intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của lá cây dứa dại (Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi ở Thừa Thiên - Huế)

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

14
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của lá cây dứa dại Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi., thu hái tại Thừa Thiên - Huế. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của lá cây dứa dại (Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi ở Thừa Thiên - Huế)

  1. JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE Interdisciplinary Sci., 2014, Vol. 59, No. 1A, pp. 174-181 This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH GÂY ĐỘC TẾ BÀO UNG THƯ CỦA LÁ CÂY DỨA DẠI (PANDANUS TECTORIUS PARKINS. EX J.P. DU ROI Ở THỪA THIÊN - HUẾ Lương Thị Cúc Hoa, Lâm Thị Hải Yến, Đặng Ngọc Quang, Phạm Hữu Điển Khoa Hóa học, Đại học Sư phạm Hà Nội Tóm tắt. Cao chiết n-hexan và etyl axetat của lá dứa dại (Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi, thu hái ở xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế 10/2012) có hoạt tính gây độc tế bào ung thư biểu mô (KB) ở mức trung bình (IC50 tương ứng là 48,00 và 37,05 µg/mL). Từ hai cao chiết này, sử dụng các phương pháp sắc kí cột, sắc kí bản mỏng, phương pháp kết tinh chúng tôi đã phân lập được bốn hợp chất 1-4. Bằng các phương pháp phổ IR, MS, 1 H NMR, 13 C NMR, HSQC, HMBC đã xác định được cấu trúc của bốn hợp chất đó là β-sitosterol 1, stigmasta-5,22-dien-3β-ol 2, vitexin 3 và tricin 4. Vitexin 3 có hoạt tính gây độc tế bào ung thư KB ở mức trung bình (IC50 = 25,28 µg/mL), không có khả năng kháng bốn chủng vi sinh vật và một chủng nấm kiểm định. Từ khóa: Pandanus tectorius, lá dứa dại, tricin, vitexin, gây độc tế bào ung thư. 1. Mở đầu Cây dứa dại, còn gọi là dứa gỗ, dứa gai.... có tên khoa học là Pandanus tectorius Parkins.ex J.P. du Roi., thuộc họ Dứa dại Pandanaceae. Cây dứa dại phân bố rộng rãi trên các bờ biển của Ấn Độ, Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Trung Quốc, Nam quần đảo Ryu Kyu, Malaixia, Micronesia, Phillipin... trên các bãi cỏ ẩm có cát, trong các bụi cây ven biển dọc theo biển, rừng ngập mặn. Theo kinh nghiệm dân gian phần trên mặt đất của loài dứa dại này được sử dụng để chữa viêm họng, bị ngộ độc thức ăn, chữa đái dắt, đái buốt, trị viêm thận, thủy thũng, nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm gan, xơ gan cổ trướng... [1]. Các nghiên cứu gần đây [2, 3] cho thấy thành phần hóa học chính của dứa dại là các ancaloit, tecpenoit, các axit hữu cơ và các lignan. Năm 1993 Liên hệ: Phạm Hữu Điển, e-mail: dienph@hnue.edu.vn 174
  2. Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của lá cây... PGS.TS. Lê Thị Anh Đào (trường Đại học sư phạm Hà Nội, [4]) đã nghiên cứu thành phần hoá học của tinh dầu hương nếp lấy từ cây dứa thơm Pananus amaryllia Roxd., đã phân lập được 3-metyl-2(5H)-furanon, 2-axetyl-1-pyrolin và một chất có mùi hương nếp là 2-axetyl-1-pyrolin. Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của lá cây dứa dại Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi., thu hái tại Thừa Thiên - Huế. 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Thực nghiệm Nguyên liệu: lá cây dứa dại (Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi) được thu hái ở xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế 10/2012. Tên cây do ThS. Nguyễn Thế Anh, Viện Hóa học, Viện Hàn Lâm KH và CN Việt Nam xác định. Lá cây dứa dại sau khi thu hái được rửa sạch, phơi khô nơi thoáng mát và sấy ở 50◦ C, sau đó được xay thành bột mịn. Thiết bị: Điểm nóng chảy được đo trên thiết bị Gallen Kamp (CHLB Đức). Phổ 1 H NMR, 13 C NMR, HSQC - trên máy Brucker Avance 500 MHz (chất nội chuẩn: TMS), phổ hồng ngoại - trên máy Shimadzu FTIR- 8101M (ép viên với KBr), phổ khối lượng - trên thiết bị Engine 5989-HP. Sắc kí lớp mỏng: sử dụng bản mỏng tráng sẵn silica gel trên đế nhôm (hãng Merck); phát hiện chất bằng đèn tử ngoại ba bước sóng 254, 302 và 365 nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch axit H2 SO4 10%. Sắc kí cột được tiến hành với chất hấp phụ silica gel (hãng Merck), cỡ hạt 0,040-0,063 mm (230-400 mesh). Máy đông cô chân không Labconco (Mĩ) dùng để đông cô mẫu trước khi đo phổ. Chiết tách: Bột lá cây dứa dại khô (5,0 kg) đem chiết bằng metanol nhiều lần đến khi nhạt màu, cất cô quay dưới áp suất thấp, thu được 320 gam cao tổng. Sau đó đem chiết lần lượt trong các hệ dung môi 2 pha (dung môi hữu cơ/nước): n-hexan/nước, etyl axetat/ nước, n-butanol/nước (tỉ lệ về thể tích = 1:1); cất cô quay dưới áp suất thấp pha dung môi hữu cơ, được 54,16 gam; 63,39 gam và 44,86 gam cao tương ứng; pha nước - được 125,48 gam. Lấy 54,16 gam cao chiết từ pha n-hexan đem chạy sắc kí cột silica gel, hệ dung môi rửa giải n-hexan:etyl axetat (n-H:E) = từ 100: 0 đến 0:100, được 6 phân đọan, kí hiệu LH1-LH6. Từ phân đoạn LH1 kết tinh được hợp chất 1 (20 mg); từ phân đoạn LH2 kết tinh được hợp chất 2 (15 mg). Lấy 63,39 gam cao chiết từ pha etyl axetat đem chạy cột sắc kí silica gel, hệ dung môi rửa giải n-hexan: etyl axetat tỉ lệ từ 4:1 đến 0:100, được 11 phân đoạn, kí hiệu LE1-LE11. Từ phân đoạn LE2 kết tinh được hợp chất 3 (20 mg), từ phân đoạn LE5 - kết tinh được chất 4 (2 mg). Nhận dạng các chất β -Sitosterol (1): Tinh thể hình kim, không màu, Rf = 0.45 (hệ dung môi n-H : E= 4:1), tnc = 139-140◦ C, tan tốt trong CHCl3 , axeton, metanol. IR (KBr, cm−1 ): 3440 (tù, m, 0 175
  3. Lương Thị Cúc Hoa, Lâm Thị Hải Yến, Đặng Ngọc Quang, Phạm Hữu Điển νOH ), 2958 (νCH no ), 1654, 1459 (νC=C ), 1375, 1059, 965, 805, 601. 1 H NMR (δ, ppm): 5,35 (1H, m, H-6), 3,53 (1H, m, H-3), 2,28 và 2,23 (2H, m, H-4), 0,68 (3H, s, H-18), 1,00 (3H, s, H-19), 0,92 (3H, d, J=5.5Hz, H-21), 0,83 (3H, d, J=7,1 Hz, H-26), 0,84 (3H, d, H-27), 0,86 (3H, t, H-29). Stigmasta-5,22-đien-3β-ol (2): Tinh thể hình kim, không màu, Rf = 0.55 (hệ dung môi n-hexan : etyl axetat = 4:1), t0nc = 139-140◦ C, dễ tan trong dung môi ít phân cực, khó tan trong nước. ESI-MS [M-H]- (m/z): 411.3. IR (KBr, cm−1 ): 3540 (tù, m, νOH ), 2860 (νCH no ), 1646, 1464 (νC=C ), 1080. 1 H NMR (δ, ppm): 5.35 (1H, m, H-6), 3,59 (1H, m, H-3), 2,28 và 2,23 (2H, m, H-4), 0,68 (3H, s, H-18), 1,00 (3H, s, H-19), 0,92 (3H, d, J= 5.5 Hz, H-21), 0,83 (3H, d, J = 7,1 Hz, H-26), 0,84 (3H, d, H-27), 0,86 (3H, t, H-29). Vitexin (3): Kết tinh vô định hình, màu vàng rơm, t0nc = 256-257◦ C, tan tốt trong DMSO. ESI-MS positive [M+H]+ m/z 433,04, IR (KBr, cm−1 ): 3389, 3249 (tù, m, νOH ), 2919, (νCH no ), 1655, 1654 (nhọn, m, νC=O ),1612, 1564, 1506 (νC=C ) 1362, 1298, 1178, 1104, 1021, 832, 654. Phổ 1 H và 13 C NMR: được trình bày ở Bảng 2. Tricin (4): Kết tinh vô định hình, màu vàng nhạt, t0nc = 186-187◦ C, tan tốt trong DMSO. ESI-MS negative [M-H]− m/z 329.02, IR (KBr, cm−1 ): 3427 (tù, m, νOH ), 1654 (nhọn, tb, νC=O ), 1027, 1003, 828, 766, 609. Phổ 1 H và 13 C NMR: xem Bảng 2. Thử hoạt tính sinh học Các cao chiết phân đoạn (từ pha n-hexan, etyl axetat, n-butanol, nước) và hợp chất 3 được thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào ung thư dòng KB theo phương pháp nuôi cấy trên thạch [5]. Ngoài ra, hợp chất 3 còn được thử nghiệm hoạt tính kháng nấm, khuẩn theo phương pháp sàng lọc vi phiến 96 lỗ. Các phép thử này được tiến hành tại Phòng hóa sinh ứng dụng, Viện Hóa Học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 2.2. Kết quả và thảo luận Hoạt tính gây độc tế bào ung thư KB của các cao chiết phân đoạn Bảng 1. Hoạt tính gây độc tế bào ung thư dòng KB của 4 cao chiết phân đoạn từ lá cây dứa dại Hoạt tính gây độc tế bào trên dòng KB (µg/mL) STT Tên mẫu % Ức chế tại nồng độ Giá trị 128 32 8 2 0,5 IC50 1 LH 65 47 35 33 30 48,00 2 LE 86 48 33 29 27 37,05 3 LB 58 28 27 24 23 102,40 4 LN 43 30 27 25 25 >128 5 Elipticin 0,31 176
  4. Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của lá cây... Kết quả thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào ung thư dòng KB của bốn cao chiết phân đoạn n-hexan, etyl axetat, n-butanol, nước từ lá cây dứa dại P.tectorius trong Bảng 1. Từ kết quả bảng 1 cho thấy trong số 4 cao chiết thử nghiệm, cao chiết từ n-hexan và từ etyl axetat có hoạt tính gây độc tế bào ung thư dòng KB ở mức trung bình, với giá trị IC50 tương ứng là 48,00 và 37,05 µg/mL. Chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu thành phần hóa học của hai cao chiết này. Phân lập, xác định cấu trúc của các hợp chất từ hai cao chiết có hoạt tính Hợp chất 1 (β-Sitosterol): Phổ IR của 1 cho thấy một vân hấp thụ cường độ khá lớn tại bước sóng 3440 cm−1 được gán cho dao động hóa trị của nhóm OH; hai vân hấp thụ khác, cường độ trung bình ở các bước sóng 1654 và 1459 cm−1 được gán cho dao động của liên kết đôi C=C. Phổ 1 H NMR cho thấy hợp chất 1 có cả thẩy 50 proton, cộng hưởng chủ yếu ở vùng trường cao (δH 0,68 - 2,34 ppm), khá đặc trưng cho các sterol. Ngoài ra, còn có 2 proton ở vùng trường trung bình: một ở δH 5,35 ppm (1H, m), được gán cho proton olefinic H-6; proton còn lại với δH 3,49 ppm (1H, m), được gán cho proton cacbinol H-3. Từ những chứng cứ trên, chúng tôi xác định được hợp chất 1 là β-sitosterol, C29 H50 O [6], một sterol phổ biến trong hầu hết các loài thực vật. Hợp chất 2 (Stigmasta-5,22-dien-3β-ol): Phổ ESI-MS của 2 cho 1 pic ion giả phân tử [M-H]− với số khối m/z=411,3. Kết hợp với các phương pháp phổ khác cho phép xác định công thức phân tử của 2 là C29 H48 O. Phổ IR của 2 cho thấy một vân hấp thụ cường độ khá lớn tại bước sóng 3450 cm−1 được gán cho dao động hóa trị của nhóm OH; hai vân hấp thụ khác, cường độ trung bình ở các bước sóng 1646 và 1464 cm−1 được gán cho dao động của liên kết đôi C=C. Phổ 1 H NMR cho thấy hợp chất 2 có tất cả 48 proton, cộng hưởng chủ yếu ở vùng trường cao (δH 0,68 – 2,32 ppm), khá đặc trưng cho các sterol. Ngoài ra, còn có 2 proton ở vùng trường trung bình: một ở δH 5,32 ppm (1H, m), được gán cho proton olefinic H-6; proton còn lại với δH 3,52 ppm (1H, m), được gán cho proton cacbinol H-3. Khác với 1, hợp chất 2 còn có hai proton olifenic với δH 5,02 (1H, m) và 5,14 (1H, m), chứng tỏ 2 có thêm một liên kết đôi so với 1. Từ những chứng cứ trên, chúng tôi xác định được hợp chất 2 là stigmasta-5,22-dien-3β-ol [6], một trong số các sterol phổ biến trong thực vật. Hợp chất 3 (Vitexin): Hợp chất 3 kết tinh vô định hình, màu vàng rơm, khó tan trong 177
  5. Lương Thị Cúc Hoa, Lâm Thị Hải Yến, Đặng Ngọc Quang, Phạm Hữu Điển các dung môi thông thường, tan tốt trong dung môi DMSO. Phổ LC-MS dương của 3 cho 1 pic giả ion phân tử [M+H]+ với số khối là m/z= 433,04. Kết hợp với các giá trị phổ IR, 1 H NMR, 13 C NMR (Bảng 2) suy ra công thức phân tử của hợp chất 3 là C21 H20 O10 (M = 432). Phổ IR của 3 có một vân hấp thụ tù, khá mạnh, nhiều đỉnh, ở tần số từ 3249 đến 3389 cm−1 được gán cho dao động hóa trị của nhiều nhóm OH; một vân hấp phụ cường độ khá lớn ở tần số 1655 cm−1 được gán cho dao động hóa trị của nhóm cacbonyl. Phổ 1 H NMR của 3 có cấu trúc khá điển hình của một flavonon-glicozit với 6 proton thơm, không no và 7 proton monosaccarit và 7 proton hiđroxyl. Cụ thể: 4 proton thơm doublet từ 2 cặp tương đương với giá trị J (Hz) trùng nhau, có hiệu ứng mái nhà (2H, δH 6,90, d, J =8,5Hz và 2H, δH 8,03, d, J =8,5Hz) được gán cho 4 proton thơm từ 2 cặp ở vị trí liền kề (vị trí octo đối với nhau). Một proton thơm singlet (1H, δH 6,28, s) được gán cho proton duy nhất còn lại ở vòng benzen thứ hai. Bẩy proton cộng hưởng ở vùng trường trung bình với δH từ 3,53 đến 4,70 ppm được gán cho 7 proton từ α-D-glucopiranozơ. Ngoài ra, trên phổ 1 H NMR của 3 còn một proton singlet với giá trị δH 6,78 ppm được gán cho proton liên kết với cacbon lai hóa sp2. Cacbon này bị hút electron mạnh do liên kết trực tiếp với C=O, C-O-. Một proton khác, có tính axit, cộng hưởng ở vùng trường rất yếu (1H, δH 13,17, s) được gán cho proton hiđroxyl do tạo liên kết hiđro nội phân tử khá mạnh với nhóm C=O gần kề. Phổ 13 C NMR của 3 có 19 pic với các giá trị δC dao động từ 61,4 ppm đến 182,1 ppm, trong đó có 2 cặp giá trị δC trùng nhau (115,9 và 129,0). Điều này chứng tỏ hợp chất 3 có tất cả 21 cacbon, gồm 2 vòng thơm benzen (trong đó có một vòng benzen 2 lần thế, đối xứng), 6 cacbon từ α-D-glucopiranozơ và 3 cacbon không no (trong đó có 1 cacbon cacbonyl với giá trị δC 182,1 ppm). So sánh các giá trị phổ của 3 với của Vitexin [7] chúng tôi thấy có sự trùng khớp tốt, vì vậy có thể kết luận rằng hợp chất 3 chính là Vitexin, một flavonon-glicozit được phân lập từ lá cọ. Hợp chất 4 (Tricin): Hợp chất 4 kết tinh vô định hình, màu vàng nhạt, khó tan trong các dung môi thông thường, tan tốt trong dung môi DMSO. Phổ LC-MS âm của 4 cho 1 pic giả ion phân tử [M-H]- với số khối là m/z= 329,02. Kết hợp với các giá trị phổ IR, 1 H NMR, 13 C NMR (Bảng 2) suy ra công thức phân tử của hợp chất 4 là C17 H14 O7 (M=330). Phổ IR của 4 có một vân hấp thụ mạnh ở tần số 3427 cm−1 tương ứng với dao động hóa trị của nhiều nhóm OH, một vân hấp phụ cường độ trung bình ở tần số 1654 cm−1 được gán cho dao động hóa trị của nhóm cacbonyl bị yếu đi một phần do tạo liên kết hiđro nội phân tử với nhóm OH. Phổ 1 H NMR của 4 có cấu trúc khá điển hình của một hợp chất flavonoit với 12 proton thơm và không no. Cụ thể: 6 proton từ 2 nhóm metoxy tương đương (6H, δH 3,88 ppm, s) và 2 proton thơm singlet tương đương (2H, δH 7,22 ppm, s) được gán cho proton vòng benzen có 4 nhóm thế, đối xứng. Hai proton thơm doublet (1H, δH 6,20, d, J=2,0Hz và 1H, δH 6,56, d, J=2,0Hz) có hằng số tách nhỏ, bằng nhau, kèm hiệu ứng mái nhà - chứng tỏ chúng thuộc về vòng benzen thứ hai và ở vị trí octo đối với nhau. Một proton singlet với giá trị δH 6,97 ppm được gán cho proton liên kết với cacbon lai hóa sp2 . Cacbon này liên kết với 2 nhóm hút electron mạnh như C=O, C-O-. Một proton có tính 178
  6. Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của lá cây... axit, cộng hưởng ở vùng trường rất yếu (1H, δH 12,95, s) được gán cho proton hiđroxyl do tạo liên kết hiđro nội phân tử khá mạnh với nhóm C=O gần kề. Phổ 13 C NMR của 4 có 14 pic, δC dao động từ 56,9 ppm đến 182,0 ppm, trong đó có 3 cặp tương đương (δC 56,9 OCH3, 104,89, 148,7 ppm). Điều này chứng tỏ hợp chất 4 có tất cả 17 cacbon, gồm 12 cacbon từ 2 vòng thơm benzen (trong đó có 1 vòng benzen 4 lần thế, đối xứng) với 7 cacbon liên kết trực tiếp với oxi (δC 140,4, 148,7, 148,7, 157,8, 161,9, 164,2, 164,6 ppm), 1 cacbon cacbonyl (δC 182,3 ppm). So sánh các giá trị phổ của 4 với của Tricin [8] chúng tôi thấy có sự trùng khớp tốt, vì vậy có thể kết luận rằng hợp chất 4 chính là Tricin, một flavoinoit được phân lập từ cây Qua lâu (Trichosanthes kirilowi Maxim.). Bảng 2. Phổ 1 H NMR, 13 C NMR (DMSO-d6) của các hợp chất 3 và 4 1 13 H NMR δH (ppm) C NMR δC (ppm) STT 3 4 3 4 2 - - 164,0 164,6 3 6,78 s 6,97 s 102,5 104,1 4 - - 182,1 182,3 5 - - 161,2 157,8 6 6,28 s 6,20 d J=2,0Hz 98,2 99,3 7 - - 162,7 164,2 8 - 6,56 d J=2,0Hz 104,6 94,7 9 - - 156,0 161,9 10 - - 104,1 104,2 1’ - - 121,6 120,9 2’ 8,03 d J=8,5Hz 7,32 s 129,0 104,9 3’ 6,90 d J=8,5Hz - 115,9 148,7 4’ - - 160,4 140,4 5’ 6,90 d J=8,5Hz - 115,9 148,7 6’ 8,03 d J=8,5Hz 7,32 s 129,0 104,9 1” 4,70 d J=10,0Hz 73,4 - 179
  7. Lương Thị Cúc Hoa, Lâm Thị Hải Yến, Đặng Ngọc Quang, Phạm Hữu Điển 2” 3,85 t J=9,5Hz 70,9 - 3” 3,35 m 78,7 - 4” 3,34 m 70,6 - 5” 3,26 m 82,0 - 6” 3,76 m; 3,53 m 61,4 - OCH3− - 6H 3,88 s - 56,9 3’, 5’ OH-5 13,17 s 12,96 s - - Hoạt tính sinh học của chất 3 Kết quả thử nghiệm hoạt tính sinh học cho thấy: hợp chất 3 có hoạt tính gây độc tế bào ung thư biểu mô (tế bào KB) ở mức độ trung bình (IC50 = 25,28 µg/mL, không có khả năng kháng 4 chủng vi sinh vật kiểm định (Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, Lactobacillus fermentum, Salmonella enteric, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa) và 1 chủng nấm kiểm định (Candida albican). 3. Kết luận Cao chiết n-hexan và etyl axetat của lá dứa dại (Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi, thu hái ở xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế 10/2012) có hoạt tính gây độc tế bào ung thư biểu mô (KB) ở mức trung bình (IC50 tương ứng là 48,00 và 37,05 µg/mL). Từ hai cao chiết này, đã phân lập và xác định cấu trúc của 4 hợp chất là β-sitosterol 1, stigmasta-5,22-dien-3β-ol 2, vitexin 3 và tricin 4. Vitexin 3 có hoạt tính gây độc tế bào ung thư KB ở mức trung bình (IC50 = 25,28 µg/mL). Lời cảm ơn: Công trình được hoàn thành dưới sự tài trợ về kinh phí của đề tài cấp Bộ GD & ĐT, mã số B2013-17-37, các tác giả xin trân trọng cám ơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Võ Văn Chi, 2001. Từ điển cây thuốc Việt Nam. Nxb Y học, Hà Nội, tr. 428. [2] Mario A., Hiromitsu T., Norio A., Mariko K., Scott G. F., Maribel G. N., 2008. Antitubercular triterpenes and phytosterols from Pandanus tectorius Soland. var. laevis. J.of Nat.Medicines. Vol. 62, No. 2, pp. 232-235. [3] Tan M.A., Takayama H., Aimi N., Kitajima M., Franzblau S.G., Nonato M.G, 2008. Antitubercular triterpenes and phytosterols from Pandanus tectorius Soland.var.laevis. J. Nat. Med. Vol.62, pp. 232-235. 180
  8. Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của lá cây... [4] Lê Thị Anh Đào, Nguyễn Thị Liên, 1993. Nghiên cứu thành phần hoá học của tinh dầu hương nếp từ cây dứa thơm Pandanus amaryliia. Roxb-Việt Nam. Tạp chí khoa học, trường ĐHSP Hà Nội, số 3, tr. 184-187. [5] Scudiero D.A., Shoemaker R.H., Kenneth D.P., Monks A., Tierney S., Nofziger T.H., Currens M.J., Seniff D., Boyd M.R., 1988. Evaluation of a soluable tetrazolium/formazan assay for cell growth and drug sensitivity in culture using human and other tumor cell lines. Cancer Reseach. Vol. 48, pp. 4827-4833. [6] Goad L.J., Akihisha T., 1997. Analys of sterols. Blackie acad. & Profess. Publ., pp.378, 380. [7] Omayma A.E. et al, 2009. Potential antioxidant phenolic metabolites from doum palm leaves. African J. of Pharm. and Pharm-logy, Vol.47 , No.4, pp.158-164. [8] Jing J.J., Yu Z., Chenmei L., Jie E.L., Xiao Q.W., Ying Z., 2007. Separation and purification of Tricin from a antioxidant product derived from Bamboo leaves. J. Agric. Food. Chem, Vol.56, No.25, pp.10086-10092. ABSTRACT Chemical constituents and cytotoxicity of Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi leaves, collected in Thua Thien, Hue Province n-hexane and ethyl acetate extracts, made from Pandanus tectorius Parkins. ex J.P. du Roi leaves, collected in Thua Thien, Hue Province, have shown a remarkable cytotoxicity towards KB cell lines, with IC50 values of 48.00 and 37.05 µg/mL, respectively. Four metabolites were isolated from these extracts using silica gel column chromatography and idenfied as β-sitosterol 1, stigmasta-5,22-dien-β-ol 2, vitexin 3 and tricin 4 using various spectroscopic methods (IR, MS, 1 H NMR, 13 C NMR, HSQC, HMBC). Vitexin 3 showed moderate cytotoxicity towards KB cell lines with the IC50 value of 25.28 µg/mL. 181
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2