intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Nghiên cứu lan truyền bệnh thủy sản trong hệ thống nuôi có kênh cấp nước và kênh thoát nước kết hợp – đề xuất một số mô hình thích ứng

Chia sẻ: Năm Tháng Tĩnh Lặng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
34
lượt xem
3
download

Nghiên cứu lan truyền bệnh thủy sản trong hệ thống nuôi có kênh cấp nước và kênh thoát nước kết hợp – đề xuất một số mô hình thích ứng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết lan truyền thành phần nguồn nước để tính toán lan truyền thành phần nước mang mầm bệnh trong một hệ thống ao nuôi có kênh cấp và kênh thoát kết hợp. Kết quả cho thấy rằng nguồn nước bẩn, nước bệnh lan tỏa rất nhanh và rộng trong hệ thống. Tính lưu cữu của nguồn nước trong hệ thống rất cao, khả năng trao đổi nước thấp ở xa các kênh chính, trong các kênh thứ cấp, đặc biệt thấp ở cuối kênh cụt. Từ kết quả mô phỏng, nghiên cứu bước đầu đã đề xuất một số mô hình nuôi trồng thủy sản có thể áp dụng cho các vùng thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu lan truyền bệnh thủy sản trong hệ thống nuôi có kênh cấp nước và kênh thoát nước kết hợp – đề xuất một số mô hình thích ứng

  1. NGHIÊN CỨU LAN TRUYỀN BỆNH THỦY SẢN TRONG HỆ THỐNG NUÔI CÓ KÊNH CẤP NƯỚC VÀ KÊNH THOÁT NƯỚC KẾT HỢP – ĐỀ XUẤT MỘT SỐ MÔ HÌNH THÍCH ỨNG Phạm Văn Song1 Tóm tắt: Trong thời gian qua thực tế xây dựng và phát triển các hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn sử dụng kết hợp hai hình thức cấp nước và thoát nước giống như canh tác nông nghiệp nhưng khác về quy mô và hình thức công trình (nhất là đối với các hệ thống nuôi quảng canh và nuôi tự phát). Phần lớn các hệ thống này đều có những đặc điểm chung là việc cung cấp nước và tiêu thoát nước cho các ao nuôi là đều dựa vào một đường kênh. Thậm chí trên cả một hệ thống lớn (nhiều ha) cũng chỉ có một kênh cấp và tháo nước kết hợp. Việc bố trí hệ thống cấp thoát nước như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước cung cấp cho các ao nuôi, do đó tình hình cấp nước và thoát nước là không chủ động được trong các ao nuôi. Mặt khác do sự dùng chung một kênh cấp kết hợp kênh thoát nên sự ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn nước thải đến nguồn nước cấp cho thuỷ sản là rất lớn. Thực tế cho thấy các ao nuôi thuỷ sản khi đã bị ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước thì khả năng rủi ro là rất cao, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết lan truyền thành phần nguồn nước để tính toán lan truyền thành phần nước mang mầm bệnh trong một hệ thống ao nuôi có kênh cấp và kênh thoát kết hợp. Kết quả cho thấy rằng nguồn nước bẩn, nước bệnh lan tỏa rất nhanh và rộng trong hệ thống. Tính lưu cữu của nguồn nước trong hệ thống rất cao, khả năng trao đổi nước thấp ở xa các kênh chính, trong các kênh thứ cấp, đặc biệt thấp ở cuối kênh cụt. Từ kết quả mô phỏng, nghiên cứu bước đầu đã đề xuất một số mô hình nuôi trồng thủy sản có thể áp dụng cho các vùng thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Từ khóa: Mô hình thủy lực; truyền chất; cấp nước; thoát nước; nuôi trồng thủy sản 1. ĐẶT VẤN ĐỀ1 nước kết hợp. Việc bố trí hệ thống cấp thoát Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, ngành nghề nước như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã nhanh chóng nước cung cấp cho các ao nuôi, do đó tình hình phát triển suốt hơn 2 thập kỷ qua và có những cấp nước và thoát nước là không chủ động được đóng góp lớn cho nên kinh tế quốc gia. Trong trong các ao nuôi. Mặt khác do sự dùng chung vòng 10 năm từ 1995 đến 2005, diện tích nuôi một kênh cấp kết hợp kênh thoát nên sự ảnh trồng thủy sản vùng Đồng bằng đã tăng hơn hưởng trực tiếp từ nguồn nước thải đến nguồn 2,37 lần và sản lượng tăng vọt hơn 3.68 lần ([1], nước cấp cho thuỷ sản là rất lớn. Thực tế cho [2]). Rất nhiều các mô hình, hệ thống nuôi trồng thấy các ao nuôi thuỷ sản khi đã bị ảnh hưởng thủy sản đang được áp dụng và phát triển mạnh của ô nhiễm nguồn nước thì khả năng rủi ro là mẽ. Tuy nhiên phần lớn các hệ thống này đều có rất cao, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng nuôi những đặc điểm chung là việc cung cấp nước và trồng thủy sản. tiêu thoát nước cho các ao nuôi là đều dựa vào Trong thời gian qua thực tế xây dựng và phát một đường kênh. Thậm chí trên cả một hệ thống triển các hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng lớn (nhiều ha) cũng chỉ có một kênh cấp và tháo thuỷ sản vẫn còn sử dụng kết hợp hai hình thức cấp nước và thoát nước giống như cánh tác nông 1 Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi. nghiệp nhưng khác về quy mô và hình thức KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014) 49
  2. công trình (nhất là đối với các hệ thống nuôi nước; đã ứng dụng giải quyết tốt nhiều vấn đề quảng canh và nuôi tự phát). Việc sử dụng kết phức tạp, đặc biệt là các hệ thống nuôi trồng hợp các loại công trình như vậy phần nào đã thủy sản… làm giảm tính hiệu quả của mô hình nuôi, hơn Lý thuyết lan truyền nguồn nước trong hệ nữa vấn đề phát sinh dịch bệnh đối với thuỷ sản thống sông kênh xem xét nguồn nước trong hệ là khó có thể tránh được. thống bao gồm các nguồn nước thành phần khác Do đặc thù riêng của việc nuôi trồng thuỷ sản nhau. Thông qua việc khảo sát các nguồn thành là điều kiện tiên quyết về môi trường sống phải phần này, rồi từ đó đánh giá định lượng vai trò đảm bảo trong sạch, do đó môi trường nước là tác động của từng nguồn và toàn dòng, giúp đưa yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh ra các thông tin điều khiển, kiểm soát đến từng trưởng và phát triển của thuỷ sản. Nghiên cứu nguồn (hình 1). cơ sở khoa học của việc tách biệt công trình cấp nước và công trình tháo nước trong các hệ thống Pngọt nuôi trồng thuỷ sản nhằm tạo ra một hệ thống công trình hoàn thiện và đồng bộ, phục vụ cho Pchua Pbệnh phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản trong Pngọt tương lai vẫn chưa được đề cập đến trong những Pthải-sh nghiên cứu trước đây. Để khắc phục những hạn chế về mặt môi trường sống, giảm thiểu bất lợi Pthải-cn về môi trường và cải thiện điều kiện kỹ thuật hạ tầng cho các hệ thống nuôi trồng thuỷ sản phát triển bền vững và có đầy đủ cơ cở khoa học khi Cống nhân rộng mô hình, thì công tác nghiên cứu cơ Pthải-sh sở khoa học của việc tách biệt công trình cấp Pbiển nước và công trình tháo nước trong các hệ thống nuôi trồng thuỷ sản là rất cần thiết. 2. ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT LAN TRUYỀN NGUỒN NƯỚC TÍNH TOÁN Hình 1. Sơ họa các nguồn nước trong một hệ LAN TRUYỀN MẦM BỆNH THỦY SẢN thống nuôi trồng thủy sản ven biển [3], [8] TRONG HỆ THỐNG NTTS CÓ KÊNH CẤP KÊNH THOÁT DÙNG CHUNG Bài toán chính được giới thiệu ở đây là bài Trong gần mười năm trở lại đây, để giải toán lan truyền nước mang mầm bệnh theo quyết các bài toán lan truyền nguồn nước như đường nước và lan truyền nước bẩn trong hệ lan truyền nguồn nước mặn, nước chua, nước thống ao nuôi có kênh cấp và kênh thoát kết hợp. nhiễm bẩn, phù sa, mầm bệnh… trong các hệ Để minh họa động thái của nguồn nước mang thống thủy lợi đa mục tiêu, nhóm nghiên cứu mầm bệnh ảnh hưởng của tới hệ thống dưới đây thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam xét một sơ đồ tính đơn giản, thường gặp trong (Nguyễn Ân Niên, Tăng Đức Thắng, Tô Quang thực tế minh họa hệ thống nuôi trồng thủy sản Toản, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Việt Dũng, có kênh cấp, kênh thoát kết hợp (hình 2). Phạm Văn Song và nnk [3],[4], [5], [6], [7], [8]) Các kênh có mặt cắt là dạng chưa nhật, thông đã phát triển và ứng dụng một công cụ mới là số hệ thống thể hiện trên bảng 1. Điều kiện biên ‘Lý thuyết lan truyền các nguồn nước trong hệ nguồn ngọt Q = 5 m3/s, biên triều biển Z(t) có thống sông kênh’, một phương pháp tính mới, bậc như ở Mỹ Thanh. Ở đây coi mầm bệnh nằm hiện đại, đa năng giải quyết các vấn đề về nguồn trong kênh cấp 2 (BR2). 50 KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014)
  3. Q Kênh cấp 3 BR4-1 Kênh chính (MainBranch) Kênh cấp 2 BR4 Kênh cấp 3 BR4-4 D D1 D2 D3 D4 Kênh cấp 2 BR3 C C1 C2 C3 C4 Vùng nước chứa mầm bệnh B B1 B2 B3 B4 Kênh cấp 2 BR2 A Kênh cấp 3 A1 A2 A3 A4 BR1-4 Kênh cấp 2 BR1 Z(t) Hình 2. Sơ đồ mạng lưới kênh tính toán Bảng 1: Các thông số hệ thống kênh tính toán thoát tách rời nhau thì khả năng lấy nước tốt từ Công trình L (km) B (m) Z đáy (m) kênh chính là rất lớn, hơn hẳn phương án kênh chung và cũng hạn chế lan bệnh trong hệ thống. Kênh chính cấp 1 75 50 -5 Xét theo tiêu chuẩn bảo vệ nguồn nước thì (MainBranch) mỗi hệ thống, theo một hình thức canh tác sẽ có Kênh cấp 2 14 15 -3 một giới hạn tối đa về diện tích canh tác thủy Kênh cấp 3 3 7 -2,5 sản trên diện tích tự nhiên. Giới hạn này phụ Hình 3, 4, 5, 6 thể hiện sự lan truyền mầm thuộc rất mạnh vào vị trí của hệ thống, tác động bệnh thủy sản thể hiện bằng sự thay đổi TPN các nguồn nước. Khi thiết kế hệ thống cần chỉ ra mang mầm bệnh dọc theo các kênh chính, kênh giới hạn này. Cần hết sức thận trọng khi thiết kế nhánh. Kết quả cho thấy rằng nguồn nước bẩn, để hạn chế lan nhiễm cho hệ thống. nước bệnh lan tỏa rất nhanh và rộng trong hệ [Ty le TPN (%)] 100.0 Su thay doi theo thoi gian cua ty le thanh phan nguon nuoc benh doc theo kenh nhanh cap 2 BR2 Concentration MAINBRANCH 15000.00 WQ BR2-1 3000.00 WQ BR2-2 3000.00 WQ 95.0 BR2-3 3000.00 WQ thống. Tính lưu cữu của nguồn nước trong hệ BR2-4 3000.00 WQ 90.0 85.0 80.0 thống rất cao, khả năng trao đổi nước thấp ở xa 75.0 70.0 65.0 các kênh chính, trong các kênh thứ cấp, đặc biệt 60.0 55.0 50.0 45.0 thấp ở cuối kênh cụt. Phần giữa, cuối các kênh 40.0 35.0 30.0 cấp 2 và cấp 3: Khó thau rửa nhưng cũng khó 25.0 20.0 15.0 nhiễm bệnh, bẩn từ ngoại lai mang tới. Do đó, 10.0 5.0 0.0 trong khai thác hệ thống, quản lý phải rất chú ý 6-2-2008 11-2-2008 16-2-2008 21-2-2008 26-2-2008 2-3-2008 7-3-2008 12-3-2008 đến việc bảo vệ môi trường không chỉ ở kênh Hình 3. Sự thay đổi TPN bệnh dọc theo kênh lớn mà còn ở các kênh thứ cấp. Nếu kênh cấp và nhánh cấp 2 BR2, tại các vị trí đầu các kênh cấp 3 KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014) 51
  4. [Ty le TPN (%)] 100.0 Su thay doi TPN mang benh theo thoi gian tai cac vi tri cuoi kenh cap 2 BR 1-4, BR 2-4, BR 3-4, BR 4-4 Concentration BR1-4 3000.00 WQ BR2-4 3000.00 WQ thì hiệu quả càng cao nhưng yêu cầu nguồn vốn BR3-4 3000.00 WQ 95.0 90.0 85.0 BR4-4 3000.00 WQ rất lớn. Nếu chỉ tách biệt được kênh nội đồng thì 80.0 75.0 vốn bỏ ra thấp và hiệu quả cũng thấp. Nếu hệ 70.0 65.0 60.0 thống thủy lợi có kênh tách biệt là kênh cấp 2, 3 55.0 50.0 45.0 hoặc cấp 1 thì hiệu quả sẽ cao, tuy nhiên vốn 40.0 35.0 cũng cao hơn. Do vậy, tùy theo mật độ nuôi, 30.0 25.0 20.0 mức lây lan bệnh và khả năng vốn mà các nhà đầu tư sẽ chọn hệ thống thủy lợi tách biệt kênh 15.0 10.0 5.0 0.0 11-2-2008 21-2-2008 2-3-2008 12-3-2008 22-3-2008 1-4-2008 11-4-2008 21-4-2008 1-5-2008 11-5-2008 21-5-2008 31-5-2008 cấp thoát nước đến kênh cấp mấy. Về ưu điểm của mô hình này: Hình 4. Sự thay đổi tỷ lệ nguồn nước mang mầm - Tách biệt 2 nguồn cấp thoát nước nên mức bệnh cuối các kênh cấp 2 độ gây bệnh tật cho vùng nuôi thấp hơn (tại các vị trí A4, B4, C4, D4) - Vận hành đơn giản cho từng nông hộ [meter] Thay doi ty le nguon nuoc benh doc theo kenh BR2 tai thoi diem 4-2-2008 12:00:00 [Ty le TPN(%)] 3.5 100.0 Về nhược điểm của mô hình này: 11000 14000 5000 8000 95.0 0 3.0 - Mất diện tích đất để bố trí thêm kênh, vốn 90.0 2.5 85.0 80.0 2.0 1.5 75.0 70.0 đầu tư đào kênh 65.0 1.0 0.5 60.0 55.0 - Các nông hộ rất khó quy hoạch để nối với hệ thống kênh nhà nước vì đất đai khó có thể 50.0 0.0 45.0 -0.5 40.0 -1.0 -1.5 35.0 30.0 sang nhượng cho nhau 25.0 -2.0 20.0 15.0 - Vốn đầu tư rất lớn và khó thực hiện đối -2.5 10.0 -3.0 BR2 0 - 5000 BR2 5000 - 8000 BR2 8000 - 11000 BR2 11000 - 14000 5.0 0.0 với kênh cấp 3, 2. 0.0 1000.0 2000.0 3000.0 4000.0 5000.0 6000.0 7000.0 8000.0 9000.0 10000.0 11000.0 12000.0 13000.0 14000.0 [m] 3.2. Mô hình cấp thoát nước riêng biệt Hình 5. Tỷ lệ nguồn nước bệnh dọc theo kênh theo thời gian cấp 2 BR2 sau 3 ngày Nguyên lý là xây dựng hai cống một chiều ở đầu kênh và cuối kênh cấp thoát nước chung [meter] Thay doi ty le TPN doc theo kenh BR3 tai thoi diem 1-2-2008 18:00:00 [Ty le TPN (%)] 3.5 7.0 11000 14000 5000 8000 0 6.5 (hình 8). Khi nước thủy triều lên cống đầu kênh 3.0 2.5 6.0 sẽ mở cho nước vào kênh, lúc này các ao nuôi 5.5 2.0 5.0 1.5 1.0 0.5 Nước bệnh 4.5 4.0 sẽ lấy nước vào ao vì có nguồn nước sạch và 0.0 -0.5 bắt đầu đi vào 3.5 3.0 mực nước lớn. Đồng thời cống cuối kênh sẽ -1.0 kênh 2.5 2.0 đóng không cho nước vào kênh. Dòng chảy -1.5 -2.0 1.5 1.0 trong kênh lúc này có chiều từ đầu kênh đến cuối -2.5 -3.0 0.5 kênh. Khi nước thủy triều rút, cống đầu kênh sẽ BR3 0 - 5000 BR3 5000 - 8000 BR3 8000 - 11000 BR3 11000 - 14000 0.0 0.0 1000.0 2000.0 3000.0 4000.0 5000.0 6000.0 7000.0 8000.0 9000.0 10000.0 11000.0 12000.0 13000.0 14000.0 [m] đóng lại, còn cống cuối kênh sẽ mở, nước sẽ từ Hình 6. Tỷ lệ nguồn nước bệnh dọc theo kênh trong kênh chảy ra, các ao nuôi sẽ đồng loạt thoát cấp 2 BR3: sau 6 giờ, khối ô nhiễm đã bắt đầu nước ra kênh vì mực nước trong kênh đã bị hạ lan đến đầu kênh BR3 thấp. Dòng chảy trong kênh lúc này cũng có 3. ĐỀ XUẤT SƠ ĐỒ BỐ TRÍ HỆ THỐNG hướng chảy từ đầu kênh tới cuối kênh. KÊNH CẤP, KÊNH THOÁT CHONG VÙNG Ưu điểm của mô hình cấp thoát nước riêng NUÔI TRỒNG THỦY SẢN biệt theo thời gian: 3.1. Mô hình cấp thoát nước riêng biệt - Không phải đầu tư thêm kênh theo mặt bằng - Giải quyết khá tốt vấn đề lây nhiễm nguồn nước Hệ thống cấp thoát nước riêng biệt theo mặt - Không gây lắng đọng lòng kênh do dòng bằng có hiệu quả rất lớn đối với nuôi thủy sản, chảy trong kênh lúc nào cũng chảy 1 chiều, hạn nhưng đòi hỏi nguồn vốn lớn cũng như mất diện chế được vốn nạo vét kênh tích để đào thêm kênh (hình 7). Hệ thống thủy Nhược điểm của mô hình cấp thoát nước lợi có kênh cấp thoát nước riêng biệt càng lớn riêng biệt theo thời gian: 52 KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014)
  5. - Phải đầu tư cống 1 chiều Hiện tại các cống ngăn mặn có nhiệm vụ cho - Cùng chung 1 kênh nên ngăn chặn dịch tiêu thoát nước từ trong đồng ra, ngăn không bệnh không cao bằng giải pháp dùng 2 kênh cấp cho nước mặn vào đồng. Do vậy muốn lấy nước thoát riêng biệt mặn vào để nuôi tôm là không thực hiện được. - Vận hành lấy nước phải theo quy trình thời Nếu như cải tiến cống có thể mở được chiều gian theo thủy triều. ngược lại cho nước biển vào thì dùng một cống - Giao thông thủy khó khăn vì phải đi qua cho nước biển vào đồng theo 1 chiều chỉ có thể các cống vào. Nước mặn sẽ cung cấp cho các ao nuôi và thải ra một kênh nhưng không quay được chiều ngược lại vì cống chỉ có 1 chiều lấy nước. Mặt khác một cống khác chỉ cho nước thoát 1 chiều ra biển. Như vậy ta có quy trình vận hành nước sẽ đi 1 chiều trên tất cả các kênh (hình 9). Tuy nhiên phía trong đồng cần xây dựng các cống ngăn không cho nước mặn vào sâu vùng ngọt hóa. Khi vào mùa cấy lúa thì các cống phía ngoài làm nhiệm vụ ngăn mặn và các cống phía trong mở ra cho nước ngọt vào. Các nghiên cứu của Lê Sâm &nnk [9] đã đưa ra được nhu cầu nước cho mô hình và sơ bộ kích thước mặt cắt kênh mương và các công trình trên kênh (hình 10). Căn cứ đặc điểm chế độ thủy triều, nguồn nước ngọt, cơ cấu bố trí mùa vụ giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp, chế độ nước Hình 7. Mô hình cấp thoát nước riêng biệt yêu cầu cho tôm và lúa. Kết quả tính toán hệ số cấp thoát nước cho mô hình. theo mặt bằng - Đối với lúa: Hệ số cấp qtưới = 1,1 l/s/ha, hệ số tiêu qtiêu = 3,47 l/s/ha. - Đối với tôm: Hệ số cấp qcấp = 14 l/s/ha, hệ số thoát qthoát = 22 l/s/ha. Hình 8. Mô hình cấp thoát nước riêng biệt theo thời gian 3.3. Mô hình nuôi thủy sản mặn – ngọt ở vùng giáp rang mặn ngọt Hình 9. Mô hình nuôi thủy sản mặn – ngọt KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014) 53
  6. MAËT BAÈNG 4. KẾT LUẬN Keânh Caáp caáp IV Möông truù Coáng thoaùt nöôùc Möông truù Bôø möông truù vaø ao laéng Nuôi trồng thủy sản vùng ĐBSCL luôn có Möông truù A A Keân h thoaùt caáp IV Ao laéng Ruoäng luùa vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã Coáng laáy nöôùc Möông truù Cöûa laáy nöôùc hội nói chung, đặc biệt thủy sản có đóng góp MAËT CAÉT A -A lớn về xuất khẩu cho ngành thủy sản cả nước. Keân h Thoaùt Caáp IV Chieàu daøi ruoäng toâm - luùa Keân h Caáp Caáp IV Chieàu daøi Möông truù Bôø keânh thoaùt Bôø keânh caáp vaø ao laéng Bôø möông truù Roäng maët nöôùc Ruoäng luùa Roäng maët nöôùc vaø möông truù Có thể thấy rằng thành công hay thất bại của vaø ao laéng Möông truù Möông truù Möïc nöôùc Max các mô hình NTTS trước đây phụ thuộc vào Ao laéng Bkc Maùi keânh caáp Bmt Maùi möông truù Bmt Bkt rất nhiều yếu tố. Những thành công ban đầu Maùi keânh thoaùt có thể là do khi đó môi trường nước còn tốt, Hình 10. Mô hình thủy lợi nội đồng phục vụ việc nuôi trồng chưa phát triển ồ ạt, tràn lan, tôm - lúa trên vùng sinh thái nước lợ ( [9]). dễ kiểm soát dịch bệnh, con giống được kiểm dịch kỹ... Về nguyên nhân thất bại: giai đoạn 3.4. Mô hình nuôi thủy sản trên vùng sinh trước đây chưa có mô hình nào về thủy lợi thái nước mặn phục vụ thủy sản, do vậy việc cấp thoát nước Trên cơ sở đặc điểm nguồn nước, khả năng cho từng loại thủy sản chưa được tính toán chi cấp mặn và ngọt bổ sung khi cần (về mùa khô), tiết, cụ thể và phù hợp. Vấn đề ô nhiễm do các phương pháp và quy trình nuôi thủy sản chất thải từ các ao nuôi diễn biến rất phức tạp, (quảng canh, quảng canh cải tiến, thâm canh, đây cũng là nguồn gây bệnh chủ yếu khiến bán thâm canh), các yếu tố chỉ tiêu về độ mặn, cho tôm dẫn tới tôm bị chết hàng loạt. Số yêu cầu chế độ nước cho tôm và trong trường lượng hộ nuôi mới phát triển tăng vọt đột biết, hợp cấp nước căng thẳng nhất. Kết quả tính toán không theo quy hoạch đã gây trở ngại cho việc hệ số cấp thoát cho mô hình TLNĐ phục vụ cấp nước cũng như xử lý nước thải, nảy sinh nuôi chuyên tôm. nhiều vấn đề bất lợi cho vùng. Bên cạnh đó, - Đối với mô hình thâm canh: Hệ số cấp qcấp kết quả tính toán tính toán lan truyền các mầm = 14,32 l/s/ha, hệ số thoát qthoát = 17,85 l/s/ha. bệnh trong hệ thống ao nuôi thu được đã chỉ - Đối với mô hình quảng canh cải tiến: Hệ số rõ cách thức vận động của khối nước có nguồn cấp qcấp = 12,3 l/s/ha, hệ số thoát qthoát = 17,22 l/s/ha. gốc khác nhau trong hệ thống kênh, nguồn nước bẩn lan truyền rất nhanh trong hệ thống. MAËT BAÈNG AO NUOÂI TOÂM (COÙ AO LAÉNG VAØ XÖÛ LYÙ) Nếu kênh cấp và thoát tách rời nhau thì khả Keân h Caáp caáp IV Coáng thoaùt nöôùc Bôø ao laéng vaø ao nuoâi Cöûa xaû nöôùc A năng lấy nước tốt từ kênh chính là rất lớn, hơn A Keânh thoaùt caáp IV AO LAÉNG AO XÖÛ LYÙ AO NUOÂI 30% 50% Bôø ao nuoâi 20% hẳn phương án kênh chung và cũng hạn chế vaø ao xöû lyù Cöûa laáy nöôùc Coáng laáy nöôùc lan bệnh trong hệ thống. MAËT CAÉT A -A Như vậy hệ thống cấp và thoát nước được bố Keânh Thoaùt Caáp IV Keânh Caáp Caáp IV Chieàu daøi ao nuoâi toâm Bôø keânh caáp Bôø ao nuoâi Bôø ao xöû lyù vaø ao laéng Bôø ao laéng vaø ao xöû lyù Chieàu daøi Ao nuoâi vaø keânh thoaùt trí riêng biệt, khoa học sẽ tạo điều kiện cho việc vaø ao nuoâi Möïc nöôùc Max Ao nuôi trồng thủy sản giảm thiểu được rủi ro do bị Ao laéng Möïc nöôùc Min Xöû lyù Bkc Bkt ô nhiễm nguồn nước, góp phần tăng sản lượng Maùi keânh caáp Maùi keânh thoaùt và nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản. Hình 11. Mô hình TLNĐ phục vụ nuôi chuyên Nghiên cứu này bước đầu đã đề xuất một số mô tôm trên vùng sinh thái nước mặn (Lê Sâm hình nuôi trồng thủy sản có thể áp dụng cho các &nnk [8]) vùng thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. 54 KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014)
  7. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Lê Anh Tuấn (2007): “Nước cho nuôi trồng thủy sản trong chiến lược quy hoạch thủy lợi đa mục tiêu ởt Đồng bằng sông Cửu long”, Hội thảo khoa học “Công tác thủy lợi phục vụ phát triển bền vững Nuôi trồng thủy sản các tỉnh ĐBSCL”. [2]. Báo cáo “Công tác thủy lợi phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu long”, Cục quản lý xây dựng công trình, Bộ NN và PTNT 2007. [3]. Nguyễn Ân Niên, Tăng Đức Thắng, Nguyễn Đình Vượng, Nguyễn Đức Phong (2008): “Một số vấn đề kỹ thuật khi thiết kế các hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản ven biển”, Tuyển tập kết quả NCKH, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam 2008. [4]. Nguyễn Ân Niên (1997): “Về một bài toán định xuất xứ của khối nước (ứng dụng cho đồng bằng sông Cửu long”. Tuyển tập kết quả NCKH, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam. NXB. Nông nghiệp. [5]. Tăng Đức Thắng (2002): “Nghiên cứu hệ thống thủy lợi chịu nhiều nguồn nước tác động – Ví dụ ứng dụng cho Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ”. Luận án Tiến sỹ. [6]. Tăng Đức Thắng (2005): “Ứng dụng bài toán lan truyền khối nước lưu cữu nâng cao chất lượng thiết kế và vận hành hiệu quả các hệ thống sông kênh và hệ thống thủy lợi”. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Số 15/2005. [7]. Tăng Đức Thắng (2005): “Một phương pháp nghiên cứu nước lưu cữu trong các hệ thống sông kênh”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Số 16/2005. [8]. Phạm Văn Song (2009): “Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc tách rời kênh cấp nước, thoát nước trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản”, Báo cáo chính đề tài cấp cơ sở, Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam. [9]. Lê Sâm, Nguyễn Đình Vượng, Phan Anh Dũng (2007): “Nghiên cứu mô hình thủy lợi nội đồng trên các vùng sinh thái ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Tuyển tập kết quả khoa học và công nghệ 2006 - 2007, Viện khoa học Thủy lợi miền Nam. Abstracts: RESEARCH ON DISEASES POLLUTED WATER TRANSPORT IN A AQUACULTURE SYSTEM WITH WATER SUPPLY AND DRAINAGE COMBINED CHANNEL - PROPOSE MODELS FOR ADAPTATION In recent years, the construction and development of irrigation systems serving aquaculture are still using a combination of two forms of water supply and drainage like farming but different in size and form works. Most of these systems design water supply and drainage of the pond in one channel. Even on a large system (many hectares) and has only one combined channel. It has such a direct impact to the water supply to the pond, so the situation of water supply and drainage are not active. On the other hand due to the combined channel, the impact from waste water to supply water for fisheries is very large. In reality, the fishery ponds were affected by water pollution, the possibility is very high risk, directly affecting aquaculture production. This study uses transmission components theory to calculate polluted water transport in a system with combined water supply and drainage channel. The results show that polluted (diseases) water spread rapidly and large in the system. As of perennial water source in the system is very high, the low water exchange capabilities far the main channel, the secondary channels, particularly low at the end of dead-end channels. From the simulation results, the study suggests several models of hydraulic work for aquaculture which can be applied to the area of the Mekong Delta. Keywords: hydraulic model;solute transport; water supply;irrigation; aqualculture. Người phản biện: TS. Nguyễn Mai Đăng BBT nhận bài: 29/9/2014 Phản biện xong: 02/10/2014 KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 46 (9/2014) 55

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản