intTypePromotion=3

Nghiên cứu sự hài lòng của du khách khi sử dụng dịch vụ lặn biển tại thành phố Nha Trang

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
28
lượt xem
0
download

Nghiên cứu sự hài lòng của du khách khi sử dụng dịch vụ lặn biển tại thành phố Nha Trang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách đối với dịch vụ lặn biển tại thành phố Nha Trang. Phỏng vấn nhóm chuyên gia về dịch vụ lặn biển và nhóm du khách từng tham gia dịch vụ lặn biển, kết hợp nghiên cứu cơ sở lý thuyết đã được sử dụng để phát triển danh sách các thuộc tính ảnh hưởng đến việc đánh giá sự hài lòng của du khách.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu sự hài lòng của du khách khi sử dụng dịch vụ lặn biển tại thành phố Nha Trang

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2015<br /> <br /> KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC<br /> <br /> NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH<br /> KHI SỬ DỤNG DỊCH VỤ LẶN BIỂN TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG<br /> A RESEARCH ON TOURISTS’ SATISFACTION<br /> WHEN USING DIVING SERVICE IN NHA TRANG CITY<br /> Trần Quốc Phương1, Đỗ Thị Thanh Vinh2<br /> Ngày nhận bài: 14/3/2015; Ngày phản biện thông qua: 22/4/2015; Ngày duyệt đăng: 10/6/2015<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách đối với dịch vụ lặn biển tại<br /> thành phố Nha Trang. Phỏng vấn nhóm chuyên gia về dịch vụ lặn biển và nhóm du khách từng tham gia dịch vụ lặn biển,<br /> kết hợp nghiên cứu cơ sở lý thuyết đã được sử dụng để phát triển danh sách các thuộc tính ảnh hưởng đến việc đánh giá<br /> sự hài lòng của du khách. Mẫu thuận tiện với 235 du khách sử dụng dịch vụ lặn biển tại thành phố Nha Trang được thu<br /> thập (gồm du khách trong nước và nước ngoài), với khoản thời gian thực hiện từ tháng 6 đến tháng 9/2014. Du khách được<br /> yêu cầu đánh giá sự hài lòng thông qua bản câu hỏi chi tiết. Thông qua phương pháp Cronbach alpha và phân tích yếu tố<br /> khám phá EFA để đánh giá thang đo. Sau đó, dùng phương pháp hồi quy đa biến để thấy mối ràng buộc giữa các nhân tố<br /> với sự hài lòng của du khách. Kết quả phân tích cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đển sự hài lòng của du khách khi tham<br /> gia dịch vụ lặn biển: (i) Tin cậy; (ii) Năng lực phục vụ; (iii) Phương tiện hữu hình; (iv) Sự hấp dẫn của sinh vật biển; (v)<br /> Cảm nhận từ dịch vụ mạo hiểm. Các nhân tố này có ảnh hưởng tích cực đối với sự hài long của du khách khi tham gia dịch<br /> vụ lặn biển tại Nha Trang.<br /> Từ khóa: Sự hài lòng, du khách, dịch vụ lặn biển, thành phố Nha Trang<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The objective of the study was to determine the factors affecting the satisfaction of tourists for diving services in Nha<br /> Trang city. Interview Expert Group on diving services and tour groups participated in diving services, combining theoretical<br /> research facility has been used to develop a list of attributes affect the assessment of satisfaction crush of tourists. 235<br /> visitors (including tourists in the country and foreigners) interviewed about of diving services in Nha Trang, who were<br /> collecte. In terms of time interview from June to Setember, 2014. Tourists are asked to rate satisfaction through detailed<br /> questionnaires. Through the method Cronbach alpha and factor analysis to explore EFA assessment scale. Then, using<br /> multivariate regression methods to find ties between these factors with the satisfaction of tourists. Results of the analysis<br /> showed that 5 factors influencing satisfaction of tourists joining diving services: (i) the Trust; (ii) The capacity to serve; (iii)<br /> tangible media; (iv) The attraction of marine organisms; (v) Comments from services venture. These factors have a positive<br /> effect on satisfaction of tourists joining diving services in Nha Trang.<br /> Keywords: Satisfaction, Tourists, diving services, Nha Trang city<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Trong những năm gần đây, ngành du lịch biển<br /> tại thành phố biển Nha Trang có những bước phát<br /> triển vượt bậc về dịch vụ, sản phẩm, đặc biệt là sự<br /> phát triển của dịch vụ lặn biển; phục vụ tốt các đối<br /> tượng khách trong và ngoài nước, góp phần quảng<br /> bá hình ảnh thành phố biển Nha Trang với du khách<br /> trong và ngoài nước.<br /> 1<br /> 2<br /> <br /> Hiện tại có 11 đơn vị tổ chức bơi lặn biển tại Nha<br /> Trang, trong đó có một số Huấn luyện viên từ nước<br /> ngoài. Hầu hết họ là thành viên của Hiệp hội bơi lặn<br /> PADI và hoạt động theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt của<br /> tổ chức. Các Trung tâm đều có chương trình dịch<br /> vụ giống nhau bao gồm: tổ chức các tour lặn biển,<br /> tổ chức các khóa học lặn biển theo tiêu chuẩn, các<br /> dịch vụ phụ trợ kèm theo dịch vụ lặn biển.<br /> <br /> Trần Quốc Phương: Cao học Quản trị kinh doanh 2012 - Trường Đại học Nha Trang<br /> TS. Đỗ Thị Thanh Vinh: Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> 156 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> Tuy nhiên, du khách còn phàn nàn về dịch vụ,<br /> năng lực phục vụ, cảnh quan thiên nhiên địa điểm<br /> lặn biển, tính mạo hiểm của dịch vụ. Làm thế nào<br /> để dịch vụ lặn biển tại thành phố Nha Trang ấn<br /> tượng trong lòng du khách trong và ngoài nước khi<br /> tham gia dịch vụ là vấn đề quan trọng. Vì vậy, việc<br /> “nghiên cứu sự hài lòng của du khách khi sử dụng<br /> dịch vụ lặn biển tại TP. Nha Trang’’ là cần thiết.<br /> II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu<br /> Đối tượng nghiên cứu: sự hài lòng của du<br /> khách khi sử dụng dịch vụ lặn biển tại thành phố<br /> Nha Trang.<br /> Đối tượng khảo sát: du khách địa phương trong<br /> nước và du khách nước ngoài sử dụng dịch vụ lặn<br /> biển tại thành phố Nha Trang.<br /> Phạm vi nghiên cứu: tại thành phố Nha Trang,<br /> từ tháng 06 đến tháng 09/2014.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> Nghiên cứu này được thực hiện thông qua 2<br /> bước chính: nghiên cứu sơ bộ thông qua phương<br /> pháp định tính và nghiên cứu chính thức thông qua<br /> phương pháp định lượng. Nghiên cứu sơ bộ được<br /> thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính<br /> với kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn thử. Mục<br /> đích của nghiên cứu này dùng để điều chỉnh và bổ<br /> sung thang đo. Nghiên cứu chính thức được thực<br /> hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng.<br /> Dùng kỹ thuật thu thập thông tin bằng cách gửi bảng<br /> câu hỏi du khách sử dụng dịch vụ lặn biển tại thành<br /> phố Nha Trang<br /> Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu<br /> thuận tiện. Có nghiên cứu chỉ ra rằng kích thước<br /> mẫu tới hạn phải là 200, có nghiên cứu khác cho<br /> rằng để có thể phân tích nhân tố khám phá cần thu<br /> thập dữ liệu với kích thước mẫu tối thiểu là 5 mẫu<br /> cho một biến quan sát. Gần với quan điểm này là<br /> ý kiến cho rằng thông thường thì số quan sát (cỡ<br /> mẫu) ít nhất phải bằng 4 hay 5 lần số biến trong<br /> phân tích nhân tố (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn<br /> Mộng Ngọc, 2005). Nghiên cứu lấy số lượng điều<br /> tra với số lượng 235 mẫu là đạt yêu cầu.<br /> Nghiên cứu sử dụng phương pháp Cronbach<br /> alpha để đánh giá thang đo thông qua hệ số Cronbach<br /> Alpha để loại các biến rác. Các biến có hệ số tương<br /> quan biến - biến tổng nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại và tiêu<br /> chuẩn chon thang đó khi nó có hệ số Cronbach Alpha<br /> <br /> Số 2/2015<br /> từ 0,6 trở lên có thể sử dụng được trong trường<br /> hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối<br /> với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu (Hoàng<br /> Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005)<br /> Tiếp theo, nghiên cứu tiến hành phân tích EFA.<br /> Sau đó, dùng phương pháp hồi quy đa biến để thấy<br /> mối quan hệ ràng buộc giữa các nhân tố với sự hài<br /> lòng của du khách.<br /> 3. Mô hình đề xuất<br /> 3.1. Một số nghiên cứu liên quan<br /> Nghiên cứu của Salih (2002) cho thấy “Năng<br /> lực phục vụ”; "Chất lượng trang thiết bị phục vụ lặn<br /> biển” là những thành phần có tác động dương đến<br /> sự hài lòng của du khách. Đó chính là cách mà đơn<br /> vị cung cấp dịch vụ tiếp xúc với du khách, là hình<br /> ảnh - thương hiệu của dịch vụ và là ấn tượng để lại<br /> trong lòng du khách.<br /> Theo Millington (2001) du lịch mạo hiểm là một<br /> hoạt động giải trí đến những nơi khác thường, kỳ lạ,<br /> xa xôi hay hoang dã. Nó được kết hợp với những<br /> hoạt động ở trình độ cao của người tham gia, hầu<br /> hết các hoạt động này là ở bên ngoài. Những người<br /> du lịch mạo hiểm kỳ vọng sẽ được trải nghiệm nhiều<br /> sự rủi ro, kích thích, và sự lặng lẽ và những bài tự<br /> kiểm tra về bản thân. Đó là sự khám phá những<br /> vùng đất mới trên hành tinh và thử thách bản thân.<br /> Nghiên cứu của Musa (2002) cho thấy 5 thành<br /> phần: “Dịch vụ”; “Thực phẩm và nơi nghỉ”; “Môi<br /> trường”; “Sự an toàn” và “Sinh vật dưới nước” là<br /> yếu tố tác động đến sự hài lòng tổng thể của các thợ<br /> lặn tại Layang Layang, trong đó nhân tố “Sinh vật<br /> dưới nước” là thành phần quan trọng nhất tác động<br /> đến sự hài lòng của các thợ lặn tại Layang Layang.<br /> 3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất<br /> Theo Tribe và Snaithe (1998) có ba công cụ<br /> nghiên cứu chính đã được phát triển để phân tích<br /> các khái niệm về chất lượng và sự hài lòng của<br /> người tiêu dùng. Đây là tầm quan trọng hiệu suất,<br /> SERVQUAL (chất lượng dịch vụ) và SERVPERF<br /> (thực hiện dịch vụ). Sau khi điều tra thí điểm về<br /> du lịch tại Varadero, Cuba vào năm 1998. Tribe và<br /> Snaith phát triển công cụ thứ tư gọi là HOLSAT (sự<br /> hài lòng của kỳ nghỉ). Tuy nhiên, đo lường gấp đối<br /> kỳ vọng và thực hiện một lần nữa là khá phức tạp và<br /> có thể gây nhầm lẫn cho người trả lời.<br /> Từ nghiên cứu của Salih (2002), của Millington<br /> (2001), Musa (2002) và thảo luận với các chuyên<br /> gia, thực tế loại hình lặn biển tại Nha Trang, tác giả<br /> đề xuất mô hình như hình 1.<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 157<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2015<br /> <br /> Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất<br /> <br /> Sự tin cậy: Du khách đánh giá độ tin cậy càng<br /> cao thì sẽ làm gia tăng mức độ hài lòng của họ, thể<br /> hiện qua sự đúng hẹn, đúng những gì đã cam kết<br /> với du khách càng cao thì càng làm tăng mức độ hài<br /> lòng của du khách.<br /> Năng lực phục vụ: Du khách đánh giá năng<br /> lực phục vụ càng cao thì sẽ làm gia tăng mức độ<br /> hài lòng của họ, thể hiện qua sự tin tưởng giữa du<br /> khách với đơn vị cung cấp dịch vụ thông qua tính<br /> chuyên nghiệp, trách nhiệm, tự tin và lịch thiệp của<br /> đơn vị cung cấp dịch vụ.<br /> Phương tiện hữu hình: Du khách đánh giá<br /> tính hữu hình càng cao thì sẽ làm gia tăng mức độ<br /> hài lòng của họ, được thể hiện qua ngoại hình, trang<br /> phục của hướng dẫn viên, trang thiết bị lặn biển.<br /> Sự hấp dẫn của sinh vật biển: Sinh vật biển<br /> thể hiện qua cảnh quan thiên nhiên nơi lặn biển,<br /> cảnh quan thiên nhiên càng đẹp, càng đa dạng,<br /> nhiều cái mới lạ sẽ tạo sự hài lòng cho du khách<br /> Cảm nhận từ dịch vụ mạo hiểm: Những du<br /> khách rất yêu thích các dịch vụ mang tính mạo<br /> hiểm. Du khách đánh giá tính mạo hiểm cao sẽ gia<br /> tăng mức độ hài lòng của họ. Được thể hiện qua địa<br /> hình, cảm giác mạnh, thách thức,...<br /> III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> 1. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ<br /> số Cronbach Alpha<br /> Kết quả đánh giá độ tin cậy có thấy, thang đo “Sự<br /> tin cậy” có hệ số Cronbach alpha là 0,747; thang đo<br /> “Năng lực phục vụ”: 0,845; thang đo “Phương tiện<br /> hữu hình”: 0,824; thang đo “Sự hấp dẫn từ sinh vật<br /> <br /> 158 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> biển”: 0,834; thang đo “Cảm nhận từ dịch vụ mạo<br /> hiểm”: 0,840; thang đo “Sự hài lòng”: 0,767.<br /> Như vậy các thang đo đều có độ tin cậy cần<br /> thiết và được sử dụng cho phân tích nhân tố khám<br /> phá ở bước tiếp theo.<br /> 2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA<br /> + EFA biến độc lập<br /> Phân tích EFA đã sử dụng phương pháp trích<br /> nhân tố Principal Axis Factoring với phép quay<br /> Varimax cho đối tượng áp dụng là các thang đo<br /> lường đa hướng (các biến tác động). Với chỉ<br /> báo được sử dụng ở quan sát ban đầu, kết quả<br /> chọn lọc được biến quan sát có hệ số tải nhân tố<br /> (Factor loading) lớn hơn tiêu chuẩn cho phép (> 0,5).<br /> Đồng thời, kiểm định Bartlett cho thấy giữa các biến<br /> trong tổng thể có mối tương quan với nhau (mức ý<br /> nghĩa sig = 0,000 < 0,05) với hệ số KMO = 0,775<br /> (0,5 < KMO < 1), hệ số trích tại eigenvalue là 2,065<br /> chứng tỏ phân tích EFA cho việc nhóm các biến<br /> quan sát này lại với nhau là thích hợp. Kết quả EFA<br /> cho thấy tổng phương sai trích là 66,60% tức là khả<br /> năng sử dụng yếu tố này để giải thích cho biến quan<br /> sát là 66,60% (> 50%).<br /> + EFA biến phụ thuộc<br /> Thang đo Hài lòng: Chỉ số KMO trong thang<br /> đo này có KMO = 0,687, mức ý nghĩa sig = 0,000<br /> < 0,05, hệ số trích tại eigenvalue là 2,049 chứng<br /> tỏ phân tích EFA cho việc nhóm các biến quan sát<br /> này lại với nhau là thích hợp. Kết quả EFA cho thấy<br /> tổng phương sai trích là 86,86%, tức là khả năng sử<br /> dụng yếu tố này để giải thích cho biến quan sát là<br /> 86,86% (> 50%).<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2015<br /> <br /> 3. Kết quả phân tích tương quan<br /> Bảng 1. Ma trận tương quan<br /> Hệ số tương quan<br /> <br /> Các Thang đo<br /> <br /> HL<br /> <br /> PV<br /> <br /> SV<br /> <br /> MH<br /> <br /> HH<br /> <br /> TC<br /> <br /> Sự Hài Lòng<br /> (HL)<br /> <br /> Hệ số tương quan<br /> Mức ý nghĩa<br /> <br /> 1<br /> <br /> Năng lực phục vụ<br /> (PV)<br /> <br /> Hệ số tương quan<br /> Mức ý nghĩa<br /> <br /> 0.163*<br /> 0.013<br /> <br /> 1<br /> <br /> Sự hấp dẫn từ Sinh vật<br /> Biển (SV)<br /> <br /> Hệ số tương quan<br /> Mức ý nghĩa<br /> <br /> 0.482**<br /> 0.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 1<br /> <br /> Cảm nhận từ dịch vụ<br /> mạo hiểm (MH)<br /> <br /> Hệ số tương quan<br /> Mức ý nghĩa<br /> <br /> 0.293**<br /> 0.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 1<br /> <br /> Phương tiện Hữu hình<br /> (HH)<br /> <br /> Hệ số tương quan<br /> Mức ý nghĩa<br /> <br /> 0.180**<br /> 0.006<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 1<br /> <br /> Tin cậy<br /> (TC)<br /> <br /> Hệ số tương quan<br /> Mức ý nghĩa<br /> <br /> 0.313**<br /> 0.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 0.000<br /> 1.000<br /> <br /> 1<br /> <br /> Số quan sát: n = 235<br /> * Tất cả các hệ số tương quan có ý nghĩa thống kê tại p 0,05. Điều này cho phép khẳng định không có sự<br /> khác nhau về Sự hài lòng giữa giữa các nhóm giới<br /> tính, quốc tịch, thu nhập, độ tuổi.<br /> IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ<br /> 1. Kết luận<br /> Nghiên cứu sự hài lòng của du khách khi sử<br /> dụng dịch vụ lặn biển tại thành phố Nha Trang được<br /> thực hiện theo mô hình chất lượng dịch vụ và sự<br /> hài lòng khách hang SERVPERE của J, Joseph<br /> Cronin.Jr và Steven A.Taylor (1992) và các nghiên<br /> cứu trước đây. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5<br /> nhân tố tác động tích cực đến sự hài lòng của du<br /> khách đó là: Tin cậy, Năng lực phục vụ, Phương tiện<br /> hữu hình, Sự hấp dẫn của sinh vật biển, cảm nhận<br /> từ dịch vụ mạo hiểm.<br /> Tuy nhiên, nghiên cứu còn một số hạn chế:<br /> Thứ nhất, mô hình nghiên cứu chỉ được kiểm<br /> định tại thành phố Nha Trang nên tính tổng quát<br /> hóa không cao. Hơn nữa, thị trường thành phố Nha<br /> Trang có những khác biệt so với thị trường ở những<br /> khu vực khác của Việt Nam, như khác biệt về số<br /> lượng du khách, về quê quán của du khách, khác<br /> biệt về cảnh quan thiên nhiên, các dịch vụ phụ trợ đi<br /> kèm dịch vụ lặn biển, các nhân tố khác ảnh hưởng<br /> đến dịch vụ lặn biển. Vì vậy, nên tiếp tục nghiên cứu<br /> trên nhiều địa bàn khách của Việt Nam để gia tăng<br /> tính tổng quát của mô hình nghiên cứu này, đây<br /> cũng là hướng nghiên cứu tiếp theo.<br /> <br /> 160 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Số 2/2015<br /> Thứ hai, số lượng biến quan sát trong nghiên<br /> cứu còn hạn chế, số lượng biến quan sát vừa đủ để<br /> sử dụng phương pháp phân tích. Do đó nghiên cứu<br /> tiếp theo cần bổ sung thêm nhiều biến quan sát hơn<br /> nữa để có thể làm rõ được các yếu tố tác động đến<br /> sự hài lòng của du khách.<br /> Thứ ba, phương pháp chọn mẫu này là phương<br /> pháp chọn mẫu thuận tiện nên ta không thể đo<br /> lường sai số mẫu và khả năng tổng quát hóa thấp.<br /> Vì thế, trong nghiên cứu tiếp theo cũng cần khắc<br /> phục vấn đề này.<br /> 2. Kiến nghị<br /> Từ kết quả nghiên cứu ở trên, tác giả đưa ra<br /> một số gợi ý và giải pháp để gia tăng sự hài lòng<br /> của du khách khi tham gia sử dụng dịch vụ lặn biển<br /> tại Nha Trang.<br /> Chính sách 1: Bảo vệ môi trường thiên nhiên<br /> hiện có và đồng thời tìm kiếm những cảnh quan<br /> thiên nhiên mới.<br /> - Các đơn vị cung cấp dịch vụ cần chú trọng đến<br /> việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường, sinh<br /> vật dưới biển. Tránh để xảy ra tình trạng ô nhiễm<br /> môi trường, cảnh quan thiên nhiên bị phá hoại khi<br /> du khách tham gia sử dụng dịch vụ.<br /> - Ngoài ra cần tìm kiếm những cảnh quan thiên<br /> nhiên, môi trường mới. Tại Vịnh Nha Trang có nhiều<br /> cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, kỳ thú đặc biệt là tại<br /> đảo Hòn Mun, bè nổi Labixia đây là hai địa điểm mà<br /> các đơn vị tổ chức hay đưa du khách đến đây để<br /> khám phá, để ngắm vẻ đẹp dưới biển. Tuy nhiên, đó<br /> chưa phải là nơi đẹp nhất tại Vịnh Nha Trang, còn<br /> nhiều nơi như Hòn Một, Đảo Trí Nguyên,... là những<br /> hòn đảo chỉ mới được khai thác. Các đơn vị cung<br /> cấp dịch vụ, cần tìm tòi, khám phá những cảnh quan<br /> thiên nhiên ở những nơi này từ đó có thể thiết kế<br /> những tour du lịch lặn biển, giới thiệu được cho du<br /> khách khi tham gia lặn biển biết đến làm tăng chất<br /> lượng dịch vụ lặn biển tại Nha Trang.<br /> Chính sách 2: Tạo cho du khách cảm nhận<br /> được sự mạo hiểm của dịch vụ lặn biển<br /> - Tạo cho du khách cảm giác mạo hiểm khi<br /> tham gia dịch vụ lặn biển như: khám phá những địa<br /> điểm lặn biển có địa hình hiểm trở, có độ sâu tương<br /> đối. Nhìn tận mắt những sinh vật biển quý hiếm sinh<br /> sống, sinh vật biển mang cảm giác lo sợ cho du<br /> khách (cá mập, sinh vật có kích thước to lớn, sinh<br /> vật có hình dáng đáng sợ,...)<br /> - Tạo cho du khách cảm giác được hòa mình<br /> vào thiên nhiên dưới đáy biển (bơi cùng đàn cá, cho<br /> cá ăn, chạm vào dãy san hô,...).<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản