
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu đã và đang gây ảnh hưởng đến cuộc sống của toàn nhân loại
trên thế giới. Cộng đồng thế giới đang có những nỗ lực đáng kể trong cuộc chiến
chống lại biến đổi khí hậu. Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về biến đổi khí
hậu (COP 15) cũng đã diễn ra từ 07-18/12/2009 tại thủ đô Copenhagen, Đan Mạch
nhằm ký kết một thỏa thuận ngăn chặn tình trạng ấm lên toàn cầu, thay thế Nghị
định thư Kyoto sẽ hết hiệu lực vào năm 2012.
Là một bán đảo thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, Việt Nam
được xác định là một trong những quốc gia có nhiều khả năng chịu các tác động tiêu
cực của biến đổi khí hậu (BĐKH). Trên thực tế Việt Nam đã có những biểu hiện
của BĐKH về các yếu tố khí hậu cơ bản (nhiệt độ, lượng mưa...) cũng như các yếu
tố thời tiết cực đoan (bão, mưa lớn, hạn hán...).
Theo “Báo cáo đánh giá biến đổi khí hậu ở Việt Nam” do Viện Chiến lược,
Chính sách Tài nguyên và Môi trường (ISPONRE) năm 2009. Nhiệt độ tăng ít nhất
1,1 – 1,9oC, nhiều nhất 2,1 – 3,6oC; lượng mưa tăng ít nhất 1,0 – 5,2% và nhiều nhất
từ 1,8 – 10,1%; mực nước biển dâng ít nhất 65 cm, nhiều nhất 100 cm so với trung
bình thời kỳ 1980 - 1999. Tác động tiềm tàng BĐKH ở Việt Nam thể hiện trong tất
cả các lĩnh vực chủ yếu: tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng
lượng, giao thông vận tải, sức khỏe. Nhìn chung, tác động của biến đổi khí hậu là
nghiêm trọng nhất đối với nông nghiệp và tài nguyên nước.
Những hậu quả đó là do tình trạng phát thải khí CO2 trong khí quyển ngày
càng tăng. Theo Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The
Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC, 2001) dự báo sự thay đổi việc
sử dụng đất rừng nhiệt đới hoặc sự tàn lụi của nó sẽ làm phát thải đi khoảng 1,5 tỷ
tấn carbon. Con số đó gây nên việc phát thải khí CO2 trong tầng khí quyển lên đến
1/5 tổng lượng phát thải khí CO2 vào môi trường. Lượng khí CO2 phát thải do sự
thay đổi việc sử dụng đất rừng nhiệt đới nhiều hơn cả phát thải khí CO2 trong giao
thông toàn cầu. Vì thế, vấn đề đặt ra cho con người là làm sao giảm bớt hàm lượng

2
khí thải CO2, giảm bớt tình trạng suy thoái môi trường bằng nhiều hoạt động thiết
thực trong số đó việc phục hồi những cánh rừng hay phát triển các cây công nghiệp
lâu năm giữ vai trò quan trọng.
Hội nghị thay đổi khí hậu gồm 187 nước trên thế giới họp tại Indonesia bàn
và ký kết Thỏa hiệp Bali ngày 15 tháng 12 năm 2007. Hội nghị đã nêu lên chương
trình giúp đỡ việc hạn chế sự phá hủy vùng rừng nhiệt đới trên thế giới để giảm
thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Chương trình có tên “Giảm thiểu khí phát
thải từ suy thoái và mất rừng” tên tiếng Anh là Reducing Emissions from
Deforestation and Degradation (viết tắt là REDD). Các nước đang phát triển cũng là
những đối tác quan trọng tham gia chương trình REDD. Theo đó các nước phát
triển sẽ phải chi trả phí dịch vụ môi trường cho các nước đang phát triển ở việc mua
các tín dụng carbon của những cánh rừng hấp thụ CO2.
Việt Nam là nước nằm trong số đối tác của dự án REDD “Reduced Emission
from Deforestation and forest Degradation” cần xây dựng việc hoạch tính quỹ tín
dụng carbon từ những cánh rừng của mình, trong số đó có rừng trồng cao su. Mặc
dù, rừng cao su không thể thay thế được rừng tự nhiên và không thể hiện đầy đủ các
giá trị và chức năng của rừng với những yếu tố đa dạng sinh học, cân bằng môi
trường sinh thái. Tuy nhiên, không thể phủ nhận hiệu quả mang lại từ khả năng hấp
thụ CO2 của rừng cao su, đó là những hiện thực cần được tính toán và thống kê với
vai trò góp phần giảm thải sự phát thải CO2 trong khí quyển.
Theo báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 12 và cả năm 2010 ngành
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng diện tích cây cao su đạt 740.000 hecta.
Đây là con số khá lớn về diện tích cao su trong nước, do vậy Việt Nam cũng cần có
những tính toán để cung cấp thông tin về khả năng hấp thụ CO2 của cây cao su nói
chung và cho Nông trường cao su Long Tân nói riêng.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của
rừng cao su ở Nông trường cao su Long Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3
Mục tiêu và giới hạn đề tài
* Mục tiêu nghiên cứu
- Tính toán khả năng hấp thụ CO2 của các bộ phận rừng cao su trên mặt đất.
- Xác định được chi phí môi trường tại thời điểm nghiên cứu hấp thụ CO2
của rừng cao su.
* Gới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: Do giới hạn thời gian và kinh phí thực hiện đề tài cho phép
nên đề tài chỉ nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 của cao su trên mặt đất thông
qua các bộ phận thân, cành, lá. Không nghiên cứu sinh khối vỏ riêng của cao su, do
không được phép tách vỏ của cây cao su khai thác và cũng không nghiên cứu về lập
địa, đất đai, lượng hấp thụ CO2 dưới mặt đất.
- Phạm vi nghiên cứu: Khu vực nghiên cứu tại Nông trường cao su Long
Tân, xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Thời gian: Thời gian thực hiện luận văn từ tháng 8/2011 đến tháng 2/2012.

4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU
1.1.1. Lịch sử phát triển cây cao su và đặc điểm thực vật học
1.1.1.1. Lịch sử phát triển cây cao su Việt Nam
+ Giai đoạn trước 1990
Cây cao su được du nhập vào VN được trên 110 năm (kể từ 1897). Thời rực rỡ
của trồng và sản xuất cao su thiên nhiên ở Việt Nam là các năm 1920- 1940. Năm
1930 đã khai thác trên 10.000 ha, sản xuất 11.000 tấn. Năm 1950, sản xuất 92.000
tấn, trên diện tích khai thác gần 70.000 ha. Nhờ chính sách khuyến khích của chính
quyền thuộc địa (chính sách đất đai và chính sách cho vay lãi suất thấp), tư bản Pháp
đã thiết lập các đồn điền lớn như Công ty Đất đỏ (Compagnie des Terres rouges),
SIPH, Công ty đồn điền Michelin, ở các tỉnh miền Đông và ở Tây Nguyên. Xuất khẩu
cao su và gạo lúc đó là “hai vú sữa cho nền kinh tế Việt Nam”
Cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60, Việt Nam phát động phong trào cao
su tiểu điền (small holding) như Malaysia, Indonesia và Thailand, nhưng với nét
khác biệt là chương trình cao su dinh điền. Các tiểu điền cao su dinh điền thiết lập
liên canh, liên địa thành diện tích lớn với các dòng năng suất cao lúc đó là GT1,
PB86…Chương trình cao su dinh điền dự trù phát triển đến 200.000 ha ở những
vùng sinh thái thích hợp (miền Đông Nam Bộ, các tỉnh Tây Nguyên). Trong hơn 5
năm, từ 1958 đến 1963 diện tích cao su dinh điền đã lên đến 30.000 ha.
Năm 1962 chương trình cao su được khuyến khích tài trợ và giúp đỡ kỹ thuật
cho các tư nhân Viêt Nam (cả cho các đồn điền nào muốn mở rộng thêm diện tích
khai thác hay trồng lại nhiều vườn cao su đã già cỗi, khai thác đã trên 30 - 40 năm).
Chương trình cao su Viêt Nam dự tính diện tích cao su tiểu điền có năng suất cải
thiện là 500.000 ha, nghĩa là bằng diện tích cao su tiểu điền Malaysia và Indonesia
các thập niên này. Tuy nhiên, chiến tranh tàn khốc đã làm tan hoang các đồn điền,
công ty và nhất các cao su tiểu điền, dinh điền.
Trong thập niên 1970, chích sách phát triển kinh tế tập thể đã không còn hỗ trợ

5
phát triển tư nhân tiểu điền cao su nữa. Theo thống kê năm 1976, tổng diện tích cao
su mới chỉ có 76.600 ha (riêng các tỉnh phía Bắc có khoảng 5.000 ha), với sản lượng
40.200 tấn. Trong thập niên 80, chính sách đổi mới bắt đầu cho phép tiểu nông thuê
khai thác tiểu điền, đã đem lại phần nào sinh khí cho ngành cao su Viêt Nam. Tuy
nhiên, do giá cao su vào thập niên thập niên 80 giảm mạnh, các tiểu điền cũng như
đồn điền cũ chưa tạo ra được bước phát triển đáng kể cho ngành cao su Việt Nam.
+ Giai đoạn sau năm 1990 đến nay
Sau khi Liên Xô tan rã, diện tích cao su không phát triển được vào những
năm đầu thập niên 90. Năm 1990, diện tích cao su Việt Nam là 250.000 ha và sản
lượng là 103.000 tấn (diện tích cao sản chỉ khoảng 15%, trong khi đó Thái Lan có
1.884.000 ha, với 52% diện tích cao sản, mức sản xuất mủ khô là 1.786.000 tấn;
Indonesia cứ 3.155.000 ha, nhưng sản lượng ít hơn Thái Lan 1.429.000 tấn). (Trần
Đức Viên, 2008).
Nhờ chủ trương phát triển kinh tế thị trường những năm 1990, cao su tiểu
điền lại được khuyến khích phát triển và cũng trong thời kỳ này giá cao su xuất
khẩu đã lên đến đỉnh với 1.500 USD/tấn và ngành cao su khởi sắc trở lại. (Trần Đức
Viên, 2008).
Đến năm 2000 sản lượng cao su đạt 290,8 ngàn tấn. Trước tính hình cạnh
tranh đất trồng giữa các loại cây công nghiệp khác có cùng yêu cầu sinh thái như cà
phê, hồ tiêu, cây ăn quả... Chính phủ đã chủ trương chỉ phát triển ngành cao su với
quy mô 400.000ha. Tuy nhiên, đến năm 2001 diện tích cao su trên toàn quốc đã lên
tới trên 405.000 ha và các địa phương vẫn tiếp tục ủng hộ phát triển cao su, nhất là
các tỉnh duyên hải miền Trung.
Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 6
trên thế giới (sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, và Trung Quốc). Vị thế
của ngành cao su Việt Nam trên thế giới ngày càng được khẳng định. Từ năm 2005,
nhờ sản lượng tăng nhanh hơn Trung Quốc, Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 5.
Riêng về xuất khẩu, từ nhiều năm qua Việt Nam đứng hàng thứ 4 thế giới. (Trần
Đức Viên, 2008).

