intTypePromotion=1

Nghiên cứu tác động của mực nước biển dâng đối với rừng ngập mặn xã Đại Hợp, Kiến Thuỵ, Hải Phòng và các giải pháp thích ứng

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
13
lượt xem
0
download

Nghiên cứu tác động của mực nước biển dâng đối với rừng ngập mặn xã Đại Hợp, Kiến Thuỵ, Hải Phòng và các giải pháp thích ứng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhóm tác giả đã tiến hành xác định thành phần đa dạng sinh học thảm thực vật RNM, các kiếu cấu trúc, độ che phủ của tán rừng, khả năng phát tác của cây ngập mặn cũng như đánh giá khả năng thích ứng của thảm thực vật RNM dưới tác động của nước biển dâng. Nhằm đánh giá vai trò của một số kiểu RNM trồng trong việc thích ứng với nước biển dâng (NBD) ở khu vực ven biển xã Đại Hợp, Kiến Thụy, Hải Phòng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu tác động của mực nước biển dâng đối với rừng ngập mặn xã Đại Hợp, Kiến Thuỵ, Hải Phòng và các giải pháp thích ứng

NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI<br /> <br /> NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG<br /> ĐỐI VỚI RỪNG NGẬP MẶN XÃ ĐẠI HỢP, KIẾN THUỴ, HẢI PHÒNG<br /> VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG<br /> TS. Lê Xuân Tuấn - Tổng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam<br /> ThS. Nguyễn Hải Đông - Cục Viễn thám Quốc gia<br /> PGS. TS Trần Hồng Thái - Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia<br /> <br /> R<br /> <br /> ừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái đặc trưng ở vùng ven biển nhiệt đới, có ý nghĩa hết sức quan<br /> <br /> trọng đối với đời sống của người dân trong vùng và có những giá trị to lớn trong việc bảo tồn,<br /> bảo vệ môi trường và tài nguyên sinh vật. Ngoài ra, RNM còn đóng vai trò quan trọng trong việc<br /> <br /> bảo vệ vùng cửa sông chống lại các tác động của sóng, đặc biệt là sóng bão. Trong những năm gần đây, biến<br /> đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống người dân, nhất là cộng đồng dân cư ven<br /> biển. Sóng, bão, nước dâng do triều cường,... thường xuyên đe doạ tài sản, tính mạng của một bộ phận không<br /> nhỏ cư dân ven biển. Việc bảo tồn RNM trước đe dọa của BĐKH gây ra có giá trị to lớn về nhiều mặt. Những cánh<br /> RNM tạo ra sự vành đai bảo vệ các vùng ven biển chống lại nước biển dâng cao và tấn công của bão. Để đánh<br /> giá vai trò của một số kiểu RNM trồng trong việc thích ứng với nước biển dâng (NBD) ở khu vực ven biển xã Đại<br /> Hợp, Kiến Thụy, Hải Phòng, chúng tôi đã tiến hành xác định thành phần đa dạng sinh học thảm thực vật RNM,<br /> các kiếu cấu trúc, độ che phủ của tán rừng, khả năng phát tác của cây ngập mặn cũng như đánh giá khả năng<br /> thích ứng của thảm thực vật RNM dưới tác động của nước biển dâng.<br /> 1. Đặt vấn đề<br /> RNM là hệ sinh thái có ý nghĩa vô cùng quan<br /> trọng đối với đời sống con người và môi trường.