
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
THÈN THỊ LIÊN
NGHIÊN CỨU, KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA NGƯỜI DAO Ở TỈNH PHÚ THỌ PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Việt Nam học
Hà Nội - 2019

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
THÈN THỊ LIÊN
NGHIÊN CỨU, KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA NGƯỜI DAO Ở TỈNH PHÚ THỌ PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số:60220113
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Tung
Hà Nội - 2019

1
Ở Đ U
Đ t v n ề nghiên c u
Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân
phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ nhằm phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
cảnh quan thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương
(về tự nhiên, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo…). Hiện nay, du lịch cộng
đồng được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi thế cho phát triển bền vững
kinh tế - xã hội, nhất là nhằm chuyển đổi sinh kế cho cộng đồng cư dân bản địa. Du
lịch cộng đồng còn là cơ hội trong bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá đặc trưng
của địa phương...
Phú Thọ là vùng lõi của không gian văn hóa Đất Tổ, hiện đang lưu giữ nhiều
di sản văn hóa có giá trị. Đặc trưng có tính trội và tính khu biệt của văn hóa ở tỉnh
Phú Thọ là khẳng định tính chất cội nguồn, phát tích quốc gia, dân tộc. Trong cơ
cấu thành phần dân tộc của tỉnh Phú Thọ, người Dao chiếm một vị trí rất quan trọng
cùng với 2 dân tộc Kinh và Mường. Theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Phú
Thọ, vào năm 2015 có hơn 13.000 người Dao sinh sống, chiếm trên 0,9% dân số
toàn tỉnh. Tại 3 huyện Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập, đồng bào người Dao sinh
sống tập trung thành xóm, bản, chủ yếu xen kẽ với các bản của người Mường. Dựa
theo các tiêu chí ngôn ngữ tộc người, đặc điểm văn hoá và ý thức xã hội, các nhà
nghiên cứu đã khẳng định: người Dao ở Phú Thọ hiện chỉ có mặt 2 nhóm nhỏ trong
một nhóm lớn. Đó là người Dao tiền thuộc nhóm Tiểu Bản và người Dao Quần
Chẹt thuộc nhóm Đại Bản. Mặc dù trải qua nhiều biến cố thiên di và cuộc sống du
canh du cư, nhưng người Dao ở Phú Thọ vẫn lưu giữ được những phong tục, tập
quán đặc trưng.
Mặc dù có vị trí đặc biệt quan trọng như vậy nhưng hiện nay việc giữ gìn,
phát huy giá trị văn hóa của người Dao còn gặp nhiều khó khăn. Đời sống người
dân bản địa còn đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản
lý. Việc nghiên cứu, khai thác văn hóa người Dao ở tỉnh Phú Thọ sẽ góp phần làm
cho loại hình du lịch ở địa phương trở nên đa dạng hơn, hấp dẫn hơn, tạo ra lợi thế

2
khu biệt so với các điểm du lịch cộng đồng khác. Tạo điều kiện thúc đẩy ngành du
lịch của tỉnh Phú Thọ nói riêng, trong cả nước nói chung, phát triển tương xứng với
tiềm năng vốn có.
Từ những lí do có tính chất lí luận và thực tiễn như vậy, chúng tôi lựa chọn
đề tài Nghiên cứu, khai thác giá trị văn hóa của người Dao ở tỉnh Phú Thọ phục
vụ phát triển du lịch cộng đồng để thực hiện bản luận văn thạc sĩ của mình thuộc
mã ngành đào tạo Việt Nam học, nhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của người
Dao, đưa những nét đẹp văn hóa đó đến gần hơn với cộng đồng. Quan trọng và cơ
bản hơn, việc gắn với phát triển du lịch cộng đồng sẽ là luận cứ khoa học để chính
quyền địa phương tham khảo, hoạch định những chính sách để chuyển đổi sinh kế,
cải thiện đời sống của người Dao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
2. Lịch sử nghiên c u v n ề
2.1. Lịch sử nghiên cứu về du lịch cộng đồng
Lịch sử nghiên cứu du lịch cộng đồng trên thế giới gắn với các khái niệm về
tài nguyên, tổ chức các đơn vị hành chính, dân cư, dân tộc, nguồn lao động xuất
hiện từ rất sớm vào khoảng thế kỉ XIX gắn liền với sự phát triển củ du lịch hiện đại
từ khoảng những năm 1970 đến nay. Trên thế giới nghiên cứu về du lịch cộng đồng
chia ra làm 2 giai đoạn cụ thể: từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX và giai đoạn từ sau
chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay.
Từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX thì du lịch cộng đồng gắn với các dự án
quy hoạch du lịch tại các khu vực có nhiều cảnh đẹp ở vùng núi, vùng biển với
nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn. Những người làm du lịch gắng du
lịch với các điểm dân cư nhằm tạo ra sự thúc đẩy, hỗ trợ cho việc thực hiện các dự
án quy hoạch. Ví dụ: các dự án dọc bờ biển Azure (Pháp); dọc bờ biển Riviera
(Italia), Tây Ban Nha, Hy Lạp, Anh… ; các dự án quy hoạch tại vùng núi như: núi
Bad Gastein (Áo), Bal – Reichenball (Đức), Genève (Thụy Sĩ)…
Trong thời gian này các nghiên cứu về du lịch chưa được coi là một hoạt
động kinh tế, mà chủ yếu để thỏa mãn các nhu cầu ăn chơi của giới thượng lưu. Các
hoạt động nghiên cứu không vì mục đích hướng tới cộng đồng địa phương, đầu tư

3
cơ sở nghiên cứu lâu dài, cơ sở hạ tầng đảm bảo để phục vụ giới quý tộc, thượng
lưu.
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay du lịch nói chung được
nghiên cứu nhiều hơn, người đi du lịch trên thế giới cũng nhiều hơn. Du lịch bắt đầu
được coi là một ngành kinh tế, được quan tâm nghiên cứu và phát triển ở nhiều
quốc gia trên thế giới.
Từ năm 1950 đến nay các quốc gia có tiềm lực kinh tế, nguồn lực du lịch đều
thống kê, lập hồ sơ xếp hạng các tài nguyên du lịch, đề nghị UNESSCO công nhận
xếp hạng di sản thế giới. Tiến hành quy hoạch du lịch, xây dựng các mô hình du
lịch sinh thái, du lịch dựa vào cộng đồng. Đến năm 1960 các công trình nghiên cứu
về du lịch với mục đích chuyển nhượng đất, cung ứng nông sản, các loại hình liên
quan tới phát triển nguồn nhân lực giá rẻ chứ chưa có đề cập tới mục đích làm lợi
cho cộng đồng địa phương. Đến năm 1970 khủng hoảng dầu lửa lúc này du lịch
được nghiên cứu với vai trò như một ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng phát
triển lâu dài và là ngành công nghiệp cứu cánh cho các quốc gia có tài nguyên thiên
nhiên hạn chế. Từ khi du lịch phát triển ở nhiều quốc gia nhìn nhận du lịch với một
vai trò nhân văn hơn hường du lịch gắn với cộng đồng địa phương như: Bucley
R.C., “prespectives in inviromental management” (Spimger – Verlao, Berlin Press,
1991); Pagdin C., “Assesing Tourism impact the third world” (A Nepal Case Study,
Proress in Planning, 1995); Lea J., “Tourism and development in the third world”
(Routledge New York, 1998); …. Còn rất nhiều công trình nghiên cứu mang ý
nghĩa to lớn đóng vai trò nền tảng cho nghiên cứu sau này về du lịch nói chung và
về du lịch cộng đông nói riêng. Tất cả đều là những tri thứ đánh dấu sự khai sinh ra
một loại hình du lịch vừa đảm bảo sự bền vững, vừa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
trong nghiên cứu và bảo tồn văn hóa.
Ở Việt Nam, du lịch được coi là bắt đầu phát triển khoảng năm 1990, với sự
kiện tổ chức “năm du lịch Việt Nam”. Từ đó đến nay Đảng, Nhà nước và Chính
phủ, các bộ ngành liên quan đã có những văn bản, luật, văn kiện chỉ đạo thực hiện
các chiến lược phát triển, quy hoạch du lịch. Ngày 12/12/1992, Nghị định về việc

