus). Chỉ thị cho số lượng alen nhiều nhất (7 alen) là
chỉ thị Phi 101049.
Bảng 3.13. Hệ số PIC, số băng ADN và số alen xuất hiện trên 29 cặp mồi SSR
TT
Locus SSR
Số alen xuất hiện/mồi
PIC
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29
3 4 4 4 2 3 3 4 3 3 5 4 2 5 5 7 5 5 3 3 4 4 4 3 3 4 2 5 4 110 3,793
Tổng số băng ADN/mồi 30 31 30 36 30 32 31 32 32 30 31 31 30 31 31 30 31 27 29 30 32 31 31 30 28 32 30 30 30 889
0,598 0,427 0,738 0,662 0,124 0,576 0,620 0,539 0,557 0,291 0,701 0,629 0,444 0,497 0,778 0,809 0,618 0,711 0,340 0,127 0,633 0,568 0,660 0,184 0,349 0,746 0,231 0,440 0,578 0,523
Phi 057 umc1066 Phi 299852 umc1399 Phi 062 Phi 083 phi 093 Phi 96342 umc1136 Phi 084 umc1196 Phi 029 Phi 102228 Phi 053 Phi 2275692 Phi 101049 Phi 213984 Phi 374118 Phi 423798 umc1279 umc1153 umc1109 Phi 308707 Phi 448880 Phi 87 Phi 109188 umc1304 Phi 233376 Phi 065 Tổng Trung bình
88
Hệ số PIC (Polymorphic Information Content) được xem là thước đo đa hình của các
alen trên mỗi locus SSR [115]. Hệ số PIC được tính theo công thức của Nei (1973) [93]
dựa vào tần suất xuất hiện của các băng ADN hay các alen trên mỗi locus SSR. Từ kết quả
Bảng 3.12 cho thấy, giá trị PIC cao tương ứng với locus đó có nhiều alen và số alen xuất
hiện cao. Giá trị PIC của 29 locus nghiên cứu thay đổi từ 0,124 (ở cặp mồi xuất hiện 1 alen
- Phi 062) đến 0,809 (ở cặp mồi xuất hiện 7 alen - Phi 101049) giá trị trung bình là 0,523
cho thấy, mức độ đa dạng gen tồn tại trong tập đoàn dòng nghiên cứu ở mức khá đa dạng
(Bảng 3.12). Kết quả này thấp hơn kết quả nghiên cứu của Senior và cộng sự (chỉ số PIC
thay đổi từ 0,17 đến 0,92) [108].
M
umc 1153
M
Phi109188
Hình 3.7. Điện di sản phẩm SSR-PCR với mồi umc1153 và phi109188
Từ kết quả đánh giá độ thuần di truyền và phân tích đa hình ADN các dòng
nghiên cứu. Bước tiếp theo là sử dụng phần mềm NTSYS 2.1 để sử lý số liệu và thông
89
qua đó phân tích mối quan hệ di truyền giữa các dòng và 2 dòng đối chứng được phân
nhóm theo UPGMA (unweighted pair-group method using arithmetic averages).
Đa dạng di truyền của các dòng nghiên cứu
Đa dạng di truyền của tập đoàn dòng là thông tin quan trọng đối với các nhà
chọn tạo giống ngô, tăng khả năng dự đoán chính xác các cặp dòng cho ưu thế lai
cao về tính trạng mong muốn, đặc biệt là năng suất hạt.
Kết quả phân tích đa dạng di truyền của 30 dòng sử dụng 29 locus SSR bằng
chương trình NTSYS 2.1 được trình bày ở phụ lục 5 và Hình 3.8.
Độ tương đồng di truyền (GS) giữa 30 dòng ngô biến động từ 0,09 - 0,71 hay
khoảng cách di truyền (GD) giữa các cặp dòng biến đổi từ 0,29 - 0,91. Trong đó,
khoảng cách di truyền nhỏ nhất là cặp dòng C2N và C3N (0,29), lớn nhất là 2 cặp
dòng DF2 và C2N, C89N và C10N (0,91). Ba dòng DF2, C89N, C10N có khoảng
cách di truyền trung bình với các dòng còn lại lớn nhất (0,80), tiếp đến là các dòng
B67a, G17, C4N (0,72), G1237 (0,71), C3N (0,70) và dòng có khoảng cách di truyền
trung bình nhỏ nhất so với các dòng còn lại là G286 (0,43). Khoảng cách di truyền
trung bình giữa các cặp dòng là 0,66. Kết quả này cho thấy các dòng nghiên cứu có
sự khác biệt di truyền khá cao. Điều này rất có ý nghĩa trong công tác tạo giống ngô
lai, bởi vì khoảng cách di truyền giữa các dòng có mối tương quan dương với năng
suất hạt, khả năng kết hợp riêng và ưu thế lai trung bình [16].
Từ kết quả độ tương đồng di truyền, chương trình NTSYS 2.1 được sử dụng để
phân nhóm theo UPGMA (unweighted pair-group method using arithmetic averages)
và thu được sơ đồ phả hệ của 30 dòng theo hình cây (Hình 3.8).
Qua sơ đồ phả hệ của các dòng nghiên cứu theo hình cây cho thấy 30 dòng
nghiên cứu phân thành 2 nhóm rõ rệt ở độ tương đồng 0,272 (27,2%).
- Nhóm I: Gồm 22 dòng nghiên cứu. Nhóm này phân thành 4 phân nhóm như sau:
90
Phân nhóm 1.1: Gồm 8 dòng nghiên cứu: G1238, G1237, M67a, M67c, G31,
G3, G17 và G2.
Phân nhóm 1.2: Gồm 3 dòng nghiên cứu: G40, G41 và G43.
Phân nhóm 1.3: Gồm 9 dòng nghiên cứu: G45, G46, G47, G1234, G1235,
G286, G288, G289 và T5.
Phân nhóm 1.4 : Gồm 2 dòng nghiên cứu: B67a và B67c.
- Nhóm II: Gồm 6 dòng nghiên cứu: C4N, C89N, C2N, C3N, C90N và C88N.
- Hai dòng C10N và dòng đối chứng DF2 được phân tách riêng so với các
dòng còn lại ở mức tương đồng 0,21 (21%).
Ưu thế lai chịu sự chi phối mạnh bởi sự khác biệt di truyền giữa 2 dạng bố mẹ.
Vì vậy, việc phân nhóm dòng dựa trên khoảng cách di truyền được xác định bằng chỉ
thị phân tử là một trong những cơ sở quan trọng để định hướng cho công tác lai tạo.
Để đánh giá được khả năng sử dụng bộ dòng chịu bệnh gỉ sắt cho mục tiêu
chọn tạo giống ngô lai cho vùng Tây Nguyên, đánh giá khả năng kết hợp về năng
suất của các dòng nghiên cứu được tiến hành. Căn cứ vào kết quả phân nhóm cách
biệt di truyền dựa vào 29 locus SSR kết hợp với kết quả đánh giá về đặc điểm nông
sinh học, các dòng nghiên cứu được chia làm 2 bộ thí nghiệm phục vụ công tác
đánh giá khả năng kết hợp về năng suất của các dòng chịu bệnh gỉ sắt:
- Bộ thí nghiệm 1: Gồm chủ yếu các dòng thuộc nhóm 1 (21dòng, ngoại trừ
dòng T5) và dòng DF2, bộ thí nghiệm này với số lượng dòng lớn được sử dụng thiết
kế lai đỉnh.
- Bộ thí nghiệm 2: Gồm các dòng thuộc nhóm 2, dòng C10N và dòng T5, bộ
thí nghiệm này sử dụng phương pháp luân phiên theo sơ đồ Griffing 4 thiết kế lai
luân phiên .
Kết quả đánh giá được trình bày trong các phần tiếp theo.
91
Nhóm Nhóm 1.1 1.1
Nhóm Nhóm 1.2 1.2
NHÓM 1 NHÓM 1
Nhóm Nhóm 1.3 1.3
Nhóm Nhóm 1.4 1.4
NHÓM 2
Hình 3.8. Sơ đồ hình cây về mối quan hệ di truyền của 30 dòng trên cơ sở
phân tích 29 locus SSR.
3.3.2 Khả năng kết hợp về năng suất của tập đoàn dòng chống chịu bệnh gỉ sắt
Tạo dòng thuần chưa phải là công đoạn khó khăn nhất của quá trình chọn tạo
giống ngô mà đánh giá dòng thông qua tổ hợp lai quan trọng hơn. Những thông tin
thu được từ khả năng kết hợp của dòng giúp xác định được giá trị của mỗi dòng
trong tập đoàn dòng và có được sự dự đoán tin cậy về ưu thế lai [12].
92
3.3.2.1 Đánh giá khả năng kết hợp về năng suất của tập đoàn dòng bằng
phương pháp lai đỉnh
Dựa trên kết quả phân nhóm cách biệt di truyền, dòng B67a (đại diện cho
nhóm hạt răng ngựa vàng) và dòng G2 (đại diện cho nhóm hạt dạng đá) được lựa
chọn làm cây thử trong bộ thí nghiệm 1. Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè
Thu 2010 tại Cư M’gar. Kết quả thể hiện ở Bảng 3.14.
Bảng 3.14. Khả năng kết hợp về năng suất của 20 dòng thí nghiệm nghiên cứu
Giá trị KNKH riêng
TT
Dòng
Giá trị KNKH chung
Phương sai KNKH riêng
Cây thử 1 (B67a) Cây thử 2 (G2)
-4,523
4,522
40,906
M67a
1
4,574
0,994
M67b
2
-1,209
-0,994
1,977
0,527
G3
3
-19,976
-0,528
0,557
-8,256
G17
4
-10,526
8,256
136,318
-12,856
G31
5
-7,492
12,856
330,545
11,111
G40
6
-10,326
-11,111
246,901
7,094
G41
7
-13,742
-7,094
100,654
3,177
G43
8
-9,659
-3,178
20,193
-2,256
G45
9
4,208
2,256
10,178
2,027
G46
10
14,258
-2,028
8,222
-0,989
G47
11
9,441
0,989
1,957
3,627
G286
12
10,158
-3,628
26,318
0,344
G288
13
1,141
-0,344
0,237
2,644
G289
14
-10,059
-2,644
13,983
-4,139
G1234
15
5,724
4,139
34,265
-2,539
G1235
16
1,658
2,539
12,895
1,261
G1237
17
10,524
-1,261
3,179
1,777
G1238
18
10,641
-1,778
6,319
│ -1,089
B67c
19
9,208
1,089
2,373
2,061
20
1,458
-2,061
8,494
DF2(đ/c)
Vụ Hè Thu 2010 tại Cư M’gar
Các dòng có giá trị khả năng kết hợp chung cao là G46 (14,258), tiếp đến
là các dòng G1238 (10,641), G1237 (10,524), G286 (10,158), G47 (9,441) và
93
B67c (9,208). Các dòng có giá trị khả năng kết hợp riêng cao với cây thử 1
(B67a) là 2 dòng G40 (11,111), G41 (7,094), với cây thử 2 (G2) là dòng G31
(12,856) và dòng G17 (8,256), 4 dòng có phương sai khả năng kết hợp riêng cao
lần lượt là dòng G31 (330,545), G40 (246,901), G17 (136,318) và G41 (100,654)
(Bảng 3.14).
Từ kết quả đánh giá khả năng kết hợp về năng suất của các dòng trong bộ thí
nghiệm 1 cho thấy các dòng G40, G41, G46, G47 (thuộc nhóm dòng được tạo ra từ
vật liệu C919); G1237, G1238 (P4097); G286 (Dekalb gold); B67c (NK67); G17,
G31 (CP888) là những dòng có các đặc tính quý về khả năng kết hợp, các dòng này
có thể bổ sung vào tập đoàn dòng phục vụ cho mục tiêu chọn tạo giống ngô lai năng
suất cao, chống chịu bệnh gỉ sắt. Trong đó đặc biệt là 6 dòng có khả năng chống
chịu bệnh gỉ sắt như dòng G45, G46, G47, G286, G1237, G1238 và B67c.
3.3.2.2 Đánh giá khả năng kết hợp về năng suất bằng phương pháp lai
luân phiên
Ở bộ thí nghiệm 2, tám dòng được đánh giá khả năng kết hợp về năng suất
bằng phương pháp lai luân phiên theo sơ đồ Griffing 4 vụ Hè Thu 2010 tại Buôn
Ma Thuột. Kết quả thí nghiệm qua được trình bày trong Bảng 3.15.
Bảng 3.15. Khả năng kết hợp về năng suất của 8 dòng thí nghiệm
TT
Tên dòng
Giá trị khả năng kết hợp chung (gi)
Phương sai khả năng kết hợp (si
2)
1
C3N
2,838
11,525
2
C2N
-4,340
44,234
3
C4N
5,665
37,054
4
C10N
5,010
3,126
5
C88N
-5,951
20,457
6
C89N
-8,474
69,422
7
T5
5,854
24,773
8
C90N
-0,601
82,073
Vụ Hè Thu 2010 tại Buôn Ma Thuột
Trong bộ thí nghiệm các dòng có khả năng kết hợp chung cao về năng suất là
94
C4N (5,665), C10N (5,010) và T5 (5,854), trong khi các dòng C89N và C90N có
phương sai khả năng kết hợp riêng cao. Đặc biệt, dòng C4N và C10N là 2 dòng có
khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt. Như vậy, có thể bổ sung các dòng này vào tập đoàn
dòng phục vụ công tác chọn tạo giống ngô lai chịu bệnh gỉ sắt.
Dựa vào kết quả đánh giá dòng về đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu
và khả năng kết hợp về năng suất đã xác định được các dòng có thời gian sinh trưởng,
đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu đáp ứng được mục tiêu của đề tài như các
dòng được tạo ra từ 5 nguồn vật liệu C919, P4097, Dekalb, NK67 và CP888. Đặc biệt 11
dòng có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt đồng thời có đặc tính quí về khả năng kết hợp
(khả năng kết hợp chung cao, phương sai khả năng kết hợp riêng cao về năng suất) là các
dòng G2, G45, G46, G47, G286, G1237, G1238, B67a, B67c, C4N và C10N.
Nhằm đánh giá khả năng ứng dụng các dòng chống chịu bệnh gỉ sắt trong
công tác chọn tạo giống ngô lai cho vùng Tây Nguyên, các tổ hợp lai đỉnh và lai
luân phiên được tiến hành khảo sát trong điều kiện sinh thái của vùng. Kết quả được
trình bày trong phần tiếp theo.
3.4 ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC, KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU, ƯU THẾ
LAI CỦA CÁC TỔ HỢP LAI ĐỈNH, LAI LUÂN PHIÊN VÀ CHỌN LỌC
CÁC TỔ HỢP LAI TRIỂN VỌNG
Đánh giá tổ hợp lai là khâu quan trọng trong công tác chọn tạo dòng, giống
lai. Từ kết quả đánh giá tổ hợp lai tại vùng nghiên cứu sẽ chọn được các tổ hợp lai
ưu tú và có thể đưa vào sản xuất [118].
Khảo sát các tổ hợp lai đỉnh và luân phiên được thực hiện trong vụ Hè Thu
năm 2010 tại 2 địa điểm Cư M’gar và Buôn Ma Thuột với 2 giống đối chứng là
NK67 và C919. Kết quả được trình bày chi tiết dưới đây.
3.4.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, ưu thế lai của các
tổ hợp lai đỉnh
Thông qua thí nghiệm lai đỉnh đánh giá thời gian sinh trưởng trong vụ Hè Thu
2010 tại Cư M’gar. Kết quả đánh giá các đặc tính sinh trưởng, đặc điểm hình thái
cây được trình bày tại Bảng 3.16.
95
Bảng 3.16. Thời gian sinh trưởng và đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai đỉnh
Chiều cao cây
TT
Tổ hợp lai
Từ Gieo đến … (ngày)
TGST (ngày)
PR 55 57 55 56 56 56 56 56 56 56 57 55 58 58 58 58 58 58 58 58 58 58 58 57 57 57 57 57 57 57 56 57 57 57 58 57 57 57 56 56,0 58,0 58,0
109 109 108 108 107 109 106 110 110 109 108 109 108 106 106 106 110 109 110 107 108 110 110 106 107 106 110 109 108 109 107 107 106 110 110 108 107 106 106 109 109 107
TP 54 55 54 54 54 54 53 54 53 54 54 54 56 56 56 56 56 56 56 56 56 57 56 54 55 56 55 55 55 55 55 55 55 54 55 55 55 55 54 54 57 56
Chiều cao đóng bắp (cm) CV% 76,0 68,6 57,4 78,2 69,2 81,2 74,2 95,0 95,0 83,4 85,0 91,2 66,4 76,4 97,8 80,8 78,6 77,2 81,0 81,8 79,8 75,2 80,0 85,0 83,0 85,6 80,0 85,0 88,0 83,6 82,4 86,6 89,0 84,2 88,2 85,0 89,2 89,4 92,8 91,8 96,8 92,0
9,4 12,7 6,7 6,3 5,1 3,4 7,7 6,3 6,7 9,2 11,7 5,9 10,2 8,1 5,7 5,1 9,8 9.1 12,7 7,8 11,3 14,6 12,3 10,9 8,9 7,9 3,4 6,6 7,7 4,3 12,4 11,4 8,5 4,4 11,0 6,8 8,9 7,8 9,3 6,0 6,7 5,9
CV% 11,2 6,7 3,9 5,8 6,9 4,3 13,2 14,1 11,2 6,8 4,5 8,8 9,3 5,9 9,4 5,9 6,7 6,3 5,1 3,4 7,7 6,3 8,8 6,3 4,4 5,9 7,7 8,1 4,3 5,1 11,4 8,5 12,7 8,9 3,4 14,6 12,3 10,9 6,7 7,9 6,0 4,3
(cm) 187,2 173,2 156,0 177,4 185,6 202,2 178,2 203,4 191,2 189,4 211,2 205,8 192,0 185,6 185,0 183,2 179,4 184,2 170,2 172,2 173,4 170,6 181,4 177,8 176,2 189,8 183,8 191,2 164,8 185,6 187,6 188,8 187,8 195,8 193,2 168,6 200,2 189,6 190,6 192,8 203,5 195,3
1 M67a 2 M67b G3 3 G17 4 G31 5 G40 6 G41 7 G43 8 G45 9 G46 10 G47 11 G286 12 G288 13 14 G289 15 G1234 16 G1235 17 G1237 18 G1238 B67c 19 DF2 20 21 M67a 22 M67b G3 23 G17 24 G31 25 G40 26 G41 27 G43 28 G45 29 G46 30 G47 31 G286 32 G288 33 34 G289 35 G1234 36 G1235 37 G1237 38 G1238 B67c 39 40 DF2 41 NK67 C919 42
x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x
B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2
Vụ Hè Thu 2010 tại Cư M’gar; TP - Tung phấn; PR - Phun râu
96
Thời gian từ gieo - tung phấn của các tổ hợp lai với cây thử B67a có biến động từ
53 - 56 ngày ngắn hơn so với đối chứng NK67, thời gian từ gieo - tung phấn của các tổ
hợp lai với cây thử G2 từ 54 - 57 tương đương với 2 giống đối chứng NK67 (57 ngày), và
C919(56 ngày). Tương tự, các tổ hợp lai với 2 cây thử có thời gian từ gieo - phun râu từ
55 đến - 58 ngày, sớm hơn hoặc tương đương với 2 đối chứng NK67, C919 (58 ngày).
Thời gian sinh trưởng của các tổ hợp lai với 2 cây thử biến động từ 106 -110
ngày. Những tổ hợp lai với 2 cây thử có thời gian sinh trưởng ngắn hơn so với 2 đối
chứng là G41 x B67a, G289 x B67a, G1234 x B67a, G1235 x B67a, G40 x G2 , G288
x G2, G1238 x G2, B67c x G2 (106 ngày). Các tổ hợp lai với 2 cây thử còn lại có thời
gian sinh trưởng tương đương giống đối chứng NK67 (109 ngày) và C919 (107 ngày).
Về chiều cao cây: các tổ hợp lai có chiều cao cây trung bình, biến động từ
156,0 -211,2 cm, thấp hơn hoặc tương đương so với 2 giống đối chứng NK67 (203,5
cm), C919 (195,3 cm).
Chiều cao đóng bắp của các tổ hợp lai biến động từ 57,4 - 97,8 cm. Tổ hợp
lai có chiều cao đóng bắp cao nhất là G1234 × B67a (97,8 cm). Các tổ hợp lai có
chiều cao đóng bắp cao hơn giống đối chứng C919 là G43 × B67a, G45 × B67a và
B67c × G2. Các tổ hợp lai còn lại có chiều cao đóng bắp thấp hơn so với chiều cao
đóng bắp của 2 giống đối chứng NK67 (96,8 cm) và C919 (92 cm).
Các tổ hợp lai đồng đều về đặc điểm hình thái thể hiện ở hệ số biến động
CV% < 15% ở cả 2 chỉ tiêu theo dõi là chiều cao cây và chiều cao đóng bắp.
Như vậy, các tổ hợp lai với 2 cây thử B67a, G2 đều có thời gian sinh trưởng
thuộc nhóm chín trung bình sớm, thời gian chênh lệch tung phấn phun râu ngắn (1 -3
ngày) thuận lợi cho quá trình thụ phấn, có chiều cao cây, chiều cao đóng bắp vừa phải.
Khả năng chống chịu
Khả năng chống chịu của các tổ hợp lai đỉnh được theo dõi thông qua một số
chỉ tiêu: Chống chịu bệnh khô vằn, gỉ sắt và đốm lá. Khả năng chống chịu của các
tổ hợp lai đỉnh được thể hiện ở Bảng 3.17.
97
Bảng 3.17. Khả năng chống chịu của các tổ hợp lai đỉnh
TT
THL
M67a X B67a M67b X B67a X B67a G3 X B67a G17 X B67a G31 X B67a G40 X B67a G41 X B67a G43 X B67a G45 X B67a G46 G47 X B67a G286 X B67a G288 X B67a G289 X B67a G1234 X B67a G1235 X B67a G1237 X B67a G1238 X B67a B67c X B67a DF2 X B67a M67a X G2 M67b X G2 X G2 G3 X G2 G17 X G2 G31 X G2 G40 X G2 G41 X G2 G43 X G2 G45 X G2 G46 G47 X G2 G286 X G2 G288 X G2 G289 X G2 G1234 X G2 G1235 X G2 G1237 X G2 G1238 X G2 B67c X G2 X G2 DF2
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42
NK67 (đ/c) C919 (đ/c)
Khô vằn (điểm 1 - 5) 2 2 1 2 2 2 2 1 2 2 2 2 2 1 2 2 2 2 1 1 1 2 2 1 2 1 1 3 2 2 2 2 1 2 2 3 2 2 1 2 1 2
Đốm lá lớn (điểm 1 - 5) 2 2 2 2 2 2 2 1 2 2 1 1 1 1 2 2 1 2 1 1 1 1 2 1 2 1 1 2 2 1 2 2 1 2 2 1 2 2 2 2 2 2
Đốm lá (điểm 1 - 5) 2 2 2 2 2 2 2 2 3 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 2 2 2 2 2 3 2 2 2 2 3 2 3 2
Gỉ sắt (điểm 1 - 5) 3 2 2 2 3 2 1 2 3 1 2 1 1 2 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3 1 2 3 2 1 2 3 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 Vụ Hè Thu 2010 tại Cư M’gar
98
Kết quả đánh giá khả năng chống chịu của các dòng nghiên cứu ở Buôn Ma
Thuột vụ Hè Thu cho thấy, nhìn chung các tổ hợp lai với 2 cây thử B67a và G2 có
khả năng đều chống chịu khá tốt với các điều kiện bất thuận.
Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt: Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các
tổ hợp lai biến động từ điểm 1-3. Các tổ hợp lai có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt
tốt là : G41 x B67a, G46 x B67a, G286 x B67a, G288 x B67a, G1234 x B67a, G40
x G2, G46 x G2, G288 x G2 (điểm 1). Các tổ hợp lai chống chịu bệnh kém hơn so
với giống đối chứng là M67a × B67a, G13 × B67a, G45 × B67a, G31 × G2, G43 ×
G2, G246 × G2 (điểm 3). Các tổ hợp lai còn lại có khả năng chịu bệnh gỉ sắt tương
đương với 2 giống đối chứng NK67, C919 (điểm 2).
Khả năng chống chịu bệnh khô vằn: Khả năng chống chịu bệnh khô vằn của
các tổ hợp lai cũng biến động từ điểm 1-3. Các tổ hợp lai có khả năng chống chịu
bệnh khô vằn tốt tương đương với giống đối chứng NK67 là G3 x B67a, G43 x B67a,
G289 x B67a B67c x B67a, G17 x G2, G40 x G2, G41 x G2, G288 x G2và B67c x
G2 (điểm 1). Chỉ có 2 tổ hợp lai có khả năng chống chịu bệnh kém hơn so với giống
đối chứng 2 là G43 × G2, G1235 × G2 (điểm 3). Các tổ hợp lai còn lại khả năng
chống chịu bệnh khô vằn tương đương với giống đối chứng C919 (điểm 2).
Khả năng chống chịu bệnh đốm lá: Các tổ hợp lai có khả năng chống chịu
bệnh đốm lá lớn khá tốt (điểm 1 - 2), bệnh đốm lá nhỏ khá (điểm 2 - 3) tương đương
với giống đối chứng C919 (điểm 2), NK67 (điểm 3).
Một số yếu tố cấu thành năng suất
Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai được thể hiện ở bảng 3.18.
Chiều dài bắp của các tổ hợp lai biến động từ 15,8 - 22,5cm tương đương với
chiều dài bắp của 2 giống đối chứng NK67 (18,0 cm), C919 (17,3 cm). Tổ hợp lai
G46 x B67a có chiều dài bắp dài nhất 22,5cm.
Đường kính bắp của các tổ hợp lai biến động từ 4,2- 5,5cm. Các tổ hợp lai có
đường kính bắp lớn hơn so với đối chứng là G46 x B67a, M67a x B67a, M67b x
B67a, G31 x B67a, G41 x B67a, G43 x B67a, G286 x B67a, G1237 x B67a, G1238
x B67a, B67c x B67a, M67a x G2, G17 x G2, G31 x G2, G45 x G2, G46 x G2,
G288 x G2, G289 x G2. Các tổ hợp lai còn lại tương đương với đường kính bắp của
2 giống đối chứng NK67 (4,7 cm), C919 (4,6 cm).
99
Bảng 3.18. Yếu tố cấu thành năng suất các tổ hợp lai đỉnh
Số hàng hạt
Chiều dài bắp
Đường kính bắp
số hạt/hàng
TT
Tổ hợp lai
P1000 hạt (g)
Hạt/ bắp (%)
Cm CV% Cm CV% hàng CV% hạt CV% 9,7 40,5 11,0 11,3 38,5 7,7 7,9 34,0 12,1 8,8 38,0 6,9 9,9 38,5 8,4 6,9 35,5 6,6 5,7 33,5 11,7 13,1 37,0 7,7 9,6 39,5 5,6 8,7 35,0 7,3 6,6 37,0 7,4 8,9 38,0 5,6 9,4 35,5 14,1 5,7 39,5 11,5 9,3 37,0 6,8 6,9 40,5 6,9 11,8 40,0 11,3 12,2 37,5 5,7 12,7 41,0 13,2 8,8 42,5 6,9 8,3 40,5 8,4 5,8 33,0 12,2 9,1 38,5 12,2 11,8 39,5 7,7 12,2 33,5 12,3 13,2 35,0 9,9 6,7 32,0 14,9 6,9 33,5 11,8 14,6 33,0 6,7 13,7 35,5 11,3 12,8 34,5 12,3 14,9 34,0 8,1 13,2 38,5 5,4 14,1 37,0 14,9 11,2 39,5 7,7 9,7 33,5 9,1 7,7 35,5 9,7 7,3 32,0 12,2 5,9 37,5 11,5 8,2 28,5 7,8 5,7 38,2 7,3 6,6 34,3 6,1
14 15 14 14 12 12 15 14 15 14 12 15 12 13 16 14 14 13 13 14 14 15 13 14 15 13 13 12 14 13 13 16 13 14 14 14 12 15 14 12 13,6 13,3
380,4 350,0 353,9 293,0 328,7 315,9 361,4 348,6 273,5 332,7 314,6 310,2 317,7 307,5 353,9 296,0 349,5 334,9 338,0 275,3 287,7 296,5 298,3 287,2 375,1 295,2 292,1 290,3 331,0 345,1 338,0 331,8 332,3 281,9 337,6 343,3 335,4 328,7 312,8 289,4 313,5 310,2
80,3 79,4 80,3 80,0 78,0 81,7 78,9 74,4 82,0 83,8 81,7 80,6 74,4 83,3 80,0 75,0 76,9 81,8 76,9 77,8 80,0 75,0 73,3 75,0 71,1 77,0 78,9 71,6 77,6 81,5 80,0 76,2 80,0 80,6 75,0 76,9 78,0 75,0 72,1 75,0 75,0 73,8
8,8 1 M67a X B67a 20,5 11,3 4,7 6,7 2 M67b X B67a 18,5 12,0 5,0 4,6 3 7,9 G3 X B67a 21,0 8,8 4,5 11,2 4 G17 X B67a 19,6 8,4 4,8 13,6 5 G31 X B67a 16,5 9,2 4,3 14,8 6 G40 X B67a 17,6 9,6 5,0 11,4 7 G41 X B67a 18,8 5,7 5,5 8 G43 X B67a 17,3 9,9 5,8 4,3 14,9 9 G45 X B67a 15,8 6,9 6,7 10 G46 X B67a 22,5 11,3 4,8 6,3 11 G47 X B67a 19,5 12,2 4,5 8,9 4,8 12 G286 X B67a 19,3 5,4 8,8 4,2 13 G288 X B67a 17,4 7,7 4,6 12,3 14 G289 X B67a 17,0 7,4 4,3 14,7 15 G1234 X B67a 19,8 6,9 4,6 11,2 16 G1235 X B67a 18,5 8,2 8,5 17 G1237 X B67a 17,2 10,4 4,9 6,9 18 G1238 X B67a 20,4 11,5 4,7 9,6 4,8 19 B67c X B67a 20,0 6,4 4,6 20 DF2 X B67a 19,6 5,9 9,5 4,9 12,3 21 M67a X G2 18,0 6,7 22 M67b X G2 17,3 6,3 4,5 11,6 23 G3 X G2 16,5 12,4 4,5 14,3 4,8 12,3 24 G17 X G2 17,5 6,8 5,1 13,5 25 G31 X G2 20,3 7,3 26 G40 X G2 17,4 8,4 4,3 12,5 27 G41 X G2 18,5 11,9 4,3 14,6 7,3 28 G43 X G2 19,6 12,7 4,5 6,9 4,9 29 G45 X G2 16,8 6,6 4,8 30 G46 X G2 18,6 5,9 5,4 4,5 13,7 31 G47 X G2 18,7 7,4 8,3 5,2 32 G286 X G2 18,0 7,8 9,7 4,8 33 G288 X G2 18,2 8,1 7,7 34 G289 X G2 20,8 8,4 5,2 7,9 35 G1234 X G2 17,3 12,3 4,6 8,8 36 G1235 X G2 17,5 14,9 4,6 8,4 37 G1237 X G2 16,6 11,5 4,5 4,3 38 G1238 X G2 16,5 7,4 6,9 4,5 11,7 39 B67c X G2 17,5 7,3 4,8 13,1 40 DF2 X G2 17,9 6,4 5,6 18,0 9,2 41 NK67 (đ/c) 4,7 17,3 11,3 4,6 8,7 42 C919 (đ/c) Vụ Hè Thu 2010 tại Cư M’gar
100
Các tổ hợp lai có số hàng hạt biến động từ 12 - 16 hàng hạt, số hạt/hàng biến
động từ 32 - 42,4 hạt/hàng tương đương với 2 giống đối chứng.
Khối lượng 1000 hạt có sự biến động lớn giữa các tổ hợp lai, dao động từ
275,3 - 375,1 g. Nhìn chung, các tổ hợp lai có khối lượng 1000 hạt tương đương 2
giống đối chứng NK67 (313,5 g), C919 (310,2 g). Tổ hợp lai M67a x B67a có khối
lượng 1000 hạt cao nhất (380,4g), ngược lại tổ hợp lai G45 x B67a có khối lượng
1000 hạt thấp nhất (275,3 g).
Tỷ lệ hạt/bắp của các tổ hợp lai biến động từ 71,1 - 83,8%. Có 28 tổ hợp lai có
tỷ lệ hạt/bắp cao hơn 2 giống đối chứng NK67 (75,0%), C919 (73,8%), trong đó tổ hợp
lai M67 x B67a có tỷ lệ hạt/bắp cao nhất (89,4%), tiếp theo là G46 x B67a (87,8%).
Các tổ hợp lai có hình dạng hạt chủ yếu là bán răng ngựa, một số là bán đá, răng
ngựa và đá, màu sắc hạt đẹp (Hình 3.9), hệ số biến động CV% ở cả 4 chỉ tiêu theo dõi
về yếu tố cấu thành năng suất đều <15%. Điều này chứng tỏ các tổ hợp lai đạt độ đồng
đều cao.
Năng suất và ưu thế lai về năng suất
Năng suất của các tổ hợp lai đỉnh
Năng suất là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh rõ nét nhất về đặc điểm di
truyền của giống cũng như tình hình sinh trưởng và phát triển của cây ngô dưới tác
động của các yếu tố môi trường. Kết quả khảo sát về các tổ hợp lai đỉnh được trình
bày ở Bảng 3.19.
Có sự khác nhau về năng suất giữa các tổ hợp lai cũng như so sánh với giống
đối chứng. Năng suất của tổ hợp lai biến động từ 56,3 - 92,9 tạ/ha. Các tổ hợp lai
G46 x B67a, G47 x B67a, G286 x B67a, G1237 x B67a, G1238 x B67a, M67a x G2,
G45 x G2, G46 x G2, G47 x C2, G286 x G2, G1234 x G2, G1237 x G2, G1238 x G2,
(73,2 tạ/ha) chắc chắn, trong đó năng suất của 2 tổ hợp lai G46 x B67a (92,9 tạ/ha),
B67c x G2 có năng suất (> 83 tạ/ha) vượt cả 2 đối chứng NK67 (76,4 tạ/ha), C919
G46 x G2 (91,9 tạ/ha) là cao nhất. Kết quả này phù hợp với kết quả phân nhóm đa
hình di truyền của các dòng, cả 14 tổ hợp lai có năng suất cao đều có các dòng bố
mẹ ở các phân nhóm cách biệt di truyền khác nhau.
101
Bảng 3.19. Năng suất và ưu thế lai của các tổ hợp lai đỉnh
TT
Tổ hợp lai
NS (tạ/ha) Hmp (%)
B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a B67a G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2 G2
M67a M67b G3 G17 G31 G40 G41 G43 G45 G46 G47 G286 G288 G289 G1234 G1235 G1237 G1238 B67c DF2 M67a M67b G3 G17 G31 G40 G41 G43 G45 G46 G47 G286 G288 G289 G1234 G1235 G1237 G1238 B67c DF2
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42
143,1 157,9 95,4 92,9 92,3 172,2 139,9 119,3 146,7 200,9 176,6 205,9 155,5 115,7 158,6 159,2 191,4 188,7 201,7 181,4 177,6 157,8 99,3 154,4 186,3 101,7 98,8 106,2 166,8 193,6 188,9 187,4 159,5 105,9 191,9 182,8 189,0 183,1 215,4 173,5
Hs (%) (NK67) 0,4 0,0 -25,1 -24,3 -26,3 1,4 -8,4 -8,2 2,9 21,6 11,4 18,4 2,3 -9,4 2,4 -0,8 15,8 16,6 11,0 4,9 16,2 1,4 -22,5 1,4 11,3 -23,7 -22,9 -12,5 12,8 20,3 18,0 12,9 5,4 -12,3 17,2 9,8 16,4 15,9 17,8 3,5
Hs (%) (C919) 4,8 4,4 -21,9 -20,9 -23,1 5,8 -4,4 -4,1 7,4 27,0 16,3 23,5 6,7 -5,4 6,9 3,5 20,8 21,7 15,8 9,5 21,3 5,9 -19,1 5,8 16,2 -20,4 -19,6 -8,7 17,7 25,6 23,1 17,8 10,0 -8,5 22,4 14,6 21,5 21,0 23,0 8,0
76,7 76,4 57,2 57,9 56,3 77,4 70,0 70,2 78,6 92,9 85,1 90,4 78,1 69,2 78,2 75,8 88,4 89,1 84,8 80,2 88,8 77,5 59,2 77,4 85,1 58,3 58,9 66,9 86,2 91,9 90,1 86,2 80,5 67,0 89,6 83,9 89,0 88,6 90,0 79,1 76,4 73,2 3,87 4,903
X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X X NK67 (đ/c) C919(đ/c) CV% LSD0,05 Vụ Hè Thu 2010 tại Cư M’gar Ghi chú: Hmp- ưu thế lai trung bình; Hs - Ưu thế chuẩn
102
Đánh giá ưu thế lai về năng suất
Đánh giá sự khác nhau về năng suất giữa các tổ hợp lai và so sánh với đối
chứng một cách cụ thể hơn, với ý nghĩa thực tiễn hơn đánh giá ưu thế lai về năng
suất của các tổ hợp lai được tiến hành. Bao gồm đánh giá ưu thế lai trung bình
(Hmp), ưu thế lai chuẩn (Hs) trên cơ sở số liệu khảo sát tổ hợp lai đỉnh và dòng bố
mẹ (phụ lục 12) vụ Hè Thu 2010 tại Cư M’gar.
Các tổ hợp lai đều có ưu thế lai trung bình khá cao, giá trị Hmp biến động từ
92,3 - 215,4%, trong đó 3 tổ hợp lai G286 x B67a (205,8%), G46 x B67a (200,9%)
và G46 x G2 (193,6%) có giá trị Hmp cao nhất.
Ưu thế lai chuẩn (Hs) được đánh giá dựa trên việc so sánh năng suất của các
tổ hợp lai với năng suất của 2 giống đối chứng. Kết quả cho thấy, có 27/40 tổ hợp
có Hs đạt giá trị dương so với cả 2 giống đối chứng. Trong đó, có 2 tổ hợp lai có giá
trị Hs cao nhất là G46 x B67a (lần lượt so với giống đối chứng NK67 là 21,6% và
C919 là 27,0%), G46 x G2 (lần lượt so với giống đối chứng NK67 là 20,3% và
C919 là 25,6%).
Từ kết quả khảo sát tổ hợp lai đỉnh ở bộ thí nghiệm 1, xác định được 2 tổ hợp
lai G46 x B67a và G46 x G2 có đặc điểm nông sinh học quý như thời gian sinh
trưởng trung bình sớm, dạng cây thoáng gọn, dạng bắp trụ dài (Hình 3.9), khả năng
chống chịu khá, đặc biệt là bệnh gỉ sắt, năng suất cao đạt >90 tạ/ha cao hơn so với 2
giống đối chứng NK67, C919.
Hình 3.9. Ảnh bắp của một số tổ hợp lai đỉnh và đối chứng
3.4.2 Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, ưu thế lai của các
tổ hợp lai luân phiên
Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây và chiều cao đóng bắp
Kết quả trình bày tại Bảng 3.20.
103
Bảng 3.20. Thời gian sinh trưởng và đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai luân phiên
Chiều cao cây Chiều cao đóng bắp
Từ gieo đến … (ngày) TGST
TT Tổ hợp lai
(ngày)
tung phấn phun râu
cm CV%
CV%
cm
1 C3N x C2N
55
58
109
194,5
7,2
81,4
5,8
2 C3N x C10N
54
57
106
190,7
6,8
77,0
14,3
3 C3N x C4N
55
58
106
189,4
7,9
71,4
8,8
4 C3N x C88N
54
58
106
192,7
5,1
71,6
6,3
5 C3N x C89N
55
58
106
183,7 11,2
75,0
14,7
6 C3N x T5
54
58
109
182,6 13,6
69,0
7,9
7 C3N x C90N
53
57
109
186,1 14,7
76,4
13,6
8 C2N x C10N
54
58
106
192,7
8,8
70,6
8,5
9 C2N x C4N
54
58
106
186,3 14,8
69,6
11,4
10 C2N x C88N
55
58
109
174,7
6,7
75,2
6,8
11 C2N x C89N
54
58
106
184,6
8,9
83,6
6,7
12 C2N x T5
54
58
106
182,4 13,6
66,8
7,2
13 C2N x C90N
54
58
106
197,8
5,8
61,0
12,3
14 C10N x C4N
54
58
106
194,7 11,4
80,2
7,3
15 C10N x C88N
54
58
109
196,9 14,7
66,0
11,2
16 C10N x C89N
54
58
106
195,6 14,9
78,8
3,9
17 C10N x T5
53
56
109
195,1 11,2
87,6
14,1
18 C10N x C90N
53
57
111
189,2
6,3
83,8
6,7
19 C4N x C88N
54
56
106
199,5
8,5
82,6
4,3
20 C4N x C89N
53
58
109
197,6
8,8
73,6
13,2
21 C4N x T5
54
58
111
196,7 12,3
74,0
4,5
22 C4N x C90N
53
58
106
199,5
9,6
75,8
9,5
23 C88N x C89N
54
58
106
198,2 11,2
69,6
6,8
24 C88N x T5
56
58
111
181,7 12,5
88,6
12,7
25 C88N x C90N
56
58
109
185,0
6,9
83,2
8,8
26 C89N x T5
53
58
106
182,4 13,5
78,6
12,8
27 C89N x C90N
53
58
106
199,3
9,5
72,8
5,8
28 T5 x C90N
54
56
109
182,8
6,7
76,6
6,9
29 NK67 (đ/c)
53
56
109
195,6 11,6
74,0
6,6
106
181,3
8,9
71,4
5,9
30 C919 (đ/c)
57
53 Vụ Hè Thu 2010 tại Buôn Ma Thuột
104
Các tổ hợp lai có thời gian từ gieo - tung phấn biến động từ 53 - 55 ngày, thời
gian từ gieo - phun râu từ 56 - 58 ngày tương đương với 2 đối chứng NK67, C919.
Nhìn chung, các tổ hợp lai thuộc nhóm chín trung bình sớm. Thời gian sinh
trưởng của các tổ hợp lai biến động từ 106 - 111 ngày. Những tổ hợp lai có thời
gian sinh trưởng ngắn tương đương với đối chứng C919 là C3N x C10N, C3N x
C4N, C3N x C88N, C3N x C89N, C2N x C89N, C2N x T5, C2N x C90N, C2N x
C4N, C10N x C89N, C4N x C88N, C4N x C90N, C88N x C89N, C89N x T5,
C89N x C90N (106 ngày). Ba tổ hợp lai có thời gian sinh trưởng dài hơn so với đối
chứng NK67 hai ngày là C10N x C90N, C4N x T5, C88N x T5. Các tổ hợp lai còn
lại có thời gian sinh trưởng tương đương giống đối chứng NK67 (109 ngày).
Các tổ hợp lai có chiều cao cây biến động từ 174,7 - 199,5 cm tương đương
với 2 đối chứng NK67 (195,6 cm), C919 (181,3). Tương tự, chiều cao đóng bắp của
các tổ hợp lai cũng có sự dao động từ 61,0 cm - 88,6 cm tương đương so với 2 đối
chứng NK67 (74,0 cm), C919 (71,4 cm).
Kết quả Bảng 3.20 cũng cho thấy, các tổ hợp lai đồng đều về đặc điểm hình
thái thể hiện ở hệ số biến động CV% < 15% ở cả 2 chỉ tiêu theo dõi về đặc điểm
hình thái chiều cao cây và chiều cao đóng bắp.
Như vậy, các các tổ hợp lai đều có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín
trung bình sớm, chênh lệch tung phấn phun râu ngắn, thuận lợi cho quá trình thụ
phấn, có chiều cao cây, chiều cao đóng bắp vừa phải.
Khả năng chống chịu
Khả năng chống chịu của các các tổ hợp lai được thể hiện ở Bảng 3.21.
Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt: Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các tổ
hợp lai khá tốt, biến động từ điểm 1 - 2. Các tổ hợp lai có khả năng chống chịu bệnh
gỉ sắt tốt hơn cả 2 giống đối chứng NK67 (điểm 2) và C919 (điểm 3) là: C3N x C2N,
C3N x C10N, C3N x C88N, C3N x C89N, C2N x C4N, C2N x T5, C10N x C4N,
C10N x C88N, C10N x C89N, C10N x T5, C10N x C90N, C4N x C88N, C88N x
T5, C88N x C90N (điểm 1). Các tổ hợp lai còn lại có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt
tương đương với giống đối chứng NK67.
105
Bảng 3.21. Khả năng chống chịu của các tổ hợp lai luân phiên
STT
Tổ hợp lai
Khô vằn (điểm 1- 5)
Gỉ sắt (điểm 1- 5)
Đốm lá lớn (điểm 1- 5)
Đốm lá nhỏ (điểm 1- 5)
1 C3N x C2N
1
1
1
1
2 C3N x C10N
1
1
2
2
3 C3N x C4N
2
2
2
2
4 C3N x C88N
1
2
2
2
5 C3N x C89N
1
2
1
2
6 C3N x T5
2
2
2
2
7 C3N x C90N
2
2
2
2
8 C2N x C10N
2
2
2
2
9 C2N x C4N
1
2
2
2
10 C2N x C88N
2
2
1
2
11 C2N x C89N
2
2
2
2
12 C2N x T5
1
1
1
1
13 C2N x C90N
2
2
2
2
14 C10N x C4N
1
2
1
2
15 C10N x C88N
1
3
2
2
16 C10N x C89N
1
3
2
2
17 C10N x T5
1
3
2
2
18 C10N x C90N
1
3
2
2
19 C4N x C88N
1
3
2
2
20 C4N x C89N
2
2
2
2
21 C4N x T5
2
2
2
2
22 C4N x C90N
2
2
2
2
23 C88N x C89N
2
2
2
2
24 C88N x T5
1
2
3
2
25 C88N x C90N
1
2
1
2
26 C89N x T5
2
2
2
2
27 C89N x C90N
2
3
3
2
28 T5 x C90N
2
3
3
2
29 NK67 (đ/c)
2
2
2
2
30 C919 (đ/c)
3
2
1
2
Vụ Hè Thu 2010 tại Buôn Ma Thuột
Ghi chú: Điểm 1-5: chống chịu tốt nhất - kém nhất
106
Khả năng chống chịu bệnh khô vằn: Khả năng chống chịu bệnh khô vằn của
các tổ hợp lai khá, biến động từ điểm 1 - 3. Các tổ hợp lai có khả năng chống chịu
bệnh khô vằn tốt hơn so với 2 giống đối chứng NK67, C919 (điểm 2) là C3N x
C2N, C3N x C10N, C2N x T5 (điểm 1). Các tổ hợp lai có khả năng chống chịu
bệnh khô vằn kém hơn so với 2 giống đối chứng là C10N x C88N, C10N x C89N,
C10N x T5, C10N x C90N, C4N x C88N, C89N x C90N, T5 x C90N (điểm 3). Các
tổ hợp lai có khả năng chống chịu bệnh khô vằn tương đương với khả năng chống
chịu bệnh khô vằn của giống đối chứng.
Khả năng chống chịu bệnh đốm lá: Các tổ hợp lai có khả năng chống chịu
bệnh đốm lá lớn khá, biến động từ điểm 1 - 3, có khả năng chống chịu bệnh đốm lá
nhỏ khá tốt từ điểm 1- 2, tương đương với khả năng chống chịu bệnh đốm lá của 2
giống đối chứng NK67 và C919.
Như vậy, nhìn chung các tổ hợp lai luân phiên có khả năng chống chịu khá
tốt với các điều kiện bất thuận, đặc biệt là bệnh gỉ sắt và bệnh đốm lá nhỏ.
Một số yếu tố cấu thành năng suất
Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai được thể hiện ở Bảng 3.22.
Chiều dài bắp của các tổ hợp lai biến động từ 15,4- 20,0 cm tương đương với
chiều dài bắp của 2 giống đối chứng NK67 (17,6 cm), C919 (19,8 cm). Tổ hợp
C89N x T5 có chiều dài bắp dài nhất 19,7 cm.
Đường kính bắp của các tổ hợp lai biến động từ 4,3- 5,2cm cao hơn hoặc
tương đương so với đối chứng NK67 (4,7cm). Tổ hợp lai có đường kính bắp lớn
hơn so với giống đối chứng C919 (5,0 cm) là C89N x T5 (5,2 cm)
Các tổ hợp lai có số hàng hạt biến động từ 12,4 - 16,4 hàng hạt và số
hạt/hàng biến động từ 31,6 - 43,8 hạt/hàng tương đương với 2 giống đối chứng.
Khối lượng 1000 hạt có sự biến động từ 279,7 - 378,6 g tương đương với 2
giống đối chứng. Tổ hợp lai C88N x C90N có khối lượng 1000 hạt cao nhất (378,6
g), ngược lại tổ hợp lai C10N x T5 có khối lượng 1000 hạt thấp nhất (279,7 g).
107
Bảng 3.22. Yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai luân phiên
Chiều dài bắp
Đường kính bắp
TT Tổ hợp lai
số hàng hạt số hạt/hàng P1000 hạt (g)
Tỷ lệ hạt/bắp (%)
cm CV% Cm CV% Hàng CV% Hạt CV%
1 C3N x C2N
17,4 6,4
12,8
5,8 40,2 6,1
340,7
4,6
3,4
80,0
2 C3N x C10N 18,9 5,3
12,4 13,2 40,4 5,8
338,2
4,3
4,9
85,2
3 C3N x C4N
16,0 4,8
15,2
6,3 35,8 6,1
296,0
4,9
6,9
78,2
4 C3N x C88N 16,6 6,1
12,4
7,8 37,4 9,6
305,5
4,3
8,6
81,6
5 C3N x C89N 17,2 4,9
4,3 11,4 14,4
6,1 34,6 4,8
283,1
78,8
6 C3N x T5
16,4 4,8
4,6
5,1
12,8
9,1 36,6 5,4
339,9
81,8
7 C3N x C90N 18,6 5,8
4,7
7,9
12,4
4,8 39,8 6,2
351,9
81,5
8 C2N x C10N 15,4 6,2
4,5 12.6 13,2
6,8 38,6 7,4
315,8
82,3
9 C2N x C4N
18,0 8,6
4,4
13,6
7,9 39,4 4,8
290,8
6,6
79,2
10 C2N x C88N 16,4 6,9
4,3
13,2
7,7 35,4 6,6
280,5
7,9
84,2
11 C2N x C89N 17,0 4,8
4,6
14,0
8,8 33,6 4,9
333,9
7,7
80,4
12 C2N x T5
17,9 7,9
4,7
15,2
8,4 34,4 8,6
299,4
4,8
77,5
13 C2N x C90N 16,8 6,9
4,5
13,2
4,4 33,4 12,6 318,4
6,9
80,0
14 C10N x C4N 16,7 6,6
4,7 14,6 12,8
7,8 33,2 6,1
352,8
83,8
15 C10N x C88N 16,6 12,0 5,0
16,4
5,8 31,6 7,9
322,7
8,8
79,3
16 C10N x C89N 17,3 7,7
4,8
15,2 13,3 32,0 8,6
317,5
5,6
80,9
17 C10N x T5
16,9 8,8
4,9 12,0 14,0 12.6 32,0 6,2
319,7
79,4
18 C10N x C90N 17,9 8,6
4,9
15,6
7,4 31,8 6,9
310,6
8,7
77,5
19 C4N x C88N 16,8 4,4
4,8
15,6
5,1 33,8 8,2
329,6
9,1
77,2
20 C4N x C89N 16,3 6,1
5,0
14,8
6,8 29,6 13,4 345,2
7,3
77,2
21 C4N x T5
17,2 5,8
5,0
13,6
7,9 38,4 10,8 342,4
6,2
77,8
22 C4N x C90N 16,9 14,3 4,9 11,7 14,0 11,4 33,2 6,5
359,7
79,2
23 C88N x C89N 17,1 8,4
4,6 13,2 15,6
5,8 38,0 5,4
306,6
80,5
24 C88N x T5
18,3 13,4 5,0
14,0
7,9 36,6 8,4
359,7
6,3
79,7
25 C88N x C90N 17,9 14,1 4,6
12,0
8,6 37,0 8,0
378,6
7,8
79,2
26 C89N x T5
19,7 8,2
5,2
15,6
7,6 43,8 14,1 282,2
9,6
74,3
27 C89N x C90N 16,0 7,6
4,6
16,0
4,8 36,0 11,6 290,5
9,1
78,3
28 T5 x C90N
19,1 10,8 4,2
12,8
6,7 35,8 7,4
337,5
5,4
76,9
29 NK67 (đ/c)
17,6 6,7
4,7
13,8
5,9 34,4 7,1
361,4
6,8
78,1
30 C919 (đ/c)
19,8 5,4
5,0
14,8
7,5 38,2 8,9
350,0
7,4
81,0
Vụ Hè Thu 2010 tại Buôn Ma Thuột
108
Tỷ lệ hạt/bắp có sự biến động lớn từ 74,3 - 84,2%. Đa số các tổ hợp lai có tỷ
lệ hạt/bắp cao hơn giống đối chứng NK67 (78,1%), tương đương với giống đối
chứng C919 (81,1%).
Các tổ hợp lai có hình dạng hạt chủ yếu là bán răng ngựa, một số là bán đá,
răng ngựa và đá. Màu sắc hạt đẹp, đa số có màu vàng cam. Hệ số biến động CV% ở
cả 4 chỉ tiêu theo dõi về yếu tố cấu thành năng suất đều <15%. Điều này chứng tỏ
các tổ hợp lai đạt độ đồng đều cao về các yếu tố cấu thành năng suất.
Năng suất và ưu thế lai về năng suất của các tổ hợp lai luân phiên
Năng suất của các tổ hợp lai
Kết quả Bảng 3.23 cho thấy, có sự khác nhau về năng suất giữa các tổ hợp
luân phiên và 2 giống đối chứng. Năng suất của tổ hợp lai biến động từ 54,9 - 98,8
tạ/ha. Trong đó năng suất của tổ hợp lai C10N x C4N (94,8 tạ/ha) là cao nhất, vượt
cả 2 đối chứng NK67 (81,6 tạ/ha), C919 (77,9 tạ/ha) chắc chắn.
Đánh giá ưu thế lai về năng suất
Trên cơ sở khảo sát tổ hợp lai luân phiên và các dòng bố mẹ (phụ lục 12) vụ
Hè Thu 2010 tại Buôn Ma Thuột, tiến hành đánh giá ưu thế lai về năng suất bao
gồm đánh giá ưu thế lai trung bình (Hmp) và ưu thế lai chuẩn (Hs). Kết quả được
thể hiện Bảng 3.23.
Các tổ hợp lai đều có ưu thế lai trung bình khá cao, giá trị Hmp có sự biến
động lớn từ 65,3 - 247,7%, trong đó 7 tổ hợp lai có giá trị Hmp > 200% là C2N x
T5 (247,7%), C4N x T5 (238,2%), C3N x T5 (235,6%), C10N x T5 (220,1), C4N x
C90N (200,9%), C3N x C2N (200,7%), C10N x C4N (200,3%).
Ưu thế lai chuẩn (Hs) có 20/30 tổ hợp có Hs đạt giá trị dương so với cả 2
giống đối chứng. Trong đó, tổ hợp lai có giá trị Hs cao nhất là C10N x C4N (lần
lượt so với giống đối chứng NK67 là 11,4% và C919 là 23,4%).
Qua kết quả khảo sát các tổ hợp luân phiên ở bộ thí nghiệm 2, xác định
được tổ hợp lai C10N x C4N có đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu
khá, năng suất cao đạt 94,8 tạ/ha cao vượt hẳn so với giống đối chứng NK67 và
C919 (Hình 3.10).
109
Bảng 3.23. Năng suất và ưu thế lai của các tổ hợp lai luân phiên
TT
Tổ hợp lai
Hmp (%)
1 C3N x C2N 2 C3N x C10N 3 C3N x C4N 4 C3N x C88N 5 C3N x C89N 6 C3N x T5 7 C3N x C90N 8 C2N x C10N 9 C2N x C4N 10 C2N x C88N 11 C2N x C89N 12 C2N x T5 13 C2N x C90N 14 C10N x C4N 15 C10N x C88N 16 C10N x C89N 17 C10N x T5 18 C10N x C90N 19 C4N x C88N 20 C4N x C89N 21 C4N x T5 22 C4N x C90N 23 C88N x C89N 24 C88N x T5 25 C88N x C90N 26 C89N x T5 27 C89N x C90N 28 T5 x C90N 29 NK67 (đ/c) 30 C919 (đ/c) CV% LSD0,05
Năng suất (tạ/ha) 86,3 89,4 80,8 81,8 71,9 91,1 87,7 69,8 83,8 63,8 69,8 90,9 81,5 94,8 79,2 89,3 92,8 90,8 80,8 79,5 91,8 90,6 69,0 76,2 85,4 86,7 54,9 77,6 81,6 77,9 8,66% 11,550
200,7 183,3 171,9 183,1 119,3 235,6 191,4 128,5 191,9 128,9 119,5 247,7 179,9 200,3 157,5 157,7 220,1 184,0 179,7 142,5 238,2 200,9 115,6 189,0 191,5 186,8 65,3 181,7
Hs (%) (NK67) 5,8 9,5 -1,0 0,3 -11,8 11,6 7,5 -14,5 2,7 -21,8 -14,4 11,4 -0,2 16,1 -2,9 9,4 13,8 11,2 -0,9 -2,5 12,5 11,0 -15,4 -6,7 4,7 6,3 -32,8 -4,9
Hs (%) (C919) 11,7 16,0 4,0 5,5 -8,3 18,4 13,6 -11,3 8,2 -19,5 -11,3 18,1 4,9 23,4 1,8 15,8 20,8 17,9 4,1 2,3 19,3 17,6 -12,4 -2,4 10,5 12,3 -32,0 -0,4
Vụ Hè Thu 2010 tại Buôn Ma Thuột
Ghi chú: Hmp- ưu thế lai trung bình; Hs - Ưu thế chuẩn.
110
Hình 3.10. Tổ hợp lai C10N x C4N giai đoạn chín sinh lý
Tóm lại, Từ kết quả thu được, với mục tiêu phát triển giống ngô lai mới có
năng suất cao, chống chịu tốt và có các dòng bố/mẹ đáp ứng được yêu cầu của công
nghệ nhân giống và sản xuất hạt giống, 2 tổ hợp lai đỉnh G46 x B67a, G46 x G2 và
tổ hợp luân phiên C10N x C4N đã được chọn. Các tổ hợp này có đặc điểm nông
sinh học quí: Thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín trung bình sớm, tán cây gọn,
dạng bắp trụ dài, khả năng chống chịu tốt, năng suất cao (≥90 tạ/ha) đưa vào thí
nghiệm khảo nghiệm cơ sở, thử nghiệm khả năng thích ứng, tính ổn định trong
mạng lưới khảo nghiệm quốc gia và các cơ sở nghiên cứu tại các vùng sinh thái trên
cả nước.
3.5 KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ TỔ HỢP LAI CHỐNG CHỊU
BỆNH GỈ SẮT TRIỂN VỌNG
Xác định tổ hợp lai/giống mới phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng sẽ
phát huy hiệu quả của giống. Mỗi tổ hợp lai/giống có phản ứng khác nhau đối với
điều kiện môi trường được thể hiện qua tính thích ứng, tính ổn định. Giống có khả
năng thay đổi linh hoạt và duy trì tương đối phản ứng trung bình với sự thay đổi của
điều kiện môi trường và giống có khả năng thích ứng rộng và ổn định.
3.5.1 Kết quả khảo nghiệm cơ sở
Tổ hợp lai triển vọng C10N x C4N được chọn từ thí nghiệm lai luân phiên, đặt
tên là VN5885 và hai tổ hợp lai G46 x B67a, G46 x G2 được chọn từ thí nghiệm lai
đỉnh, đặt tên là VN665 và VN667 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín trung
111
bình sớm, chống chịu bệnh gỉ sắt tốt và năng suất cao để tiến hành khảo nghiệm cơ
sở tại các vùng sinh thái được trình bày ở các Bảng 3.24, 3.25, 3.26, 3.27.
Bảng 3.24. Thời gian sinh trưởng và năng suất của VN5885, VN665 và VN667
tại Đan Phượng - Hà Nội
TT
Giống
NSTB (tạ/ha)
TGST (ngày) Thu 2010 Xuân 2011
Năng suất (tạ/ha) Thu 2010 Xuân 2011
1 2 3 4 5 6 7
VN5885 VN665 VN667 LVN885 LVN4 LVN99 C919 CV% LSD0.05
112 110 114 112 115 110 118
118 119 120 118 125 117 125
78,9 79,8 77, 6 71,6 77,8 73,8 76,7 8,6 10,3
86,4 87, 4 85,7 73,7 81,8 78,8 76,9 7,7 8,0
82,6 83,6 81,2 72,6 79,8 76,3 76,8
Vụ Thu 2010 và Xuân 2011 Nguồn: Viện Nghiên cứu Ngô
Tại điểm khảo nghiệm Đan Phượng, VN5885, VN665 và VN667 ở bộ thí
nghiệm với 4 giống đối chứng là LVN885, LVN4, LVN99, C919. Các thí nghiệm
khảo sát cơ sở được tiến hành trong 2 vụ Thu 2010 và Xuân 2011. Kết quả trình bày
tại Bảng 3.24.
Năng suất của VN5885 (78,9 tạ/ha), VN665 (79,8 tạ/ha) và VN667 (77,6
tạ/ha) trong vụ Thu tương đương với 4 giống đối chứng. VN5885, VN665 và
VN667 có thời gian sinh trưởng tương đương với LVN885, LVN99, ngắn ngày hơn
LVN4 và C919 từ 3 - 8 ngày.
Trong vụ Xuân 2011, năng suất của VN5885 (86,4 tạ/ha), VN665 (87,4 tạ/ha)
và VN667 (85,7 tạ/ha) vượt 2 giống đối chứng LVN885 và C919 một cách chắc chắn ở
mức 95%, tương đương với năng suất của LVN4 (81,8 tạ/ha), LVN99 (78,8 tạ/ha. Thời
gian sinh trưởng của VN5885, VN665 và VN667 ngắn hơn các giống đối chứng từ 3 -
5 ngày.
Tại các điểm khảo nghiệm vùng Tây nguyên, VN5885, VN665 và VN667
trong bộ thí nghiệm với 3 giống đối chứng là DK9901, CP888, NK67 được tiến hành
112
khảo nghiệm vụ Thu Đông 2010 và vụ Hè Thu 2011 tại Buôn Ma Thuột, Ayunpa và
Đức Trọng. Kết quả trình bày tại Bảng 3.25, 3.26, 3.27.
Bảng 3.25. Thời gian sinh trưởng (ngày) của VN5885, VN665 và VN667
ở các tỉnh Tây Nguyên
1 2 3 4 5
VN5885 VN665 VN667 DK9901 CP888 NK67
TT Giống
6
Vụ Thu Đông 2010 và Hè Thu 2011
Buôn Ma Thuột Đắk Lắk 101 94 95 99 105 98 Vùng sinh thái Ayunpa Gia Lai 94 89 90 95 100 95 Đức Trọng Lâm Đồng 97 90 93 96 100 98
Thời gian sinh trưởng của VN5885 từ 94 - 101 ngày, VN665 (89 - 94 ngày),
VN667 (90 - 95) tương đương với thời gian sinh trưởng của DK9901, NK67 và ngắn
ngày hơn CP888 từ 3 - 7 ngày. Như vậy, giống ngô lai VN5885, VN665, VN667 được
xác định là giống có thời gian sinh trưởng trung bình sớm (Bảng 3.25).
Bảng 3.26. Khả năng chống chịu của VN5885, VN665 và VN667
ở các tỉnh Tây Nguyên
Giống
VN5885 VN665 VN667 DK9901 CP888 NK67
TT
Chỉ tiêu
1 Sâu đục thân (điểm 1 -5) 2 Sâu đục bắp (điểm 1 -5) 3 Rệp cờ (điểm 1 -5) 4 Đốm lá lớn (điểm 1 -5) 5 Khô vằn (%) 6 Thối thân (điểm 1 -5) 7 Gỉ sắt (điểm 1 -5) 8 Chống đổ (%) 9 Chịu hạn (điểm 1 -5)
1,0 1,0 1,0 1,0 5,0 0,0 1,0 2,5 1,0
1,0 1,0 1,0 1,0 4,1 0 1,0 3 1,0
1,0 1,0 1,0 1,0 5,9 0 1,0 2,0 1,0
1,0 1,0 1,0 1,5 8,3 0,0 1,0 2,4 1,0
2,0 2,0 1,0 2,0 9,0 3,0 3,0 2,8 1,5
2,0 2,0 2,0 1,0 6,8 3,0 2,0 3,3 2,0
Vụ Thu Đông 2010 và Hè Thu 2011
Điểm 1: tốt nhất, điểm 5: kém nhất
113
Giống ngô VN5885, VN665, VN667 có khả năng chống chịu khá tốt so với 3
giống đối chứng. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của VN5885, VN665, VN667 tốt
hơn NK67 (điểm 2), CP888 (điểm 3), tương đương với DK9901 (điểm 1). Khả năng
chống chịu bệnh đốm lá lớn khá hơn các giống đối chứng DK9901và CP888, tương
đương với NK 67 (điểm 1), mức độ nhiễm sâu đục thân, đục bắp tương đương
DK9901 (điểm 1), khá hơn 2 đối chứng CP888, NK67 (điểm 2). Khả năng chống
chịu rệp cờ của VN5885, VN665, VN667 (điểm 1) khá hơn NK67(điểm 2). Khả
năng chống chịu bệnh khô vằn khá hơn 3 giống đối chứng. Khả năng chịu hạn tốt
(điểm 1). Khả năng chống đổ tương đương với 3 giống đối chứng (Bảng 3.26).
Bảng 3.27. Năng suất của VN5885 , VN665 và VN667 ở các tỉnh Tây Nguyên (tạ/ha)
TT Giống
1 2 3 4 5 6
VN5885 VN665 VN667 DK9901 CP888 NK67 CV% LSD0,05
Buôn Ma Thuột Đắk Lắk 89,6 85,4 85,1 86,5 82,9 79,7 3,42 5.214
Ayunpa Gia Lai 92,1 90,5 86,8 89,0 83,6 82,1 1,77 2,790
Vùng sinh thái Đức Trọng Lâm Đồng 90,0 90,8 91,5 88,9 84,8 82,9 3,66 5,836
Năng suất trung bình 90,6 88,9 87,8 88,1 83,8 81,6
Vụ Thu Đông 2010 và Hè Thu 2011
Tại điểm khảo nghiệm Buôn Ma Thuột, Ayunpa và Đức Trọng, giống
VN5885, VN665 và VN667 có năng suất cao hơn năng suất của 2 giống đối chứng
CP888 (83,8 tạ/ha), NK67 (81,6 tạ/ha) và tương đương với năng suất của giống
DK9901 (88,1 tạ/ha) (bảng 3.27).
Kết khảo nghiệm cơ sở giống VN5885, VN665 và VN667 cho thấy, các giống
ngô VN5885, VN665 và VN667 có khả năng thích ứng rộng, cho năng suất cao hơn
giống đối chứng, là giống có thời gian sinh trưởng trung bình sớm, cứng cây, có khả
năng chống chịu tốt, đặc biệt là bệnh gỉ sắt. Các giống này tiếp tục được khảo nghiệm
trong hệ thống khảo nghiệm quốc gia. Kết quả được trình bày trong phần tiếp theo.
114
3.5.2 Kết quả khảo nghiệm trong hệ thống khảo nghiệm quốc gia
Kết quả khảo nghiệm VN5885 trong hệ thống khảo nghiệm quốc gia
Từ năm 2011, VN5885 được tiến hành khảo nghiệm trong hệ thống khảo
nghiệm quốc gia tại các tỉnh Nam Bộ và Tây Nguyên trong các vụ: Thu Đông 2011,
Đông Xuân 2011/2012. Kết quả trình bày ở Bảng 3.28 và phụ lục 14.
Bảng 3.28. Một số đặc điểm nông sinh học của VN5885 ở Tây Nguyên
Giống TT VN5885 C919 (đ/c) CP888 (đ/c) Chỉ tiêu
1 Thời gian sinh trưởng (ngày) 2 Chiều cao cây (cm) 3 Chiều cao đóng bắp (cm)
4 Khả năng chống chịu (điểm 1-5)
Vụ Thu Đông 2011
(Nguồn: Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
Gỉ sắt Khô vằn (%) Thối thân Đốm lá Hạn 5 Năng suất trung bình (tạ/ha) 102 189,0 79 1 2,4 0 0 1 70,57 114 192,0 82 2 3,5 3 2 1 67,75 118 198,0 105 3 3,0 2 2 1 64,10
Kết quả khảo nghiệm ở Tây Nguyên vụ Thu Đông năm 2011 cho thấy:
VN5885 có thời gian sinh trưởng 102 ngày ngắn hơn giống đối chứng C919
12 ngày và CP888 là 16 ngày. Giống ngô lai VN5885 được xác định là giống có
thời gian sinh trưởng trung bình sớm.
Về đặc điểm hình thái cây: VN5885 là giống ngô lai có dạng cây cao trung
bình, bộ lá gọn, chiều cao cây trung bình 189 cm, chiều cao đóng bắp 79 cm, tương
đương với các giống đối chứng C919 và CP888.
Về khả năng chống chịu: Giống ngô VN5885 có khả năng chống chịu các bệnh
gỉ sắt (điểm 1), khô vằn (2,4%) tốt hơn so với đối chứng đối chứng C919 và CP888.
VN5885 không bị nhiễm bệnh đốm lá và thối thân; Khả năng chịu hạn tốt (điểm 1)
tương đương với 2 đối chứng.
Năng suất trung bình của VN5885 đạt 70,57 tạ/ha cao hơn C919 (67,75
tạ/ha) và CP888 (64,10 tạ/ha).
115
Như vậy, ưu điểm nổi bật của VN5885 là giống có thời gian sinh trưởng
trung bình sớm (102 ngày), có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt, đốm lá lớn, thối
thân, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn, chịu hạn tốt. Năng suất trung bình đạt 70,57 tạ/ha ở
Tây Nguyên. VN5885 là giống có triển vọng phát triển sản xuất, đặc biệt là vùng
Tây Nguyên (Bảng 3.28, phụ luc 1, phụ lục 14).
Kết quả khảo nghiệm sản xuất VN5885
VN5885 được khảo nghiệm sản xuất tại một số vùng sinh thái. Kết quả trình
bày ở Bảng 3.29.
Bảng 3.29. Năng suất của VN5885 tại các điểm khảo nghiệm sản xuất (tạ/ha)
Vụ
Giống
NSTB (tạ/ha)
Bà Rịa Vũng Tàu
BMT Đắk Lắk
Thu Đông 2011
Đông Xuân 2011/ 2012
NSTB /điểm
VN5885 C919 CP888 VN5885 C919 CP888 VN5885 C919 CP888
64,9 68,1 69,3 64,9 61,1 62,4 64,9 64,6 65,8
Địa điểm khảo nghiệm Đức Trọng Lâm Đồng 65,5 60,2 54,9 - - - 65,5 60,2 59,9
Cẩm Mỹ Đồng Nai 43,1 44,5 38,2 79,4 78,8 77,7 61,2 61,6 57,9
81,4 68,3 65,9 - - - 81,4 68,3 65,9
Trảng Bom Đồng Nai 42,1 52,2 54,8 - - - 42,1 52,2 54,8
Đức Hoà Long An - - - 74,4 81,5 82,0 74,4 81,5 82,0
Tân Châu An Giang - - - 100,2 108,7 117,9 100,2 108,7 117,9
59,4 58,6 56,6 79,7 82,5 85,0 69,5 70,5 70,8
Vụ Thu Đông 2011 và Đông Xuân 2011/2012
BMT: Buôn Ma thuột
NSTB: năng suất trung bình
(Nguồn: Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
Trong vụ Thu Đông 2011, năng suất trung bình tại 5 điểm khảo nghiệm sản
xuất của VN5885 đạt 59,4 tạ/ha cao hơn C919 (58,6 tạ/ha) và CP888 (56,6 tạ/ha). Vụ
Đông Xuân 2011/2012 năng suất của VN5885 đạt 80 tạ/ha tương đương C919, thấp
hơn CP888. Năng suất trung bình của VN5885 ở 7 điểm khảo nghiệm qua 2 vụ đạt
69,5 tạ/ha tương đương với C919 và CP888, trong đó năng suất trung bình của
VN5885 ở Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk (81,4 tạ/ha) cao hơn hẳn so với các vùng sinh
thái khác (Bảng 3.29).
116
Từ kết quả khảo nghiệm sản xuất giống VN5885 trong vụ Thu Đông 2011 và
Đông Xuân 2011/2012 cho thấy, giống ngô VN5885 có năng suất cao (64,9-81,4
tạ/ha). Đặc tính nông học nổi trội của VN5885 là giống có thời gian sinh trưởng
trung bình sớm, cứng cây, có khả năng chống chịu bệnh tốt, thích hợp với nhiều loại
chân đất: Đất đồi, đất ruộng và đất bãi. Giống VN5885 được các địa phương đánh
giá cao góp phần tăng hiệu quả kinh tế, đáp ứng được yêu cầu sản xuất của địa
phương và đề nghị được mở rộng diện tích gieo trồng. Giống ngô VN5885 đã được
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận sản xuất thử năm 2013 (Quyết
định số 627/QĐ-TT-CLT ngày 30/12/2013).
Kết quả khảo nghiệm VN665 và VN667 trong hệ thống khảo nghiệm
quốc gia
Năm 2013 - 2014, VN665 và VN667 được tiến hành khảo nghiệm trong hệ
thống khảo nghiệm quốc gia tại Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Đồng Bằng Sông
Cửu Long trong các vụ Thu Đông 2013 và Đông Xuân 2013/2014. Kết quả trình
bày ở Bảng 3.30 và phụ lục 14.
Bảng 3.30. Một số đặc điểm nông sinh học của VN665 và VN667 ở Tây Nguyên
TT Chỉ tiêu VN665 VN667
1 2 3
4 Khả năng chống chịu (điểm 1-5)
Thời gian sinh trưởng (ngày) Chiều cao cây (cm) Chiều cao đóng bắp (cm) Gỉ sắt Khô vằn (%) Thối thân Đốm lá Hạn
Vụ Thu Đông 2013 và Đông Xuân 1013/2014 (Nguồn: Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
5 Năng suất trung bình (tạ/ha) 94 220 105 1,0 5,1 0 1 1 80,8 96 196 91 1,0 6,2 0 1 1 81,2 NK67 (đ/c) 98 240 100 1,5 5,8 3 1 1 85,6 CP888 (đ/c) 105 205 96 3,0 2,0 3 2 1 79,0
Kết quả khảo nghiệm VN665 và VN667 ở Tây Nguyên vụ Thu Đông năm
2013 được trình bày ở bảng 3.30.
117
Thời gian sinh trưởng của VN665 (94 ngày) và VN667 (96 ngày) ngắn hơn so
với giống đối chứng NK67 từ 2- 4 ngày, ngắn hơn giống đối chứng CP888 từ 9 - 11
ngày. Như vậy, hai giống ngô lai VN665 và VN667 được xác định là giống chín sớm.
Tương tự như VN5885, giống VN665 và VN667 là giống ngô lai có dạng
cây cao trung bình, bộ lá gọn. VN665 có chiều cao cây trung bình 220 cm, chiều
cao đóng bắp 105 cm, VN667 có chiều cao cây trung bình 196 cm, chiều cao đóng
bắp 91 cm tương đương với các giống đối chứng NK67 và CP888.
Giống ngô VN665 và VN667 có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt (điểm1) tốt
hơn so với 2 giống đối chứng NK67 (điểm 1,5) và CP888 (điểm 3); Không bị nhiễm
bệnh thối thân; Khả năng chịu bệnh khô vằn tương đương với NK67 (5,8%), kém hơn
CP888(2,0%); Khả năng chịu bệnh đốm lá tốt tương đương với NK67 (điểm 1), tốt
hơn CP888 (điểm 2); Khả năng chịu hạn tốt (điểm 1) tương đương với 2 đối chứng.
Năng suất trung bình của VN665 (80,6 tạ/ha) và VN667 (81,2 tạ/ha) tương
đương với 2 đối chứng NK67 (85,6 tạ/ha) và CP888 (79,0 tạ/ha).
Từ kết quả khảo nghiệm VN665 và VN667 ở Tây Nguyên vụ Thu Đông năm
2013 cho thấy, giống ngô VN665, VN667 có kết quả tương tự như khảo nghiệm cơ
sở: Có thời gian sinh trưởng ngắn (94 - 96 ngày), có khả năng chống chịu tốt đặc
biệt là bệnh gỉ sắt bệnh gỉ sắt, cứng cây, năng suất trung bình cao đạt 80,8 tạ/ha
(VN665), 81,2 tạ/ha (VN667), là giống có triển vọng phát triển sản xuất ở Tây
Nguyên (Hình 3.11, phụ lục 1, phụ lục 14).
Hình 3.11. Ảnh của 2 tổ hợp lai triển vọng VN665 và VN667
118
Qua kết quả khảo nghiệm cơ sở, khảo nghiệm trong hệ thống khảo nghiệm
quốc gia 3 tổ hợp lai có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt đều thích hợp với điều kiện
sinh thái ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (phụ lục 14), cụ thể:
Giống VN5885
- VN5885 có thời gian sinh trưởng trung bình sớm (94-118 ngày), cứng cây,
có khả năng chống chịu tốt đặc biệt là bệnh gỉ sắt.
- VN5885 có bắp hình trụ, to, dạng hạt bán đá, màu vàng cam, tỷ lệ hạt/bắp cao.
- VN5885 có năng suất cao, dao động từ 56,5 - 92,1 tạ/ha, ổn định, năng suất
cao hơn đối chứng ở hầu hết các điểm khảo nghiệm.
- VN5885 được khẳng định là giống có triển vọng, được Bộ Nông Nghiệp và
Phát triển nông thôn công nhận sản xuất thử năm 2013(Quyết định số 627/QĐ-TT-
CLT ngày 30/12/2013).
Hai tổ hợp lai VN665, VN667
- VN665, VN667 có khả năng thích ứng rộng, có thời gian sinh trưởng ngắn
(87 - 96 ngày), cứng cây, khả năng chống chịu tốt đặc biệt là bệnh gỉ sắt.
- VN665 có bắp hình trụ, to, dạng hạt bán răng ngựa, màu vàng cam, tỷ lệ
hạt/bắp cao, năng suất giao động từ 71,8 - 114,3 tạ/ha (hình 3.9).
- VN667 có bắp hình trụ, to, dạng hạt bán đá, màu vàng cam, tỷ lệ hạt/bắp
cao, năng suất giao động từ 81,2 - 90,1 tạ/ha.
119
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1. Bệnh gỉ sắt hại ngô ở Tây Nguyên ở mức độ phổ biến 25% vụ Hè Thu,
trên 50% vụ Thu Đông; Gây thiệt hại về năng suất trung bình 14,44% vụ Hè Thu,
27,46% vụ Thu Đông tùy theo giống và địa phương.
2. Đã chọn lọc thành công tập đoàn gồm 28 dòng có khả năng chịu bệnh gỉ sắt
(điểm 1 - 2), trong đó có 11 dòng (G2, G45, G46, G47, G286, G1237, G1238, B67a,
B67c, C4N và C10N) có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt tốt (điểm 1), đạt yêu cầu về thời gian sinh trưởng (110 - 116 ngày ở Tây Nguyên, 106 - 112 ngày ở phía
Bắc), đồng đều về đặc điểm hình thái, năng suất cao (>30 tạ/ha), có sự đa dạng di
truyền với mức khác biệt giữa các cặp dòng giao động từ 0,29 - 0,91, độ thuần di
truyền cao (>80%), khả năng kết hợp cao về năng suất đáp ứng được yêu cầu trong
chọn tạo giống ngô lai chống chịu bệnh gỉ sắt.
3. Kết quả khảo sát và đánh giá ưu thế lai về năng suất của các tổ hợp lai
đỉnh, lai luân phiên, đã chọn được ba tổ hợp lai (G46 x B67a), (G46 x G2), (C10N x
C4N) có ưu thế lai chuẩn cao, chống chịu bệnh gỉ sắt tốt (điểm 1), năng suất cao
(>90 tạ/ha) vượt đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95% (p ≤ 0,05).
4. Kết quả khảo nghiệm cơ sở và trong hệ thống khảo nghiệm quốc gia, khảo
nghiệm sản xuất, xác định được giống VN5885 (C10N x C4N) năng suất cao (>90
tạ/ha), có khả năng thích ứng rộng, có thời gian sinh trưởng trung bình sớm (94- 118
ngày), cứng cây, có khả năng chống chịu tốt đặc biệt là bệnh gỉ sắt (điểm 1), đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận sản xuất thử năm 2013 (Quyết định
số 627/QĐ-TT-CLT ngày 30/12/2013). Hai tổ hợp lai VN665 (G46 x B67a), VN667
(G46 x G2) đã và đang được khảo nghiệm ở Tây Nguyên và các vùng sinh thái khác,
kết quả bước đầu cho thấy có triển vọng.
Kiến nghị
1. Tiếp tục tuyển chọn đánh giá dòng có khả năng chịu bệnh gỉ sắt bổ sung
vào tập đoàn công tác chọn tạo giống ngô cho vùng Tây Nguyên.
2. Tiếp tục khảo nghiệm, phát triển sản xuất giống ngô VN5885, khảo
nghiệm cơ bản giống ngô VN665.
120
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Trần Thị Phương Hạnh, Bùi Mạnh Cường (2013), “Đặc điểm nông sinh học và
khả năng kết hợp của một số dòng ngô thuần chịu bệnh gỉ sắt (Puccinia sp.) tại các
tỉnh Tây Nguyên”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ISSN 1859-
4581, số 221/2013, tr: 18-23.
2. Trần Thị Phương Hạnh, Bùi Mạnh Cường, Ngô Thị Minh Tâm, Đoàn Thị Bích
Thảo, Nguyễn Văn Trường, Nguyễn Thị Thu Hoài, Ngụy Thị Hương Lan,
Nguyễn Thị Ánh Thu (2014), “Kết quả chọn tạo và khảo nghiệm giống ngô lai
chín sớm, chịu bệnh gỉ sắt VN5885", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, ISSN 1859-4581, Tập 1- tháng 6/2014, tr: 107-115.
121
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Nguyễn Thị Bình (1990), Nghiên cứu và đánh giá khả năng chống chịu bệnh
gỉ sắt (Phakopsora pachyrhisi Sydow) của tập đoàn đậu tương Miền Bắc Việt
Nam, Luận án tiến sĩ Sinh học, Hà Nội.
2. Bộ Nông nghiệp & PTNT (2008), Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ
của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đến 2015 và định hướng đến 2020.
3. Bộ Nông nghiệp & PTNT (2014), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 8
tháng năm 2014 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.
4. Bùi Mạnh Cường (2007), Công nghệ sinh học trong chọn tạo giống ngô, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội.
5. Bùi Mạnh Cường, Mai Xuân Triệu, Ngô Hữu Tình (2012), Tuyển tập, một số
kết quả nghiên cứu khoa học & phát triển cây ngô Việt Nam, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
6. Nguyễn Hữu Đống, Phạm Xuân Hội, Khuất Hữu Trung, Nguyễn Văn Cương,
Đào Thị Thanh Bằng, Trần Hồng Uy (1995), “Những kết quả ban đầu trong
việc nuôi cấy bao phấn và noãn ngô in vitro”, Tạp chí di truyền học và ứng
dụng, (2), tr. 1 - 2.
7. Lê Huy Hàm, Nguyễn Thị Khánh Vân, Lưu Mỹ Dung, Lê Thu Về, Đỗ Năng
Vịnh (2005), “Phát triển và ứng dụng kỹ thuật đơn bội trong chọn tạo giống
ngô ưu thế lai”, Khoa học công nghệ nông nghiệp và phát triển nông thôn -
20 năm đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 352 - 364.
8. Phan Xuân Hào, Bùi Mạnh Cường, Nguyễn Văn Trường, Đoàn Bích Thảo
(2004), “Phân tích đa dạng di truyền tập đoàn dòng ngô bằng chỉ thị SSR”,
Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 1, tr. 32 - 35.
9. Nguyễn Thế Hùng, Ngô Hữu Tình, Phùng Quốc Tuấn (1992), “Đánh giá khả
năng kết hợp tính trạng năng suất của các dòng ngô tạo bằng con đường
fullsib và tự phối rút ra từ quần thể 2649”, Thông tin khoa học kỹ thuật nông
nghiệp, Trường Đại học Nông Nghiệp I, (2), tr. 7 - 11.
122
10. Thị Lưu (1999), Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai nhiều bắp, Luận án tiến sĩ
Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
11. Vũ Triệu Mân (2007), Giáo trình bệnh cây chuyên khoa, Nxb Đại học Nông
nghiệp I, Hà Nội.
12. Vương Huy Minh (2012), Nghiên cứu cải thiện dòng thuần bố mẹ của một số
giống ngô thương mại phục vụ công tác chọn tạo giống ngô lai, Luận Án
Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
13. Hoàng Trọng Phán, Trương Thị Bích Phượng (2008), Cơ sở di truyền chọn
giống thực vật, Nxb Đại học Huế, Huế.
14. Thái Phiên, Nguyễn Tử Xiêm (1988), Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt
Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
15. Trần Duy Quý (1994), Cơ sở di truyền và kỹ thuật lai tạo sản xuất lúa lai,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
16. Ngô Thị Minh Tâm (2012), Nghiên cứu chọn tạo và sử dụng dòng thuần năng
suất cao trong tạo giống ngô lai, Luận Án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Khoa
học Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
17. Ngô Hữu Tình, Nguyễn Đình Hiền (1996), Các phương pháp lai thử và phân tích
khả năng kết hợp trong các thí nghiệm về ưu thế lai, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
18. Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, Võ Đình Long, Bùi Mạnh Cường, Lê Quý
Kha, Nguyễn Thế Hùng (1997), Cây Ngô - Nguồn gốc, đa dạng di truyền và
quá trình phát triển, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
19. Ngô Hữu Tình (2009), Chọn lọc và lai tạo giống ngô, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
20. Tổng cục Thống Kê, Niên giám thống kê 2013, Nxb Thống Kê, Hà Nội.
21. Khuất Hữu Trung, Nguyên Mỹ Giang, Nguyễn Bích Thủy, Đào Thị Thanh
Bằng, Nguyễn Hữu Đống, Bùi Mạnh Cường (1999), “Thăm dò khả năng tạo
callus và tái sinh cây của phôi non và noãn chưa thụ tinh phục vụ công tác
chọn tạo giống ngô”. Tạp chí di truyền và ứng dụng, (1), tr 8-12.
123
22. Mai Xuân Triệu (1998), Đánh giá khả năng kết hợp của một số dòng thuần có
nguồn gốc địa lý khác nhau phục vụ chương trình tạo giống ngô, Luận án tiến
sĩ Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
23. Nguyễn Thị Khánh Vân (2007), Nghiên cứu phương pháp noãn chưa thụ tinh
trong ống nghiệm để tạo dòng ngô đơn bội kép, Luận án Tiến sĩ Nông
Nghiệp, Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
24. Lê Thị Ngọc Vi, Nguyễn Thị Lang (2006), "Nghiên cứu gen kháng bệnh gỉ
sắt trên cây đậu nành bằng phương pháp phân tử microsatellite", Tạp chí
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 1, tr. 36-39.
25. Viện Bảo vệ thực vật (2003), Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật, NXB
Nông nghiệp, Hà Nội.
26. Trần Hồng Uy, Mai Xuân Triệu (1985), “Xác định khả năng kết hợp của 6
dòng ngô thuần ngắn ngày”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp 2/1985,
tr. 68 - 71.
27. Trần Hồng Uy (1999), Ngô lai và sự phát triển của nó trong quá khứ - hiện
tại và tương lai ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu Ngô.
Tiếng Anh
28. Alan P. Roelfs and William R. Bushnell (1985), The Cereal Rusts Volume II
Diseases, Distribution, Epidemiology, and Control, Academic press, INC.
(LONDON) LTD, Vol. 2. LONDON.
29. AMBIONET - CIMMYT (Maria Luz C.G., Ellen S.R.) (2004), Laboratory
handbook, Protocols for Maize Genotyping using SSR markers and Data
Analysis, AMBIONET Service Laboratory - CIMMYT, Metro Malina,
Philippines.
30. Anne Crouch Jo and Szabo Les J. (2011), “Real-Time PCR Detection
and Discrimination of
the Southern and Common Corn Rust
Pathogens Puccinia polysora and Puccinia sorghi”, Plant Disease
Journal, 95 (6), pp. 624-632.
31. Ayliffe M.A., Collins N. C., Ellis J. G., Pryor A. (1999), “The maize rp1 rust
124
resistance gene identifies homologues in barley that have been subjected to
diversifying selection”, Theor App1Genet 100, pp. 1144 - 1154.
32. Barakat M. N., Milad S. I., El-Shafei A. M., & Khatab S. A. (2009), “Genetic
analysis and identification of RAPD markers linked to Northern corn leaf
blight disease resistance in a white maize population”. Journal of King
Abdulaziz University - Meteorology, Environment and Arid Land Agriculture
Sciences, 20(1), pp. 45-61.
33. Basandrai A. K., Saxena V. K., Gurjit Kaur K. V., and Singh A. (2004),
“Evaluation of common rust resistance in maize inbred lines”, Indian Journal
of Agricultural Sciences, 74(5), pp. 284-286.
34. Baumgarten A., Cannon S., Spangler R., & May G. (2003), “Genome level
evolution of resistance genes in Arabidopsis thaliana”, Genetics, 165, pp. 309-319.
35. Bill Dolezal, Adda Sayers and Steve Butzen (2010), Common and Southern
Rust in Corn, Pioneer.
36. Brown A. F., Juvik J. A., and Pataky J. K. (2000), “Quantitative Trait Loci in
Sweet Corn Associated with Partial Resistance to Stewart’s Wilt, Northern Corn
Leaf Blight, and Common Rust”, APSnet, 91(3), pp. 293- 300.
37. Brown B. (1953), “Source of germplasm for hybrid corn”, Amer. Seed Trade
Assoc, pp. 11-16.
38. Carlos Casela, Bobby (R.B.) Renfro, Anatole F. Krattiger (1998), Diagnosing
Maize Diseases in Latin America, Pioneer hi-bred International, INC.
39. Chase S.S (1969), “Monoploids and monoploid derivatives of maize (Zea
may L.)”, Bot, Review, 35, pp. 117 - 167.
40. Chávez-Medina J.A. and Leyva-López N.E. and Pataky J.K. (2007), “Resistance to
Puccinia polysora in maize accessions”, Plant Disease, 91(11), pp. 1489-1495.
41. Chu C.C., Wang C.C., Sun C.S., Hsu C., Yin K.C., Chu C.Y. and Bi F.Y.
(1975), “Establishment of an Efficient Medium for Another Culture of Rice
through Comparative Experiments on the Nitrogen Sources”, Scientia Sinica,
18, pp. 659-668.
42. Chunjiang Zhou, Cuixia Chen, Pengxiu Cao, Suowei Wu, Jianwei Sun,
125
Demin Jin, Bin Wang (2007), “Characterization and fine mapping of RppQ, a
resistance gene to southern corn rust in maize”, Molecular Genetics and
Genomics, 278(6), pp. 723-728.
43. CIMMYT (1985), Managing trial and reporting data for CIMMYT’s
international maize testing program, CIMMYT, EL Batan, Mexico.
44. Craig A. Webb, Todd E. Richter, Nicholas C. Collins, Marie Nicolas, Harold
N. Trick, Tony Pryor and Scot H. Hulbert (2002), “Genetic and Molecular
Characterization of the Maize rp3 Rust Resistance Locus”, Genetics, 162, pp.
381-394.
45. Crossa J., Basford K., Taba S., Delacy I., SIlva E. (1995), “3-mode analyses
of maize using morphological and agronomic attributesmeasured in
multilocational trials” Crop Sci., 35, pp. 32-39.
46. Dai J. R., Lou M. Z., Han Y. S. (1989), “Studies on relationship between
isozymes and heterosis in maize”, Acta Argon, Sinca, 15, pp. 193-210.
47. Darrah L. L., Hallauer A. R. (1972), “Genetic effects estimated from generation
means in four diallel sets of maize inbred”, Crop Sci., 26, pp. 1109-1113.
48. Davis D.W., Randle W. and Groth J.V. (1988), “Some sources of partial
resistance to common leaf rust in maize and strategy for screening”, Maydica,
33(1), pp. 1-13.
49. Dhanju K. S. and Dass S. (2005), “Identification of multiple disease resistant
lines and their use in developing disease free maize hybrids”, Annals of Agri.
Bio. Research, 10(1), pp. 35-37.
50. Dhilon B. S., Polloner W. G. (1978), “Combining ability analysis of
experientment conducted in two contrasting environment”, EDV in medizin und
Biologie, 9, (3/4), pp. 109-111.
51. Dieu P. and Beckert M. (1986), “Further studies of androgenetic embryo
production and plant regeneration from in vitro cultured anthers of maize”,
Maydica, 31, pp. 245-260.
52. Dodds P. N., Lawrence G. J, Catanzariti A. M., Ayliffe M. A., & Ellis J.
G.(2004), “The Melampsora lini AvrL567 avirulence genes are expressed in
126
haustoria and their products are recognized inside plant cells”, The Plant Cell,
16, pp. 755-768.
53. Dolezal Wm. E. (2010), Corn Rust Identification, Pioneer Hi-Bred Int’l., Inc.
54. Duvick D.N. and Cassmam K.G. (1999), “Post-green revolution trends in
yeild potential of temperate maize in the North-Central United States”, Crop
Sci., 39, pp. 1622-1630.
55. Elliott M. L. and Harmon P. F. (2011), Rust, SS-PLP-12, one of a series of
the Plant Pathology Department, Florida Cooperative Extension Service,
Institute of Food and Agricultural Sciences, University of Florida.
56. Ellis J., Dodds P., Pryor T. (2000), “Structure, function evolution of plant
disease resistance genes”, Plant Biology, 3, pp. 278-284.
57. Eversmeyer M. G. and Kramer C. L (1993), “Survival and Germination of
Urediniospores of Puccinia recondita and Puccinia graminis”, Kansas
Academy of Science, 92(3/4 (1989)), pp. 159-175.
58. Flor H. H. (1971), “Current status of the gene-for-gene concept”, Annual Rev,
Phytopathol, 9, pp. 275-296.
59. Gao H., & Bhattacharyya M. K. (2008), “The soybean Phytophthora
resistance locusRps1-k encompasses coiled coil-nucleotide binding leucine
rich repeat-like genes and repetitive sequences”, BMC Plant Biol, 8, pp. 29.
60. Gautam P. and Stein J. (2011), “Induction of Systemic Acquired Resistance
to Puccinia sorghi in Corn”, International Journal of Plant Pathology, 2(1),
pp. 43-50.
61. Griffing B. (1956), “Concept of general and specific combining ability in
relation to diallel crossing system”, Autralian J. Biol, Sci., 9, pp. 463-493.
62. Hallauer A. R. (1990a), Methods used in developing maize inbred, Maydica,
35, pp. 1-16.
63. Hallauer A. R. (1990b), “Potential of exotic germplasm in maize populations
and breeding germplasm”, Lecture for advance course of maize, CIMMYT.
127
64. Hallauer A. R. (1990c), “Relation of genetic effects and types of testers for
evaluation of inbred lines”, Lecture for advanced course of maize breeding,
CIMMYT.
65. Hallauer A. R., Miranda J. B. (1988a), Quantitative genetic and maize
breeding, 2nd edition, Jowa State University Press, Ames, pp. 486.
66. Hallauer and A. R., Russel, Lamkey K. R. (1988b), “ Corn breeding”, Corn
and corn improvement, American Society of Agronomy, USA, pp. 463-564.
67. Hayman B. I. (1954), The analysis of diallel table, Biomitrics, 10, pp. 235-244.
68. Hooker A. L. (1962), “Additional sources of resistance to Puccinia sorghi in
the United States”, Plant Dis. Rep., 46, pp. 14-16.
69. Hou H., Tseng J., and Sun M. (1978), “Occurrence of corn rusts in Taiwan”.
Plant Dis. Rep., 62, pp.183-186.
70. Hulbert S. H., and Bennetzen J. L. (1991), “Recombination at the Rp1 locus
of maize”, Mol Gen Genet, 226, pp. 377-382.
71. Jedidah Danson, Martin Lagat, Michael Kimani and Alex Kuria (2008),
“Quantitative trait loci (QTLs) for resistance to gray leaf spot and common rust
diseases of maize”, African Journal of Biotechnology , 7(18), pp. 3247-3254.
72. Jerry H. (2000), Number Cruncher Statistical Systems software, Utah.
73. Jim Stack (2013), “Southern Rust”, Plant Disease Central, University OF
Nebraska-Lincoln.
74. Joshi RK, Nayak S. (2013), “Perspectives of genomic diversification and
molecular recombination towards R-gene evolution in plants”, Physiol Mol
Biol Plants, 19(1), pp. 1-9.
75. Kato A. (2002), “Chromosome doubling of haploid maize seedlings using nitrous
oxide gas at the flower primordial stage”, Plant Breed., 121, pp. 370-377.
76. Kiersten Wise (2000), “Common and Southern Rusts, diseases of corn”,
Purdue Extension, BP-82-W.
77. Kim E Hammond-Kosack, Kostya kanyuka (2007), “Resistant Genes (R
Genes) in plants”, Encyclopedia of life sciences.
128
78. Kipling W. and Daniel R. (2004), “Myth of the Molecule: DNA Barcodes for
Species cannot Replace Morphology for Identification and Classification”,
Cladistics, 20, pp. 47-55.
79. Ku M. K., Cheng W.C., Kuo L.C., Kuan Y.L., An H.P., Huang C.H. (1978),
“Induction factor and characteristics of pollen derived plant in maize”, Proceeding
of symposium on plant tissue culture, Science Press, Peking, pp. 35- 41.
80. Lamkey KR., Hallauer, A.R. and Kahler, A.L. (1987), “Allelic differences at
enzyme loci and hybrid performance in maize”, Journal of Heredity, 78, pp.
231-234.
81. Lee M. (1995), “DNA makers and plant breeding programs”, Adv. Agron, 55,
pp. 265-344.
82. Levinson G. and Gutman G.A. (1987), “Slipped-Strand Mispairing: A Major
Mechanism for ADN Sequence Evolution", Mol. Biol. Evol, 4(3), pp. 203-221.
83. Litt M., & Luty J. A. (1989), “A hypervariable microsatellite revealed by in
vitro amplification of a dinucleotide repeat within the cardiae muscle 110
actin gene”, Am. J. Hum. Genet., 44(3), pp. 397-401.
84. Main E.B. (1923), Methods in rust investigations, Proc, Ind. Acad. Sci., 33,
pp. 241-257.
85. Maria Elisa Ayres Guidetti Zagatto Paternian, Eduardo Sawazaki, Christina
Dudienas, Aildson Pereira Duarte and Paulo Boller Gallo (2000), “Diallel
crosses among maize lines with emphasis on resistance to foliar diseases”,
Genet. Mol. Biol., 23(2), pp. 1415-4757.
86. Marone D, Russo MA, De Leonardis AM., Mastrangelo AM. (2013), “Plant
Nucleotide Binding Site-Leucine-Rich Repeat (NBS-LRR) Genes: Active
Guardians in Host Defense Responses”, Int J Mol Sci., 2;14(4), pp.7302-26.
87. Meena Shekhar and Sangit Kumar (2012), Inoculation methods and disease rating
scales for maize diseases, Directorate of Maize Research, New Delhi -110 012.
88. Michael A. Ayliffe , Martin Steinau, Robert F. Park, Lee Rooke, Maria G.
Pacheco, Scot H. Hulbert, Harold N. Trick and Anthony J. Pryor (2004),
129
“Abberant mRNA Processing of the maize rp1-D rust resistance gene in
wheat and barley”, MPMI, 17, pp. 853-864.
89. Michael A. Ayliffe and Evans S. Lagudah (2004), “Molecular Genetics of
Disease Resistance in Cereals”, Oxford Journals, Life Sciences, Annals of
Botany, 94(6), pp. 765-773.
90. Nägeli M., Schmid J. E., Stamp P., Büter B. (1999), “Improved formation of
regenerable callus in isolated microspore culture of maize: impact of
carbohydrates, plating density and time of transfer”, Plant Cell Reports 19,
pp. 177-184.
91. Neelam Kumar. Sain Dass. Mohindar Singh (1989), “Evaluation of germplasm
for resistence to the common rust of maize”, Agricultural Science Digest
Karnal, 9(2), pp. 65-67.
92. Negeri A, Wang GF, Benavente L, Kibiti CM, Chaikam V, Johal G, Balint-
Kurti P. (2013), “Characterization of temperature and light effects on the
defense response phenotypes associated with the maize Rp1-D21 autoactive
resistance gene”, BMC Plant Biol., 13, pp. 106.
93. Nei M (1973), “Analysis of gene diversity in subdivided populations”, Proc
Natl Acad Sci. 70, pp. 3321-3323.
94. Nicholas Collins, Jeff Drake, Michael Ayliffe, Qing Sun, Jeff Ellis, Scot
Hulbert, and Tony Pryor (1999), “Molecular Characterization of the Maize Rp1D
Rust Resistance Haplotype and Its Mutants”, Plant Cell, 11, pp. 1365-1376.
95. Pataky J. K., Natti T. A., Snyder E. B., and Kurowski C. J. (2000), “Puccinia
sorghi in Sinaloa, Mexico Virulent on Corn with the Rp1-D Gene”, Plant
Disease, 84(7), pp. 810.1-810.1.
96. Patil S. J., Mruthunjaya Wali, Harlapur S. I. and Prashant M. (2000), “Maize
Research in North Karnataka Technical Bulletin”, All India Coordinated Maize
Improvement Project, University of Agricultural Sciences, Dharwad, 54.
97. Pavgi M. S. (1972), “Morphology and taxonomy of the Puccinia species on corn
and sorghum”, Mycopathologia et mycologia applicata, 47(3), pp. 207-220.
130
98. Petolino J.F., and Jones A.M. (1986), “Anther culture of elite genotypes of
maize”. Crop Sct. 26, pp. 1072-1074.
99. Pinto L .R., Vieira M. L. C. and Sauza (2003), “Genetic diversity assessed by
microsatellites in tropical maize populations submitted to a high-intensity
reciprocal recurrent selection”, Euphytica 134, pp. 277-286.
100. Qing Sun, Nicholas C. Collins, Michael Ayliffe, Shavannor M. Smith, Jeff Drake,
Tony Pryor and Scot H. Hulbert (2001), “Recombination Between Paralogues at
the rp1 Rust Resistance Locus in Maize”, Genetics 158, pp. 423-438.
101. Rafalski J. A., & Tingey S. (1993), “Genetic diagnostics in plant breeding:
APDs, microsatellites and machines”. TIG, 9, pp. 275-280.
102. Ragot M, Sisco P. H., Hoisington D. A. and Stuber C. W. (1995),
“Molecular-Marker-Mediated Characterization of Favorable Exotic Alleles
at Quantitative Trait Loci in Maize”, Crop Sci., 35, pp. 1305-1315.
103. Rey J.I., Cerono J.& J.Lúquez (2009), “Identification of quantitative trait
loci for resistant to maize ear rot caused by Fusarium moniliforme Sheldon
and common rust caused by Puccinia sorghi in Argentinian maize
germplasm”, Revista de la Facultad de Agronomía, 108 (1), pp. 1-8.
104. Rodriguez-Ardon R., Scott G. E., and King S. B. (1980), “Maize yield losses
caused by southern corn rust”, Crop Sci. 20, pp. 812-814.
105. Rotarenco V., Eder J. (2003), “Possible effects of heterofertilization on the
induction of maternal haploids in maize”, Maize Gen.Coop. Newsletter 77, pp. 30.
106. Russell W. A. (1991), “Genetic improvement of maize yeilds”,
Adv.Agron., 46, pp. 245-298.
107. Saghai Maroof MA, Biyashev RM, Yang GP, Zhang Q, Allard RW. (1994),
“Extraordinarily polymorphic microsatellite ADN in barley: species
diversity, chromosomal locations, and population dynamics”. Proc Natl
Acad Sci USA, 91(12), pp. 5466-5470.
131
108. Senior M. L., Murphy J. P., Goodman M. M., and Stuber C. W. (1998), “Utility
of SSRs for Determining Genetic Similarities and Relationships in Maize Using
an Agarose Gel System”, Crop science, Vol. 38, pp. 1088-1098.
109. Sharma R. C. (1977), Investigations on host resistance, physiologic
specialization and loss assessment in Puccinia sorghi Schw, Ph.D. Thesis,
Aligarh Muslim University, Aligarh, India.
110. Sharma R. C. and Payak M. M. (1979), “Resistance to common rust of maize
in India”, Maize Genetics Cooperation News letter, 53, pp. 65-66.
111. Shavannor M Smith, Anthony J Pryor, and Scot H Hulbert (2004), “Allelic
and Haplotypic Diversity at the Rp1 Rust Resistance Locus of Maize”,
Genetics, 167(4), pp. 1939-1947.
112. Shavanonnor Smith, Martin Steinau, Harold Trick, Scot Hulbert (2010),
“Recombinant rp1 genes confer necrotic or nonspecific resistance
phenotypes”, Molecular genetics and genomics, 283(6), pp. 591-602.
113. Singh R. S., 1978, “Assessment of disease incidence and loss”, Introduction
to Principles of Plant Pathology, pp. 534.
114. Sinha D. C., Mishra B. and Misra A. P. (1974), “Reaction of maize cultivars
to Puccinia sorghi in Bihar”, Indian Phytopath., 27(2), pp. 253-254.
115. Smith J. C., Chen E. C. L., Shu H., Smith O. N., Wall S. J., Senior M. L.
(1997), “An evaluation of utility of SSR loci as molecular markers in maize
(Zea mays L.)”, Theor. Appl. Genet, 95, pp. 163-173.
116. Smith SM., Steinau M., Trick HN., Hulbert SH. (2010), “Recombinant Rp1
genes confer necrotic or nonspecific resistance phenotypes”, Mol Genet
Genomics, 283(6), pp. 591-602.
117. Sprague G. F., Tatum L. A.(1942), “General vs Specific combining ability in
single of corn”, J.am.Soc. Agron 34, pp. 923-932.
118. Sprague G.F. (1985), “Corn and Corn improvement”, Am. Soc. Agron. Inc.,
Madison, WI, pp. 48-88.
132
119. Stuber C.W., Goodman, M.M., and Moll, R.H. (1980), “Allozyme Frequency
Changes Associated with Selection for Increased Grain Yield in Maize (Zea
Mays L.)”. Genetics, 95(1), pp. 225-236.
120. Stuber, C.W., and Goodman M.M. (1983), “Allozyme genotypes for
popular and historically important inbred lines of com, Zea mays L”, USDA-
ARS Agric. Res. Res., pp. 16.
121. Sun Q, Collins NC, Ayliffe M, Smith SM, Drake J, Pryor T, Hulbert SH.
(2001), “Recombination between paralogues at the Rp1 rust resistance locus
in maize”, Genetics, 158(1), pp. 423-38.
122. Ullstrup, A. J. (1977), “Diseases of corn” In Corn and Corn Improvement,
Am. Soc. Agron., Madison, Wisconsin, pp. 391-500.
123. University of Illinois at Urbana-Champaign (1991), “Common rust and
southern rust of sweet corn report on”, plant disease, RPD No. 965.
124. Utpal Dey, Harlapur S. I., Dhutraj D. N., Suryawanshi A. P., Badgujar S. L.,
Jagtap G. P. and Kuldhar D. P. (2012), “Spatiotemporal yield loss
assessment in corn due to common rust caused by Puccinia sorghi Schw.”,
African Journal of Agricultural Research, 7(37), pp. 5265-5269.
125. Van Dyke, C. G., and Hooker, A. L. (1969b), “Ultrastructure of host and
parasite in interactions of Zea mays with Puccinia sorghi”, Phytopathology
59, pp. 1934-1946.
126. Vanderplank, J. E. (1968), Disease Resistance in Plants, Academic Press,
New York.
127. Wallace H. A., Brown W. L. (1988), Corn and its early fathers, Iowa State
University press. Ames, pp. 141.
128. Wang K. J., & Takahata Y. (2007), “A preliminary comparative evaluation
of genetic diversity between Chinese and Japanese wild soybean (Glycine
soja) germplasm pools using SSR markers”. Genetic Resources and Crop
Evolution 54, pp. 157-165.
129. Wedzony M., Rober F. K. and Geiger H. H. (2004), “Chromosome
elimination observed in selfed progenies of maize inducer line RWS”, in:
133
Congress on sexual plant reproductin. Maria Curie-Sklodowska University
Press, Lublin, Poland, VII, pp. 173
130. Wid.rlechner M.P. and Dragula S.K. (1992), “Eleven ornamental corn
inbreeds lines OC1through OC11”, Hort Science, 27(12), pp. 1338-1339.
131. Wusirika Ramakrishna, John Emberton, Matthew Ogden, Phillip
SanMiguel and Jeffrey L. Bennetzen (2002), “Structural Analysis of the
Maize Rp1 Complex Reveals Numerous Sites and Unexpected Mechanisms
of Local Rearrangement”, The Plant Cell, 14(12), pp. 3213-3223.
132. Xiao Wenkai, Xu Mingliang, Zhao Jiuren, Wang Fengge, Li Jiansheng, Dai
Jingrui (2006), “Genome-wide isolation of resistance gene analogs in maize
(Zea mays L.”, Springer-Verlag, 113(1), pp. 63-72.
133. Ya Zhang; Li Xu; Deng-Feng Zhang; Jing-Rui Dai; Shou-Cai Wang (2010),
Mapping of southern corn rust-resistant genes in the W2D inbred line of
maize ( Zea mays L.), Molecular Breeding, 25(3), pp. 433-439.
134. Yeh C. C. (1984), “Diagnosis of maize rusts and screening for rust resistance”,
Journal of Agricultural Research of China, 33(3), pp. 306-315.
135. Zerekidze, R. I. (1971), “Rust resistance in some maize hybrids and
varieties”, Tr-Nll-Zemledeliya-GruzSSR, 18, pp. 109-114.
136. Zhao P, Zhang G, Wu X, Li N, Shi D, Zhang D, Ji C, Xu M, Wang S.
(2013), “Fine mapping of RppP25, a southern rust resistance gene in maize”,
J Integr Plant Biol., 55(5), pp. 462-72.
Website
137. FAOSTAT (2011),
http//faostat.fao.org/site/567DesktopDefault.aspx?PageD=567#ancor.
138. FAOSTAT (2013),
http//faostat.fao.org/site/567DesktopDefault.aspx?PageD=567#ancor
139. FAOSTAT, http://faostat.fao.org/site/339/default.aspx.
140. http://necsi.edu/research/social/foodprices/foodforfuel, 2013.
142. http://www.maizegdb.org/ssr.php
141. http://nmri.org.vn/tabid/57/categoryid/10/id/40/VIEN-NGHIEN-CUU-NGO
PHẦN PHỤ LỤC
Phụ lục Tên phụ lục Trang
Một số hình ảnh liên quan đến đề tài -1- 1
Phiếu điều tra -7- 2
-9- Kết quả phân tích thống kê năng suất của các giống ngô được 3
bảo vệ và không được bảo vệ bằng thuốc diệt nấm ở một số
vùng trồng ngô chính ở Tây Nguyên năm 2009
Kết quả phân tích thống kê chỉ sốAUPDC -13- 4
Ma trận đa dạng di truyền các dòng nghiên cứu trên cơ sở phân -17- 5
tích 29 locus SSR
Kết quả phân tích thống kê năng suất các dòng nghiên cứu vụ -18- 6
Thu Đông 2009
Kết quả phân tích KNKH chung về năng suất của 22 dòng với 2 -22- 7
cây thử vụ Hè Thu 2010
Kết quả phân tích KNKH riêng về năng suất của 8 dòng vụ Hè -26- 8
Thu 2010
Kết quả phân tích thống kê năng suất các tổ hợp lai đỉnh vụ Hè -29- 9
Thu 2010
Kết quả phân tích thống kê năng suất thực thu các tổ hợp lai -31- 10
luân phiên vụ Hè Thu 2011
Năng suất các dòng bố mẹ được sử dụng thiết kế lai đỉnh vụ Hè -33- 11
12
-34- Thu 2010 Năng suất các dòng bố mẹ được sử dụng thiết kế lai luân phiên vụ Hè Thu 2010
Khí tượng thuỷ văn vùng Tây Nguyên -35- 13
-39- 14 Kết quả khảo nghiệm VN5885, VN665 và VN667 trong hệ
thống khảo nghiệm Quốc gia
- 1 -
PHỤ LỤC 1
MỘT SỐ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Hình 1. Các dòng nghiên cứu sau 80 gieo trồng trong lô thí nghiệm lây nhiễm bệnh gỉ sắt nhân tạo
Hình 2. Giống ngô CP888 bị nhiễm bệnh gỉ sắt vụ Thu Đông 2009
- 2 -
Hình 3. Sự biểu hiện khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các giống ngô vụ Thu Đông 2012 Bên trái: nhiễm bệnh (cấp 5), bên phải: chống chịu tốt (cấp 1)
Hình 4. Thu hoạch và đánh giá ngô vụ Thu Đông 2010
- 3 -
Hình 5. Mô hình trình diễn giống ngô VN5885 vụ Thu Đông 2013
Hình 6. Mô hình trình diễn giống ngô VN665 vụ Thu Đông 2013
- 4 -
Hình 7. Mô hình trình diễn giống ngô VN667 vụ Thu Đông 2013
- 5 -
HÌNH ẢNH ĐIỆN DI SẢN PHẨM SSR VỚI CÁC MỒI
Phi 423798 Phi 083
Phi 299852 Umc1196
UMC1304 Phi 062
Phi 057 phi 093
- 6 -
Phi 374118 UMC1399
Phi 065 Phi 96342
Phi 053 Phi 213984
- 7 -
PHỤ LỤC 2
PHIẾU ĐIỀU TRA PHỎNG VẤN NÔNG HỘ
1. Thông tin chung
1.1. Họ và tên người được hỏi:……………………………………………………
1.2.Địa chỉ:…………………………………………………………………………
1.3. Tuổi:…………………Giới tính: 1 - Nam, 2 - Nữ
1.4. Trình độ học vấn: 1-ĐH; 2-Trung cấp, sơ cấp; 3-PTTH; 4-Tiểu học; 5-Không
2. Các nội dung điều tra
2.1. Tổng diện tích đất canh tác của hộ:………………………………………ha
Trong đó: Diện tích ngô…………….…..ha; loài cây khác:………………….ha
Nguồn gốc đất:………………………………………………………………….
2.2. Thực trạng đất canh tác ngô: 1-Tốt; 2-Trung bình; 3-Xấu (nhận xét tương đối
với địa phương)
2.3. Tình hình canh tác ngô:
2.3.1. Phân bón:
- Phân hóa học:
+ Bón phân đơn: N = …………kg; P = …………..kg; K = …………….kg
+ Phân bón hỗn hợp: NPK = ………………………..kg
+ Số lần bón/vụ:……………lần; lượng bón/lần…… kg
2.4. Bệnh hại ngô
2.4.1. Loại bệnh thường gặp:
Tên bệnh:……………………………………………………………………………
Bệnh chủ yếu:……………………………………………………………………….
Gia đình có phòng trừ các loại bệnh hại này không? 0 - không; 1 - có
Biện pháp áp dụng để phòng trừ:……………………………………………………..
Loài bệnh………………………..; loại thuốc………………………
số lần dùng/vụ:………
Hiệu quả: 1 - Tốt; 2 - Trung bình; 3 - Kém
- 8 -
Gia đình có hướng dẫn sử dụng không? 0 - không; 1 - có
Do ai hướng dẫn: 1 - Khuyến nông; 2 - Công ty; 3 - Trạm bảo vệ thực vât;
4 - Khác…….
2.4.2. Các loại bệnh hại chính hiện có trên ruộng ngô của Ông (bà)
+ Bệnh khô vằn: mức độ 1 - Nhẹ; 2 - Trung bình; 3 - Nặng
+ Bệnh gỉ sắt: mức độ 1 - Nhẹ; 2 - Trung bình; 3 - Nặng
+ Bệnh đốm lá lớn: mức độ 1 - Nhẹ; 2 - Trung bình; 3 - Nặng
+ Bệnh đốm lá nhỏ: mức độ 1 - Nhẹ; 2 - Trung bình; 3 - Nặng
+ Bệnh thối thân: mức độ 1 - Nhẹ; 2 - Trung bình; 3 - Nặng
2.4.3. Các loại thuốc sử dụng:
- Ông (bà) có sử dụng thuốc để phòng trừ hay không? 0 - Không; 1 - Có
- Loại thuốc:…………………………; Hiệu quả: 1 - Tốt; 2 - Trung bình; 3 - Kém
- Loại thuốc:…………………………; Hiệu quả: 1 - Tốt; 2 - Trung bình; 3 - Kém
- Loại thuốc:…………………………; Hiệu quả: 1 - Tốt; 2 - Trung bình; 3 - Kém
2.5. Năng suất, sản lượng ngô:
- Năng suất, sản lượng ngô vụ 1: Sản lượng………….…..tấn; Diện tích………ha
- Năng suất, sản lượng ngô vụ 2: Sản lượng………….…..tấn; Diện tích………ha
- Năng suất, sản lượng ngô vụ 3: Sản lượng………….…..tấn; Diện tích………ha
3. Các ý kiến khác:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………..
…………………..ngày………tháng……năm…….. Người phỏng vấn
- 9 -
PHỤ LỤC 3
NĂNG SUẤT CÁC GIỐNG NGÔ ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ KHÔNG ĐƯỢC BẢO
Data file: HETHU Title: NANG SUAT VU HE THU Function: ANOVA-2 Data case 1 to 210 Two-way Analysis of Variance over variable 1 (NT) with values from 1 to 35 and over variable 2 (LLL) with values from 1 to 6. Variable 3: NS A N A L Y S I S O F V A R I A N C E T A B L E Degrees of Sum of Source Freedom Squares Mean Square F-value Prob ------------------------------------------------------------------------ NT 34 13278.74 390.551 48.15 0.0000 LLL 5 4036.88 807.376 99.54 0.0000 Error 170 1378.95 8.111 Non-additivity 1 320.72 320.715 51.22 Residual 169 1058.23 6.262 ------------------------------------------------------------------------ Total 209 18694.57 ------------------------------------------------------------------------ Grand Mean= 69.683 Grand Sum= 14633.480 Total Count= 210 Coefficient of Variation= 4.09% Means for variable 3 (NS) for each level of variable 1 (NT): Var 1 Var 3 Var 1 Var 3 Var 1 Var 3 Value Mean Value Mean Value Mean ----- ----- ----- ----- ----- ----- 1 73.323 13 66.410 25 84.727 2 67.500 14 56.782 26 74.305 3 65.580 15 75.903 27 71.182 4 60.017 16 72.530 28 75.773 5 73.950 17 68.608 29 57.408 6 70.942 18 63.680 30 83.873 7 67.200 19 56.645 31 77.718 8 66.700 20 73.847 32 71.112 9 56.887 21 79.317 33 78.075 10 78.740 22 68.442 34 59.360 11 68.505 23 67.932 35 83.193 12 66.555 24 56.193 Means for variable 3 (NS) for each level of variable 2 (LLL): Var 2 Var 3 Value Mean ----- ----- 1 73.031
VỆ BẰNG THUỐC TRỪ NẤM Ở MỘT SỐ VÙNG TRỒNG NGÔ CHÍNH Ở TÂY NGUYÊN NĂN 2009
- 10 -
2 74.791 3 73.707 4 65.354 5 67.831 6 63.385 Data File : Keyboard Function : RANGE Error Mean Square = 8.111 Error Degrees of Freedom = 175 No. of observations to calculate a mean = 6 Duncan's Multiple Range Test LSD value = 3.245 s_ = 1.163 at alpha = 0.050 Original Order Ranked Order Mean 1 = 73.32 DE Mean 25 = 84.73 A Mean 2 = 67.50 FG Mean 30 = 83.87 A Mean 3 = 65.58 GH Mean 35 = 83.19 A Mean 4 = 60.02 I Mean 21 = 79.32 B Mean 5 = 73.95 DE Mean 10 = 78.74 B Mean 6 = 70.94 EF Mean 33 = 78.08 B Mean 7 = 67.20 GH Mean 31 = 77.72 BC Mean 8 = 66.70 GH Mean 15 = 75.90 BCD Mean 9 = 56.89 IJ Mean 28 = 75.77 BCD Mean 10 = 78.74 B Mean 26 = 74.31 CDE Mean 11 = 68.51 FG Mean 5 = 73.95 DE Mean 12 = 66.56 GH Mean 20 = 73.85 DE Mean 13 = 66.41 GH Mean 1 = 73.32 DE Mean 14 = 56.78 IJ Mean 16 = 72.53 DE Mean 15 = 75.90 BCD Mean 27 = 71.18 EF Mean 16 = 72.53 DE Mean 32 = 71.11 EF Mean 17 = 68.61 FG Mean 6 = 70.94 EF Mean 18 = 63.68 H Mean 17 = 68.61 FG Mean 19 = 56.65 IJ Mean 11 = 68.51 FG Mean 20 = 73.85 DE Mean 22 = 68.44 FG Mean 21 = 79.32 B Mean 23 = 67.93 FG Mean 22 = 68.44 FG Mean 2 = 67.50 FG Mean 23 = 67.93 FG Mean 7 = 67.20 GH Mean 24 = 56.19 J Mean 8 = 66.70 GH Mean 25 = 84.73 A Mean 12 = 66.56 GH Mean 26 = 74.31 CDE Mean 13 = 66.41 GH Mean 27 = 71.18 EF Mean 3 = 65.58 GH Mean 28 = 75.77 BCD Mean 18 = 63.68 H Mean 29 = 57.41 IJ Mean 4 = 60.02 I Mean 30 = 83.87 A Mean 34 = 59.36 IJ Mean 31 = 77.72 BC Mean 29 = 57.41 IJ Mean 32 = 71.11 EF Mean 9 = 56.89 IJ Mean 33 = 78.08 B Mean 14 = 56.78 IJ Mean 34 = 59.36 IJ Mean 19 = 56.65 IJ Mean 35 = 83.19 A Mean 24 = 56.19 J
- 11 -
Data file: THUDONG Title: NANG SUAT VU THU DONG Function: ANOVA-2 Data case 1 to 210 Two-way Analysis of Variance over variable 1 (NT) with values from 1 to 35 and over variable 2 (LLL) with values from 1 to 6. Variable 3: NS A N A L Y S I S O F V A R I A N C E T A B L E Degrees of Sum of Source Freedom Squares Mean Square F-value Prob ------------------------------------------------------------------------ NT 34 20204.73 594.257 26.68 0.0000 LLL 5 12721.79 2544.359 114.23 0.0000 Error 170 3786.46 22.273 Non-additivity 1 1604.73 1604.728 124.30 Residual 169 2181.73 12.910 ------------------------------------------------------------------------ Total 209 36712.98 ------------------------------------------------------------------------ Grand Mean= 62.657 Grand Sum= 13157.940 Total Count= 210 Coefficient of Variation= 7.53% Means for variable 3 (NS) for each level of variable 1 (NT): Var 1 Var 3 Var 1 Var 3 Var 1 Var 3 Value Mean Value Mean Value Mean ----- ----- ----- ----- ----- ----- 1 67.565 13 59.343 25 79.213 2 58.057 14 48.578 26 68.533 3 57.363 15 75.310 27 62.282 4 48.665 16 64.147 28 69.622 5 72.547 17 56.360 29 48.208 6 64.857 18 59.875 30 81.407 7 56.877 19 48.942 31 72.032 8 54.770 20 70.083 32 60.180 9 49.265 21 69.702 33 70.227 10 77.290 22 57.560 34 49.952 11 67.365 23 60.307 35 79.910 12 57.662 24 48.937 Means for variable 3 (NS) for each level of variable 2 (LLL): Var 2 Var 3 Value Mean ----- ----- 1 70.349 2 72.804 3 67.217 4 55.070 5 57.826 6 52.675
- 12 -
Data File : Keyboard Function : RANGE Error Mean Square = 22.27 Error Degrees of Freedom = 175 No. of observations to calculate a mean = 6 Duncan's Multiple Range Test LSD value = 5.378 s_ = 1.927 at alpha = 0.050 Original Order Ranked Order Mean 1 = 67.57 EFG Mean 2 = 58.06 IJK Mean 3 = 57.36 JK Mean 4 = 48.67 M Mean 5 = 72.55 CDE Mean 6 = 64.86 FGH Mean 7 = 56.88 JK Mean 8 = 54.77 KL Mean 9 = 49.27 LM Mean 10 = 77.29 ABC Mean 11 = 67.37 EFG Mean 12 = 57.66 JK Mean 13 = 59.34 HIJK Mean 14 = 48.58 M Mean 15 = 75.31 BCD Mean 16 = 64.15 FGHI Mean 17 = 56.36 JK Mean 18 = 59.88 HIJK Mean 19 = 48.94 LM Mean 20 = 70.08 DEF Mean 21 = 69.70 DEF Mean 22 = 57.56 JK Mean 23 = 60.31 HIJK Mean 24 = 48.94 LM Mean 25 = 79.21 AB Mean 26 = 68.53 EF Mean 27 = 62.28 GHIJ Mean 28 = 69.62 DEF Mean 29 = 48.21 M Mean 30 = 81.41 A Mean 31 = 72.03 CDE Mean 32 = 60.18 HIJK Mean 33 = 70.23 DEF Mean 34 = 49.95 LM Mean 35 = 79.91 AB
Mean 30 = 81.41 A Mean 35 = 79.91 AB Mean 25 = 79.21 AB Mean 10 = 77.29 ABC Mean 15 = 75.31 BCD Mean 5 = 72.55 CDE Mean 31 = 72.03 CDE Mean 33 = 70.23 DEF Mean 20 = 70.08 DEF Mean 21 = 69.70 DEF Mean 28 = 69.62 DEF Mean 26 = 68.53 EF Mean 1 = 67.57 EFG Mean 11 = 67.37 EFG Mean 6 = 64.86 FGH Mean 16 = 64.15 FGHI Mean 27 = 62.28 GHIJ Mean 23 = 60.31 HIJK Mean 32 = 60.18 HIJK Mean 18 = 59.88 HIJK Mean 13 = 59.34 HIJK Mean 2 = 58.06 IJK Mean 12 = 57.66 JK Mean 22 = 57.56 JK Mean 3 = 57.36 JK Mean 7 = 56.88 JK Mean 17 = 56.36 JK Mean 8 = 54.77 KL Mean 34 = 49.95 LM Mean 9 = 49.27 LM Mean 19 = 48.94 LM Mean 24 = 48.94 LM Mean 4 = 48.67 M Mean 14 = 48.58 M Mean 29 = 48.21 M
- 13 -
G1236 G1237 G1238 G16 G17 G18 G19 G2 G20 G286 G287 G288 G289 G3 G31 G40 G41 G42 G43 G44 G45 G46 G47 M67a M67b T5(đ/c)
DF Squares Mean Square F Value Pr > F 41 305345.0479 7447.4402 15.92 <.0001 78 36489.2416 467.8108
PHỤ LỤC 4 CHỈ SỐ AUDPC CỦA CÁC DÒNG NGHIÊN CỨU NGOÀI ĐỒNG RUỘNG 1 The ANOVA Procedure Class Level Information Class Levels Values K 3 1 2 3 T 40 B67a B67b B67c C10N C2N C3N C4N C88N C89N C90N DF2(đ/c) G1 G1234 G1235 Number of Observations Read 120 Number of Observations Used 120 The ANOVA Procedure Dependent Variable: Y Sum of Source Model Error Corrected Total 119 341834.2896 R-Square Coeff Var Root MSE Y Mean 0.893255 19.69997 21.62893 109.7917 Source DF Anova SS Mean Square F Value Pr > F K 2 432.3735 216.1867 0.46 0.6317 T 39 304912.6745 7818.2737 16.71 <.0001 The ANOVA Procedure Duncan's Multiple Range Test for Y NOTE: This test controls the Type I comparisonwise error rate, not the experimentwise error rate. Alpha 0.05 Error Degrees of Freedom 78 Error Mean Square 467.8108 Number of Means 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Critical Range 35.16 36.99 38.21 39.10 39.78 40.34 40.79 41.18 41.51 41.79 Number of Means 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 Critical Range 42.04 42.26 42.46 42.64 42.80 42.94 43.07 43.19 43.29 43.39 Number of Means 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 Critical Range 43.48 43.57 43.64 43.71 43.78 43.84 43.89 43.95 43.99 44.04 Number of Means 32 33 34 35 36 37 38 39 40 Critical Range 44.08 44.12 44.15 44.18 44.21 44.24 44.27 44.29 44.31
- 14 -
Means with the same letter are not significantly different. Duncan Grouping Mean N T A 192.04 3 G44 A 190.37 3 G42 A 190.00 3 DF2(?/c) A 186.02 3 G16 A 181.30 3 G20 B A 178.52 3 G19 B A 178.43 3 G18 B A 178.15 3 G1236 B A C 174.35 3 G287 B A C 174.07 3 G1 B DA C 157.59 3 B67b B D E C 138.33 3 C90N D E C 135.93 3 C88N F D E 132.50 3 C2N F D E 131.02 3 C89N F D E 124.26 3 C3N F D E 120.28 3 G41 F D E 116.85 3 G17 F D E 116.67 3 G31 F E G 110.00 3 G40 H G 75.74 3 G289 H G 75.56 3 G1234 H G 71.48 3 G45 H 69.44 3 G1235 H 68.33 3 G3 H 67.78 3 M67b H 66.85 3 G47 H 66.67 3 C4N H 64.44 3 G1237 H 63.89 3 G2 H 62.96 3 B67a H 60.93 3 M67a H 58.15 3 G46 H 57.04 3 G1238 H 54.63 3 G43 H 53.15 3 G288 H 52.78 3 G286 H 52.04 3 C10N H 50.56 3 B67c
H 58.70 3 T5(?/c)
- 15 -
CHỈ SỐ AUDPC CỦA CÁC DÒNG NGHIÊN CỨU LÂY NHIỄM NHÂN TẠO
1
The ANOVA Procedure
DF Squares Mean Square F Value Pr > F 41 367441.9606 8961.9990 15.86 <.0001
Class Level Information Class Levels Values K 3 1 2 3 T 40 B67a B67b B67c C10N C2N C3N C4N C88N C89N C90N DF2(?/c) G1 G1234 G1235 G1236 G1237 G1238 G16 G17 G18 G19 G2 G20 G286 G287 G288 G289 G3 G31 G40 G41 G42 G43 G44 G45 G46 G47 M67a M67b T5(?/c) Number of Observations Read 120 Number of Observations Used 120 The ANOVA Procedure Dependent Variable: Y Sum of Source Model Error 78 44079.8352 565.1261 Corrected Total 119 411521.7958 R-Square Coeff Var Root MSE Y Mean 0.892886 18.85831 23.77238 126.0579 Source DF Anova SS Mean Square F Value Pr > F K 2 579.5774 289.7887 0.51 0.6008 T 39 366862.3832 9406.7278 16.65 <.0001 The ANOVA Procedure Duncan's Multiple Range Test for Y NOTE: This test controls the Type I comparisonwise error rate, not the experimentwise error rate. Alpha 0.05 Error Degrees of Freedom 78 Error Mean Square 565.1261 Number of Means 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Critical Range 38.64 40.66 42.00 42.97 43.73 44.33 44.83 45.26 45.62 45.93 46.21 46.45 46.67 Number of Means 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 Critical Range 46.86 47.04 47.19 47.34 47.47 47.58 47.69 47.79 47.88 47.97 48.05 48.12 48.18 Number of Means 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 Critical Range 48.24 48.30 48.35 48.40 48.45 48.49 48.53 48.56 48.59 48.62 48.65 48.68 48.70
Means with the same letter are not significantly different
Duncan Grouping Mean N T 226.76 3 G42 A 218.06 3 DF2(?/c) B A 217.87 3 G44 B A 213.98 3 G1236 B A C 208.80 3 G287 B A C 198.80 3 G20 B D A C 196.76 3 G18 B D A C B D E C 186.57 3 G16 B D E C 185.65 3 G19 D E C 172.59 3 C88N 162.78 3 C90N F D E F D E G 161.94 3 C2N
- 16 -
91.67 3 G1234 84.63 3 G47 84.26 3 G45 80.93 3 G46 79.44 3 C4N 77.22 3 G1235 77.22 3 G1237 76.11 3 G3 75.56 3 M67b 72.41 3 G2 71.67 3 B67a 71.48 3 G1238 70.56 3 M67a 69.26 3 G288 69.07 3 G43 68.89 3 G286 64.81 3 B67c 68.33 3 C10N 68.55 3 T5(?/c)
F D E G 161.85 3 G1 F D E G 155.09 3 C3N F D E G 154.91 3 C89N F D E G 154.26 3 B67b F H E G 144.72 3 G31 F H I G 121.11 3 G41 J H I G 117.13 3 G17 J H I G 116.94 3 G40 J L I K 93.52 3 G289 J L I K J L I K J L I K J L I K J L I K J L I K J L I K J L I K J L I K J L K J L K J L K L K L L L L L L
- 17 -
PHỤ LỤC 5
MA TRẬN ĐA DẠNG DI TRUYỀN CÁC DÒNG NGHIÊN CÚU TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH 29 LOCUS SSR
G31 G2
G17 G40 G3
G47
C3N T5 G46
G41
G289
TT Dòng
C 4N
G 45
G 1234
G 1235
C 89N
C 10N
C 90N
C 2N
C 88N
G 286
G 288
B 67c
G 43
1
G1238
G 1238 0,00
M 67a
B 67a
M 67b
D F2
G 1237
2 M67a
0,61 0,00
B67a 3 4 M67b
0,78 0,62 0,00 0,49 0,45 0,73 0,00
0,58 0,57 0,65 0,56 0,00
5
G31
0,63 0,66 0,67 0,59 0,63 0,00 0,81 0,72 0,76 0,68 0,74 0,65 0,00
6 7
G2 DF2
G1237
0,49 0,56 0,79 0,51 0,69 0,68 0,79 0,00
8
0,58 0,58 0,76 0,68 0,68 0,74 0,80 0,64 0,00 0,68 0,61 0,72 0,60 0,64 0,70 0,81 0,67 0,65 0,00
9 10
G17 G40
0,54 0,46 0,65 0,41 0,33 0,60 0,66 0,60 0,62 0,58 0,00
11
G3
0,75 0,79 0,78 0,73 0,74 0,78 0,81 0,76 0,76 0,70 0,69 0,00 0,67 0,69 0,64 0,59 0,66 0,65 0,74 0,68 0,64 0,60 0,60 0,73 0,00
12 13
C4N G45
0,60 0,69 0,73 0,55 0,66 0,65 0,79 0,68 0,71 0,63 0,63 0,73 0,47 0,00
14
G47
15 G1234 16 G1235
0,71 0,76 0,69 0,70 0,73 0,73 0,81 0,73 0,79 0,68 0,64 0,70 0,70 0,63 0,00 0,67 0,81 0,76 0,71 0,79 0,83 0,78 0,73 0,73 0,72 0,71 0,73 0,68 0,68 0,49 0,00
0,83 0,74 0,73 0,77 0,74 0,79 0,84 0,79 0,68 0,78 0,74 0,65 0,62 0,71 0,76 0,68 0,00 0,76 0,72 0,73 0,65 0,74 0,79 0,71 0,68 0,64 0,60 0,66 0,71 0,65 0,68 0,76 0,65 0,71 0,00
17 18
C89N G41
0,73 0,82 0,79 0,84 0,82 0,86 0,79 0,79 0,74 0,81 0,77 0,81 0,68 0,77 0,76 0,68 0,91 0,74 0,00
19
C10N
0,71 0,73 0,80 0,70 0,70 0,76 0,88 0,73 0,74 0,74 0,64 0,70 0,70 0,73 0,77 0,60 0,53 0,73 0,88 0,00 0,67 0,72 0,76 0,68 0,66 0,71 0,91 0,77 0,68 0,73 0,66 0,71 0,65 0,65 0,78 0,62 0,43 0,74 0,91 0,40 0,00
20 21
C90N C2N
0,67 0,77 0,81 0,68 0,74 0,84 0,88 0,71 0,80 0,70 0,66 0,65 0,74 0,68 0,67 0,59 0,62 0,59 0,84 0,53 0,59 0,00
22
C88N
0,71 0,80 0,74 0,70 0,67 0,72 0,89 0,80 0,80 0,79 0,70 0,69 0,67 0,60 0,65 0,58 0,46 0,75 0,89 0,51 0,29 0,50 0,00 0,60 0,74 0,67 0,71 0,82 0,79 0,84 0,71 0,68 0,63 0,74 0,78 0,68 0,71 0,63 0,62 0,79 0,74 0,77 0,81 0,79 0,71 0,80 0,00
23 24
C3N T5
0,68 0,76 0,63 0,70 0,67 0,73 0,73 0,70 0,76 0,68 0,64 0,72 0,40 0,60 0,65 0,60 0,67 0,70 0,67 0,74 0,70 0,73 0,68 0,67 0,00
25
G46
0,59 0,74 0,70 0,61 0,65 0,76 0,81 0,70 0,76 0,55 0,65 0,73 0,64 0,61 0,42 0,43 0,81 0,64 0,73 0,75 0,67 0,64 0,66 0,58 0,51 0,00 0,60 0,77 0,70 0,62 0,69 0,79 0,82 0,71 0,77 0,63 0,69 0,76 0,59 0,59 0,40 0,37 0,82 0,65 0,74 0,76 0,68 0,65 0,67 0,62 0,49 0,10 0,00
26 27
G286 G288
0,67 0,72 0,54 0,63 0,60 0,72 0,84 0,74 0,77 0,64 0,57 0,69 0,66 0,66 0,76 0,73 0,72 0,74 0,80 0,79 0,72 0,74 0,70 0,69 0,60 0,61 0,66 0,00
28
B67c
0,67 0,69 0,76 0,63 0,77 0,76 0,81 0,69 0,65 0,61 0,69 0,69 0,76 0,69 0,75 0,68 0,74 0,60 0,81 0,73 0,69 0,69 0,73 0,63 0,75 0,64 0,69 0,61 0,00 0,57 0,61 0,71 0,38 0,67 0,69 0,74 0,53 0,70 0,61 0,58 0,71 0,53 0,60 0,50 0,50 0,71 0,66 0,76 0,69 0,69 0,66 0,67 0,57 0,48 0,35 0,38 0,64 0,61
0,00
29 30
G43 G289
- 18 -
Data file: 30 DONG
Title: NANG SUAT 30 DONG NGHIEN CUU VU THU ĐONG 2009 O DAN PHUONG Function: ANOVA-2 Data case 1 to 90 Two-way Analysis of Variance over variable 1 (NT) with values from 1 to 30 and over variable 2 (LLL) with values from 1 to 3. Variable 3: NS
A N A L Y S I S O F V A R I A N C E T A B L E
13.96 0.0000 2.74 0.0726
0.07
Degrees of Sum of Source Freedom Squares Mean Square F-value Prob ------------------------------------------------------------------------ NT 29 1670.70 57.610 LLL 2 22.66 11.329 Error 58 239.38 4.127 Non-additivity 1 0.30 0.304 Residual 57 239.08 4.194 ------------------------------------------------------------------------ Total 89 1932.74 ------------------------------------------------------------------------ Grand Mean= 30.893 Grand Sum= 2780.400 Total Count= 90 Coefficient of Variation= 6.58% Means for variable 3 (NS) for each level of variable 1 (NT): Var 1 Var 3 Var 1 Var 3 Var 1 Var 3 Value Mean Value Mean Value Mean ----- ----- ----- ----- ----- ----- 1 22.600 11 36.300 21 31.200 2 25.200 12 34.400 22 29.000 3 37.100 13 32.500 23 31.000 4 30.100 14 34.800 24 35.100 5 28.000 15 28.000 25 37.600 6 28.900 16 35.400 26 38.500 7 30.200 17 31.600 27 36.200 8 28.000 18 26.900 28 31.000 9 31.100 19 30.900 29 21.700 10 31.800 20 26.900 30 24.800
Means for variable 3 (NS)
for each level of variable 2 (LLL): Var 2 Var 3 Value Mean ----- ----- 1 31.417 2 30.217 3 31.047 Data File : Keyboard Function : RANGE Error Mean Square = 4.127 Error Degrees of Freedom = 60
PHỤ LỤC 6
- 19 -
No. of observations to calculate a mean = 3
Duncan's Multiple Range Test LSD value = 3.318 s_ = 1.173 at alpha = 0.050 x
Original Order Ranked Order
Mean 1 = 22.60 K Mean 26 = 38.50 A Mean 2 = 25.20 IJK Mean 25 = 37.60 AB Mean 3 = 37.10 AB Mean 3 = 37.10 AB Mean 4 = 30.10 FGH Mean 11 = 36.30 ABC Mean 5 = 28.00 GHIJ Mean 27 = 36.20 ABC Mean 6 = 28.90 FGHI Mean 16 = 35.40 ABCD Mean 7 = 30.20 FGH Mean 24 = 35.10 ABCD Mean 8 = 28.00 GHIJ Mean 14 = 34.80 ABCDE Mean 9 = 31.10 EFG Mean 12 = 34.30 BCDE Mean 10 = 31.80 DEFG Mean 13 = 32.50 CDEF Mean 11 = 36.30 ABC Mean 10 = 31.80 DEFG Mean 12 = 34.30 BCDE Mean 17 = 31.60 DEFG Mean 13 = 32.50 CDEF Mean 21 = 31.20 EFG Mean 14 = 34.80 ABCDE Mean 9 = 31.10 EFG Mean 15 = 28.00 GHIJ Mean 23 = 31.00 EFG Mean 16 = 35.40 ABCD Mean 28 = 31.00 EFG Mean 17 = 31.60 DEFG Mean 19 = 30.90 EFG Mean 18 = 26.90 HIJ Mean 7 = 30.20 FGH Mean 19 = 30.90 EFG Mean 4 = 30.10 FGH Mean 20 = 26.90 HIJ Mean 22 = 29.00 FGHI Mean 21 = 31.20 EFG Mean 6 = 28.90 FGHI Mean 22 = 29.00 FGHI Mean 8 = 28.00 GHIJ Mean 23 = 31.00 EFG Mean 5 = 28.00 GHIJ Mean 24 = 35.10 ABCD Mean 15 = 28.00 GHIJ Mean 25 = 37.60 AB Mean 20 = 26.90 HIJ Mean 26 = 38.50 A Mean 18 = 26.90 HIJ Mean 27 = 36.20 ABC Mean 2 = 25.20 IJK Mean 28 = 31.00 EFG Mean 30 = 24.80 JK Mean 29 = 21.70 K Mean 1 = 22.60 K Mean 30 = 24.80 JK Mean 29 = 21.70 K
- 20 -
0.00
Data file: NSBMT Title: NANG SUAT 30 DONG NGHIEN CUU VU THU ĐONG 2009 O BMT Function: ANOVA-2 Data case 1 to 90 Two-way Analysis of Variance over variable 1 (NT) with values from 1 to 30 and over variable 2 (LLL) with values from 1 to 3. Variable 3: NS A N A L Y S I S O F V A R I A N C E T A B L E Degrees of Sum of Source Freedom Squares Mean Square F-value Prob ------------------------------------------------------------------------ NT 29 1842.48 63.534 15.28 0.0000 LLL 2 13.46 6.730 1.62 0.2070 Error 58 241.20 4.159 Non-additivity 1 0.00 0.000 Residual 57 241.20 4.232 ------------------------------------------------------------------------ Total 89 2097.14 ------------------------------------------------------------------------ Grand Mean= 31.493 Grand Sum= 2834.400 Total Count= 90 Coefficient of Variation= 6.48% Means for variable 3 (NS) for each level of variable 1 (NT): Var 1 Var 3 Var 1 Var 3 Var 1 Var 3 Value Mean Value Mean Value Mean ----- ----- ----- ----- ----- ----- 1 23.600 11 35.600 21 30.700 2 24.800 12 36.600 22 32.100 3 38.600 13 33.300 23 30.400 4 32.500 14 34.700 24 36.300 5 28.600 15 29.600 25 38.500 6 28.900 16 36.300 26 36.500 7 28.300 17 34.500 27 35.500 8 30.000 18 30.300 28 30.300 9 30.700 19 34.700 29 23.700 10 32.400 20 27.600 30 22.400 Means for variable 3 (NS) for each level of variable 2 (LLL): Var 2 Var 3 Value Mean ----- ----- 1 31.940 2 30.997 3 31.543
Data File : Keyboard Function : RANGE Error Mean Square = 4.159 Error Degrees of Freedom = 60 No. of observations to calculate a mean = 3
- 21 -
Duncan's Multiple Range Test LSD value = 3.331 s_ = 1.177 at alpha = 0.050 x
Original Order Ranked Order Mean 1 = 23.60 K Mean 3 = 38.60 A Mean 2 = 24.80 JK Mean 26 = 36.50 A Mean 3 = 38.60 A Mean 25 = 38.50 AB Mean 4 = 32.50 DEFGH Mean 12 = 36.60 ABC Mean 5 = 28.60 HI Mean 16 = 36.30 ABCD Mean 6 = 28.90 HI Mean 27 = 35.50 ABCD Mean 7 = 28.30 IJ Mean 11 = 35.60 ABCD Mean 8 = 30.00 GHI Mean 24 = 36.30 ABCD Mean 9 = 30.70 FGHI Mean 19 = 34.70 ABCDE Mean 10 = 32.40 DEFGH Mean 14 = 34.70 ABCDE Mean 11 = 35.60 ABCD Mean 17 = 34.50 BCDEF Mean 12 = 36.60 ABC Mean 13 = 33.30 CDEFG Mean 13 = 33.30 CDEFG Mean 4 = 32.50 DEFGH Mean 14 = 34.70 ABCDE Mean 10 = 32.40 DEFGH Mean 15 = 29.60 GHI Mean 23 = 30.40 EFGHI Mean 16 = 36.30 ABCD Mean 28 = 30.30 EFGHI Mean 17 = 34.50 BCDEF Mean 9 = 30.70 FGHI Mean 18 = 30.30 GHI Mean 21 = 30.70 FGHI Mean 19 = 34.70 ABCDE Mean 18 = 30.30 GHI Mean 20 = 27.60 IJ Mean 8 = 30.00 GHI Mean 21 = 30.70 FGHI Mean 15 = 29.60 GHI Mean 22 = 32.10 HI Mean 22 = 32.10 HI Mean 23 = 30.40 EFGHI Mean 6 = 28.90 HI Mean 24 = 36.30 ABCD Mean 5 = 28.60 HI Mean 25 = 38.50 AB Mean 7 = 28.30 IJ Mean 26 = 36.50 A Mean 20 = 27.60 IJ Mean 27 = 35.50 ABCD Mean 2 = 24.80 JK Mean 28 = 30.30 EFGHI Mean 1 = 23.60 K Mean 29 = 24.70 K Mean 30 = 22.40 K Mean 30 = 22.40 K Mean 29 = 24.70 K
- 22 -
CHUONG TRINH PHAN TICH PHUONG SAI LINE * TESTER Ver 3.0 Nguyen Dinh Hien 1996 Thi nghiem lai dinh 20 dong 2 cay thu 3 lan nhac Cu M'gar BANG CAC GIA TRI TRUNG BINH CUA THI NGHIEM ┌────────────────────┐ │ Cay 1 │ Cay 2 │ ┌────│────────────────────│ Dong│ 1 │ 76.700 │ 88.800 │ │────│────────────────────│ Dong│ 2 │ 76.433 │ 77.500 │ │────│────────────────────│ Dong│ 3 │ 57.200 │ 59.200 │ │────│────────────────────│ Dong│ 4 │ 57.867 │ 77.433 │ │────│────────────────────│ Dong│ 5 │ 56.300 │ 85.067 │ │────│────────────────────│ Dong│ 6 │ 77.433 │ 58.267 │ │────│────────────────────│ Dong│ 7 │ 70.000 │ 58.867 │ │────│────────────────────│ Dong│ 8 │ 70.167 │ 66.867 │ │────│────────────────────│ Dong│ 9 │ 78.600 │ 86.167 │ │────│────────────────────│ Dong│ 10 │ 92.933 │ 91.933 │ │────│────────────────────│ Dong│ 11 │ 85.100 │ 90.133 │ │────│────────────────────│ Dong│ 12 │ 90.433 │ 86.233 │ │────│────────────────────│ Dong│ 13 │ 78.133 │ 80.500 │ │────│────────────────────│ Dong│ 14 │ 69.233 │ 67.000 │ │────│────────────────────│ Dong│ 15 │ 78.233 │ 89.567 │ │────│────────────────────│ Dong│ 16 │ 75.767 │ 83.900 │ │────│────────────────────│ Dong│ 17 │ 88.433 │ 88.967 │ │────│────────────────────│ Dong│ 18 │ 89.067 │ 88.567 │ │────│────────────────────│ Dong│ 19 │ 84.767 │ 90.000 │ │────│────────────────────│ Dong│ 20 │ 80.167 │ 79.100 │ └────┴────────────────────┘
PHỤ LỤC 7
- 23 -
BANG PHAN TICH PHUONG SAI I ---------------------------
╔════════════════════════════════════════════════════════════════════════╗ ║ Nguon bien dong │ Bac tu Do Tong BP Trung binh FTN ║ ║────────────────────────────────────────────────────────────────────────║ ║ Khoi │ 2 5.970 2.985 0.444 ║ ║ Cong thuc │ 61 106584.852 1747.293 259.930 ║ ║ Sai so │ 122 820.103 6.722 ║ ║────────────────────────────────────────────────────────────────────────║ ║ Toan bo │ 185 107410.926 ║ ╚════════════════════════════════════════════════════════════════════════╝ BANG PHAN TICH PHUONG SAI II --------------------------- ╔════════════════════════════════════════════════════════════════════════╗ ║ Nguon bien dong │ Bac tu Do Tong BP Trung binh FTN ║ ║────────────────────────────────────────────────────────────────────────║ ║ Khoi │ 2 5.970 2.985 0.444 ║ ║ Cong thuc │ 61 106584.852 1747.293 259.930 ║ ║ Bo me │ 21 395.219 18.820 2.800 ║ ║ Cap lai │ 39 14335.207 367.569 54.680 ║ ║ Bo me vs Cap lai │ 1 91854.426 91854.426 13664.431 ║ ║ GCA Dong │ 19 11035.808 580.832 3.655 ║ ║ GCA Tester │ 1 279.991 279.991 1.762 ║ ║ SCA Dong*Tester │ 19 3019.408 158.916 23.641 ║ ║ Sai so │ 122 820.103 6.722 ║ ║────────────────────────────────────────────────────────────────────────║ ║ Toan bo │ 185 107410.926 ║ ╚════════════════════════════════════════════════════════════════════════╝
Ty le dong gop cua Dong , cay thu va tuong tac vao bien dong chung Dong gop cua Dong : 76.984 Dong gop cua Cay thu : 1.953 Dong gop cua Dong * Cay thu : 21.063 CAC TRUNG BINH CUA CAC DONG │ md[ 1] = 82.750 │ md[ 2] = 76.967 │ md[ 3] = 58.200 │ │ md[ 4] = 67.650 │ md[ 5] = 70.683 │ md[ 6] = 67.850 │ │ md[ 7] = 64.433 │ md[ 8] = 68.517 │ md[ 9] = 82.383 │ │ md[10] = 92.433 │ md[11] = 87.617 │ md[12] = 88.333 │ │ md[13] = 79.317 │ md[14] = 68.117 │ md[15] = 83.900 │ │ md[16] = 79.833 │ md[17] = 88.700 │ md[18] = 88.817 │ │ md[19] = 87.383 │ md[20] = 79.633 │ Sai so khi so sanh 2 so trung binh mi va mj cua 2 dong ---------------------------------------------------------- Sd(mdi - mdj) = 1.497 Sai so khi so sanh mot trung binh voi trung binh cua tat ca cac dong --------------------------------------------------------------------- Sd(mdi) = 1.032
- 24 -
CAC TRUNG BINH CUA CAC CAY THU │ mct[ 1] = 76.648 │ mct[ 2] = 79.703 │ Sai so khi so sanh 2 so trung binh cua 2 cay thu -------------------------------------------------------------- Sd(mcti - mctj) = 0.473 Sai so khi so sanh mot trung binh voi trung binh cua tat ca cac cay ----------------------------------------------------------------------- Sd(mcti) = 0.237 KHA NANG KET HOP CHUNG CUA CAY THU ----------------------------------- ┌────────────────────────────┐ │ CAY THU │ KNKH │ │────────────────────────────│ │ 1 │ -1.527 │ │ 2 │ 1.528 │ └────────────────────────────┘ Sai so cua kha nang ket hop chung cua cay thu: 0.335 Sai so khi so kha nang ket hop chung cua 2 cay thu: 0.473 KHA NANG KET HOP CHUNG CUA CAC DONG ----------------------------------- ┌────────────────────────────┐ │ DONG │ KNKH │ │────────────────────────────│ │ 1 │ 4.574 │ │ 2 │ -1.209 │ │ 3 │ -19.976 │ │ 4 │ -10.526 │ │ 5 │ -7.492 │ │ 6 │ -10.326 │ │ 7 │ -13.742 │ │ 8 │ -9.659 │ │ 9 │ 4.208 │ │ 10 │ 14.258 │ │ 11 │ 9.441 │ │ 12 │ 10.158 │ │ 13 │ 1.141 │ │ 14 │ -10.059 │ │ 15 │ 5.724 │ │ 16 │ 1.658 │ │ 17 │ 10.524 │ │ 18 │ 10.641 │ │ 19 │ 9.208 │ │ 20 │ 1.458 │ └────────────────────────────┘
- 25 -
Sai so cua kha nang ket hop chung cua dong: 1.058 Sai so khi so kha nang ket hop chung cua 2 dong: 1.497 Kha nang ket hop rieng DONG * CAY THU ----------------------------------------- ┌────────────────────────────────────┐ │ │ Cay 1 │ Cay 2 │Bien dong│ │────────────────────────────────────│ │ dong 1 │ -4.523│ 4.522│ 40.906 │ │ dong 2 │ 0.994│ -0.994│ 1.977 │ │ dong 3 │ 0.527│ -0.528│ 0.557 │ │ dong 4 │ -8.256│ 8.256│ 136.318 │ │ dong 5 │ -12.856│ 12.856│ 330.545 │ │ dong 6 │ 11.111│ -11.111│ 246.901 │ │ dong 7 │ 7.094│ -7.094│ 100.654 │ │ dong 8 │ 3.177│ -3.178│ 20.193 │ │ dong 9 │ -2.256│ 2.256│ 10.178 │ │ dong10 │ 2.027│ -2.028│ 8.222 │ │ dong11 │ -0.989│ 0.989│ 1.957 │ │ dong12 │ 3.627│ -3.628│ 26.318 │ │ dong13 │ 0.344│ -0.344│ 0.237 │ │ dong14 │ 2.644│ -2.644│ 13.983 │ │ dong15 │ -4.139│ 4.139│ 34.265 │ │ dong16 │ -2.539│ 2.539│ 12.895 │ │ dong17 │ 1.261│ -1.261│ 3.179 │ │ dong18 │ 1.777│ -1.778│ 6.319 │ │ dong19 │ -1.089│ 1.089│ 2.373 │ │ dong20 │ 2.061│ -2.061│ 8.494 │ └────────────────────────────────────┘ Bien dong cay thu 24.363 24.363 Trung binh bien dong cua cay thu 50.323 Trung binh bien dong cua Dong 24.363 Sai so cua kha nang ket hop rieng : 1.497 Sai so khi so sanh hai KNKHR : 2.117
- 26 -
Version 2.0 NGUYEN DINH HIEN Thi nghiem luan giao 8 dong 1 khoi 3 lan nhac Griffing 4 BANG PHAN TICH PHUONG SAI I ------------------------------------------------------------ nguon bien Dong Tong BF Bac tu Do Trung Binh Ftn ------------------------------------------------------------- Toan bo 10639.44 83 128.19 giong 7758.80 27 287.36 5.43 lap lai 24.14 2 12.07 0.23 Ngau nhien 2856.50 54 52.90 -------------------------------------------------------------- BANG PHAN TICH PHUONG SAI II --------------------------------------------------------- nguon bien Dong Tong BF Bac tu Do Trung Binh Ftn ---------------------------------------------------------- Toan bo 3546.48 83 42.729 giong 2586.27 27 95.788 1.811 To hop chung 1355.62 7 193.660 10.983 To hop rieng 1230.65 20 61.532 3.490 Ngau nhien 952.168 54 17.633 ---------------------------------------------------------------- MO HINH CO DINH --------------------------------------------------------------- BANG CAC TO HOP RIENG ---------------------------------------------------------------- 1 2 3 4 5 6 7 8 1 6.092 -0.847 -8.791 3.237 -4.141 0.698 3.753 2 -13.236 1.387 -7.552 0.903 7.709 4.698 3 2.381 -2.225 10.398 -0.430 3.959 4 0.064 1.287 -0.775 4.448 5 1.681 -5.480 10.275 6 7.642 -17.769 7 -9.363 8 ----------------------------------------------------------------
PHỤ LỤC 8 PHAN TICH DIALEN THEO GRIFFING 4
- 27 -
Bang P * P Dialen ---------------------------------------------------------------- 1 2 3 4 5 6 7 8 1 86.300 89.367 80.767 81.833 71.933 91.100 87.700 2 69.800 83.767 63.867 69.800 90.933 81.467 3 94.767 79.200 89.300 92.800 90.733 4 80.833 79.533 91.800 90.567 5 68.967 76.133 85.433 6 86.733 54.867 7 77.600 8 ---------------------------------------------------------------- Phan tich ve To hop chung --------------------------------- Gia tri To hop chung Dong1 Dong2 Dong3 Dong4 Dong5 Dong6 Dong7 Dong8 C3N C2N C10N C4N C88N C89N T5 C90N 2.838 -4.340 5.665 5.010 -5.951 -8.474 5.854 -0.601 Bien Dong cua To hop chung 5.480 16.267 29.524 22.526 32.848 69.231 31.700 -2.210 Bien Dong cua TO HOP RIENG ------------------------------------ Dong1 Dong2 Dong3 Dong4 Dong5 Dong6 Dong7 Dong8 11.525 44.234 37.054 3.126 20.457 69.422 24.773 82.073 Phg sai Do lech T(0.05) LSD(0.05) LSD(0.01) ------------------------------------------------ GI 2.571 1.604 2.008 3.220 4.294 GI - GJ 5.878 2.424 2.008 4.868 6.492 SIJ 12.595 3.549 2.008 7.126 9.504 SIJ -SIK 29.388 5.421 2.008 10.885 14.518 SIJ -SKL 23.510 4.849 2.008 9.736 12.985 Bang so lieu goc ---------------------------------------- 87.200 80.300 91.400 89.400 81.600 97.100 77.000 72.400 92.900 69.300 86.500 89.700 71.800 71.400 72.600 86.200 90.900 96.200 84.100 90.700 88.300 64.500 67.000 77.900
- 28 -
86.500 70.200 94.600 67.000 62.300 62.300 71.800 63.400 74.200 98.600 91.300 82.900 81.900 75.700 86.800 89.400 101.700 93.200 78.400 82.900 76.300 96.200 87.200 84.500 88.300 104.800 85.300 94.900 90.500 86.800 80.700 80.400 81.400 80.100 77.600 80.900 94.500 101.200 79.700 92.500 89.500 89.700 77.600 57.900 71.400 74.600 75.600 78.200 93.300 79.500 83.500 80.800 97.400 82.000 53.200 60.100 51.300 89.600 76.700 66.500 ----------------------------------------
- 29 -
Data file: LDHANH
Title: khao sat THL dinh
Function: ANOVA-2
Data case 1 to 126
Two-way Analysis of Variance over
variable 1 (lan nhac) with values from 1 to 3 and over
variable 2 (giong) with values from 1 to 42.
Variable 3: nang suat
A N A L Y S I S O F V A R I A N C E T A B L E
Degrees of Sum of
Source Freedom Squares Mean Square F-value Prob
------------------------------------------------------------------------
lan nhac 2 3.30 1.649 0.18 0.8348
giong 41 14417.38 351.644 38.60 0.0000
Error 82 747.02 9.110
Non-additivity 1 0.43 0.429 0.05
Residual 81 746.59 9.217
------------------------------------------------------------------------
Total 125 15167.70
------------------------------------------------------------------------
Grand Mean= 78.010 Grand Sum= 9829.300 Total Count= 126
Coefficient of Variation= 3.87%
Means for variable 3 (nang suat)
for each level of variable 1 (lan nhac):
PHỤ LỤC 9
- 30 -
Var 1 Var 3
Value Mean
----- -----
1 77.952
2 77.848
3 78.231
Means for variable 3 (nang suat)
for each level of variable 2 (giong):
Var 2 Var 3 Var 2 Var 3 Var 2 Var 3
Value Mean Value Mean Value Mean
----- ----- ----- ----- ----- -----
1 76.500 15 70.167 29 78.233
2 88.800 16 66.867 30 89.567
3 76.433 17 78.600 31 75.767
4 77.500 18 86.167 32 83.900
5 57.200 19 92.933 33 88.433
6 59.200 20 91.933 34 88.967
7 57.867 21 85.100 35 89.067
8 77.433 22 90.133 36 88.567
9 56.300 23 90.433 37 84.767
10 85.067 24 86.233 38 90.000
11 77.433 25 78.133 39 80.167
12 58.267 26 80.500 40 79.100
13 70.000 27 69.233 41 76.400
14 58.867 28 67.000 42 73.200
lsd at 0.05 alpha level = 4.903
- 31 -
Data file: GHANH Title: khao sat THL luan giao Function: ANOVA-2 Data case 1 to 90 Two-way Analysis of Variance over variable 1 (lan nhac) with values from 1 to 3 and over variable 2 (giong) with values from 1 to 30. Variable 3: nang suat A N A L Y S I S O F V A R I A N C E T A B L E Degrees of Sum of Source Freedom Squares Mean Square F-value Prob ------------------------------------------------------------------------ lan nhac 2 39.71 19.854 0.40 0.6738 giong 29 7800.86 268.995 5.39 0.0000 Error 58 2896.53 49.940 Non-additivity 1 79.71 79.711 1.61 0.2092 Residual 57 2816.82 49.418 ------------------------------------------------------------------------ Total 89 10737.10 ------------------------------------------------------------------------ Grand Mean= 81.580 Grand Sum= 7342.200 Total Count= 90 Coefficient of Variation= 8.66% Means for variable 3 (nang suat) for each level of variable 1 (lan nhac): Var 1 Var 3 Value Mean ----- ----- 1 82.177 2 80.653 3 81.910
PHỤ LỤC 10
- 32 -
Means for variable 3 (nang suat) for each level of variable 2 (giong): Var 2 Var 3 Var 2 Var 3 Var 2 Var 3 Value Mean Value Mean Value Mean ----- ----- ----- ----- ----- ----- 1 86.300 11 69.800 21 91.800 2 89.367 12 90.933 22 90.567 3 80.767 13 81.467 23 68.967 4 81.833 14 94.767 24 76.133 5 71.933 15 79.200 25 85.433 6 91.100 16 89.300 26 86.733 7 87.700 17 92.800 27 54.867 8 69.800 18 90.733 28 77.600 9 83.767 19 80.833 29 81.600 10 63.867 20 79.533 30 77.900 lsd at 0.05 alpha level = 11.550
- 33 -
PHỤ LỤC 11
NĂNG SUẤT CÁC DÒNG BỐ MẸ ĐƯỢC SỬ DỤNG THIẾT KẾ LAI ĐỈNH
VỤ HÈ THU 2010 TẠI CƯ M’GAR
Lần nhắc TT Tên dòng Trung bình 2 1 3
33,6 39,0 M67a 1 32,1 34,9
30,0 33,0 M67b 2 30,2 31,1
30,6 30,4 G3 3 30,0 30,3
32,9 28,6 G17 4 33,9 31,8
29,5 30,8 G31 5 30,8 30,4
25,7 31,6 G40 6 28,8 28,7
29,3 32,5 G41 7 28,7 30,2
36,4 35,8 G43 8 35,2 35,8
33,8 36,9 G45 9 35,9 35,5
33,5 33,8 G46 10 33,4 33,6
33,1 35,3 G47 11 31,6 33,3
30,8 30,4 G286 12 31,6 30,9
32,2 32,2 G288 13 34,5 33,0
34,4 37,0 G289 14 36,6 36,0
29,8 35,0 G1234 15 32,1 32,3
29,3 30,6 G1235 16 30,9 30,3
32,2 33,5 G1237 17 31,8 32,5
34,1 35,3 G1238 18 31,1 33,5
30,0 28,1 B67c 19 25,9 28,0
27,8 29,5 DF2 20 29,0 28,8
25,9 29,6 21 B67a (cây thử) 29,1 28,2
28,2 29,2 22 G2 (cây thử) 29,8 29,1
CV% 5,14%
LSD 2,681
- 34 -
PHỤ LỤC 12
NĂNG SUẤT CÁC DÒNG BỐ MẸ ĐƯỢC SỬ DỤNG THIẾT KẾ LAI LUÂN
PHIÊN VỤ HÈ THU 2010 TẠI BUÔN MA THUỘT
Lần nhắc
Tên dòng
1
3
Trung bình
1
2
1
C3N
25,2
31,2
32,7
29,7
2
C2N
23,6
29,8
29,7
27,7
3
C10N
30,6
35,2
34,4
33,4
4
C4N
23,9
32,1
33,1
29,7
5
C88N
24,6
30,6
29,1
28,1
6
C89N
37,2
34,6
35,9
35,9
7
T5
28,6
22,6
22,6
24,6
8
C90N
26
32,9
32,6
30,5
CV%
9,89%
LSD
5,125
- 35 -
PHỤ LỤC 13
KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN VÙNG TÂY NGUYÊN
Bảng 1. Diễn biến các yếu tố khí hậu vùng Tây Nguyên
Tháng
Cao nhất Thấp nhất
Cao nhất Thấp nhất
Các yếu tố khí hậu Lượng mưa TB/tháng Độ ẩm kk TB/tháng (%) Nhiệt độ TB/tháng (oC) Lượng mưa (mm) 2,1 7,5 30,7 86,7 241,6 249,6 269,4 355,8 345,9 197,8 110,0 35,3
Số ngày có mưa (ngày) 0,5 0,9 3,5 7,8 19,3 20,9 23,9 25,6 23,9 14,9 11,0 35,3
32,0 17,0 20,0 26,0 34,0 45,0 49,0 54,0 47,0 42,0 38,0 38,0
34,3 35,8 37,6 37,8 36,9 34,2 32,9 32,6 32,0 31,8 32,3 31,1
78,0 74,0 73,0 74,0 82,0 85,0 87,0 88,0 89,0 87,0 85,0 83,0
21,4 22,6 24,6 26,1 25,7 25,0 25,4 24,2 24,0 23,6 22,7 21,8
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
(Nguồn: số liệu thống kê khí tượng trung bình 10 năm do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Nguyên năm 2001 - 2011)
Bảng 2. Nhiệt độ không khí trung bình tại trạm quan trắc Buôn Ma Thuột Đơn vị tính: °C
Bình quân năm
Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12
2009 23,83 20,10 23,50 25,30 25,50 24,70 25,00 24,40 25,10 23,70 23,80 22,80 22,10
2010 24,49 22,30 24,60 25,40 27,20 27,50 25,90 24,60 24,60 24,40 23,80 22,30 21,30
2011 23,46 20,30 22,30 22,50 24,90 25,90 24,70 24,70 24,70 23,90 23,80 22,90 20,90
2012 24,25 21,90 23,40 24,60 25,40 25,90 25,10 24,50 24,70 23,90 24,00 24,50 23,10
- 36 -
Bảng 3. Số giờ nắng tại số trạm quan trắc Buôn Ma Thuột
2009
2010
2011
2012
Bình quân năm
2,442.40
2,498.90
2,193.10
2,497.70
Tháng 1
248,4
267,7
157,7
203,3
Tháng 2
219,9
269,7
268,3
255
Tháng 3
262,7
269,9
154,5
227,7
Tháng 4
218,6
264,6
268,5
246,2
Tháng 5
184,8
263,7
218,1
239,8
Tháng 6
211
243,5
168
161,2
Tháng 7
152,1
193,3
191
168,6
Tháng 8
195,3
162,5
196,4
184,3
Tháng 9
104,7
187,1
112,7
135,7
Tháng 10
170,6
119
158,1
210,6
Tháng 11
189,1
81,7
183
230,5
Tháng 12
285,2
176,2
116,8
234,8
Đơn vị tính: mm
Bảng 4. Lượng mưa tại trạm quan trắc Buôn Ma Thuột
2009
2010
2011
2012
Bình quân năm
2,035.60
1,763.60
2,028.70
1,641.80
Tháng 1
0,9
24,5
0
6
Tháng 2
0
1,1
0
0
Tháng 3
22,7
0,8
3,6
75,8
Tháng 4
139,8
24,6
76,9
202,7
Tháng 5
233,4
119,2
259,3
199,9
Tháng 6
138,4
217,6
263,9
123,9
Tháng 7
391,1
371,9
345,1
208,3
Tháng 8
241,7
176,7
218,4
157,5
Tháng 9
562,5
294,3
361,2
510,4
Tháng 10
215,7
253,9
386,1
130,7
Tháng 11
89,4
260,4
105,8
25,8
Tháng 12
0
18,6
8,4
0,8
- 37 -
Bảng 5. Độ ẩm không khí trung bình tại trạm quan trắc Buôn Ma Thuột
Bình quân năm
2009 83
2010 82 78 73 72 72 76 85 87 88 88 89 91 83
78 77 75 81 86 86 88 86 92 87 83 79
Đơn vị tính: % 2012 83 81 76 76 81 82 84 88 87 90 84 83 80
2011 83 80 73 78 74 81 87 86 87 90 88 84 84
Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12
Tháng Nhiệt độ (oC)
Lượng mưa (mm)
Bảng 6. Một số yếu tố khí hậu tại Đắk Mil - Đắk Nông
Độ ẩm không khí (%) 75,8 74,0 77,6 81,2 86,4 88,2 90,6 90,6 91,0 86,4 82,2 78,4 83,5
Số giờ nắng (h) 206,3 225,9 228,7 207,3 181,1 173,3 128,9 127,6 107,1 158,6 164,3 207,5 2.116,6
27,6 40,0 150,4 208,3 304,7 198,7 438,8 544,5 530,7 245,8 76,6 17,4 2.783,4
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB Tổng
21,0 22,4 23,4 24,2 24,2 24,1 23,2 23,1 23,0 23,2 22,4 21,2 23,0
Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn - Tỉnh Đắk Nông, 2009)
- 38 -
Bảng 7. Một số yếu tố khí hậu tại Cư Jút - Đắk Nông
Tháng Nhiệt độ (oC) Lượng mưa (mm) Độ ẩm không khí (%) Số giờ nắng (h)
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB Tổng
19,8 21,4 22,4 23,9 24,3 23,8 22,7 22,5 22,7 22,1 21,4 19,8 22,2
0,8 4,6 27,5 76,1 204,1 150,7 444,0 503,7 322,8 227,8 80,7 2,1 2044,8
77,2 73,8 74,0 76,2 83,3 87,0 91,0 92,3 90,2 87,2 82,2 79,3 82,8
225,3 253,3 251,2 240,4 212,2 193,2 136,9 122,4 133,5 160,6 174,0 217,7 2320,6
(Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn - Tỉnh Đắk Nông, 2009)
Bảng 8. Một số yếu tố khí hậu tại Cư M’gar - Đắk Lắk
Tháng
Nhiệt độ (oC)
Lượng mưa (mm)
Số giờ nắng (h)
Độ ẩm không khí (%) 79,0 75,5 74,0 75,3 82,8 85,3 87,3 88,3 90,0 88,3 87,3 82,0 82,9
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB Tổng
21,1 23,1 24,8 26,2 25,6 25,4 24,5 24,5 24,1 23,9 22,3 21,6 23,9
9,6 1,3 49,5 59,1 228,4 172,4 261,3 329,3 438,2 206,2 160,0 11,0 1.926,3
234,5 246,6 263,0 251,8 214,3 222,4 185,1 170,3 141,5 150,0 126,7 210,6 2.416,6
(Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn - Tỉnh Đắk Lắk, 2009)
- 39 -
PHỤ LỤC 14
KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM VN5885, VN665, VN667 TRONG HỆ THỐNG
KHẢO NGHIỆM QUỐC GIA
Bảng 1. Thời gian sinh trưởng (ngày) của VN5885
Vụ Thu Đông
Vụ Đông Xuân
Đặc điểm
Giống
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
Đông Nam bộ
ĐB sông Cửu Long
VN5885
94
102
95
97
C919 (đ/c)
98
114
98
108
Thời gian sinh trưởng (ngày)
CP888 (đ/c)
104
118
112
114
187,0
189,0
235,0
260,0
VN5885
199,0
192,0
225,0
266,0
C919 (đ/c)
Chiều cao cây (cm)
201,0
198,0
239,0
288,0
CP888 (đ/c)
80,0
79
112,0
120,0
VN5885
85,0
82
116,0
131,0
C919 (đ/c)
Chiều cao đóng bắp (cm)
109,0
105
133,0
153,0
CP888 (đ/c)
Vụ Thu Đông 2011
(Nguồn:Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
Bảng 2. Khả năng chống chịu của VN5885
Khả năng chống chịu (điểm 1-5)
Giống
Gỉ sắt Đốm lá Hạn Đổ (%)
1 VN5885
Đục thân 2
Đục bắp 2
Khô vằn (%) 2,4
Thối thân 0
1
0
1
6
2 C919 (đ/c)
3
2
3,5
3
2
2
1
3
3 CP888 (đ/c)
2
1
3,0
2
3
2
1
2
Vụ Thu Đông 2011
(Nguồn:Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
- 40 -
Bảng 3. Năng suất của VN5885 ở các vùng sinh thái (tạ/ha)
Điểm khảo nghiệm
Vụ
Giống
NSTB (tạ/ha)
Bà Rịa -Vũng Tàu
BMT- Đắk Lắk
Trảng Bom - Đồng Nai
Cẩm Mỹ - Đồng Nai
Đức Trọng - Lâm Đồng
Đức Hoà - Long An
Tân Châu - An Giang
VN5885
31,9
60,0
76,3
69,3
45,0
-
-
56,5
C919
39,9
62,7
72,4
70,3
49,5
-
-
58,9
CP888
36,4
53,7
57,8
61,7
42,9
-
-
50,5
Thu Đông 2011
CV%
8,34
8,83
10,13
11,14
7,74
LSD0.05
8,20
8,10
9,80
10,80
9,10
VN5885
86,5
-
-
71,3
-
79,4
86,0
80,8
C919
70,2
-
-
64,8
-
79,8
80,0
73,7
CP888
84,0
-
-
64,7
-
79,6
81,7
77,5
CV%
7,72
8,61
-
4,97
5,65
Đông Xuân 2011 /2012
LSD0.05
-
10,30
10,80
6,60
7,50
VN5885
69,3
58,15
59,2
60,0
76,3
79,4
86,0
70,57
C919
NSTB
70,3
57,15
55,0
62,7
72,4
79,8
80,0
67,75
CP888
61,7
53,8
60,2
53,7
57,8
79,6
81,7
64,10
Ghi chú: BMT - Buôn Ma Thuột; NSTB - Năng suất trung bình; Vụ Thu Đông 2011
(Nguồn: Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
Bảng 4. Thời gian sinh trưởng (ngày) của VN665 và VN667
Vùng sinh thái
TT
Giống
ĐNB Vụ Thu Đông
TN Vụ Thu Đông
ĐBSCL Vụ Đông Xuân
1
VN665
87
94
90
2
VN667
90
96
93
3
CP888
98
105
97
4
NK67
95
98
95
Vụ Thu Đông 2013 và Đông Xuân 1013/2014
ĐNB: Đông Nam Bộ, TN:Tây Nguyên, ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
(Nguồn: Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
- 41 -
Bảng 5. Một số đặc điểm hình thái cây VN665 và VN667
Giống Đặc điểm Vùng sinh thái VN665 VN667 DK9901 CP888 NK67
222 227 Cao cây (cm) 231 246 -
Đông Nam 107 118 Cao đóng bắp (cm) 117 118 - Bộ
3,0 3,0 Trạng thái cây (1- 5) 3,5 3,0 -
220 196 Cao cây (cm) 205 240 -
Tây 105 91 Cao đóng bắp (cm) 100 96 - Nguyên
3,0 2,5 Trạng thái cây (1- 5) 3,0 2,5 -
222 Cao cây (cm) 215 198 231 220 Đồng bằng
107 96 Cao đóng bắp (cm) 117 103 90
Vụ Thu Đông 2013 và Đông Xuân 1013/2014
Điểm 1: tốt nhất, điểm 5: kém nhất; Vụ Thu Đông 2013 và Đông Xuân 2013/2014
(Nguồn: Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
Sông Cửu long 2,5 2,5 Trạng thái cây (1-5 ) 3,0 2,5 2,5
Bảng 6. Yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô VN665 và VN667
TT Giống
P1000 hạt (g)
dạng hạt
Màu sắc hạt
Số hàng hạt (hàng)
Tỷ lệ hạt/bắp (%)
Độ che kín bắp (điểm 1-5)
Dài bắp (cm)
ĐK bắp (cm)
1 VN665 18,3
4,5
14 - 16
69,4
275
BRN vàng cam
1,0
2 VN667 16,5
4,7
16
71,3
280
BĐ
vàng cam
1,5
3 DK9901 16,7
4,3
14 - 16
69,4
265
BRN vàng cam
1,0
4 CP888 17,4
4,5
12 - 14
72,5
270
BRN vàng cam
1,5
5 NK67
16,5
4,5
14 - 16
72,5
270
BĐ
vàng cam
2,0
Vụ Thu Đông 2013 và Đông Xuân 1013/2014
(Nguồn: Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
- 42 -
Bảng 7. Khả năng chống chịu của VN665, VN667
Giống
VN665 VN667 DK9901 CP888 NK67
TT
Chỉ tiêu
1 Sâu đục thân (điểm 1 -5)
1,0
1,0
1,0
1,5
2,0
2
sâu đục bắp (điểm 1 -5)
1,0
1,0
1,0
1,0
2,0
3 Rệp cờ (điểm 1 -5)
1,0
1,0
1,0
1,0
3,0
4 Đốm lá lớn (điểm 1 -5)
1,0
1,0
1,5
2,0
1,0
5 Khô vằn (%)
5,1
6,2
7,5
2,0
5,8
6 Thối thân (điểm 1 -5)
0
0
0
3,0
3,0
7 Gỉ sắt (điểm 1 -5)
1,0
1,0
1,0
3,0
1,5
8 Chống đổ (%)
2
1,0
1,8
2,0
3,0
9 Chịu hạn (điểm 1 -5)
1,0
1,0
1,0
1,0
1,0
Vụ Thu Đông 2013 và Đông Xuân 1013/2014
(Nguồn: Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)
Bảng 8. Năng suất của VN665, VN667 tại các vùng sinh thái (tạ/ha)
Vùng sinh thái
TT
Giống
1
VN665
ĐNB Vụ Thu Đông 103,3
TN Vụ Thu Đông 80,8
ĐBSCL Vụ Đông Xuân 114,3
2
VN667
90,1
81,2
85,8
3
DK9901
83,6
-
-
4 5
CP888 NK67
96,3 81,0
79,0 85,6
105,1 100,0
Vụ Thu Đông 2013 và Đông Xuân 2013/2014
ĐNB: Đông Nam Bộ; TN: Tây Nguyên; ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
(Nguồn: Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng vùng Nam bộ)

