intTypePromotion=1

Nghiên cứu phương pháp ghép màng ối điều trị loét Mooren

Chia sẻ: ViHinata2711 ViHinata2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
17
lượt xem
0
download

Nghiên cứu phương pháp ghép màng ối điều trị loét Mooren

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Loét Mooren là một bệnh hiếm gặp, vấn đề nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh lý này cho tới nay vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ, nên đây vẫn là một bệnh lý gây rất nhiều khó khăn trong điều trị đối với các nhà nhãn khoa. Bài viết tập trung trình bày việc đánh giá hiệu quả của phương pháp ghép màng ối điều trị loét Mooren.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu phương pháp ghép màng ối điều trị loét Mooren

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP GHÉP MÀNG ỐI<br /> ĐIỀU TRỊ LOÉT MOOREN<br /> HOÀNG MINH CHÂU<br /> <br /> Bệnh Viện Mắt Trung Ương<br /> NGUYỄN ĐÌNH NGÂN<br /> <br /> Học Viện Quân Y<br /> TÓM TẮT<br /> Loét Mooren là một bệnh hiếm gặp, vấn đề nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh<br /> của bệnh lý này cho tới nay vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ, nên đây vẫn là một bệnh lý gây<br /> rất nhiều khó khăn trong điều trị đối với các nhà nhãn khoa.<br /> Chúng tôi tiến hành phẫu thuật ghép màng ối trên 16 mắt của 13 bệnh nhân loét<br /> Mooren: 11 nam, 2 nữ (không đáp ứng với các biện pháp điều trị khác) tại khoa KếtGiác Mạc (Bệnh viện Mắt TƯ) từ 1/2005 – 9/2006. Kết quả 87,5% (14/16 trường hợp)<br /> đạt kết quả tốt sau 6 tháng, thời gian bắt đầu biểu mô hóa là từ 1 đến 7 ngày (trung<br /> bình 3 ± 1,69 ngày), thời gian biểu mô hóa hoàn toàn là từ 5 đến 30 ngày (trung bình<br /> 13,8 ± 6,76 ngày).<br /> Kết luận: ghép màng ối là phương pháp đơn giản, có hiệu quả trong điều trị loét<br /> Mooren.<br /> <br /> Loét Mooren là một bệnh hiếm<br /> gặp, được đề cập đầu tiên bởi Bowman<br /> (1849) và Mc Kenzie (1854), nhưng đến<br /> năm 1867 bệnh lý này mới được bác sỹ<br /> Albert Mooren mô tả chi tiết đặc điểm<br /> lâm sàng phân biệt với các bệnh lý khác<br /> của giác mạc. Tuy nhiên vấn đề nguyên<br /> nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh lý<br /> này cho tới nay vẫn chưa hoàn toàn sáng<br /> tỏ, nên đây vẫn là một bệnh lý gây rất<br /> nhiều khó khăn trong điều trị đối với các<br /> nhà nhãn khoa. Gần 150 năm qua đã có<br /> nhiều phương pháp điều trị loét Mooren<br /> được đưa ra, nhưng cho tới nay vẫn chưa<br /> có phương pháp nào thực sự đạt hiệu quả<br /> như mong muốn. Có hai lý do giải thích<br /> <br /> điều này: thứ nhất, đây là bệnh lý rất<br /> nặng nề, cơ chế bệnh sinh phức tạp, chưa<br /> hoàn toàn rõ ràng; thứ hai, loét Mooren<br /> là bệnh lý hiếm gặp vì vậy không thể tiến<br /> hành các thử nghiệm lâm sàng mù ngẫu<br /> nhiên để so sánh chính xác hiệu quả các<br /> phương pháp điều trị này.<br /> Hiện nay đa số các nhà nhãn khoa<br /> đều thống nhất một số phương pháp<br /> chính trong điều trị loét Mooren:<br /> Thuốc nhóm steroid: đường tại chỗ<br /> và toàn thân.<br /> Cắt gọt kết giác mạc qua rìa (có thể<br /> kết hợp với gọt giác mạc nông).<br /> Thuốc ức chế miễn dịch: đường tại<br /> chỗ và toàn thân (hiện nay Cyclosporin<br /> <br /> 74<br /> <br /> A là thuốc đang được nghiên cứu và ứng<br /> dụng cho hiệu quả tốt).<br /> Các phẫu thuật phối hợp: ghép giác<br /> mạc lớp nông có vành củng mạc, ghép<br /> giác mạc xuyên...<br /> Tuy vậy vẫn còn nhiều trường hợp<br /> không đáp ứng với các biện pháp điều trị<br /> trên dẫn đến mù loà.<br /> Gần đây, việc ứng dụng màng ối<br /> trong điều trị các tổn thương và phục hồi<br /> bề mặt nhãn cầu đang bắt đầu được rất<br /> nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên<br /> cứu. Với những đặc tính ưu việt, màng ối<br /> đã chứng tỏ là nguyên liệu quý báu, rất<br /> có giá trị trong các bệnh lý khác nhau:<br /> điều trị loét giác mạc khó hàn gắn, thoái<br /> hoá giác mạc dải băng, phục hồi bề mặt<br /> nhãn cầu trong điều trị dính mi cầu và xơ<br /> co kết mạc nặng do bỏng, do hội chứng<br /> Steven-Johson, do mộng thịt....Hiện nay<br /> màng ối còn được sử dụng trong nuôi<br /> cấy tế bào biểu mô vùng rìa giác mạc.<br /> Việc sử dụng màng ối trong loét<br /> Mooren cũng đã được một số tác giả<br /> thực hiện. Hanada (2001), Solomon<br /> (2002) đã sử dụng ghép màng ối một<br /> hay nhiều lớp điều trị loét giác mạc dọa<br /> thủng và thủng nhỏ cho kết quả tốt.<br /> Trong số bệnh nhân của mỗi nghiên cứu<br /> chỉ có một trường hợp loét Mooren, việc<br /> ghép màng ối trên các bệnh nhân này<br /> cũng cho hiệu quả tốt, tuy nhiên các tác<br /> giả không có bàn luận về cơ chế của<br /> ghép màng ối trong các trường hợp này.<br /> Năm 2004, Ko-Hua Chen và cộng<br /> sự công bố kết quả sử dụng màng ối phối<br /> hợp phủ kết mạc điều trị một bệnh nhân<br /> loét Mooren thủng, tuy nhiên ổ loét tái<br /> phát xuất hiện sau 2 tháng. Các tác giả<br /> <br /> nhận thấy sau khi ổ loét được gọt hết tổ<br /> chức kết mạc đã phủ, ghép bổ sung màng<br /> ối thì bệnh ổn định.<br /> Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi<br /> tiến hành nghiên cứu với mục đích đánh<br /> giá hiệu quả của phương pháp ghép<br /> màng ối điều trị loét Mooren.<br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> 1.<br /> Đối tượng:<br /> Chúng tôi tiến hành nghiên cứu<br /> trên các bệnh nhân loét Mooren được<br /> điều trị tại khoa Kết-Giác Mạc (Bệnh<br /> viện Mắt TW) từ 1/2005 – 9/2006, với<br /> các tiêu chuẩn:<br /> Bệnh nhân mắc bệnh lần đầu tiên,<br /> điều trị nội khoa không kết quả.<br /> Bệnh nhân xuất hiện bệnh tái phát<br /> sau khi đã được điều trị bằng các phương<br /> pháp khác.<br /> Tiêu chuẩn loại trừ:<br /> Tình trạng nhiễm trùng ổ loét chưa<br /> cho phép phẫu thuật.<br /> Loét thủng lớn, đường kính ổ loét<br /> >3mm<br /> Bệnh nhân không chấp nhận phẫu<br /> thuật hoặc có bệnh toàn thân nặng không<br /> bảo đảm cho phẫu thuật.<br /> 2.<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu:<br /> Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu<br /> tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng không đối<br /> chứng, đánh giá kết quả trên từng bệnh<br /> nhân.<br /> Chuẩn bị màng ối:<br /> Màng ối được lấy từ bánh rau sản<br /> phụ được mổ lấy thai tại Viện QY 103,<br /> Viện bảo vệ Bà mẹ và trẻ sơ sinh. Cách<br /> <br /> 75<br /> <br /> thức chuẩn bị và bảo quản theo phương<br /> pháp đã được mô tả theo Tsubota (1995).<br /> Quy trình phẫu thuật<br /> Tê cạnh nhãn cầu bằng Xylocain<br /> 2%, phối hợp tê bề mặt Dicain 1%.<br /> Cắt vành kết mạc nhãn cầu cạnh ổ<br /> loét rộng khoảng 3 - 4mm (thường hết phần<br /> kết mạc phù dày cao), ở 2 đầu cách đầu ổ<br /> loét khoảng 1 giờ kinh tuyến. Phẫu tích kết<br /> mạc bệnh lý khỏi củng mạc phía dưới đến<br /> sát rìa, đốt cầm máu.<br /> Gọt ổ loét đi dọc theo chu vi giác<br /> mạc lấy hết toàn bộ ổ loét, qua vùng rìa<br /> và một phần thượng củng mạc cùng phần<br /> kết mạc bệnh lý. Chiều sâu lấy hết đáy ổ<br /> loét, và phần mạch máu xâm nhập vào<br /> (loét toàn bộ chu vi giác mạc thì gọt toàn<br /> bộ diện giác mạc, kể cả vùng giác mạc<br /> chưa loét ở trung tâm).<br /> Lấy màng ối, đặt lên bề mặt ổ loét<br /> đã gọt sạch theo chiều biểu mô quay lên<br /> trên, diện màng ối phủ ra củng mạc<br /> khoảng 3-4 mm, tùy độ sâu mà ghép 1<br /> hoặc 2 lớp.<br /> Khâu cố định chỉ 10/0 nylon mũi<br /> rời, đặt kính tiếp xúc.<br /> Tra Betadin 5%, tiêm cạnh nhãn<br /> cầu<br /> gentamycin<br /> 1/2ml<br /> (20mg),<br /> hydrocortison 1/2ml (12,5mg).<br /> Bệnh nhân được khám hàng ngày<br /> trong thời gian nằm viện, và hàng tháng<br /> sau phẫu thuật.<br /> Đánh giá kết quả phẫu thuật.<br /> *Tốt:<br /> <br /> Ổ loét biểu mô hoá hoàn toàn,<br /> màng ối phẳng, bóng.<br /> Tân mạch chỉ đến vùng rìa, hoặc<br /> xâm nhập vào màng ối một khu vực nhỏ,<br /> không cương tụ.<br /> Mắt hết kích thích.<br /> *Trung bình:<br /> Ổ loét biểu mô hoá hoàn toàn<br /> Màng ối gồ ghề, đục<br /> Tân mạch gần toàn bộ màng ối,<br /> cương tụ<br /> Mắt kích thích nhẹ<br /> *Kém:<br /> Ổ loét không biểu mô hoá được,<br /> hoặc loét tái phát<br /> Màng ối bong hoặc loét trên màng<br /> ối<br /> Mắt kích thích<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Chúng tôi tiến hành phẫu thuật cho<br /> 16 mắt của 13 bệnh nhân (11 nam, 2<br /> nữ), tuổi từ 28 đến 75 trung bình 53,42 ±<br /> 16,22<br /> Tất cả các mắt trước mổ đều đã<br /> được điều trị bằng kháng sinh phối hợp<br /> với corticoid tra mắt nhưng không đỡ,<br /> trong đó có 5 mắt đã sau ghép vành củng<br /> giác mạc rìa (2 mắt đã gọt kết giác mạc<br /> rìa trước đó).<br /> Trong 16 mắt có: 10 mắt bị lần đầu<br /> tiên; 6 mắt tái phát: 2 mắt tái phát lần 1,<br /> 3 mắt tái phát lần 2, 1 mắt tái phát lần 3<br /> <br /> Bảng 1: Hình thức ghép và số lớp ghép.<br /> <br /> 76<br /> <br /> Hình thức<br /> Số lớp màng ối<br /> <br /> < 180 độ<br /> <br />  180 độ<br /> <br /> Ghép phủ<br /> toàn bộ<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> 2<br /> 2<br /> 4<br /> <br /> 4<br /> 3<br /> 7<br /> <br /> 1<br /> 4<br /> 5<br /> <br /> 7<br /> 9<br /> 16<br /> <br /> Một lớp<br /> Hai lớp<br /> Tổng số PT<br /> <br /> Thời gian bắt đầu biểu mô hóa: từ 1<br /> đến 7 ngày (3,00 ± 1,69 ngày).<br /> <br /> Thời gian biểu mô hóa hoàn toàn:<br /> từ 5 đến 30 ngày (13,80 ± 6,76 ngày)<br /> <br /> Bảng 2: Kết quả phẫu thuật ở các thời điểm<br /> Thời gian<br /> Kết quả<br /> Tốt<br /> Trung bình<br /> Kém<br /> <br /> Xuất viện<br /> <br /> 1 tháng<br /> <br /> 3 tháng<br /> <br /> 6 tháng<br /> <br /> 4<br /> 12<br /> <br /> 8<br /> 8<br /> <br /> 13<br /> 2<br /> 1<br /> <br /> 14<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Thời gian theo dõi: từ 7 đến 20<br /> tháng (12,67± 5,02 tháng)<br /> Theo nghiên cứu của chúng tôi sau<br /> phẫu thuật 6 tháng tình trạng mắt tương<br /> đối ổn định, có 1 ca xuất hiện phản ứng<br /> viêm và loét trên màng ối sau phẫu thuật<br /> <br /> 3 tháng, nhưng đáp ứng với điều trị ghép<br /> lần 2. Tuy nhiên giác mạc biểu mô hóa<br /> rất chậm (biểu mô hóa hoàn toàn sau 4<br /> tháng, tính từ phẫu thuật lần<br /> 2).......................................................<br /> <br /> Bảng 3: Thị lực sau mổ (đã chỉnh kính).<br /> <br /> Thị lực<br /> <br /> < ĐNT 3m<br /> <br /> Trước mổ<br /> Sau mổ 1<br /> tháng<br /> Sau mổ 3<br /> tháng<br /> Sau mổ 6<br /> tháng<br /> <br /> 4<br /> <br /> ĐNT3m–<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2