MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 5

Chƣơng 1 – TỔNG QUAN ....................................................................................... 6

1.1 Các khái niệm về tính dễ bị tổn thương ............................................................ 6

1.1.1 Khái niệm chung về tính dễ tổn thương ......................................... 6

1.1.2 Tổn thương do lũ lụt ....................................................................... 8

1.2 Sự cần thiết của đánh giá tổn thương lũ ............................................................ 9

1.3 Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................ 10

1.4 Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội ....................................................... 11

1.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên ............................................................... 11

1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội .............................................................. 16

1.5 Tình hình về lũ lụt và những tổn thương do lũ gây ra trong những năm gần đây trên lưu vực sông Thạch Hãn. ........................................................................ 18

Chƣơng 2 - CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG DO LŨ ...................................................................................................................... 21

2.1 Phương pháp.................................................................................................... 21

2.2 Xây dựng bản đồ nguy cơ lũ ........................................................................... 23

2.2.1 Giới thiệu về mô hình MIKE FLOOD .......................................... 23

2.2.2 Xây dựng mạng lưới thủy lực cho vùng nghiên cứu .................... 24

2.2.3 Mạng thủy lực kết nối 1 chiều và 2 chiều .................................... 29

2.3 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực kết nối 1-2 chiều ......................... 33

2.4 Xây dựng bản đồ nguy cơ với các tần suất 1% ............................................... 39

Chƣơng 3 - ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG DO LŨ GÂY RA TRÊN HẠ LƢU LƢU VỰC SÔNG THẠCH HÃN TỈNH QUẢNG TRỊ ...................... 45

3.1 Điều tra khả năng chống chịu của cộng đồng ................................................. 45

3.2 Thành lập bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ gây ra vùng hạ lưu lưu vực sông Bến Hải, Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị ..................................................................... 51

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 60

PHỤ LỤC ................................................................................................................. 64

1

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1. Khu vực nghiên cứu .................................................................................... 12

Hình 2: Những thiệt hại về kinh tế do lũ lụt gây ra trong những gần đây ............... 18

Hình 3. Những thiệt hại về người do lũ lụt gây ra trong những năm gần đây ........ 19

Hình 4. Các bước xác định tính tổn thương lũ ......................................................... 22

5. Sơ đồ tính toán thủy lực trên 3 lưu vự .................... 26

Hình 6. Mặt cắt điểm hình của sông Cam Lộ ........................................................... 27

Hình 7. Mặt cắt điểm hình của sông Thạch Hãn ...................................................... 27

8. Phân chia lưu v c gia nhậ .................. 28

Hình 9. Giới hạn vùng tính toán 2 chiều ................................................................. 29

Hình 10. Chia lưới tại khu vực nghiên cứu ............................................................. 30

Hình 11. Vị trí tương đối các biên trong mô hình 2 chiều ...................................... 31

12. Sơ 1-2 ch ........................................ 33

Hình 13. Quá trình mực nước tính toán và thực đo trận lũ 10/2005 ....................... 34

Hình 14. So sánh vết lũ tính toán và thực đo trên lưu vực sông Bến Hải với trận lũ tháng 10/2005 ............................................................................................................ 35

Hình 15. Quá trình mực nước tính toán và thực đo trận lũ năm 1999 .................... 35

Hình 16. Độ sâu ngập lụt cực đại tính toán và khảo sát trận lũ năm 1999 ............... 37

Hình 17. So sánh diện ngập tính toán và diện ngập thống kê năm 1999 ................ 37

Hình 18. So sánh diện tích ngập thống kê và tính toán theo các xã năm 1999 ....... 38

Hình 19. Tương quan diện ngập tính toán và diện ngập thống kê năm 1999 ......... 38

Hình 20. Bản đồ độ sâu ngập lụt ứng với tần suất 1% ............................................. 39

Hình 21. Bản đồ vận tốc đỉnh lũ với tần suất 1% ..................................................... 40

Hình 22. Bản đồ thời gian ngập với tần suất 1% ...................................................... 41

Hình 23. Bản đồ nguy cơ lũ với tần suất 1% ............................................................ 43

Hình 24. Hình ảnh điều tra vết lũ tại vùng nghiên cứu ........................................... 46

Hình 25. Bảng câu hỏi điều tra khả năng chống chịu lũ .......................................... 47

Hình 26. Bản đồ thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng ............................... 49

Hình 27. Bản đồ sử dụng đất tại vùng nghiên cứu ................................................... 51

Hình 28. Bản đồ sự lộ diện của các đối tượng trước nguy cơ lũ .............................. 54

Hình 29. Bản đồ tổn thương do lũ vùng hạ lưu lưu vực sông Thạch Hãn ............... 56

2

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1. Lựa chọn kết nối trong mô hình MIKE FLOOD ....................................... 32

Bảng 2 Kết quả thực đo và tính toán độ sâu ngập lụt cực đại lũ năm 1999 ............. 36

Bảng 3. Trọng số của các yếu tố tạo lên nguy cơ lũ ................................................. 42

Bảng 4. Định lượng hóa các phương án trả lời của phiếu điều tra ........................... 48

Bảng 6. Ma trận tính toán sự lộ diện các đối tượng trước lũ .................................... 53

Bảng 7. Ma trận tính toán mức độ tổn thương do lũ ................................................ 55

3

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ATNĐ Áp thấp nhiệt đới

HD Hydraulic Dynamic

Intergovermental Panel on Climate Change (Ban Liên chính phủ IPCC

về Biến đổi khí hậu)

ISDR International Strategy for Disaster Reduction ( Chiến lược giảm

nhẹ thiên tai quốc tê)

KTTV Khí tượng thủy văn

NAM NedbØr – AfstrØmning – Model ( Mô hình mưa – dòng chảy)

PCLB&TKCN Phòng chống lụt bão và Tìm kiếm cứu nạn

SAR Second Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần II)

Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

TAR Third Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần III)

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

UNDP United Nations Depvelopment Programme ( Chương trình Phát

triển Liên hợp quốc)

UNESCO United Nations Emducation, Scientific and Cultural Organization

(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)

4

MỞ ĐẦU

Lũ lụt ở miền Trung, nói chung và trên lưu vực sông Thạch Hãn, nói riêng là

một trong những tai biến tự nhiên, thường xuyên đe dọa cuộc sống của người dân

và sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng. Lũ lụt đã để lại hậu quả hết sức nặng nề,

hàng ngàn hộ dân bị ngập lụt, các công trình bị tàn phá, các hoạt động kinh tế - xã

hội bị gián đoạn...

Để tăng cường ứng phó với lũ lụt ngoài các biện pháp công trình (đê kè, hồ

chứa thượng lưu,...) thì các biện pháp phi công trình đóng vai trò rất quan trọng, mà

phần lớn trong số đó có tính dài hạn và bền vững như các biện pháp quy hoạch sử

dụng đất và bố trí dân cư, nâng cao nhận thức của người dân. Mặt khác, ứng phó

nhanh với lũ lụt bằng các biện pháp tức thời như cảnh báo, dự báo vùng ngập, di dời

và sơ tán dân cư đến khu vực an toàn,... đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc hạn chế

những thiệt hại về người và tài sản.

Do vậy, để đánh giá được tính dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra đối với kinh

tế - xã hội thì hướng tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiên

tai là cần thiết để xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của lũ gây ra. Đây

cũng là lý do dẫn đến sự hình thành luận văn “ Nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng

do lũ lụt hạ lƣu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị”. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ

sở khoa học, thực tiễn cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách xác định

chiến lược phát triển bền vững và đảm bảo an ninh xã hội. Bố cục luận văn bao

gồm:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Cơ sở khoa học để đánh giá tính dễ tổn thương do lũ

Chương 3: Đánh giá tính dễ tổn thương do lũ gây ra hạ lưu lưu vực sông

Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị.

Kết luận

Tài liệu tham khảo

5

Chƣơng 1 – TỔNG QUAN

1.1 Các khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng

1.1.1 Khái niệm chung về tính dễ tổn thương

Định nghĩa được tính dễ bị tổn thương sẽ giúp ta biết được cách tốt nhất để

giảm thiểu chúng. Mục đích của việc đánh giá tính dễ bị tổn thương nhằm cung cấp

cho các nhà ra quyết định hay các bên liên quan về những lựa chọn nhằm giảm

thiểu ảnh hưởng của những mối nguy hiểm do lũ lụt [9]. Nghiên cứu tính dễ bị tổn

thương là để đưa ra những hành động chính xác có thể làm giảm thiểu thiệt hại do

thiên tai gây ra. Sự cần thiết của việc phân tích, đánh giá tính dễ bị tổn thương đã

được trình bày trong nhiều tài liệu khoa học [ 10, 13 - 16 ] với các khái niệm bao

gồm; tính dễ bị tổn thương tự nhiên, tính dễ tổn thương xã hội và những tổn thương

kinh tế.

Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua.

Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để

đánh giá tính dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến

tính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãi

trong các cộng đồng, các hướng nghiên cứu khoa học khác nhau.

Trong ngành khoa học kinh tế - xã hội: Với cách tiếp cận của Ramade (1989)

[21] thì tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con người và kinh tế - xã hội, liên quan

đến khuynh hướng hàng hóa, con người, cơ sở hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại,

sức đề kháng của cộng đồng, khi được giới thiệu trong một số nghiên cứu địa lý

vào những năm 1980. Nhưng nghiên cứu đó lại không đề cập đến mặt tự nhiên, mức

độ, tần suất xuất hiện của các hiện tượng thiên tai. Trong nghiên cứu gần đây trong

lĩnh vực này đã giải thích tính dễ bị tổn thương của một hệ thống địa lý, vùng lãnh

thổ là kết quả của các hoạt động, khả năng chống chịu khác nhau xã hội, bối cảnh

kinh tế và công nghệ không đồng nhất [9].

Watts and Bohle (1993) [30] đã xem xét đến bối cảnh xã hội của các mối

6

nguy hiểm và liên hệ tính dễ bị tổn thương xã hội tới khả năng phục hồi, chống chịu

của cộng đồng. . Họ đã cố gắng tìm mọi cách dễ dàng hơn để hiểu và đơn giản hóa

khái niệm đó thông qua các nghiên cứu sâu hơn về nền tảng xã hội.

Tính dễ bị tổn thương được mô tả bởi tổ chức chiến lược giảm nhẹ thiên tai

thế giới (ISDR, 2004) [13] như là các điều kiện xác định bởi các yếu tố vật lý, xã

hội, kinh tế và môi trường hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng dưới

tác động của thiên tai.

Trong cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, thì tính dễ bị tổn thương lại

tập trung vào năng lực của con người để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời

khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất. Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức

về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội.

Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổn

thương, họ tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thương mà

ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống.

Trong lĩnh vực vật lý, ngành khoa học tự nhiên đã giải thích tính dễ bị tổn

thương do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Hội đồng quốc tế về biến đổi khí hậu

(IPCC) đã phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương qua nhiều năm. Năm

1992, họ xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ không có khả năng đối phó với

những hậu quả của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Năm 1996, SAR [25] đã xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ mà biến

đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ

nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với

điều kiện khí hậu mới. Được xem như những tác động còn lại của biến đổi khí hậu

sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện (Downing, 2005) [11]. Định nghĩa

này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các

mối nguy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

IPCC TAR (2001) [14] đã giải thích khái niệm tính dễ bị tổn thương như

mức độ dễ bị ảnh hưởng của hệ thống hoặc khả năng không thể đối phó được với

7

các tác động của biến đổi khí hậu. Tính dễ bị tổn thương là một hàm đặc trưng của

cường độ, tốc độ biến đổi khí hậu khi hệ thống bị lộ diện, bao gồm cả độ nhạy và

khả năng thích ứng.

Các định nghĩa này đã thể hiện sự phát triển, với định nghĩa của SAR và

TAR đã bao gồm các thành phần xã hội để giải thích tính dễ bị tổn thương. Trong

những năm 1980 và đặc biệt là những năm 1990 thì những nghiên cứu về mối quan

hệ giữa các hoạt động con người và tác động của thiên tai theo chiều hướng tổn

thương kinh tế xã hội đã tăng lên. Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đã dần

được cải thiện thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực tự

nhiên và kinh tế xã hội của hệ thống.

1.1.2 Tổn thương do lũ lụt

Trong các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đề cập ở trên, có những định

nghĩa được đưa ra cho những hiện tượng thiên tai nhất định như: biến đổi khí hậu,

(IPCC, 1992, 1996, 2001) hay các hiểm họa môi trường (ISDR, 2004), nhưng trong

nghiên cứu này tác giả đi sâu vào hướng nghiên cứu tính dễ tổn thương do lũ lụt.

