intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu khoa học " MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, VẬT HẬU, KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY THANH THẤT (AILANTHUS TRIPHYSA (DENNST) ALSTON) "

Chia sẻ: Nguye Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

107
lượt xem
20
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy Thanh thất có phân bố nhiều ở khu vực Phú Yên và Bình Định. Loại đất chủ yếu ở đây là feralit phát triển trên đá Granite, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, hơi chua. Thanh thất phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 300m so với mực nước biển, chủ yếu ở các trạng thái rừng thứ sinh, khoảng trống trong rừng, ven đường, ven rừng trồng, ven nương rẫy và dọc theo các khe suối; Khả năng tái sinh tự nhiên của Thanh thất kém. Mật...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu khoa học " MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, VẬT HẬU, KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY THANH THẤT (AILANTHUS TRIPHYSA (DENNST) ALSTON) "

  1. MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, VẬT HẬU, KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY T HANH THẤT (AILANTHUS TRIPHYSA (DENNST) ALSTON) Phạm Văn Bốn Phân viện Nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ TÓM T ẮT Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy Thanh thất có phân bố nhiều ở khu vực Phú Yên và Bình Định. Loại đất chủ yếu ở đây là feralit phát triển trên đá Granite, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, hơi chua. Thanh thất phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 300m so với mực nước biển, chủ yếu ở các trạng thái rừng thứ sinh, khoảng trống trong rừng, ven đường, ven rừng trồng, ven nương rẫy v à dọc theo các khe suối; Khả năng tái sinh tự nhiên của Thanh thất kém. Mật độ cây tái sinh ở các cấp độ tàn che của tán rừng có sự khác nhau lớn, giảm rõ rệt theo hướng tăng của cấp độ tàn che của tán rừng; Thanh thất ra hoa v ào tháng 2-3, quả chín v ào tháng 5-6 ở khu vực Đông Nam Bộ. Ở khu vực Nam Trung Bộ thì chậm hơn khoảng 1 tháng. Tỷ lệ cây ra hoa đạt 90%, tỷ lệ cây đậu quả 50%; Sinh trưởng rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên và Bình Phước có sự chênh lệch lớn. Ở Phú Yên sinh trưởng rất chậm, tăng trưởng bình quân năm v ề đường kính chỉ đạt 0,82-1,04cm/năm và chiều cao là 0,46-0,72m/năm. Ở Bình Phước sinh trưởng khá nhanh, tăng trưởng bình quân năm về đường kính đạt 2,63cm/năm, về chiều cao là 1,65m/năm. Hạt Thanh thất rất dễ xử lý nẩy mần, có thể xử lý bằng nước lạnh hoặc nước ấm (2 sôi + 3 lạnh); Trong điều kiện môi trường thông thường hạt mất sức nảy mầm sau 2-3 tháng. Tuy nhiên, trong môi trường lạnh ở 10oC sau 12 tháng tỷ lệ nảy mầm có thể còn 70%; Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo ươm, cấp độ che bóng 25% cho kết quả tốt nhất. Hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo ươm. Hai công thức hỗn hợp ruột bầu có hiệu quả tương đương nhau, vượt trội so với công thức đối chứng và các công thức khác là: hỗn hợp (90%đất + 10% phân bò hoai) và hỗn hợp (89%đất + 10% phân bò hoai + 1% phân VSSG). T ừ khóa: Sinh thái, Vật hậu, Nhân giống, Cây Thanh thất I. MỞ ĐẦU Thanh thất là cây gỗ lớn, mọc nhanh, phân bố rộng ngoài tự nhiên, gỗ mềm, thớ thẳng, mịn, dễ bóc, sử dụng làm gỗ dán, bao bì, sản xuất diêm..., có khả năng thích hợp cho việc trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở Việt Nam... Theo tác giả Phạm Đình Tam và các cộng sự thì Thanh thất là một trong những cây sẽ được thị trường thế giới ưa chuộng trong tương lai. Tuy nhiên, kỹ thuật gây trồng cây Thanh thất đến nay ở nước ta còn thiếu, mới chỉ có một số đơn vị, địa phương trồng thử nghiệm mang tính thăm dò, thiếu tính hệ thống. Để khắc phục những vấn đề trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài “ Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Thanh thất (Ailanthus triphysa. (Dennst) Alston) phục vụ kinh doanh gỗ lớn”. Đến nay đề tài đã thu được một số kết quả dưới đây. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Nghiên cứu kỹ thuật thu hái hạt giống Kế thừa các tài liệu đã công bố v à căn cứ v ào quy trình kỹ thuật xây dựng rừng giống, v ườn giống (QPN 15-93) để lựa chọn cây mẹ thu hái hạt. Điều tra, theo dõi đặc điểm vật hậu để lựa chọn thời điểm và phương pháp thu hái. 2.2. Phương pháp điều tra rừng tự nhiên, rừng trồng Đối với rừng tự nhiên: sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến v à theo ÔTC điển hình. Các tuyến được bố trí cắt ngang các trạng thái rừng phổ biến trong khu vực. Bề rộng quan sát trên tuyến là 20m (mỗi bên 116
  2. 10m), trên tuyến tiến hành điều tra ghi chép đặc điểm các trạng thái rừng, thống kê các loài đã gặp; ÔTC có 2 diện tích 2.000m , được bố trí ở những vị trí đại diện cho các trạng thái rừng phổ biến trong khu vực. Trong ÔTC tiến hành đo đếm toàn bộ cây gỗ, cây tái sinh, thực vật thảm tươi, lấy mẫu đất, đánh giá độ tàn che, độ che phủ. Đối với rừng trồng: sử dụng lý lịch rừng trồng v à điều tra ngoài hiện trường bằng phương pháp ÔTC điển 2 hình. Diện tích ô điều tra 500m . Trong ô tiến hành đo D1.3, Hvn, lấy mẫu đất. 2.3. Nghiên cứu kỹ thuật bảo quản hạt CT1: Bảo quản ở điều kiện thông thường. CT2: Bảo quản khô trong lọ kín. o CT3: Bảo quản ở nhiệt độ 10 C. Thời gian theo dõi 12 tháng. Định kỳ kiểm tra tỷ lệ nẩy mầm của hạt 1 tháng/lần. Dung lượng mẫu kiểm tra 50 hạt, lặp lại 3 lần. 2.4. Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm Nghiên cứu kỹ thuật xử lý hạt nẩy mầm CT1: Phương pháp xử lý bằng nước lạnh CT2: Phương pháp xử lý bằng nước ấm (2 sôi + 3 lạnh) Dung lượng mẫu 50 cây, 3 lần lặp. Ngâm hạt trong thời gian 8 giờ, rửa chua rồi mang đi ủ trong cát ẩm. Nghiên cứu ảnh hưởng của che bóng CT1: Không che bóng CT2: Che bóng 25% CT3: Che bóng 50% CT4: Che bóng 75% Thời gian theo dõi trong 6 tháng. Định kỳ đo đếm số liệu 1lần/tháng. Dung lượng mẫu kiểm tra là 50 cây, lặp lại 3 lần. Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu CT1: 100% đất. CT2: 99% đất +1% super lân. CT3: 99% đất + 1% VSSG CT4: 90% đất + 10% phân bò hoai. CT5: 89% đất + 10% phân bò hoai + 1% VSSG CT6: 60% đất + 39% cát + 1% super lân. CT7: 93% đất + 5% tro + 1% super lân + 1% VSSG Thời gian theo dõi 6 tháng, định kỳ đo đếm số liệu 1lần/tháng. Dung lượng mẫu 50 cây, lặp lại 3 lần. 2.5. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu được được xử lý trên phần mềm excel 2003, DataPlus v à Genstat5. III. KẾT QUẢ, THẢO LUẬN 3.1. Một số đặc điểm đất nơi Thanh thất phân bố 117
  3. Trong khu v ực điều tra, Thanh thất phân bố nhiều trên đất Feralit nâu xám phát triển trên đá granite. Tầng đất tương đối mỏng. Tỷ lệ đá lẫn, đá lộ đầu tương đối nhiều. Thành phần cơ giới, tính chất hóa học đất được thể hiện ở bảng dưới: Bảng 1. Kết quả phân tích đất rừng tự nhiên Chỉ tiêu Tổng số Thành phần cơ giới T ầng Địa điểm đất pH_H2O 0.002- 40 5,78 0,685 0,033 0,054 0,402 24,80 22,25 52,14 0-10 5,84 2,419 0,090 0,082 0,939 25,48 22,15 52,08 VC-BĐ 10-40 5,46 1,008 0,054 0,072 0,583 24,04 19,26 56,16 >40 5,58 0,783 0,042 0,062 0,526 23,64 17,66 58,13 Kết quả trên cho thấy đất ở khu vực điều tra có độ phì thấp, đất chua (pH50%). Đây cũng là đặc điểm chung của nhóm đất xám. Như vậy, có thể nói Thanh thất là loài cây không kén đất có thể gây trồng trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng. 3.2. Đặc điểm phân bố của Thanh thất theo độ cao so với mực nước biển Độ cao so với mực nước biển có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố của các loài cây nói chung và Thanh thất nói riêng. Do có sự biến đổi về điều kiện tiểu khí hậu, độ phì đất,…. Kết quả điều tra phân bố của cây Thanh thất theo các cấp độ cao khác nhau ở 2 tỉnh Phú Yên và Bình Định, được thể hiện ở bảng 2: Bảng 2. Phân bố Thanh thất theo độ cao Cấp độ cao so Mật độ Thanh với mực nước Loài phân bố cùng TT Ghi chú thất (cây/ha) biển Trâm, Thành ngạnh, Lòng mang, Sim, 1 > 600m 0 Mua, Thao kén, Gõ đỏ, Dền, Tế… Thành ngạnh, Trâm, Gõ đỏ, Thị rừng, Phân mã, Kơ nia, Cám, Lòng Mang, 2 300-600m 55 Hoắc quang, Dền, Thẩu tấu, Bời lời, Mò cua, Bằng lăng, … Trâm, Thành ngạnh, Thị rừng, Phân mã, Gõ đỏ, Lòng mang, Thẩu tấu, 3 100-300m 100 Muồng ràng ràng, Mít rừng, Bưởi bung, Hu đay, … Thành ngạnh, Lòng mang, Thừng mực, Gõ đỏ, Thao kén, Muồng ràng 4 < 100m 288 ràng, Thẩu tấu, Sổ, Hu đay,… Bảng trên cho thấy, phân bố Thanh thất có xu hướng giảm dần theo chiều tăng độ cao so với mực nước biển, từ 288 cây/ha ở độ cao 100m, xuống còn 100 cây/ha ở độ cao 100-300m, ở độ cao 300-600m chỉ còn 55 cây/ha và tới độ cao trên 600m thì hầu như không thấy Thanh thất xuất hiện. Qua quan sát ngoài thực địa cho thấy, Thanh thất phân bố nhiều ven đường đi, ven nương rẫy, các khe suối, cùng với các loài cây tiên phong ưa sáng như Thành ngạnh, Trâm, Dền, Thẩu tấu…. Điều này chứng tỏ Thanh thất cũng là loài cây tiên phong ưa sáng. 118
  4. Thanh thất mọc ven đường đi, ven rừng trồng Bạch đàn 3.3. Tổ thành cây gỗ theo trạng thái rừng Tổ thành cây gỗ theo trạng thái có một ý nghĩa quan trọng, nó cho thấy được quan hệ giữa các loài, vai trò của từng loài trong quần xã; từ đó có biện pháp tác động phù hợp. Trong trồng rừng ta có thể áp dụng mô hình rừng tự nhiên vào rừng trồng. Kết quả điều tra tổ thành cây gỗ theo các trạng thái rừng ở Phú Yên và Bình Định, được thể hiện ở bảng 3: Bảng 3. Tổ thành cây gỗ theo trạng thái rừng T rạng Tổ thành cây gỗ TT Ghi chú thái 1.7 Thành ngạnh + 1.5 Trâm + 1.2 Hoắc quang +0.9 Dền+ 1 Ic 0.8 Thị rừng + 0.8 Lòng mạng +0.6 Cà te +0.5 Thanh thất +2 Loài khác 2 Thành ngạnh + 1.5 Trâm + 1.2 Lòng mang + 0.8 Cà te + 0.6 2 IIa Thị rừng + 0.5 Thanh thất + 0.5 Nhựa ruồi + 2.9 Loài khác. 1.7 Bằng lăng + 1.3 Thị rừng + 1 Lòng mang + 0.9 Nhựa ruồi 3 IIb + 0.9 Cà te + 0.8 Muồng ràng ràng + 0.5 Phân mã + 2.9 Loài khác. 1.5 Bằng lăng + 1.3 Thị rừng + 1.2 Phân mã + 0.9 Bình linh + 4 IIIa 0.8 Cà te + 0.5 Chân chim + 3.8 Loài khác. Nhận xét Ở khu vực điều tra, rừng đã bị tác động mạnh, chỉ còn 4 trạng thái rừng phổ biến là: Ic, IIa, IIb, IIIa. Bảng trên cho thấy, thành phần loài cây tương đối phức tạp; tuy nhiên, phần lớn là các loài cây tiên phong ưa sáng, cây gỗ có phẩm chất xấu. Trong các trạng thái rừng kể trên, Thanh thất chỉ tham gia v ào công thức tổ thành ở 2 trạng thái Ic và IIa, với tỷ lệ không lớn. Điều này chứng tỏ Thanh thất có vai trò không lớn trong quần thể rừng ở đây. 119
  5. 3.4. Một số đặc điểm tái sinh của cây Thanh thất Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao Bảng 4. Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao Mật độ cây theo cấp chiều cao (cây/ha) Thành phần TT Tổng số 100 cm Tất cả các loài 1 26.666 10.833 15.000 52.499 Thanh thất 2 33 63 55 151 Bảng trên cho thấy, mật độ cây tái sinh ở đây tương đối lớn. Cây tái sinh được coi là có triển vọng là cây có chiều cao lớn hơn 1m, sinh trưởng v à phát triển tốt, có xu hướng tham gia vào tán rừng. Ở đây, số cây có chiều cao trên 1m là 15.000 cây, chiếm tỉ lệ 28%. Tỉ lệ này là tương đối cao, chứng tỏ rừng đang trong trạng thái phục hồi tốt. Tuy nhiên, tỉ lệ tái sinh Thanh thất là tương đối thấp, chỉ có 151 cây/ha, trong đó cây có triển vọng chỉ có 55 cây/ha. Điều này cho thấy khả năng tái sinh của cây Thanh thất trong khu vực điều tra là tương đối kém. Mật độ cây tái sinh theo độ tàn che Bảng 5. Mật độ cây tái sinh theo độ tàn che Cây có triển vọng T ỷ lệ cây triển vọng Độ tàn che (%) Mật độ (cây/ha) TT (cây/ha) (%) 1 75% 5 0 0 Kết quả trên cho thấy, mật độ Thanh thất ở cả 4 cấp độ tàn che có sự khác nhau lớn và giảm rõ rệt theo hướng tăng của cấp độ tàn che của tán rừng. Từ 750 cây/ha ở độ tàn che < 25%, xuống còn 553 cây/ha ở độ tàn che 25-50%, đến độ tàn che 50-75% chỉ còn là 256 cây/ha, tới cấp độ tàn che >75% hầu như không thấy Thanh thất tái sinh. Qua quan sát ngoài thực địa cho thấy, Thanh thất tái sinh chồi khá mạnh ở những nơi ven rừng, ven đường đi, nương rẫy v à ven các khe suối. Đặc biệt Thanh thất có khả năng tái sinh chồi mạnh, ngay cả trên những gốc cây già (đường kính >50cm). Đây là đặc điểm đáng lưa ý trong việc kinh doanh rừng chồi cung cấp gỗ nguyên liệu, gỗ nhỏ. 3.5. Đặc điểm vật hậu của Thanh thất Trong khu v ực Nam Trung Bộ, Thanh thất ra hoa vào tháng 3-4, quả chín v ào tháng 6-7. Tỷ lệ cây ra hoa đạt 90%, số cây đậu quả 50%. Ngoài ra Thanh thất còn ra hoa rải rác v ào các tháng khác trong năm, tuy nhiên tỷ lệ đậu quả thấp. Đặc điểm hình thái quả: Quả dẹt, dạng cánh. Mỗi quả chỉ có 1 hạt. Quả phát tán nhờ gió. Hạt không có vỏ cứng bảo vệ nên dễ bị ảnh hưởng bởi các tác nhân môi trường. Cần thu hái quả khi vừa chín tới để bảo quản. Chỉ thị quả chín: Quả khi non có màu xanh nõn chuối, khi già chuyển sang mầu xanh v àng, chín chuyển sang mầu v àng cánh gián. Lúc này có thể thu hái quả để chế biến, bảo quản. Thời điểm thu hái tốt nhất v ào lúc lâm phần có trên 50% số cây có quả chín. Cách thu hái quả: Trèo lên cây hoặc đứng dưới dùng cù nèo, móc giật từng chùm quả chín. Sau khi thu hái, quả được phân loại. Những quả chưa chín hẳn (chưa chuyển mầu cánh gián hoàn toàn), được đem đi ủ thành đống 2-3 ngày cho quả chín đều. Quả chín được hong khô trong nhà, tránh phơi trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời. Hạt sau khi bóc tách, tiến hành chế biến và bảo quản ngay. 3.6. Tình hình sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên và Bình Phước Hiện đã có một số đơn v ị nghiên cứu gây trồng v à một số mô hình rừng trồng Thanh thất được trồng thử nghiệm. Tuy nhiên, diện tích các mô hình không lớn. Kết quả điều tra một số mô hình rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên và Bình Phước được thể hiện dưới đây: 120
  6. Bảng 6. Sinh trưởng rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên và Bình Phước Năm Tg điều Nbđ TLS D1.3 Hvn ZbqD1.3 ZbqHvn Địa điểm trồng (cm/năm) (m/năm) tra (cây/ha) (%) (cm) (m) Phú Yên 1998 6/2007 1600 75 8,85 6,09 1,04 0,72 Phú Yên 2001 6/2007 625 83,2 4,42 2,57 0,80 0,47 Phú Yên 2002 6/2007 625 86,4 4,04 2,32 0.90 0,52 Phú Yên 2003 6/2007 625 67,2 2,87 1.61 0,82 0,46 Bình Phước 2002 7/2007 830 84 13,14 8,24 2,63 1,65 Bảng trên cho thấy sinh trưởng rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên rất chậm, tăng trưởng bình quân năm về đường kính chỉ đạt 0,82-1,04cm/năm và chiều cao là 0,46-0,72m/năm. Rừng trồng Thanh thất ở Bình Phước sinh trưởng khá nhanh, tăng trưởng bình quân năm về đường kính đạt 2,63cm/năm, về chiều cao là 1,65m/năm. Như vậy sinh trưởng của rừng trồng Thanh thất ở hai khu vực chênh lệch nhau khá lớn. Kết quả phân tích đất cho thấy độ phì đất tại Phú Yên không kém so với địa điểm Bình Phước thậm chí còn cao hơn. Mặt khác đây là khu v ực mà Thanh thất phân bố ngoài tự nhiên rất nhiều. Từ đó thể nói rằng nguyên nhân dẫn đến Thanh thất sinh trưởng chậm ở Phú Yên không phải là do tính chất đất hay do khí hậu mà có thể do kỹ thuật trồng, chăm sóc. Việc đánh giá tìm hiểu kỹ thuật trồng chủ yếu dựa v ào hồ sơ rừng trồng. Thực tế thì việc tìm hiều kỹ thuật trồng rừng gặp nhiều khó khăn do việc triển khai ngoài hiện trường thường khác nhiều so với thuyết minh thiết kế trong hồ sơ. Về kỹ thuật chăm sóc có thể đánh giá thông qua thực trạng thực bì dưới tán rừng. Quá trình điều tra cho thấy rừng trồng ở Thanh thất ở Phú Yên có mật độ rất thưa, cỏ dại, dây leo, cây bụi phát triển rất mạnh, có chỗ thực bì cao ngang v ới cây trồng. Điều này chứng tỏ rừng ở đây không được chăm sóc kỹ lưỡng. Có thể nói đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên sinh trưởng chậm. 3.7. Kỹ thuật thu hái, bảo quản hạt, gieo ươm cây giống Kỹ thuật thu hái, bảo quản hạt giống Chọn cây mẹ để thu hái hạt: Chọn cây mẹ để thu hái là cây ở tuổi thành thục công nghệ, khỏe mạnh, tán lá phát triển cân đối, không bị sâu bệnh, đoạn thân dưới cành cao, thân cây thẳng, tròn đều, không xoắn vặn, cành nhánh nhỏ, góc phân cành lớn. Chọn thời điểm thu hái và phương pháp thu hái: Quả Thanh thất dẹt, loại quả khô, dạng cánh. Khi quả rụng có khả năng bay xa cây mẹ. Hạt không có vỏ cứng bảo vệ nên dễ bị ảnh hưởng bởi các tác nhân môi trường. Cần thu hái quả khi vừa chín tới (khi quả chuyển từ mầu xanh sang mầu v àng cánh gián). Ở khu vực Nam Trung Bộ thì quả chín rộ v ào tháng 6-7, còn ở khu vực Đông Nam Bộ thì quả chín vào tháng 5-6. Phương pháp thu hái: Trèo lên cây hoặc dùng cù nèo để móc giật từng chùm quả chín. Sau khi thu hái quả được phân loại, những quả chưa chín hẳn được để riêng và đem đi ủ 2-3 ngày cho quả chín đều. Quả chín được hong khô trong nhà để bóc tách hạt, tránh phơi trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời làm mất sức nảy mầm của hạt. Hạt sau khi bóc tách cần được chế biến bảo quản ngay. Phương pháp bảo quản hạt giống: Theo kinh nghiệm của người dân địa phương thì hạt Thanh thất có tuổi thọ rất ngắn trong điều kiện môi trường tự nhiên. Do v ậy, việc nghiên cứu tìm ra phương pháp bảo quản để kéo dài tuổi thọ hạt là rất cần thiết. Trong khuôn khổ đề tài đã tiến hành nghiên cứu bảo quản hạt trong 3 môi trường khác nhau là: (1) Trong điều kiện môi trường thông thường, (2) trong lọ kín và (3) trong tủ lạnh ở o nhiệt độ 10 C. Kết quả cho thấy: tuổi thọ của hạt Thanh thất trong điều kiện môi trường thông thường và trong lọ kín giảm đi rất nhanh. Hạt hoàn toàn mất sức nẩy mầm sau 2 tháng ở điều kiện thông thường và sau 4 tháng khi bảo quản trong lọ kín. Ở nhiệt độ 10oC, tỉ lệ nẩy mầm của hạt sau 12 tháng còn 70%. Vì vậy, sau khi thu hái hạt cần được chế biến và bảo quản ngay trong tủ lạnh để duy trì khả năng nẩy mầm của hạt. Kỹ thuật xử lý hạt giống 121
  7. Xử lý hạt nẩy mầm là một trong những khâu đầu tiên và quan trọng trong quá trình tạo cây giống trồng rừng. Tuỳ theo đặc điểm hình thái bên bên ngoài của hạt để lựa chọn biện pháp xử lý hạt cho phù hợp. Hạt Thanh thất không có vỏ cứng bảo vệ nên rất dễ bị ảnh hưởng bởi các tác nhân bên ngoài như độ ẩm, nhiệt độ, vi sinh vật, nấm. Căn cứ vào hình thái này đề tài đã thử nghiệm hai phương pháp xử lý hạt là: Phương pháp xử lý bằng nước lạnh và phương pháp xử lý bằng nước ấm (2 sôi + 3 lạnh). Kết quả cho thấy tỷ lệ nẩy mầm, thế nẩy mầm, thời gian nẩy mầm ở 2 phương pháp là tương đượng nhau. Điều này cho thấy hạt Thanh thất rất dễ xử lý nẩy mầm. Ảnh hưởng của che bóng đến sinh trưởng Thanh thất trong vườn ươm Bảng 7. Ảnh hưởng của che bóng đến sinh trưởng Thanh thất Thời TL sống Công TT Doo (mm) Sd V% Hvn (m) Sd V% thức gian (%) 1 CT1 2,93 0,18 6,1 13,08 1,64 12,5 88,0 2 CT2 3,07 0,25 8,1 14,03 1,71 12,2 88,9 3 CT3 2,85 0,17 5,9 13,93 1,62 11,6 88,9 2 tháng tuổi 4 CT4 2,59 0,13 5,0 16,93 2,61 15,4 86,1 LSD 0,27 2,18 Fpr 0,027 0,021 1 CT1 3,95 0,29 7,3 16,03 2,02 12,6 85,3 2 CT2 3,77 0,31 8,2 17,17 1,83 10,7 88,9 3 CT3 3,77 0,17 4,5 17,05 1,53 8,9 87,8 3 tháng tuổi 4 CT4 3,50 0,22 6,3 21,98 2,47 11,2 86,1 LSD 0,26 3,51 Fpr 0,03 0,023 1 CT1 7,12 1,43 20,1 23,5 3,73 15,8 85,3 2 CT2 6,52 1,22 19,6 25,8 3,73 14,5 88,9 3 CT3 6,23 1,41 21,6 27,2 4,38 16,1 87,8 6 tháng tuổi 4 CT4 5,95 1,0 16,8 32,6 4,63 14,2 86,1 LSD 1,31 9,81 Fpr 0,235 0,235 Từ kết quả bảng trên cho thấy: Ánh sáng có ảnh hưởng không nhiều đến tỷ lệ sống, nhưng có ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng về đường kính và chiều cao của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo ươm. Trong suốt quá trình theo dõi sinh trưởng thấy đường kính giảm dần theo chiều tăng của cấp độ che bóng, lớn nhất là CT1 (không che), thấp nhất là CT4 (che bóng 75%). Sinh trưởng về chiều cao thì ngược lại. Tuy nhiên, kết quả phân tích thống kê cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt về sinh trưởng đường kính v à chiều cao giữa các công thức (Fpr>0,1). Xét về tính cân đối giữa đường kính v à chiều cao thì công thức che bóng 25% là tốt nhất. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu tới sinh trưởng Thanh thất Bảng 8. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu tới sinh trưởng của cây Thanh thất Thời TL sống Công TT Doo(mm) Sd V% Hvn (m) Sd V% gian thức (%) 2 tháng 1 CT1 2,29 0,08 3,5 12,72 1,37 10,8 84,4 tuổi 122
  8. 2 CT2 3,17 0,14 4,4 15,67 1,93 12,3 96,7 3 CT3 2,76 0,14 5,1 14,51 1,89 13,0 86,7 4 CT4 3,31 0,28 8,5 17,53 2,34 13,4 92,2 5 CT5 3,68 0,36 9,8 19,13 2,23 11,7 90,0 6 CT6 2,80 0,15 5,4 14,62 1,77 12,1 86,7 7 CT7 3,42 0,19 5,6 16,56 2,03 12,3 87,8 LSD 0,23 1,23 Fpr
  9. Thí nghiệm về hỗn hợp ruột bầu sau 6 tháng tuổi IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Kết luận Thanh thất phân bố nhiều trên đất Feralit phát triển trên đá Granite, tầng đất tương đối mỏng 40-60cm, tỷ lệ đá lẫn nhiều. Thành phần cơ giới: thịt nhẹ và thịt pha cát. Đất có tính chất xít yếu (pH-H2O = 5,46 đến 6,24). Thanh thất phân bố giảm dần theo độ cao so với mặt nước biển, tập trung nhiều ở độ cao dưới 300m. Thanh thất phân bố nhiều ở các trạng thái rừng thứ sinh, khoảng trống trong rừng, ven đường đi, ven nương rẫy và các khe suối. Thanh thất có khả năng tái sinh tự nhiên kém. Mật độ cây tái sinh có triển vọng thấp. Mật độ Thanh thất tái sinh ở các cấp độ tàn che của tán rừng có sự khác nhau lớn, giảm rõ rệt theo hướng tăng của cấp độ tàn che của tán rừng. Thanh thất ra hoa v ào tháng 2-3, quả chín v ào tháng 5-6 ở khu vực Đông Nam Bộ. Ở khu vực Nam Trung Bộ thì chậm hơn khoảng 1 tháng. Tỷ lệ cây ra hoa đạt 90%, tỷ lệ cây đậu quả 50%. Chỉ thị quả chín: quả chín có mầu vàng cánh gián. Thời điểm thu hái tốt nhất v ào lúc lâm phần có trên 50% số cây có quả chín. Rừng trồng Thanh thất ở Phú Yên sinh trưởng rất chậm, tăng trưởng bình quân năm về đường kính chỉ đạt 0,82-1,04cm/năm và chiều cao là 0,46-0,72m/năm. Rừng trồng Thanh thất ở Bình Phước sinh trưởng khá nhanh, tăng trưởng bình quân năm về đường kính đạt 2,63cm/năm, về chiều cao là 1,65m/năm. Hạt Thanh thất có thể xử lý bằng 2 phương pháp: phương pháp xử lý bằng nước lạnh và phương pháp xử lý bằng nước ấm (2 sôi + 3 lạnh). Hạt giống có thể mất sức nẩy mầm sau 2-3 tháng ở điều kiện thông thường. Trong môi trường lạnh ở nhiệt độ 10oC, sau 12 tháng tỷ lệ nẩy mầm còn 70%. Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo ươm. Trong các cấp độ che bóng được nghiên cứu thì ở cấp độ che bóng 25% cho kết quả tốt nhất. Hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây Thanh thất trong giai đoạn gieo ươm. Hai công thức hỗn hợp ruột bầu có hiệu quả tương đương nhau, vượt trội so với công thức đối chứng và các công thức khác là: CT4 (90%đất + 10% phân bò hoai) và CT5 (89%đất + 10% phân bò hoai + 1% phân VSSG). 124
  10. Khuyến nghị Quy mô điều tra đặc điểm sinh thái loài chưa đủ lớn (mới điều tra ở 2 tỉnh Phú Yên và Bình Định), chưa phản ánh được đầy đủ đặc điểm sinh thái loài, vật hậu của loài. Cần tiếp tục mở rộng quy mô điều tra ra các khu vực sinh thái khác. Do hạn chế về thời gian, kinh phí nên một số kết quả nghiên cứu còn chưa thật sự khách quan. Cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung T ÀI LIỆU THAM KHẢO Lê Mộng chân, Lê Thị Huyên, 2000. Thực vật rừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vĩnh, 1997. Trồng rừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Nguyễn Huy Sơn, 2007. Đặc điểm sinh lý và phương pháp bảo quản hạt giổi xanh (Michelia mediocris Dany), Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, No.4/2007 (tr 475-478). Phạm Quang Tuyến, 2008. Kết quả nghiên cứu thu hái, bảo quản, xử lý và gieo ươm hạt Tô hạp Điện Biên (Altingia siamensis) tại Tây Bắc, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp No.4/2008 (tr 741-819). RESULTS OF RESEARCH ON ECOLOGY, PHENOLOGY CHARACTERISTIC AND PROPAGATING TECHNOLOGY OF AILANTHUS TRYPHISA (DENNST) ALSTON) Pham Van Bon Forest Science Sub-Institute South Vietnam SUMMARY Initial research showed that Ailanthus tryphisa has a wide distribution in Phu Yen and Binh Dinh provinces. Major soil type is feralit, thin layer, light texture and acidic soil, developed from granite. A. tryphisa naturally occurs at altitudes of 300m above sea level in second forest status, open areas, edge of plantation, and along streams. Natural regeneration of A. tryphisa is poor. Density of seedlings is dependent on forest canopy cover, and it dramatically reduces when the canopy is closed. In Southeast region, A. tryphisa flowers in February – March and Fruit ripens in May-June While in the South of the Central it occurs about 1 month later. 90% of the trees flower while only 50% of the trees bear fruit. Growth rates of plantations in Phu Yen are less than in Binh Phuoc. In Phu Yen, annual mean increase only reached 0,82-1,04cm/year in breast diameter, 0,46-0,72m/year in height and In Binh Phuoc that reached 2,63cm/year in breast diameter, 1,65m/year in height. Seed is easy to be treated for germinating by warm water (3 cold water + 2 boiling water). Seed dies quickly in natural condition. However, in 10oC after 12 months, the rate of survival seed is around 70%. The contener content is very important for growth of seedlings. The best content is 25% of bowel formula mixed with equal efficiency, superior to evidential formula and other formula is mixed (90%soil + 10% cow pat) and (89% soil + 10% cow pat + 1% Song Gianh bio-fertilizer). Keywords: Ecology, phenology, propagating, Ailanthus tryphisa 125
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2