intTypePromotion=1

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của đột quỵ não do chảy máu não và nhồi máu não

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
66
lượt xem
8
download

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của đột quỵ não do chảy máu não và nhồi máu não

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm xác định đặc điểm lâm sàng của đột quỵ não và so sánh đặc điểm lâm sàng đột quỵ não do thiếu máu và đột quỵ chảy máu. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của đột quỵ não do chảy máu não và nhồi máu não

TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2012<br /> <br /> NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA ĐỘT QUỴ NÃO<br /> DO CHẢY MÁU NÃO VÀ NHỒI MÁU NÃO<br /> Trần Nguyên Hồng*; Nguyễn Văn Chương*<br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng 53 BN nhồi máu não (NMN) và 32 BN chảy máu não (CMN) cho<br /> thấy đột quỵ não (ĐQN) chủ yếu gặp ở người cao tuổi (65,08  12,88), nhóm NMN có tuổi trung bình<br /> cao hơn nhóm CMN (67,91  11,49 tuổi so với 60,41  13,85 tuổi). Nam giới chiếm chủ yếu (69,4%),<br /> tỷ lệ nam giới bị ĐQN do NMN và CMN khác nhau chưa có ý nghĩa thống kê (64,2% so với 78,81%).<br /> Các dấu hiệu tiền triệu hay gặp là chóng mặt (34,1%), tê bì nửa người (25,9%) và đau đầu (21,2%).<br /> BN ĐQN thường khởi đầu cấp tính với triệu chứng nặng hơn BN NMN. Tỷ lệ BN nặng ngay từ đầu ở<br /> nhóm CMN cao hơn so với nhóm NMN. Nhóm CMN có tỷ lệ rối loạn ý thức cao hơn với điểm<br /> Glasgow trung bình thấp hơn nhóm NMN. Số BN liệt nặng đến liệt hoàn toàn (độ III, IV và V) ở hai<br /> nhóm CMN và NMN khác biệt chưa có ý nghĩa.<br /> * Từ khóa: Đột quỵ não; Chảy máu não; Nhồi máu não.<br /> <br /> STUDY OF CLINICAL CHARACTERISTICS OF CEREBRAL STROKE DUE TO<br /> HEMORRHAGE AND INFARCTION<br /> SUMMARY<br /> Analyzing data from 53 patients with cerebral infarction and 32 patients with hemorrhage showed<br /> that the stroke mainly occurred in elderly (65.08  12.88 years old). The infarction patients had<br /> average age (67.91 ± 11.49 years) higher than that of the hemorrhage patients (60.41 ± 13.85<br /> years). Men were affected more than women (69.4%) but the difference between the two groups was<br /> not significant. Frequent warning signs were vertigo (34.1%), hemi-numbed (25.9%) and headache<br /> (21.2%), the differences of these signs between two groups were not significant. Cerebral hemorrhage<br /> was usually more sudden onset with more severe symptoms than cerebral infarction as well as of<br /> conscious disorder with lower average of Glasgow score. The rates of severe paralysis of patients in<br /> both groups were not significantly different.<br /> * Key words: Stroke; Cerebral hemorrhage; Cerebral infarction.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Đột quỵ não là một cấp cứu nội khoa<br /> thường gặp trong lâm sàng và thường để<br /> lại các di chứng nặng nề cho người bệnh và<br /> xã hội. Ở các nước phát triển, tỷ lệ ĐQN là<br /> <br /> 150/100.000 dân, sau 6 tháng, khoảng 2/3<br /> số BN này tử vong hoặc tàn phế, những BN<br /> sống sót đều có nguy cơ ĐQN tái phát [9].<br /> Nguyên nhân ĐQN do giảm đột ngột hoặc<br /> ngừng hoàn toàn cung cấp máu đến não,<br /> gây tổn thương tế bào thần kinh.<br /> <br /> * Bệnh viện 103<br /> Phản biện khoa học: PGS. TS. Nguyễn Minh Hiện<br /> PGS. TS. Phan Việt Nga<br /> <br /> 103<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2012<br /> <br /> Hai loại chính của ĐQN là đột quỵ NMN<br /> (thiếu máu cục bộ) và đột quỵ CMN với<br /> những biện pháp điều trị khác nhau, do đó<br /> việc chẩn đoán sớm nguyên nhân ĐQN có<br /> ý nghĩa rất lớn trong điều trị. Chúng tôi<br /> nghiên cứu đề tài này nhằm: Xác định đặc<br /> điểm lâm sàng của ĐQN và so sánh đặc<br /> điểm lâm sàng ĐQN do thiếu máu và đột<br /> quỵ chảy máu.<br /> ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tƣợng nghiên cứu.<br /> 85 BN (BN) ĐQN được điều trị tại Khoa<br /> Đột quỵ, Bệnh viện 103, từ 01 - 2009 đến<br /> 08 - 2010.<br /> * Tiêu chuẩn lựa chọn BN: BN vào viện<br /> sớm (trong vòng 5 ngày), được chụp cắt lớp<br /> vi tính (CT).<br /> * Tiêu chuẩn xác định thể đột quỵ: theo<br /> thang điểm Siriraj: > +1: CMN, < -1: NMN,<br /> giữa -1 và +1: chưa rõ, xác định bằng chẩn<br /> đoán hình ảnh [10].<br /> <br /> * Tiêu chuẩn loại trừ: BN vào viện muộn,<br /> suy tim nặng, nhồi máu cơ tim, đái tháo<br /> đường, viêm nhiễm cấp hoặc mạn tính, có<br /> bệnh lý ác tính, bệnh lý về máu, gan, thận,<br /> tủy xương, miễn dịch, mới chấn thương<br /> hoặc phẫu thuật trong vòng 2 tháng.<br /> 2. Phƣơng pháp nghiên cứu.<br /> Tiến cứu, mô tả.<br /> BN ĐQN được khám, theo dõi theo mẫu<br /> bệnh án nghiên cứu thống nhất. Đánh giá<br /> tình trạng ý thức theo thang điểm Glasgow,<br /> phân loại thành các mức độ bình thường<br /> (15 điểm), rối loạn ý thức nhẹ (10 - 14 điểm),<br /> rối loạn ý thức nặng (6 - 9 điểm), hôn mê<br /> sâu (4 - 5 điểm) và hôn mê rất sâu (3 điểm).<br /> Đánh giá mức độ liệt theo thang điểm của<br /> HG Dove và CS (liệt nhẹ (độ I): 4 điểm, liệt<br /> vừa (độ II): 3 điểm, liệt nặng (độ III): 2 điểm,<br /> liệt rất nặng (độ IV): 1 điểm, liệt hoàn toàn<br /> (độ V): 0 điểm) [8].<br /> * Xử lý số liệu: theo phương pháp thống<br /> kê y sinh học bằng phần mềm SPSS for<br /> Window 10.5.<br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN<br /> Bảng 1: Đặc điểm tuổi, giới.<br /> CHỈ TIÊU<br /> <br /> Tuổi<br /> <br /> CMN (n = 32)<br /> <br /> CHUNG<br /> <br /> p<br /> <br /> Nhóm tuổi<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> 30 - 40<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1,9<br /> <br /> 3<br /> <br /> 9,4<br /> <br /> 4<br /> <br /> 4,7<br /> <br /> 40 - 49<br /> <br /> 3<br /> <br /> 5,7<br /> <br /> 4<br /> <br /> 12,5<br /> <br /> 7<br /> <br /> 8,2<br /> <br /> 50 - 59<br /> <br /> 8<br /> <br /> 15,1<br /> <br /> 6<br /> <br /> 18,8<br /> <br /> 14<br /> <br /> 16,5<br /> <br /> 60 - 69<br /> <br /> 19<br /> <br /> 35,8<br /> <br /> 13<br /> <br /> 40,6<br /> <br /> 32<br /> <br /> 37,6<br /> <br /> 70 - 79<br /> <br /> 17<br /> <br /> 32,1<br /> <br /> 5<br /> <br /> 15,6<br /> <br /> 22<br /> <br /> 25,9<br /> <br /> 80 - 86<br /> <br /> 5<br /> <br /> 9,4<br /> <br /> 1<br /> <br /> 3,1<br /> <br /> 6<br /> <br /> 7,1<br /> <br /> X  SD<br /> Giới<br /> <br /> NMN (n = 53)<br /> <br /> 67,91  11,49<br /> <br /> 60,41  13,85<br /> <br /> 65,08  12,88<br /> <br /> Nam<br /> <br /> 34<br /> <br /> 64,2<br /> <br /> 25<br /> <br /> 78,1<br /> <br /> 69,4<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> 19<br /> <br /> 35,8<br /> <br /> 7<br /> <br /> 21,9<br /> <br /> 35,1<br /> <br /> < 0,01<br /> > 0,05<br /> <br /> 105<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2012<br /> <br /> Tuổi trung bình của BN ĐQN là 65,08 <br /> 12,88, trong đó tuổi trung bình của nhóm<br /> CMN thấp hơn nhóm NMN (60,41  13,85<br /> tuổi so với 67,91  11,49 tuổi). Kết quả này<br /> phù hợp với các nghiên cứu dịch tễ học<br /> ĐQN của Lương Văn Chất, Nguyễn Xuân<br /> Thản và nhiều tác giả khác cho thấy lứa<br /> tuổi bị ĐQN nhiều nhất là 51 - 70 tuổi và<br /> CMN thường xảy ra ở lứa tuổi trẻ hơn so<br /> với nhóm NMN [1, 2].<br /> ĐQN chủ yếu xuất hiện ở nam giới (59/85<br /> BN = 69,4%), tỷ lệ nam giới bị đột quỵ theo<br /> <br /> nguyên nhân khác nhau chưa có ý nghĩa<br /> thống kê. Tỷ lệ nam/nữ ở nhóm NMN trong<br /> nghiên cứu của chúng tôi là 1,7/1,0; tương<br /> đương kết quả của Lương Văn Chất, Nguyễn<br /> Xuân Thản là 2/1; Lê Văn Thính là 1,6/1,0;<br /> nhưng tỷ lệ nam/nữ ở nhóm CMN là 3,5/1,0,<br /> cao hơn số liệu của các tác giả trên [1, 2, 5].<br /> Tỷ lệ BN nam nhiều hơn nữ biểu hiện sự<br /> căng thẳng cảm xúc, stress về thể chất và<br /> tâm lý, thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố<br /> nguy cơ như rượu, thuốc lá... ở nam giới. Do<br /> vậy, phòng chống căng thẳng cảm xúc, stress<br /> tâm lý và loại bỏ các thói quen có hại là vấn<br /> đề cần được quan tâm để dự phòng ĐQN.<br /> <br /> Bảng 2: Dấu hiệu tiền triệu.<br /> DẤU HIỆU<br /> TIỀN TRIỆU<br /> <br /> NMN (n = 53)<br /> <br /> CMN (n = 32)<br /> <br /> TỶ LỆ CHUNG<br /> <br /> p<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> (%)<br /> <br /> Chóng mặt<br /> <br /> 21<br /> <br /> 39,6<br /> <br /> 8<br /> <br /> 25,0<br /> <br /> 34,1<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Tê bì nửa người<br /> <br /> 17<br /> <br /> 32,1<br /> <br /> 5<br /> <br /> 15,6<br /> <br /> 25,9<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Đau đầu<br /> <br /> 11<br /> <br /> 20,8<br /> <br /> 7<br /> <br /> 21,9<br /> <br /> 21,2<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Dấu hiệu tiền triệu hay gặp ở BN ĐQN là chóng mặt, đau đầu, tê bì nửa người. Tương<br /> tự nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị Minh Thu: chóng mặt (35,5%), đau đầu (25,8%),<br /> tê bì nửa người (22,6%) [6]. Sự khác biệt về tỷ lệ gặp các dấu hiệu này giữa hai nhóm<br /> chưa có ý nghĩa thống kê.<br /> Bảng 3: Đặc điểm và triệu chứng khởi phát.<br /> ĐẶC ĐIỂM KHỞI PHÁT<br /> <br /> Tính<br /> chất<br /> Triệu<br /> chứng<br /> <br /> NMN (n = 53)<br /> <br /> CMN (n = 32)<br /> <br /> TỶ LỆ CHUNG<br /> <br /> p<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> (%)<br /> <br /> Nặng ngay từ đầu<br /> <br /> 28<br /> <br /> 52,8<br /> <br /> 25<br /> <br /> 78,1<br /> <br /> 62,4<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> Nặng dần dần<br /> <br /> 25<br /> <br /> 47,2<br /> <br /> 7<br /> <br /> 21,9<br /> <br /> 37,6<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> Đau đầu<br /> <br /> 10<br /> <br /> 18,9<br /> <br /> 13<br /> <br /> 40,6<br /> <br /> 27,1<br /> <br /> < 0,05<br /> <br /> Nôn<br /> <br /> 3<br /> <br /> 5,7<br /> <br /> 13<br /> <br /> 40,6<br /> <br /> 18,8<br /> <br /> < 0,001<br /> <br /> Chóng mặt<br /> <br /> 13<br /> <br /> 24,5<br /> <br /> 5<br /> <br /> 15,6<br /> <br /> 21,2<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Rối loạn ý thức<br /> <br /> 11<br /> <br /> 20,8<br /> <br /> 16<br /> <br /> 50,0<br /> <br /> 31,8<br /> <br /> < 0,01<br /> <br /> Rối loạn ngôn ngữ<br /> <br /> 16<br /> <br /> 30,2<br /> <br /> 9<br /> <br /> 28,1<br /> <br /> 29,4<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Đa số BN nặng ngay từ đầu, phù hợp với kết quả nghiên cứu trước đây đều gặp tổn<br /> thương thần kinh ở BN ĐQN thường nặng ngay từ đầu. Tỷ lệ BN nặng ngay từ đầu ở<br /> <br /> 106<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2012<br /> <br /> nhóm CMN cao hơn so với nhóm NMN. Tương tự nghiên cứu của Phạm Thanh Thủy<br /> (75,0%), Trịnh Viết Thắng (81,75%), Nguyễn Ngọc Thiều (81,2%) [3, 4, 7].<br /> Triệu chứng khởi phát thường gặp ở BN ĐQN là rối loạn ý thức, đau đầu, rối loạn ngôn<br /> ngữ, rối loạn cơ vòng, chóng mặt và nôn. Tỷ lệ đau đầu, nôn, rối loạn ý thức ở nhóm CMN<br /> cao hơn so với nhóm NMN có ý nghĩa thống kê, các triệu chứng chóng mặt, rối loạn ngôn<br /> ngữ ở hai nhóm tương đương nhau. Như vậy, triệu chứng khởi phát ở BN CMN nặng nề<br /> hơn so với nhóm CMN.<br /> Bảng 4: Triệu chứng lâm sàng khi BN vào viện.<br /> TRIỆU CHỨNG<br /> <br /> NMN (n = 53)<br /> <br /> CMN (n = 32)<br /> <br /> TỶ LỆ<br /> CHUNG (%)<br /> <br /> p<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> Rối loạn ý thức<br /> <br /> 12<br /> <br /> 22,7<br /> <br /> 19<br /> <br /> 59,3<br /> <br /> 36,5<br /> <br /> < 0,01<br /> <br /> Liệt nửa người<br /> <br /> 53<br /> <br /> 100,0<br /> <br /> 32<br /> <br /> 100,0<br /> <br /> 100,0<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Liệt mặt trung ương<br /> <br /> 49<br /> <br /> 92,4<br /> <br /> 30<br /> <br /> 93,75<br /> <br /> 92,9<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Rối loạn cảm giác nửa người<br /> <br /> 19<br /> <br /> 35,8<br /> <br /> 16<br /> <br /> 50,0<br /> <br /> 41,1<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Rối loạn ngôn ngữ<br /> <br /> 17<br /> <br /> 32,1<br /> <br /> 17<br /> <br /> 53,1<br /> <br /> 40,0<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Phản xạ bệnh lý bó tháp<br /> <br /> 27<br /> <br /> 50,9<br /> <br /> 18<br /> <br /> 56,2<br /> <br /> 52,9<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Rối loạn cơ vòng<br /> <br /> 6<br /> <br /> 11,3<br /> <br /> 9<br /> <br /> 28,1<br /> <br /> 17,6<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Triệu chứng lâm sàng thường gặp ở BN ĐQN khi vào viện là liệt nửa người, liệt mặt<br /> trung ương, phản xạ bệnh lý bó tháp. Một số triệu chứng ít gặp hơn là rối loạn cảm giác<br /> nửa người, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng. Nhìn chung, phân bố tần<br /> suất giữa hai nhóm khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên, tỷ lệ BN rối loạn ý thức<br /> ở nhóm CMN cao hơn nhóm NMN (59,3% so với 22,7%), phù hợp với nhận xét triệu chứng<br /> của BN CMN nặng nề hơn so với nhóm CMN.<br /> Đáng chú ý, triệu chứng tổn thương thần kinh khu trú với biểu hiện liệt nửa người chiếm<br /> tỷ lệ cao trong ĐQN (100%). Kết quả của một số tác giả cũng cho thấy tỷ lệ liệt nửa người<br /> trong ĐQN rất cao, Lê Văn Thính 98,18%, Nguyễn Thị Minh Thu 96,8%, Nguyễn Ngọc<br /> Thiều 98,5% [4, 5, 6].<br /> Bảng 5: Tình trạng ý thức của BN.<br /> NMN (n = 53)<br /> TÌNH TRẠNG Ý THỨC<br /> <br /> CMN (n = 32)<br /> <br /> Ngày 1 (1)<br /> <br /> Ngày 7 (2)<br /> <br /> Ngày 1 (3)<br /> <br /> Ngày 7 (4)<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> Bình thường<br /> <br /> 41<br /> <br /> 77,4<br /> <br /> 49<br /> <br /> 92,5<br /> <br /> 13<br /> <br /> 40,6<br /> <br /> 26<br /> <br /> 81,3<br /> <br /> Rối loạn ý thức nhẹ<br /> <br /> 9<br /> <br /> 17,0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1,9<br /> <br /> 13<br /> <br /> 40,6<br /> <br /> 3<br /> <br /> 9,4<br /> <br /> 107<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƢỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 2-2012<br /> <br /> (1)<br /> <br /> (2)<br /> <br /> (3)<br /> <br /> (4)<br /> <br /> (5)<br /> <br /> (6)<br /> <br /> (7)<br /> <br /> (8)<br /> <br /> (9)<br /> <br /> Rối loạn ý thức nặng<br /> <br /> 3<br /> <br /> 5,7<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 6<br /> <br /> 18,8<br /> <br /> 2<br /> <br /> 6,3<br /> <br /> Hôn mê sâu<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3,8<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 3,1<br /> <br /> Hôn mê rất sâu<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1,9<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> Glasgow (X  SD)<br /> <br /> 14,30  1,85<br /> <br /> So sánh<br /> <br /> 14,36  2,50<br /> <br /> 12,25  3,08<br /> <br /> p1-2 > 0,05<br /> <br /> 13,94  2,47<br /> <br /> p3-4 < 0,05<br /> p1-3 < 0,01; p2-4 > 0,05<br /> <br /> Khi vào viện, điểm Glasgow trung bình của BN CMN thấp hơn nhóm NMN (12,25  3,08<br /> điểm so với 14,30  1,85 điểm), phù hợp với tỷ lệ BN có rối loạn ý thức ở nhóm CMN cao<br /> hơn so với nhóm NMN. Điểm Glasgow trung bình của BN ĐQN trong nghiên cứu này<br /> tương đương kết quả của Phạm Thanh Thủy: 13,69  1,38 điểm [7]. Sau 7 ngày điều trị,<br /> điểm Glasgow trung bình của BN tăng lên (NMN: 14,36  2,50 điểm; CMN: 13,94  2,47<br /> điểm) và không có sự khác biệt giữa hai nhóm (p > 0,05). Sau 7 ngày điều trị, tỷ lệ BN rối<br /> loạn ý thức ở nhóm NMN giảm từ 22,7% xuống 7,5%; ở nhóm CMN giảm từ 59,3% xuống<br /> 18,7%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).<br /> Bảng 6: Mức độ liệt của BN.<br /> NMN (n = 53)<br /> MỨC ĐỘ LIỆT<br /> <br /> Ngày 1 (1)<br /> <br /> CMN (n = 32)<br /> <br /> Ngày 7 (2)<br /> <br /> Ngày 1 (3)<br /> <br /> Ngày 7 (4)<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> Liệt nhẹ (độ I)<br /> <br /> 4<br /> <br /> 7,5<br /> <br /> 13<br /> <br /> 24,5<br /> <br /> 4<br /> <br /> 12,5<br /> <br /> 6<br /> <br /> 18,8<br /> <br /> Liệt vừa (độ II)<br /> <br /> 19<br /> <br /> 35,8<br /> <br /> 19<br /> <br /> 35,8<br /> <br /> 8<br /> <br /> 25,0<br /> <br /> 7<br /> <br /> 21,9<br /> <br /> Liệt nặng (độ III)<br /> <br /> 14<br /> <br /> 26,4<br /> <br /> 14<br /> <br /> 26,4<br /> <br /> 5<br /> <br /> 15,6<br /> <br /> 10<br /> <br /> 31,3<br /> <br /> Liệt rất nặng (độ IV)<br /> <br /> 12<br /> <br /> 22,6<br /> <br /> 5<br /> <br /> 9,4<br /> <br /> 15<br /> <br /> 46,9<br /> <br /> 9<br /> <br /> 28,1<br /> <br /> Liệt hoàn toàn (độ V)<br /> <br /> 4<br /> <br /> 7,5<br /> <br /> 2<br /> <br /> 3,8<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> So sánh<br /> <br /> p1-2 < 0,05<br /> <br /> p3-4 < 0,05<br /> p1-3 > 0,05; p2-4 > 0,05<br /> <br /> Khi vào viện, tỷ lệ BN liệt độ III, IV và V ở nhóm CMN tương đương nhóm NMN (62,5%<br /> so với 56,5%) (p > 0,05). Ở nhóm NMN, BN liệt độ II chiếm tỷ lệ cao nhất, còn ở nhóm<br /> CMN, BN liệt độ IV chiếm tỷ lệ nhiều nhất. Nguyễn Thị Minh Thu nghiên cứu BN NMN<br /> nhận thấy: BN liệt độ II chiếm tỷ lệ cao nhất (32,3%), tiếp đến là độ III (25,8%) và độ IV<br /> (25,8%). 12,9% BN liệt độ I và 1 BN không bị liệt [6].<br /> <br /> 108<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2