intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Đinh Thị Thu Thủy (Chủ biên)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:170

14
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu "Lịch sử các học thuyết kinh tế" được biên soạn nhằm giới thiệu những quan điểm, những, lý thuyết kinh tế cơ bản của các trường phái kinh tế qua các giai đoạn phát triển lịch sử. Phần 2 của tài liệu có nội dung trình bày về: các lí thuyết kinh tế của trường phái “cổ điển mới”; các lý thuyết kinh tế của trường phái Keynes; lý thuyết kinh tế của các trường phái “chủ nghĩa tự do mới” ; các lý thuyết kinh tế của trường phái chính hiện đại; các học thuyết tăng trưởng kinh tế; các lý luận về thương mại quốc tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế: Phần 2 - TS. Đinh Thị Thu Thủy (Chủ biên)

  1. Chương VII CÁC LÍ THUYẾT KINH TẾ CỬA TRƯỜNG PHÁI "Cổ ĐIÊN MỚI" I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIEM cơ bản CỦA TRƯỜNG PHÁI “CỔ ĐIÊN MỚI” 1. Hoàn cảnh ra đời Cuối thế kỉ XIX - đầu thê' kỉ XX. với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất nên chủ nghĩa tư bản, nền kinh tê' thị trường tư bản phát triển mạnh ớ châu Âu, châu Mỹ. Ớ thời kì này, các mâu thuẫn vốn có và những khó khăn về kinh tê' - xã hội càng trầm trọng. Khủng hoảng kinh tê', thất nghiệp, lạm phát... làm cho mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ngày càng tăng lên. Đây cũng là thời kì chuyển biến mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền ở các nước tư bản phát triển đã làm xuất hiện nhiều hiện tượng kinh tê' mới vượt ra ngoài khả năng giải thích của trường phái cổ điển đang trong thời kì suy tàn. Điều này đòi hỏi phải có sự phân tích kinh tê' mới biện minh cho nền kinh tê' tư bản. Cuối thế kỉ XIX cũng là thời kì ghi nhận sự phê phán gay gắt chủ nghĩa tư bản về mặt lí luận từ nhiều giai cấp khác nhau. Trước hết, đó là sự phê phán sản xuất lớn tư bản 121
  2. chủ nghĩa từ phía giai cấp tiểu tư sản, phê phán chủ nghĩa tư bản và khẳng định tính lịch sử của nó từ phía những người chủ nghĩa xã hội không tưởng. Đặc biệt, sự kiện lịch sử quan trọng tác động mạnh đến các tư tưởng kinh tế trong thời kì này là sự xuất hiện chủ nghĩạ, Marx. Với bản chất khoa học và cách mạng, học thuyết kinh tế Marx chỉ ra xu hướng vận động tất yếu của xã hội loài người, là vũ khí lí luận sắc bén và kịp thời cho phong trào công nhân quộc tế trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, chống chủ nghĩa tư bản. Bởi vậy, ngay từ khi mới xuất hiện nó đã trở thành đối tượng phê phán mạnh của các nhà kinh tế học tư sản. Lức này các học thuyết kinh tế của trường phái tư sản cổ điển lại tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ chủ nghĩa tư bản, vì vậy đòi hỏi phải có các học thuyết kinh tế mới thay thế. Thực tế đây là thời kỳ xuất hiện nhiều trường phái kinh tế chính trị học tư sản để phân tích nền kinh tê' thị trường. Trong đó, trường phái "cổ điển mới" đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Như vậy sự xuất hiện trường phái "cổ điển mới" như là một tất yếu và nó là trào lưu chính của kinh tế chính trị tư sản thời kỳ này nhằm giải thích các hiện tượng kinh tế mới nảy sinh cũng như trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa Marx. 2. Đặc điểm cơ bản của trường phái "cổ điển mới" Trường phái "cổ điển mới" (hay còn gọi là "tân cổ điển") xuất hiện và tồn tại ở nhiều quốc gia khác nhau như Anh, Pháp, Mỹ, Thụy Sĩ, Áo, v.v... và có một số điểm tương đồng với trường phái tư sản cổ điển như: ca ngợi chủ nghĩa tự do kinh tế, cách tiếp cận kinh tế vi mô dựa vào giả thiết 122
  3. về tính hợp lý của những ứng xử cá nhân v.v... Tuy vậy, trường phái, tư sản "cổ điển mới" khác một cách căn bản với trường phái tư sản cổ điển. Điều đó được phản ánh qua những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về đối tượng nghiên cứu: Nếu trường phái cổ điển lấy sản xuất làm đối tượng nghiên cứu thì trường phái "cổ điển mới" hướng chủ yếu vào nghiên cứu trao đổi, lưu thông và nhu cầu. Họ hướng sự quan tâm nghiên cứu thị trường vì đó là nơi tập trung tất cả các quan hệ kinh tế cũng như biểu hiện tập trung các mâu thuẫn chủ yếu của nền kinh tế thị trường tư bản với hy vọng tìm ra các giải pháp tình thế ứng. xử các tình huống do thực tiễn đặt ra. Đối tượng nghiên cứu của họ đều là những đơn vị kinh tế cá biệt, kiểu kinh tê' Rô-bin-xơn. hoặc các hành vi của các cá nhân. Họ quan niệm rằng từ sự phân tích các đơn vị kinh tế riêng biệt này có thể rút ra những kết luận chung cho toàn bộ xã hội. Vì vậy. phương pháp phân tích của họ là phương pháp phân tích vi mô thê hiện lập trường chủ nghĩa cá nhân về phương pháp luận. Dựa trên nguyên tắc hành vi hợp lí của các chủ thể kinh tế họ tin rằng các chủ thể kinh tế đều hướng hành vi của mình một cách hợp lí sao cho tất cả đều nhận được lợi ích cá nhân tối đa phù hợp với khả năng cống hiến của mình. Vì vậy. họ đã xóa đi mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản. Thứ hai, về phương pháp luận: Đặc điểm cơ bản về phương pháp luận của những người "cổ điển mới" là cách tiếp cận duy tâm, tâm lí - chủ quan đối với hiện thực kinh tế 123
  4. khách quan. Không đi sâu vào nghiên cứu bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế, họ chỉ dừng lại mô tậ hiện tượng bên ngoài theo tinh thần của "thuyết ngoài lề". Các nhà "cổ điển mới" muốn biến kinh tế chính trị học thành khoa học kinh tế thuần túy, không có mối liên hệ với các điều kiện chính trị xã hội. Họ đưa ra khái niệm "kinh tế học" để thay cho thuật ngữ "kinh tế chính trị học" đã được sử dụng từ thời chủ nghĩa trọng thương. Thứ ba, quan điểm về giá trị: Đối lập với trường phái cổ điển và K. Marx, trường phái "cổ điển mới" ủng hộ thuyết giá trị ích lợi, giá trị chủ quan. Theo thuyết này, giá trị hàng hoá phụ thuộc vào lợi ích chủ quan hay tính khan hiếm của nó. Cùng một hàng hoá với người cần nó hay CÓ lợi ích nhiều đối với họ thì nó được đánh giá là có giá trị lớn và ngược lại đối với người không cần nó hay không có lợi ích hoặc dư thừa thì giá trị của hàng hoá đó sẽ thấp, thậm chí là bằng không. Rõ ràng, sự đánh giá về ích lợi Hàng hoá đối với các cá nhân chỉ hoàn toàn mang tính chủ quan. Thứ tư, trường phái "cổ điển mới" tích cực áp dụng toán học vào phân tích kinh tế, chịu ảnh hường của trào lưu toán học. Trong kinh tế họ đưa vào sử dụng nhiều các công cụ toán học như công thức, đồ thị, bảng biểu, mô hình... để minh họa cho các quan điểm của mình. Phối hợp các phạm trù toán học với phạm trù kinh tế. họ xây dựng nên các khái niệm như "lợi ích giới hạn", "sản phẩm giới hạn", "năng suất giới hạn"... Do vậy, trường phái "cổ điển mới" còn được gọi là trường phái "giới hạn". 124
  5. Thứ năm, trường phái cổ điển mới phát triển qua hai thời kỳ chính. Thời kỳ đầu, cuối thề kỷ XIX, giống như phái cổ điển, các nhà cổ điển mới ủng hộ tự do cạnh tranh, tán thành triết lý về trật tự tự nhiên, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Họ tin tướng chắc chắn rằng cơ chế thị trường tự phát sẽ bảo đảm thăng bằng cung - cầu, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhịp nhàng, không có khủng hoảng kinh tế. Thời kì sau là vào đầu thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển diễn ra quá trình chuyển biến mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền tư nhân. Độc quyền ra đời, thống trị nhưng không thủ tiêu cạnh tranh mà càng làm cho cạnh tranh đa dạng, phức tạp và gay gắt hơn. Các cuộc khủng hoảng kinh tê' mở rộng, kéo dài làm cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lâm vào những khó khăn đặc biệt lớn. Hơn nữa, đây là thời kỳ xuất hiên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên do thành quả của cách mạng tháng Mười Nga. làm cho nền kinh tế thê' giới không thuần nhất là tư bản chủ nghĩa nữa. Những tiền đề về tự do cạnh tranh hoàn hảo, việc làm đầy đủ,... đã trở thành giáo điều và xa rời thực tế. Những giả thiết này không đủ để giải thích cho những hiện tượng kinh tê' mới như độc quyền xen lẫn cạnh tranh, các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ. thất nghiệp gia tăng... Trước thực tê' đó, các nhà kinh tê' học trường phái “cổ điển mới” tiếp tục phát triển các quan điểm kinh tê' của họ, bởi vậy các học thuyết kinh tê' thời kì này không chỉ đi sâu vào phân tích những vấn đề về cung - cầu, giá cả... trong điều kiện cạnh tranh mà còn đi phân tích các vấn đề về cạnh tranh và độc 125
  6. quyền, về khủng hoảng và thất nghiệp, về phúc lợi kinh tế... Quan điểm về cơ chế quản lý kinh tế cũng có sự thay đổi, các học thuyết kinh tế của họ ít nhiều có sắc thái về tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế. Trường phái “cổ điển mới” xuất hiện và phát triển ở nhiều nước khác nhau, trong đó có một số trào lưu chính sau: II. CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ CHỦ YÊU CỦA PHÁI “GIỚI HẠN” THÀNH VIENE (ÁO) Trường phái “giới hạn” Thành Viene (Áo) được đại biểu bởi ba nhà kinh tế và hoạt động nhà nước cấp cao là Karl Menger (1840 - 1921), Eugenvon Bohm Bawerk (1851 - 1914) và Von Wierser (1851 - 1926). Tuy vậy, tiền bối của trường phái này lại là Herman Gossen (1810 - 1858). 1. Tiền đề lí luận xuất hiện trường phái Thành Viene Với tư cách là người đặt nền móng cho trường phái Thành Viene, H. Gossen (nhà kinh tế học người Đức) đã đưa ra tư tưởng “ích lợi giới hạn” và đặc biệt là định luật nhu cầu trong tác phẩm “Sự mở rộng các định luật giao tiếp của con người”. Đứng trên quan điểm “chủ nghĩa cá nhân” khi phân tích kỉnh tế, H. Gossen xuất phát từ nhân tố con người cá nhân. Mục đích tối cao của con người này là lợi ích cá nhân. Tuy vậy, khi thực hiện lợi ích cho mình con 126
  7. người đã tích cực góp phần vào lợi ích chung của xã hội. Nguyên nhân của nó chính là do thế giới của chúng ta được đặt dưới quyền lực tự nhiên, những định luật chi phối xã hội là những định luật tốt đẹp mà con người phải hướng hành động của mình thích ứng với chúng. Có nghĩa là dưới tác động của các định luật tự nhiên nó hướng hoạt động của còn người hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện cả lợi ích cá nhân và xã hội. Muốn thực hiện lợi ích thì con người phải tổn tại và do vậy phải thoả mãn nhu cầu. Đến lượt nó, nhu cầu của con người không tự phát tuỳ tiện mà chịu sự chi phối của một số định luật. Từ đó ông xây dựng nên các định luật gọi là định luật nhu cầu. Định luật 1: Bất cứ nhu cầu nào của con người cũng có thể được thoả mãn nếu người ta biết sử dụng đúng các sản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu đó. Khi số lượng sản phẩm mang ra tiêu dùng tăng lên thì mức độ bão hoà về sản phẩm tăng lên, còn cường độ nhu cầu thì giảm xuống. Nhu cầu sẽ bằng không khi sản phẩm tăng lên đến một mức độ nào đó vì mọi nhu cầu của con người đều có giới hạn. Nói cách khác là việc tiêu dùng liên tục một sản phẩm nào đó sẽ làm cho cường độ nhu cầu giảm dần và cuối cùng là mất hẳn. Tư tưởng cơ bản của định luật 1 phản ánh hai vân đề cơ bản 127
  8. - Xác định quan hệ tỉ lệ nghịch của cường độ nhu cầu với số lượng sản phẩm mang ra thoả mãn nhu cầu - là tiền đề lí luân để hình thành quan niệm về “ích lợi giới hạn”. - Qui mô sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu mang tính chất cá nhân, chủ quan - đây là tiền đề để hình thành tư tưởng “cá nhân chủ nghĩa” về phương pháp luận. Tư tưởng cợ bản của định luật 1 của H. Gossen có thể Hình VII. 1: Cường độ nhu cầu giám dần ở đây. OY: chỉ mức độ thoả mãn nhu cầu OX: là số lượng sản phẩm mang ra thoả mãn nhu cầu Ta thấy khi ox tăng lên thì cường độ nhu cầu giảm xuống từ Y tới o. 128
  9. Định luật 2: Cá nhân ý thức được nhu cầu của mình và biết rõ các sản phẩm có khả nàng thoả mãn nhu cầu đó. Vì vậy nếu biết suy luận, biết tính toán, cá nhân sẽ sắp xếp nhu cầu theó một thứ tự nào đó căn cứ vào cường độ nhu cầu hay ý muốn của mình. Cường độ nhu cầu hay ý muốn này có thể tăng dần hay giảm dần tuỳ theo mức độ ưu tiên. Rõ ràng sự lựa chọn sắp xếp này hoàn toàn mang tính chủ quan, cá nhân. 2. Các lí thuyết kinh tế a. Lí thuyết sản phẩm kỉnh tê Trong tác phẩm “Những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học”, K. Menger đã nghiên cứu bản chất của của cải và xem đây là một trong những đối tượng nghiên cứu của kinh tế học, đó cũng là cơ sở cho việc nghiên cứu sản phấm kinh tế của phái Thành Viene. Theo các nhà kinh tế của trường phái Thành Viene, không phải bất cứ sản phẩm nào cũng là sản phẩm kinh tế. Một vật được coi là sản phẩm kinh tế khi nó thoả mãn bốn tiêu chuẩn sau: Thứ nhất, vật phẩm đó phải có khả năng thoả mãn nhu cầu hiện tại của con người. Như vậy trước hết, vật phẩm đó phải có công dụng và hơn nữa công dụng đó phải phù hợp với nhu cầu con người. Vật không có công dụng hay ích lợi thì không phải là sản phẩm kinh tế. Mặt khác, theo họ, giữa sản phẩm và nhu cầu có mối liên hệ với nhau. Cũng là sản phẩm đó, khi con người có nhu cầu nó được coi là sản phẩm kinh tế, nhưng khi nhu cầu không còn thì sản phẩm mất đặc tính kinh tế của nó. Thí dụ người ốm cần thuốc chữa bệnh, lúc 129
  10. đó thuốc là sản phẩm kinh tế. Nhưng khi họ khỏi bệnh rồi, thì thuốc đó đối với họ không còn là sản phẩm kinh tế nữa. Thứ hai, con người phải biết rõ công dụng của vật đó thì nó mới trở thành sản phẩm kinh tế. Sản phẩm trong tự nhiên là rất nhiều, con người không biết công dụng của nó thì nó cũng vô ích và không phải là sản phẩm kinh tế. Thí dụ, than đá có những thời kỳ đối với con người là vô ích nhưng nhờ tiến bộ khoa học, người ta dùng nó làm nhiên liệu, làm nguyên liệu cho cầc ngành công nghiệp hoá chất... Lúc này than đá trở thành sản phẩm kinh tế. Thứ ba, con người phải có khả năng sử dụng vật phẩm đó trong hiện tại chứ không phải ở dạng tiềm năng. Nói cách khác là phải được khai thác, chế biến và được đưa vào sử dụng trong hiện tại. Vật phẩm trong thiên nhiên rất phong phú, đa dạng, có số lượng lớn nhưng chưa được khai thác, chế biến thì không phải là sản phẩm kinh tế. Thí dụ, dầu lửa, than đá. quặng sất trong lòng đất rất nhiều nhưng chưa được khai thác cũng không phải là sản phấm kinh tế. Thứ tư, là sản phẩm kinh tế khi vật đó ớ trong tình trạng khan hiếm hạy số lượng của nó là có giới hạn. Vật phẩm quá dư thừa thì không phải là sản phẩm kinh tế. Thí dụ, nước, không khí trong tự nhiên có quá nhiều nên không phải là sản phẩm kinh tế. Tóm lại, là sản phẩm kinh tế thì sản phẩm đó phải có đủ bốn điều kiện trên. Nếu thiếu một trong bốn điều kiện thì vật không thể trở thành sạn phẩm kinh tế được. 130
  11. b. Lí thuyết giá trị - giới hạn Điều nổi bật trong lý thuyết giá trị của phái Thành Viene là giá trị ích lợi - giá trị chủ quan do K.Menger khởi xướng và được Von Wieser, Bohm Bawerk bổ xung. Tuy vậy, khác với các bậc tiền bối như Xenophone, A. R. J. Turgot và J.B. Say, phái Thành Viene bằng cách kết hợp phạm trù kinh tế với phạm trù toán học để đưa ra các phạm trù “ích lợi giới hạn” và “giá trị ích lợi giới hạn”. Để hiểu được “giá trị ích lợi giới hạn”, chúng ta xuất phát từ phạm trù “ích lợi giới hạn”. Khi vận dụng định luật nhu cầu của H. Gossen để phân tích giá trị sử dụng K. Menger nhận thấy nhu cầu có cường độ khác nhau và nếu được tuần tự thoả mãn thì cường độ sẽ giảm xuống. Với số lượng sản phẩm tiêu dùng tăng lên, để thoả mãn nhu cầu thì “mức độ; bão hoà” về vật phẩm tăng lên, mức độ cần thiết của nhu cầu giảm xuống. Do vậy, sự đánh giá chủ quạn về lợi ích của vật phẩm cũng giảm xuống theo. Có nghĩa là vật đưa ra thoả mãn sau về nhu cầu có ích lợi ít hơn vật trước. Với một lượng sản phẩm có hạn. thì vật phẩm cuối cùng mang ra thoả mãn nhu cầu sẽ có ích lợi nhỏ nhất. Ông gọi sản phẩm đó là “sản phẩm giới hạn”, ích lợi của nó là “ích lợi giới hạn” và nó quyết định ích lợi chung của tất cả các vật khác. Điều này đúng không chỉ cho từng nhu cầu cá biệt mà còn đúng cho tất cả các nhu cầu có tính tuần tự giảm dần về mức độ thiết yếu. Thí dụ, một ngày có 4 thùng nước để dùng. Thùng thứ nhất để thoả mãn nhu cầu bức thiết nhất là để nấu ăn có. ích lợi cao nhất, chẳng hạn là 9. Thùng thứ hai để uống, ít cấp thiết hơn có ích lợi là 7. Thùng thứ ba để tắm giặt ích lợi là 3. Thùng thứ tư để tưới cây ích lợi ít nhất là 1. Như vậy, thùng thứ tư là thùng 131
  12. nước giới hạn, ích lợi của nó là “ích lợi giới hạn”. Và như vậy, ích lợi của nó là ích lợi chung của cả 4 thùng nước, nó là 1, hoàn toàn khác với ích lợi của từng sản phẩm cũng như ích lợi trung bình của chúng. Họ đưa ra khái niệm: ích lợi giới hạn là ích lợi của vật cuối cùng đưa ra thoả mãn nhu cầu. Vật đó có ích lợi nhỏ nhất và ích lợi đó quyết định ích lợi chung của tất cả các vật phẩm khác. Hình VI1.2: ích lợi giới hạn Từ phạm trù “ích lợi giới hạn” họ đi đến kết luận giá trị của vật do “ích lợi giới hạn” quyết định và được gọi là “giá trị ích lợi giới hạn”. Theo đó vật có ích lợi giới hạn càng lớn 132
  13. thì giá trị càng cao và ngược lại “ích lợi giới hạn” thấp thì giá trị cũng thấp. Như vậy, lí thuyết giá trị của phái Thành Viene hoàn toàn đi ngược lại nguyên lí giá trị lao động của trường phái cổ điển cũng như của chủ nghĩa Marx. Giá trị của vật, theo họ, do “ích lợi giới hạn” quyết định, đến lượt nó “ích lợi giới hạn” lại được đánh giá một cách chủ quan tuỳ theo số lượng vật phẩm mang ra tiêu dùng và ý muốn của cá nhân. Do vậy, sự đánh giá về mặt giá trị cũng mang tính chủ quan và không thống nhất. Theo K. Menger, giá trị không nằm trong số lượng nội tại của các vật phẩm. Không có giá trị khách quan, cá nhân được tự do đổng ý hay không đồng ý về giá trị của các vật phẩm. Giá trị không còn được qui định bởi lao động một cách khách quan nữa. Giá trị nằm trong sự xét đoán của các cá nhân đối với những nhu cầu của họ. Đó là giá trị chủ quan và vì vậy, nó tồn tại trong sự trao đổi xã hội. - Giá trị trao đổi: Khác với những người ủng hộ nguyên lí giá trị lao động, cho rằng trao đổi và giá giá trị trao đổi là khách quan, K. Menger lại cho rằng: giá trị trao đổi là chủ quan. Theo ông, người ta chỉ tiến hành trao đổi sản phẩm cho nhau khi thấy mình có lợi. Sở dĩ mọi người trao đổi sản phẩm cho nhau chỉ vì họ đều tin rằng sản phẩm mà mình bỏ ra, đối với mình có ích lợi hay giá trị ít hơn sản phẩm mà mình thu về. Như vậy, khi trao đổi các cá nhân dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan, tính toán căn cứ vào nhu cầu của mình giữa sản phẩm mình thu được sau trao đổi với sản phẩm mình bỏ ra. Cơ sở của trao đổi là sự so sánh ích lợi giới hạn của các sản phẩm trao đổi. 133
  14. Thí dụ: Hai nông dân A và B đều có hai loại sản phẩm như nhau là bò và ngựa nhưng số lượng là khác nhau. Nông dân A nhiều bò (7 con) và ít ngựa (3 con), ngược lại nông dân B ít bò (3 con) và nhiều ngựa (7 con). Họ sắp xếp thứ tự giá trị như nhau: Bảng VỈI.2A: Thứ tự giá trị sản phẩm của nông dán A Nông dân A Thứ tự Bò (7 con) Ngựa (3 con) 1 10 9 2 9 8 3 8 7 4 7 5 6 6 5 7 4 Bảng VIỈ.2B: Thứ tự giá trị sein phẩm của nông dein B Nông dân B Thứ tự Bò (3 con) Ngựa (7 con) 1 9 10 2 8 9 3 7 8 4 7 5 6 6 5 7 4 134
  15. Qua bảng số liệu trên ta thấy: Ông A vì nhiều bò, ít ngựa nên ông xác định giá trị của bò ít hơn ngựa (4 so với 7). Ngược lại, ông B có ít bò nhiều ngựa nên giá trị của ngựa lại ít hơn bò (cũng là 4 so với 7). Cả hai người do thứ tự của bò và ngựa và theo đó giá trị của chúng là khác nhau nên họ cho rằng trao đổi có lợi. nên trao đổi. Với lần trao đổi thứ nhất: A mất con bò thứ 7 giá trị 4 được con ngựa thứ tư giá trị 6. Đối với B cũng vậy: B mất con ngựa thứ 7 giá trị 4 được con bò thứ tư giá trị là 6. Như vậy, với lần trao đổi này. cả hai người đều mất 4. được 6, lãi 2 nên quá trình trao đổi được tiếp tục. Lần trao đổi thứ hai: A mất thêm con bò thứ thứ 6 giá trị 5 được thêm con bò thứ 5 giá trị là 5; Còn B mất con ngựa thứ 6 giá trị 5 được con bò thứ 5 giá trị 5. Tức là cả hai người đều mất 5 được 5 vì thế họ không lời, cũng không lỗ trong lần trao đổi này. Nếu tiếp tục trao đổi lần thứ ba: A mất con bò thứ 5 giá trị là 6. được thêm con ngựa thứ 6 giá trị là 4 lỗ 2; B cũng mất con ngựa thứ 5 giá trị là 6 được con bò thứ 6 giá trị là 4 cũng lỗ 2. Từ đó K. Menger đi đến kết luận: “Trao đổi kinh tế sẽ dẫn đến thoả mãn đầy đủ nhu cầu của con người, tăng cường phương tiện thoả mãn nhu cầu của những cá nhân tham gia vào trao đổi”. (Những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học tr. 162). Đổng thời ông còn chỉ ra hai điều kiện để trao đổi được thực hiện được là: 135
  16. + Cả hai người đều có lợi trong trao đổi + Sản phẩm dư thừa của người này là sản phẩm khan hiếm của người kia và ngược lại. - Các hình thức giá trị Xuất phát từ công dụng của vật và việc quyết định sử dụng vật đó thoả mãn nhu cầu gì. phái Thành Viene (mà trực tiếp là Bohm Bawerk) đã phân chia các hình thức giá trị thành giá trị chủ quan và giá trị khách quan. Giá trị khách quan xuất phát từ tác dụng của vật mang lại cho ta một tác dụng cụ thể nào đó. Tức là nói đến giá trị khách quan, người ta nói đến quan hệ giữa vật và kết quả từ việc tiêu dùng vật đó. Mối quan hệ này mang tính tự nhiên khách quan, không phụ thuộc vào sự phán đoán chủ quan của con người. Thí dụ củi đem đốt sẽ cho ta nhiệt lượng. Đó là giá trị khách quan. Còn giá trị chủ quan thì lại xuất hiện từ sự tiêu dùng những kết quả mà vật phẩm đó mang lại cho con người và người ta quyết định sử dụng nó như thế nào hay vào mục đích gì ? 0 ví dụ trên, củi đem đốt cho ta nhiệt năng là giá trị khách quan nhưng nếu ta đánh giá số nhiệt đó và tính toán vào việc sử dụng cho mục đích gì thì lại là giá trị chủ quan. Từ đó họ cho rằng một vật phấm luôn có 4 hình thức giá trị gồm: giá trị sử dụng khách quan, giá trị sử dụng chủ quan, giá trị ưao đổi khách quan và giá trị trao đổi chủ quan. Cãn cứ vào sự phân chia này là nơi nhận sản .phẩm, của cải đó tới tay ai? Thí dụ làm thế nào để xác định hình thức giá trị của một tủ sách hay một m3 củi? Đối với tủ sách, 136
  17. người chủ của nó có thể là một nhà khoa học hay một nhà buôn. Nếu chủ của nó là một nhà khoa học, thì họ xác định tủ sách có giá trị sử dụng. Ngược lại, chủ của nó là nhà buôn thì họ lại xác định tủ sách có giá trị. Ớ đây, cả nhà khoa học và nhà buôn đều chủ quan. Do vậy, tủ sách có giá trị sử dụng chủ quan và giá trị trao đổi chủ quan. Với một mét khối củi, nó có nhiệt lượng nhất định, khi củi đốt toả ra nhiệt không phụ thuộc vào sự phán đoán chủ quan thì củi có giá trị sử dụng khách quan. Nhưng nếu căn cứ vào số nhiệt lượng chúa đựng để tính toán rồi đem củi đổi lấy vật phẩm khác thì nó có giá trị trao đổi khách quan. - Lý thuyết về sự tách rời' giữa giá trị và lợi ích Thoạt nhìn, lí thuyết về sự tách rời giữa giá trị và ích lợi của Von Wieser như đối lập với lý thuyết giá trị ích lợi giới hạn của K. Menger. Nhưng thực tế thì đây là sự kế thừa và phát triển mà không mâu thuẫn. Trên cơ sở đồng nhất giá trị của những vật phẩm với tính ích lợi đạt được khi tiêu dùng đơn vị cuối cùng, ông đặt tên cho khái niệm đó là “gần kề với” hay hiểu theo nghĩa hiện đại là “tính ích lợi ngoài lề” hay “ích lợi cận biên”. Trước hết, ông phát hiện thấy có sự tách rời giữa ích lợi toàn bộ và tổng giá trị của chúng. Thực tế là khi số lượng sản phẩm tiêu dùng tăng lên thì tổng ích lợi tăng lên nhưng ích lợi giới hạn giảm và do vậy, tổng giá trị thoạt đầu tăng nhưng sau đó giảm mạnh. Do vậy, giữa ích lợi toàn bộ và giá trị toàn bộ có một khoản chênh lệch mà V. Wieser gọi là sự tách rời giữa giá trị và ích lợi.'Xem bảng VII.3. 137
  18. Khi số lượng sản phẩm tiêu dùng tăng lên, tổng ích lợi (ích lợi toàn bộ) tăng lên, còn tổng giá trị hay tổng giá cả (giá trị toàn bộ) thoạt đầu tăng sau đó giảm. Do vây, sự tách rời giữa giá trị và ích lợi ngày càng tăng cùng mức tăng sản lượng. Khi sản phẩm tăng lên mãi thì ích lợi giới hạn có thể tiến tới không. Bâng VII.3: Sự tách rời giữa tổng ích lợi và tổng già trị Số lượng (Q) 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Giá trị (tính ích lợi giới 0 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 0 hạn) V Tính ích lợi 0 10 19 27 34 40 45 49 52 54 55 55 toàn bộ Giá trị chủ quan (P = V 0 10 18 24 28 30 30 28 24 18 10 0 xQ) Tính ích lợi 0 0 1 3 6 10 15 21 28 36 45 55 mất đi Ông cho rằng, lúc này vật chí có ích lợi trừu tượng (tức là nói ích lợi nói chung) chứ không có ích lợi cụ thể nữa (tức là ích lợi gắn với một số sản phẩm có hạn nhất định). Khi vật chỉ có ích lợi trừu tượng thì nó không quyết định giá trị, không tạo ra giá trị. o bảng số liệu trên thì số sản phẩm là 11, ích lợi giới hạn bằng không, do vậy giá trị bằng không. Mặt khác cũng từ lí luận giá trị của K. Menger khi số lượng sản phẩm càng tăng lên để thoả mãn nhu cầu thì ích lợi giới hạn của nó càng giảm xuống và do vậy giá trị của hàng hoá 138
  19. đó cũng càng giảm theo. Lật ngược lại quan điểm này, Von Wieser đi đến kết luận muốn có nhiều giá trị hay muốn bán hàng hoá với giá cả cao phải tạo ra sự khan hiếm. c. Lý thuyết lợi tức và lợi nhuận Dựa trên cơ sở lí luận giá trị - ích lợi. theo phương pháp luận tâm lý chủ quan, trường phái Thành Viene đã xây dựng lí luận lợi tức. Lí luận này được tập trung chủ yếu trong tác phẩm “Lí luận tích cực về tư bLÚT’ của Bohm Bawerk (xuất bản năm 1888). Xuất phát từ sự phân tích chủ quan về hứng thú, ông cho rằng lợi tức là số sai biệt giữ a. Sự đánh giá chủ quan cao hơn đôi với “của cải hiện tai’' so với sự đánh giá thấp hơn đôi với “của cải tương lai”. Bohm Bawerk còn cho rằng lao động là của cải tương iai, do đó mỗi thời điểm nhất định nó phải được trả giá thấp hơn giá trị sản phẩm của nó, số chênh lệch đó chính là lợi nhuận. Lợi nhuận của tư bản là một hậu quả tất yếu của các hoạt động kinh tế do yếu tố tâm lí làm phát sinh ra. Cũng như Bohm Bawerk. Von Wieser không chấp nhận lí luận về chế độ bóc lột của chủ nghĩa Marx. Ông cho rằng sự phân phối thu nhập như lợi tức, lợi nhuận, địa tô,... không lệ thuộc vào một chê' độ xã hội nào hết mà là kết quả của những định luật tự nhiên. Các hình thức thu nhập trên không bao giờ mất đi trong bất cứ chê' độ nào, chúng sẽ tồn tại mãi với những hình thức khác đi mà thôi. Sản xuất chỉ là sự phối hợp giữa ba yếu tố: lao động, tự nhiên, tư bản; và sự đóng góp của mỗi yếu tô' này nhiều hay ít tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi loại sản xuất, do đó sẽ được hưởng một 139
  20. phần thu nhập tương xứng với phần đóng góp đó. Dùng phương pháp toán học, sự phối hợp đó có thể được biểu hiện bằng nhiều phương trình, trong đó mỗi yếu tố được biểu thị bằng một ẩn số (x, y, z...). Nhiều phương trình hợp lại thành một hệ thống phương trình với sự đóng góp không giông nhau của mỗi yếu tố trong việc sản xuất một loại sản phẩm nhất định nào đó, giá trị của mỗi yếu tố sẽ được ước lượng một cách dễ dàng. Thí dụ: X + 2y + 3z = 33 < 2x + 3y = 36 4y + 5z = 44 III. TRƯỜNG PHÁI “GIÓI HẠN” MỸ - Cuối thế kỷ XIX. trường phái cổ điển mới hay trường phái “giới hạn” xuất hiện ở Mỹ. Đại biểu cho trường phái này là J. B. Clark (1847 - 1938) và người tiếp tục phát ttiển sau này là con trai ông J. M. Clark (1884 - 1963). J.B.Clark là giáo sư kinh tế cúa Trường Đại học Tổng hợp Colombia - là người đã chia kinh tế chính trị thành ba bộ phận, đó là kinh tế tổng hợp, kinh tê' tĩnh và kinh tế động. Trong đó kinh tế tổng hợp nghiên cứu các quy luật kinh tế chung, kinh tế tĩnh nghiên cứu các quy luật kinh tế trong trạng thái tĩnh, tức trong trạng thái xã hội không thay đổi, quy mô tư bản và lao động không thay đổi, trình độ kỹ 140
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2