<br /> RNM cung cấp các nguyên vật liệu cho cuộc sống<br /> của người dân. RNM giúp điều hoà nhiệt độ, duy trì<br /> tính ổn định và sự màu mỡ của đất, giảm bớt tình<br /> trạng nhiễm mặn, cung cấp thức ăn, là nơi trú ngụ<br /> và sinh sản cho cả động vật dưới nước cũng như<br /> trên cạn. Ngoài ra, RNM còn điều hoà khí hậu, tham<br /> gia kiến tạo bảo vệ cảnh quan ven bờ, hạn chế bão<br /> gió, lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đê ven biển,... Đặc biệt,<br /> RNM góp phần làm sạch môi trường do có thể làm<br /> giảm hàm lượng kim loại nặng có trong nước thải<br /> nội địa đổ ra vùng cửa sông, ven biển, đồng thời giữ<br /> gìn sự cân bằng sinh thái cho những vùng đất bị<br /> ngập nước, vùng cửa sông ven biển.<br /> Đối với RNM, NBD được coi là thách thức lớn do<br /> BĐKH đem lại [7]. Hầu hết các nghiên cứu đều cho<br /> rằng RNM có nguy cơ mất dần khi mực nước biển<br /> tăng 1cm/năm [9]. Gần đây, tốc độ xói lở bở biển ở<br /> Hải Phòng được ghi nhận ở mức 4,4-5,1m/năm và<br /> 19,5-23,7 ha/năm trong tổng diện tích đất bị mất<br /> <br /> Người đọc phản biện: TS. Trần Quang Tiến<br /> <br /> [10]. Như một hệ quả tất yếu, xói mòn bờ biển sẽ<br /> ảnh hưởng đến thảm thực vật ven biển và có khi<br /> còn hủy diệt chúng [2].<br /> Ở Việt Nam, những nghiên cứu, đánh giá về vai<br /> trò của RNM trong việc thích ứng với BĐKH và NBD<br /> cũng đang được quan tâm chú ý song chưa có<br /> những nghiên cứu cụ thể, mà chỉ mới đề cập chủ<br /> yếu về tác dụng của RNM đối với sóng bão, vai trò<br /> của hệ sinh thái RNM trong việc tích lũy cacbon,<br /> giảm hiệu ứng nhà kính, quản lý và bảo tồn gen<br /> thực vật RNM để thích ứng với BĐKH, NBD vào kỳ<br /> triều cường tại các vùng ven biển chứ chưa tập<br /> trung nghiên cứu cụ thể về tác động của NBD đối<br /> với RNM và chưa đưa ra giải pháp cụ thể.<br /> Đại Hợp là xã ven biển có tuyến đê biển dài 4,2<br /> km. Đây là một trong những tuyến đê xung yếu<br /> nhất của Hải Phòng. Vào mùa mưa bão, địa phương<br /> thường phải dồn sức bảo vệ đê, đặc biệt trong các<br /> năm 1954, 1967, 1968 đã xảy ra vỡ đê, gây thiệt hại<br /> lớn về người và của. Hàng năm, Nhà nước đầu tư<br /> khá nhiều kinh phí để tu bổ, sửa chữa đê điều<br /> nhưng hiệu quả đạt được còn thấp. Cuối năm 1998,<br /> TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN<br /> Số tháng 07 - 2014<br /> <br /> 33<br /> <br /> NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI<br /> đã thực hiện dự án “Trồng rừng ngập mặn phòng<br /> ngừa thảm họa”. Qua 11 năm thực hiện dự án (1999<br /> - 2010), toàn xã đã trồng được 450 ha RNM dọc theo<br /> tuyến đê biển xung yếu với 2 loại chủ yếu là trang<br /> và bần. Đến nay, rừng đã phát triển mạnh, thực sự<br /> là bức tường xanh vững chắc, góp phần tích cực<br /> chắn sóng, bảo vệ đê biển. Những chỗ có rừng<br /> ngập mặn, cường độ sóng biển của những cơn bão<br /> cấp 10 giật cấp 11 kết hợp với triều cường đã bị triệt<br /> <br /> Khảo<br /> sát địa<br /> Thu mẫu,<br /> chụp ảnh<br /> <br /> Đếm số loài, số<br /> lượng từng loài<br /> Đặt ô<br /> thí<br /> hiệ<br /> <br /> Vẽ sơ đồ hình<br /> chiếu<br /> Chiều cao,<br /> đường kính<br /> thân và rễ,<br /> độ tán che<br /> <br /> tiêu cơ bản, đê không còn trực tiếp chịu tác động<br /> của sóng biển. Nghiên cứu, đánh giá tác động của<br /> mực NBD đối với rừng ngập mặn xã Đại Hợp có vai<br /> trò quan trọng trong việc đưa ra các nhận định<br /> khoa học và giải pháp phù hợp trong việc lồng<br /> ghép vấn đề về BĐKH vào các kế hoạch hành động<br /> hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở địa<br /> phương.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> <br /> Bản đồ vệ<br /> tinh khu<br /> vực nghiên<br /> cứu qua<br /> <br /> Phần<br /> mềm<br /> Map<br /> I f<br /> <br /> Phòng thí<br /> nghiệm<br /> <br /> Xu hướng phát<br /> triển của RNM<br /> tại khu vực<br /> nghiên cứu<br /> <br /> Định loại<br /> thành<br /> phần loài<br /> <br /> Bảng<br /> số<br /> liệu<br /> thô<br /> <br /> Biến động<br /> RNM qua<br /> các năm<br /> <br /> Biểu đồ,<br /> đồ thị<br /> Cấu trúc<br /> RNM<br /> <br /> Phân tích kết<br /> quả, xử lý<br /> thông tin, dữ<br /> liệu và dự đoán<br /> <br /> Nhiệt độ, lư ợng mưa,<br /> sự bồi xói, dòng chảy<br /> biển, độ mặn và NBD<br /> <br /> Kết<br /> luận<br /> Đề xuất<br /> giải<br /> <br /> Ngoài thực<br /> <br /> Hình 1. Sơ đồ tóm tắt phương pháp nghiên cứu<br /> * Tiến hành thu mẫu và định loại thành phần loài<br /> bằng phương pháp hình thái so sánh dựa vào mẫu<br /> vật (hình 1), nguồn ảnh chụp trên thực địa hành từ<br /> 12/2011 đến 10/2013 kết hợp với các tài liệu về<br /> phân loại thực vật [1, 2, 3].<br /> * Nghiên cứu cấu trúc RNM của Braun-Blanquet [6].<br /> 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> <br /> a. Thành phần loài thực vật<br /> Khu vực ven biển Hải Phòng chịu sự tác động<br /> của hệ thống 5 cửa sông, hàng năm cung cấp một<br /> lượng lớn phù sa, mặt khác hiện tượng xói lở bồi tụ<br /> diễn biến phức tạp. Điều đó quyết định đến thành<br /> phần loài và sự phân bố của thực vật ngập mặn ở<br /> khu vực này. Qua điều tra thành phần thực vật ở địa<br /> điểm nghiên cứu, các loài được dẫn ra trong bảng 1:<br /> <br /> Bảng 1. Danh mục các loài thực vật trong RNM điều tra ở khu vực xã Đại Hợp<br /> <br /> 34<br /> <br /> TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN<br /> Số tháng 07 - 2014<br /> <br /> NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI<br /> <br /> Ghi chú : * Loài cây ngập mặn chủ yếu; + Loài cây tham gia RNM, các loài còn lại là những loài nội địa phát<br /> tán ra vùng ven biển sống ở nơi đất bị nhiễm mặn (ven đê); 1. Vùng ngập triều đều đặn, tự nhiên; 2. Quần xã<br /> thực vật trên bờ đầm, bờ đê, đất bị nhiễm mặn và có bị ảnh hưởng khi triều cường.<br /> Do rừng trồng từ năm 1999 nên thành phần loài<br /> tại khu vực này không phong phú. Trong bảng 1 ta<br /> thấy, có 4 loài cây ngập mặn chính thức, còn lại là<br /> các loài tham gia RNM và những loài cây nội địa<br /> phát tán ra vùng ven biển sống ở bờ đê, bờ đầm,<br /> nơi đất bị nhiễm mặn ít.<br /> Kết quả khảo sát và phân tích cho thấy trong ô<br /> nghiên cứu theo lát cắt dọc (có độ rộng 700 m tính<br /> từ chân đê ra phía biển) có hai loài cây ngập mặn<br /> chủ yếu là trang và bần chua và 4 kiểu quần xã như<br /> sau:<br /> - Phía ngoài cùng giáp biển: quần xã bần thuần<br /> loại.<br /> - Nằm giữa quần xã thứ nhất và quần xã thứ ba<br /> (khoảng 200 m): chủ yếu là cây trang.<br /> - Nằm giữa quần xã thứ hai và quần xã thứ<br /> tư:chủ yếu là cây bần xen trang.<br /> - Phía trong cùng giáp đê: chủ yếu là trang<br /> (khoảng 20 m).<br /> 1) Sự phân tầng cây trong rừng<br /> Khu vực nghiên cứu có ba tầng cây sau:<br /> • Tầng vượt tán: cây có chiều cao trên 5 m, chủ<br /> yếu là bần chua. Chiều cao trung bình là 7,6 m, có<br /> khả năng phân hoá và chi phối ảnh hưởng tới các<br /> tầng dưới.<br /> • Tầng ưu thế: cây có chiều cao từ 1- 5 m, có sự<br /> <br /> hợp nhất của hai loài là trang và bần chua, ngoài ra<br /> còn có thêm một số ít các loài khác là ô rô biển,<br /> đâng. Tầng này có độ che phủ lớn (96% diện tích/ô<br /> thí nghiệm), có thể là tầng chủ đạo của rừng hoặc<br /> có khả năng thay thế tầng vượt tán.<br /> • Tầng cây tái sinh 1 năm: có chiều cao từ 0,5-1 m,<br /> là tầng thấp nhất của quần xã với hai loài cây chủ<br /> yếu là trang và bần chua, có vai trò quan trọng<br /> trong tái sinh rừng.<br /> Số cây con tái sinh trong RNM với mỗi ô tiêu<br /> chuẩn 1mx1m đối với bần chua là 11 cây/m2, đường<br /> kính từ 0,7-1,5 cm, chiều cao từ 15-100 cm; trong<br /> đó chiều cao chủ yếu của cây bần tái sinh từ 15-50<br /> cm. Số cây con tái sinh ở trang là 15 cây/m2, đường<br /> kính từ 0,3 - 1,2 cm, chiều cao từ 35 -100 cm; trong<br /> đó chiều cao chủ yếu của cây trang tái sinh từ 45-70<br /> cm. Số rễ thở của bần dày khá dày đặc, trung bình<br /> 55 rễ/m2 với đường kính từ 1-1,5 cm, chiều cao dao<br /> động từ 12-53 cm.<br /> 2) Mức độ che phủ của tán lá cây RNM<br /> RNM bao gồm 4 kiểu quần xã theo chiều từ bờ<br /> đê ra phía biển. Trong đó quần xã thứ nhất là trang<br /> tái sinh tự nhiên 3 năm tuổi với tỉ lệ che phủ đạt<br /> 89%. Ở quần xã thứ hai, khoảng cách các cây khá<br /> đều, tỉ lệ che phủ đạt 93%. Khoảng cách giữa các<br /> cây trang ở quần xã thứ ba cũng tương đối đồng<br /> đều, qua khảo sát và tính toán, tỉ lệ che phủ ở đây<br /> TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN<br /> Số tháng 07 - 2014<br /> <br /> 35<br /> <br /> NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI<br /> đạt 96%. Trong khi đó, quần xã thứ tư là rừng bần<br /> trồng phía ngoài cùng sát biển có tỉ lệ che phủ đạt<br /> 95% với khoảng cách khá đều nhau. Rừng trang xen<br /> bần trồng đoạn trong cùng sát đê cũng với mật độ<br /> với 0,7m x 0,7m, khoảng cách các cây khá đều, rừng<br /> chưa khép tán, tỉ lệ che phủ chỉ đạt 90%. Bốn quần<br /> xã trên trải dài một chiều rộng 700 m từ bờ đê ra<br /> phía biển tạo nên cấu trúc đặc trưng RNM của xã<br /> Đại Hợp.<br /> <br /> Các nghiên cứu trên thế giới gần đây đã dự báo,<br /> hầu hết các hệ sinh thái ven biển sẽ bị đe dọa bởi<br /> NBD và bão một cách nhanh chóng [8]. Dưới tác<br /> động của NBD, diện tích đất RNM có diễn biễn rất<br /> phức tạp; phản ứng của RNM với NBD sẽ thay đổi<br /> tùy thuộc vào từng khu vực có địa hình khác nhau;<br /> hơn nữa, tình hình thay đổi các yếu tố tự nhiên<br /> trong tương lai rất phức tạp, cũng rất khó xác định<br /> loài chiếm ưu thế ở các vùng khu hỗn hợp.<br /> <br /> b. Kịch bản BĐKH và ảnh hưởng của NBD đến<br /> RNM<br /> <br /> Năm 2009 và 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường<br /> đã đưa ra các kịch bản NBD cho Việt Nam. Khu vực<br /> nghiên cứu ở Đồng bằng Bắc Bộ có mực NBD so với<br /> thời kì 1980-1999 được dẫn ra trong bảng 2.<br /> <br /> 1) Kịch bản BĐKH<br /> <br /> Bảng 2 Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999<br /> <br /> Từ bảng 2, ta có thể tính được tốc độ NBD trung<br /> bình tương đối cho mỗi năm tại khu vực Đồng bằng<br /> <br /> Bắc Bộ qua bảng 3.<br /> <br /> Bảng 3. Tốc độ nước biển dâng trung bình cho mỗi năm (cm/năm) so với thời kì năm 1980- 1999<br /> <br /> Cây ngập mặn (CNM) thích nghi với tình trạng<br /> ngập mặn nhưng chỉ ở một mức độ nào đó trong<br /> giới hạn khả năng sinh lý và cũng tùy thuộc từng<br /> loài và độ mặn khác nhau. Hầu hết các cây ngập<br /> mặn đều bị ảnh hưởng khi NBD quá 0,14 cm mỗi<br /> năm [9]). Theo cả ba kịch bản phát thải thấp, trung<br /> bình, cao, tốc độ NBD trung bình cho mỗi năm đều<br /> lớn hơn 0,14 cm, rõ ràng các cây ngập mặn đều bị<br /> ảnh hưởng theo những mức độ khác nhau.<br /> <br /> về mặt cơ học kém. Để thích nghi hầu hết hệ thống<br /> rễ CNM phát triển theo chiều ngang, hệ thống rễ<br /> thường nông, độ sâu không quá 2 m [4].<br /> <br /> 2) Ảnh hưởng của NBD đến hệ rễ cây ngập mặn<br /> <br /> Vị trí của RNM cũng ảnh hưởng đến thời gian<br /> ngập trong nước của chúng do mực nước thủy triều<br /> lên xuống. Tuy nhiên, khu vực nào có tốc độ NBD<br /> <br /> Môi trường đất ngập nước yếm khí và thể nền<br /> nhão tác động đến CNM, do đó khả năng chống đỡ<br /> <br /> 36<br /> <br /> TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN<br /> Số tháng 07 - 2014<br /> <br /> Ảnh hưởng của NBD đến RNM theo những mức<br /> độ khác nhau, phụ thuộc vào mực NBD và vị trí của<br /> RNM. Khu vực nghiên cứu có hệ thống rễ thở của<br /> bần với chiều cao chỉ dao động từ 12 - 53 cm nên<br /> mực NBD trên 53 cm sẽ bị ảnh hưởng đến các quá<br /> trình sinh lí.<br /> <br /> NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI<br /> nhỏ hơn so với tốc độ bồi tụ thì NBD hầu như<br /> không gây ảnh hưởng đến rễ CNM.<br /> 3) Ảnh hưởng của NBD đến thân và lá<br /> Ở những khu vực có tốc độ bồi tụ nhỏ hơn tốc<br /> độ xói lở và tốc độ NBD thì NBD là một trong những<br /> nhân tố ảnh hưởng đến thân và lá của RNM. Chiều<br /> cao của các tầng cây cho thấy tầng vượt tán và tầng<br /> ưu thế bị tác động của NBD ở mức độ thấp, tầng cây<br /> tái sinh có chiều cao từ 0,5-1m chịu tác động lớn<br /> hơn. Đặc biệt, khi NBD lên tới 1m thì tầng cây này<br /> chìm ngập một phần hoặc hoàn toàn.<br /> NBD làm thời gian lá CNM bị ngập trong nước<br /> lâu hơn, từ đó ảnh hưởng đến quá trình quang hợp<br /> và năng suất của cây.<br /> <br /> nồng độ muối trong nước 10-25‰. Kích thước cây<br /> và số loài giảm đi khi độ mặn cao (40-80‰) [5].<br /> Những nơi độ mặn quá thấp (

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản