intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu khảo sát hoạt tính sinh học và xác định thành phần hóa học của các loại cao chiết lá đinh lăng (Polyscias Fruticosa (L.) Harms)

Chia sẻ: Lý Mân Hạo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

53
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát hoạt tính kháng khuẩn và khả năng kháng ôxy hóa của lá Đinh lăng Polyscias fruticosa (L.) Harms. Tiềm năng điều trị bệnh tiêu chảy của lá Đinh lăng sẽ được khảo sát thông qua phương pháp khuếch tán trên giếng thạch (agar well diffusion method) dựa trên phương pháp của Anonymous (1996) và Hadecek, ctv (2000). Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu khảo sát hoạt tính sinh học và xác định thành phần hóa học của các loại cao chiết lá đinh lăng (Polyscias Fruticosa (L.) Harms)

  1. NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT HOẠT TÍNH SINH HỌC VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÁC LOẠI CAO CHIẾT LÁ ĐINH LĂNG (POLYSCIAS FRUTICOSA (L.) HARMS) Nguyễn Đức Thiên An, Chu Trực Nhân, Trương Thị Hồng Thảo, Đặng Huỳnh Xuân Trúc Viện Công nghệ Việt  Nhật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh GVHD: ThS. Phạm Minh Nhựt TÓM TẮT Bệnh tiêu chảy với nhiều biến chứng nguy hiểm và tình hình lão hóa ở cơ thể người đang là mối đe dọa lớn đến sức khỏe toàn cầu. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát hoạt tính kháng khuẩn và khả năng kháng ôxy hóa của lá Đinh lăng Polyscias fruticosa (L.) Harms. Tiềm năng điều trị bệnh tiêu chảy của lá Đinh lăng sẽ được khảo sát thông qua phương pháp khuếch tán trên giếng thạch (agar well diffusion method) dựa trên phương pháp của Anonymous (1996) và Hadecek, ctv (2000). Đường kính vòng ức chế và số lượng chủng vi khuẩn mà cao lá kháng được xuất hiện trên đ a thạch sau 24 giờ ủ trong tủ ấm 37 oC sẽ thể hiện mức độ kháng khuẩn của và dựa vào đó có thể đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của cao lá. Ngoài ra để đánh giá khả năng kháng ôxy hóa của lá Đinh lăng thì giá trị IC50 (nồng độ chất kháng ôxy hóa để có thể ức chế 50% gốc tự do DPPH) sẽ được sử dụng làm tiêu chuẩn đánh giá. Giá trị IC50 càng nhỏ thì hoạt tính kháng ôxy hóa của lá Đinh lăng càng mạnh. Giá trị IC50 được xác định bằng phương pháp DPPH và lập phương trình đường chuẩn: y = ax + b. Việc định tính các thành phần hóa học có trong cao chiết được xác định thông qua các phương pháp thử nghiệm đặc trưng và từ đó sẽ kết luận được mẫu cao nào của lá Đinh lăng sẽ có hiệu quả hơn trong việc điều trị bệnh tiêu chảy nói riêng và nâng cao sức khỏe con người nói chung. Từ khóa: Cao, đinh lăng Polyscias fruticosa (L.) Harms, kháng khuẩn, kháng ôxy hóa, thành phần hóa học. ABSTRACT Diarrhea with many dangerous complications and aging processing in the human body is a great threat to global health. This research was conducted to investigate the antibacterial activity and antioxidant ability of Polyscias fruticosa (L.) Harms leaves. The potential of diarrhea’s treatment by using Polyscias fruticosa (L.) Harms leaves was examined through agar well diffusion method based on Anonymous (1996) and Hadecek, et al. (2000). The inhibitory loop diameter and the number of bacterial strains resistant of leaf extract appeared on agar plates after 24 hours of incubation in a 37 oC incubator will show antibacterial activity and will be used to assess the antibacterial activity of leaf extract. In another hand, to assessing the antioxidant capacity of Polyscias fruticosa (L.) Harms leaves, IC50 values (antioxidant concentrations to be able to inhibit 50% 343
