intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 849_1568189308.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 15:08:43
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Nghiên cứu thu hồi dầu thô từ đầu cá ngừ vây vàng bằng phương pháp thủy phân sử dụng enzyme Alcalase từ đầu cá ngừ vây vàng bằng phương pháp thủy phân sử dụng enzyme Alcalase

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
46
lượt xem
6
download

Nghiên cứu thu hồi dầu thô từ đầu cá ngừ vây vàng bằng phương pháp thủy phân sử dụng enzyme Alcalase từ đầu cá ngừ vây vàng bằng phương pháp thủy phân sử dụng enzyme Alcalase

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được thực hiện để xác định các thông số thích hợp cho quá trình thủy phân thu hồi dầu thô từ đầu cá ngừ vây vàng khi sử dụng enzyme Alcalase, bao gồm: tỷ lệ nước, tỷ lệ enzyme, nhiệt độ và thời gian thủy phân. Các chỉ tiêu hoá học của dầu cá thô thu được từ sự thủy phân đầu cá ngừ với các thông số thích hợp đã được xác định. Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện thích hợp cho quá trình thủy phân thu hồi dầu là tỉ lệ enzyme 0,5% so với nguyên liệu, ở nhiệt độ 6000 C, thời gian thủy phân trong 3 giờ và không bổ sung thêm nước. Dầu thô từ đầu cá ngừ vây vàng có chỉ số axit 3,21 mg KOH/g và chỉ số peroxyt 2,33 meq O2/kg đạt yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn CODEX Stan 210 (2005).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu thu hồi dầu thô từ đầu cá ngừ vây vàng bằng phương pháp thủy phân sử dụng enzyme Alcalase từ đầu cá ngừ vây vàng bằng phương pháp thủy phân sử dụng enzyme Alcalase

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 3/2013<br /> <br /> KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC<br /> <br /> NGHIÊN CỨU THU HỒI DẦU THÔ TỪ ĐẦU CÁ NGỪ VÂY VÀNG<br /> BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỦY PHÂN SỬ DỤNG ENZYME ALCALASE<br /> STUDY ON RECOVERY OF CRUDE OIL FROM YELLOWFIN TUNA HEAD<br /> BY THE ENZYMATIC HYDROLYSIS METHOD USING ALCALASE<br /> Bùi Trường Bích Ngân1, Nguyễn Thị Mỹ Hương2<br /> Ngày nhận bài: 26/11/2012; Ngày phản biện thông qua: 28/3/2013; Ngày duyệt đăng: 10/9/2013<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu được thực hiện để xác định các thông số thích hợp cho quá trình thủy phân thu hồi dầu thô từ đầu cá ngừ<br /> vây vàng khi sử dụng enzyme Alcalase, bao gồm: tỷ lệ nước, tỷ lệ enzyme, nhiệt độ và thời gian thủy phân. Các chỉ tiêu hoá<br /> học của dầu cá thô thu được từ sự thủy phân đầu cá ngừ với các thông số thích hợp đã được xác định. Kết quả nghiên cứu<br /> cho thấy điều kiện thích hợp cho quá trình thủy phân thu hồi dầu là tỉ lệ enzyme 0,5% so với nguyên liệu, ở nhiệt độ 6000C,<br /> thời gian thủy phân trong 3 giờ và không bổ sung thêm nước. Dầu thô từ đầu cá ngừ vây vàng có chỉ số axit 3,21 mg KOH/g<br /> và chỉ số peroxyt 2,33 meq O2/kg đạt yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn CODEX Stan 210 (2005).<br /> Từ khóa: dầu cá thô, đầu cá ngừ vây vàng, enzyme, thủy phân<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The study was carried out to determine the optimal parameters of the enzymatic hydrolysis process for recovering<br /> crude oil from yellowfin tuna head using Alcalase, including: water ratio, enzyme ratio, hydrolysis time and temperature.<br /> Chemical criteria of crude fish oil obtained from tuna head hydrolysis with the optimal parameters was determined. The<br /> study results showed that the optimal conditions of enzymatic hydrolysis process for recovering crude oil were ratio of<br /> enzyme to material of 0,3%, at temperature of 6000C, hydrolysis time of 3h and without adding the water. The crude oil from<br /> yellowfin tuna head had acid value of 3,21 mg KOH/g and peroxide value of 2,33 meq O2/kg, which met the requirements<br /> of CODEX Stan 210 (2005).<br /> Key words: crude fish oil, yellowfin tuna head, enzyme, hydrolysis<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Cá ngừ nói chung, trong đó có cá ngừ đại<br /> dương, là nguồn lợi thủy sản quý giá, là mặt hàng<br /> thực phẩm rất được ưa chuộng ở nhiều nước trên<br /> thế giới. Xét về cơ cấu sản phẩm, giá trị xuất khẩu<br /> cá ngừ chiếm 9,9% trong tổng giá trị xuất khẩu thủy<br /> sản Việt Nam. Giá trị xuất khẩu cá ngừ của nước ta<br /> trong năm 2012 đạt 569,406 triệu USD, tăng 50,1%<br /> so với năm 2011 (VASEP, 2013).<br /> Theo Tạp chí Thông tin khoa học công nghệ<br /> kinh tế thủy sản (7/2006), phế liệu trong chế biến cá<br /> ngừ lên đến 40-60% (Lan Hương, 2006). Trong khi<br /> đó, dầu từ đầu cá ngừ là một trong những loại dầu<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> <br /> cá có chứa nhiều DHA và EPA cần thiết cho cơ thể<br /> con người. Dầu mắt cá ngừ chứa hàm lượng lipid<br /> tổng là 22,4%, trong đó các axit béo không bão hòa<br /> đa nối đôi (PUFA) chiếm 26,4g/100g dầu chiết xuất,<br /> DHA chiếm 19,7g /100g và EPA 3,9g/100g và các axit<br /> béo không bão hòa đơn (MUFA) chiếm 23,3g/100g.<br /> Số liệu này cho thấy dầu cá ngừ là nguồn cung cấp<br /> rất tốt PUFA và MUFA - hai chất vô cùng quan trọng<br /> đối với sức khỏe con người (Lan Hương, 2006).<br /> Bên cạnh đó, một vấn đề nữa đang rất được quan<br /> tâm là hiện nay các trại nuôi cá tiêu thụ tới 81%<br /> lượng cung cấp dầu cá thế giới và dự báo cho thấy<br /> trong vòng 10 năm tới sẽ xảy ra tình trạng thiếu dầu<br /> <br /> Bùi Trường Bích Ngân: Cao học Công nghệ sau thu hoạch 2010 - Trường Đại học Nha Trang<br /> TS. Nguyễn Thị Mỹ Hương: Khoa Công nghệ thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 123<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> cá (Lan Hương, 2006). Vì thế, việc tận dụng phế liệu<br /> đầu cá ngừ đại dương ở nước ta để sản xuất ra dầu<br /> cá là rất triển vọng, có tính bền vững, ổn định cao do<br /> nguồn nguyên liệu dồi dào và ngày càng phát triển.<br /> Thế nhưng, phế liệu đầu cá ngừ đại dương hiện nay<br /> lại chỉ mới được tận dụng để sản xuất bột cá phục<br /> vụ chăn nuôi nên hiệu quả kinh tế không cao và<br /> gây nên một sự lãng phí dầu cá rất lớn. Vì vậy, việc<br /> nghiên cứu thu hồi dầu từ đầu cá ngừ là hết sức<br /> cần thiết. Có một số phương pháp khác nhau để<br /> trích ly dầu từ phế liệu như phương pháp ép, thủy<br /> phân bằng kiềm, bằng enzyme và tách chiết bằng<br /> dung môi. Trong đó, phương pháp thủy phân bằng<br /> enzyme có nhiều ưu điểm vì điều kiện thực hiện nhẹ<br /> nhàng, nhiệt độ thấp nên hạn chế đến mức tối thiểu<br /> sự oxy hóa các axit béo không bão hòa đa nối đôi<br /> (PUFA), không sử dụng dung môi hữu cơ và quá<br /> trình thủy phân tiến hành trong một khoảng thời gian<br /> ngắn (Mbatia, 2011). Trong số các enzyme thương<br /> mại thường được sử dụng, Alcalase là enzyme tốt<br /> nhất để thủy phân cá hồi giải phóng dầu (Mahmoud<br /> và cộng sự, 2008).<br /> Mục đích của nghiên cứu này là chọn các thông<br /> số thủy phân thích hợp cho quá trình thu hồi dầu<br /> bằng enzyme Alcalase nhằm tận dụng phế liệu đầu<br /> cá ngừ đại dương để sản xuất ra dầu cá phục vụ<br /> cho chăn nuôi, tiến đến tinh chế để dùng làm thực<br /> phẩm cho người.<br /> II. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Nguyên vật liệu nghiên cứu<br /> 1.1. Đầu cá ngừ<br /> Đầu cá ngừ vây vàng được thu mua từ Công<br /> ty TNHH Thịnh Hưng - KCN Suối Dầu - Cam Lâm Khánh Hòa. Đầu cá ngừ sau khi mua được đựng<br /> trong thùng xốp cách nhiệt có bảo quản nước đá,<br /> nhiệt độ từ 0 - 40C và được vận chuyển ngay về<br /> phòng thí nghiệm. Tiếp đó, nguyên liệu được rửa<br /> sạch, xay nhỏ bằng máy nghiền trục vít có đường<br /> kính mắt sàng d = 3 - 4mm, rồi được trộn đều và cho<br /> vào mỗi túi nhựa 400g đầu cá đã xay (khối lượng<br /> cho một mẫu thí nghiệm). Nguyên liệu sau đó được<br /> bao gói hút chân không và bảo quản đông ở nhiệt độ<br /> -200C cho đến khi sử dụng để tiến hành thí nghiệm.<br /> 1.2. Enzyme<br /> Chế phẩm enzyme Alcalase thương mại sử<br /> dụng thuộc hãng Novozymes (Denmark). Đây là<br /> enzyme endoprotease có nguồn gốc từ vi khuẩn<br /> Bacillus lichenformis. Hoạt độ của Alcalase là 2,4<br /> AU/g. Điều kiện hoạt động tối ưu của enzyme<br /> <br /> 124 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Số 3/2013<br /> Alcalase là nhiệt độ từ 55 - 7000C, pH từ 6,5 - 8,5.<br /> Alcalase được bảo quản ở nhiệt độ lạnh 3 - 400C<br /> cho đến khi sử dụng để tiến hành thí nghiệm.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> 2.1. Sự thủy phân đầu cá ngừ<br /> Đầu cá ngừ xay nhỏ ở trạng thái đông lạnh<br /> được đem rã đông sau đó thủy phân bằng enzyme<br /> Alcalase ở pH tự nhiên (pH xấp xỉ 6,5) với tỷ lệ<br /> nước, tỷ lệ enzyme, nhiệt độ và thời gian nhất định.<br /> Các thí nghiệm được bố trí như sau:<br /> Để xác định tỷ lệ nước thích hợp cho việc thu hồi<br /> dầu, tiến hành thuỷ phân 5 mẫu đầu cá ngừ với các<br /> thông số cố định sau: tỷ lệ enzyme là 0,5% so với<br /> nguyên liệu, nhiệt độ thủy phân 600C, pH tự nhiên,<br /> thời gian thủy phân 2 giờ. Tỷ lệ nước so với nguyên<br /> liệu ở 5 mẫu là 0%, 25%, 50%, 75% và 100%. Sau<br /> khi kết thúc quá trình thủy phân, enzyme được ức<br /> chế ở 900C trong 15 phút. Hỗn hợp thủy phân thu<br /> được cho qua rây để tách riêng phần rắn (xương)<br /> và phần dịch lọc. Phần dịch lọc thủy phân này được<br /> ly tâm bằng máy ly tâm lạnh với tốc độ 10.000 vòng/<br /> phút trong 30 phút. Sau khi ly tâm, hồn hợp phân<br /> thành 4 lớp: lớp trên cùng là dầu cá thô, tiếp theo<br /> là lớp nhũ tương, lớp giữa là dịch thủy phân và lớp<br /> ở đáy là cặn ly tâm. Chế phẩm dầu thô ở trên cùng<br /> được thu hồi, sau đó đem xác định hàm lượng lipid<br /> trong chế phẩm dầu thô này, chỉ số axit và chỉ số<br /> peroxyt. Từ đó chọn tỉ lệ nước thích hợp.<br /> Sau khi xác định được tỷ lệ nước thích hợp, cố<br /> định thông số này và tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng<br /> của tỷ lệ enzyme. Tiến hành thí nghiệm 5 mẫu với<br /> các thông số cố định sau: tỷ lệ nước thích hợp đã<br /> xác định được ở thí nghiệm trước, nhiệt độ 600C, pH<br /> tự nhiên, thời gian thủy phân 2 giờ. Tỷ lệ enzyme so<br /> với nguyên liệu ở 5 mẫu là 0,1%, 0,3%, 0,5%, 0,7%<br /> và 0,9% (v/w). Sau khi kết thúc quá trình thủy phân,<br /> tiến hành các bước tương tự như trên, từ đó chọn tỷ<br /> lệ enzyme thích hợp.<br /> Sau khi xác định được tỉ lệ thích hợp, cố định<br /> thông số này và tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng<br /> của nhiệt độ thủy phân. Tiến hành thí nghiệm 5<br /> mẫu với các thông số cố định sau: tỷ lệ nước và<br /> tỷ lệ enzyme thích hợp đã xác định được ở 2 thí<br /> nghiệm trước, pH tự nhiên, thời gian thủy phân<br /> 2 giờ. Nhiệt độ ở 5 mẫu là 5000C, 5500C, 6000C,<br /> 6500C và 7000C. Sau khi kết thúc quá trình thủy<br /> phân, tiến hành các bước tương tự như trên, từ đó<br /> chọn nhiệt độ thích hợp.<br /> Sau khi xác định được nhiệt độ thích hợp, cố<br /> định thông số này và tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng<br /> của thời gian thủy phân. Tiến hành thí nghiệm 5<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> mẫu với các thông số cố định sau: tỷ lệ nước, tỷ lệ<br /> enzyme và nhiệt độ thích hợp đã xác định được ở 3<br /> thí nghiệm trước, pH tự nhiên. Thời gian thủy phân<br /> ở 5 mẫu là 0,5 giờ, 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ và 4 giờ. Sau<br /> khi kết thúc quá trình thuỷ phân, tiến hành các bước<br /> tương tự như trên, từ đó chọn thời gian thuỷ phân<br /> thích hợp.<br /> 2.2. Các phương pháp phân tích<br /> Phân tích các thành phần hóa học cơ bản của<br /> nguyên liệu: độ ẩm theo AOAC 950.46 (2000), hàm<br /> lượng tro theo AOAC 923.03 (2000), hàm lượng nitơ<br /> H (%) =<br /> <br /> Số 3/2013<br /> tổng số và protein thô theo AOAC 987.04 (2000),<br /> hàm lượng lipid được xác định theo phương pháp<br /> Folch (1957).<br /> Phân tích các chỉ tiêu chất lượng của dầu:<br /> Độ ẩm theo AOCS Ca 2b - 38 (1998), hàm lượng<br /> axit béo tự do và chỉ số axit theo AOCS Ca 5a - 40<br /> (1998), chỉ số peroxyt theo AOCS Cd 8b - 90 (1998),<br /> chỉ số iod theo AOCS Cd 1d - 92 (1998), chỉ số xà<br /> phòng hóa theo AOCS Cd 3c - 91 (1998).<br /> Hiệu suất thu hồi lipid trong chế phẩm dầu thô<br /> được tính theo công thức:<br /> <br /> Lượng chế phẩm dầu thô thu được (g) . Hàm lượng lipid trong chế phẩm (%)<br /> Lượng nguyên liệu đem thủy phân (g) . Hàm lượng lipid trong nguyên liệu (%)<br /> <br /> 2.3. Phương pháp xử lý số liệu<br /> Số liệu được xử lý thống kê trên phần mềm<br /> SPSS 15.0 (Statistical Package for the Social<br /> Sciences). Việc kiểm định sự khác biệt giữa các giá<br /> trị trung bình được phân tích bằng ANOVA với phép<br /> kiểm định Duncan. Sự khác biệt được đánh giá có ý<br /> nghĩa khi P

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản