intTypePromotion=1

Nghiên cứu phát triển cây vừng trong hệ thống canh tác có lúa vùng đất xám Đồng Tháp Mười

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
36
lượt xem
0
download

Nghiên cứu phát triển cây vừng trong hệ thống canh tác có lúa vùng đất xám Đồng Tháp Mười

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung bài viết giới thiệu rằng vùng đất xám Đồng Tháp Mười, vừng là cây trồng luân canh tăng vụ đạt hiệu quả kinh tế khá cao trên đơn vị diện tích đất. Nhưng kỹ thuật canh tác của nông dân theo hướng quãng canh, vì vậy năng suất còn thấp so với tiềm năng. Các nghiên cứu bổ sung hợp phần kỹ thuật để hoàn thiện quy trình trồng vừng trên đất lúa vùng đất xám Đồng Tháp Mười được thực hiện trên 4 huyện: Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Đức Huệ (Long An) và Hồng Ngự (Đồng Tháp). Kết quả mô hình canh tác vừng áp dụng quy trình cải tiến cho thấy năng suất trung bình 1,14 tấn/ha tăng hơn so với kỹ thuật canh tác của nông dân là 0,21 tấn/ha và lợi nhuận cũng tăng hơn 24,2%.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu phát triển cây vừng trong hệ thống canh tác có lúa vùng đất xám Đồng Tháp Mười

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÂY VỪNG TRONG HỆ THỐNG CANH TÁC<br /> CÓ LÚA VÙNG ĐẤT XÁM ĐỒNG THÁP MƯỜI<br /> Trần Thị Hồng Thắm<br /> Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Đồng Tháp Mười<br /> TÓM TẮT<br /> Vùng đất xám Đồng Tháp Mười, vừng là cây trồng luân canh tăng vụ đạt hiệu quả kinh tế khá<br /> cao trên đơn vị diện tích đất. Nhưng kỹ thuật canh tác của nông dân theo hướng quãng canh, vì vậy<br /> năng suất còn thấp so với tiềm năng. Các nghiên cứu bổ sung hợp phần kỹ thuật để hoàn thiện quy<br /> trình trồng vừng trên đất lúa vùng đất xám Đồng Tháp Mười được thực hiện trên 4 huyện: Vĩnh Hưng,<br /> Tân Hưng, Đức Huệ (Long An) và Hồng Ngự (Đồng Tháp). Kết quả mô hình canh tác vừng áp dụng<br /> quy trình cải tiến cho thấy năng suất trung bình 1,14 tấn/ha tăng hơn so với kỹ thuật canh tác của<br /> nông dân là 0,21 tấn/ha và lợi nhuận cũng tăng hơn 24,2%. Đặc biệt, lợi nhuận trên đơn vị diện tích<br /> đất của cơ cấu lúa Đông Xuân-vừng Xuân Hè-lúa Hè Thu tăng hơn cơ cấu lúa Đông Xuân-lúa Hè Thu<br /> là 82,9%.<br /> Từ khóa: Cây vừng, quy trình, năng suất, lợi nhuận, Đồng Tháp Mười<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Đồng Tháp Mười (ĐTM) có diện tích tự<br /> nhiên là 696.496 ha, trong đó đất xám chiếm<br /> 16,10% (Phan Liêu và ctv., 1998). Đây là vùng<br /> do điều kiện đất đai, nước tưới cho nên thời<br /> gian đất bỏ hóa giữa vụ lúa Đông Xuân và Hè<br /> Thu khoảng 70-90 ngày. Trong khi đó tình<br /> trạng độc canh cây lúa trong nhiều năm đã làm<br /> phát sinh nhiều sâu bệnh hại, dẫn đến lượng<br /> thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ngày càng tăng<br /> gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức<br /> khỏe con người và lợi nhuận từ sản xuất độc<br /> canh cây lúa cũng không cao.<br /> Hiện nay, ở vùng ĐTM cây vừng cũng<br /> đã được đưa vào luân canh tăng vụ trên đất lúa<br /> đạt hiệu quả cao, nhưng so với cây lúa thì<br /> giống vừng chọn tạo được áp dụng trong sản<br /> xuất không nhiều, áp dụng những tiến bộ kỹ<br /> thuật về canh tác vừng cũng còn hạn chế, vì thế<br /> diện tích cây vừng chưa phát triển nhiều ở<br /> vùng Đồng Tháp Mười, mặc dù vùng này tiềm<br /> năng để phát triển cây vừng còn rất lớn.<br /> Vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu phát triển<br /> cây vừng trong hệ thống canh tác có lúa vùng<br /> đất xám Đồng Tháp Mười” được thực hiện là<br /> rất cần thiết vì nó đáp ứng được nhu cầu thực<br /> tế của sản xuất và thực hiện chủ trương của<br /> Chính phủ là tăng cường đa dạng hóa cây trồng<br /> nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng thu nhập trên<br /> một đơn vị diện tích đất.<br /> <br /> 722<br /> <br /> II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 2.1. Vật liệu<br /> 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: Cây vừng<br /> (Sesamum indicum L)<br /> 2.1.2 Địa điểm nghiên cứu<br /> Các nghiên cứu được thực hiện trên vùng<br /> đất xám của huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Đức<br /> Huệ (Long An) và huyện Hồng Ngự (Đồng<br /> Tháp), đây là các huyện có cơ cấu cây trồng<br /> chính lúa Đông Xuân-vừng Xuân Hè-lúa Hè<br /> Thu.<br /> 2.2. Nội dung nghiên cứu<br /> - Thí nghiệm so sánh một số giống vừng<br /> triển vọng;<br /> - Thí nghiệm liều lượng bón phân cho<br /> vừng;<br /> - Thử nghiệm thời kỳ bón phân cho<br /> vừng;<br /> - Thử nghiệm số lần tưới nước cho vừng;<br /> - Thử nghiệm thời điểm thu hoạch vừng;<br /> - Xây dựng mô hình.<br /> 2.3. Phương pháp<br /> 2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm<br /> - Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối<br /> đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần<br /> lặp lại. Diện tích ô: 50m2.<br /> <br /> Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ hai<br /> <br /> - Thử nghiệm được bố trí theo kiểu lô<br /> rộng không lặp lại. Diện tích ô: 100m2<br /> <br /> hợp với cơ cấu mùa vụ của địa phương là lúa<br /> Đông Xuân-vừng Xuân Hè-lúa Hè Thu.<br /> <br /> - Mô hình: Quy mô diện tích: 2 ha/mô<br /> hình x 4 mô hình<br /> <br /> - Thời gian ra hoa (TGRH): Thời gian<br /> bắt đầu ra hoa của các giống vừng đen biến<br /> động từ 22-25 ngày sau gieo, các giống vừng<br /> trắng và vừng vàng từ 24-28 ngày sau gieo.<br /> Nhìn chung các giống ra hoa tương đối tập<br /> trung, thuận lợi cho việc thu hoạch.<br /> <br /> 2.3.2. Phương pháp phân tích số liệu<br /> - Phân tích tương tác các giống với môi<br /> trường theo mô hình Eberhart S.A. and<br /> W.L. Russell (1966).<br /> - Số liệu được tính toán theo chương<br /> trình EXCEL và chương trình MSTAT-C.<br /> III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> 3.1. So sánh một số giống vừng triển vọng<br /> 3.1.1. Đặc điểm nông học<br /> - Thời gian sinh trưởng (TGST): Thời<br /> gian sinh trưởng phụ thuộc vào đặc tính giống,<br /> thời vụ và điều kiện ngoại cảnh. Các giống<br /> vừng đen (ĐH1, NA2, VL, MĐ, VĐ3) và vừng<br /> vàng có thời gian sinh trưởng biến động từ 6369 ngày sau gieo, thời gian sinh trưởng các<br /> giống vừng trắng (V6, TQ36, BB1, ES122,<br /> VM62) từ 67-72 ngày sau gieo. Nhìn chung<br /> thời gian sinh trưởng của các giống vừng phù<br /> <br /> - Chiều cao cây: Kỹ thuật canh tác không<br /> làm đất (sạ chay), bón phân với liều lượng thấp,<br /> vụ Xuân Hè nhiệt độ cao, không mưa, không<br /> tưới, chiều cao cây sẽ thấp. Chiều cao cây ảnh<br /> hưởng đến số lượng trái trên cây. Chiều cao<br /> cây của các giống vừng biến động từ 67,0 142,3cm, trong đó thấp nhất là giống ES122<br /> (67,0-88,5 cm) và cao nhất là giống BB1<br /> (134,3-142,3)..<br /> - Chiều cao đóng trái: Chiều cao đóng<br /> trái là đặc tính quan trọng ảnh hưởng đến số<br /> lượng trái trên cây và ảnh hưởng đến khả năng<br /> cơ giới hóa khâu thu hoạch. Nhìn chung chiều<br /> cao đóng trái của các giống vừng biến động từ<br /> 31,5-64,5 cm, ngoại trừ 2 giống vừng đen là<br /> VĐ3 và VL chiều cao đóng trái khá cao từ<br /> 44,8-64,5cm.<br /> <br /> 3.1.2. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất<br /> Bảng 1. Năng suất và chỉ số môi trường của một số dòng/giống vừng, vụ Đông Xuân 2012-2013<br /> tại 4 huyện của tỉnh Long An và Đồng Tháp<br /> TT<br /> <br /> Tên giống<br /> <br /> Tân Hưng<br /> (T/ha)<br /> <br /> Vĩnh Hưng Hồng Ngự Đức Huệ Trung bình 4 huyện<br /> (T/ha)<br /> (T/ha)<br /> (T/ha)<br /> NS<br /> So với đc<br /> (T/ha) T/ha (%)<br /> 1<br /> V6<br /> 1,210 ab<br /> 1,277 a<br /> 1,117 a-c 1,235 b-e 1,210 0,281 30,2<br /> 2<br /> TQ36<br /> 1,197 ab<br /> 1,200 a-c<br /> 1,147 ab 1,395 ab 1,235 0,306 32,9<br /> 3<br /> BB1<br /> 1,153abc<br /> 1,187 a-c<br /> 1,117a-c 1,281 b-d 1,185 0,256 27,6<br /> 4<br /> ES122<br /> 0, 967 d<br /> 0,997 d<br /> 0,987 bc<br /> 0,850 f 0, 950 0,021 2,3<br /> 5<br /> VM62<br /> 1,040 b-d<br /> 1,087 b-d<br /> 1,030 bc 1,196 c-e 1,088 0,159 17,1<br /> 6<br /> ĐH1<br /> 1,273 a<br /> 1,220 ab<br /> 1,263 a<br /> 1,453 a 1,303 0,374 40,3<br /> 7<br /> NA2<br /> 1,237 a<br /> 1,233 ab<br /> 1,243 a<br /> 1,358 a-c 1,268 0,339 36,5<br /> 8<br /> VL<br /> 0,980 cd<br /> 0,977 d<br /> 0,943 c<br /> 1,089 e 0,997 0,068 7,3<br /> 9<br /> MĐ<br /> 1,180 ab<br /> 1,183 a-c<br /> 1,223 a<br /> 1,237 b-e 1,206 0,277 29,8<br /> 10 VĐ3<br /> 1,033 b-d<br /> 1,050 cd<br /> 0,987 bc 1,159 de 1,057 0,128 13,8<br /> 11 Địa phương (đ/c)<br /> 0,952 d<br /> 0, 980 d<br /> 0,940 c<br /> 0,845 f<br /> 0,929<br /> 9,29<br /> 8,22<br /> 9,40<br /> 8,44<br /> CV (%)<br /> 0,179<br /> 0,162<br /> 0,179<br /> 0,170<br /> LSD.05<br /> Năng suất TB<br /> 1,111<br /> 1,126<br /> 1,091<br /> 1,191<br /> Chỉ số môi trường (Ij)<br /> -0,019<br /> -0,003<br /> -0,039<br /> 0,061<br /> Giống Đối chứng: Vừng vàng (Hồng Ngự); vừng đen (Đức Huệ); vừng trắng (Vĩnh Hưng, Tân Hưng).<br /> Năng suất của các giống vừng trong cùng 1 cột có cùng 1 chữ cái thì không khác nhau ở xác suất 99,95%<br /> theo Dulcan;<br /> <br /> 723<br /> <br /> VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> - Số trái/cây: Qua kết quả theo dõi từ vụ<br /> Đông Xuân 2012-2013 và Xuân Hè 2013, nhận<br /> thấy: Số trái/cây của giống vừng V6 và ES122<br /> trung bình cao nhất từ 61,1-63,0 trái. Tuy nhiên<br /> giống ES122 trái nhỏ, có 2 múi, trong trái có<br /> chứa khoang rỗng lớn nên trái rất mềm, dễ bị<br /> nứt vỏ, vì vậy năng suất không cao.<br /> - Khối lượng 1.000 hạt: Khối lượng hạt<br /> phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống. Khối<br /> lượng 1.000 hạt của các giống trung bình dao<br /> động từ 1,97g-2,66g, cao hơn đối chứng. Giống<br /> ĐH1 có khối lượng 1.000 hạt cao nhất, dao<br /> động từ 2,62-2,66 g.<br /> - Năng suất: Qua kết quả bảng 1, 2nhận<br /> thấy: giống V6, TQ36 năng suất đạt trung bình<br /> từ 1.210-1.269 kg/ha, tăng hơn đối chứng<br /> 23,4%-32,9%; nhóm vừng đen có giống ĐH1,<br /> <br /> NA2 năng suất đạt trung bình từ 1.268-1.303<br /> kg/ha, tăng hơn đối chứng là 26,0-40,3%.<br /> - Chỉ số môi trường: Dựa vào giá trị của<br /> chỉ số môi trường cho thấy: giá trị từ cao đến<br /> thấp thứ tự là Đức Huệ > Vĩnh Hưng > Tân<br /> Hưng > Hồng Ngự (Đông Xuân 2012-2013).<br /> Điều đó có nghĩa là tương ứng theo thứ tự mức<br /> thuận lợi giảm dần là: Đức Huệ> Vĩnh Hưng ><br /> Tân Hưng > Hồng Ngự. Vụ Xuân Hè 2013, giá<br /> trị từ cao đến thấp thứ tự là Tân Hưng > Vĩnh<br /> Hưng > Hồng Ngự > Đức Huệ. Điều đó có<br /> nghĩa là tương ứng theo thứ tự mức thuận lợi<br /> giảm dần là: Tân Hưng> Vĩnh Hưng > Hồng<br /> Ngự > Đức Huệ. Điểm nào có giá trị môi<br /> trường cao sẽ thuộc về điểm có môi trường<br /> thuận lợi và năng suất trung bình của các giống<br /> ở điểm đó sẽ cao và ngược lại.<br /> <br /> Bảng 2.Năng suất và chỉ số môi trường của một số dòng/giống vừng, vụ Xuân Hè 2013 tại 4<br /> huyện của tỉnh Long An và Đồng Tháp<br /> TT<br /> <br /> Tên giống<br /> <br /> 1<br /> V6<br /> 2<br /> TQ36<br /> 3<br /> BB1<br /> 4<br /> ES122<br /> 5<br /> VM62<br /> 6<br /> ĐH1<br /> 7<br /> NA2<br /> 8<br /> VL<br /> 9<br /> MĐ<br /> 10 VĐ3<br /> 11 Đ.Phương (đ/c)<br /> CV (%)<br /> LSD.05<br /> Năng suất TB<br /> Chỉ số môi trường (Ij)<br /> <br /> Tân<br /> Hưng<br /> (T/ha)<br /> 1,280 a-c<br /> 1,240 a-c<br /> 1,213 a-c<br /> 1,057 bc<br /> 1,173 a-c<br /> 1,263 a-c<br /> 1,360 a<br /> 1,070 bc<br /> 1,290 ab<br /> 1,167 a-c<br /> 1,047 c<br /> 11,55<br /> 0,235<br /> 1,196<br /> 0,040<br /> <br /> Vĩnh Hưng<br /> (T/ha)<br /> 1,327 a<br /> 1,263 ab<br /> 1,240 a-c<br /> 1,080 b-d<br /> 1,150 a-d<br /> 1,287 ab<br /> 1,277 ab<br /> 1,027 d<br /> 1,247 a-c<br /> 1,170 a-d<br /> 1,043 cd<br /> 10,23<br /> 0,209<br /> 1,192<br /> 0,036<br /> <br /> Hồng<br /> Ngự<br /> (T/ha)<br /> 1,273 a<br /> 1,213 ab<br /> 1,183 a-c<br /> 0,973 d<br /> 1,073 b-d<br /> 1,307 a<br /> 1,287 a<br /> 1,027 cd<br /> 1,253 a<br /> 1.063 b-d<br /> 0,987 d<br /> 8,10<br /> 0,162<br /> 1,149<br /> -0,007<br /> <br /> Đức<br /> Huệ<br /> (T/ha)<br /> 1,195 a-c<br /> 1,258 a<br /> 1,257 a<br /> 0,859 f<br /> 1,115 cd<br /> 1,237 ab<br /> 1,157 bc<br /> 0,982 ef<br /> 1,123 cd<br /> 0,926 f<br /> 0,957f<br /> 10,01<br /> 0,188<br /> 1,087<br /> -0,069<br /> <br /> Trung bình 4 huyện<br /> NS<br /> So với đc<br /> (T/ha) T/ha (%)<br /> 0,261 25,9<br /> 1,269<br /> 0,236 23,4<br /> 1,244<br /> 1,224<br /> 0,216 21,4<br /> 1,017<br /> 0,009 0,9<br /> 1,128<br /> 0,120 11,9<br /> 0,266 26,4<br /> 1,274<br /> 0,262 26,0<br /> 1,270<br /> 1,026<br /> 0,018 1,8<br /> 1,228<br /> 0,220 21,8<br /> 1,082<br /> 0,074 7,3<br /> 1,008<br /> -<br /> <br /> Giống Đối chứng: Vừng vàng (Hồng Ngự); vừng đen (Đức Huệ); vừng trắng (Vĩnh Hưng, Tân Hưng).<br /> Năng suất của các giống vừng trong cùng 1 cột có cùng 1 chữ cái thì không khác nhau ở xác suất 99,95%<br /> theo Dulcan;<br /> <br /> - Chỉ số ổn định (s2di): Không tìm thấy<br /> giá trị ổn định (s2di) = 0. Tuy nhiên, ở cả 2 vụ<br /> Đông Xuân và Xuân Hè các giống đều có chỉ số<br /> này tiến gần tới giá trị (0) thể hiện tính ổn định.<br /> - Chỉ số thích nghi (bi): Giống có chỉ số<br /> (bi) gần tới 1, thể hiện tính thích nghi rộng là<br /> giống đối chứng (Đông Xuân), VĐ3, VL<br /> <br /> 724<br /> <br /> (Xuân Hè); các giống có chỉ số bi thích nghi<br /> với điều kiện bất thuận là MĐ, V6 (Đông<br /> Xuân); các giống khác có chỉ số thích nghi điều<br /> kiện thuận lợi. Các giống ĐH1, NA2, V6 và<br /> TQ36 cần được khuyến cáo và sản xuất theo<br /> từng điều kiện cụ thể (theo chỉ số môi trường).<br /> <br /> Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ hai<br /> <br /> Bảng 3. Phân tích chỉ số thích nghi và chỉ số ổn định của một số dòng/giống vừng trong vụ Đông<br /> Xuân và vụ Hè Thu năm 2013 tại tại 4 huyện của tỉnh Long An và Đồng Tháp<br /> Tên giống<br /> <br /> V6<br /> TQ36<br /> BB1<br /> ES122<br /> VM62<br /> ĐH1<br /> NA2<br /> VL<br /> MĐ<br /> VĐ3<br /> Địa phương (đ/c)<br /> CV (%)<br /> LSD.05<br /> <br /> Đông Xuân 2012- 2013<br /> Xuân Hè 2013<br /> Năng suất Chỉ số thích Chỉ số<br /> Năng suất Chỉ số thích Chỉ số ổn<br /> trung bình<br /> nghi<br /> ổn định<br /> trung bình<br /> nghi<br /> định<br /> (tấn/ha)<br /> (bi)<br /> (s2di)<br /> (tấn/ha)<br /> (bi)<br /> (s2di)<br /> 0,8820<br /> 0,0019 1,269 a<br /> 1,2350<br /> -0,0051<br /> 1,210 a<br /> 2,5029<br /> -0,0023 1,244 ab<br /> 1,2550<br /> -0,0090<br /> 1,235 ab<br /> 1,185 bc<br /> 1,6274<br /> -0,0027 1,224 abc<br /> 1,1206<br /> 0,0012<br /> 0, 950 e<br /> -1,4257<br /> -0,0015 1,017 d<br /> 0,9993<br /> -0,0021<br /> 1,088 cd<br /> 1,7383<br /> -0,0026 1,128 bcd<br /> 1,1327<br /> -0,0058<br /> 2,0587<br /> 0,0012 1,274 a<br /> 1,2431<br /> -0,0078<br /> 1,303 a<br /> 1,2750<br /> -0,0019 1,270 a<br /> 1,2201<br /> 0,0011<br /> 1,268 ab<br /> 0,997 de<br /> 1,4462<br /> -0,0026 1,026 d<br /> 1,0079<br /> -0,0057<br /> 1,206 ab<br /> 0,3125<br /> -0,0018 1,228 ab<br /> 1,1794<br /> -0,0012<br /> 1,057 d<br /> 1,6779<br /> -0,0027 1,082 cd<br /> 1,0176<br /> 0,0120<br /> 0,929 e<br /> -1,0955<br /> -0,0010 1,008 d<br /> 0,9900<br /> -0,0045<br /> 8,10<br /> 9,12<br /> 0,096<br /> 0,113<br /> <br /> 3.2. Ảnh hưởng của các liều lượng phân bón đến năng suất vừng<br /> Bảng 4. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến Năng suất vừng trong vụ Xuân Hè (2013, 2014)<br /> tại một số huyện thuộc tỉnh Long An và Đồng Tháp<br /> Công thức<br /> <br /> Năng suất Xuân Hè 2013<br /> Năng suất Xuân Hè 2014<br /> tấn/ha<br /> So với đối chứng<br /> tấn/ha<br /> So với đc<br /> tấn/ha<br /> (%)<br /> tấn/ha<br /> %<br /> 30 N-60P2O5-90 K2O<br /> 0,64<br /> -0,21<br /> -24,7<br /> 0,87<br /> 0,08<br /> 10,1<br /> 60 N-60 P2O5-90 K2O<br /> 0,75<br /> -0,10<br /> -11,8<br /> 0,99<br /> 0,20<br /> 25,3<br /> 90 N -60 P2O5-90 K2O<br /> 1,19<br /> 0,34<br /> 40,0<br /> 1,18<br /> 0,39<br /> 49,4<br /> 90 N-60 P2O5-60 K2O<br /> 1,09<br /> 0,24<br /> 28,2<br /> 1,10<br /> 0,31<br /> 39,2<br /> Đối chứng<br /> 0,85<br /> 0,79<br /> NS trung bình của Tân Hưng, Đức Huệ (Xuân Hè 2013); NS trung bình của Tân Hưng, Vĩnh Hưng,<br /> Hồng Ngự (Xuân Hè 2014); Đ/c Tân Hưng 61 N-66 P2O5-15 K2O; Đ/c Đức Huệ 72 N-40P2O5-30 K2O;<br /> Đc Hồng Ngự 40 N-40 P2O5-30 K2O.<br /> <br /> - Năng suất: Xét về năng suất, ở công<br /> thức bón 90 N-60 P2O5-90 K2O và 90 N-60<br /> P2O5-60 K2O đạt cao hơn ở công thức bón<br /> lượng đạm thấp 30 N-60 P2O5-90 K2O và 60<br /> N-60 P2O5-90 K2O. Năng suất ở công thức 90<br /> N-60 P2O5-90 K2O đạt trung bình từ 1,18-1,19<br /> T/ha, tăng hơn đối chứng từ 40,0-49,4%; công<br /> thức bón đối chứng của nông dân đạt năng suất<br /> từ 0,79-0,85 T/ha. Kết quả này phù hợp với<br /> nghiên cứu của Nguyễn Phụ Chu, 2001 và Ngô<br /> Thị Lam Giang, 2006.<br /> - Hiệu quả kinh tế<br /> + Nếu xét về hiệu quả đồng tiền đầu tư<br /> thì ở công thức 90 N-60 P2O5-90 K2O và 90 N-<br /> <br /> 60 P2O5-60 K2O đầu tư trung bình thấp nhất (1<br /> kg vừng đầu tư từ 14.159 đ-14.861 đ). Ở công<br /> thức bón đối chứng của nông dân có vốn đầu tư<br /> trung bình cao hơn (1 kg vừng đầu tư 17.652 đ17.996 đ). Ở công thức bón 30 N-60 P2O5-90<br /> K2O có vốn đầu tư trung bình cao nhất (1kg<br /> vừng đầu tư 18.102 đ-24.608 đ).<br /> + Xét về lợi nhuận thì ở công thức bón<br /> 90 N-60 P2O5-90 K2O trung bình của 4 huyện<br /> đạt cao nhất từ 31.531.000 đ/ha-31.941.000<br /> đ/ha, tăng hơn công thức bón đối chứng từ<br /> 60,9-73,5%. Lợi nhuận đạt thấp nhất ở công<br /> thức 30 N-60 P2O5-90 K2O đạt 10.491.000<br /> đ/ha-19.921.000 đ/ha.<br /> <br /> 725<br /> <br /> VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> Bảng 5. Hiệu quả của một số liều lượng phân bón cho cây vừng trong vụ Xuân Hè (2013; 2014)<br /> tại một số huyện thuộc tỉnh Long An và Đồng Tháp<br /> Đvt: 1.000 đ/ha/năm<br /> Công thức<br /> <br /> 30 N-60 P2O5-90 K2O<br /> 60 N-60 P2O5-90 K2O<br /> 90 N-60 P2O5-90 K2O<br /> 90 N-60 P2O5-60 K2O<br /> Đối chứng<br /> Giá bán vừng: 41.000 đ/kg<br /> <br /> Xuân Hè 2013<br /> Lợi<br /> Đầu tư/kg (%) Lợi<br /> nhuận<br /> vừng<br /> nhuận so với<br /> đ/c<br /> 10.491<br /> 24,608<br /> -47,1<br /> 14.447<br /> 21,737<br /> -27,2<br /> 31.941<br /> 14,159<br /> 60,9<br /> 28.491<br /> 14,861<br /> 43,6<br /> 19.846<br /> 17,652<br /> -<br /> <br /> Xuân Hè 2014<br /> Lợi<br /> Đầu tư/kg (%) Lợi<br /> nhuận<br /> vừng<br /> nhuận so<br /> với đ/c<br /> 19.921<br /> 18,102<br /> 9,6<br /> 24.287<br /> 16,468<br /> 33,6<br /> 31.531<br /> 14,279<br /> 73,5<br /> 28.901<br /> 14,726<br /> 59,0<br /> 18.173<br /> 17,996<br /> -<br /> <br /> 3.3. Ảnh hưởng của các thời kỳ bón phân đến năng suất vừng<br /> Bảng 6. Năng suất và lợi nhuận của vừng với các thời kỳ bón phân, vụ Xuân Hè 2014 tại 4 huyện<br /> của tỉnh Long An và Đồng Tháp<br /> Công thức<br /> <br /> Năng suất<br /> Lợi nhuận<br /> tấn/ha<br /> So với đ/c (%)<br /> 1.000 đ/ha<br /> So với đ/c (%)<br /> 1 đợt: Lót (đ/c)<br /> 0,95<br /> 22.901<br /> 2 đợt: Lót và 20 NSG<br /> 1,21<br /> 27,4<br /> 33.411<br /> 45,9<br /> 3 đợt: Lót, 20, 30 NSG<br /> 1,01<br /> 6,3<br /> 25.061<br /> 9,4<br /> 4 đợt: Lót, 20, 30, 40 NSG<br /> 0,94<br /> -1,1<br /> 22.041<br /> -3,8<br /> 5 đợt: Lót, 20, 30, 40, 50 NSG<br /> 0,71<br /> -25,3<br /> 12.461<br /> -45,6<br /> Số liệu trung bình của 4 huyện: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Đức Huệ, Hồng Ngự. Giá bán vừng: 41.000 đ/ha<br /> <br /> Qua kết quả bảng 6, nhận thấy: Ở công<br /> thức bón 2 đợt năng suất trung bình đạt 1,21<br /> T/ha, tăng hơn công thức đối chứng 27,4%. Ở<br /> công thức bón 4 đợt và 5 đợt năng suất thấp<br /> hơn, từ 0,71-0,94 T/ha. Theo Dương Minh<br /> (2005), vừng cần bón phân sớm và sử dụng các<br /> loại phân dễ tiêu. Kết quả này phù hợp với kết<br /> quả của Viện Nghiên cứu dầu thực vật, thời kỳ<br /> bón phân cho vừng hiệu quả nhất là 2 đợt: bón<br /> lót và bón thúc 20-25 ngày sau gieo.<br /> Xét về lợi nhuận, ở công thức bón 2 đợt<br /> đạt cao nhất 33.411.000 đ/ha tăng hơn công<br /> thức bón đối chứng là 45,9%, thấp nhất là công<br /> thức bón 5 đợt 12.461.000 đ/ha.<br /> 3.4. Ảnh hưởng của số lần tưới nước đến<br /> năng suất vừng<br /> Đối với vừng, gieo vào vụ Xuân Hè đây<br /> là thời gian nắng nhiều, nhiệt độ cao, không<br /> mưa, ẩm độ trung bình từ 75-78%. Vì vậy, việc<br /> tưới nước đủ ẩm cho vừng sinh trưởng phát<br /> triển là rất cần thiết, góp phần nâng cao năng<br /> suất.<br /> <br /> 726<br /> <br /> Qua kết quả thực hiện, nhận thấy: Ở<br /> công thức tưới 6 lần (1, 10, 20, 30, 40, 50<br /> NSG), năng suất trung bình đạt cao nhất 0,95<br /> T/ha. Ở công thức tưới 1 lần (1 NSG), vừng<br /> sinh trưởng rất kém, năng suất đạt 0,31 T/ha.<br /> Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Dan<br /> Burden, 2005: Vừng là cây chịu hạn, nhưng<br /> khô hạn cũng là yếu tố làm giảm năng suất và<br /> sản lượng, cả giai đoạn sinh trưởng vừng cần<br /> lượng mưa tối thiểu 50-70 mm, nhất là giai<br /> đoạn nảy mầm, cây con và ra hoa.<br /> Xét về lợi nhuận, ở công thức tưới 6 lần<br /> đạt cao nhất 23.000.000 đ/ha, còn đối với các<br /> công thức tưới 1, 2 (1, 10 NSG) và 3 lần (1, 10,<br /> 20 NSG) nhìn chung lợi nhuận tương đối thấp,<br /> từ 2.381.000 đ-8.091.000 đ/ha.<br /> 3.5. Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến<br /> năng suất vừng<br /> Ở công thức thu hoạch 70 ngày sau gieo<br /> đối với giống vừng trắng V6 và vừng đen ĐH1<br /> năng suất ở 4 huyện đều đạt khá cao từ 1,021,19 T/ha. Ở cả 2 giống vừng trắng V6 và vừng<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2