Khái niệm tính dễ bị tổn thương mà tác giả sử dụng dựa trên khái niệm của

UNESCO-ihe “ Tính dễ bị tổn thương là mức độ gây hại có thể được xác định trong

những những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả năng phục

hồi” [31].

Để tăng cường tính ứng dụng của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt là

trong chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ thì Janet Edwards (2007) [15]

đã đưa ra một khái niệm nữa là bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ “là bản đồ cho

biết vị trí các vùng nơi mà con người, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủi ro do

các thảm hoạ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại về người,

gây ô nhiễm môi trường”.

Khi định lượng được tính dễ bị tổn thương của một vùng nào đó thì nó sẽ

cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại

các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu.

8

1.2 Sự cần thiết của đánh giá tổn thƣơng lũ

Trong những năm qua việc quản lý lũ bằng các phương án công trình như đê

và hồ chứa, được thiết kế với các trận lũ có tấn suất khác nhau đã chiếm ưu thế. Đây

là cách tiếp cận nhằm giảm thiên tai lũ, nghĩa là giảm xác suất xuất hiện, cường độ

lưu lượng lũ, cũng như giảm diện ngập lụt.

Nhưng trong thời gian gần đây đã có sự phát triển quan trọng đó là chuyển

mục tiêu quản lý thiên tai sang quản lý rủi ro lũ, trong đó rủi ro lũ là những thiệt hại

do lũ lụt gây ra với một tần suất nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Vì

thế, việc đánh giá những thiệt hại, tổn thương lũ cần được nghiên cứu một cách cẩn

trọng trong quản lý rủi ro lũ.Việc đánh giá thiệt hại, tổn thương lũ đang đạt được

những kết quả quan trọng phục vụ cho việc đưa ra các quyết định trong quản lý rủi

ro lũ thông qua các bước sau:;

Đánh giá tổn thương lũ: Các đối tượng trong vùng lũ như nhà ở, cộng đồng,

công trình vv…. bị tổn thương một cách biến động không chỉ theo không gian, thời

gian mà còn phụ thuộc vào khả năng chống chịu của người dân tại đó. Ví dụ, các

cộng đồng phải thường xuyên đối mặt với lũ lụt, họ sẽ phát triển các chiến lược đối

phó với các hiện tượng đó. Còn các cộng đồng không phải đối mặt với các trận lũ

lụt thường bỏ qua việc thích nghi với các nguy cơ lũ, vì thế họ sẽ bị tổn thương lớn

hơn khi phải đối diện với lũ. Do đó, những đánh giá về tổn thương lũ đóng vai trò

quan trọng trong bài toán xác định phương án giảm rủi ro thích hợp, như phát triển

các kế hoạch khẩn cấp và thực hiện các bài tập trong tình huống khẩn cấp.

Bản đồ hóa tổn thương lũ: Bản đồ tổn thương lũ là một phần quan trọng

trong quản lý rủi ro lũ, cung cấp những thông tin về đối tượng, thể hiện một cách

trực quan về những rủi ro tiềm tàng trong vùng có nguy cơ lũ.

Quyết định tối ưu cho các phương án giảm nhẹ lũ: An toàn lũ và giảm thiểu

tổn thương lũ là mục đích của bài toán, do vậy việc lựa chọn các phương án giảm

thiểu tổn thương lũ phải được xác định, và những lợi ích, chi phí cho các lựa chọn

khác phải được định lượng và so sánh. Những bước này nhằm sử dụng chi phí quản

9

lý rủi ro một cách hiệu quả, do vậy những đánh giá thiệt hại, tổn thương lũ là một

yếu tố quan trọng.

Đánh giá tài chính ngay sau lũ được thực hiện khi lũ xảy ra, Cơ quan quản lý

thiên tai và Chính phủ cần đánh giá nhanh những thiệt hại, tổn thương do lũ, để dự

thảo ngân sách và đưa ra các quyết định về bồi thường thiệt hại cho các đối tượng

trong vùng bị lũ lụt.

1.3 Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc

Trong khoảng 30 năm trở lại đây, thì tính dễ bị tổn thương được các nhà

khoa học tập trung nghiên cứu nhiều trong các lĩnh vực như: kinh tế - xã hội, môi

trường, tự nhiên, thiên tai…Tuy nhiên các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do

ngập lụt thì mới được nghiên cứu trong những năm gần đây theo các cách tiếp cận

khác nhau như:

Trong nghiên cứu của Viet Trinh (2010) [27] về “Đánh giá rủi ro do lũ cho

lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị”, tác giả đã đánh giá rủi ro do lũ dựa trên

bản đồ nguy cơ do lũ và bản đồ tính dễ bị tổn thương, coi tính dễ tổn thương do lũ

là một hàm của bản đồ sử dụng đất và mật độ dân sốchưa xét đến khả năng chống

chịu của cộng đồng. Với cách tiếp cận này, Viet Trinh chỉ dựa trên mật độ giá trị

của các vùng khác nhau trong khu vực nghiên cứu, dựa trên giả thiết tính dễ bị tổn

thương của cộng đồng với cùng các điều kiện kinh tế xã hội là giống nhau.

Với nghiên cứu “ Đánh giá các thống số rủi ro lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy,

đồng bằng sông Hồng, Việt Nam” của Mai Dang (2010) [10] thì khái niệm tính dễ

bị tổn thương đã được mở rộng, bao gồm các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường.

Trong nghiên cứu đó, tác giả đã đánh giá trọng số ảnh hưởng của các yếu tố đến

tính dễ tổn thương lũ như: mật độ dân số, nhận thức của cộng đồng, các công trình

phòng lũ, sự ô nhiễm, sự xói mòn và nhiều yếu tố khác. Trong khi Birkman (2006)

[16] lại đưa thêm các thành phần liên quan đến các tổ chức xã hội để xác định tổn

thương lũ.

Với các cách tiếp cận ở trên, tuy đã sử dụng khía cạnh kinh tế để đánh giá

10

tính dễ bị tổn thương lũ, nhưngchưa tính đến khả năng chống chịu của cộng đồng

cũng như sự hiểu biết, khả năng nhận thức rủi ro, sự chuẩn bị, các công trình và

biện pháp phòng chống lũ vv… Các yếu tố này, thực chất rất quan trọng trong việc

đánh giá các tổn thương do lũ.

Một hướng nghiên cứu khác đánh giá tổn thương lũ dựa vào bản thân cộng

đồng dân cư mà không xét đến sự lộ diện của cộng đồng đó trước nguy cơ lũ.

Nghiên cứu của Conner (2007) [22] đã đưa các biện pháp công trình và phi công

trình vào tính toán chỉ số tổn thương lũ, thể hiện khả năng chống chịu của cộng

đồng dân cư. Sebastian (2010) [24] đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp

giữa xác suất tác động (thiệt hại) và khả năng chống chịu. Theo cách tiếp cận này

thì tính tổn thương lũ của các cộng đồng sống ven sông ngang bằng với những cộng

đồng sống ở vùng cao.

Các cách tiếp cận đánh giá tổn thương lũ ở trên chỉ xem tính tổn thương lũ là

một yếu tố trong việc xác định rủi ro lũ và chỉ tập trung vào một mặt nhất định như

kinh tế hay khả năng chống chịu của cộng đồng. Trong nghiên cứu của Villagra’n

de Leo’n JC (2006) [28] và UNESCO – ihe (2007) [31] thì tổn thương lũ được xác

định qua khả năng chống chịu, tính nhạy và sự lộ diện của các đối tượng trước nguy

cơ lũ, và đó cũng là hướng lựa chọn để tiệm cận nghiên cứu của luận văn này. Cơ

sở khoa học của phương pháp của nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết trong

chương 2, đồng thời . áp dụng để đánh giá tổn thương lũ vùng hạ lưu lưu vực sông

Thạch Hãn.

1.4 Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

a. Vị trí địa lý

Lưu vực sông Thạch Hãn nằm trong phạm vi từ 16 018 đến 16054 vĩ độ Bắc và 106036 đến 107018 kinh độ Đông, thuộc tỉnh Quảng Trị; phía Bắc giáp với lưu

vực sông Bến Hải; phía Nam giáp với lưu vực sông Ô Lâu; phía Tây là biên giới Việt - Lào và phía Đông là Biển Đông, với diện tích là 2.660km2, chiếm 56% diện

11

tích toàn tỉnh Quảng Trị, nằm trên địa bàn các huyện Triệu Phong, Gio Linh,

Dakrông, Cam Lộ ,thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị, (hình 1) [7].

Hình 1. Khu vực nghiên cứu

b. Địa hình và địa mạo

Địa hình lưu vực sông Thạch Hãn bao gồm: vùng cát ven biển, vùng đồng

bằng, vùng núi thấp và đồi, vùng núi cao.

- Vùng cát ven biển chạy dọc từ cửa Tùng đến bãi biển Mỹ Thuỷ theo dạng

cồn cát. Chiều rộng cồn cát nơi rộng nhất tới 3 - 4 km, dài đến 35 km, dốc về 2

phía: đồng bằng và biển, cao độ bình quân của các cồn cát từ 6 4 m..

- Vùng đồng bằng là các thung lũng sâu kẹp giữa các dải đồi thấp và cồn cát

hình thành trên các cấu trúc uốn nếp của dãy Trường Sơn, có nguồn gốc mài mòn

và bồi tụ.

- Vùng núi thấp và đồi có dạng đồi bát úp liên tục. Độ dốc vùng núi bình

12

quân từ 15 180, cao độ của dạng địa hình này là 200 – 1000 m, có nhiều thung

lũng lớn.

- Vùng núi cao xen kẽ các cụm đá vôi được hình thành do quá trình tạo sơn

xảy ra vào đầu đại mêzôzôi tạo nên dãy Trường Sơn. Dạng này phân bố phía Tây,

giáp theo biên giới Việt - Lào theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với bậc địa hình từ

1000 - 1700 m với bề mặt bị xâm thực và chia cắt mạnh. Địa hình này thích hợp cho

cây lâm nghiệp và rừng phòng hộ đầu nguồn [6,7].

c. Địa chất và thổ nhưỡng

Phía Nam sông Thạch Hãn là tầng chứa nước có quy mô lớn. Ngoài các

thành tạo hạt mịn nguồn gốc biển lộ ra ở phía Tây Quốc lộ 1A còn có diện lộ của

các thành tạo nguồn gốc sông, sông biển hỗn hợp (amQII-III) có khả năng chứa nước tốt nhất, diện tích lộ ra khoảng 109,85 km2. Phía Bắc sông Thạch Hãn tầng chứa

nước phân bố dưới các trầm tích Holocen.

Thổ nhưỡng trên lưu vực sông Thạch Hãn được phân bố theo các vùng bao

gồm: vùng đồng bằng ven biển, vùng gò đồi, vùng đồi núi dãy Trường Sơn.

- Vùng đồng bằng ven biển phân bố dọc bờ biển, địa hình đụn cát có dạng

lượn sóng, độ dốc nghiêng ra biển. Lớp vỏ phong hoá khá dày, thành phần cơ giới

trên 97% là cát. Đất nghèo các nguyên tố vi lượng. Đồng bằng chủ yếu là đất

Bazan, cát khả năng giữ nước kém làm tăng lượng bốc hơi nước trên lưu vực.

- Vùng gò đồi hầu hết có dạng địa hình đồi thấp, một số dạng thung lũng

sông thuộc địa phận huyện Gio Linh, Cam Lộ trên vỏ phong hoá Mazma. Nhiều nơi

hình thành đất trống, đồi trọc. Thực vật chủ yếu là cây dạng lùm bụi, cây có gai. Đất

đai ở những nơi không có cây bị rửa trôi khá mạnh. Đá xuất lên bề mặt tạo lên dòng

chảy mạnh gây ra xói lở.

- Vùng đồi, núi dãy Trường Sơn bị chia cắt mạnh, thực vật nghèo.

+ Tiểu vùng đất bazan Khe Sanh, Hướng Phùng thuộc các xã Tân Hợp, Tân

Độ, Tân Liên, nông trường Khe Sanh, Hướng Phùng có dạng địa hình lượn sóng,

13

chia cắt yếu, đất đai phù hợp cho phát triển trồng cây công nghiệp dài ngày.

+ Tiểu vùng đất sa phiến thạch thuộc địa phận Lao Bảo, Lìa: nằm trong vùng

đứt gãy dọc đường 9, giáp khu vực Lao Bảo.

d. Thảm phủ thực vật

Đến năm 1990, nhiều diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên tái sinh do

khoanh nuôi bảo vệ đã xuất hiện. Rừng trồng theo chương trình hỗ trợ của PAM

(Chương trình An toàn lương thực Thế giới) dọc các quốc lộ hoặc tỉnh lộ phát triển

nhanh và có hiệu quả môi trường rõ rệt. Từ các Chương trình Quốc gia 327, 264 và

kế hoạch trồng rừng, trồng cây nhân dân của cấp tỉnh, phát động và đầu tư, đã nâng

cao tỷ lệ che phủ rừng khá nhanh.

Đồng thời với các kế hoạch trồng rừng, trong giai đoạn từ 1995 đến 2005,

thực hiện hạn chế khai thác rừng tự nhiên, tăng cường khoanh nuôi phục hồi rừng tự

nhiên, độ che phủ rừng đã tăng bình quân 1%/năm.

e. Đặc điểm khí tượng thủy văn

Lưu vực sông Thạch Hãn nằm trong vùng mưa lớn Đông Trường Sơn.

Lượng mưa năm đạt 2.000-2.500mm, giảm dần từ hạ lưu lên thượng lưu, từ hữu

ngạn sang tả ngạn, từ Đông Nam lên Tây Bắc. Mùa mưa kéo dài từ tháng VIII đến

XI. Lượng mưa 3 ngày lớn nhất ứng với tần suất 5% từ 900mm ở hữu ngạn giảm

xuống 500mm ở tả ngạn. Mưa lũ lớn trên sông thường do bão và ATNĐ, đôi khi có

sự kết hợp của KKL. Bão đổ bộ vào phía bắc lưu vực (Thanh Hóa-Quảng Bình) vẫn

có thể gây lũ lớn trên sông Thạch Hãn. Đó là do trong quá trình di chuyển men theo

bờ biển lên phía Bắc, bão đã gây mưa lớn trước khi đổ bộ vào đất liền. Mùa lũ dài

trong 4 tháng, từ tháng VIII-XI. Lũ lớn trên báo động 3 thường xảy ra trong tháng

X, XI và tháng IX. Lũ thường xảy ra trong một thời gian ngắn, lũ lên trong vòng 24

đến 60h, lũ trên BĐ 3 kéo dài 15-43h, cường suất nước lên lớn nhất thường là 40-

50cm/h và có khi đạt 105cm/h. Triều ở Cửa Việt không lớn, biên độ triều lên trung

bình là 99cm, lớn nhất là 171cm. Hiện tượng nước dâng do bão và đỉnh lũ cao gặp

triều cường làm ngập lụt thêm trầm trọng.

14

f. Khí hậu

Điều kiện khí hậu ở Quảng Trị khá khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió

Tây Nam khô nóng, thường có bão và mưa lớn, biến động khí hậu mạnh. Do nằm

trọn vẹn trong nội chí tuyến bắc bán cầu, hàng năm có hai lần mặt trời đi qua đỉnh nên lượng bức xạ cao: 70 – 80 kcalo/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình là 1.700 – 1.800 giờ/năm, nhiệt độ trung bình năm dao động từ 200C – 250C. Mùa mưa thường

từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, tổng lượng mưa khoảng 2.000 – 2.700 mm/năm, độ

ẩm trung bình tháng từ 85% - 90%.

Đặc trưng khí hậu ở Quảng Trị là gió Tây Nam khô nóng và bão lớn. Hàng năm

tỉnh chịu từ 40 – 60 ngày khô nóng và nhiều cơn bão gây gió xoáy giặt kèm theo

mưa lớn.

g. Mạng lưới sông ngòi trên lưu vực

Hệ thống sông Thạch Hãn có 37 con sông lớn nhỏ, gồm 17 sông nhánh cấp I

(với 3 nhánh tiêu biểu là Vĩnh Phước, Rào Quán và Cam Lộ), 13 sông nhánh cấp II và 6 sông nhánh cấp III. Lưu vực sông Thạch Hãn có diện tích là 2660km2, độ dài

sông chính: 156km, độ cao bình quân lưu vực: 301m, độ dốc bình quân lưu vực:

20,1%, độ rộng trung bình lưu vực: 36,8 km, mật độ lưới sông: 0,92; hệ số uốn

khúc: 3,5.

Do địa hình hẹp, dãy Trường Sơn chạy dọc phía Tây tạo nên độ dốc địa hình

lớn, vừa hình thành nên mạng lưới thủy văn ngắn, khả năng tập trung nước nhanh,

vừa là dạng địa hình đón gió dễ hình thành các hình thế gây mưa lớn cho khu vực,

vì vậy vùng hạ lưu lưu vực sông Thạch Hãn luôn bị uy hiếp bởi các trận lũ lớn, gây

ra nhiều thiệt hại về tính mạng và tài sản của nhân dân.

Mặt khác, trên lưu vực có sự phân hóa giữa đồng bằng và miền núi là rất rõ

rệt, hầu như không có phần trung du và địa hình chuyển tiếp, các dãy núi từ dải

Trường Sơn chạy ra sát biển tiếp nối với các khu vực trũng ven biển. Do vậy, khi

xảy ra lũ lớn thường gây ra ngập lụt trên diện tích đồng bằng rộng lớn. Bên cạnh đó,

do phía đông các huyện Gio Linh, Triệu Phong lại có cồn cát cao chạy song song

15

với bờ biển làm hạn chế đáng kể khả năng thoát lũ khiến cho vấn đề ngập lụt càng

trở nên trầm trọng hơn [7].

1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

a, Dân số và dân tộc

Theo Niên giám thông kê tỉnh Quảng Trị năm 2010, dân số trên lưu vực

khoảng 370.000 người. Dân số phân bố không đều đặc biệt có sự khác biệt lớn giữa đồng bằng và miền núi. Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh: 139người/km2, thành phố Đông Hà 1140 người/km2, trong khi đó huyện miền núi Đakrông 30người/km2.

Dân cư trong vùng chủ yếu là người Kinh, sống tập trung ở đồng bằng ven biển, các

thị trấn. Số còn lại là các dân tộc ít người như người Sách, Thái, Dao, Vân Kiều,

Sào, Pa Cô tập trung chủ yếu ở Đakrông.

b, Văn hóa và giáo dục

So với mặt bằng dân trí chung của cả nước thì trình độ dân trí của Quảng Trị

đang ở mức trung bình, vùng sâu, vùng xa trình độ dân trí thấp hơn. Các xã trong

vùng đồng bằng đã thực hiện tốt công tác xoá mù chữ. Lực lượng lao động vùng

nông thôn có tới 60% đã qua trình độ văn hoá cấp cơ sở và 20% số lao động có

trình độ văn hoá phổ thông trung học. Ở vùng núi, tình trạng bỏ học còn phổ biến.

Tỷ lệ mù hoặc tái mù chữ còn cao.

Khả năng nhận thức của người dân đối với các hiện tượng thiên tai còn ở

mức hạn chế, họ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của mình để đối phó với các hiện

tượng thiên tai.

c, Cơ cấu kinh tế

Nền kinh tế phát triển trên lưu vực tương đối toàn diện và liên tục. Nông,

lâm nghiệp và thủy sản chiếm 30.4%, dịch vụ 36,2%, công nghiệp và xây dựng

33,4% tổng sản lượng của tỉnh (số liệu năm 2010). Có tới 70% dân số sống nhờ vào

sản xuất nông nghiệp, 12% sống dựa vào công nghiệp, 5% dựa vào ngư nghiệp, 8%

sống nhờ vào lâm nghiệp còn lại là nhờ dịch vụ buôn bán nhỏ và các ngành khác.

16

d. Cơ sở hạ tầng

Y tế : Mạng lưới y tế ở vùng đồng bằng phát triển rộng khắp ở các cộng đồng

dân cư nhất là y tế cộng đồng, phòng ngừa quản lý và phát hiện các dịch bệnh. Mỗi

huyện có một bệnh viện với quy mô 80 giường bệnh, công tác y tế đã đóng vai trò

tích cực trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân và phát huy thắng lợi chương trình

sinh đẻ có kế hoạch. Tuy nhiên, ở các xã miền núi, hệ thống y tế còn chưa được

phát triển, nhìn chung mỗi xã có 1 trạm y tế, song do khoảng cách từ các cụm dân

cư tới trạm xá còn xa và do mê tín dị đoan, nên tệ nạn chữa bệnh bằng cúng vái vẫn

còn tồn tại ở một số địa phương.

Giao thông: Hệ thống giao thông ở đây tương đối phát triển, tuy nhiên vẫn

có sự khác biệt giữa vùng đồng bằng ven biển và miền núi. Có 3 tuyến quốc lộ

chính đi qua: tuyến đường 1A từ ranh giới Quảng Bình - Quảng Trị đến Thừa Thiên

Huế, tuyến đường 9 từ thị xã Đông Hà đi Lào và cửa Việt (đường 9 đến cửa khẩu

Lao Bảo dài 82km). Tuyến đường 14 từ cầu Đakrông đi sang thượng nguồn sông

Hương. Tuyến đường này cùng với đường mòn Hồ Chí Minh trở thành tuyến đường

Trường Sơn công nghiệp. Đường thuỷ có trục đường theo sông Bến Hải, Sông

Hiếu, sông Thạch Hãn từ biển vào sâu đất liền, tuy nhiên tuyến đường thuỷ này

cũng chỉ cho phép thuyền trọng tải 10 tấn đi lại. Tuyến đường sắt chạy theo hướng

Bắc Nam có ga chính Đông Hà là nơi trung chuyển hàng hoá ra Bắc và vào Nam.

Ngành dịch vụ thương mại, du lịch: Ngành dịch vụ ở đây phát triển đã lâu.

Dịch vụ chủ yếu là buôn bán hàng hoá qua Lào, Thái Lan theo trục đường 9 và phục

vụ sản xuất nông nghiệp như sửa chữa công cụ lao động, cung cấp vật tư và bao tiêu

sản phẩm cho sản xuất nông nghiệp

Về du lịch, trong vùng có bãi tắm Cửa Việt khá đẹp, nhưng chủ yếu mới chỉ

thu hút được khách địa phương đến trong mùa hè. Các cơ sở vui chơi giải trí, ăn

nghỉ chưa được xây dựng nên cũng chưa thu hút được nhiều khách [3,7].

17

1.5 Tình hình về lũ lụt và những tổn thƣơng do lũ gây ra trong những năm gần

đây trên lƣu vực sông Thạch Hãn.

Quảng Trị là một trong các tỉnh duyên hải Miền Trung có đặc điểm về khí

hậu và địa hình phức tạp. Là nơi chịu ảnh hưởng của hầu hết các loại thiên tai

thường xảy ra ở Việt Nam nhưng với tấn suất cao hơn, mức độ ác liệt hơn như bão

lũ, ngập lụt. Mùa lũ ở đây đựơc chia làm 3 thời kỳ trong năm.

Lũ tiểu mãn xảy ra vào tháng V, VI hàng năm. Tính chất lũ này nhỏ, tập

trung nhanh, xảy ra trong thời gian ngắn, đỉnh lũ nhọn, lên xuống nhanh, thường

xảy ra trong 2 ngày nên ít ảnh hưởng đến đời sông dân cư, chủ yếu ảnh hưởng đến

sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Lũ sớm xảy ra vào tháng 6 đến đầu tháng IX hàng năm. Lũ này không có

tính chất thường xuyên nhưng lũ có tổng lượng lớn hơn lũ tiểu mãn, tập trung lũ

nhanh. Thời kỳ xảy ra lũ sớm thường bắt đầu vào thời kỳ triều bắt đầu cao. Do vậy

mực nước lũ cao hơn lũ tiểu mãn. Lũ này ít ảnh hưởng tới dân sinh mà chủ yếu là

Nguồn Chi cục PCLB & TKCN tỉnh Quảng Trị

ảnh hưởng tới nông nghiệp và thủy sản.

Hình 2: Những thiệt hại về kinh tế do lũ lụt gây ra trong những gần đây

18

Nguồn Chi cục PCLB & TKCN tỉnh Quảng Trị

Hình 3. Những thiệt hại về người do lũ lụt gây ra trong những năm gần đây

Lũ chính vụ xảy ra từ trung tuần tháng IX đến cuối tháng XI đầu tháng XII

hàng năm. Đây là thời kỳ mưa lớn trong năm và lũ thời kỳ này có thể xảy ra lũ quét

sườn dốc gây đất đá lở hay ngập lụt ở hạ du. Lũ này thường đi liền với bão gây thiệt

hại lớn cho kinh tế xã hội, gây chết người và hư hỏng công trình, cơ sở hạ tầng. Lũ

kéo dài 5 – 7 ngày, đỉnh lũ cao, tổng lượng lớn. Do đó những tổn thất do lũ lụt gây

ra cho tỉnh Quảng Trị là đáng kể [6,7].

Đặc biệt trong những năm gần đây, do tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh

cùng với việc các trận lũ xuất hiện với cường độ ngày càng lớn làm cho những thiệt

hại về kinh tế - xã hội ngày càng tăng [2,8]. Mức độ thiệt hại do lũ lụt trên địa bản

tỉnh Quảng Trị được thể hiện trên hình 2 và hình 3. Với tình hình phát triển kinh tế

hiện tại thì với các trận lũ lớn thì người dân không thể khống chế hay làm giảm lũ

lụt mà chỉ có thể tránh và chủ động làm giảm mức thiệt hại do lũ gây ra . Do đó các

biện pháp phi công trình như; cảnh báo lũ sớm, chủ động thu hoạch hoa màu khi có

lũ, lập các phương án ứng cứu khẩn cấp, nâng cao nhận thức của người dân về lũ

19

vv…đóng vai trò chủ đạo trong công tác phòng chống lũ lụt trong tỉnh cũng như

trên các lưu vực sông.

Lũ lụt trên địa bản lưu vực sông Thạch Hãn đã ảnh hưởng sâu rộng tới sự

phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Do vậy, để giảm thiểu những tổn thương do lũ

gây ra cần có cách tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiên

tai. Trong đó việc nghiên cứu đánh giá những tổn thương do lũ lụt gây ra có vai trò

quan trọng để đưa ra các biện pháp giảm thiểu những thiệt hại do lũ. Cơ sở khoa

học để đánh giá tổn thương do lũ sẽ được trình bày trong chương 2.

20

Chƣơng 2 - CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN

THƢƠNG DO LŨ

2.1 Phƣơng pháp

Năm 2006, Villagra’n de Leo’n JC [28] đã đưa ra mối quan hệ giữa tính dễ

tổn thương lũ, sự lộ diện, tính nhạy và khả năng chống chịu qua công thức;

(1)

Trong khi đó UNESCO – ihe lại đưa ra một cách tính khác;

Tổn thương lũ = Sự lộ diện + Tính nhạy – Khả năng phục hồi (2)

Trong đó, sự lộ diện được hiểu như là các giá trị có mặt tại vị trí lũ lụt có thể

xảy ra. Những giá trị này có thể là hàng hóa, cơ sở hạ tầng, di sản văn hóa, con

người, nông nghiệp…hay sự lộ diện có thể được hiểu là mức độ phơi bày của tài

sản, con người nằm trong vùng nguy cơ lũ. Sự lộ diện phụ thuộc vào tần suất xuất

hiện con lũ, cường độ lũ và giá trị tài sản, con người có mặt tại đó.

Tính nhạy được định nghĩa là các yếu tố tiếp xúc trong hệ thống, ảnh hưởng

đến xác suất bị tổn hại ở những thời điểm nguy hại của lũ lụt. Tính nhạy liên quan

đến các đặc tính của hệ thống, bao gồm bối cảnh xã hội của dạng thiệt hại do lũ.

Đặc biệt là nhận thức và sự chuẩn bị sẵn sàng của người dân trước nguy cơ lũ, các

tổ chức liên quan đến giảm nhẹ thiên tai, các biện pháp bảo vệ cộng đồng trước lũ.

Khả năng phục hồi là khả năng của hệ thống chịu được những nhiễu loạn do

lũ gây ra và duy trì hiệu quả các hoạt động của thành phần kinh tế xã hội, môi

trường, vật lý của hệ thống.

Trong tình hình thực tế, rất khó khăn để đánh giá tính nhạy cảm, khả năng

phục hồi và khả năng đối phó một cách riêng biệt cho các cộng đồng, do

vậy những khía cạnh đó có thể được kết hợp thành khả năng chống chịu, khi đó tổn

thương lũ có thể tính như sau:

21

Tổn thương = Sự lộ diện – Khả năng chống chịu (3)

Nếu như sự lộ diện thể hiện sự phơi bày của tài sản, con người trước nguy cơ

lũ thì khả năng chống chịu lại đặc trưng cho các biện pháp mà con người sử dụng

trước thiên tai nhằm chống lại những thương tổn do lũ gây ra. Khả năng chống chịu

phụ thuộc vào sự nhận thức của cộng đồng, các biện pháp phòng chống lũ, sự hỗ trợ

của các cơ quan chức năng, công tác cảnh báo lũ, sự phục hồi sau lũ. Dựa trên công

thức (3) tác giả đã xây dựng khung tính toán tính tổn thương lũ (hình 4).

Hình 4. Các bước xác định tính tổn thương lũ

Qua hình 4, để xây dựng được bản đồ tổn thương lũ cần xác định đựơc sự

phơi bày của các đối tượng trước lũ và khả năng chống chịu của cộng đồng. Trong

đó sự phơi bày của các đối tượng trước lũ được thành lập dựa trên bản đồ nguy cơ

lũ và bản đồ sử dụng đất. Ở đây bản đồ nguy cơ lũ được tích hợp dựa trên ba bản

đồ; bản đồ độ sâu ngập, bản đồ thời gian ngập, bản đồ vận tốc đỉnh lũ. Các bản đồ

22

này là kết quả đầu ra của mô hình thủy lực, cụ thể là mô hình thủy lực Mike Flood

đã được sử dụng để xây dụng bản đồ nguy cơ lũ.

2.2 Xây dựng bản đồ nguy cơ lũ

Bản đồ nguy cơ lũ có thể được đánh giá thông qua các chỉ số cơ bản như bản

đồ ngập lụt, thời đoạn lũ, vận tốc lũ, xung lượng lũ (là tích của mực nước lũ và vận

tốc lũ), vật liệu trong dòng lũ (trầm tích, muối, các chất hóa học, nước thải và đất

đá) vv…Trong các yếu tố đó thì độ sâu ngập lụt, vận tốc đỉnh lũ, thời gian ngập lụt

đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định các thiệt hại về lũ. Sự tích hợp giữa

độ sâu ngập và vận tốc đỉnh lũ thể hiện khả năng phá hủy các đối tượng trên vùng

mà lũ đi qua, ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng như nhà cửa, các công trình,

tính mạng của người dân và sức khỏe của cộng đồng. Thời đoạn lũ hay thời gian

ngập lụt lại ảnh hưởng gián tiếp đến sự phá hủy như làm ngập úng hoa màu, gián

đoạn các hoạt động kinh tế xã hội, gây ô nhiễm, bệnh dịch vv… Để đánh giá được

nguy cơ lũ trong vùng nghiên cứu luận văn đã sử dụng bộ mô hình MIKE FLOOD

để mô phỏng lại các trận lũ trong lịch sử để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình và qua

đó mô phỏng cho trận lũ với tần suất 1% . Dựa trên phương pháp chồng xếp bản đồ

độ sâu ngập, vận tốc lũ, thời gian ngập (kết quả đầu ra của mô hình MIKE FLOOD)

theo trọng số luận văn đã xây dựng bản đồ nguy cơ lũ ứng với tần suất lũ 1%.

2.2.1 Giới thiệu về mô hình MIKE FLOOD

Mô hình MIKE FLOOD được phát triển bởi Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI)

thực chất là phần mềm liên kết giữa mô hình MIKE 11 và MIKE 21 đã được xây

dựng trước đó. Mô hình MIKE FLOOD thực hiện các kết nối giữa mô hình MIKE

11 (tính toán thủy lực mạng sông 1 chiều) với mô hình MIKE 21 (mô phỏng dòng

chảy nước nông 2 chiều theo phương ngang) bằng 4 loại kết nối [1,5]: a) kết nối tiêu

chuẩn: sử dụng khi một nhánh sông một chiều đổ trực tiếp vào vùng ngập 2 chiều;

b) kết nối bên: sử dụng khi một nhánh sông nằm kề vùng ngập, và khi mực nước

trong sông cao hơn cao trình bờ thì sẽ kết nối với ô lưới tương ứng của mô hình 2

23

chiều; c) kết nối công trình (ẩn): sử dụng các dạng liên kết qua công trình; và d) kết

nối khô (zero flow link): là kết nối không cho dòng chảy tràn qua.

Bộ mô hình này có thể tích hợp nhiều mô đun khác nhau, nhưng trong khuôn

khổ luận văn chỉ sử dụng mô đun RR (mô hình mưa-dòng chảy NAM) để tạo dòng

chảy biên đầu vào cho mô hình thủy lực mạng sông (HD) kết hợp với mô hình thủy

lực 2 chiều MIKE 21. Giới thiệu và mô tả chi tiết về mô hình MIKE FLOOD và các

khả năng ứng dụng của mô hình có thể dễ dàng tìm thấy trong các tài liệu và nghiên

cứu gần đây [1,4].

2.2.2 Xây dựng mạng lưới thủy lực cho vùng nghiên cứu

Vùng hạ lưu sông Thạch Hãn có chế độ thủy văn phức tạp, chịu sự chi phối

của cả hệ thống sông Bến Hải (qua sông Cách Hòm) và Ô Lâu (qua sông Vĩnh

Định). Ngoài ra, hiện tượng ngập lụt trong khu vực còn chịu ảnh hưởng bởi mưa nội

đồng do vùng nghiên cứu có dải cát ven biển, các dải cát này chạy dọc từ Cửa Việt

đến bãi biển Mỹ Thuỷ có vai trò như một tuyến đê, do đó vùng đồng bằng phía

trong có dạng thung lũng sâu kẹp giữa các giải đồi thấp và các cồn cát ven dẫn tới

vùng này thường xuyên xảy ra hiện tượng ngập lụt khi có mưa lớn.

Tuy nhiên, trong mùa mưa lũ đặc biệt trong các trận lũ lớn, chế độ dòng

chảy hạ lưu sông Thạch Hãn lại chịu ảnh hưởng bởi chế độ lũ của hệ thống sông

Bến Hải do có sông Cánh Hòm kết nối giữa 2 hệ thống sông Thạch Hãn và Bến Hải.

Thực tế hai đầu sông Cánh Hòm có các cống Xuân Hòa và Mai Xá để điều tiết quá

trình trao đổi dòng chảy giữa hạ lưu 2 hệ thống sông Thạch Hãn và Bến Hải nhưng

chủ yếu các cống chỉ hoạt động điều tiết trong mùa hạn nhằm ngăn mặn giữ ngọt

phục vụ nông nghiệp, và mở hoàn toàn trong mùa lũ. Do đó, khi lũ trên sông Thạch

Hãn lớn hơn lũ trên sông Bến Hải, một phần dòng chảy sẽ được chuyển qua sông

Cánh Hòm và ngược lại. Còn sự trao đổi nước giữa lưu vực sông Thạch Hãn và Ô

Lâu thông qua sông Vĩnh Định và đập tràn An Tiêm trên sông Vĩnh Định. Đập tràn

này có nhiệm vụ phân lũ từ sông Thạch Hãn trong mùa lũ chính vụ sang sông Vĩnh

Định để bảo vệ kênh chính Thạch Hãn, không cho lũ hè thu và tiểu mãn từ sông

24

Thạch Hãn đổ vào sông Vĩnh Định để bảo vệ sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng

Nam Thạch Hãn . Vì vậy để có bức tranh tổng thể về hiện tượng ngập lụt vùng hạ

lưu lưu vực sông Thạch Hãn thì mô hình thủy lực được mở rộng để mô phỏng dòng

chảy lũ đồng thời trên cả 3 hệ thống sông: sông Bến Hải, sông Thạ

Ô Lâu [1].

2.2.2.1 Mạng lưới thủy văn và sơ đồ mạng thủy lực 1 chiều (1D)

, tác giả

, chủ

:

-

Lương.

-

.

-

31,8 km. Ngoài ra còn có sông Thác

Ma được tính toán từ trạm thủy văn Hải Sơn đến điểm gia nhập vào sông Ô Lâu với

chiều dài 4.08km.

25

5. Sơ đồ tính toán thủy lực trên 3 lưu vự

26

Hình 6. Mặt cắt điểm hình của sông Cam Lộ

Hình 7. Mặt cắt điểm hình của sông Thạch Hãn

27

- Nối kết giữa hệ thố

16,1 km. Sông Vĩnh Định nối từ cống Việ

ộc xã Triệu An chảy qua các huyện Triệu Phong, Hải Lăng rồi nhập

với hệ thống sông Ô Lâu trước khi đổ ra biể 37,6 km.

ợc thiết lập với 140 mặt cắt, 398 nút tính

toán với sơ đồ rút gọn biểu diễn trong hình 5, mặt cắt điểm trình như trên hình 6-7.

6 biên lưu lượng phía trên bao gồm: Cầu Sa

Lung, Gia Vòng, Cam Tuyền, Dakrông, Hải Sơn, Phò Trạch và 3 biên mực nước ở

phía dưới tại Cửa Tùng, Cửa Việt, Cửa Lác. Căn cứ số liệu quan trắc, trong số các

biên trên duy nhất có Gia Vòng lấy giá trị thực đo lưu lượng, các biên trên còn lại

cũng như các biên gia nhập khu giữa bắt buộc sử dụng tài liệu dòng chảy tính toán

từ mưa bằng mô hình thủy văn NAM (hình 8). Các mô tả về áp dụng mô hình NAM

cho khu vực có thể tham khảo trong một số các công trình nghiên cứu [1,5].

8. ậ

28

Biên dưới là mực nước, khi hiệu chỉnh và kiểm định với các số liệu quá khứ,

sử dụng mực nước thực đo tại trạm Cửa Việt (cách cửa sông 4 km). Với các biên

còn lại mạng thủy lực 1 chiều kéo đến sát cửa và do vậy có thể sử dụng mực nước

thủy triều thiên văn.

2.2.3 Mạng thủy lực kết nối 1 chiều và 2 chiều

a) Thiết lập miền tính hai chiều (2D) trong MIKE 21

Để đảm bảo được thời gian tính toán cho mô hình và miền tính toán 2 chiều

có thể bao quát được các trận lũ có tần suất lớn, đã tiến hành xác định miền tính

toán 2D dựa trên việc mở rộng vùng ngập lụt trên cơ sở bản đồ ngập lụt năm 1999

do UNDP xây dựng vào năm 2004 (hình 9).

Hình 9. Giới hạn vùng tính toán 2 chiều

29

Từ bản đồ số hóa tỷ lệ 1/10.000 đã trích xuất các điểm cao độ được nhập trực

tiếp vào mô hình MIKE 21. Lưới phần tử hữu hạn được sử dụng để rời rạc hóa khu

vực nghiên cứu. Trên khu vực bằng phẳng là đồng ruộng thì kích thước các ô lưới

được chọn với các cạnh tam giác có chiều dài khoảng 150 ~ 200m. Nhằm thể hiện

được ảnh hưởng của các đối tượng là hệ thống đường giao thông, kênh tưới nổi, đê

bối... các ô lưới lân cận, các đối tượng này được chia nhỏ hơn (khoảng 30 ~ 40m)

như minh họa trên hình 10. Tóm lại, toàn bộ vùng nghiên cứu hai chiều được rời rạc

hóa thành 78234 ô lưới với 39772 nút.

Hình 10. Chia lưới tại khu vực nghiên cứu

b) Các biên của miền tính hai chiều

Nguyên nhân ngập lụt vùng ngập lũ là do lượng nước từ thượng nguồn dồn

về trên hệ thống các sông chính (được mô phỏng trong mô hình 1 chiều), do mưa

nội đồng trên bề mặt miền tính 2 chiều (được tính trực tiếp thông qua đưa mưa vào

trong mô hình 2 chiều), ngoài ra lượng nước trên các sông nhánh chảy vào vùng

ngập lũ cũng góp phần đáng kể. Các lượng nước trên các sông nhánh gia nhập vào

vùng ngập lũ được đưa vào trong mô hình tính toán dưới dạng biên lưu lượng của

mô hình 2 chiều, vị trí các biên này được thể hiện trên hình 11.

30

c) Kết nối 1-2 chiều

Việc kết nối giữa mô hình 1 – 2 chiều trong mô hình MIKE FLOOD nhằm

tạo ra sự trao đổi nước trong sông và trên bãi ngập lũ thông qua các liên kết giữa mô

hình MIKE 11 và mô hình MIKE 21. Khi mực nước trong sông lên cao vượt quá

cao trình bờ sông thì dòng chảy tính toán từ mô hình MIKE 11 đóng vai trò là

nguồn cung cấp nước cho mô hình MIKE 21 tại ô lưới liên kết với mô hình 1 chiều

trên sông. Ngược lại, khi mực nước trong sông thấp hơn mực nước trên bãi ngập lũ

thì dòng chảy tính toán từ mô hình MIKE 21 trở thành nguồn cấp nước cho mô hình

MIKE 11.

Hình 11. Vị trí tương đối các biên trong mô hình 2 chiều

Cụ thể, trong mạng thủy lực 1D đã xây dựng ở trên thì việc kết nối với mô

hình MIKE 21 chủ yếu là kết nối bên. Ngoài ra còn có kết nối của các cống, bản

ngầm qua các đường giao thông và đường sắt, các cống này có ảnh hưởng tới việc

thoát lũ trên lưu vực. Các kết nối này được thể hiện trên hình 12 và bảng 1.

31

Bảng 1. Lựa chọn kết nối trong mô hình MIKE FLOOD

Bờ sông Loại kết Mô đun Số ô lƣới Mike 21 kết nối Tên sông nối kết nối trong MikeFlood kết nối

56 Lateral HD only Sa Lung trái

53 Lateral HD only Sa Lung phải

221 Lateral HD only Bến Hải trái

226 Lateral HD only Bến Hải phải

150 Lateral HD only Cánh Hòm trái

150 Lateral HD only Cánh Hòm phải

134 Lateral HD only Cam Lộ trái

134 Lateral HD only Cam Lộ phải

303 Lateral HD only Thạch Hãn trái

290 Lateral HD only Thạch Hãn phải

179 Lateral HD only Vĩnh Định trái

179 Lateral HD only Vĩnh Định phải

58 Lateral HD only Ô Giang trái

58 Lateral HD only Ô Giang phải

153 Lateral HD only Ô Lâu trái

153 Lateral HD only Ô Lâu phải

23 Lateral HD only Thác Ma trái

23 Lateral HD only Thác Ma phải

32

12. -

2.3 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực kết nối 1-2 chiều

Mô hình thủy lực kết nối 1-2 chiều đã xây dựng ở trên được hiệu chỉnh và

kiểm định với 2 trận lũ lớn. Các trận lũ được lựa chọn là các trận lũ điển hình, gây

ngập lụt trên diện rộng, và cần có đầy đủ số liệu quan trắc, đặc biệt là các số liệu

mưa quan trắc và tài liệu khảo sát vết lũ cũng như độ sâu và diện ngập lụt. Trận lũ

từ 1h ngày 5/10 đến 23h ngày 13/10/2005 được sử dụng cho hiệu chỉnh, và trận lũ

lịch sử từ 1h ngày 1/11 đến 23h 11/11/1999 sử dụng để kiểm định mô hình. Các số

liệu đầu vào là mưa tại các trạm Gia Vòng (1999, 2005), Thạch Hãn (1999, 2005),

Đông Hà (2005), Cửa Việt (2005), mực nước quan trắc tại trạm Cửa Việt và triều

thiên văn tại cửa sông. Số liệu kiểm chứng là mực nước thực đo tại các trạm Thạch

Hãn (1999, 2005), Đông Hà (1999, 2005), số liệu mực nước lũ sông Bến Hải

(2005), số liệu điều độ sâu ngập lụt và diện tích ngập lụt (1999).

33

a) Hiệu chỉnh

Trận lũ từ ngày 06 đến 09/10/2005 là trận lũ lịch sử, đã gây ngập lụt trên

diện rộ ờ lớn nhất đạt 96mm trong 1 giờ, trong 12 giờ

-

1,5-4m Kết quả so sánh mực nước tính toán và thực đo tại trạm Thạch Hãn và

Đông Hà biểu diễn trên hình13 với chỉ tiêu Nash đạt loại tốt (trên 90%). Trong khi

so sánh số liệu vết lũ giữa tính toán và thực đo trên hình 14 cho thấy mô hình đã mô

phỏng tương đối tốt mực nước lũ với hệ số tương quan đạt 0.91.

b) Kiểm định

Sử dụng mô hình với bộ thông số đã hiệu chỉnh ở trên để chạy cho trận lũ

tháng 11năm 1999, kết quả tính toán mực nước tại trạm Thạch Hãn và Đông Hà

được so sánh với số liệu quan trắc như trên hình 15. Dễ nhận thấy kết quả mô phỏng

tương đối phù hợp thực đo, đặc biệt là giá trị đỉnh lũ. Thời gian xuất hiện đỉnh lũ có

sai khác, tuy nhiên mục đích của mô hình kết nối 1-2 chiều là xây dựng bản đồ ngập

lụt ứng với đỉnh lũ nên sai số về thời gian như trên có thể được bỏ qua. Chỉ tiêu

đánh giá sự phù hợp giữa tính toán và thực đo Nash đạt loại tốt (trên 90%).

Thạch Hãn Đông Hà

Hình 13. Quá trình mực nước tính toán và thực đo trận lũ 10/2005

34

Hình 14. So sánh vết lũ tính toán và thực đo trên lưu vực sông Bến Hải với trận lũ

tháng 10/2005

Thạch Hãn Đông Hà

Hình 15. Quá trình mực nước tính toán và thực đo trận lũ năm 1999

Bên cạnh số liệu quan trắc mực nước đỉnh lũ, số liệu khảo sát về độ sâu ngập

lụt đã được sử dụng để kiểm định mô hình. Số liệu điều tra độ sâu ngập trích xuất

trực tiếp từ bộ số liệu của dự án UNDP thực hiện năm 2004 cho trận lũ lịch sử năm

1999. Đây là bộ số liệu trên nền GIS thể hiện giá trị đo đạc độ sâu ngập lụt tối đa tại

các điểm khảo sát, tuy nhiên giá trị tính toán của mô hình là giá trị độ sâu ngập lụt

trung bình trong từng ô lưới với nền địa hình đã được trung bình hóa cho toàn bộ ô

lưới tính toán. Do vậy, nhằm đảm bảo tính tương thích khi so sánh, số liệu khảo sát

35

được chồng lên bản đồ chia ô lưới tính toán và giá trị so sánh lấy là giá trị trung

bình số học của tất cả các điểm khảo sát có trong ô lưới. Cụ thể, kết quả được biểu

diễn trong bảng 2 và hình 16 cho thấy sự phù hợp khá tốt giữa tính toán và thực đo.

Bảng 2 Kết quả thực đo và tính toán độ sâu ngập lụt cực đại lũ năm 1999

Tọa độ STT Thực đo Tính toán Chênh lệch X Y

713404.58 1885572.65 1 3.05 3.05 -0.01

734328.00 1861951.73 2 3.09 2.93 -0.16

721970.62 1871116.54 3 2.77 2.86 0.09

743158.83 1845002.34 4 2.75 2.83 0.08

724820.07 1863752.19 5 2.55 2.66 0.10

715114.78 1884948.23 6 2.63 2.62 -0.01

745398.95 1845072.33 7 2.27 2.58 0.30

747574.07 1850721.74 8 2.62 2.55 -0.07

744418.34 1846832.41 9 2.50 2.47 -0.03

716180.93 1884826.45 10 2.40 2.41 0.00

727048.32 1864717.05 11 2.15 2.35 0.20

717258.41 1883620.02 12 2.05 2.03 -0.02

730815.64 1861403.75 13 2.13 1.97 -0.16

717801.49 1882607.29 14 1.94 1.93 -0.01

733008.69 1865557.13 15 1.94 1.83 -0.11

750568.97 1850070.46 16 1.25 1.80 0.55

722117.10 1877394.67 17 1.66 1.65 -0.02

727424.36 1869370.55 18 1.50 1.63 0.13

720821.67 1879008.19 19 1.52 1.37 -0.15

730069.64 1871115.28 20 0.95 1.14 0.19

724513.34 1882412.87 21 0.65 0.22 -0.43

36

Nhằm tăng thêm độ tin cậy của mô hình thủy lực kết nối đã xây dựng, tác giả

tiếp tục kiểm định mô hình với số liệu thống kê về diện tích ngập lụt tối đa theo các

đơn vị hành chính, với số liệu do dự án UNDP cung cấp. Phân bố độ sâu ngập lụt

được biểu diễn trong hình 17. Có thể thấy về mặt định tính, phân bố tính toán bằng

mô hình có nhiều nét tương đồng với bản đồ ngập lụt theo số liệu điều tra khảo sát.

So sánh định lượng (hình 18 và 19) cho thấy có tương quan giữa số liệu tính toán

bằng mô hình và bản đồ đã xây dựng trước đây.

Hình 16. Độ sâu ngập lụt cực đại tính toán và khảo sát trận lũ năm 1999

Hình 17. So sánh diện ngập tính toán và diện ngập thống kê năm 1999

37

Hình 18. So sánh diện tích ngập thống kê và tính toán theo các xã năm 1999

Hình 19. Tương quan diện ngập tính toán và diện ngập thống kê năm 1999

Thông qua việc hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực với 2 trận lũ lớn

đã thu được, mạng thủy lực cùng các điều kiện về địa hình, bộ thông số độ nhám

đảm bảo độ tin cậy để tính toán mô phỏng lũ thiết kế cũng như với các kích bản

trong các giai đoạn tiếp theo.

38

2.4 Xây dựng bản đồ nguy cơ với các tần suất 1%

Dựa trên bộ thông số của mô hình đã được hiệu chỉnh và kiểm định với các

trận lũ lớn năm 2005 và năm 1999 tiến hành xây dựng bản đồ ngập lụt ứng với các

tần suất 1%, với số liệu đầu vào của mô hình được tính từ mưa thiết kế thông qua

mô hình mưa dòng chảy NAM. Các kết quả mô phỏng và xây dựng bản đồ ngập lụt,

vận tốc đỉnh lũ, thời gian ngập lụt được thể hiện trên các hình 20 đến hình 22.

Hình 20. Bản đồ độ sâu ngập lụt ứng với tần suất 1%

39

Trên hình 18 có thể thấy, diện ngập tập trung chủ yếu tại vùng hạ lưu của lưu

vực cụ thể là: vùng tả ngạn sông Hiếu (phía Đông quốc lộ 1A), ngập 3.000ha, ngập

sâu từ 3-4m. Vùng tả ngạn sông Thạch Hãn, từ thành Quảng Trị đến ngã ba sông

Cam Lộ (nằm giữa đường sắt và sông, rộng 1,5-3km), diện ngập là 3.000- 4.000ha,

sâu 1- 2,5m. Vùng hữu ngạn sông Thạch Hãn, từ Cửa Việt ở phía Bắc đến tuyến đê

Hải Lăng ở phía Nam (nằm giữa sông và tuyến kênh N3 - N6), là vùng kinh tế trù

phú nhất của tỉnh Quảng Trị, nhưng trũng nhất: diện tích bị ngập trên 12.000ha, sâu

từ 2-2,5m tại thành cổ Quảng Trị, từ 3-4,0m ở Triệu Long, Triệu Hòa, Triệu Đông

và từ 4-6m ở Triệu Độ và Triệu Đại.

Hình 21. Bản đồ vận tốc đỉnh lũ với tần suất 1%

40

Với vùng tả ngạn sông Cam Lộ và vùng tả ngạn sông Thạch Hãn, khi lũ

xuống thì nước tiêu úng nhanh chóng theo độ dốc mặt ruộng ra sông. Đối với vùng

hữu ngạn sông Thạch Hãn, có 2 đường tiêu thoát ra biển theo 2 nhánh của sông

Vĩnh Định: một hướng ra Cửa Việt, một hướng về phía Phá Tam Giang. Khu vực

ngã 3 sông Cam Lô với sông Thạch Hãn là nơi có vận tốc đỉnh lũ lớn nhất khoảng 1

– 3m/s. Các nơi khác thì vận tốc đỉnh lũ khoảng 0.2 – 0.5 m/s.

Hình 22. Bản đồ thời gian ngập với tần suất 1%

41

Với trận lũ có tấn suất là 1% thì thời gian ngập lụt kéo dài từ 3 – 6 ngày tại

các xã Triệu Đông, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Hòa, Triệu Tài, Triệu Thượng tại

huyện Triệu Phong và các xã Gio Mai, Gio Thành, Gio Quang của huyện Gio Linh.

Các nơi khác thời gian ngập lụt kéo dài từ 1- 3 ngày.

Các mối nguy hiểm trong lũ bao gồm: độ sâu ngập lụt, vận tốc dòng lũ, thời

gian ngập lụt được tích hợp trong bản đồ nguy cơ lũ dựa trên phương pháp chồng

xếp bản đồ theo trọng số. Các trọng số được kế thừa trong nghiên của Mai Dang

(2010) [10] được thể hiện trong bảng 3.

Bảng 3. Trọng số của các yếu tố tạo lên nguy cơ lũ

Cấp độ Độ sâu ngập Thời gian ngập Vận tốc đỉnh lũ

Trọng số 0.0974 0.5695 0.3331

(m) Trọng số (days) Trọng số (m/s) Trọng số

1 0.5 0.0282 1 0.0425 0.0–1.0 0.0286

2 0.5–1.2 0.0596 1–5 0.0853 1.0–2.0 0.0633

3 1.2–2.0 0.1588 5–10 0.2241 2.0–3.8 0.1174

4 2.0–3.0 0.2744 >10 0.6482 3.8–5.8 0.2344

5 >3.0 0.4800 >5.8 0.5563

Trong đó, thời gian ngập lụt có trọng số 0.5695 là nhân tố chủ yếu trong

việc xác định nguy cơ lũ do gây ra ứ đọng nước làm ngập úng hoa màu, chết vật

nuôi và làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội. Độ sâu ngập có trọng số là

0.0974, còn vận tốc lũ có trọng số là 0.3332 đóng vai trò quan trọng thứ 2 trong

nguy cơ lũ bởi với vận tốc dòng lũ lớn sẽ quấn trôi các vật liệu như đất đá, cây cối,

nhà cửa, các công trình gây nguy hiểm cho người và thiệt hại lớn về kinh tế. Kết

quả bản đồ nguy cơ lũ được thể hiện trên hình 23.

42

Hình 23. Bản đồ nguy cơ lũ với tần suất 1%

Dựa trên trọng số của phương pháp tích hợp bản đồ, luận văn đã chia mức độ

nguy cơ lũ thành 5 mức theo thứ tự từ: rất thấp, thấp, trung bình, cao, rất cao. Trên

bản đồ nguy cơ lũ (hình 21) có thể thấy các xã Cam An, Gio Mai, Triệu Độ, Triệu

Hòa là những nơi có mức nguy cơ lũ cao nhất, bởi đây là những nơi có vận tốc dòng

lũ lớn và có thời gian ngập lụt kéo dài, do đó những nơi này có thể sẽ là nơi nguy

43

hiểm nhất đối với người và của. Tuy nhiên mức độ tổn thương do lũ tại các vùng

này có thể sẽ ở mức thấp nếu như khả năng chống chịu của họ tốt. Để đánh giá được

khả năng chống chịu của cộng đồng thì ngoài việc phân tích các số liệu dân số, kinh

tế, tác giả còn tiến hành điều tra khảo sát thực địa tại vùng nghiên cứu và được

trình bày chi tiết trong chương 3.

44

Chƣơng 3 - ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG DO LŨ GÂY

RA TRÊN HẠ LƢU LƢU VỰC SÔNG THẠCH HÃN TỈNH

QUẢNG TRỊ

3.1 Điều tra khả năng chống chịu của cộng đồng

Khả năng chống chịu hay khả năng thích nghi thể hiện qua các giải pháp mà

con người sử dụng trước, trong hoặc sau thiên tai để đối phó với các hậu quả bất lợi

và là một hàm của các yếu tố xã hội [28]. Để định lượng hóa được khả năng chống

chịu của hệ thống (hay vùng nghiên cứu) luận văn đã tiến hành phân tích số liệu

kinh tế xã hội (mật độ dân số, khu dân cư tập trung, …), ngoài ra tác giả còn tiến

hành khảo sát thực địa và điều tra để từ đó định tính hóa khả năng chống chịu của

các cộng đồng dân trong vùng nguy cơ lũ.

Cuộc điều tra được thực hiện vào đầu tháng 6 năm 2011 tại những vùng chịu

ảnh hưởng nhiều của lũ lụt dựa vào bản đồ nguy cơ lũ được xây dựng cho vùng hạ

lưu lưu vực sông Thạch Hãn trước đó. Phiếu điều tra (hình 25) chứa 11 câu hỏi giải

quyết các vấn đề sau: khả năng nhận thức của người dân với lũ lụt, công tác cảnh

báo lũ, các biện pháp phòng ngừa, khả năng phục hồi của các hộ gia đình sau lũ, sự

hỗ trợ của các cơ quan chức năng đối với các hộ gia đình.

Sự nhận thức của người dân về lũ lụt được thể hiện qua công tác chuẩn bị sẵn

sàng đối phó với lũ và lường trước được những nguy hại mà lũ có thể gây ra. Sự

nhận thức này có được thông qua công tác tuyên truyền của các cơ quan chức năng,

các tổ chức và kinh nghiệm của người dân. Trong đó, kinh nghiệm của người dân

trong vùng nguy cơ lũ đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành công trong

công tác giảm thiểu rủi ro thiên tai. Vùng hạ lưu lưu vực sông Thạch Hãn là nơi

thường xuyên xảy ra lũ lụt do đó sự nhận thức, chuẩn bị đối phó với lũ thường niên

của người dân ở đây là khá tốt, họ chủ động thu hoạch lúa và hoa màu trước khi

mùa lũ đến, trong 32 người được hỏi thì có 24 người cho biết trong gia đình họ có

gác xép để chứa lương thực và đồ dùng khi lũ đến. Tuy nhiên vẫn có sự khác nhau

giữa các cộng đồng dân cư sống vùng ven sông hay vùng trũng nơi thường xuyên

45

xảy ra ngập lụt với cộng đồng dân cư sống ở vùng cao ít bị ảnh hưởng bởi lũ, những

cộng đồng dân cư vùng cao này thường chủ quan hơn trong công tác phòng tránh lũ

lụt.

Hình 24. Hình ảnh điều tra vết lũ tại vùng nghiên cứu

46

Hình 25. Bảng câu hỏi điều tra khả năng chống chịu lũ

47

Bảng 4. Định lượng hóa các phương án trả lời của phiếu điều tra

Nhóm câu hỏi Nhóm câu hỏi

Tổng

Mức độ chống chịu

1

2

3

4

5

6

7

1

2

3

4

về xã hội về kinh tế

1 0 1 1 2 0 1 2 1 0 2 2 2 1 0 1 2 1 2 2 1 1 2 2 1 1 1 1 1 1 1 1

1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1

0 0 0 0 0 0 1 2 0 0 1 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 1 0 0 0 0 0 0 1

1 1 1 1 1 2 0 0 0 0 1 0 1 1 1 1 1 1 1 1 1 0 1 1 0 1 1 1 1 1 1 0

1 1 1 1 1 0 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1

2 1 0 1 0 0 1 1 2 1 1 1 0 1 0 0 0 0 0 1 1 1 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0

1 0 2 1 2 1 1 1 2 0 1 0 1 2 1 0 1 1 1 1 0 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1

0 0 0 0 0 1 0 0 0 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0

0 3 1 0 1 0 0 1 1 2 0 0 1 0 0 2 1 1 1 1 1 2 0 0 1 1 1 1 0 1 0 1

1 3 1 0 0 2 0 1 0 1 0 0 1 0 1 0 0 0 0 0 0 3 0 0 0 3 0 0 0 0 3 1

2 1 1 2 1 0 2 2 1 0 1 1 0 1 1 1 1 1 1 1 1 0 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1

10 11 9 8 9 7 8 12 9 7 9 8 8 8 6 7 8 7 8 9 7 10 8 7 7 10 7 7 6 7 9 8

Trung bình cao Trung bình Thấp Trung bình Thấp Thấp Rất cao Trung bình Thấp Trung bình Thấp Thấp Thấp Rất thấp thấp Thấp Thấp Thấp Trung bình Thấp Trung bình Thấp Thấp Thấp Trung bình Thấp Thấp Rất thấp Thấp Trung bình Thấp

Câu Phiếu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32

48

Hình 26. Bản đồ thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng

Công tác cảnh báo lũ ở địa phương có vai trò quan trọng trong việc giảm nhẹ

rủi ro thiên tai, thể hiện qua thời gian, mức độ chính xác của bản tin dự báo và công

tác tuyên truyền đến người dân trong vùng nguy cơ lũ. Công tác cảnh báo lũ trên điạ

bàn tỉnh Quảng Trị được người dân đánh giá cao, hầu hết mọi người dân đều nhận

49

được cảnh báo khi có lũ qua các phương tiện truyền thông như tivi, đài, loa phát

thanh và thông báo từ các cán bộ tại địa phương. Các biện pháp phòng tránh lũ lụt

trên địa bàn cũng được địa phương rất chú trọng nhằm giảm những thiệt hại do lũ

lụt gây ra. Bao gồm cả biện pháp công trình và phi công trình như; đối với các cơ

quan chức năng thì họ nhận định sớm tình hình lũ lụt trên địa bàn để đưa ra các biện

pháp ứng phó như thông báo cho người dân thu hoạch hoa màu trước thời vụ khi lũ

lụt có thể xảy ra, chủ động các biện pháp ứng phó khẩn cấp khi cần thiết, còn với

người dân thì họ chủ động dự trữ lương thực, đưa thóc lúa, vật nuôi lên vùng cao

để tránh lũ. Các biện pháp công trình như nâng cao nền đường, xây dựng nhà tránh

bão – lũ ở vùng trũng, hỗ trợ người dân xây dựng nhà tránh bão – lũ cũng được địa

phương tiến hành đồng bộ và thường xuyên, góp phần đáng kể vào công tác giảm

nhẹ thiên tai do bão lũ trên địa bàn. Nếu như các công tác cảnh báo lũ, các biện

pháp phòng tránh lũ được thực hiện trước khi lũ lụt xảy ra thì các biện pháp cứu trợ,

hỗ trợ người dân lại được thực hiện trong và sau khi lũ xảy ra.

Khi khảo sátvề sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng trong khi xảy ra lũ thì

hầu hết người được phỏng vấn đều trả lời sự hỗ trợ chỉ dừng lại ở mức rất ít, nhiều

khi còn chậm trễ, có khi lũ qua đựơc vài ba ngày họ mới nhận được mỳ tôm và đồ

dùng thiết yếu. Còn sau lũ, những hộ gia đình bị thiệt hại đều nhận được sự hỗ trợ

của các cơ quan chức năng, tuy nhiên sự hỗ trợ này theo một số người được phỏng

vấn là chưa hợp lý bởi theo chính sách của địa phương thì những gia đình thuộc hộ

nghèo sẽ được hỗ trợ nhiều hơn những hộ không nghèo, nhưng những hộ nghèo lại

bị thiệt hại do lũ ít hơn do họ có ít cái để mất hơn so với cái hộ gia đình khác. Hầu

hết người dân nằm trong vùng nguy cơ đều sống dựa vào nông nghiệp do đó những

tồn thương do lũ gây ra đối với họ là rất lớn, họ phải mất 4-5 tháng mới khôi phục

lại hoạt động sản xuất như bình thường.

Dựa trên số liệu của đợt điều tra, đã tiến hành phân loại, định lượng hóa các

vấn đề thông qua việc “ gán giá trị” cho các phương án trả lời theo các cấp độ từ

thấp đến cao (bảng 4). Tổng số điểm của mỗi phiếu được định tính hóa theo mức độ

từ rất thấp đến rất cao và được bản đồ hóa theo đơn vị hành chính cấp xã (hình 26).

50

3.2 Thành lập bản đồ tính dễ bị tổn thƣơng do lũ gây ra vùng hạ lƣu lƣu vực

sông Bến Hải, Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị

Trong nghiên cứu này, bản đồ tổn thương lũ được xây dựng dựa trên các bản

đồ: sự lộ diện các đối tượng trước lũ, nguy cơ lũ và sử dụng đất. Từ bản đồ sử dụng

đất được cung cấp bởi Sở Tài nguyên và Môi trường tinh Quảng Trị năm 2010 với

hơn 70 loại đất khác nhau, tác giả đã phân loại và nhóm thành 6 loại: đất trống, đất

rừng, đất nông nghiệp, đất nhà ở nông thôn, đất ở đô thị và đất công cộng (hình 7).

Hình 27. Bản đồ sử dụng đất tại vùng nghiên cứu

51

Mức độ tổn thương của lũ lụt với các nhóm sử dụng đất cho thấy: nhóm đất

sử dụng các công trình công cộng như trường học, bệnh viện, nhà chống bão lũ, các

khu hành chính, đường giao thông vv… là những nơi dễ bị tổn thương nhất bởi đây

là nơi tập trung nhiều dân cư đến tránh lũ và là trung tâm của các hoạt động cứu trợ.

Nếu như đường giao thông, nơi tập trung dân cư bị ngập thì người dân sẽ bị cô lập

dẫn đến tổn thương do lũ sẽ tăng lên rất nhiều. Nhóm đất nhà ở đô thị và nông thôn

ít bị tổn thương hơn so với đất công cộng những vẫn ở mức cao và trung bình do

nhà ở của người dân là nơi tập trung tài sản của cả gia đình bao gồm cả lương thực,

vật nuôi và các thiệt bị dân dụng khác và khi bị ngập lụt thì những nhà ở đô thị bị

thiệt hại nhiều hơn những nhà ở nông thôn do họ có nhiều tài sản hơn.

Người dân trong vùng nghiên cứu hạ lưu lưu vực sông Thạch Hãn chủ yếu

làm nông nghiệp và cây lúa là nguồn lương thực, thu nhập chính của người dân. Khi

lúa và hoa màu bị ngập úng sẽ gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống

của người dân. Họ phải đợi đến mùa vụ sau mới khôi phục lại được hoạt động sản

xuất của mình. Tuy nhiên, sức chịu đựng với lũ lụt của lúa và hoa màu lại kém hơn

các cây trông công nghiệp khác, do đó mức độ tổn thương của lúa và hoa màu trong

lũ cao hơn so với cây công nghiệp. Còn những nơi đất trống hay sông ngòi là những

nơi ít bị tổn thương nhất đối với lũ. Dựa trên các nhóm sử dụng đất khác nhau luận

văn đã chia ra mức độ tổn thương cho từng nhóm đất được thể hiện trong bảng 5.

Bảng 5. Tính dễ tổn thương của nhóm sử dụng đất

Nhóm sử dụng đất Tính dễ tổn thương

Đất công cộng Rất cao

Đất ở đô thị Cao

Đất ở nông thôn Trung bình

Đất nông nghiệp Thấp

Rất thấp Đất rừng và cây công nghiệp

Đất trống và sông ngòi Không bị tổn thương

52

Rất cao

6

7

8

9

10

10

Rất cao (5)

Cao

5

6

7

8

9

8-9

Cao (4)

Bảng 6. Ma trận tính toán sự lộ diện các đối tượng trước lũ

i ộ h ã x - ế t h n

Trung bình

i

4

5

6

7

8

6-7

k

Trung bình (3)

ị r t

Thấp

Thấp (2)

3

4

5

6

7

4-5

á i G

Rất thấp

2

3

4

5

6

2-3

Rất thấp (1)

Mức

+

Trung bình (3)

Rất thấp (1)

Thấp (2)

Cao (4)

Rất cao (5)

Mức nguy cơ lũ

Độ lộ diện

Mức độ tổn thương của một đối tượng trước lũ tại một vị trí nhất định không

chỉ phụ thuộc vào giá trị của đối tượng tại nơi đó mà còn phụ thuộc vào mức độ

ngập lụt, vận tốc dòng lũ, thời gian ngập lụt, nên việc kết hợp giữa bản đồ sử dụng

đất và bản đồ nguy cơ lũ cho ta bản đồ sự lộ diện thể hiện sự phơi bày của các đối

tượng trước lũ. Phương pháp chồng xếp bản đồ theo ma trận được sử dụng để kết

hợp bản đồ sử dụng đất và bản đồ nguy cơ lũ (bảng 6), bản đồ sự lộ diện của các đối

tượng trước lũ được thể hiện trong hình 28.

Nếu như những nơi tập trung đông dân cư và những vùng có giá trị kinh tế

lớn nằm trong vùng có mức độ nguy cơ lũ cao thì các vùng đó có mức độ lộ diện

cao. Ngược lại, những nơi có mức độ nguy cơ cao nhưng những nơi đó lại là đất

trống hay không có dân cư sinh sống thì mức độ lộ diện hay sự phơi bày trước lũ sẽ

ở mức rất thấp. Trên hình 28, có thể thấy những nơi là đất công cộng hay cụm dân

cư năm trong vùng nguy cơ lũ thì những nơi đó có độ lộ diện cao như các xã: Cam

An, Gio Mai, Triệu Độ, Triệu Đại, phường Đông Lễ, phường Đông Giang và thị xã

Quảng Trị.

53

Hình 28. Bản đồ sự lộ diện của các đối tượng trước nguy cơ lũ

Mức độ tổn thương của các đối tượng trong vùng nguy cơ lũ sẽ ở mức cao

nhất bằng với độ lộ diện nếu như đối tượng đó không có khả năng chống chịu, tuy

nhiên trong thực tế con người luôn có những biện pháp nhằm giảm những tổn

thương do lũ gây ra. Do đó để thể hiện được mức độ tổn thương của các đối tượng

trong vùng nghiên cứu luận văn đã tiến hành kết hợp bản đồ sự lộ diện lũ với bản đồ

54

khả năng chống chịu của cộng đồng để đưa ra bản đồ tổn thương lũ cho vùng

nghiên cứu. Tác giả sử dụng phương pháp chồng xếp bản đồ theo ma trận (bảng 7)

để tính toán tổn thương lũ trong vùng nghiên cứu, tính tổn thương lũ được chia làm

5 mức độ từ rất thấp, thấp, trung bình, cao và rất cao.

4

3

2

1

0

4

Rất cao

Rất cao(5)

3

2

1

0

-

3

Cao

Bảng 7. Ma trận tính toán mức độ tổn thương do lũ

n ệ i

2

1

0

-

-

2

d ộ l

Cao (4) Trung bình (3)

Trung bình

ộ Đ

1

0

-

-

-

1

Thấp (2)

Thấp

0

-

-

-

-

0

Rất thấp

Rất thấp(1)

__

Mức độ

Thấp (2)

Trung bình (3)

Cao (4)

Rất thấp (1)

Rất cao (5)

Khả năng chống chịu

Tổn thƣơng lũ

Qua ma trận tính toán tổn thương lũ có thể thấy những nơi mà có khả năng

chống chịu ở mức rất cao (mức 5) thì mức độ tổn thương lũ của vùng đó chỉ ở mức

thấp, nhưng những nơi có độ lộ diện rất cao mà khả năng chống chịu ở mức trung

bình (mức 3) thì độ tổn thương lũ cũng chỉ ở mức trung bình (mức 2). Còn những

nơi mà không có khả năng chống chịu hay khả năng chống chịu ở mức rất thấp thì

tổn thương lũ sẽ bằng với độ lộ diện của các đối tượng đó. Qua đó ta thấy, khả năng

chống chịu của cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro do lũ,

những khu vực có mức độ nguy hiểm cao nhưng tổn thương lũ của họ lại chỉ ở mức

trung bình do họ có kinh nghiệm lâu năm trong việc đối phó với thiên tai.

Qua bản đồ tổn thương do lũ (hình 29) có thấy những nơi có sự phát triển

nhanh về kinh tế nhưng lại chủ quan trong công tác phòng tránh thiên tai (khả năng

chống chịu ở mức thấp) thì có mức độ tổn thương do lũ cao như tại thị trấn Cửa

55

Việt, thị trấn Ái Tử, thị xã Quảng Trị, phường Đông Giang (thành phố Đông Hà).

Các xã Cam An, Triệu Đô, Triệu Đại nằm trong vũng trũng nên khi xảy ra ngập lụt

các xã này thường bị cô lập với thời gian ngập lụt là 5 – 6 ngày, do đó mức độ tổn

thương do lũ ở mức cao. Xã Gio Mai trên bản đồ nguy cơ lũ và bản đồ sự lộ diện thì

đây là xã chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt, nhưng trên bản đồ tổn thương lũ thì nơi

này lại có mức tổn thương lại ở mức thấp do họ có khả năng chống chịu với lũ tốt

và họ chủ động trong công tác phòng chống lũ lụt.

Hình 29. Bản đồ tổn thương do lũ vùng hạ lưu lưu vực sông Thạch Hãn

56

Do đó để giảm những tổn thương do lũ gây ra ngoài các biện pháp giảm

thiểu nguy cơ lũ thì các biện pháp phòng tránh đóng vai trò quan trọng. Những

người dân sống trong vùng thường xuyên bị ngập lụt họ phải làm quen với lũ, “sống

chung với lũ” và thực hiện các biện pháp nhằm làm giảm những tổn thương về

người và của do lũ gây ra.

Bản đồ tính dễ tổn thương lũ được thành lập dựa trên bản đồ nguy cơ lũ có

tần suất 1%, bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2010 và khả năng chống chịu của cộng

đồng như hiện tại, do đó có thể thấy được những nơi dễ bị tổn thương khi xuất hiện

lũ tấn suất 1%, từ đó các biện pháp ứng phó ứng phó với lũ như nâng cao công tác

dự báo lũ, khả năng nhận thức của cộng đồng với lũ, tăng cường các hoạt động cứu

trợ khi có lũ…sẽ làm giảm thiểu những rủi ro do lũ gây ra.

57

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Nghiên cứu tính dễ tổn thương di lũ trên lưu vực sông Thạch Hãn có vai trò

quan trọng trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro do lũ. Hệ thống sông Thạch Hãn

tỉnh Quảng Trị là nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt. Hàng năm trên lưu

vực này xảy ra 3 -4 trận bão với cường suất lớn và lưu vực thường xuyên bị ngập lụt

gây ra những thiệt hại lớn cả về người và của làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh

tế - xã hội của vùng. .

2. Luận văn đã tổng quan được các khái niệm và các phương pháp đánh giá tính

dễ tổn thương do lũ qua các nghiên cứu trong và ngoài nước. Từ đó, đã lựa chọn

phương pháp tiếp cận đánh giá tổn thương lũ cho lưu vực sông Thạch Hãn thông

qua xây dựng bản đồ tính dễ tổn thương do lũ.

3. Đã áp dụng thành công mô hình MIKE FLOOD để xây dụng các bản đồ diện

ngập lũ, vận tốc dòng lũ và thời gian ngập lũ. Ap dụng thành công phương pháp

chồng xếp bản đồ theo trọng số để xây dựng nên bản đồ nguy cơ lũ. Vùng có nguy

cơ lũ cao nhất thuộc các xã: Cam An, Gio Mai, Triệu Độ, Triệu Hòa.

4. Khảo sát thực địa về điều tra khả năng chống chịu của cộng đồng tại 32 điểm

tại hạ lưu lưu vực sông Thạch Hãn cho thấy năng lực chống chịu với lũ của người

dân địa phương khác nhau giữa các vùng. Người dân ở xã Gio Mai có khả năng

chống chịu cao nhất bởi họ có sự nhận thức cao với lũ lụt và chủ động trong các tác

phòng tránh lũ. Tuy nhiên quá trình khảo sát mới chỉ ở dạng đơn giản (32 phiếu

điều tra) và luận văn đánh giá tính dễ tổn thương do lũ mới chỉ dừng lại ở cấp đơn

vị hành chính cấp xã, chưa đi sâu vào đánh giá tổn thương do lũ cho từng đối tượng

cụ thể trong vùng nguy cơ lũ. Trong những nghiên cứu tiếp theo tác giả sẽ tập trung

nghiên cứu sâu hơn về tính dễ tổn thương do lũ của các đối tượng trong vùng nguy

cơ lũ và có những đánh giá khách quan hơn về khả năng chống chịu của cộng đồng

tại vùng nghiên cứu

5. Nghiên cứu đã đánh giá tính dễ tổn thương trong vùng nghiên cứu dựa trên

việc thành lập bản đồ tính dễ tổn thương do lũ. Bản đồ này là sự kết hợp giữa các

bản đồ bản đồ nguy cơ lũ, bản đồ sử dụng đất và bản đồ thể hiện khả năng chống

58

chịu của cộng đồng bằng phương pháp chồng xếp bản đồ theo trọng số. Đây là

hướng nghiên cứu còn khá mới và cho kết quả khả quan. Các xã thuộc vùng trũng

thường bị cô lập khi xảy ra lũ lụt như Cam An, Triệu Độ, Triệu Đại hay các vùng có

sự phát triển nhanh về kinh tế như thị trấn Cửa Việt, thị trấn Ái Tử, thị xã Quảng Trị

mà chủ quan trong công tác phòng tránh lũ bão thì có mức độ tổn thương lũ cao

nhất trong vùng.

6. Qua nghiên cứu đánh giá tính dễ tổn thương do lũ tại hạ lưu sông Thạch Hãn

tỉnh Quảng Trị tác giả đưa ra những kiến nghị sau:

a. Nâng cao năng lực cảnh báo và dự bão lũ lụt tại địa phương bằng cách;

hoàn thiện phương pháp dự báo và cảnh báo lũ, tăng cường hệ thống quan

trăc, phương thức truyền tin trên lưu vực,

b. Thường xuyên tổ chức tập huấn nâng cao năng lực đối phó với với thiên

tai nói chung và lũ lụt nói riêng cho cán bộ quản lý và cộng đồng dân cư.

c. Nâng cao sự nhận thức của người dân đối với lũ lụt thông qua các hội

thảo, phương tiện truyền thông về các biện pháp phòng tránh thiên tai.

d. Tổ chức các hội thảo để trao đổi kinh nghiệm phòng chống thiên tai giữa

các vùng.

e. Tăng cường các biện pháp công trình và phi công trình phòng tránh lũ

như: xây dựng các bản đồ ngập lụt, bản đồ tổn thương do lũ, xây dựng nhà

tránh lũ, đường tránh lũ…

f. Hệ thống hóa và phân cấp công tác quản lý để đảm bảo các quy hoạch

phát triển, quy chuẩn xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và khu dân

cư trong vùng thường xuyên bị thiên tai phù hợp với tiêu chuẩn phòng,

chống bão, lũ, thiên tai của từng vùng.

g. Cần xây dựng qũy bảo hiểm con người và tài sản trước lũ lụt để các hộ gia

đình nhanh chóng khắc phục các hậu quả do lũ lụt gây ra.

59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng việt

1. Trần Ngọc Anh, (2011), Xây dựng bản đồ ngập lụt hạ lưu các sông Bến Hải và

Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị.Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và

Công nghệ Tập 27, số 1S, tr. 1-8.

2. Ban chỉ huy PCLB & TKCN tỉnh Quảng Trị UBND tỉnh Quảng Trị,( 1998 –

2010), Báo cáo tổng kết công tác PCLB & Giảm nhẹ thiên tai .

3. Nguyễn Tiền Giang, Trần Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Sơn, Trần Anh

Phương, Ngô Chí Tuấn , Nguyễn Đức Hạnh (2009), Đánh giá hiện trạng và dự

báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ tỉnh

Quảng Trị.Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội. Khoa học Tự nhiên và

Công nghệ, T.25 số 1S – 2009, tr 35-45. Hà Nội.

4. Đặng Đình Khá (2009), Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán mức độ

ngập lụt khu vực Bắc Thường Tín, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa

học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Vũ Đức Long, Trần Ngọc Anh, Hoàng Thái Bình và Đặng Đình Khá 2010, Giới

thiệu công nghệ dự báo lũ hệ thống sông Bến Hải và Thạch Hãn sử dụng mô

hình MIKE 11. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công

nghệ Tập 26, số 3S, 397.

6. Nguyễn Thanh Sơn (2006), Quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước tỉnh Quảng

Trị đến 2010 Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội. Khoa học Tự nhiên

và Công nghệ, T.XXII, số 2B PT – 2006, tr. 139-148, Hà Nội

7. Ngô Chí Tuấn, Trần Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Sơn, (2009), Cân bằng nước hệ

thống lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị bằng mô hình MIKE

BASIN. Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội. Khoa học Tự nhiên và

Công nghệ, T.25 số 3S – 2009, tr 535 -541. Hà Nội.

8. UBND tỉnh Quảng Trị (2006) - Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát

triển KT – XH tỉnh Quảng Trị đến năm 2020,.

60

Tiếng Anh

9. Balica Stefania Florina (2007), Development and Application of Flood

Vulnerability Indices for Various Spatial Scales, Master of Science Thesis,

UNESCO-IHE, Institude for water education, 157p.

10. Dang - Nguyen Mai, Mukand S. Babel, Huynh T. Luong (2010), Evaluation of

food risk paramerter in the Day River flood Diversion Area, Red River Delta,

Vietnam. Nartural Hazards and Earth System Sciences, Springer, Accepted: 13

May 2010. DOI 10.1007/s11069-010-9558-x.

11. Downing, T.E. and Patwardhan, A., with Klein, R.J.T., Mukhala, E., Stephen,

L., Winograd, M. and Ziervogel, G. (2005), Assessing Vulnerability for Climate

Adaptation; In Adaptation Policy Frameworks for Climate Change: Developing

Strategies, Policies and Measures. Lim, B., Spanger-Siegfried, E., Burton, I.,

Malone, E. and Huq, S. (Eds). Cambridge University Press, Cambridge.

12. Fuchs S (2009), Susceptibility versus resilience to mountain hazards in Austria

of paradigms of vulnerability revisited. Nartural Hazards and Earth System

Sciences, Vol.9 p. 337 - 352

13. International Strategy for Disaster Reduction, (2004) “Living with Risk: A

global review of disaster reduction initiatives ”, Under-Secretary-General for

Humanitarian Affairs Jan Egeland.

14. IPCC, (2001), Climate change 2001: The scientific basis. Cambridge,

Cambridge University

15. Janet Edwards (2007). Handbook for Vulnerability Mapping. EU Asia ProEco

project.

16. Jorn Birkmann (2006). Approaches to flood vulnerability assessment, first

expert meeting. “Guidelines on flood maping”, United Nations University.

17. Messner F, Meyer V (2006). Flood damage, vulnerability and risk perception

of challenges for food damage research. In: Schanze J, Zeman E, Marsalek J

61

(eds) Flood risk management of hazards, vulnerability and mitigation

measures. Springer, p 149 – 167.

18. NFRAG (The National Flood Risk Advisory Group) (2008). Flood risk

management in Australia. The Australia J. Emerg Manag 23(4): 21–27p

19. Nicola Lugeri, Zbigniew W. Kundzewicz, Elisabetta Genovese, Stefan

Hochrainer, Maciej Radziejewski (2010). River flood risk and adaptation in

Europe – assessment of the present status. Mitig Adapt Strateg Glob Change

Vol. 15 p. 621-639.

20. Pilon PJ (ed) (2003). Guidelines for reducing flood losses, report. UN

Department of Economic and Social Affairs (DESA). Inter-Agency Secretariat

of the International Strategy for Disaster Reduction (UN/ ISDR), UN

Economic and Social Commission for Asia and the pacific (UNESCAP),

United States of America, National Oceanic and Atmospheric Administration

(USA NOAA), World Meteorological Organization (WMO). Available via

DIALOG: http://www.un.org/esa/sustdev/publications/flood_ guidelines.pdf.

Accessed 13 July 2011.

21. Ramade, (1989). Eléments d’ecologie: Ecologie appliquée, McGraw-Hill,

Paris. 579 p.

22. Richard F. Conner. Flood vulnerability index. www.oieau.fr/IMG/pdf/09-

WWF4_FVI.pdf

23. Samuels P, Gouldby B, Klijn F, Messner F, van Os A, Sayers P, Schanze J,

Udale-Clarke H (2009) Language of risk - project definitions. Floodsite

project report T32-04-01, second edition.

www.foodsite.net/html/partner_area/projectdocs/T32_04_01_FLOODsite_Lan

guage_of_Risk_D32_2_v5_2_P1.pdf

24. Sebastian Scheuer, Dagmar Haase, Volker Meyer (2010), Exploring

multicriteria flood vulnerability by integrating economic, social and ecological

dimension of flood risk and coping capacity: from a starting point view

towards an end point view of vulnerability, Nartural Hazards and Earth

62

System Sciences, Springer, Accepted: 3 November 2010. DOI

10.1007/s11069-010-9666-7.

25. Second Assessment Report (1996), IPCC

26. Takeuchi K (2006), ICHARM calls for an alliance for localism to manage the

risk of water-related disasters. In: Tchiguirinskaia I, Thein KNN, HuberP (eds)

Frontiers in flood research, International Association of Hydrological Science

(IAHS), Red Book Series, p 305

27. Viet Trinh, Lars Ribbe, Jackson Roehrig & Phong Nguyen (2010), Flood risk

assessment for the Thach Han River Basin, Quang Tri Province, Vietnam.

Proc. of the Sixth World FRIEND Conference: Global Change: Facing Risks

and Threats to Water Resources in Fez, Morocco, October 2010. IAHS Publ.

340.

28. Villagran de Leon JC (2006), Vulnerability – conceptual and methodological

review. Studies of the university: research, counsel, education, publication

series of UNU-EHS4/2006. Bonn.

29. W. Neil Adger (2006), Vulnerability, Global Environmental Change Vol.16

p.268 - 281

30. Watts M.J. and Bohle H.G., (1993), The space of vulnerability: the causal

structure of hunger and famine, Progress in Human Geography 17:43-67.

31. http://www.unesco-ihe-fvi.org/

63

PHỤ LỤC

(Phiếu điều tra khả năng chống chịu)

64