  2. of free radicals DPPH) will be used as the evaluation criteria. The more smaller the IC50 value, the more stronger the antioxidant activity of the leaves. The value of IC50 was determined by DPPH and set up by the equation for the line: y = ax + b. The qualitative determination of the chemical constituents in the extract is determined through specific test methods and it is therefore possible to conclude which samples of the leaves are more effective in treating diarrhea and improve human health. Keywords: Extract, Polyscias fruticosa (L.) Harms, antibacterial, antioxidant, chemical constituents. 1 L I GIỚI THIỆU Những năm trở lại đây, cây Đinh lăng đang dần được ứng dụng rộng rãi trong l nh vực chăm sóc và cải thiện sức khỏe. Các ứng dụng được nhắc đến nhiều nhất của Đinh lăng có thể kể đến là: hoạt huyết dưỡng não, tăng cường trí nhớ và sức chống chịu, lợi tiểu, giảm sưng,… Và bộ phận được sử dụng để làm dược liệu chủ yếu là rễ cây Đinh lăng (hay còn được ví như Nhân sâm Việt Nam). Bên cạnh những tác dụng kể trên từ rễ thì hiện nay đã có nhiều báo cáo khảo sát, phân tích và ứng dụng các bộ phận khác của cây như cành, lá để làm dược liệu nhằm có thể tận dụng tối đa các lợi ích mà cây Đinh lăng có thể mang lại. Cùng chung mục tiêu trên, bài nghiên cứu này hướng đến việc khảo sát một số đặc tính của lá Đinh lăng đã được đề cập trong các tài liệu về cây thuốc, dược liệu ở Việt Nam nhưng thiếu dữ liệu cơ sở. Từ đó, đưa ra lời nhận xét về tiềm năng ứng dụng lá Đinh lăng trở thành dược liệu bên cạnh rễ cây, cũng như đưa ứng dụng trên ra quy mô sản xuất công nghiệp. Đồng thời, kết quả của bài nghiên cứu có thể được xem như một dữ liệu cơ sở, bổ sung thêm thông tin hữu ích về lá cây Đinh lăng. 1.1 Tên gọi, phân nhóm Tên gọi khác: Cây gỏi cá, Nam dương sâm. [3] Tên khoa học: Polyscias fruticosa (L.) Harms, Panax fruticosum L, Nothopanax fruticosus (L.) Miq., Tieghemopanax fruticosus (L.) R. Vig. [3, 4] Tên nước ngoài: Ginseng tree (Anh), Polyscias (Pháp). [3] Họ: Ngũ gia bì (danh pháp khoa học: Araliaceae). [4] Phân nhóm: Đinh lăng lá nhỏ, đinh lăng lá to, đinh lăng lá tròn, đinh lăng đ a, đinh lăng viền bạc và đinh lăng lá răng. [3] 1.2 Đặc điểm sinh thái Mô tả: Cây đinh lăng là loài thân nhỏ, xanh tốt quanh năm, thường cao 0,8 – 1.5,m và có thể cao đến 2 m. Thân nhẵn và không có gai, ít phân nhánh, mang nhiều vết sẹo to, màu xám. Lá to, mọc so le, kép lông chim 2 – 3 lần, dài 20 – 40 cm, không có lá kèm rõ; lá chét có cuống dài 3 – 10 mm, phiến lá chét có răng cưa nhọn, đôi khi chia thùy, gốc và đầu thuôn nhọn, có mùi thơm khi vò nát; cuống lá dài, phát triển thành bẹ to ở phần cuối. 344
  3. Cụm hoa mọc ở ngọn thành hình chùy ngắn 7 – 18 mm, mang nhiều tán; lá bắc rộng, sớm rụng; hoa nhỏ, màu lục nhạt hoặc trắng xám; đài 5 răng hàn liền, mép uốn lượn; tràng 5 cánh hình trái xoan; nhị 5, chỉ nhị ngắn; bầu hạ, 5 ô, 2 ngăn có dìa trắng nhạt. Quả dẹt từ 3 – 4 mm và dày khoảng 1 mm, hình trứng rộng, màu trắng bạc, có vòi tồn tại. Mùa hoa quả: Tháng 4  7. [3, 4] Phân bố: Thảo dược này có nguồn gốc từ đảo ở khu vực Thái Bình Dương. Hiện nay cây đinh lăng được trồng ở nhiều địa phương ở nước ta. Ban đầu cây được trồng để làm thực phẩm và làm cảnh. Gần đây, đinh lăng được sử dụng như một loại dược liệu. 1.3 Bộ phận dùng, thu hái, chế biến, bảo quản Bộ phận dùng: Lá, thân, cành và rễ. Thu hái: Thu hoạch lá ở bất cứ thời điểm nào trong năm, thường được dùng trực tiếp. Đối với rễ chỉ thu hoạch ở cây được trồng từ 3 năm và nên thu hoạch vào mùa xuân. Đem rễ rửa sạch, sau đó đem phơi khô ở nơi mát và thoáng gió. Chế biến: Đem rễ tẩm nước gừng tươi sao sơ qua, sau đó tẩm với mật ong và mật mía. Bảo quản: Nơi khô thoáng, tránh ẩm và ánh nắng mặt trời. [3, 13] 1.4 Thành phần hóa học Cây đinh lăng có chứa 8 loại saponin (một vài loại tương tự như thành phần trong sâm), glucoside, tannin, khoảng 13 loại acid amin (như Arginin, Alanin, Asparagin, Acid glutamic, Leucin, Lysin, Phenylalanin, Prolin, Threonin, Tyrosin, Cystein, Tryptophan, Metionin,… , alkaloid, các vitamin tan trong nước (như B1, B2, B6, C ,… Một nghiên cứu khác về việc cô lập từ rễ Đinh lăng đã tìm thấy 5 hợp chất thuộc loại hợp chất polyacetylene. [7, 8, 10, 14, 15] Một nghiên cứu khác về phân tích thành phần tinh dầu của lá Đinh lăng mọc ở Fiji và Thái Lan cho thấy rằng trong tinh dầu có khoảng 24 cấu tử, trong đó có 4 chất chính là -elemen, -germacren- D, E--bisabolen và -bergamoten. [1, 10, 14] Ngoài ra, Chaboud A. và cộng sự đã nghiên cứu cô lập từ lá và tìm thấy các saponin triterpen. Bên cạnh đó vào năm 1992, Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự đã cô lập được acid oleanolic từ trong Đinh lăng. Đến năm 1998, Võ Duy Huấn và cộng sự cũng đã nghiên cứu cô lập thêm được 11 saponin triterpene. [2, 8, 11, 12] Trong những năm gần đây, có nhiều hợp chất saponin mới cũng đã được phân lập. [2, 5] 1.5 Tính vị Rễ Đinh lăng có vị ngọt, tính bình; lá vị nhạt, hơi đắng, tính bình. Đinh lăng ít độc hơn cả Nhân sâm và khác với Nhân sâm; không làm tăng huyết áp.[4] 345
  4. 1.6 Tác dụng dược lý Theo nghiên cứu dược lý hiện đại: Theo nghiên cứu của Tiến s Nguyễn Thị Thu Hương và một số cộng sự tại Trung tâm Sâm và Dược liệu TP. HCM (2000 – 2007). [9, 10] Tác dụng tăng cường thể lực, giảm stress: Cây đinh lăng có chứa các thành phần tương tự như sâm nhung có khả năng kích thích hoạt động của não bộ, chống mệt mỏi, ôxy hóa và giảm lo âu, mệt mỏi và tăng cường miễn dịch; Bảo vệ gan; Giảm sưng và viêm; Giảm đau khớp; Kích thích tiểu tiện; Điều trị hen suyễn: Dịch chiết cồn từ thảo dược này có tác dụng chống histamin và chống hen suyễn; Tăng trí nhớ và thời gian sống (thực nghiệm trên chuột già). Theo y học cổ truyền: Lá chữa cảm sốt, sưng tấy và mụn nhọt. Thân và cành chữa tê thấp, đau nhức lưng. Rễ là thuốc bổ, lợi tiểu. 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MỤC TIÊU KHẢO SÁT 2.1 Vật liệu Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu là lá Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms), 12 năm tuổi được thu hái tại huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Mẫu được bảo quản tại Trường Đại học Công nghệ TP.HCM cơ sở Công nghệ cao Quận 9. Lá được rửa sạch, loại bỏ phần sâu bệnh và các cuống lớn, chia làm 2 phần (lá tươi và lá khô), sau đó xay nhỏ để sử dụng cho nghiên cứu. Vi sinh vật chỉ thị (VSVCT) được sử dụng trong nghiên cứu là 6 chủng VSVCT được cung cấp bởi GVHD ThS. Phạm Minh Nhựt, bao gồm: Nhóm vi khuẩn Escherichia: E. coli; Nhóm vi khuẩn Salmonella: S. typhii; Nhóm vi khuẩn Shigella: S. boydii; Nhóm vi khuẩn Vibrio: V. cholerae; Nhóm vi khuẩn Listeria: L. monocytogene; Vi khuẩn gây bệnh cơ hội trên da: S. aureus. Thiết bị được sử dụng trong nghiên cứu gồm: Máy cô quay chân không Heidolph (Đức), Máy đo quang phổ UVVis Optima SP300 (Nhật), Tủ cấy (Class II BSC, Esco, Indonesia), Bếp điều nhiệt cách 346
  5. thủy Memmert WNB14 (Đức), Tủ hút chân không BestLab BLH1.6 (Việt Nam), Tủ sấy Memmert (Đức ,… được cung cấp bởi Phòng thí nghiệm Trường Đại học Công nghệ TP.HCM. Hóa chất sử dụng trong thí nghiệm gồm: Ethanol 70o, nước cất, methanol tuyệt đối, DMSO đậm đặc và 50%, H2SO4 đậm đặc, H2SO4 loãng, HCl loãng, acid acetic glacial, pyridine, NaOH 10%, FeCl3 10%, ammonia, NaCl 10%, chì acetate 10%, gelatin 1%, glycerol 40%, acetic anhydride, kháng sinh Ciprofloxacin,… Các thuốc thử: Molisch, Barfoed, Meyer, Dragendorff, Hager, Wagner, Fehling A và Fehling B, Ferric chloride 10%, Ninhydrin, DPPH. Môi trường: BHI (Brain Heart Infusion Broth) và BHIA (Brain Heart Infusion Agar). 2.2 Tổng quan phương pháp nghiên cứu 2.2.1 Phương pháp thu và xử lý nguồn mẫu Mẫu thực vật được thu với số lượng lớn lá và cành mang đi rửa sạch và chia làm 2 phần: Phần lá tươi để ráo nước và xay nghiền nhỏ (PfT); Phần lá phơi trong bóng râm từ 57 ngày, sau đó được xay nghiền nhỏ (PfK). Lượng mẫu sau khi được xay nghiền sẽ được đóng gói trong túi zip và lưu trữ trong tủ lạnh dùng để tách chiết cao sử dụng trong các thí nghiệm. Mẫu trong quá trình bảo quản và thực hiện thí nghiệm được đảm bảo chát lượng, không bị nhiễm tạp chất hay mầm bệnh khác. 2.2.2 Phương pháp tách chiết và thu nhận cao thực vật Mẫu thực vật được tách chiết bởi nhiều loại dung môi khác nhau bằng phương pháp chiết ngâm ở nhiệt độ thường và thu nhận cao chiết bằng cách cho bay hơi, loại bỏ lượng dung môi của dịch chiết bằng các thiết bị cô thích hợp. Tiến hành: Cân 50 g bột lá tươi/khô ngâm với 1000 ml nước cất/ethanol 70o (tỷ lệ 1:20 (w/v)). Đối với dịch ngâm nước cất thời gian ngâm là 4 giờ. Đối với dịch ngâm ethanol 70o thời gian ngâm là 24 giờ. Sau khi ngâm đủ thời gian, tiến hành lọc thô qua vải lọc và lọc tinh qua giấy lọc. Cuối cùng thu được dịch lọc trong, màu đặc trưng và không có cặn. Bã sau khi lọc tiếp tục đưa đi ngâm thêm 2  3 lần. Dịch lọc sau đó được đưa đi cô quay cách chân không ở 70  80 oC (dung môi ethanol 70o) hoặc đun cách thủy ở 75 oC (dung môi nước cất). Sau khi cô quay, thu được cao chiết có dạng sệt, màu và mùi đặc trưng. Đồng thời tính được hiệu suất chiết tách so với trọng lượng khô (%). Trọng lượng cao chiết Hiệu suất tách chiết =  100% Trọng lượng bột lá khô 347
  6. Các cao chiết thu được bao gồm: Cao dịch lọc lá khô ngâm nước (PfKN); Cao dịch lọc lá khô ngâm ethanol 70o (PfKE); Cao dịch lọc lá tươi ngâm nước (PfTN); Cao dịch lọc lá tươi ngâm ethanol 70o (PfTE). Các mẫu cao sẽ được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4 oC. Đảm bảo chất lượng cao trong suốt quá trình lưu trữ. 2.2.3 Phương pháp tăng sinh, xác định mật độ tế bào vi sinh vật chỉ thị Mục đích: Hoạt hoá các vi khuẩn được giữ giống phát triển lại bình thường vì chúng có thể bị suy yếu trong quá trình bảo quản. Tiến hành: Đối với các chủng VSVCT được giữ trong glycerol 40%, tiến hành tăng sinh bằng cách lấy sinh khối vi khuẩn cho vào bình chứa 20 ml môi trường BHI trong điều kiện vô trùng. Sau đó tiến hành lắc với tốc độ 170 vòng/phút trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng. Sinh khối vi khuẩn tăng lên làm đục môi trường nuôi cấy (Lê Ngọc Thuỳ Trang, 2013). Mật độ tế bào vi khuẩn được xác định bằng phương pháp đo mật độ quang OD ở ước sóng 600 nm. [6] Công thức tính toán xác định mật độ tế bào (công thức McFahrland): Mật độ = OD600  1,02  109 (CFU/ml) Mật độ tế bào VSVCT sau tăng sinh không được thấp hơn 106 CFU/ml. 2.2.4 Phương pháp đánh giá hoạt tính kháng khuẩn Tiềm năng về hoạt tính kháng khuẩn của các loại cao chiết được khảo sát bằng phương pháp khuếch tán trên giếng thạch (well diffusion agar method) dựa trên phương pháp của Anonymous (1996) và Hadacek, ctv (2000) có sự điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của phòng thí nghiệm. Tiến hành: Các chủng VSVCT được hoạt hóa từ ống giống gốc trong môi trường lỏng BHIB, lắc qua đêm. Cấy trang 100 µL dịch khuẩn (mật độ tế bào tương đương 106 CFU/ml) lên bề mặt đ a petri có chứa môi trường BHIA đặc và tiến hành đục giếng với đường kính d = 6 mm sao cho mỗi giếng cách nhau khoảng 2  3 cm. Chuẩn bị dịch cao chiết bằng cách hòa tan lượng cao chiết trong Dimethyl Sulfoxide (DMSO) 50% theo nồng độ: 100 mg/ml và 200 mg/ml. Mẫu dịch chiết được chia thành từng cặp để khảo sát hoạt tính với nhau: PfKN  PfTN và PfKE  PfTE. Bổ sung 100 µL dịch cao chiết vào các giếng thạch trên đ a petri và giữ các đ a ở nhiệt độ phòng trong 2 giờ để dịch cao được khuếch tán đều vào môi trường thạch. Sau đó, ủ các đ a vào tủ ấm 37 oC trong 24 giờ và tiến hành đọc kết bằng cách đo giá trị đường kính vòng ức chế (mm) trên đ a thạch. 348
  7. Đối chứng (ĐC là dung dịch kháng sinh Ciprofloxacin. ĐC âm là không bổ sung gì vào môi trường. Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Với mục tiêu nghiên cứu nhằm ổn định hệ vi sinh vật đường ruột và điều trị bệnh tiêu chảy, việc nhận xét tiềm năng kháng khuẩn của cao lá đinh lăng thông qua phương pháp khuếch tán trên giếng thạch sẽ cần đạt 2 yêu cầu sau: 1. Kháng được từ bốn chủng VSVCT trở lên; 2. Đường kính vòng kháng phải ≥ 8 mm. 2.2.5 Phương pháp đánh giá hoạt tính kháng ôxy hóa Khả năng kháng ôxy hóa của một chất được biểu hiện bằng giá trị IC50, nồng độ chất kháng ôxy hóa để có thể ức chế 50% gốc tự do DPPH. Giá trị IC50 càng nhỏ, hoạt tính kháng ôxy hóa càng mạnh. IC50 là một giá trị dùng để đánh giá khả năng ức chế chất kháng ôxy hóa mạnh hoặc yếu của mẫu khảo sát. IC50 (Inhibitory Concentration of 50%) được định ngh a là nồng độ (µg/mL) của chất kháng ôxy hoá mà tại đó nó có thể loại bỏ 50% gốc tự do, tế bào hoặc enzyme, mẫu có hoạt tính càng cao thì giá trị IC50 sẽ càng thấp. Giá trị IC50 được xác định bằng phương pháp lập phương trình đường chuẩn: y = ax + b. Với các giá trị x bao gồm nhiều nồng độ khác nhau. Khi phần trăm (%) ức chế tuyến tính với nồng độ mẫu, cho y = 50% và thay vào phương trình đã có, từ đó được giá trị x chính là IC50. Tiến hành: Mẫu cao chiết Đinh lăng được pha trong dung dịch DMSO đậm đặc theo nồng độ 100 mg/ml. Sau đó tiếp tục pha loãng mẫu theo dãy nồng độ 1000 μg/ml; 800 μg/ml; 600 μg/ml; 400 μg/ml; 200 μg/ml; 100 μg/ml. Dung dịch DPPH hoà tan trong dung môi methanol tuyệt đối ở nồng độ 6 mM. Hút 100 μL dung dịch DPPH vào 2800 μL methanol tuyệt đối, sau đó bổ sung 100 μL dịch mẫu. ĐC dương là Vitamin C được pha trong DMSO đậm đặc theo nồng độ ban đầu 3 mg/ml. Hút 100 μL dung dịch DPPH nồng độ 6 mM vào 2800 μL methanol, sau đó bổ sung 100 μL dung dịch Vitamin C. Mẫu trắng: Hút 100 μL DPPH vào 2900 μl methanol. Cả ba mẫu dung dịch được tiến hành ủ dung dịch trong điều kiện tối ở 37 oC trong 30 phút, sau đó đo độ hấp thu ở ước sóng 517 nm. Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Nhận xét về khả năng kháng ôxy hóa của từng mẫu cao chiết so với dung dịch ĐC là Vitamin C. 2.2.6 Phương pháp xác định thành phần hóa học có trong cao chiết Các nhóm hợp chất hữu cơ có trong mẫu cao chiết được định tính cơ bản bằng các phương pháp thử nghiệm hóa học với các loại hóa chất, thuốc thử đặc trưng. Tiến hành: Các mẫu cao chiết được pha loãng với nồng độ thích hợp. Sau đó tiến hành định tính các thành phần hóa học với các loại hóa chất, thuốc thử đặc trưng: 349
  8. – Định tính thành phần carbohydrate: Thử nghiệm Molisch, thử nghiệm Fehling, thử nghiệm Barfoed. – Định tính thành phần alkaloid: Thử nghiệm Mayer, thử nghiệm Dragendorff, thử nghiệm Hager, thử nghiệm Wagner. – Định tính thành phần saponin: Thử nghiệm Foam (xà phòng). – Định tính thành phần cardiac glycoside: Thử nghiệm Legal, thử nghiệm Keller Killiani. – Định tính thành phần flavonoid: Thử nghiệm Alkaline, thử nghiệm Ferric chloride. – Định tính hợp chất phenolic: Thử nghiệm Chì acetate, thử nghiệm Gelatin. – Định tính thành phần tannin: Thử nghiệm Ferric chloride, thử nghiệm Chì acetate. – Định tính thành phần steroid: Thử nghiệm Salkowski, thử nghiệm Libermann Burchard. – Định tính thành phần amino acid: Thử nghiệm Ninhydrin. Đánh giá mối quan hệ giữa các thành phần hóa học có với hoạt tính sinh học của từng mẫu cao chiết và đưa ra nhận xét về mẫu cao đủ điều kiện đáp ứng được mục tiêu đề tài. 3 THẢO LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Dựa trên những dữ liệu thu được từ kết quả thực nghiệm đưa ra nhận xét về hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết Đinh lăng Polyscias fruticosa (L.) Harms: mẫu cao chiết nào có tiềm năng kháng được bốn chủng VSVCT mong muốn kháng: E. coli, S. typhii, V. cholera, S. boydii hoặc có thể kháng được tất cả 6 chủng VSVCT; hoạt tính kháng khuẩn cao hơn thuốc kháng sinh Ciproflaxacin. Mẫu cao chiết đinh lăng có khả năng kháng ôxy hóa thông qua phương pháp DPPH với giá trị IC50 tiềm năng nằm trong khoảng 200  400 µg/ml, với IC50 của Vitamin C (IC50= 22.55 µg/ml) được sử dụng làm mẫu đối chứng dương để đánh giá hoạt tính kháng ôxy hóa của cao chiết. Đồng thời thông qua các phương pháp thử nghiệm đặc trưng sẽ xác định được các thành phần hóa học có trong cao chiết Đinh lăng. Từ đó, có thể kết luận được những thành phần hóa học nào sẽ quyết định đến hoạt tính sinh học của cao. Và những kết luận thu được về cao chiết ethanol ở trên sẽ được sử dụng làm tiền đề phục vụ cho các nghiên cứu, ứng dụng của lá đinh lăng trong tương lai. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Brophy J.J, Lassak E.V, Suksamrarn A (1990), "Constituent of Volatile leaf oils of Polyscias fruticosa (L.) Hams", Flavour Fragrance J, vole 5, pp. 179-182. [2] Đặng Kim Thoa (2017) Khảo sát hoạt tính chống ôxy hóa của rễ cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms), Luận văn tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Dược học, Trường Đại học Tây Đô. 350
  9. [3] Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2006) Cây thuốc và động vật làm thuốc, tập I, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. [4] Đỗ Tất Lợi (2004) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học. [5] Hồ Lương Nhật Vinh (2014) Nghiên cứu thành phần hóa học, tác dụng ức chế enzym α- amylase và α-glucosidase của phân đoạn dịch chiết lá cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms), Luận văn thạc s dược học ngành Dược học cổ truyền Khoa Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội. [6] Lê Ngọc Thùy Trang, Phạm Minh Nhựt (2013) Phân lập và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản sinh hợp chất kháng khuẩn của Lactobacillus plantarum. [7] Lutomski J., Luan T. C. and Hoa T. T. (1992) Polyacetylenes in the Araliaceae family, Herba Polonica, vole 38 (1), pp. 3–11. [8] Nguyễn Thị Nguyệt (1992) Một số kết quả nghiên cứu về saponin trong Đinh lăng, Tạp chí dược học, số 3, pp. 15–16. [9] Nguyễn Thị Thu Hương, Lương Kim Bích (2001) Nghiên cứu tác dụng chống trầm cảm và stress của Đinh lăng, Tạp chí Dược liệu, tập 6, pp. 84-86. [10] Nguyễn Thời Nhâm, Nguyễn Thị Thu Hương, Lương Kim Bích (1990) Tác dụng dược lý của cao toàn phần chiết xuất từ rễ và lá Đinh lăng Polyscias fruticosa (L.) Harm, Araliaceae, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Viện Dược liệu. [11] Proliac J., Chaboud A., Rougny A. (1996) A oleanolic saponin from Polyscias fruticosa (L.) Harms var yellow leaves, Pharmazie, vole 51(8), pp. 611–612. [12] Vo D. H., Yamamura, S., Ohtani, K., Kasai, R., Yamasaki, K., Nham, N.T. , Chau, H.M. (1998) Oleane saponins from Polyscias fruticosa (L.) Harms, Phytochemistry 47, pp. 451– 457. [13] Võ Văn Chi (1997) Từ điển cây thuốc Việt Nam, tập I, NXB Y học. [14] Võ Xuân Minh, Phạm Hữu Dương, Lê Thanh Hà (1991) Góp phần tìm hiểu về thành phần hóa học và dạng bào chế của cây đinh lăng, Tạp chí Dược học, số 3, pp.19-21. [15] Võ Xuân Minh, Phạm Minh Thu, Phùng Quang Minh (1992) Một số kết quả ước đầu về thăm dò tác dụng dược lý của Saponin từ đinh lăng, Tạp chí Y học cổ truyền Việt Nam, số 234. 351
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2