Nghiên cứu tính đa dạng thực vật quý hiếm và nguy cấp tại xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
10
lượt xem
0
download

Nghiên cứu tính đa dạng thực vật quý hiếm và nguy cấp tại xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng là một xã vùng cao, địa hình chia cắt, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 84% tổng diện tích tự nhiên trong đó diện tích rừng chủ yếu là rừng tự nhiên trên núi đá vôi. Khu vực nghiên cứu là các dải núi đá vôi với nhiều đỉnh cao, độ dốc lớn, độ cao trung bình 1160 - 1328m, độ dốc từ 30 - 400 có nơi >450 , đường đi lại khó khăn, tài nguyên thực vật rừng nói chung đã bị tác động mạnh. Kết quả bước đầu chúng tôi đã xác định được thành phần thực vật quý hiếm và nguy cấp tại khu vực nghiên cứu là rất đa dạng, có tới 33 loài, 27 chi và 20 họ thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch khác nhau có tên trong Sách đỏ Việt Nam 2007, danh lục đỏ IUCN 2011 và Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/06/2006. Đặc biệt lần đầu tiên vùng phân bố mới một quần thể nhỏ Bách vàng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu tính đa dạng thực vật quý hiếm và nguy cấp tại xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

Đặng Kim Vui và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 104(04): 9 - 16<br /> <br /> NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT QUÝ HIẾM VÀ NGUY CẤP<br /> TẠI XÃ CA THÀNH, HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG<br /> Đặng Kim Vui, Trần Đức Thiện,<br /> La Thu Phương, Trần Quang Diệu, La Quang Độ*<br /> Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng là một xã vùng cao, địa hình chia cắt, diện<br /> tích đất lâm nghiệp chiếm tới 84% tổng diện tích tự nhiên trong đó diện tích rừng chủ yếu là<br /> rừng tự nhiên trên núi đá vôi. Khu vực nghiên cứu là các dải núi đá vôi với nhiều đỉnh cao, độ<br /> dốc lớn, độ cao trung bình 1160 - 1328m, độ dốc từ 30 - 40 0 có nơi >45 0, đường đi lại khó<br /> khăn, tài nguyên thực vật rừng nói chung đã bị tác động mạnh. Kết quả bước đầu chúng tôi đã<br /> xác định được thành phần thực vật quý hiếm và nguy cấp tại khu vực nghiên cứu là rất đa<br /> dạng, có tới 33 loài, 27 chi và 20 họ thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch khác nhau có tên<br /> trong Sách đỏ Việt Nam 2007, danh lục đỏ IUCN 2011 và Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày<br /> 30/06/2006. Đặc biệt lần đầu tiên vùng phân bố mới một quần thể nhỏ Bách vàng<br /> Xanthocyparis vietnamensis Farjon & N. T. Hiep với 34 cá thể (25 cá thể trưởng thành và 9 cá<br /> thể tái sinh) ở cấp bảo tồn CR B2ab(v) trên núi đá vôi ở độ cao từ 1285 - 1328 m và quần thể<br /> Hài điểm ngọc Paphiopedilum emersonii Koop. & P. J. Cribb hiện đang ở mức cực kỳ nguy<br /> cấp CR A2c trong danh lục đỏ IUCN 2011 phân bố trên sườn núi đá vôi ở độ cao từ 1230 –<br /> 1278 m, được ghi nhận tại nơi đây. Kết quả nghiên cứu này đóng góp vào bản đồ phân bố<br /> thực vật quý hiếm của Việt Nam, là cơ sở khoa học định hướng việc lập kế hoạch, quản lý và<br /> bảo tồn tài nguyên thực vật quý hiếm và đặc biệt là hai loài nguy cấp và đặc hữu Bách vàng<br /> và Hài điểm ngọc tại xã Ca Thành huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng.<br /> Từ khóa: Bách vàng, bảo tồn, núi đá vôi, Sách đỏ Việt Nam, thực vật quý hiếm.<br /> <br /> MỞ ĐẦU*<br /> Rừng nhiệt đới và á nhiệt đới chỉ chiếm<br /> khoảng 7% diện tích bề mặt Trái Đất, song<br /> chúng chứa trong mình tới 50% tổng số loài<br /> thực vật. Những vùng này là những nơi quan<br /> trọng về đa dạng sinh học, chứa đựng nhiều<br /> loài thực vật có mạch bản địa, tính tự nhiên và<br /> nguyên vẹn của các khu vực sinh thái quan<br /> trọng này đang bị tác động mạnh hơn bao giờ<br /> hết (Breckle, 2002). Tính đa dạng sinh học<br /> cao này là một phần do yếu tố đai cao, bao<br /> gồm cả các tiểu khí hậu, tạo ra các loài<br /> chuyển tiếp sinh thái và ít tác động của con<br /> người so với rừng ôn đới và hàn đới. Rừng<br /> nhiệt đới ẩm có hệ sinh thái trên cạn giầu nhất<br /> về sức sản xuất sinh khối và đa dạng sinh học.<br /> Chúng cung cấp 15% gỗ thương phẩm cho<br /> thế gới, tạo đời sống cho 140 triệu người<br /> (Burley, 1993). Tuy nhiên, hiện nay tính đa<br /> dạng sinh học đang bị suy giảm nghiêm trọng<br /> do sự tác động của con người và biến động<br /> *<br /> <br /> Tel: 0914 608369. Email: laquangdotn@gmail.com<br /> <br /> của thời tiết. Các kết quả nghiên cứu cũng<br /> cho thấy rằng tốc độ suy thoái rừng, mất rừng,<br /> mất loài ở các khu vực ngoài khu bảo tồn<br /> nhanh hơn các khu bảo tồn; tốc độ tuyệt<br /> chủng là cao nhất ở các mảnh rừng nhỏ hơn<br /> và sẽ tăng lên mạnh khi diện tích giảm xuống<br /> dưới 1km2.<br /> Rừng bị khai thác quá mức đã trở nên nghèo<br /> kiệt; các hệ sinh thái rừng bị hủy hoại. Nhiều<br /> loài thực vật quý hiếm dần dần trở nên khan<br /> hiếm và biến mất. Bảo tồn tài nguyên di<br /> truyền đang trở thành một nhu cầu cấp thiết vì<br /> sự tồn tại mỏng manh của các loài cây quý<br /> hiếm ở nước ta.<br /> Xã Ca Thành huyện Nguyên Bình có diện tích<br /> tự nhiên 3.700 ha, 449 hộ với trên 2200 nhân<br /> khẩu. Có các dân tộc Mông, Dao, Tày và<br /> Kinh cùng sinh sống. Vùng núi đá khu vực<br /> này có hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi độc<br /> đáo còn có một số nguồn gen thực vật quý<br /> hiếm. Hiện nay, khu vực đang bị tác động tiêu<br /> cực của một số người dân địa phương, đã khai<br /> thác quá mức, làm suy giảm các loài thực vật<br /> 9<br /> <br /> 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đặng Kim Vui và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> quý hiếm của hệ sinh thái rừng. Trong khi đó,<br /> khả năng phục hồi rừng trên núi đá là rất khó<br /> khăn. Kết quả nghiên cứu nhằm mục đích<br /> cung cấp các dẫn liệu làm cơ sở khoa học cho<br /> việc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển<br /> các nguồn gen thực vật quý hiếm và nguy cấp<br /> trên núi đá vôi, bảo vệ tính đa dạng sinh học<br /> của khu vực.<br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Đối tượng<br /> Nghiên cứu tính đa dạng về các loài thực vật<br /> quý hiếm trong các trạng thái rừng trên núi đá<br /> vôi xã Ca Thành, Nguyên Bình, Cao Bằng.<br /> Phương pháp<br /> Phương pháp kế thừa: Kế thừa và tham<br /> khảo các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực<br /> nghiên cứu.<br /> Điều tra theo tuyến: Xác định địa điểm nghiên<br /> cứu, căn cứ vào bản đồ của khu vực lập các<br /> tuyến điều tra. Tuyến điều tra đầu tiên có<br /> hướng vuông góc với đường đồng mức, các<br /> tuyến sau song song với tuyến đầu. Chiều<br /> rộng quan sát của mỗi tuyến điều tra là 4m.<br /> Dọc theo tuyến điều tra bố trí các ô tiêu chuẩn<br /> và ô dạng bản (2m x 2m) để thu thập số liệu<br /> trong ô tiêu chuẩn. Đã tiến hành lập 8 tuyến<br /> điều tra. Có tổng chiều dài 15 km.<br /> Điều tra ô tiêu chuẩn: Thu thập số liệu trực<br /> tiếp ngoài thực địa trên các ô tiêu chuẩn 400<br /> m2 (20m x 20m), được phân bố ngẫu nhiên,<br /> 14 ô. Ô dạng bản được bố trí theo các đường<br /> chéo, đường vuông góc và các cạnh của ô tiêu<br /> chuẩn. Ngoài ra dọc hai bên tuyến điều tra<br /> còn đặt các ô dạng bản phụ để thu thập số liệu<br /> bổ xung. Tên loài cây được xác định theo các<br /> tài liệu: Sách đỏ Việt Nam [2], Danh lục thực<br /> vật Việt Nam (tập 1, 2, 3) [1], dạng sống được<br /> xác định theo Raunkiaer (1934) [10]. Sử dụng<br /> phương pháp đánh giá của Thái Văn Trừng để<br /> mô tả cấu trúc thảm thực vật [6,7]. Và các<br /> công trình khoa học đã công bố [3, 5].<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Tính đa dạng về thực vật tại khu vực<br /> nghiên cứu<br /> Đa dạng thành phần loài thực vật quý hiếm<br /> Kết quả nghiên cứu trên diện tích rừng thôn<br /> Cau Lù, Xiền Peèng, Tả Phình xã Ca Thành,<br /> <br /> 104(04): 9 - 16<br /> <br /> bước đầu đã phát hiện, giám định và lập được<br /> danh lục các loài cây quý hiếm cho 3 ngành<br /> như sau: Dương xỉ (Polypodiophyta), Ngành<br /> thông (Pinophyta), Mộc lan (Magnoliophyta)<br /> được tổng hợp trong bảng 01.<br /> Bảng 01 cho thấy, thành phần thực vật tại khu<br /> vực nghiên cứu có 33 loài thực vật quý hiếm,<br /> thuộc 27 chi, 20 họ, 3 ngành thực vật khác<br /> nhau. Kết quả này cho thấy mức độ da dạng<br /> các loài thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên<br /> cứu là rất cao. Mức độ đa dạng trong từng họ<br /> giữa các ngành cũng khác nhau và được thể<br /> hiện qua số loài của mỗi họ. Kết quả điều tra<br /> cho thấy mỗi họ có số lượng loài và mức<br /> nguy cấp khác nhau theo IUCN 2011 (version<br /> 3.1), sách đỏ Việt Nam 2007 và Nghị định<br /> 32/2006/NĐ-CP. Kết quả được tổng hợp tại<br /> bảng 02.<br /> Từ kết quả bảng 02 cho thấy: Họ có nhiều<br /> loài quý hiếm và nguy cấp nhất là họ Lan<br /> (Orchidaceae) với 8 loài chiếm 24,2%, họ<br /> Thông (Pinaceae) với 3 loài chiếm 9,1% tổng<br /> số loài thực vật quý hiếm của khu vực. Kết<br /> quả nghiên cứu cho thấy có 33 loài thực vật<br /> quý hiếm và nguy cấp tại khu vực nghiên cứu<br /> trong đó có 8 loài ở cấp độ thế giới (IUCN<br /> 2011) chiếm 24,2% tổng số loài ghi nhận, đặc<br /> biệt có hai loài cực kỳ nguy cấp của thế giới<br /> lần đầu tiên được phát hiện phân bố tại khu<br /> vực: loài Bách vàng Xanthocyparis<br /> vietnamensis Farjon & N. T. Hiep, {CR<br /> B2ab(v)} và loài Hài điểm ngọc<br /> Paphiopedilum emersonii koop.& P.J. Cribb<br /> (CR A2c) [9]. Trong các loài quý hiếm được<br /> ghi nhận có tới 16 loài (7 loài thuộc nhóm IA<br /> và 9 loài thuộc nhóm IIA) được ghi trong<br /> Nghị định 32/2006/NĐ-CP, chiếm 48,5%<br /> tổng số loài quý hiếm và nguy cấp.<br /> Kết quả nghiên cứu ghi nhận 33 loài nguy cấp<br /> và quý hiếm theo Sách đỏ Việt Nam 2007,<br /> trong đó có 3 loài ở cấp cực kỳ nguy cấp<br /> (Bách vàng- Xanthocyparis vietnamensis-CR<br /> B1+2b,c,e;<br /> Re<br /> hương- Cinnamomum<br /> parthenoxylonsn-CR A1a,c,d; Hài điểm ngọcPaphiopedilum emersonii-CR A1a,c,d) chiếm<br /> 9,09%, 16 loài ở cấp nguy cấp (EN) chiếm<br /> 48,48% và 14 loài sẽ nguy cấp (VU) chiếm<br /> 42,42%.<br /> <br /> 10<br /> <br /> 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đặng Kim Vui và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 104(04): 9 - 16<br /> <br /> Bảng 01. Thành phần thực vật quý hiếm và nguy cấp tại xã Ca Thành<br /> TT<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> <br /> Ngành thực vật<br /> Polypodiophyta<br /> Pinophyta<br /> Magnoliophyta<br /> Tổng<br /> <br /> Họ<br /> Số lượng<br /> Tỷ lệ<br /> (%)<br /> 1<br /> 5,0<br /> 3<br /> 15,0<br /> 16<br /> 80,0<br /> 20<br /> 100<br /> <br /> Chi<br /> Số lượng<br /> Tỷ lệ<br /> (%)<br /> 1,0<br /> 3,7<br /> 5,0<br /> 8,5<br /> 21,0<br /> 77,8<br /> 27<br /> 100<br /> <br /> Loài<br /> Số lượng<br /> Tỷ lệ<br /> (%)<br /> 2,0<br /> 6,1<br /> 6,0<br /> 18,2<br /> 25,0<br /> 72,7<br /> 33<br /> 100<br /> <br /> Bảng 02. Mức nguy cấp của các loài thực vật quý hiếm tại xã Ca Thành<br /> STT<br /> <br /> Tên họ<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1.Polypodiophyta<br /> Polypodiaceae<br /> <br /> 2<br /> <br /> Polypodiaceae<br /> 2.Pinophyta<br /> <br /> 3<br /> <br /> Cupressaceae<br /> <br /> 4<br /> <br /> Cupressaceae<br /> <br /> 5<br /> <br /> Pinaceae<br /> <br /> 6<br /> <br /> Pinaceae<br /> <br /> 7<br /> 8<br /> <br /> Pinaceae<br /> Taxaceae<br /> 3.Magnoliophyta<br /> 3.1.Magnoliopsida<br /> <br /> 9<br /> 10<br /> <br /> Apocynaceae<br /> Aristolochiaceae<br /> <br /> 11<br /> 12<br /> <br /> Balanophoraceae<br /> Berberidaceae<br /> <br /> 13<br /> <br /> Berberidaceae<br /> <br /> 14<br /> <br /> Campanulaceae<br /> <br /> 15<br /> <br /> Cucurbitaceae<br /> <br /> 16<br /> 17<br /> <br /> Lauraceae<br /> Menispermaceae<br /> <br /> 18<br /> <br /> Primulaceae<br /> <br /> 19<br /> <br /> Rhoipteleaceae<br /> <br /> 20<br /> <br /> Tiliaceae<br /> <br /> Tên khoa học loài<br /> <br /> Drynaria bonii C. Chr.<br /> Drynaria fortunei (Kuntze ex<br /> Mett.) J. Smith<br /> Fokienia hodginsii (Dunn)<br /> A.Henry & Thomas<br /> Xanthocyparis vietnamensis<br /> Farjon & N. T. Hiep<br /> Pseudotsuga brevifolia W. C.<br /> Cheng & L. K. Fu<br /> Pinus kwangtungensis Chun ex<br /> Tsiang<br /> Pseudotsuga sinensis<br /> Taxus chinensis (Pilg.) Rehder.<br /> <br /> Madhuca pasquieri (Dubard) H.<br /> J. Lam<br /> Asarum caudigerum Hance<br /> Balanophora cucphuongensis<br /> N.T. Ban<br /> Mahonia nepalensis DC.<br /> Podophyllum tonkinensis<br /> Gagnep.<br /> Codonopsis javanica (Blume)<br /> Hook. f.<br /> Gynostemma pentaphyllum<br /> (Thunb.) Makino<br /> Cinnamomum parthenoxylon<br /> (Jack) Meisn.<br /> Stephania dielsiana C. Y. Wu<br /> Lysimachia chenii C. M. Hu<br /> Rhoiptelea chiliantha Diels &<br /> Hand.-Mazz.<br /> Excentrodendron tonkinense<br /> (Gagnep.) Chang & Miau<br /> <br /> Tên thông<br /> thường<br /> <br /> Cấp bảo tồn<br /> SĐ<br /> IUCN VN<br /> NĐ<br /> 2011 2007<br /> 32<br /> <br /> Tắc kè đá<br /> <br /> VU<br /> <br /> Cốt toái bổ<br /> <br /> EN<br /> <br /> Pơ mu<br /> <br /> LR<br /> <br /> EN<br /> <br /> IIA<br /> <br /> Bách Vàng<br /> <br /> CR<br /> <br /> CR<br /> <br /> IA<br /> <br /> Thiết sam giả<br /> Thông pà cò<br /> Thiết sam giả<br /> lá ngắn<br /> Thông đỏ bắc<br /> <br /> Sến mật<br /> Thổ tế tân<br /> Dó đất cúc<br /> phương<br /> Mã hồ<br /> <br /> VU<br /> LR<br /> <br /> VU<br /> <br /> IA<br /> <br /> VU<br /> LR<br /> <br /> VU<br /> VU<br /> <br /> IIA<br /> <br /> VU<br /> <br /> EN<br /> VU<br /> <br /> IIA<br /> <br /> EN<br /> EN<br /> <br /> Bát giác liên<br /> <br /> EN<br /> <br /> Đảng sâm<br /> <br /> VU<br /> <br /> Dần toòng<br /> <br /> EN<br /> <br /> Re hương<br /> Củ dòm<br /> Trân châu<br /> cheng<br /> <br /> DD<br /> <br /> Đuôi ngựa<br /> <br /> VU<br /> <br /> Nghiến<br /> <br /> CR<br /> VU<br /> <br /> IIA<br /> <br /> IIA<br /> IIA<br /> <br /> EN<br /> EN<br /> EN<br /> <br /> IIA<br /> <br /> 11<br /> <br /> 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đặng Kim Vui và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 104(04): 9 - 16<br /> <br /> 3.2.Liliopsida<br /> 21<br /> <br /> Trilliaceae<br /> <br /> 22<br /> <br /> Arecaceae<br /> <br /> 23<br /> <br /> Orchidaceae<br /> <br /> 24<br /> <br /> Orchidaceae<br /> <br /> 25<br /> 26<br /> <br /> Orchidaceae<br /> Orchidaceae<br /> <br /> 27<br /> <br /> Orchidaceae<br /> <br /> 28<br /> 29<br /> <br /> Orchidaceae<br /> Orchidaceae<br /> <br /> 30<br /> <br /> Orchidaceae<br /> <br /> 31<br /> <br /> Tacaceae<br /> <br /> Paris polyphylla Smith<br /> Calamus platyacanthus Warb. Ex<br /> Becc.<br /> Paphiopedilum emersonii Koop.<br /> & P. J. Cribb.<br /> Paphiopedilum micranthum T.<br /> Tang & F. T. Wang<br /> Paphiopedilum hirsutissimum<br /> (Lindl. Ex Hook.) Stein.<br /> Anoectochilus setaceus Blume<br /> Anoectochilus calcareous Aver.<br /> Dendrobium wardianum R.<br /> Warner<br /> Dendrobium longicornu Lindl.<br /> Nervilia fordii (Hance) Schlechter<br /> Tacca subflabellata P. P. Ling &<br /> C. T. Ting<br /> <br /> Trọng lâu<br /> nhiều lá<br /> Song mật<br /> Hài điểm<br /> ngọc<br /> Hài mạng đỏ<br /> tía<br /> <br /> EN<br /> VU<br /> CR<br /> <br /> CR<br /> <br /> IA<br /> <br /> EN<br /> <br /> IA<br /> <br /> Tiên hài<br /> Lan kim tuyến<br /> Kim tuyến đá<br /> vôi<br /> <br /> VU<br /> EN<br /> <br /> IA<br /> IA<br /> <br /> EN<br /> <br /> IA<br /> <br /> Ngũ tinh<br /> Đại giác<br /> Thanh thiên<br /> quỳ<br /> <br /> VU<br /> EN<br /> EN<br /> <br /> IIA<br /> <br /> Phá lửa<br /> VU<br /> Hoàng tinh<br /> 32<br /> Convallariaceae<br /> Polygonatum punctatum Royle<br /> đốm<br /> EN<br /> Hoàng tinh<br /> 33<br /> Convallariaceae<br /> cách<br /> VU<br /> IIA<br /> Disporopsis longifolia Craib<br /> Ghi chú: SĐVN 2007: Sách đỏ Việt Nam 2007 [2] trong đó: CR: rất nguy cấp; EN: nguy cấp; VU: sẽ nguy<br /> cấp; IUCN Red List 2011: Danh lục đỏ thế giới 2011 [9]; trong đó CR: rất nguy cấp; EN: nguy cấp; VU:<br /> Sẽ nguy cấp; LR: ít nguy cấp; NĐ32: Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/06/2006: Nhóm IA: Nghiêm<br /> cấm, khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại; Nhóm IIA: hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích<br /> thương mại.<br /> <br /> Đa dạng các loài cây quý hiếm và nguy cấp<br /> trong các kiểu rừng tại khu vực nghiên cứu<br /> + Kiểu rừng Trúc + gỗ<br /> Kiểu này hoàn toàn nằm ở khu vực lũng và<br /> chân núi, có diện tích nhỏ, tỷ lệ đá lộ đầu<br /> khoảng 40%, bị tác động mạnh của con<br /> người. Trạng thái rừng này ở độ cao khoảng<br /> 1200m thường có cấu trúc 3 tầng, trong đó có<br /> 1 tầng cây vầu gỗ, 1 tầng cây bụi và 1 tầng<br /> thảm tươi. Thành phần chủ yếu là Trúc sào<br /> (Phyllostachys edulis), Quếch (Chisocheton<br /> paniculatus),<br /> Chẹo<br /> (Engelhardtia<br /> roxburghiana), Dẻ-Fagaceae các loài<br /> (Lithocarpus balansea, Lithocarpus corneus,<br /> Quercus bambusifolia, Castanopsis indica);<br /> Kháo (Phoebe macrocarpa). Có 04 loài cây<br /> quý hiếm được ghi nhận trong trạng thái này:<br /> Thổ tế tân (Asarum caudigerum), Dó đất cúc<br /> phương (Balanophora cucphuongensis), Bát<br /> giác liên (Podophyllum tonkinense) và Đảng<br /> sâm (Codonopsis javanica).<br /> <br /> + Kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng lá kim trên<br /> núi đá vôi. Kiểu này chỉ phân bố trên đỉnh và<br /> xung quanh đỉnh núi khu vực nghiên cứu, có<br /> độ cao từ 1250 đến 1330 m. Có ưu hợp chính<br /> là các loài Thiết sam giả (Pseudotsuga<br /> brevifolia) + Thiết sam giả lá ngắn<br /> (Pseudotsuga sinensis) + Thông tre lá ngắn<br /> (Podocarpus pilgeri). Mọc xen lẫn với các<br /> cây lá rộng như Côm (Eleocapus sp.), Sến nạc<br /> (Sarcosperma laurinum) Sến đất trung hoa<br /> (Sinosideroxylon wightianum), Bách vàng<br /> (Xanthocyparis vietnamensis),…Đây là kiểu<br /> rừng lùn trên đỉnh núi, có độ cao trung bình từ<br /> 10-15m.<br /> Trong kiểu rừng này có 8 loài thực vật quý<br /> hiếm: Thông đỏ bắc (Taxus chinensis).<br /> Thiết sam giả (Pseudotsuga brevifolia), Thiết<br /> sam giả lá ngắn (Pseudotsuga sinensis),<br /> Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Hài<br /> mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Pơ<br /> mu (Fokienia hodginsii), Mã hồ (Mahonia<br /> nepalensis), và Bách vàng (Xanthocyparis<br /> vietnamensis).<br /> <br /> 12<br /> <br /> 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đặng Kim Vui và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> + Kiểu rừng thứ sinh bị tác động mạnh<br /> Kiểu này gặp ở tất cả các tuyến điều tra, phân<br /> bố ở khu vực chân và sườn núi, gần với các<br /> con đường mòn đi lại thuận lợi được người<br /> dân tạo ra để khai thác tài nguyên rừng nhiều<br /> năm nay. Do tác động của khai thác, trữ<br /> lượng của kiểu rừng này thấp. Thành phần<br /> gồm các loài chính Nghiến (Exentrodendron<br /> tonkinense), Trai (Garcinia fragraeoides), Dẻ<br /> gai<br /> (Castanopsis<br /> indica),<br /> Cà<br /> lồ<br /> (Caryodaphnosis<br /> baviensis),<br /> Re<br /> (Cinnamomum bejolghota, Re (Cinnamomum<br /> iners), Sếu (Celtis sp.), Trâm (Syzygium sp.),<br /> Mán đỉa (Archidendron balansae), Vàng anh<br /> (Saraca dives), Máu chó (Knema pierei)...<br /> Các loài cây quý hiếm trong kiểu rừng này<br /> bao gồm 24 loài thuộc 19 chi, 15 họ chiếm<br /> 72,72 % tổng số loài, 70,37 % tổng số chi,<br /> 75% tổng số họ. Các loài trong họ Lan<br /> (Orchidaceae) chiếm phần lớn và các loài<br /> khác như Re hương (Cinnamomum<br /> parthenoxylonsn), Sến mật (Madhuca<br /> pasquierii),<br /> Đuôi<br /> ngựa<br /> (Rhoiptelea<br /> chiliantha), Thổ tế tân (Asarum caudigerum),<br /> Phá lửa (Tacca subflabellata), Hoàng tinh<br /> cách (Disporopsis longifolia), Trân châu chen<br /> (Lysimachia chenii). Củ dòm (Stephania<br /> dielsiana), Trọng lâu nhiều lá (Paris<br /> polyphylla),<br /> Dần toòng (Gynostemma<br /> pentaphyllum), Mã hồ (Mahonia nepalensis),<br /> Dó đất cúc Phương (Balanophora<br /> cucphuongensis),<br /> Hoàng<br /> tinh<br /> đốm<br /> (Polygonatum punctatum), Tắc kè đá<br /> (Drynaria<br /> bonii),<br /> Hài<br /> điểm<br /> ngọc<br /> (Paphiopedilum emersonii)...<br /> + Kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy<br /> Trạng thái này thường là những khoảnh nhỏ ở<br /> vùng chân núi liền kề với rừng nguyên sinh<br /> hay rừng thứ sinh bị khai thác kiệt. Thành<br /> phần gồm các loài cây tiên phong ưa sáng<br /> mọc nhanh. Trong kiểu rừng này do mới phục<br /> hồi, chỉ xuất hiện hai loài cây quý hiếm: Đảng<br /> sâm (Codonopsis javanica) và Dần toòng<br /> (Gynostemma pentaphyllum).<br /> Đa dạng về dạng sống<br /> Dạng sống là biểu hiện tổng hợp kết quả thích<br /> ứng lâu dài của thực vật với điều kiện sống, là<br /> <br /> 104(04): 9 - 16<br /> <br /> biểu hiện bên ngoài phản ánh tính thống nhất<br /> giữa thực vật với hoàn cảnh ở mức độ nhất<br /> định. Dạng sống nói lên bản chất sinh thái của<br /> loài. Mỗi hệ sinh thái là tổng hợp tương quan<br /> dạng sống các loài với các nhân tố sinh thái<br /> của nơi chúng đang sống. Dựa theo phân loại<br /> của Raunkiaer (1934) [10], dạng sống của<br /> thực vật tại khu vực nghiên cứu qua phân tích<br /> có 3 nhóm dạng sống cơ bản:<br /> Từ bảng 03 ta có công thức phổ dạng sống<br /> của của các loài thực vật quý hiếm tại khu<br /> vực nghiên cứu như sau: SB = 78,79Ph +<br /> 18,18Ch + 3,03 Cr<br /> Phổ dạng sống của các loài thực vật quý hiếm<br /> tại khu vực nghiên cứu khá phong phú, có 3<br /> dạng sống chính từ dạng cây chồi trên mặt đất<br /> cho tới nhóm cây chồi ẩn. Song tỷ lệ nhóm<br /> các loại dạng sống có khác nhau, nhóm có tỷ<br /> lệ cao nhất là nhóm chồi trên mặt đất (Ph)<br /> chiếm 78,79%, dạng sống ít nhất nhóm chồi<br /> ẩn (Cr) 3,03%. Như vậy, tại khu vực nghiên<br /> cứu dạng sống (Ph) là dạng sống phổ biến và<br /> chiếm ưu thế lớn nhất, điều đó cho thấy hệ<br /> sinh thái rừng trên núi đá vôi tại khu vực<br /> nghiên cứu thuộc xã Ca Thành vẫn còn tương<br /> đối phong phú. Riêng nhóm chồi trên mặt đất<br /> (Ph) có đến 26 loài chiếm 78,79% tổng loài<br /> của khu vực nghiên cứu. Kết quả phân tích cho<br /> thấy nhóm này có phổ dạng sống như sau:<br /> Ph = 11,54 Mg + 23,08 Me + 7,69 Mi + 3,85<br /> Na + 13,58 Lp + 19,23 Ep + 19,23 Hp<br /> Các loài thực vật quý hiếm tại xã Ca Thành<br /> khá đa dạng về giá trị sử dụng, với nhiều công<br /> dụng khác nhau đối với đời sống người dân nơi<br /> đây, như làm thuốc, cung cấp gỗ, làm cảnh...<br /> Quần thể nhỏ Bách vàng Xanthocyparis<br /> vietnamensis Farjon & N. T. Hiẹp.<br /> Bách vàng là loài cây quý hiếm ở phân cấp bảo<br /> tồn cực kỳ nguy cấp (CR), là loài đặc hữu phân<br /> bố hẹp có giá trị nhiều mặt ở Việt Nam [5].<br /> Phân bố và tình trạng: Bách vàng, loài cây<br /> đặc hữu của Việt Nam mới chỉ tìm thấy ở một<br /> số khu vực của tỉnh Hà Giang, hiện nay có số<br /> lượng cá thể rất ít và phân bố trong một<br /> khoảng diện tích hẹp. [3, 4, 6, 7, 8].<br /> 13<br /> <br /> 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản