intTypePromotion=3

Nghiên cứu đặc điểm và phân vùng tài nguyên khí hậu nông nghiệp tỉnh Bác Kạn

Chia sẻ: Hoang Son | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
16
lượt xem
2
download

Nghiên cứu đặc điểm và phân vùng tài nguyên khí hậu nông nghiệp tỉnh Bác Kạn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên cơ sở chỉ tiêu nhiệt độ trung bình năm, kết hợp với lượng mưa năm, độ dài mùa lạnh, độ dài mùa khô, Bắc Kạn được chia thành 7 tiểu vùng khí hậu nông nghiệp khác nhau với 7 loại SKH điển hình. Dựa vào kết quả phân vùng này có thể tiến hành phát triển cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo sự phân hoá của tài nguyên nhiệt - ẩm, là cơ sở để chọn lựa cơ cấu cây trồng và thời vụ phù hợp, nhằm đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu đặc điểm và phân vùng tài nguyên khí hậu nông nghiệp tỉnh Bác Kạn

Đỗ Thị Vân Hương và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 96(08): 249 - 254<br /> <br /> NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN VÙNG TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU<br /> NÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC KẠN<br /> Đỗ Thị Vân Hương1*, Kiều Quốc Lập1,<br /> Nguyễn Đăng Tiến2, Đỗ Thị Vân Giang3<br /> 1<br /> <br /> Trường Đại học Khoa học - ĐH Thái Nguyên, 2 Trường Đại học Sao Đỏ<br /> 3<br /> Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật - ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Để sử dụng hợp lý tài nguyên khí hậu nông nghiệp cần tiến hành phân tích, đánh giá tài nguyên<br /> khí hậu, sinh khí hậu (SKH), phân vùng khí hậu nông nghiệp và đề xuất định hướng sử dụng khí<br /> hậu trong nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khí hậu Bắc Kạn mang đầy đủ các đặc<br /> điểm của vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh, tổng lượng bức xạ năm lớn, nhiệt<br /> độ, lượng mưa và cường độ mưa có sự phân hóa theo độ cao và theo mùa. Trên cơ sở chỉ tiêu nhiệt<br /> độ trung bình năm, kết hợp với lượng mưa năm, độ dài mùa lạnh, độ dài mùa khô, Bắc Kạn được<br /> chia thành 7 tiểu vùng khí hậu nông nghiệp khác nhau với 7 loại SKH điển hình. Dựa vào kết quả<br /> phân vùng này có thể tiến hành phát triển cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo sự phân hoá của tài<br /> nguyên nhiệt - ẩm, là cơ sở để chọn lựa cơ cấu cây trồng và thời vụ phù hợp, nhằm đảm bảo sự<br /> phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái.<br /> Từ khóa: Bắc Kạn, tài nguyên, sinh khí hậu, nông nghiệp.<br /> <br /> MỞ ĐẦU*<br /> Khí hậu là yếu tố tự nhiên, yếu tố không thể<br /> thay thế của môi trường, yếu tố quyết định sự<br /> sống trên Trái Đất nói chung và sản xuất nông<br /> nghiệp nói riêng. Tài nguyên khí hậu nông<br /> nghiệp bao gồm tất cả các yếu tố khí hậu, đặc<br /> điểm khí hậu ảnh hưởng tới sự sinh trưởng,<br /> phát triển, năng suất cây trồng và vật nuôi.<br /> Khai thác hợp lý tài nguyên khí hậu nông<br /> nghiệp không những cho năng suất cây trồng<br /> cao, ổn định mà còn bảo vệ được môi trường<br /> sinh thái, đất đai và nguồn nước.<br /> Mỗi cây trồng có những đòi hỏi rất khác nhau<br /> về điều kiện nhiệt - ẩm qua các giai đoạn sinh<br /> trưởng, phát triển và hình thành năng suất.<br /> Trong việc quy hoạch sản xuất nông nghiệp<br /> ngoài hiểu biết về điều kiện tự nhiên, đất đai,<br /> khí hậu, nguồn nước phải biết yêu cầu của<br /> cây trồng đối với các yếu tố khí hậu nông<br /> nghiệp. Phân vùng khí hậu nông nghiệp là<br /> công tác phân định hợp lý các đơn vị khí hậu<br /> cơ bản có sự khác nhau về một số điều kiện<br /> và tài nguyên khí hậu có liên quan trực tiếp<br /> với điều kiện sản xuất. Nghiên cứu tài nguyên<br /> khí hậu nông nghiệp Bắc Kạn và đề xuất<br /> hướng sử dụng trong nông, lâm nghiệp là<br /> cần thiết.<br /> *<br /> <br /> Tel: 0917 758595, Email: vanhuongdhkh@gmail.com<br /> <br /> LÃNH THỔ VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Bắc Kạn (21048’-22044’B và 105026’106015’Đ) là một tỉnh miền núi - trung du<br /> phía Bắc Việt Nam, có diện tích đất tự nhiên<br /> là 4.857,2 km2, cơ sở vật chất và kinh tế còn<br /> chậm phát triển. Nền kinh tế của tỉnh dù đã có<br /> những bước phát triển nhưng ngành sản xuất<br /> nông, lâm nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ<br /> đạo. Trên thực tế, ngành này vẫn chưa thực sự<br /> được chú trọng phát triển trong khi tiềm năng<br /> là rất lớn. Để phát huy hơn nữa các thế mạnh<br /> của tỉnh, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm<br /> nghiệp, nhà lãnh đạo, các cơ quan chức năng<br /> cần quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu,<br /> đánh giá các nguồn tài nguyên, trong đó có tài<br /> nguyên khí hậu. Việc nghiên cứu tài nguyên<br /> khí hậu cho phát triển nông nghiệp có ý nghĩa<br /> quan trọng, tạo cơ sở khoa học cho việc phân<br /> vùng khí hậu phục vụ phát triển nông, lâm<br /> nghiệp theo hướng bền vững, phù hợp với<br /> điều kiện khí hậu của từng địa phương [1,2].<br /> Để nghiên cứu vấn đề, chúng tôi đã sử dụng<br /> phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:<br /> Phương pháp thu thập, thống kê, xử lí số liệu,<br /> tài liệu; Phương pháp phân tích, so sánh tổng<br /> hợp; Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa;<br /> Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý<br /> 249<br /> <br /> Đỗ Thị Vân Hương và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> (GIS). Mỗi phương pháp có một ưu thế riêng<br /> trong quá trình nghiên cứu vấn đề. Phương<br /> pháp thu thập, thống kê, xử lí số liệu, tài liệu<br /> nhằm thu thập chuỗi số liệu khí hậu của địa<br /> phương trong một khoảng thời gian dài (1960<br /> - 2009), tính toán số liệu trung bình của các<br /> yếu tố khí hậu, so sánh với từng giai đoạn;<br /> nghiên cứu đặc điểm sinh thái nông nghiệp…<br /> kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh<br /> tổng hợp vấn đề nghiên cứu, xác định kiểu<br /> sinh khí hậu đặc thù trong từng vùng, phân<br /> vùng khí hậu nông nghiệp. Phương pháp điều<br /> tra, khảo sát thực địa; phương pháp bản đồ và<br /> hệ thông tin địa lý (GIS) nhằm giúp người<br /> nghiên cứu so sánh kết quả phân tích trong<br /> phòng với kết quả thực tế ngoài thực địa, mô<br /> phỏng chuẩn xác dưới dạng những bản đồ<br /> chuyên đề nhằm thể hiện trực quan nhất kết<br /> quả nghiên cứu.<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Tính chất của khí hậu tỉnh Bắc Kạn<br /> Khí hậu Bắc Kạn mang tính chất nội chí<br /> tuyến gió mùa ẩm điển hình với các đặc<br /> điểm [2,3]:<br /> Tính chất nội chí tuyến: Vị trí Bắc Kạn<br /> (21048’B-22044’B) nằm gọn trong vùng nội<br /> chí tuyến, quanh năm Mặt Trời luôn cao trên<br /> đường chân trời, có hai lần Mặt Trời lên thiên<br /> đỉnh và có chu kì quang ngắn. Tổng bức xạ<br /> Mặt Trời tương đối lớn, cán cân bức xạ<br /> dương quanh năm, đạt tiêu chuẩn của khí hậu<br /> chí tuyến và á xích đạo. Chế độ ngày ngắn, ít<br /> dao động. Chế độ này có ảnh hưởng lớn đến<br /> sự quang hợp của thực vật, cây trồng. Một<br /> biểu hiện nữa của tính chất nội chí tuyến của<br /> khí hậu Bắc Kạn là sự tham gia của gió tín<br /> phong, luồng gió thường xuyên của khu vực<br /> nội chí tuyến.<br /> Tính chất gió mùa: Bắc Kạn nói riêng và Việt<br /> Nam nói chung nằm trọn vẹn trong ô gió mùa<br /> châu Á, á địa ô gió mùa Trung Ấn, vì vậy<br /> mang tính chất gió mùa nội tuyến điển hình.<br /> Đôi khi tính chất này khiến cho tính chất nội<br /> chí tuyến diễn ra không bình thường, đều đặn<br /> mà bị đảo lộn, biến tính. Tính chất này thể<br /> hiện sự diễn biến theo mùa của khí hậu nội<br /> chí tuyến, mà nhân tố hình thành là các luồng<br /> gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam đã<br /> 250<br /> <br /> 96(08): 249 - 254<br /> <br /> phá vỡ tính chất điều hòa quanh năm của<br /> khí hậu nội chí tuyến ở những nơi không có<br /> gió mùa.<br /> Tính chất ẩm: Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tổng<br /> lượng mưa năm nhiều và số ngày mưa lớn,<br /> lớn nhất ở những vùng đón gió: Trung bình số<br /> ngày mưa dao động trong khoảng 100-200<br /> ngày/năm. Lượng mưa trung bình năm từ<br /> 1500-2000mm/năm. Cân bằng mưa và lượng<br /> bốc hơi luôn dương, tức là thừa nước và có dư<br /> để dự trữ cho thời kì khô hạn. Độ ẩm tương<br /> đối trung bình năm trên 80%, có khi đạt tới<br /> trạng thái bão hòa. Lượng mưa và nguồn<br /> nhiệt dồi dào đã tạo điều kiện thuận lợi cho<br /> thảm thực vật rừng nhiệt đới phát triển.<br /> Khí hậu Bắc Kạn đa dạng, thất thường: Do<br /> đặc điểm địa hình đa dạng, trong năm lại có<br /> sự luân phiên tác động của nhiều dạng hoàn<br /> lưu, khối khí có tính chất khác nhau, do đó<br /> tính đa dạng của khí hậu Bắc Kạn được thể<br /> hiện rõ nét trong sự phân hóa khí hậu. Tuy<br /> nhiên các yếu tố nhiệt, mưa của khí hậu cũng<br /> thể hiện tính chất thất thường rõ rệt.<br /> Đặc điểm khí hậu nông nghiệp và tài<br /> nguyên khí hậu nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn<br /> [1,2,4]<br /> Chế độ bức xạ, mây, nắng<br /> - Chế độ bức xạ: Theo số liệu thống kê nhiều<br /> năm cho thấy khu vực Bắc Kạn có tổng lượng<br /> bức xạ, nắng khá dồi dào. Tổng lượng bức xạ<br /> trung bình nhiều năm là 124 Kcal/ cm2/ năm,<br /> thuộc loại trung bình ở Bắc Bộ. Trong biến<br /> trình năm, tổng lượng bức xạ trên được phân<br /> chia thành hai mùa rõ rệt: Thời kỳ hè-thu<br /> (tháng V đến tháng X), lượng bức xạ tổng<br /> cộng trên 10 Kcal/cm2/tháng, cao nhất là<br /> tháng VI và VII. Thời kỳ đông-xuân lượng<br /> bức xạ tổng cộng tháng ít hơn, dao động từ 6<br /> đến 9 Kcal/cm2/tháng, thấp nhất là vào thời<br /> kỳ mưa phùn, tháng II và III lượng bức xạ chỉ<br /> đạt 6 – 7 Kcal/cm2/tháng. Lượng bức xạ tổng<br /> cộng của tháng nhiều nhất (VI) có thể gấp hai<br /> lần rưỡi tháng ít nhất (II).<br /> - Chế độ mây: lượng mây trung bình tổng<br /> quan ở Bắc Kạn khá cao, khoảng từ 7,5 đến<br /> 8,1 phần mười bầu trời phù hợp với quy luật<br /> chung của toàn vùng Bắc Bộ. Thời kỳ nhiều<br /> <br /> Đỗ Thị Vân Hương và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> mây có liên quan đến hoạt động của kiểu thời<br /> tiết mưa phùn trong các tháng đầu xuân. Thời<br /> kỳ ít mây, trời quang là vào các tháng gần<br /> cuối năm IX, X, XI.<br /> - Chế độ nắng: Phân tích các số liệu về số giờ<br /> nắng ở khu vực nghiên cứu cho thấy số giờ<br /> nắng ở đây thuộc loại trung bình, trung bình<br /> mỗi năm có khoảng 1555 giờ nắng, thấp hơn<br /> khoảng 100 đến 150 giờ/năm so với khu vực<br /> Đồng Bằng Bắc Bộ. Trong một năm từ tháng<br /> V đến tháng X số giờ nắng hơn 150<br /> giờ/tháng. Thời kỳ ít nắng là các tháng nửa<br /> cuối mùa đông và mùa xuân (từ tháng XI đến<br /> hết tháng IV).<br /> Chế độ nhiệt và tài nguyên nhiệt<br /> Ở khu vực thung lũng sông Cầu, những nơi<br /> có độ cao dưới 200m (chiếm một diện tích<br /> nhỏ) Ttb năm > 220C. Những nơi có độ cao từ<br /> 200 đến 600m, Ttb năm từ 20-220C Còn những<br /> khu vực có độ cao từ 600 đến 1000m chiếm<br /> diện tích không lớn, Ttb năm vào khoảng 18200C. Một vài đỉnh núi nơi có độ cao trên<br /> 1000m nhiệt độ trung bình năm có thể xuống<br /> dưới 180C. Mùa hè ở những khu vực cao dưới<br /> 200m, hàng năm từ tháng V đến tháng IX, có<br /> khoảng 5 tháng nóng (T0Tháng ≥ 250C); ở độ<br /> cao 500 – 600m số tháng nóng chỉ còn 3<br /> tháng (tháng VI, VII, VIII). Mùa đông ở độ<br /> cao xấp xỉ 200m, xuất hiện 3 tháng lạnh (T00<br /> Tháng ≤ 18 C), các khu vực có độ cao 500 –<br /> 600m số tháng lạnh lên tới 5 tháng (từ tháng<br /> XI đến tháng III). Những nơi cao hơn 1000m,<br /> T0Tháng I < 100C. Trong mùa hè nhiệt độ tối cao<br /> tuyệt đối có thể lên đến 35 – 400C. Mùa đông<br /> nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể hạ xuống<br /> dưới không độ, như Bắc Kạn (174m, tháng<br /> XII, tháng I: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối < –<br /> 10C); Ngân Sơn (566m, tháng XII, tháng I:<br /> nhiệt độ tối thấp tuyệt đối < – 1,7 và – 20C).<br /> Chế độ mưa và tài nguyên mưa<br /> Bắc Kạn có chế độ mưa mùa hè, mùa mưa (từ<br /> tháng IV đến tháng X).<br /> Tổng lượng mưa năm dao động trong khoảng<br /> từ 1300 đến 1800mm, thuộc vào loại mưa vừa<br /> đến ít mưa. Khu vực Chợ Rã, Ngân Sơn là<br /> khu vực có lượng mưa ít hơn những nơi khác<br /> trong tỉnh.<br /> <br /> 96(08): 249 - 254<br /> <br /> Mùa ít mưa (rTháng ≤ 100mm) kéo dài 5 tháng<br /> (từ tháng XI đến tháng III năm sau). Thời kỳ<br /> khô (rTháng ≤ 50mm) bắt đầu từ tháng XII tới<br /> tháng I năm sau. Tuy nhiên do có mưa phùn,<br /> dù cho lượng mưa không đáng kể nhưng đã<br /> bổ sung một lượng ẩm nào đó cho cây, làm<br /> cho không khí trở nên ẩm ướt trong mùa khô.<br /> Chế độ ẩm - bốc hơi<br /> Ở Bắc Kạn độ ẩm tương đối trung bình năm<br /> thuộc loại khá cao và dao động không nhiều<br /> trên không gian lãnh thổ, từ 81 – 84%. Tuy<br /> 251<br /> <br /> Đỗ Thị Vân Hương và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> nhiên, độ ẩm tối thấp tuyệt đối ở Bắc Kạn khá<br /> thấp. Ở đây đã quan sát thấy các giá trị kỷ lục<br /> của độ ẩm tương đối như: 10% ở Chợ Rã<br /> (năm 1972), 12% ở Ngân Sơn (năm 1963),<br /> hay 15% ở Bắc Kạn (năm 1960). Đây rõ ràng<br /> là các giá trị cực đoan không thường thấy ở<br /> khu vực nhiệt đới ẩm và có ảnh hưởng xấu tới<br /> sức khỏe, đời sống của cư dân cũng như sự<br /> phát triển của giới sinh vật trong vùng.<br /> Chế độ gió và tài nguyên gió<br /> Phân tích các số liệu về tần suất gió cho thấy<br /> ước tính ở Bắc Kạn số phần trăm lặng gió<br /> khoảng 20 – 30%/tháng. Tốc độ gió trung<br /> bình năm khá thấp: từ 1,3 đến 1,5m/s. Mùa<br /> đông, thời kỳ từ tháng X đến tháng III năm<br /> sau, các gió hướng bắc, đông bắc, tây bắc<br /> chiếm tần suất chủ đạo; mùa hè gió đông,<br /> đông nam chiếm tần suất chủ đạo.<br /> Các hiện tượng thời tiết đặc biệt<br /> Mùa đông có thể gặp các hiện tượng thời tiết<br /> đặc biệt như: sương mù, sương muối, mưa<br /> phùn, mưa đá; mùa hè có thể có dông, gió khô<br /> nóng và chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp<br /> nhiệt đới.<br /> Sơ bộ phân vùng khí hậu nông nghiệp tỉnh<br /> Bắc Kạn<br /> Cơ sở phân vùng khí hậu nông nghiệp [5,6]<br /> Qua phân tích điều kiện khí hậu tỉnh Bắc Kạn<br /> tác giả nhận thấy nét nổi bật của điều kiện khí<br /> hậu ở đây là:<br /> - Khí hậu nhiệt đới gió mùa (NĐGM) có mùa<br /> đông lạnh vùng trung du mang tính chuyển tiếp<br /> của khí hậu đồng bằng và khí hậu vùng núi.<br /> - Khí hậu có sự phân hóa theo đai cao tại một<br /> số khu vực đồi núi cao trong tỉnh.<br /> Rõ ràng tính chất đồi núi chỉ làm biến dạng<br /> khí hậu chứ không làm thay đổi bản chất của<br /> khí hậu NĐGM. Đồng thời khí hậu Bắc Kạn<br /> có sự phân hoá theo phương Đông-Tây, theo<br /> độ cao địa hình và theo dạng địa hình.<br /> * Cấp phân vị: Trên lãnh thổ Bắc Kạn được<br /> chia ra làm 7 tiểu vùng khí hậu ứng với 7 loại<br /> SKH sau[3,4]:<br /> - Loại IB1b: Loại SKH NĐGM, nóng, có mùa<br /> lạnh ngắn, mưa vừa, mùa khô trung bình.<br /> 252<br /> <br /> 96(08): 249 - 254<br /> <br /> Phân bố ở vùng núi có độ cao dưới 100m<br /> thuộc huyện Chợ Mới.<br /> - Loại IC1c: Loại SKH NĐGM, nóng, có mùa<br /> lạnh ngắn, ít mưa, mùa khô dài. Phân bố ở<br /> vùng núi thấp có độ cao dưới 200m (thung<br /> lũng sông Cầu).<br /> <br /> - Loại IIB1b: Loại SKH NĐGM, ấm, có mùa<br /> lạnh ngắn, mưa vừa, mùa khô trung bình.<br /> Phân bố ở vùng núi có độ cao từ 200 – 700m:<br /> Bằng Khẩu, Nà Phặc -Ngân Sơn, huyện Chợ<br /> Đồn, thị xã Bắc Kạn, phía nam và phía đông<br /> huyện Chợ Mới.<br /> - Loại IIC1b: Loại SKH NĐGM, ấm, có mùa<br /> lạnh ngắn, ít mưa, mùa khô trung bình. Phân<br /> bố ở vùng núi có độ cao từ 200 – 700m<br /> (huyện Ba Bể, Nà Phặc).<br /> - Loại IIC1c: Loại SKH NĐGM, ấm, có mùa<br /> lạnh ngắn, ít mưa, mùa khô kéo dài. Phân bố<br /> ở vùng núi có độ cao từ 200 -700m dọc thung<br /> lũng sông Bắc Giang - huyện Na Rì.<br /> - Loại IIIB2b: Loại SKH NĐGM vùng núi<br /> thấp, mát, có mùa lạnh trung bình, mưa vừa,<br /> mùa khô trung bình. Phân bố ở vùng núi cao<br /> từ 700 – 1000m. Bao gồm khu vực Cao Tân,<br /> Nam Mẫu, Quảng Khê (huyện Ba Bể), phía<br /> Bắc huyện Ngân Sơn, khu vực Tân Lập,<br /> Phương Viên, Cao Phong (huyện Chợ Đồn).<br /> - Loại IVB3b: Loại SKH NĐGM vùng núi<br /> thấp, lạnh, có mùa lạnh dài, mưa vừa, mùa<br /> <br /> Đỗ Thị Vân Hương và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> khô trung bình. Phân bố ở vùng núi có độ cao<br /> trên 1000m đó là vùng núi Nam Khiếu, Thom<br /> Meo (huyện Ba Bể), vùng núi phía Bắc huyện<br /> Pắc Nặm, vùng núi P. Lang Lan phía Bắc<br /> huyện Ngân Sơn, núi Cứu Quốc, khu vực núi<br /> Pia Nam.<br /> Đề xuất hướng sử dụng tài nguyên khí hậu<br /> nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn cho phát triển bền<br /> vững nông, lâm nghiệp [5,6]<br /> Dựa vào hệ thống chỉ tiêu phân loại SKH và<br /> bản đồ SKH thảm thực vật tự nhiên, tác giả<br /> xin đưa ra một số kiến nghị như sau:<br /> - Với mục đích phủ xanh đất trống đồi núi<br /> trọc, phát triển trồng rừng lấy nguyên liệu sản<br /> xuất giấy, đối với nhóm cây lâm nghiệp, ở<br /> Bắc Kạn những nơi khô hạn có độ cao trên<br /> 600m (như Lạc Long, Chợ Rã, Bằng Thànhhuyện Ba Bể; huyện Na Rì) có thể trồng bạch<br /> đàn trắng, thuộc các loại SKH IIC1b, IIC1c,<br /> IC1c. Tương tự để góp phần cải tạo đất, làm<br /> cây che bóng cho chè, làm thức ăn cho gia<br /> súc ở các loại SKH trên còn có thể trồng xen<br /> cây keo giậu.<br /> - Đối với nhóm cây trồng công nghiệp: Điều<br /> kiện SKH ở Bắc Kạn có thể trồng đươc nhiều<br /> loại cây công nghiệp như chè trung du, cây<br /> quế, cây hồi, cây sơn, cây bạc hà, cây mía,<br /> cây đậu tương. Các loại cây trồng này thích<br /> hợp với các đai IIC1b, IIC1c. Một số cây có<br /> thể trồng ở các đai IC1c và IIIB2b, tuy nhiên<br /> ở đai này, năng suất cây trồng sẽ kém hơn.<br /> - Đối với nhóm cây ăn quả: Vùng trung du<br /> đồi núi của tỉnh rất thuận lợi cho phát triển<br /> cây ăn quả như dứa, cam, quýt, chanh. Các<br /> loại cây này phù hợp với các loại SKH như<br /> IB1b, IC1c. Một số loại cây á nhiệt đới như<br /> cây mận, hồng, mơ có thể trồng ở các nơi<br /> thuộc loại IIB1b.<br /> Tóm lại, điều kiện khí hậu ở Bắc Kạn thuận<br /> lợi cho phát triển các loại cây trồng có nguồn<br /> gốc nhiệt đới. Một số khu vực có độ cao ><br /> 700m, có thể phát triển một số loại cây trồng<br /> <br /> 96(08): 249 - 254<br /> <br /> á nhiệt đới và ôn đới hoặc phát triển cây lâm<br /> nghiệp. Ở những vùng thấp, do chịu ảnh<br /> hưởng của khối khí cực đới vào mùa đông,<br /> không khí lạnh tràn về vẫn làm cho khu vực<br /> này có một mùa đông lạnh, nên ở đây vẫn có<br /> thể trồng một số loại cây á nhiệt đới và cây ôn<br /> đới ngắn ngày như bắp cải, xu hào, súp lơ,...<br /> KẾT LUẬN<br /> - Khí hậu Bắc Kạn mang đầy đủ các đặc điểm<br /> của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa<br /> đông lạnh, có 2 mùa mưa, khô rõ rệt. Nhiệt độ<br /> và lượng mưa có sự phân hoá theo không gian<br /> và thời gian.<br /> - Khí hậu Bắc Kạn được chia thành 7 tiểu<br /> vùng khí hậu nông nghiệp (với 7 loại SKH),<br /> khác nhau về chế độ nhiệt và ẩm, đó là cơ sở<br /> khoa học để phân bố cơ cấu cây trồng theo sự<br /> phân hoá của tài nguyên nhiệt - ẩm.<br /> - Điều kiện khí hậu nông nghiệp thuận lợi<br /> phát triển cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới,<br /> ngoài ra cũng thích hợp cho nhiều loại cây<br /> lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn...<br /> - Sử dụng bản đồ SKH thảm thực vật tự nhiên<br /> để chọn lựa cơ cấu cây trồng và thời vụ phù<br /> hợp, nhằm bảo đảm phát triển nông nghiệp<br /> bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1]. Cục thống kê Bắc Kạn. Niên giám thống kê<br /> tỉnh Bắc Kạn 2010, Nxb Thống kê, Hà Nội 2010.<br /> [2]. Vũ Tự Lập, 2002, Địa lí tự nhiên Việt Nam,<br /> Nxb Giáo dục, Hà Nội.<br /> [3]. Lê Thông và Nnk, 2005, Địa lý các tỉnh và thành<br /> phố Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.<br /> [4]. Số liệu khí tượng thuỷ văn, tập 1, Hà Nội 1989.<br /> [5]. Nguyễn Khanh Vân và nnk (1997 - 1998), Xây<br /> dựng cơ sở dữ liệu sinh khí hậu tỉnh Thái Nguyên<br /> phục vụ quản lý và sử dụng TNKH cho mục đích<br /> phát triển nông - lâm nghiệp, Đề tài hợp tác quốc<br /> tế “Projet STD3-VT-310” của Viện Địa lý với<br /> Cộng hoà Pháp.<br /> [6]. Nguyễn Khanh Vân, 2005, Sinh khí hậu ứng<br /> dụng, Nxb ĐHSP Hà Nội.<br /> <br /> 253<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản