intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu tác động của cạnh tranh đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chia sẻ: ViDoraemi2711 ViDoraemi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

24
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu tác động của cạnh tranh đến sự ổn định ngân hàng bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng được thực hiện trên bộ dữ liệu 25 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2006–2016.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu tác động của cạnh tranh đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH<br /> ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI<br /> VIỆT NAM<br /> THE IMPACT OF COMPETITION ON STABILITY OF<br /> COMMERCIAL BANKS IN VIETNAM<br /> Trầm Thị Xuân Hương1, Nguyễn Từ Nhu2<br /> <br /> Ngày nhận: 12/3/2018 Ngày nhận bản sửa: 28/3/2018 Ngày đăng: 5/4/2018<br /> <br /> Tóm tắt<br /> Nghiên cứu tác động của cạnh tranh đến sự ổn định ngân hàng bằng phương pháp hồi quy dữ liệu<br /> bảng được thực hiện trên bộ dữ liệu 25 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2006<br /> – 2016. Kết quả cho thấy cạnh tranh có mối tương quan dương với sự ổn định ngân hàng. Ngoài<br /> ra, nghiên cứu cũng tìm thấy các yếu tố: dư nợ tín dụng, vốn huy động, quy mô ngân hàng, tốc độ<br /> tăng trưởng kinh kế và lạm phát cũng ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống NHTM Việt Nam.<br /> Thông qua đó, nghiên cứu gợi ý chính sách cho các nhà hoạch định chính sách và quản trị ngân<br /> hàng nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh để giúp cho hoạt động kinh doanh của các NHTM<br /> ngày càng ổn định hơn trong thời gian tới.<br /> Từ khóa: Cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh, ổn định ngân hàng.<br /> <br /> Abstract<br /> This paper investagates impact of competition on bank stability through regression method with<br /> data of 25 commercial banks in Vietnam covering the period from 2006 to 2016. Its results show<br /> that there is a positive relationship betwwen them. In addition, the paper finds that factors affect<br /> the stability of banks such as credit balance, deposits, bank size, economic growth rate and<br /> inflation. At the end of our analysis, we provides useful suggestions for managers and<br /> policymakers to strengthen banks’ competitiveness helped to improve the stability of the<br /> Vietnamese commercial banking system in the next time.<br /> Keyword: Competition, effective performance, bank stability.<br /> <br /> 1. Giới thiệu cạnh tranh như là chiến lược để mở rộng thị<br /> Đứng trước thách thức hội nhập, hầu hết các trường, thu hút khách hàng, gia tăng thị phần,<br /> quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh nâng cao chất lượng sản phẩm giúp cho hệ<br /> là môi trường tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát thống ngày càng ổn định và phát triển hơn.<br /> triển. Kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ rất nhạy Tùy theo thế mạnh và nguồn lực hiện có,<br /> cảm, chịu tác động bởi các yếu tố về kinh tế, ngân hàng có thể lựa chọn nhiều chiến lược<br /> chính trị, xã hội, tâm lý,… Các NHTM sử dụng cạnh tranh về số lượng, chất lượng sản phẩm,<br /> <br /> 1<br /> Trường Đại Học Kinh Tế.TP.HCM, email: txhuong@ueh.edu.vn<br /> 2<br /> Trường Đại Học Kinh Tế.TP.HCM, email: nhunt@ueh.edu.vn<br /> 1<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> lãi suất, công nghệ,… Tuy nhiên, thực tiễn từ hệ thống ngân hàng là trạng thái ổn định mà<br /> trước đến nay tồn tại các tranh luận trái chiều trong đó hệ thống ngân hàng thực hiện các chức<br /> về tác động của cạnh tranh đến sự ổn định tài năng của mình một cách có hiệu quả bao gồm<br /> chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, phân phối nguồn lực, phân tán rủi ro và phân<br /> như vậy liệu cạnh tranh ngân hàng có dẫn đến phối thu nhập”. Theo Pierre Monnin và Terhi<br /> mối đe dọa cho sự ổn định ngân hàng hay Jokipiia không có trong danh mục TLTK<br /> không? (2010) khi nghiên cứu về tác động của ổn định<br /> Riêng ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, ngân hàng đến nền kinh tế của 18 nước trong<br /> môi trường và thể chế hoạt động của hệ thống OECD đã đưa ra định nghĩa về ổn định ngân<br /> ngân hàng có những chuyển biến đáng ghi nhận hàng như sau: Sự bất ổn tài chính là xác suất<br /> về quản trị nội bộ, bộ máy tổ chức, ứng dụng của ngành ngân hàng trở nên không có khả năng<br /> công nghệ và sự phát triển của các dịch vụ ngân trả được nợ trong quý tiếp theo. Do đó, xác suất<br /> hàng hiện đại. Tuy nhiên, không nằm ngoài quy này càng thấp tương ứng với sự ổn định càng<br /> luật chung, những sai lệch và bất ổn trong chiến tăng và ngược lại. Cụ thể, nếu giá trị thị trường<br /> lược cạnh tranh có thể gây ra nhiều tổn thất của tài sản ngân hàng nhỏ hơn tổng nợ phải trả,<br /> không nhỏ cho hệ thống ngân hàng trên mọi tức là ngân hàng suy giảm hay thậm chí không<br /> mặt. Các ngân hàng Việt Nam không chỉ cạnh có khả năng trả nợ, tức là ngân hàng đang bất<br /> tranh với các NHTM trong nước mà còn cạnh ổn.<br /> tranh với các NHTM nước ngoài do các cam kết Như vậy, ổn định ngân hàng là việc ngân<br /> hội nhập kinh tế. Sự xuất hiện của các ngân hàng duy trì hoạt động có hiệu quả, có khả<br /> hàng 100% vốn nước ngoài, loại bỏ dần các hạn năng ứng phó tốt đối với những tác động bên<br /> chế đối với hoạt động của chi nhánh ngân hàng, trong và bên ngoài, trong hiện tại và cả tương<br /> nên mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày lai, đặc biệt là các cú sốc của nền kinh tế mà<br /> càng trở nên gay gắt. vẫn duy trì được khả năng thanh toán cho các<br /> Xuất phát từ ảnh hưởng của cạnh tranh đến khoản nợ đến hạn, duy trì hoạt động một cách<br /> ổn định ngân hàng cho thấy nghiên cứu này là bình thường.<br /> hoàn toàn thiết thực, đưa ra các gợi ý về chính Ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng<br /> sách để phát triển toàn diện và ổn định hệ thống được xác định từ các phương pháp đo lường sự<br /> trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế. ổn định của hệ thống tài chính của các doanh<br /> 2. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu nghiệp ra đời vào những năm 1930. Ban đầu,<br /> thực nghiệm: các nghiên cứu ban đầu tập trung theo phương<br /> Sự ổn định ngân hàng được xem xét trên khía pháp phân tích tỷ lệ (ratio analysis), sau đó là<br /> cạnh sự ổn định tài chính trong hoạt động ngân phương pháp phân tích đơn biến, cuối cùng là<br /> hàng. Theo đó, ngân hàng là một doanh nghiệp đến năm 1968, phương pháp phân tích kết hợp<br /> đặc biệt, nên trong quá trình nghiên cứu sẽ có các chỉ số được nhà kinh tế học Edward I.<br /> những sự khác biệt. Nghiên cứu về các yếu tố Altman đưa ra để dự báo xác suất phá sản của<br /> ảnh hưởng sự ổn định của hệ thống ngân hàng doanh nghiệp, dẫn đến sự bất ổn trong hoạt<br /> của hai tác giả Nadya Jahn và Thomas Kick động kinh doanh. Kế thừa chỉ số Z-Score của<br /> (2011) có nêu khái niệm về ổn định tài chính Edward I. Altman, hàng loạt các nghiên cứu<br /> ngân hàng như sau: “Sự ổn định tài chính của thực nghiệm được mở rộng và chuyên sâu hơn,<br /> <br /> 2<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> trong đó có lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng. cũng khẳng định cạnh tranh có thể gây ảnh<br /> Ngoài ra, khi ứng dụng mô hình chỉ số Z-Score hưởng tiêu cực đến hành vi thận trọng của các<br /> cho các nghiên cứu trong tình hình kinh tế ở các ngân hàng. Quan điểm này cũng được kiểm<br /> nước khác nhau, nhiều tác giả nhận thấy việc định bởi nghiên cứu của nhóm tác giả Allen N.<br /> đưa thêm các chỉ số khác như ROA, ROE Berger, Leora F. Klapper, Rima Turk-Ariss<br /> (Ariss, 2010; Uhde và Heimeshoff, 2009) sẽ (2009), Fu, Liu và Molyneux (2014).<br /> góp phần giúp cho việc đánh giá sự ổn định Quan điểm thứ hai: Cạnh tranh - ổn định<br /> ngân hàng được toàn diện hơn thông qua xem của Boyd và De Nicolo (2005) cho rằng có một<br /> xét khả năng sinh lợi trong hoạt động kinh mối quan hệ tích cực giữa cạnh tranh và ổn<br /> doanh ngân hàng. định. Ý tưởng chính cho rằng ít cạnh tranh hơn<br /> Khi nghiên cứu về tác động của cạnh tranh dẫn đến lãi suất cho vay cao hơn, từ đó có thể<br /> đến sự ổn định ngân hàng, có hai quan điểm làm tăng khả năng vỡ nợ của khách hàng và vấn<br /> chính đã được phát triển về vấn đề này, quan đề rủi ro đạo đức của khách hàng. Do đó, các<br /> điểm thứ nhất: cho thấy rằng sự cạnh tranh ngân hàng sẽ đối diện với vấn đề gia tăng nợ<br /> trong ngành ngân hàng dẫn đến mất ổn định, xấu. Franco Fiordelisi. và Davide S. Mare<br /> trong khi quan điểm thứ hai cho rằng có mối (2014), Jin Q.Jeon và Kwang Kyu Lim (2013)<br /> quan hệ tích cực tồn tại giữa cạnh tranh và ổn cũng bày tỏ rõ quan điểm ủng hộ cho kết quả<br /> định của các NHTM. nghiên cứu của Boyd và De Nicolo (2005),<br /> Quan điểm thứ nhất: Cạnh tranh - dễ tổn Martin Goetz (2016).<br /> thương, được đề xuất bởi Keeley (1990). Ý Bên cạnh đó, có nhiều bằng chứng nghiên<br /> tưởng chính của quan điểm này là sự cạnh tranh cứu thực nghiệm khác nhau về mối quan hệ<br /> của ngân hàng cao sẽ làm mất ổn định ngân giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng. Ariss<br /> hàng. Ngân hàng sẽ hạ thấp các tiêu chuẩn để (2010) kiểm tra mức độ khác nhau về sức mạnh<br /> lựa chọn đầu tư. Ngược lại, nếu các ngân hàng thị trường ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả<br /> có sức mạnh thị trường cao và có được giá trị và sự ổn định của ngân hàng trong bối cảnh nền<br /> thương hiệu tích cực, các nhà quản lý ngân hàng kinh tế của các quốc gia đang phát triển. Kết<br /> cũng như các cổ đông sẽ thận trọng hơn trong quả nghiên cứu cho thấy rằng sức mạnh thị<br /> việc chấp nhận rủi ro. Allen và Gale (2004) cho trường gia tăng dẫn đến sự ổn định của ngân<br /> rằng cuộc khủng hoảng tài chính sẽ có nhiều hàng lớn hơn và nâng cao hiệu quả ngân hàng.<br /> khả năng xảy ra trong các ngân hàng ít tập Tương tự, Yeyati và Micco (2007), Raúl<br /> trung. Ý tưởng chính đằng sau quan điểm này Osvaldo Fernández và Jesús G. Garza-García<br /> là sự cạnh tranh quá mức làm suy giảm giá trị (2015), Klaus Schaeck và Martin Cihák (2007)<br /> thương hiệu của các ngân hàng bằng cách giảm tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa cạnh tranh<br /> ưu thế độc quyền của họ và do đó buộc họ phải và sự ổn định của ngân hàng.<br /> thực hiện hoạt động có nhiều rủi ro hơn. Liu và cộng sự (2012) nghiên cứu mối quan<br /> Matutes và Vives (2000) cho rằng ngân hàng có hệ tương tự với dữ liệu thu thập từ 5 quốc gia<br /> sức mạnh thị trường cao hơn sẽ giảm được rủi Đông Nam Á, sử dụng một số chỉ số để đo<br /> ro phá sản của ngân hàng trong môi trường cạnh lường rủi ro của ngân hàng. Kết quả của họ chỉ<br /> tranh không hoàn hảo. Thomas F. Hellmann, ra rằng sự cạnh tranh là có mối quan hệ ngược<br /> Kevin C. Murdock và Joseph E. Stiglitz (2000) chiều với hầu hết các chỉ số đo lường rủi ro.<br /> <br /> 3<br /> Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018<br /> <br /> <br /> Điều này cho thấy sự cạnh tranh không làm suy tranh trong hoạt động sẽ làm tăng sự ổn định<br /> giảm sự ổn định của ngân hàng. Kết quả này ngân hàng.<br /> cũng được khẳng định trong nghiên cứu của 3 Phương pháp nghiên cứu<br /> Wahyoe Soedarmono và Amini Tarazi (2015). Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy trên cơ<br /> Từ mẫu là các NHTM khu vực Châu Á Thái sở tiếp cận phương pháp nghiên cứu được đề<br /> Bình Dương (1994 – 2009), nghiên cứu chỉ ra xuất bởi Martin Richard Goetz (2016), Allen N.<br /> rằng các ngân hàng ít cạnh tranh sẽ có sự tăng Berger và cộng sự (2009). Với nhận định sự ổn<br /> trưởng tín dụng thấp hơn và sự không ổn định định của ngân hàng cần gắn liền với khả năng<br /> cao hơn, kéo theo đó là sự suy giảm tiền gửi. tạo ra lợi nhuận, mức lợi nhuận phải tăng trưởng<br /> Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phan Thị và ổn định. Mô hình nghiên cứu đề xuất:<br /> Thơm và Thân Thị Thu Thủy (2016) về “Mối Bankstabi,t = α0 + α1Bankstabi,t-1 +<br /> quan hệ giữa cạnh tranh và hiệu quả trong hệ α2Lerneri,t + βj,Controli,t + βj,,Control’i,t + εi,t<br /> thống NHTM Việt Nam” đề cập tác động của Trong đó :<br /> cạnh tranh đến hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi Bankstab: là biến phụ thuộc, đo lường độ ổn<br /> nhuận của hệ thống NHTM Việt Nam. Kết quả định ngân hàng, được xác định bằng chỉ số<br /> nghiên cứu trên mẫu gồm 31 NHTM Việt Nam ROA, ROE, Z-Score;<br /> cho thấy cạnh tranh không gây tổn hại đến hiệu Lerner: là biến độc lập, đo lường mức độ<br /> quả chi phí và lợi nhuận ngân hàng. Hay nghiên cạnh tranh của ngân hàng ;<br /> cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh (2016) xác Control: là tập hợp các biến kiểm soát mô tả<br /> định mối tương quan dương của mức độ tập theo đặc điểm riêng có của từng ngân hàng (Bao<br /> trung ngân hàng đến khả năng sinh lời và rủi ro gồm: Logarit tự nhiên của tổng tài sản, Tỷ lệ dư<br /> (rủi ro đạo đức) của ngân hàng trong giai đoạn nợ tín dụng/Tổng tài sản, Tỷ lệ Vốn huy<br /> 2007 – 2014. Như vậy, chưa tìm thấy nghiên động/Tổng tài sản);<br /> cứu nào tại Việt Nam xem xét tác động của cạnh it: ngân hàng i vào năm t;<br /> tranh ngân hàng đến sự ổn định của hệ thống α0 : hệ số chặn;<br /> các NHTM, dưới ảnh hưởng của cạnh tranh các αj ( j = 1-2) : hệ số hồi quy của biến độc lập;<br /> ngân hàng hoạt động có thật sự đạt được hiệu βj, (j, = 1-4) : hệ số hồi quy của biến kiểm<br /> quả bền vững hay không. ? soát mô tả đặc điểm riêng của ngân hàng;<br /> Dựa trên các nghiên cứu lý thuyết và nghiên βj’, (j,, = 1,2): hệ số hồi quy của biến kiểm<br /> cứu thực nghiệm nghiên cứu đặt ra giả thuyết soát mô tả đặc điểm nền kinh tế vĩ mô;<br /> như sau: Khi ngân hàng càng gia tăng cạnh ε: phần dư mô hình.<br /> Bảng 1: Tóm tắt các biến nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu<br /> Kỳ vọng<br /> Tên biến Cách tính Các nghiên cứu liên quan<br /> tương quan<br /> Biến phụ thuộc<br /> ROA
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2