intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu thu nhận vị trí - thời gian để định lượng phơi chiếu cá nhân đối với không khí trong nhà

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

7
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Nghiên cứu thu nhận vị trí - thời gian để định lượng phơi chiếu cá nhân đối với không khí trong nhà hướng đến việc thu nhận lịch sử vị trí theo thời gian cho một nhóm nhân viên bức xạ. Sau đó, lượng phơi chiếu cá nhân đối với I-131 trong không khí được định lượng và đánh giá. Nhóm đối tượng gồm 9 người tham gia sản xuất I-131 tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu thu nhận vị trí - thời gian để định lượng phơi chiếu cá nhân đối với không khí trong nhà

  1. 112 Trần Xuân Hồi NGHIÊN CỨU THU NHẬN VỊ TRÍ - THỜI GIAN ĐỂ ĐỊNH LƯỢNG PHƠI CHIẾU CÁ NHÂN ĐỐI VỚI KHÔNG KHÍ TRONG NHÀ RESEARCH ON RECORDING THE TIME-LOCATION PATTERNS FOR ESTIMATING THE PERSONAL EXPOSURE TO INDOOR AIR Trần Xuân Hồi Trường Đại học Phú Yên; tranxuanhoi@pyu.edu.vn Tóm tắt - Nghiên cứu này hướng đến việc thu nhận lịch sử vị trí Abstract - The aim of this research is to focus on recording the theo thời gian cho một nhóm nhân viên bức xạ. Sau đó, lượng phơi time-location patterns spent by a radiation worker group in 12 chiếu cá nhân đối với I-131 trong không khí được định lượng và months. Then the exposure to I-131 of indoor air is estimated and đánh giá. Nhóm đối tượng gồm 9 người tham gia sản xuất I-131 assesssed individually. The object consists of 9 workers involved tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Thời gian thực hiện thu nhận in a I-131 production line at Dalat Nuclear Research Institute. Some dữ liệu là 12 tháng. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu này đã important conclusions from this paper have helped to constrain góp phần trong việc hạn chế liều cho các cá nhân. Hơn nữa, internal dose for the individuals. Moreover, the technique used in phương pháp này có thể thực hiện tại các khu vực trong nhà ở this research may be applied in the indoor areas for collecting time- hoặc nơi làm việc để thu thập dữ liệu về vị trí - thời gian trong đánh location patterns to support data for the assessment of pollutant air giá phơi không khí ô nhiễm. Tuy nhiên, với số lượng đối tượng exposure. However, this method will take long time to collect data nhiều thì phương pháp sẽ tốn thời gian lớn để phân tích số liệu. in case of large objects or population-dose research. Từ khóa - không khí trong nhà; I-131; liều chiếu trong; phơi chiếu Key words - Indoor air; I-131; internal dose; personal exposure; cá nhân; vị trí-thời gian. time-location. 1. Giới thiệu hình đánh giá phơi nhiễm trong nhà bị hạn chế bởi độ chính Các nhân viên bức xạ (NVBX) thao tác trực tiếp trên xác của các nội dung trong nhật kí [4]. các sản phẩm phóng xạ dễ bay hơi sẽ có nguy cơ về phơi Sử dụng phương pháp GPS có khả năng đưa đến sự nhiễm trong vì họ hít phải không khí có chứa nhân phóng không chính xác về xác định vị trí một cách không mong xạ [2, 3, 5, 8, 14]. Một nghiên cứu đã công bố về định liều muốn. Hoạt động - thời gian xây dựng trên cơ sở GPS đã chiếu trong (LCT) đối với I-131 cho kết quả rằng, LCT được nghiên cứu kỹ lưỡng, kết quả về độ chính xác trung hiệu dụng hàng năm của một số nhân viên là trên 1 mSv, bình là 7m trong trường hợp môi trường đô thị bình thường trong đó một nhân viên có LCT đạt 7,66 mSv và phải được [9]. Độ chính xác 7m có thể không phù hợp cho việc đánh theo dõi cá nhân [2]. Theo Cơ quan Năng lượng Nguyên tử giá phơi nhiễm cá nhân trong nhà với kích thước các phòng Quốc tế (IAEA), một trong số các tình huống cần phải được không quá lớn. Hơn nữa, sự phụ thuộc của độ chính xác đánh giá lượng phơi nhiễm là các đối tượng thao tác trên GPS vào nhiều yếu tố như vị trí bất lợi của vệ tinh, hoặc sự một lượng lớn đồng vị phóng xạ dùng trong y học, chẳng nhiễu động của tầng điện li là những chướng ngại cần phải hạn như I-131 [5]. Một trong số các phép định liều gián giải quyết. Một nguyên nhân khác gây ra sai số là sự tắc tiếp thường dùng trong việc định LCT do nhân phóng xạ nghẽn tín hiệu từ vệ tinh. Do đó, sai số của GPS mang lại thâm nhập qua đường hô hấp là dựa trên phép phân tích các sẽ đặt một đối tượng vào một vị trí sai trên mặt đất [1]. mẫu không khí được lấy nơi làm việc kết hợp với thống kê Tất cả các mô hình kể trên đều không đưa ra được vị trí vị trí - thời gian chiếm giữ mà người đó đã trải qua [5]. tọa độ một cách đủ chính xác của các cá nhân. Các nhà Để xây dựng mô hình đánh giá phơi nhiễm, nguyên lý nghiên cứu sử dụng các phương pháp này phải giảm thiểu cơ bản đó là khớp các vị trí mà các đối tượng đã phơi chiếu sự bất tiện đến công việc chung cũng như độ chính xác kém với nồng độ trung bình theo thời gian hoặc nồng độ liên tục của dữ liệu vì môi trường - thời gian trong trường hợp quan của khí ô nhiễm nơi mà họ đã từng ở đó [7, 10]. Việc thu trắc môi trường trong nhà. Để tránh khỏi các mặt hạn chế nhận vị trí theo thời gian mà con người đã trải qua, hay còn này, một số tác giả đã đề nghị là sử dụng điện thoại thông gọi là lịch sử về vị trí - thời gian, gần đây các nhà nghiên minh với sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng trong việc cứu đã sử dụng kết hợp một số phép bao gồm sử dụng hệ đánh dấu vị trí môi trường. Máy chụp ảnh, quay phim tích thống câu hỏi phỏng vấn đối tượng, yêu cầu đối tượng ghi hợp trên điện thoại có thể sử dụng để quan trắc một số vị chép nhật kí hoặc sử dụng các tình nguyện viên để đeo thiết trí cố định và có thể cho ra một cơ sở dữ liệu chi tiết [4, bị định vị toàn cầu (GPS) [3, 11, 15, 17]. 16]. Bên cạnh đó, máy lấy mẫu khí cố định có thể được sử Mô hình viết nhật kí thường được sử dụng như một dụng để xác định nồng độ chất phóng xạ trong không khí, công cụ hữu ích để xây dựng hồ sơ kết cấu hoạt động - thời nồng độ này có thể được kết hợp với các giả định về đặc gian của các đối tượng, tức nó cho biết họ đã làm gì và ở tính lí hóa của chất phóng xạ, tốc độ hít thở và thời gian đâu tương ứng vào lúc nào. Tuy nhiên, trong phương pháp phơi chiếu của nhân viên để định lượng phơi chiếu [5]. này có một yếu tố hạn chế là thông tin thu được là rất ít Như vậy, trong điều kiện môi trường trong nhà và số trong trường hợp môi trường làm việc là trong nhà. Vì thế, lượng đối tượng không nhiều thì việc sử dụng máy quay mô hình này sẽ cho độ tin cậy không cao trong các bước phim của điện thoại để thu nhận vị trí - thời gian phơi chiếu xử lí số liệu sau đó. Sự phức tạp và độ chính xác của mô là một cách tiện lợi. Bằng cách sử dụng điện thoại có
  2. ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 7(116).2017 113 camera, nghiên cứu này hướng đến việc thu nhận lịch sử vị thông số của hình ảnh xuất hiện trên màn hình, bao gồm độ trí theo thời gian thật mà một nhóm NVBX đã trải qua. Sau nhạy sáng của các điểm ảnh (pixel change sensitivity) và độ đó, lượng phơi chiếu cá nhân đối với I-131 được định lượng nhạy của sự thay đổi vị trí của các điểm sáng trên khung hình và đánh giá. Nhóm đối tượng gồm 9 NVBX tham gia sản (Motion detection sensitivity). Ứng dụng này cho phép người xuất I-131 tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân (NCHN) Đà Lạt. dùng có thể điều chỉnh hai thông số này nhằm thu được các Thời gian thực hiện thu nhận dữ liệu là 12 tháng. Một số chuyển động như mong muốn. Các chuyển động nhỏ khác kết luận rút ra từ nghiên cứu này đã góp phần trong việc như các vật nhẹ trong phòng dao động vì gió thì được loại bỏ. hạn chế liều cho các NVBX. Thời gian khởi phát thu sau chuyển động được phát hiện từ 1 đến 10s. Ứng dụng cho phép chạy ngầm (không hiển thị màn 2. Thiết bị và phương pháp hình) nên tiết kiệm được dung lượng pin. Độ phân giải của tập 2.1. Ứng dụng cảm biến chuyển động Motion Recorder tin video có thể tùy chọn được bởi người dùng, có các mức Để thu được dữ liệu về các vị trí chiếm cứ theo thời gian như QVGA, VGA, nHD và 720p. thực được trải qua bởi các đối tượng, nghiên cứu này dùng Khi ứng dụng chạy, mọi cử động của các vật trên màn một ứng dụng cảm biến chuyển động có tên là Motion hình giao diện của ứng dụng mà thỏa mãn các độ nhạy đã Recorder [12]. Ứng dụng này chạy trên hệ điều hành cài đặt trước sẽ được ghi vào điện thoại dưới dạng một tập Symbian của điện thoại với kích thước sau cài đặt là 76 kB. tin phim có phụ đề là thời gian thực tại thời điểm ghi. Ngoài Ứng dụng Motion Recorder sau khi cài đặt trên điện thoại, ra, các thời điểm trên màn hình giao diện chỉ có khung hình nó sử dụng camera của điện thoại thành bộ phận ghi nhận tĩnh thì không được ghi bởi ứng dụng và lúc đó điện thoại chuyển động. Nguyên tắc hoạt động dựa trên sự thay đổi hai đang ở trạng thái chờ. a) b) c) Hình 1. Bộ dụng cụ (a), cách bố trí để ghi thời gian (b) và hệ thống đang hoạt động tại Phòng 2 (c) 2.2. Bố trí thí nghiệm và thu thập dữ liệu thời gian khác gồm W2 và W9. Thời gian làm việc của các nhân viên 2.2.1. Bố trí thí nghiệm này thường bắt đầu lúc 8 giờ sáng cho đến khi hoàn thành công việc khoảng 22 giờ tối. Khu vực quan tâm của nghiên cứu này gồm có 3 phòng liên tiếp nhau. Phòng ở giữa (Phòng 1) được thông với hai 2.2.2. Thu thập dữ liệu phòng còn lại qua hai cửa (Hình 1). Từ hành lang, muốn đi Khi các nhân viên đi vào hoặc rời khỏi các phòng kiểm vào Phòng 1 thì phải đi qua cửa của Phòng 2 hoặc Phòng soát, tức có đi ngang qua các cửa đã gắn điện thoại, sẽ tạo 3. Như vậy, có tổng cộng bốn cửa ra vào các phòng này và ra trên màn hình giao diện một cử động. Khi đó ứng dụng chúng nằm gần nhau từng đôi một. Do đó, chỉ cần bố trí hai được kích hoạt, điện thoại sẽ thu chuyển động này ngay khi điện thoại để quan sát các cử động diễn ra tại bốn cửa trên. xảy ra và gắn nhãn thời gian kiểu hh:mm:ss lên đoạn phim. Các điện thoại quan sát và thu thập thông tin về thời Dữ liệu thu được từ điện thoại sau đó được chuyển vào máy gian trong nghiên cứu này được gắn lên tường gần các cửa tính để xử lí số liệu. ra vào như thể hiện trên Hình 1. Điện thoại thứ nhất được Tập tin video sau khi được ghi nhận sẽ có thời gian ngắn gắn ở Phòng 2, quan sát sự ra vào Phòng 2 và Phòng 1 của hơn nhiều so với thời gian điện thoại đã quan trắc. Chẳng hạn, các nhân viên; điện thoại thứ hai gắn tại Phòng 3 và quan đợt sản xuất ngày 18/7/2015, thời gian quan trắc của điện thoại sát sự ra vào Phòng 3 và Phòng 1 (Hình 1b). Góc quay của tại cửa Phòng 3 là từ 8:18 đến 22:33 (tương ứng là 14,25h) các camera là một yếu tố cần được điều chỉnh hợp lí. Vị trí trong khi tập tin video thu được có thời gian là 62 phút, tức rút đặt có độ cao khoảng 2 m, điều chỉnh sao cho có được góc ngắn được 92,7% thời gian. Sự rút ngắn này mang lại các tiện quay vừa đủ để nhận diện được đối tượng và không cản trở lợi như giảm thời gian xử lí dữ liệu, điện thoại được an toàn công việc chung. Thời gian chạy trên hai điện thoại được và ổn định hơn về dung lượng pin và bộ nhớ. đồng bộ trước khi tiến hành đo. Để tiết kiệm dung lượng pin, ứng dụng cho phép chạy Đối tượng nghiên cứu gồm có 9 nhân viên, được kí hiệu ngầm khi hoạt động. Hơn nữa, để tăng thời gian sống, các từ W1 đến W9, tham gia sản xuất I-131 hoặc thường xuyên điện thoại được cấp nguồn trực tiếp từ bộ pin dự phòng có mặt tại các phòng quan tâm trong năm 2015 của Viện (Hình 1a). Do đó, có thể lắp đặt hệ thống một cách dễ dàng Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Đây là các đối tượng được và linh động trong việc điều chỉnh hướng quay. theo dõi vị trí - thời gian khi có quá trình sản xuất I-131 Kết quả thu được từ điện thoại sau khi thu thập số liệu diễn ra. Các đối tượng này gồm ba nhóm nhiệm vụ. Nhóm là một tập tin video có đính kèm thời gian thực. Các thông 1 đảm nhận vận hành dây chuyền chưng cất gồm W1 và tin gồm tên đối tượng, vị trí (phòng), thời điểm và khoảng W6; nhóm 2 có nhiệm vụ phân chia và đóng gói sản phẩm thời gian tương ứng mà đối tượng này đã trải qua ở các gồm W3, W4, W5, W7 và W8; nhóm 3 là các đối tượng
  3. 114 Trần Xuân Hồi phòng được xác định thông qua tập tin video và được nhập đợt sản xuất I-131 trong năm 2015. Hình 2 thể hiện lịch sử thông tin vào Microsoft Excel để xử lí. Đây là cơ sở dữ liệu vị trí - thời gian của nhân viên phơi chiếu vào đợt sản xuất để lập lịch sử về vị trí - thời gian phơi chiếu cho từng đối 20/6/2015. Có tổng cộng 11 biểu đồ thu được trong năm tượng quan tâm. 2015 trong nghiên cứu này mà Hình 2 là một ví dụ. Các vị trí chiếm cứ của các nhân viên trên Hình 2 gồm 3. Kết quả và nhận xét Phòng 1, Phòng 2, Phòng 3 hoặc không ở các phòng này 3.1. Sự di chuyển của các đối tượng (Ngoài) được thể hiện bằng các vạch tương ứng với các Vì sự biến thiên mạnh theo không gian và thời gian của mức độ đậm nhạt khác nhau và được gắn với trục thời gian nồng độ chất phóng xạ cũng như vị trí của các đối tượng thực có độ phân giải là 1 phút. Thời gian phơi chiếu tổng nên một trong các điều quan trọng khi định lượng phơi cộng ở từng tiểu môi trường của mỗi nhân viên chính là nhiễm là phải khảo sát sự di chuyển của con người theo tổng chiều dài thời gian theo trục hoành của các vạch cùng thời gian [11, 15]. Lịch sử vị trí - thời gian chiếm cứ bởi màu tương ứng cho nhân viên đó. Kết quả tổng hợp được các đối tượng trong nghiên cứu này được thu nhận qua từng thống kê ở Bảng 1. Hình 2. Lịch sử chiếm cứ của 9 nhân viên vào đợt sản xuất 20/6/2015 Kết quả quan trắc cho thấy rằng, tần suất di chuyển Bảng 1. Thời gian phơi chiếu tại 3 phòng trong năm 2015 a (phút) giữa các tiểu môi trường (các phòng) trong quá trình làm việc của các nhân viên là rất lớn. Hơn nữa, mỗi đối tượng Mã Trung có một dạng lịch sử chiếm cứ các vị trí là khác nhau và nhân Phòng 1 Phòng 2 Phòng 3 bình phơi không ổn định giữa các đợt sản xuất. Trong khi đó, nồng viên chiếub (h) độ trung bình của I-131 trong không khí tại các phòng W1 4007±14,5 329±7,9 395±5,0 7,17 được ghi nhận là khá chênh lệch và nồng độ I-131 trong W2 497±6,9 152±4,7 216±3,5 1,31 ngày trong cùng một phòng cũng biến đổi một cách đáng W3 825±10,1 2926±11,2 329±3,8 6,18 kể [13]. Vì thế, việc đánh dấu sự di chuyển thực tế của W4 657±10,0 3250±12,0 47±2,7 5,99 con người theo không gian và thời gian kết hợp với phép thu thập thông tin về các môi trường không khí mà họ đã W5 613±8,8 291±7,2 43±2,2 1,43 định cứ là các điều kiện quan trọng trong phép đánh giá W6 1928±12,1 1082±11,1 123±3,8 4,75 phơi chiếu cá nhân [11]. W7 1488±14,2 2143±14,8 111±3,6 5,67 3.2. Đánh giá thời gian phơi chiếu W8c 45±3,2 873±4,6 0 2,55 3.2.1. Thời gian phơi chiếu so với thời gian làm việc W9 194±6,0 135±4,3 151±3,4 0,73 Hiện nay, đánh giá của Trung tâm An toàn Bức xạ - aKhông kể tháng 11, bTính trung bình cho mỗi đợt sản xuất tại 3 phòng; Viện Nghiên cứu Hạt nhân về thời gian phơi chiếu của các cTính cho 6 tháng (từ tháng 2 đến tháng 7); Wi: Mã nhân viên. NVBX tại khu vực sản xuất đồng vị I-131 là lấy ước lượng Một đặc điểm dễ nhận thấy từ Bảng 1 là thời lượng phơi thời gian phơi chiếu của từng nhân viên là từ 2 đến 4 giờ chiếu trung bình tại ba phòng cho mỗi đợt sản xuất là khác mỗi đợt, chưa phân biệt được sự khác nhau giữa các nhân nhau đáng kể giữa các đối tượng, giá trị này nằm trong viên. Con số này được đưa ra mà chưa có cơ sở thống kê khoảng từ 0,73 đến 7,17 h, tức gấp nhau 9,8 lần. Trung bình nào đáng tin cậy. Do đó, nghiên cứu này đã tiến hành ghi phơi chiếu của 9 nhân viên trong mỗi đợt sản xuất tính từ nhận thời gian phơi chiếu từ các đợt sản xuất I-131 trong là 4,0h so với tổng thời gian tham gia sản xuất là 12,9h, năm 2015 của 9 nhân viên tại 3 phòng quan tâm, kết quả chiếm 31%. Giá trị này có thể được dùng để ước lượng khảo sát được thể hiện ở Bảng 1. LCT cho tập thể nếu biết được nồng độ trung bình của I- 131 trong không khí.
  4. ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 7(116).2017 115 3.2.2. Thời lượng phơi chiếu theo từng vị trí nhân viên chủ yếu chiếm giữ tại phòng 1, một số khác thì Như đã đề cập ở trên, nồng độ I-131 khác nhau đáng kể tại phòng 2. Cụ thể, nhân viên W1 có mặt tại Phòng 1 giữa các phòng nên cần phải phân biệt vị trí phơi chiếu của (phòng chưng cất và đóng gói) với thời lượng cao nhất các đối tượng khi cần đánh giá lượng thâm nhập. Bảng 1 và (4007 phút) trong nhóm tham gia sản xuất. Tại Phòng 2 Hình 3 cho thấy rằng, thời lượng phơi chiếu tại các phòng (phòng phân liều và chế tạo thuốc), các nhân viên có thời riêng lẻ là khác nhau đáng kể giữa các nhân viên. Một số gian chiếm giữ cao gồm W7, W3 và W4 với thời gian tương ứng là 2143 phút, 2926 phút và 3250 phút. R3 W9 R2 R1 R3 W8 R2 R1 R3 Tháng 1 W7 R2 R1 Tháng 2 W-Mã nhân viên, R-Phòng R3 Tháng 3 W6 R2 R1 Tháng 4 R3 Tháng 5 W5 R2 R1 Tháng 6 R3 Tháng 7 W4 R2 R1 Tháng 8 R3 Tháng 9 W3 R2 R1 Tháng 10 R3 Tháng 12 W2 R2 R1 R3 W1 R2 R1 0 1000 2000 3000 4000 Thời gian phơi chiếu (phút) Hình 3. Thời lượng phơi chiếu chi tiết của các nhân viên trong năm 2015 Nếu xét trên cùng một đối tượng thì thời gian phơi chiếu nhân trong năm 2015 (chỉ tính riêng cho I-131) tính theo giữa các tháng ở cùng một vị trí không khác nhau nhiều đơn vị DAC.h có thể tính được như thể hiện trên Bảng 2. (Hình 3). Điều này có ý nghĩa trong việc định liều dài hạn Từ đó ta có thể nhận ra rằng, lượng phơi chiếu của 9 đối cho từng cá nhân dựa vào nồng độ trung bình. Hoặc nó tượng đều thấp hơn nhiều so với số liệu được khuyến cáo cũng có ý nghĩa trong phép định liều tập thể theo từng bởi Ủy ban Quốc tế về An toàn Bức xạ tại Ấn bản số 78 nhóm công việc. (ICRP-78) [6]. 3.3. Đánh giá lượng phơi chiếu Bảng 2 cũng đưa ra kết quả định liều I-131 trên cùng Sự khác biệt giữa thời gian phơi chiếu của các nhân đối tượng từ phép phân tích nước tiểu. Nhìn chung, các đối viên tương đối lớn như kể trên là nguyên nhân dẫn đến tượng có lượng phơi chiếu càng lớn thì nhận LCT cũng lớn. mỗi cá nhân sẽ nhận một LCT hàng năm khác nhau đáng Tuy nhiên, LCT phụ thuộc khá nhiều yếu tố nên để đưa ra kể. Dựa vào nồng độ I-131trung bình kết hợp với thời so sánh và đánh giá một cách chi tiết thì cần có một nghiên lượng phơi chiếu ở Bảng 1, lượng phơi chiếu của từng cá cứu sâu hơn. Bảng 2. So sánh lượng phơi chiếu của các đối tượng với tiêu chuẩn của ICRP-78 Mã nhân viên W1 W2 W3 W4 W5 W6 W7 W8 W9 Ea (DAC.h) 231 37 112 105 40 129 128 21 16 Tỉ lệ (%) b 11,5 1,9 5,6 5,2 2,0 6,5 6,4 1,0 0,8 c LCT (mSv) 0,44 0,35 1,07 1,42 0,34 0,25 0,51 0,09 0,15 aLượng phơi chiếu đối với hơi I-131 năm 2015; bTỉ lệ giữa E với giới hạn phơi chiếu theo ICRP; cĐược lấy từ kết quả định liều I-131 bằng phép phân tích nước tiểu năm 2015
  5. 116 Trần Xuân Hồi 4. Kết luận Sousa W.O., Santos M.S., and Dantas B.M., "Internal dosimetry of nuclear medicine workers through the analysis of 131 I in aerosols", Trong bài báo này, tác giả đã trình bày những nghiên Applied Radiation and Isotopes 100, 2015, 70-74. cứu và đưa vào áp dụng kỹ thuật thu nhận thời gian phơi [4] Gerharz L.E., Krüger A., and Klemm O., "Applying indoor and chiếu cho từng cá nhân quan tâm. Có 9 đối tượng được theo outdoor modeling techniques to estimate individual exposure to dõi vị trí theo thời gian trong khi làm việc tại các khu kiểm PM2. 5 from personal GPS profiles and diaries: a pilot study", Science of the total environment 407, 2009, 5184-5193. soát thuộc khu vực sản xuất I-131. Phạm vi không gian [5] IAEA, Assessment of Occupational Exposure Due to Intakes of quan sát gồm ba căn phòng, mỗi phòng được xem như là Radionuclides, IAEA Safety Standards Series No. RS-G-1.2, Vienna, một tiểu môi trường. Toàn bộ số liệu về thời gian phơi Austria. 1999. chiếu đều ghi nhận theo thời gian thực. [6] ICRP, Individual Monitoring for Internal Exposure of Workers (Part 1), ICRP Publication 78. Ann. ICRP 27. 1997. Kết quả cụ thể thu được là lịch sử về vị trí - thời gian [7] Klepeis N.E., "Modeling human exposure to air pollution", Human phơi chiếu trong cả năm 2015 của nhóm đối tượng. Có tổng exposure analysis 2006, 445-470. số 72 biểu đồ cá nhân về vị trí - thời gian được vẽ ra từ số [8] Krajewska G. and Pachocki K.A., "Assessment of exposure of workers liệu ghi nhận được, mô tả vị trí của 9 NVBX đã trải qua tại to ionizing radiation from radioiodine and technetium in nuclear các tiểu môi trường trong suốt quá trình sản xuất I-131. Đây medicine departmental facilities", Medycyna pracy 64, 2013, 625-630. là kết quả quan trọng để định lượng thâm nhập và LCT. Từ [9] Nethery E., Mallach G., Rainham D., Goldberg M.S., and Wheeler số liệu thu được, có một số kết luận đáng quan tâm đã được A.J., "Using Global Positioning Systems (GPS) and temperature data to generate time-activity classifications for estimating personal khuyến cáo như: Thời gian phơi chiếu I-131 của các nhân exposure in air monitoring studies: an automated method", viên là khá ít so với tổng thời gian diễn ra sản xuất; mỗi đối Environmental Health 13, 2014, 33. tượng có một kiểu hình phơi chiếu đặc trưng. [10] Ott W.R., "Concepts of human exposure to air pollution", Điện thoại thông minh được sử dụng để hỗ trợ ghi nhận Environment International 7, 1982, 179-196. [11] Steinle S., Reis S., and Sabel C.E., "Quantifying human exposure to thời gian là một kết quả nghiên cứu đáng quan tâm trong air pollution—Moving from static monitoring to spatio-temporally bài báo. Toàn bộ số liệu về kiểu hình phơi chiếu theo thời resolved personal exposure assessment", Science of The Total gian thực của nhóm NVBX đều nhờ điện thoại thu nhận. Environment 443, 2013, 184-193. Qua 11 đợt chưng cất I-131, điện thoại đã đếm được 23021 [12] Ton Nam Software, MotionRecorder Quickstart Guide. 2013 [cited 2015 02 phút (gần 384 h), là tổng thời gian phơi chiếu mà các đối January]; Available from: http://tonnamsoftware.com/mrec/quickstart.html. tượng đã trải qua tại các khu vực kiểm soát. [13] Tran Xuan Hoi, Huynh Truc Phuong, and Nguyen Van Hung, "Estimating the Internal Dose for 131I Production Workers From Với một chi phí thấp và độ chính xác cao, nghiên cứu Air Sampling Method", Radiation Protection Dosimetry 2016 này có thể thực hiện tại các khu vực trong nhà có hiện hữu 10.1093/rpd/ncw269. không khí bị nhiễm xạ để đánh giá phơi nhiễm. Tuy nhiên, [14] Vidal M.V.S., Dantas A.L.A., and Dantas B., "A methodology for khâu phân tích số liệu thời gian trong nghiên cứu này còn auto-monitoring of internal contamination by 131I in nuclear medicine workers", Radiation protection dosimetry 125, 2007, 483-487. thủ công, khó thực hiện trên nhiều đối tượng như trên phạm [15] Glasgow M.L., Rudra C.B., Yoo E.H., Demirbas M., Merriman J., vi cộng đồng. Nayak P., Crabtree-Ide C., Szpiro A.A., Rudra A., Wactawski- Wende J., and Mu L., "Using smartphones to collect time-activity TÀI LIỆU THAM KHẢO data for long-term personal-level air pollution exposure assessment", Journal of Exposure Science and Environmental [1] Beekhuizen J., Kromhout H., Huss A., and Vermeulen R., Epidemiology 26, 2014, 356-364. "Performance of GPS-devices for environmental exposure [16] Broich A., Gerharz L., and Klemm O., "Personal monitoring of assessment", Journal of Exposure Science and Environmental exposure to particulate matter with a high temporal resolution", Epidemiology 23, 2013, 498-505. Environmental Science and Pollution Research 19, 2012, 2959-2972. [2] Bitar A., Maghrabi M., and Doubal A.W., "Assessment of intake and [17] Goldin L., Ansher L., Berlin A., Cheng J., Kanopkin D., Khazan A., internal dose from iodine-131 for exposed workers handling Kisivuli M., Lortie M., Bunker Peterson E., Pohl L., Porter S., Zeng radiopharmaceutical products", Applied Radiation and Isotopes 82, V., Skogstrom T., Fragala M., Myatt T., Stewart J., and Allen J., 2013, 370-375. "Indoor Air Quality Survey of Nail Salons in Boston", Journal of [3] Carneiro L.G., de Lucena E.A., da Silva Sampaio C., Dantas A.L.A., Immigrant and Minority Health 16, 2014, 508-514. (BBT nhận bài: 16/06/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 13/07/2017)
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2