intTypePromotion=1

Nghiên cứu mối liên quan giữa giá trị maxSUV trong FDG PET/CT tại khối u nguyên phát với tình trạng đột biến gen EGFR trong ung thư phổi biểu mô tuyến

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
11
lượt xem
0
download

Nghiên cứu mối liên quan giữa giá trị maxSUV trong FDG PET/CT tại khối u nguyên phát với tình trạng đột biến gen EGFR trong ung thư phổi biểu mô tuyến

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày nhận xét mối liên quan giữa giá trị maxSUV tại khối u phổi nguyên phát trong FDG PET/CT với tình trạng đột biến gen EGFR. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu 137 BN ung thư biểu mô tuyến của phổi được ghi hình FGD PET/CT và đánh giá tình trạng đột biến gen EGFR tại thời điểm chẩn đoán.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu mối liên quan giữa giá trị maxSUV trong FDG PET/CT tại khối u nguyên phát với tình trạng đột biến gen EGFR trong ung thư phổi biểu mô tuyến

  1. PHỔI - LỒNG NGỰC NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA GIÁ TRỊ MAXSUV TRONG FDG PET/CT TẠI KHỐI U NGUYÊN PHÁT VỚI TÌNH TRẠNG ĐỘT BIẾN GEN EGFR TRONG UNG THƯ PHỔI BIỂU MÔ TUYẾN PHẠM VĂN THÁI1, BÙI TIẾN CÔNG2, MAI TRỌNG KHOA3 VÀ CỘNG SỰ TÓM TẮT Mục tiêu: Nhận xét mối liên quan giữa giá trị maxSUV tại khối u phổi nguyên phát trong FDG PET/CT với tình trạng đột biến gen EGFR. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu 137 BN ung thư biểu mô tuyến của phổi được ghi hình FGD PET/CT và đánh giá tình trạng đột biến gen EGFR tại thời điểm chẩn đoán. Kết quả: Đặc điểm BN nghiên cứu, tuổi trung bình 60,3 ± 9,24, nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn (71,5%), Phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn III và IV. 56,2% BN không có đột biến gen EGFR. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giá trị maxSUV ở nhóm không có đột biến EGFR và nhóm có đột biến EGFR (p=0,04). Phân tích dưới nhóm, ở nhóm kích thước u nguyên phát ở giai đoạn T3, có sự khác biệt giá trị maxSUV ở nhóm có đột biến gen và nhóm không có đột biến gen (p=0,04). Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm có đột biến gen EGFR và không có đột biến EGFR khi phân tích dưới nhóm theo giai đoạn bệnh (giai đoạn III, p=0,46; giai đoạn IV, p=0,34), theo khích thước u (T1, p=0,18; T2, p=0,93, T4, p=0,41), theo vị trí đột biến exon 19 và exon 21 (p=0,75). Kết luận: Có sự khác biệt có ý nghĩa mức độ hấp thu FDG giữa nhóm không có đột biến gen và nhóm không có đột biến gen EGFR. Tuy nhiên cần tiến hành nghiên cứu trên số lượng bệnh nhân lớn hơn để làm rõ mối liên quan khi phân tích các dưới nhóm theo giai đoạn bênh, vị trí exon đột biến. Từ khóa: FDG-PET/CT, max SUV, EGFR, ung thư phổi biểu mô tuyến. ABSTRACT Study on the relationship between the FDG-PET/CT maxSUV of primary tumor and EGFR mutation status in lung adenocarcinoma Objective: To assess the relationship between FDG-PET/CT maxSUV value in primary lung tumors and EGFR mutation status. Study objective: 137 patients with lung adenocarcinoma were scanned FGD PET/CT imaging and evaluated EGFR mutation at the time of diagnosis. Results: The mean age of patients: 60.3 ± 9.24, male was higher than female (71.5%), the majority of patients were diagnosed in stages III and IV. 56.2% of patients carried EGFR wild-type. There was a statistically significant difference in maxSUV values in the EGFR wild-type and EGFR-mutant groups (p=0.04). Subgroup analysis, in the primary tumor group at stage T3, had a maxSUV difference with mutant and wild-type groups (p=0.04). There was no difference between the two EGFR mutations and EGFR wildtye (p=0.46, stage IV, p=0.34), tumor size (T1, p=0.93, T4, p=0.41), mutanti position exon 19 and exon 21 (p=0.75). Conclusion: There was a significant difference in FDG uptake between the EGFR wildtype and mutant groups. However, studies on a larger number of patients should be conducted to clarify the relationship when analyzing subgroups by stage, exon-mutant location. Keywords: FDG-PET/CT, maxSUV, EGFR, lung adenocarcinoma. 1 TS.BS. Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai 2 ThS.BS. Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai 3 GS.TS. Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 149
  2. PHỔI - LỒNG NGỰC ĐẶT VẤN ĐỀ trạng đột biến gen EGFR, Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nhiều các nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy Ung thư phổi nguyên phát (UTP) là một trong chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: những bệnh ung thư có tỷ lệ mắc và tử vọng hàng Nhận xét mối liên quan giữa giá trị maxSUV tại khối đầu ở cả nam và nữ. Năm 2012 trên toàn thế giới có u phổi nguyên phát trong FDG PET/CT với tình trạng 1,8 triệu ca mới mắc (chiếm 12,9%), 58% trong số đột biến gen EGFR. đó xảy ra ở các nước kém phát triển. Bệnh phổ biến ở nam giới chiếm khoảng 1,2 triệu ca. Số trường ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU hợp tử vong ước tính 1,6 triệu ca[1]. Các phương Đối tượng nghiên cứu pháp chính điều trị ung thư phổi gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, điều trị đích. 137 bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến của phổi được tiến hành chụp FDG Trong những năm gần đây, với sự phát triển PET/CT đánh giá trước điều trị và được đánh giá mạnh mẽ của sinh học phân tử đã giúp mang lại tình trạng đột biến gen EGFR tại Trung tâm Y học bước tiến mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai từ phổi. Các xét nghiệm sinh học phân tử đột biến gen 1/2017 đến 12/2017 EGFR, BRAF, ROS1, ALK ngày càng phổ biến tại các cơ sở điều trị ung thư phổi ở nước ta. Đột biến Phương pháp nghiên cứu EGFR thường được tìm thấy trong ung thư biểu mô Thiết kế nghiên cứu tuyến của phổi và là yếu tố dự báo quan trọng nhất về hiệu quả của việc sử dụng thuốc ức chế men Mô tả cắt ngang. tyrosine kinase. Tuy nhiên việc xác định tình trạng Nội dung nghiên cứu đột biến gen EGFR có thể gặp khó khăn ở những Nghiên cứu mối liên quan mức độ hấp thu FDG trường hợp không thu nhận được bệnh phẩm phân tại khối u phổi nguyên phát trên FDG PET/CT và tình tích tình trạng đột biến, do đó việc nghiên cứu các trạng đột biến gen EGFR. yếu tố liên quan giúp dự đoán tình trạng đột biến gen EGFR có thể giúp ích trong thực hành lâm sàng. Phương tiện nghiên cứu Chụp PET/CT dựa trên chuyển hóa glucose là một Máy PET/ CT của hãng SIEMENS. phương pháp chẩn đoán và phân tích ban đầu hiệu quả trong ung thư phổi. Giá trị maxSUV hay sự Xử lý số liệu hấp thu FDG cao tại khối u nguyên phát phản ánh Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. tình trạng tăng hoạt động của các tế bào u trong KẾT QUẢ khối u. Tình trạng đột biến gen EGFR ảnh hưởng đến sự tăng sinh tế bào u, ức chế chết tế bào theo Qua nghiên cứu 137 bệnh nhân ung thư biểu chương trình. mô tuyến của phổi được chụp FDG PET/CT và xét nghiệm phát hiện đột biến gen EGFR tại thời điểm Trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu chẩn đoán thu được kết quả. về mối liên quan giữa giá trị của PET/CT và tình Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu Đặc điểm bệnh nhân (n=137) Đặc điểm Phân loại Số lượng n Tỷ lệ % Tuổi 60,3 ± 9,24 (Min: 37 Tuổi, Max: 87 tuổi) Nam 98 71,5 Giới Nữ 39 28,5 Có 85 62,0 Hút thuốc không 31 22,6 không rõ tiền sử 21 15,4 T1 21(2,3 ± 0,48) 15,3 Kích thước u trung T2 42(3,9 ± 0,67) 30,7 bình (cm) T3 38(5,7 ± 1,41) 27,7 T4 36(8,4 ± 2,52) 26,3 150 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  3. PHỔI - LỒNG NGỰC I 5 3,6 II 7 7,1 Giai đoạn bệnh III 32 23,3 IV 93 67,9 Không có đột biến 77 56,2 Đột biến exon 18 3 2,2 Tình trạng đột biến Đột biến exon 19 36 26,3 gen EGFR Đột biến exon 20 1 1,0 Đột biến exon 21 20 14,6 Tổng 137 100 Nhận xét: Nam giới chiếm đa số các bệnh nhân nghiên cứu. Phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn III và IV. 56,2% BN không có đột biến gen EGFR. Bảng 2. Mối liên quan giữa tình trạng đột biến EGFR và mức độ hấp thu FDG tại khối u nguyên phát Tình trạng EGFR Số lượng (TBmaxSUV) P Có đột biến (n) 61 (10,9 ± 4,67) Không có đột biến 76 (12,7 ± 6,97) 0,04 (n) Theo vị trí đột biến Exon 19 36 (10,7 ± 4,52) 0,75 Exon 21 20 (11,4 ± 5,15) Giai đoạn III Có đột biến (n) 10 (11,3 ± 4,85) Không có đột biến 22 (12,7 ± 4,82) 0,46 (n) Giai đoạn IV Có đột biến (n) 45 (11,7 ± 4,31) Không có đột biến 48 (12,9 ± 7,68) 0,34 (n) Theo kích thước u T1 Có đột biến (n) 9 (6,1 ± 3,09) 0,18 Không có đột biến (n) 12 (7,6 ± 1,75) T2 Có đột biến (n) 17 (10,8 ± 4,07) 0,93 Không có đột biến (n) 25 (10,7 ± 3,90) T3 Có đột biến (n) 20 (11,1 ± 4,55) 0,04 Không có đột biến (n) 18 (14,4 ± 5,58) T4 Có đột biến (n) 15 (14,1 ± 3,88) 0,41 Không có đột biến (n) 21 (16,4 ± 9,88) TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 151
  4. PHỔI - LỒNG NGỰC Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giá trị maxSUV ở nhóm không có đột biến EGFR và nhóm có đột biến EGFR. Phân tích dưới nhóm, ở nhóm kích thước u nguyên phát ở giai đoạn T3, có sự khác biệt giá trị maxSUV ở nhóm có đột biến gen và nhóm không có đột biến gen. BÀN LUẬN những bệnh nhân có đột biến EGFR thấp hơn so với nhóm không có đột biến EGFR. Nghiên cứu này Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên cũng đề cập đến mối liên quan giữa tình trạng 137 bệnh nhân ung thư phổi có độ tuổi trung bình là đột biến gen BRAF và maxSUV tại khối u phổi 60,3 tuổi (37 - 87). Trong đó nam giới chiếm tỷ lệ nguyên phát, tuy nhiên không tìm thấy sự khác biệt cao hơn chiếm 71,5%. Phần lớn các bệnh nhân có ý nghĩa giữa 2 nhóm BN có đột biến BRAF trong nghiên cứu liên quan đến tiền sử hút thuốc lá, và nhóm không có đột biến[3]. Nguyên nhân của việc chỉ có 22,6% bệnh nhân khẳng định chưa từng sử maxSUV tại khối u nguyên phát ở nhóm bệnh nhân dụng thuốc lá, chủ yếu là các bệnh nhân nữ. có đột biên EGFR được lí giải là do sự giảm đáng kể Các đặc điểm trên cũng phù hợp với nghiên cứu của các chất hoạt hóa các gen liên quan đến chuyển hóa các tác giả khác trong nước như Mai Trọng Khoa đường, các gen chuyển hóa glucose (GPI, G6PD, (2010), Nguyễn Duy Cường (2017)[1,2]. PKM2 và GAPDH) và các gen liên quan đến Phần lớn các bệnh nhân trong nghiên cứu của chu trình tế bào (ANLN, PTTG1, CIT, KPNA2 chúng tôi sau khi đánh giá giai đoạn bệnh bằng FDG và CDC25A) đều được làm giàu hơn ở nhóm không PET/CT được xếp vào giai đoạn III và IV (89,4%). có đột biến[4]. Trong số 137 bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô Trong một nghiên cứu khác của tác giả Im II Na tuyến của phổi, đột biến gen EGFR được phát hiện tại Hàn Quốc năm 2010 trên 100 BN ung thư biểu ở 60 BN, trong đó 36 BN đột biến ở exon 19 mô tuyến của phổi được xét nghiệm đánh giá tình (26,3%), 20 BN có đột biến ở exon 21 (14,6%), 4 BN trạng đột biến gen EGFR và chụp FDG PET/CT có đột biến ở exon 18 và exon 20. tại thời điểm chẩn đoán, khi sử dụng 1 giá trị maxSUV để làm ngưỡng phân tích, BN có giá trị Giá trị maxSUV trung bình ở khối u nguyên phát maxSUV tại khối u nguyên phát thấp có nhiều khả của các BN nghiên cứu của nhóm có đột biến EGFR năng bị đột biến EGFR hơn so với những BN có là 10,9 ± 4,67, nhóm không có đột biến EGFR là maxSUV cao (40% so với 11%; p=0,001). Khi phân 12,7 ± 6,97. Có sự thấp hơn mức độ hấp thu FDG tích đa biến, tác giả cũng thu được kết quả cho thấy có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có đột biến gen maxSUV thấp vẫn là một yếu tố dự báo quan trọng EGFR và nhóm không có đột biến (p=0,09). Tuy cho tình trạng đột biến EGFR (p=0,025)[5]. Nghiên nhiên không có sự khác biệt khi so sánh maxSUV cứu của Yoshida Tatsuya năm 2016 trên 34 BN ung khối u phổi nguyên phát giữa các nhóm có đột biến thư phổi có đột biến EGFR, hấp thu FDG ở những exon 19, exon 21 (p=0,75). BN có đột biến T790M thấp hơn có ý nghĩa thống kê Khi so sánh mức độ hấp thu FDG giữa nhóm so với ở nhóm bệnh nhân không có đột biến gen không có đột biến và có đột biến ở giai đoạn III và T790M, thời gian sống thêm toàn bộ sau khi thất bại giai đoạn IV thì không có sự khác biệt có ý nghĩa với điều trị kháng tyrosine kynase ở nhóm bệnh (p=0,06 và p=0,34). Phân tích theo kích thước u nhân có đột biến T790M kéo dài hơn so với nhóm nguyên phát, với khối u nguyên phát ở giai đoạn T3 bệnh nhân không có T790M (10,2 tháng và 18,6 thì thấy có sự khác biệt giữa nhóm có đột biến và tháng; p9,5 có tỉ lệ đột biến so với nhóm không có đột biến EGFR khi phân tích EGFR cao hơn có ý nghĩa thống kê (p=0,005)[7]. ở các dưới nhóm theo giai đoạn bệnh, kích thước u. Có thể do cỡ mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn nên chưa Như vậy, mối liên quan giữa mức độ hấp thụ thể hiện được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. FDG tại khối u nguyên phát và tình trạng đột biến gen vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Tuy Theo nghiên cứu của tác giả Takamochi trên nhiên kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thể giúp 734 BN ung thư phổi, với 337 trường hợp ghi nhận dự đoán tình trạng đột biến gen EGFR ở những có đột biến EGFR, kết quả nghiên cứu nhấn mạnh bệnh nhân có maxSUV thấp, đặc biệt ở những bệnh mức độ hấp thu FDG tại khối u nguyên phát ở 152 TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
  5. PHỔI - LỒNG NGỰC nhân không thu thập được bệnh phẩm để phân tích TÀI LIỆU THAM KHẢO tình trạng đột biến gen. 1. Mai Trọng Khoa (2012), "Giá trị của FDG KẾT LUẬN PET/CT trong chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ", Y học Việt Nam, 2012. 12(1): p. 16-21. Qua nghiên cứu 137 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến của phổi tại bệnh viện Bạch Mai được 2. Takamochi, K., et al (2017), "Correlation of chụp PET/CT và phân tích đột biến gen EGFR tại EGFR or KRAS mutation status with 18F-FDG thời điểm chẩn đoán, chúng tôi thu được kết quả uptake on PET-CT scan in lung như sau: adenocarcinoma."PLoS One, 2017. 12(4): p. e0175622. Bệnh nhân có độ tuổi trung bình 60,3 tuổi, nam giới chiếm đa số (71,5%), 43,8% bệnh nhân trong 3. Huang da, W., B.T. Sherman, and R.A. Lempicki nghiên cứu có tình trạng đột biến gen EGFR. (2009), "Bioinformatics enrichment tools: paths toward the comprehensive functional analysis of Mức độ hấp thu FDG tại khối u nguyên phát ở large gene list", Nucleic Acids Res, 2009. 37(1): những bệnh nhân có đột biến gen EGFR thấp hơn ở p. 1-13. nhóm không có đột biến, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. 4. Na, II, et al (2010), "18F-FDG uptake and EGFR mutations in patients with non-small cell lung Mức độ hấp thu FDG tại khối u nguyên phát cancer: a single-institution retrospective giữa nhóm có đột biến gen EGFR và nhóm không có analysis", Lung Cancer, 2010. 67(1): p. 76-80. đột biến gen không có sự khác nhau khi phân tích dưới nhóm ở giai đoạn III và giai đoạn IV. 5. Yoshida, T., et al (2016), "Standardized uptake value on (18) F-FDG-PET/CT is a predictor of Mức độ hấp thu FDG tại khối u nguyên phát ở EGFR T790M mutation status in patients with nhóm có đột biến gen EGFR không có sự khác biệt acquired resistance to EGFR-TKIs", Lung theo vị trí đột biến gen exon 19 và exon 21. Cancer, 2016. 100: p. 14-19. Khi phân tích dưới nhóm dựa theo kích thước u 6. Huang, C.T, et al (2010), "Correlation of F-18 nguyên phát, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê fluorodeoxyglucose-positron emission maxSUV giữa nhóm có đột biến gen EGFR và nhóm tomography maximal standardized uptake value không có đột biến gen ở giai đoạn T3. and EGFR mutations in advanced lung adenocarcinoma", Med Oncol, 2010. 27(1): p. 9- 15. TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 153
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2