BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

----------

TRẦN VĂN MẠNH

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY VÀ

BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH PHỤC VỤ SẢN XUẤT

TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

HUẾ, NĂM 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

----------

TRẦN VĂN MẠNH

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY VÀ

BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH PHỤC VỤ SẢN XUẤT

TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

MÃ SỐ: 62.62.01.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. PGS. TS. NGUYỄN MINH HIẾU

2. TS. NGUYỄN NHƯ HẢI

HUẾ, NĂM 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết

quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và

chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã

được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn

gốc. Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Huế, ngày 19 tháng 6 năm 2015

Tác giả luận án

Trần Văn Mạnh

i

Trần Văn Mạnh

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận

được sự giúp đỡ về nhiều mặt của các cấp lãnh đạo, các tập thể và cá nhân.

Qua đây, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới PGS.TS.

Nguyễn Minh Hiếu và TS. Nguyễn Như Hải, là những người thầy hướng dẫn

khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên

cứu và hoàn thành luận án này;

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban đào tạo, Đại học Huế; Lãnh đạo

Trường Đại học Nông Lâm Huế, Phòng Đào tạo Sau đại học cùng các thầy,

cô giáo Khoa Nông học đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi,

giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu;

Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đến lãnh đạo và các công chức, viên

chức thuộc Cục Trồng trọt; Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm

cây trồng Quốc gia; Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng

Miền Trung; các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều

kiện, động viên và có nhiều ý kiến đóng góp cho việc thực hiện đề tài nghiên

cứu và hoàn thành luận án;

Tôi vô cùng biết ơn ba mẹ người đã sinh thành, chịu nhiều vất vả để

nuôi dưỡng tôi nên người; xin cảm ơn đến người vợ hiền cùng các con của tôi

đã tạo mọi điều kiện và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn

thành luận án này.

Xin trân trọng cảm ơn!

Huế, ngày 19 tháng 6 năm 2015

Tác giả luận án

ii

Trần Văn Mạnh

DANH MỤC VIẾT TẮT

BNN và PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

BVTV: Bảo vệ thực vật

DHNTB: Duyên hải Nam Trung bộ

D/R: Dài/rộng

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

Đ/C: Đối chứng

ĐX: Đông Xuân

FAO: Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông nghiệp và lương

thực Liên hợp quốc)

GCT: Giống cây trồng

HT: Hè Thu

Kg: Kilôgam

KL1.000 hạt: Khối lượng 1.000 hạt

KT: Kỹ thuật

MT: Miền Trung

N/P/K: Đạm/Lân/Kali

NLN: Nông Lâm nghiệp

NSLT: Năng suất lý thuyết

NSTT: Năng suất thực thu

QCVN: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

SD: Độ lệch chuẩn

SE: Sai số chuẩn

TB: Trung Bình

TCN: Tiêu chuẩn nghành

TCVN: Tiêu chuẩn quốc gia

TGST: Thời gian sinh trưởng

TLGN: Tỷ lệ gạo nguyên

TLGX: Tỷ lệ gạo xay

iii

TTKKNG, SPCT: Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i

LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii

DANH MỤC VIẾT TẮT ........................................................................................ iii

MỤC LỤC ................................................................................................................ iv

DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................... vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................ x

MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................ 1

2. Mục đích đề tài ...................................................................................................... 2

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.............................................................................. 3

3.1. Ý nghĩa khoa học ............................................................................................... 3

3.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................................ 3

4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................................................................. 3

5. Những đóng góp mới của luận án ........................................................................ 4

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................. 5

1.1. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu về tuyển chọn giống lúa ........ 5

1.1.2. Những nghiên cứu về yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa .................... 9

1.1.3. Nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất lúa và các yếu tố liên quan........ 12

1.1.4. Nghiên cứu về chất lượng gạo, cơm và yếu tố ảnh hưởng ........................ 14

1.1.5. Những nghiên cứu trong lĩnh vực chọn tạo giống lúa ................................ 21

1.2. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu về mật độ gieo cấy và phân

bón cho cây lúa ........................................................................................................ 28

1.2.1. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu về mật độ gieo cấy cho cây

lúa ............................................................................................................................. 28

1.2.2. Cơ sở khoa học và những nghiên cứu về phân bón cho cây lúa................ 31

1.3. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu về thời vụ gieo, cấy đối với

cây lúa ...................................................................................................................... 44

iv

1.3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết đến sinh trưởng cây lúa ...................... 44

1.3.2. Nghiên cứu về mùa vụ gieo, cấy đối với cây lúa ........................................ 45

CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

.................................................................................................................................. 47

2.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 47

2.2. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 48

2.2.1. Tuyển chọn giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất và

chất lượng khá, thích nghi với điều kiện sản xuất tại vùng Duyên hải Nam Trung

bộ .............................................................................................................................. 48

2.2.2. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật hoàn thiện quy trình thâm canh

giống lúa ngắn ngày được tuyển chọn trên đất phù sa không được bồi hàng năm

.................................................................................................................................. 48

2.2.3. Xây dựng mô hình hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa ngắn

ngày được tuyển chọn tại vùng nghiên cứu ........................................................... 48

2.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 48

2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm .................................................................... 49

2.3.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá ..................................... 51

2.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ...................................................... 56

CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 57

3.1. Kết quả nghiên cứu tuyển chọn giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn,

năng suất và chất lượng khá, thích nghi với điều kiện sản xuất tại vùng Duyên

hải Nam Trung bộ ................................................................................................... 57

3.1.1. Một số đặc điểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm .................. 57

3.1.2. Phản ứng của các giống lúa thí nghiệm với một số loại sâu bệnh hại ....... 59

3.1.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm ... 60

3.1.4. Kết quả đánh giá tính thích nghi và độ ổn định về năng suất của các giống

lúa thí nghiệm tại vùng nghiên cứu ........................................................................ 67

3.1.5. Đánh giá chất lượng của các giống lúa thí nghiệm .................................... 71

v

3.2. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật hoàn thiện quy trình thâm

canh giống lúa mới cực ngắn ngày triển vọng trên đất phù sa không được bồi

hàng năm tại vùng nghiên cứu ............................................................................... 75

3.2.1. Kết quả nghiên cứu liều lượng bón đạm và lượng giống gieo sạ thích hợp

đối với giống lúa MT18cs trên đất phù sa không được bồi hàng năm tại Quảng

Ngãi .......................................................................................................................... 75

3.2.2. Kết quả nghiên cứu thời vụ gieo sạ thích hợp đối với giống lúa MT18cs tại

vùng nghiên cứu .................................................................................................... 106

3.3. Kết quả xây dựng mô hình ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm canh

giống lúa ngắn ngày được đề tài đề xuất tại vùng nghiên cứu ........................... 114

3.3.1. Quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa thuần có thời gian sinh trưởng cực

ngắn ngày tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ được đề tài nghiên cứu đề xuất 114

3.3.2. Kết quả xây dựng mô hình ứng dụng biện pháp kỹ thuật mới đã được đề

tài nghiên cứu đề xuất ........................................................................................... 115

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.................................................................................. 120

1. Kết luận ............................................................................................................. 120

2. Đề nghị .............................................................................................................. 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................... 123

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

Bảng 2.1. Nguồn vật liệu các giống lúa mới đưa vào nghiên cứu .................... 47 Bảng 2.2. Công thức thí nghiệm liều lượng phân đạm và lượng giống gieo sạ 50 Một số đặc điểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm ........ 58 Bảng 3.1. Bảng 3.2. Tình hình sâu bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm ....................... 60 Bảng 3.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các giống

lúa thí nghiệm ...................................................................................... 61 Bảng 3.4. Năng suất thực thu của các giống lúa ở các điểm thí nghiệm trong vụ ĐX 2011- 2012 và ĐX 2012- 2013 (tạ/ha) ........................................ 63 Bảng 3.5. Năng suất thực thu của các giống lúa ở các điểmthí nghiệm trong vụ HT 2012 và HT 2013 (tạ/ha) .............................................................. 65 Bảng 3.6. Độ ổn định về năng suất của các giống lúa thí nghiệm trong vụ Đông Xuân ..................................................................................................... 69

Bảng 3.7. Độ ổn định về năng suất của các giống lúa thí nghiệm trong vụ Hè

Thu ....................................................................................................... 70 Bảng 3.8. Chỉ số môi trường của các điểm thí nghiệm (Ij) ............................... 71 Bảng 3.9. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm .......... 72 Bảng 3.10. Đặc tính chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm ..................... 73 Bảng 3.11. Chất lượng cơm của các giống lúa tham gia thí nghiệm .................. 74 Bảng 3.12. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 tại Quảng Ngãi .................................................... 76 Bảng 3.13. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa MT18cs trong vụ Hè Thu 2013 tại Quảng Ngãi ........................................................ 77

Bảng 3.14. Ảnh hưởng lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón đến khả năng đẻ

nhánh và chiều cao cây của giống lúa MT18cs ................................. 80 Bảng 3.15. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến khả năng đẻ nhánh và chiều cao cây của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ..................................................................................... 81 Bảng 3.16. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng đẻ nhánh và chiều cao

cây của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi .......................................................................................... 82

vii

Bảng 3.17. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá, diện tích lá đòng và độ tàn lá của giống MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ................................ 83

Bảng 3.18. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến chỉ số diện tích lá, diện tích lá đòng và độ tàn lá của giống MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ...................................................................... 85

Bảng 3.19. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá, diện tích lá

đòng và độ tàn lá của giống MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ...................................................................... 85

Bảng 3.20. Ảnh hưởng của của lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón đến khả

năng tích lũy chất khô của giống lúa MT18cs ................................... 88

Bảng 3.21. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến khả năng tích lũy chất khô

của giống lúa MT18cs ......................................................................... 89

Bảng 3.22. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng tích lũy chất khô của

giống lúa MT18cs ............................................................................... 89

Bảng 3.23. Tình hình sâu hại của giống lúa MT18cs ở các công thức thí nghiệm

.............................................................................................................. 91

Bảng 3.24. Tình tình bệnh hại và khả năng chống đổ ngã của giống lúa MT18cs

ở các công thức thí nghiệm ................................................................. 92

Bảng 3.25. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón đến các yếu

tố cấu thành năng suất của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ....................................................... 94

Bảng 3.26. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi .......................................................................................... 97

Bảng 3.27. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất

của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi .......................................................................................... 97 Bảng 3.28. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón đến năng suất

lý thuyết và năng suất thực thu giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ............................................ 98 Bảng 3.29. Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến năng suất giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ...................... 99

viii

Bảng 3.30. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất giống lúa MT18cs

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi .................... 101

Bảng 3.31. Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm trong vụ ĐX 2012-

2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ..................................................... 104

Bảng 3.32. Ảnh hưởng của thời vụ gieo sạ đến thời gian sinh trưởng, khả năng đẻ nhánh và diện tích lá đòng của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi .......................................... 107

Bảng 3.33. Ảnh hưởng của thời vụ gieo sạ đến tình hình sâu bệnh hại của giống

lúa MT18cs ........................................................................................ 110 Bảng 3.34. Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất

của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi ........................................................................................ 111

Bảng 3.35. Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến năng suất của giống lúa MT18cs

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi .................... 113

Bảng 3.36. Một số đặc điểm nông học của giống MT18cs ở các mô hình trong

vụ ĐX 2013-2014 và HT 2014 ......................................................... 116 Bảng 3.37. Tình hình sâu bệnh hại đối với giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2013- 2014 và HT 2014 ............................................................................... 117 Bảng 3.38. Các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa MT18cs .................. 117 Bảng 3.39. Năng suất của giống lúa MT18cs tại các mô hình .......................... 118

ix

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu hình Tên hình Trang

Hình 3.1. Biểu đồ năng suất các giống lúa thí nghiệm vụ ĐX2011-2012 ..... 64

Hình 3.2. Biểu đồ năng suất các giống lúa thí nghiệm vụ ĐX2012-2013 ..... 64

Hình 3.3. Biểu đồ năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ HT2012 ......... 67

Hình 3.4. Biểu đồ năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ HT2013 ......... 67

Hình 3.5. Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón với hệ số

diện tích lá xanh giai đoạn kết thúc đẻ nhánh của giống MT18cs . 86

Hình 3.6: Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón với hàm

lượng chất khô của giống lúa MT18cs giai đoạn chín .................... 90

Hình 3.7. Biểu đồ so sánh năng suất thực thu của giống MT18cs ở các lượng

giống gieo sạ khác nhau trong vụ ĐX và HT ................................ 100

Hình 3.8. Biểu đồ so sánh năng suất thực thu của giống lúa MT18cs ở các

lượng đạm bón khác nhau trong vụ ĐX và HT ............................. 101

Hình 3.9. Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón với năng

suất thực thu của giống lúa MT18 trong vụ Đông Xuân 2012..... 102

Hình 3.10. Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón với năng

suất thực thu của giống lúa MT18 trong vụ Hè Thu 2012 ........... 103

Hình 3.11. Biểu đồ so sánh năng suất thực thu của giống lúa MT18cs ở các

công thức thí nghiệm về thời vụ gieo sạ trong vụ ĐX và HT ...... 113

x

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cây lúa (Oryza sativa L.) là loại cây lương thực chính có từ lâu đời

cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Ở Việt Nam, tập quán canh tác

cây lúa đã đi vào văn hóa, xã hội và hình thành nên nền văn hóa trồng lúa

nước đặc sắc, riêng biệt với những nấc thăng trầm của lịch sử phát triển của

đất nước. Ngoài ra, sản phẩm từ lúa gạo là thức ăn không thể thiếu trong bữa

ăn hàng ngày của người dân Việt Nam nói riêng và của đông đảo cộng đồng

dân cư trên thế giới nói chung.

Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 75% dân số sống phụ

thuộc chủ yếu vào nông nghiệp và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo

làm lương thực chính. Tính đến năm 2014, diện tích đất trồng lúa ở nước ta là

7,8 triệu ha, tổng sản lượng lúa đạt 44,84 triệu tấn, năng suất trung bình đạt

57,4 tạ/ha. Vì vậy, chúng ta không những có đủ lương thực tiêu dùng trong

nước, đảm bảo an ninh lương thực mà còn dư một lượng lớn để phục vụ xuất

khẩu [125].

Theo thống kê, xuất khẩu gạo năm 2014 đạt gần 6,38 triệu tấn, trị giá

2,96 tỷ USD, giảm 3,25% về lượng nhưng tăng nhẹ 1,03% về kim ngạch so

với năm 2013 và đứng thứ 3 trên thế giới sau Ấn Độ, Thái Lan [126]. Góp

phần vào thành tích to lớn trên trước hết phải kể đến sự đóng góp quan trọng

của các giống lúa mới cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chủ

trương chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB) có diện tích lúa gieo cấy

hàng năm khoảng 373,3 ngàn ha, chiếm 4,78% diện tích lúa cả nước. Năm

2014, sản lượng lúa toàn vùng đạt 2,185 triệu tấn, chiếm 4,87% sản lượng lúa

cả nước; năng suất lúa bình quân toàn vùng đạt 58,5 tạ/ha, cao hơn năng suất

bình quân cả nước 1,1 tạ/ha [125]. Mặc dù diện tích và sản lượng lúa toàn

vùng so với cả nước không lớn nhưng đây là vùng có điều kiện thời tiết, khí

1

hậu diễn biến khá phức tạp khá bất lợi cho sản xuất nông nghiệp; Tình hình

hạn hán, thiếu nước ngày càng có nguy cơ cao gây ảnh hưởng xấu cho sản

xuất lúa. Trước những thách thức đó, đòi hỏi các nhà khoa học, phải nghiên

cứu và đưa ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu tác

động của thời tiết, tăng năng suất, sản lượng lúa, đảm bảo được an ninh lương

thực và phát triển nông nghiệp bền vững của vùng.

Những năm gần đây, các giống lúa mới có năng suất cao và biện pháp

kỹ thuật mới được đưa vào sản xuất đã nâng cao năng suất và sản lượng lúa

gạo của vùng. Tuy nhiên, giống lúa được sử dụng chủ yếu trong sản xuất tại

các địa phương trong vùng đa số là những giống lúa có năng suất cao nhưng

phẩm chất gạo thấp, một số giống có thời gian sinh trưởng dài, khả năng

chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận kém như Q5, Khang

dân 18, DV108, Ải 32, IR17494, Xi23, NX30... Vì thế, việc nghiên cứu tuyển

chọn giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, có năng suất, chất lượng khá, ít

nhiễm sâu bệnh hại nhằm bổ sung vào cơ cấu giống lúa, tạo điều kiện thuận

lợi để bố trí mùa vụ né tránh thiên tai hạn hán, lũ lụt ở những vùng sản xuất

lúa khó khăn trong điều kiện khí hậu biến đổi như hiện nay là thực sự cần

thiết. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu

tuyển chọn giống lúa ngắn ngày và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh

phục vụ sản xuất tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ”

2. Mục đích đề tài

Tuyển chọn được giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn, khả

năng sinh trưởng, phát triển tốt, ít nhiễm sâu bệnh hại, năng suất cao, ổn định,

chất lượng khá; và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật canh tác (thời vụ gieo,

lượng giống gieo sạ, liều lượng bón đạm) nhằm phục vụ sản xuất thâm canh

lúa tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ.

2

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1. Ý nghĩa khoa học

- Các kết quả thu được của đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học

phục vụ công tác nghiên cứu chọn tạo, tuyển chọn giống lúa ngắn ngày cho

vùng Duyên hải nam Trung bộ.

- Đã tuyển chọn được một số giống lúa ngắn ngày triển vọng, sinh

trưởng phát triển tốt, ít nhiễm sâu bệnh hại, có tính thích nghi và độ ổn định

cao, phù hợp với sản xuất tại các tỉnh Duyên hải nam Trung bộ.

- Cung cấp nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác nghiên cứu, chọn tạo

giống lúa ngắn ngày, chất lượng; Là tài liệu tham khảo cho công tác giảng

dạy, nghiên cứu khoa học, chọn tạo giống lúa ngắn ngày tại vùng nghiên cứu.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

- Đã tuyển chọn được 2 giống lúa MT18cs và LTH 134 (AIQ1102), có

thời gian sinh trưởng ngắn, sinh trưởng phát triển tốt, năng suất, chất lượng

khá bổ sung vào cơ cấu giống lúa, góp phần đảm bảo ổn định năng suất và sản

lượng lúa của vùng Duyên hải Nam Trung bộ trong điều kiện biến đổi khí hậu

phức tạp như hiện nay.

- Khuyến cáo cho sản xuất quy trình thâm canh giống lúa mới ngắn ngày

triển vọng (thời vụ gieo; mật độ sạ và liều lượng đạm) phù hợp để thâm canh lúa

trên đất phù sa không được bồi hàng năm tại vùng Duyên hải nam Trung bộ.

4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đề tài luận án tập trung nghiên cứu nguồn vật liệu 9 giống lúa thuần

mới thuộc nhóm ngắn ngày, được thu thập từ các nguồn lai tạo trong nước và

nhập nội.

- Nghiên cứu về đặc điểm nông học, tiềm năng cho năng suất, chất

lượng, tính chống chịu sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận; khả năng

thích nghi với điều kiện sinh thái vùng Duyên hải Nam Trung bộ của 9 giống

lúa mới. Thí nghiệm được thực hiện liên tục 4 vụ (Đông Xuân 2011-2012, Hè

Thu 2012; Đông Xuân 2012-2013 và Hè Thu 2013); được bố trí tại 3 địa điểm

3

tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ (Trại Giống cây trồng Nam Phước, tỉnh

Quảng Nam; Trạm Khảo nghiệm và Hậu kiểm giống cây trồng Sơn Tịnh, tỉnh

Quảng Ngãi; Trại Giống cây Nông nghiệp Hòa An, tỉnh Phú Yên).

- Sử dụng một giống lúa mới cực ngắn ngày được tuyển chọn làm đối

tượng để nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật (thời vụ gieo sạ; lượng

giống gieo sạ và liều lượng bón đạm). Các thí nghiệm được thực hiện liên tục

2 vụ (Đông Xuân 2012 -2013 và Hè Thu 2013), trên đất phù sa không được

bồi hàng năm, có độ phì trung bình tại Trạm Khảo nghiệm và Hậu kiểm giống

cây trồng Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

- Xây dựng mô hình thâm canh giống lúa mới được tuyển chọn và biện

pháp kỹ thuật mới của đề tài nghiên cứu đề xuất được thực hiện 2 vụ (Đông

Xuân 2013 -2014 và Hè Thu 2014), tại 6 Trạm giống cây trồng ở các tỉnh

Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên.

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 10 năm 2014.

5. Những đóng góp mới của luận án

- Đề tài đã phối hợp với các cơ quan tác giả tuyển chọn được 2 giống

lúa mới là: MT18cs và LTH 134 (AIQ1102), có thời gian sinh trưởng ngắn

ngày, năng suất cao ổn định đạt từ 62- 65 tạ/ha, chất lượng khá, ít nhiễm sâu

bệnh hại; được đánh giá là giống có triển vọng cho sản xuất tại các tỉnh

Duyên hải Nam Trung bộ. Các giống lúa này đã được Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn công nhận cho phép sản xuất thử tại Quyết định số:

498/QĐ-TT-CLT, ngày 29/10/2013 và Quyết định số: 58/QĐ-TT-CLT, ngày

13/3/2014 của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

- Kết quả nghiên cứu đã đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật sản

xuất thâm canh giống lúa cực ngắn ngày trên đất phù sa không được bồi đắp

hàng năm tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ gồm: Thời vụ thích hợp trong vụ

Đông Xuân gieo sạ từ 27/12 đến 05/01, vụ Hè Thu gieo sạ từ 03/6 đến 10/6;

Lượng hạt giống gieo sạ và lượng đạm bón thích hợp trên một ha là: 90 kg hạt

giống và 120 kg N trên nền 5 tấn phân chuồng hoai mục cùng với 80 kg P2O5

và 90 kg K2O.

4

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu về tuyển chọn giống lúa

1.1.1. Nghiên cứu về những đặc điểm nông sinh học của cây lúa

Lúa là cây trồng đa dạng kiểu hình, mỗi giống có những đặc điểm riêng

mà ta có thể dựa vào đó để nhận biết như chiều cao cây, kích thước lá, màu

sắc thân lá, dạng bông, dạng hạt, màu sắc hạt, thời gian sinh trưởng [32]. Các

nhà chọn tạo và khảo nghiệm giống trước khi chuẩn bị cho bất kỳ chương

trình chọn tạo và khảo nghiệm giống nào cũng cần có những thông tin đầy đủ

về các đặc điểm nguồn vật liệu khởi đầu của giống. Do vậy, việc nghiên cứu

đặc điểm hình thái, đặc điểm nông học, khả năng chống chịu của các giống

lúa đã được tiến hành từ lâu và thu được nhiều kết quả có ý nghĩa.

Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ lúc nảy mầm cho đến

khi chín, thường thay đổi từ 90 - 180 ngày tùy theo giống và điều kiện ngoại

cảnh. Trong canh tác lúa hiện đại, các nhà nông học hết sức quan tâm đến thời

gian sinh trưởng của các giống lúa vì đây là yếu tố có tương quan chặt đến

năng suất và việc bố trí thời vụ, cơ cấu luân canh của người nông dân trong cả

một năm.

Theo Suichi Yosida (1985) cho rằng thời gian sinh trưởng ở cây lúa chia

làm 2 giai đoạn chính là giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh

thực. Tuy nhiên, có thể chia thành 3 giai đoạn là sinh trưởng dinh dưỡng, sinh

thực và chín. Thời gian sinh trưởng của cây lúa thường chiếm từ 90 - 180 ngày

từ khi nảy mầm cho đến khi chín, thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào

giống và môi trường sinh trưởng. Trong điều kiện nhiệt đới, giai đoạn sinh

trưởng sinh thực (thời kỳ làm đòng) cần khoảng 30 ngày, thời kỳ chín chiếm 30

ngày và thời gian còn lại dành cho giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng [73].

Như vậy, thời gian sinh trưởng của cây lúa dài hay ngắn phụ thuộc vào

thời gian sinh trưởng dinh dưỡng.

5

Yosida (1981) cho rằng những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá

ngắn thì không thể cho năng suất cao do sinh trưởng dinh dưỡng bị hạn chế.

Ngược lại, những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá dài thì cũng cho

năng suất thấp vì dễ bị lốp đổ và chịu nhiều tác động của điều kiện ngoại cảnh

bất lợi, các giống có thời gian trong khoảng 120 ngày có khả năng cho năng

suất cao. Như vậy, thời gian sinh trưởng ngắn đến mức nào thì không ảnh

hưởng đến tiềm năng năng suất. Theo Yosida (1981) cho biết đối với lúa gieo

thẳng cần khoảng 90 ngày và 100 ngày đối với lúa cấy [119].

Thời gian sinh trưởng của cây lúa còn phụ thuộc tính cảm quang hay cảm

ôn của giống. Khi gieo cấy vào thời vụ khác nhau với điều kiện ngoại cảnh khác

nhau tùy theo giống sẽ có thời gian sinh trưởng dài ngắn khác nhau. Trong điều

kiện ở miền Trung nước ta, do ảnh hưởng của của điều kiện nhiệt độ thấp ở đầu

vụ Đông Xuân, do đó thời gian sinh trưởng của cùng một giống lúa nếu gieo cấy

vào vụ Đông Xuân thường sẽ dài hơn gieo cấy trong vụ Hè Thu. Trong cùng một

vụ, nếu thời vụ gieo cấy sớm hay muộn thì thời gian sinh trưởng của một giống

lúa cũng thay đổi. Ngay cả trong cùng một thời vụ gieo cấy ở vụ Đông Xuân,

năm nào trời rét lúa trỗ muộn, thời gian sinh trưởng kéo dài, năm nào ấm thì

ngược lại. Trong vụ Hè Thu, nhiệt độ ít thay đổi qua các năm nên thời gian sinh

trưởng của các giống lúa tương đối ổn định.

Chiều cao cây lúa là một chỉ tiêu hình thái có liên quan đến nhiều chỉ

tiêu khác, đặc biệt là tính chống đổ, cây lúa có thân ngắn và cứng có khả năng

kháng đổ tốt hơn [91]. Theo các nhà nghiên cứu của IRRI (1996) [38], chiều

cao cây được đánh giá theo thang điểm như sau:

- Điểm 1: bán lùn (vùng trũng < 110 cm; vùng cao < 90 cm);

- Điểm 5: trung bình (vùng trũng 110-130 cm; vùng cao 90-125 cm);

- Điểm 9: cao (vùng trũng > 110 cm; vùng cao > 125 cm).

Theo Guliaep (1975) xác định 4 kiểu gen kiểm tra chiều cao cây. Ông

nhận thấy, có trường hợp tính lùn được kiểm tra bởi 1 cặp gen lặn, có trường

hợp bởi 2 cặp và đa số trường hợp do 8 gen lặn kiểm tra [32]. Những kết quả

6

nghiên cứu chọn tạo giống lúa lùn của IRRI khẳng định rằng: các giống lúa

lùn có nguồn gốc từ Trung Quốc (Dee-geo-Woo-gen, I-geo-tze) chúng mang

gen lùn lặn tạo cho thân ngắn nhưng không ảnh hưởng đến chiều dài bông,

điều này rất có ý nghĩa trong chọn giống [32].

Chiều cao cây là một trong những tính trạng quan trọng liên quan đến

khả năng chống đổ, khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời và chịu phân bón của

giống. Thân rạ cao dễ đổ ngã sớm, bộ lá rối tăng hiện tượng bóng rợp, tạo

điều kiện cho sâu bệnh cư trú, gây cản trở quá trình vận chuyển sản phẩm

quang hợp về hạt làm cho hạt bị lép, lửng và giảm năng suất. Chiều cao cây

lúa thích hợp từ 90-100 cm, có thể cao đến 120 cm, trong một số điều kiện

nào đó được coi là lý tưởng về năng suất [76]. Thân cây lúa dày hơn thì khả

năng tích lũy chất khô tốt hơn. Thân cứng và dày có ý nghĩa rất quan trọng

trong việc chống đổ ngã và dẫn tới chỉ số thu hoạch cao hơn [82]. Nếu thân lá

không cứng khoẻ, không dày, thì dễ đổ ngã, tán lá che khuất lẫn nhau làm gia

tăng một số bệnh hại dẫn đến năng suất giảm [113].

Sự phát triển của các lóng đốt quyết định đến chiều cao cây và liên

quan tới khả năng chống đổ. Hiện nay, các giống lúa mới thấp cây đang dần

thay thế các giống lúa cao cây vì chúng có khả năng chống đổ tốt hơn khi đầu

tư thâm canh để đạt năng suất cao [20].

Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh là một đặc điểm của cây lúa, đặc điểm

này có ảnh hưởng đến năng suất lúa. Trong quá trình sinh trưởng, nhánh lúa là

những cành mọc lên từ nách lá của mỗi đốt trên thân chính hoặc trên các nhánh

khác trong thời gian sinh trưởng dinh dưỡng, cây lúa đẻ nhánh theo quy luật

chung. Tuy nhiên, các giống lúa khác nhau thì thời gian đẻ nhánh khác nhau.

Nguyễn Văn Hiển (2000) nghiên cứu các tổ hợp lai có nhận xét rằng

kiểu đẻ nhánh chụm và đứng thẳng là lặn, kiểu đẻ nhánh xòe là trội. Các kết

quả nghiên cứu cho rằng tính đẻ nhánh khỏe là tính trạng di truyền số lượng,

có hệ số di truyền từ thấp đến trung bình và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các

điều kiện ngoại cảnh [32].

7

Theo Bùi Huy Đáp (1970) khi nghiên cứu về đặc tính đẻ nhánh cho biết

“Nhánh không bao giờ phát triển khi lá tương đương với nó vẫn chưa phát

triển xong, nhánh không bao giờ phát triển nữa khi lá bị khô” [20].

Đinh văn Lữ (1978) cho rằng những giống lúa đẻ rải rác thì trỗ bông

không tập trung dẫn đến lúa chín không đều nên không có lợi cho quá trình

thu hoạch và làm giảm năng suất [44] .

Như vậy, các giống lúa có khả năng đẻ nhánh khỏe, tập trung sẽ rất cần

thiết để đạt được năng suất cao vì giảm đáng kể nhánh vô hiệu và thuận lợi

cho quá trình thu hoạch. Khả năng đẻ nhánh sớm là một đặc tính tốt của cây

lúa, không làm cây lúa phát triển quá mạnh ở các giai đoạn sau và gây hiện

tượng che khuất lẫn nhau giữa các tầng lá. Số nhánh mang đặc tính di truyền

số lượng, khả năng đẻ nhánh sớm liên quan với khả năng sinh trưởng mạnh và

sớm của các giống lúa lùn cải tiến, nhưng nó lại di truyền độc lập với nhiều

đặc tính quan trọng khác. Ở giống lúa cải tiến, người ta thường chọn cá thể đẻ

nhánh sớm hơn [92].

Nghiên cứu về bộ lá lúa là một đặc trưng hình thái giúp phân biệt các

giống khác nhau, đồng thời lá lúa còn là cơ quan quang hợp. Vì vậy, màu sắc,

kích thước, độ dày lá, góc độ lá có ảnh hưởng đến năng suất sinh vật học và

năng suất kinh tế.

Theo Yosida (1985) cho rằng một lá lúa hoàn chỉnh bao gồm: bẹ lá, bản

lá, tai lá và thìa lìa. Các giống lúa chín sớm và chín trung bình có từ 10 - 18 lá

trên thân chính, các giống mẫn cảm với chu kỳ quang có số lá ổn định trong

hầu hết các điều kiện. Thông thường sự phát triển của 1 lá lúa cần khoảng 100

độ ngày ở thời kỳ trước khi phân hóa đòng và cần 170 độ ngày sau khi phân

hóa đòng. Thời gian sống của từng lá cũng rất khác nhau, các lá phía trên có

thời gian sống lâu hơn các lá phía dưới. Như vậy, lá đòng có thời gian sống

lâu nhất [73].

Trong một phạm vi nhất định, diện tích lá có mối tương quan thuận với

lượng quang hợp, vượt quá giới hạn này lượng chất khô thực tế giảm vì quá

8

trình hô hấp cũng có tương quan thuận với chỉ số diện tích lá. Chỉ số diện tích

lá phụ thuộc vào giống, mật độ cấy, lượng phân bón. Diện tích lá tăng dần

trong quá trình sinh trưởng, tăng mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh rộ và đạt tối

đa trước lúc trổ bông. Các giống lúa thấp cây, lá đứng có thể tăng mật độ cấy

để nâng cao hệ số diện tích lá. Các giống lúa cao cây, xoè nên hạn chế khả

năng tăng mật độ vì dễ dẫn tới hiện tượng các lá che khuất lẫn nhau, khi đó

không những không tăng được lượng quang hợp mà còn tạo điều kiện cho sâu

bệnh gây hại nặng [22].

Nguyễn Văn Hiển (2000) cho rằng, tính trạng lá đứng thẳng được kiểm

tra bởi một gen lặn có hệ số di truyền cao, cặp gen này có tác động đa hiệu

vừa gây nên thân ngắn, vừa làm cho bộ lá đứng thẳng cứng và ngắn [32].

1.1.2. Những nghiên cứu về yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa

Năng suất lúa được tạo thành bởi 4 yếu tố: số bông/đơn vị diện tích, số

hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt.

Số bông trên một đơn vị diện tích bị tác động bởi 3 yếu tố: số nhánh

hữu hiệu, điều kiện ngoại cảnh và biện pháp kỹ thuật (mật độ cấy, tưới

nước, bón phân...). Số bông có tính quyết định đến năng suất và hình thành

sớm nhất, yếu tố này phụ thuộc nhiều vào mật độ gieo cấy, khả năng đẻ

nhánh, khả năng chịu đạm. Các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, đẻ khỏe,

chịu đạm có thể gieo cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích [22]. Số

bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi đó số hạt và khối lượng hạt

đóng góp 26% [25].

Trên ruộng lúa cấy, số bông/m2 phụ thuộc nhiều vào năng lực đẻ

nhánh, chỉ tiêu này xác định chủ yếu vào khoảng 10 ngày sau khi đẻ nhánh tối đa. Ở ruộng lúa gieo thẳng số bông/m2 phụ thuộc nhiều vào lượng hạt gieo và

tỷ lệ mọc mầm [73].

Theo Nguyễn Văn Hoan (2006): Sự tương quan giữa năng suất và số

bông/khóm ở mỗi giống lúa là khác nhau, ở những giống thuộc nhóm bán lùn

có tương quan chặt (r = 0,85), nhóm lùn có tương quan vừa (r = 0,62) và

9

nhóm cao cây có tương quan vừa (r = 0,54). Sự tương quan giữa năng suất và

số hạt trên bông thì ngược lại, nhóm cao cây có tương quan rất chặt (r = 0,96),

nhóm bán lùn và lùn có tương quan vừa (r = 0,62 - 0,66). Mối quan hệ giữa

các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất thực thu thực chất là mối quan hệ

giữa cá thể và quần thể. Mối quan hệ này có hai mặt: khi mật độ hay số bông/m2 tăng trong phạm vi nào đó thì khối lượng bông giảm ít nên năng suất cuối cùng tăng, đó là quan hệ thống nhất. Nhưng số bông/m2 tăng cao quá sẽ

làm khối lượng bông giảm nhiều, lúc đó năng suất sẽ giảm, đó là quan hệ mâu

thuẫn. Vì vậy cần phải điều tiết mối quan hệ này sao cho hợp lý để năng suất

cuối cùng là cao nhất [36].

Số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, số hoa phân hoá, số

hoa thoái hoá. Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực

(từ làm đòng đến trỗ). Điều kiện nhiệt độ và cường độ ánh sáng quá thấp ở

giai đoạn này sẽ làm tăng số hạt lép và làm giảm năng suất hạt [78]. Tổng số

hạt trên bông do tổng số hoa phân hoá và số hoa thoái hóa quyết định. Số hoa

phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít thì tổng số hạt trên bông sẽ

nhiều. Tỷ lệ hoa phân hóa có liên quan chặt chẽ với chế độ chăm sóc [36]. Số

gié cấp 1, đặc biệt là số gié cấp 2 nhiều thì số hoa trên bông cũng nhiều. Số

hoa trên bông nhiều là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho tổng số hạt trên

bông lớn. Việc tổng hợp carbohydrate ở thân lá cũng như việc vận chuyển

tổng hợp những chất khô vào hạt đòi hỏi ưu tiên trước hết trong việc làm chắc

hạt. Muốn có sự vận chuyển tổng hợp tốt hơn thì bộ lá có cấu tạo dày, xanh

đậm hơn, tuổi thọ lá kéo dài là một đặc tính rất quan trọng và cần thiết. Bộ lá

thẳng đứng thì cây lúa sử dụng ánh sáng hữu hiệu tốt hơn [119].

Tỷ lệ hạt chắc trên bông được quyết định ở thời kỳ sau trỗ, nếu gặp

điều kiện bất lợi ở thời kỳ này tỷ lệ hạt lép sẽ rất cao. Tỷ lệ hạt chắc có ảnh

hưởng đến năng suất lúa rõ rệt, ngoài ra tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào

lượng tinh bột được tích luỹ trên cây và đặc điểm giải phẫu của cây. Trước

khi trỗ bông, nếu cây lúa sinh trưởng tốt, quang hợp thuận lợi thì hàm lượng

10

tinh bột được tích lũy và vận chuyển lên hạt nhiều, làm cho tỷ lệ hạt chắc cao.

Mạch dẫn vận chuyển tốt thì quá trình vận chuyển tinh bột tích luỹ trong cây

đến hạt được tốt làm tỷ lệ hạt chắc sẽ cao. Tỷ lệ hạt chắc còn chịu ảnh hưởng

của quá trình quang hợp sau khi trỗ bông. Sau khi trỗ bông, quang hợp ảnh

hưởng trực tiếp đến quá trình tích lũy tinh bột trong phôi nhũ. Ở giai đoạn

này, nếu điều kiện khí hậu không thuận lợi cho quá trình quang hợp thì tỷ lệ

hạt chắc giảm rõ rệt [36]. Phần trăm gié hoa chắc được xác định trước, trong

và sau khi trỗ gié. Những điều kiện thời tiết không thuận lợi như nhiệt độ thấp

hoặc cao vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm và lúa trỗ, có thể gây ra bất thụ.

Các điều kiện thời tiết không thuận lợi lúc chín có thể ức chế sự sinh trưởng

tiếp của vài gié hoa cho ra những gié hoa lép [105].

Vì vậy, để có tỷ lệ hạt chắc cao phải bố trí thời vụ gieo cấy hợp lý, sao

cho khi lúa làm đòng, trỗ bông và chín gặp được điều kiện ngoại cảnh thuận

lợi và cây lúa phải được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cũng như chế độ tưới

tiêu phải hợp lý [25].

Khối lượng 1.000 hạt của một giống tương đối ổn định do kích thước

hạt, kích thước của vỏ trấu khống chế rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, kích thước

vỏ trấu có lệ thuộc vào sự biến đổi chút ít bởi bức xạ mặt trời trong 2 tuần

trước khi nở hoa [73].

Khối lượng 1.000 hạt là yếu tố cuối cùng tạo năng suất lúa, yếu tố này

ít biến động so với các yếu tố khác, ít chịu tác động của điều kiện môi trường

và nó phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm di truyền của giống. Nếu áp dụng kỹ

thuật canh tác không hợp lý, bón phân thiếu cân đối sẽ làm cho cây yếu, dễ

đổ, hạt lép lửng, năng suất hạt giảm rõ rệt [116].

Để tăng khối lượng hạt, trước lúc trỗ bông, cần bón nuôi đòng để làm

tăng kích thước vỏ trấu. Sau khi trổ bông, cần tạo điều kiện cho cây sinh

trưởng tốt để quang hợp được tiến hành mạnh mẽ, tích luỹ được nhiều tinh

bột thì khối lượng hạt sẽ cao .

11

Chiều dài bông là một đặc điểm di truyền của giống, nó được tính từ

đốt cổ bông đến đầu mút bông không kể râu. Chiều dài bông là một tính trạng

liên quan trực tiếp đến số hạt/bông, nó quyết định một phần năng suất của

giống. Chiều dài bông do cả gen trội và gen lặn quy định. Chiều dài cổ bông

có ý nghĩa gián tiếp đến năng suất của giống. Chiều dài cổ bông do các gen

trội điều khiển và có độ biến động rất lớn, có liên quan đến chiều dài lóng đốt

cuối cùng và biểu hiện ở tính trỗ thoát của bông. Trong nghiên cứu về lúa lai

các nhà khoa học đã phát hiện gen lặn eui có khả năng kéo dài lóng đốt cuối

cùng mạnh nhất làm cổ bông dài ra nhưng không kéo dài các lóng ở bên dưới

[106]. Những giống lúa có bông trỗ thoát hoàn toàn thường cho tỷ lệ hạt chắc

cao hơn và ngược lại [32].

1.1.3. Nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất lúa và các yếu tố liên quan

1.1.3.1. Chất khô tích lũy và năng suất lúa

Quang hợp là quá trình chuyển hóa năng lượng mặt trời thành năng

lượng hóa học và được tích lũy dưới dạng hydratcacbon cung cấp cho mọi

hoạt động sống của cây. Hoạt động quang hợp mang lại 80 - 90% lượng chất

khô cho cây, số còn lại là chất khoáng do cây hút từ đất [73].

Như vậy, hoạt động quang hợp quyết định đến sinh trưởng và năng suất

lúa. Vì thế, muốn tăng năng suất cần phải xúc tiến, tạo điều kiện thuận lợi cho

quá trình quang hợp. Lượng quang hợp của quần thể (P) phụ thuộc vào:

- Hiệu suất quang hợp thuần (NAR)

- Hệ số diện tích lá (LAI)

- Thời gian quang hợp (t)

P = NAR x LAI x t

Để tạo ra năng suất quần thể cao cần tác động vào 3 yếu tố trên một

cách hợp lý trong mối quan hệ của chúng [25].

Quang hợp còn là động lực quan trọng giúp cây xanh sinh trưởng, phát

triển tạo năng suất và cung cấp khí oxy cho bầu khí quyển, giúp cho việc hô

hấp và duy trì sự sống của các sinh vật trên trái đất.

12

Từ các kết quả nghiên cứu, sản lượng hạt của cây lúa được xác định

chủ yếu bởi mức độ hydratcacbon. Các hydratcacbon như các loại đường và

tinh bột bắt đầu tích luỹ mạnh mẽ vào khoàng 2 tuần trước khi trỗ bông và đạt

đến mức cực đại trong các bộ phận của cây, chủ yếu là trong bẹ lá và thân vào

lúc trỗ bông, sau đó lại giảm lúc chín rộ và có thể tăng trở lại chút ít lúc gần

chín hoàn toàn. Các hydratcacbon tích luỹ được có 3 chức năng trong việc tạo

ra hạt lúa:

- Cung cấp một phần hydratcacbon cho hạt

- Giúp cho hạt sinh trưởng được trong các điều kiện thời tiết khác nhau

- Làm cho năng suất hạt được ổn định dưới những điều kiện thời tiết

bất thuận trong thời gian chín [73].

1.1.3.2. Nghiên cứu về cấu trúc dạng cây và mô hình cây lúa năng suất cao

Nhiều giống cây trồng có những nhược điểm như: Thời gian sinh

trưởng dài, khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chịu úng kém, cao cây, dễ đổ, chống

chịu sâu bệnh kém… nên khả năng gieo trồng bị hạn chế. Trên cơ sở những

thành tựu đạt được ở lúa mì, vận dụng lý thuyết về dãy biến dị tương đồng

của Vavilop (1951), Chang T.T và Jenning (1970) đã tìm kiếm gen lùn ở cây

lúa nước. Các giống mới như De-geo-woo-gen và Taichung native 1 của Đài

Loan hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu đề ra. Năm 1966, giống lúa thấp cây

IR8 ra đời cùng nhiều giống khác đã được phát triển nhanh ở nhiều nước và

được mệnh danh là “người khổng lồ của châu Á nhiệt đới”. Các giống lúa lùn

xứng đáng tạo nên cuộc cách mạng xanh lần thứ 2 trên thế giới [11].

Các giống De-geo-woo-gen và Taichung native 1 chứa gen lùn được

nhiều nước trên thế giới sử dụng làm nguồn vật liệu khởi đầu cho các chương

trình chọn tạo giống lúa quốc gia. Theo Gu. M. H và Pan. X. B (1986) trong

giai đoạn 1956 - 1980, trong số 529 giống lúa được chọn tạo và phát triển

trong sản xuất ở miền Nam Trung Quốc thì các giống chứa gen lùn của De-

geo-woo-gen chiếm tới 70% [88]. Tình hình tương tự cũng được công bố ở

Nhật Bản với gen lùn của giống Taichung native 1 (Kikuchi F, 1986) [98].

13

Dựa trên cơ sở những kết quả đã đạt được Khush (1990), đã tổng kết

mô hình kiểu cấu trúc cây lúa mới (New Rice Plant Type) có năng suất cao

như sau:

1) Số dảnh/khóm từ 3 - 4 dảnh;

2) Thời gian sinh trưởng từ 100 - 130 ngày;

3) Không có bông vô hiệu;

4) Thân cứng, chống đổ tốt;

5) Lá thẳng, dày và xanh đậm;

6) Số hạt chắc trên bông từ 200 - 250 hạt;

7) Hệ thống rễ khỏe;

8) Chống chịu được nhiều loại sâu bệnh;

9) Chiều cao cây từ 90 - 100cm;

10) Tiềm năng năng suất 10 - 13 tấn/ha.

Các kết luận này mang tính chiến lược lâu dài và là mục tiêu trong công

tác nghiên cứu chọn giống lúa trong những năm qua. Việc chọn tạo ra các

giống lúa thấp cây, ngắn ngày, năng suất cao đã góp phần tích cực nâng cao

năng suất và tổng sản lượng lúa ở nhiều nước trong khu vực châu Á và trên

thế giới [95].

1.1.4. Nghiên cứu về chất lượng gạo, cơm và yếu tố ảnh hưởng

Chất lượng gạo chịu tác động mạnh mẽ của 4 yếu tố: bản chất của

giống, điều kiện sinh thái, kỹ thuật canh tác và các vấn đề sau thu hoạch. Tại

cuộc hội thảo của các nhà di truyền chọn giống, các nhà hóa sinh học đến từ

tất cả các nước trồng lúa trên thế giới tại viện lúa Quốc tế IRRI (tháng

10/1978), người ta đã chia chất lượng lúa gạo thành bốn nhóm: 1) Chất lượng

xay xát (Milling quality); 2) Chất lượng thương phẩm (Market quality); 3)

Chất lượng nấu nướng và ăn uống (Cooking and eating quality); 4) Chất

lượng dinh dưỡng (nutritive quality).

Đây là cơ sở cho các nhà chọn giống nghiên cứu, đánh giá chất lượng

của các dòng, giống lúa triển vọng.

14

* Chất lượng xay xát: của lúa gạo thể hiện ở ba chỉ tiêu chính: tỷ lệ gạo

lật, tỷ lệ gạo xát và tỷ lệ gạo nguyên. Trong đó, tỷ lệ gạo nguyên là chỉ tiêu

quan trọng nhất và cũng là yếu tố chịu ảnh hưởng của môi trường nhiều nhất;

tỷ lệ gạo lật và gạo xát chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi bản chất của giống.

Xay xát thực chất là quá trình loại bỏ vỏ trấu, phôi và vỏ cám. Khi loại

bỏ các thành phần này thì hàm lượng của cellulose và lipid bị giảm xuống rõ

rệt. Khi giảm hàm lượng cellulose ở ngoài sẽ giúp tăng khả năng tiêu hoá, còn

khi giảm hàm lượng lipid sẽ làm tăng khả năng bảo quản. Việc loại bỏ phôi và

vỏ cám cũng sẽ làm giảm hàm lượng protein, có thể làm giảm được sự mất

mát nhiều dinh dưỡng do xay xát bằng kỹ thuật xử lý thuỷ nhiệt, ngâm vớt

thóc, hấp phơi khô rồi mới xát. Tỷ lệ vỏ trấu trung bình từ 20- 22% và có thể

thay đổi từ 16- 26%. Cám và phôi hạt chiếm khoảng 10%. Do đó tỷ lệ gạo

trắng thường ở khoảng 70% (Khush và cs, 1979) [96].

Tỷ lệ gạo nguyên tính theo % trọng lượng gạo xát. Thóc có chất lượng

xay xát tốt là thóc sau khi xát cho tỷ lệ gạo tổng số và gạo nguyên cao. Tỷ lệ

gạo nguyên biến động rất lớn. Đây là một tính trạng di truyền và chịu nhiều

ảnh hưởng của môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm trong thời gian chín

và sau thu hoạch (Khush và ctv, 1979) [96].

Nắng nóng, sự thay đổi đột ngột của ẩm độ không khí, những điều kiện

không thuận lợi của môi trường trong suốt thời gian chín đều là những

nguyên nhân làm xuất hiện những vết rạn trong hạt và làm tăng tỷ lệ gẫy của

hạt gạo khi xát. Tỷ lệ gạo nguyên thường đạt cao nhất khi lúa chín từ 28 - 30

ngày sau trỗ, thu hoạch sớm quá (20 ngày sau trỗ) hay muộn quá (35 ngày sau

trỗ trở đi) đều làm giảm tỷ lệ gạo nguyên [15], [90].

Tỷ lệ gạo nguyên còn phụ thuộc vào thời điểm tuốt lúa sau khi gặt.

Nghiên cứu trên giống Khao dawk mali 105 cho thấy thời điểm tuốt lúa sau

thu hoạch 5 - 10 ngày không ảnh hưởng đến tỷ lệ gạo nguyên nhưng nếu để

sau 10 - 15 ngày tỷ lệ gạo nguyên giảm rõ rệt. Phân bón cũng là yếu tố ảnh

hưởng đến tỷ lệ gạo nguyên trong đó ảnh hưởng rõ rệt nhất là lân [95]. Tỷ lệ

15

gạo trắng thường ít biến động và nó cũng ít phụ thuộc vào môi trường (Bùi

Chí Bửu và cs, 2000) [6].

* Chất lượng thương phẩm: Bao gồm kích thước, hình dạng hạt, độ

trắng trong, độ bạc bụng, mùi thơm của gạo…Trên thị trường thế giới cũng

như ở thị trường trong nước dạng hạt gạo thon dài và tỷ lệ trắng trong cao

đang rất được ưa chuộng.

Kích thước hạt là tính trạng rất đặc trưng của giống, tùy từng giống

khác nhau mà hạt gạo có hình dáng thon dài, dài, bầu hay tròn. Khi nghiên

cứu về hình dạng và kích thước hạt gạo các nhà nghiên cứu cho rằng kích

thước hạt gạo là tính trạng di truyền số lượng được kiểm soát bởi đa gen. Ở

lúa lai, kích thước hạt có sự phân ly vượt trội đặc biệt là chiều dài hạt [122].

Lúa đặc sản và lúa cổ truyền ở Việt Nam có kích thước và hình dạng hạt

nhỏ hơn so với các giống lúa cải tiến. Các giống lúa đặc sản miền Bắc thường có

hạt nhỏ hơn và hương thơm hơn so với các giống lúa đặc sản miền Nam [16].

Kích thước hạt có thể được biểu hiện bởi các chỉ tiêu về trọng lượng,

thể tích hoặc chiều dài hạt, chiều dài và chiều rộng hạt là hai chỉ số được sử

dụng phổ biến. Chiều dài và hình dạng hạt là tính trạng di truyền số lượng.

Hạt F1 thường có kích thước trung gian giữa bố và mẹ. Hạt F2 cũng thường

có sự phân ly vượt trội so với cả dạng hạt tròn và hạt dài. Mặc dù di truyền

chiều dài hạt là rất phức tạp nhưng lại thưòng ổn định sớm trong cá thế hệ

phân ly. Do đó nếu kiểu hạt mong muốn không xuất hiện ở F2 thì khó có thể

tìm thấy dạng hạt tốt hơn ở F3, nhưng nếu nó đã có ở F2 thì thường ít bị phân

ly ở thế hệ tiếp theo.

Theo Jenning và ctv (1979), chiều dài hạt và đặc tính hình thái hạt di

truyền độc lập với nhau và có thể đựơc kết hợp với các tính trạng phẩm chất

như hàm lượng amylose, hoặc kiểu cây, thời gian sinh trưởng. Tính trạng

chiều dài hạt rất ổn định và rất ít bị ảnh hưởng bởi môi trường, nó được điều

khiển bởi đa gen. Thứ tự mức độ tính trội được ghi nhận như sau: hạt dài> hạt

trung bình> hạt ngắn> hạt rất ngắn [92].

16

Thị hiếu người tiêu dùng về hình dạng hạt rất thay đổi, có nơi thích hạt

tròn, có nơi thích hạt trung bình nhưng dạng hạt thon dài là được ưa chuộng

nhiều nhất trên thị trường quốc tế.

Độ bạc bụng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng gạo của

một giống, nó không ảnh hưởng đến chất lượng cơm nhưng ảnh hưởng lớn đến

thị hiếu của người tiêu dùng. Vết bạc thường xuất hiện ở bụng, trên lưng hoặc ở

trung tâm hạt gạo và các vết gãy của hạt gạo cũng xuất phát từ những điểm bạc

này. Chính vì thế mà tỷ lệ bạc bụng có tỷ lệ nghịch với tỷ lệ gạo nguyên [16].

Độ bạc bụng chịu ảnh hưởng của môi trường nhiều hơn là do bản chất

giống. Nhiệt độ thấp dần vào thời kỳ sau trỗ đến chín làm giảm tỷ lệ hạt bạc, sự

chênh lệch nhiệt độ ngày đêm có tác dụng giúp các hạt tinh bột trong hạt gạo sắp

xếp chặt hơn, giảm tỷ lệ hạt bạc. Trái lại khi hạt vào chắc gặp nhiệt độ cao làm

các hạt tinh bột sắp xếp lỏng lẻo hơn dẫn tới tỷ lệ hạt bạc bụng cao. Nhiệt độ ảnh

hưởng tới độ bạc của hạt lúa rõ nhất là trong thời kỳ trỗ. Lúa cấy ở ruộng có mực

nước quá cao hay bị hạn cũng làm tăng độ bạc của hạt gạo [77].

Các hoạt động sau thu hoạch ít tác động tới độ bạc của hạt gạo. Mặc dù

thế một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phơi thóc trong nắng nhẹ làm giảm độ

ẩm từ từ, hạt gạo sẽ trong hơn khi bị làm giảm ẩm độ đột ngột [93].

Trong những nghiên cứu về di truyền độ bạc bụng của gạo Ấn Độ và

Mỹ, người ta nhận thấy độ bạc trắng ở trung tâm hạt do gen lặn wc điều khiển

và độ bạc trắng ở bụng hạt do gen lặn wb điều khiển. Người ta thấy rằng đó là

một tính trạng bị ảnh hưởng bởi tương tác giữa gen và môi trường. Độ bạc

bụng của hạt gạo được điều khiển bởi đa gen và đa gen này có ảnh hưởng

tương hỗ và phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh (Lê Doãn Diên, 2003) [16].

* Hàm lượng amylose: Chất lượng nấu ăn và nếm thử được xác định bởi

hàm lượng amylose và nhiệt hóa hồ mà ít phụ thuộc vào hàm lượng protein.

Người Việt Nam thường thích cơm mềm nhưng lại ráo và đậm. Nếu hàm lượng

amylose trung bình từ 22-24% thì nhiệt hóa hồ cũng trung bình và cơm sẽ mềm;

nếu hàm lượng amylose từ 25-26% thì cơm hơi khô nhưng lại cứng; hàm lượng

amylose nhỏ hơn 22%, cơm hơi ướt và nhạt (Nguyễn Thị Trâm, 2001) [65].

17

Shen và cs (1990), cho rằng hàm lượng amylose do một gen kiểm soát,

gen kiểm soát hàm lượng amylose cao trội hoàn toàn với gen kiểm soát hàm

lượng amylose thấp khi lai giữa nhóm Indica có hàm lượng amylose cao và

lúa nếp. Tuy nhiên, trong tổ hợp lai giữa lúa Indica có hàm lượng amylose

thấp và lúa nếp thì tính di truyền amylose được kiểm soát bởi gen số lượng

[108]. Theo Lin (1989), độ dẻo được kiểm soát bởi một gen lặn wx , nên nội

nhũ của gạo nếp chỉ chứa amylopectin với kiểu gen 3n=wxwxwx, ngược lại ở

gạo tẻ bao gồm cả amylose và amylopectin được kiểm soát bởi gen trội Wx.

Hoạt động tính trội của alen Wx không bị ảnh hưởng do thay đổi hàm lượng

amylose của cây bố, nhưng số lượng alen trội Wx ảnh hưởng đến hàm lượng

amylose trong nội nhũ [101], [102].

Zhang và Peng (1996), nghiên cứu đặc điểm di truyền hàm lượng

amylose của 7 cha mẹ có màu vỏ cám đen, nâu, đỏ và trắng và hàm lượng

amylose từ 0,93% đến 30,13%. Kết quả chỉ ra ảnh hưởng cộng trội đóng vai

trò quan trọng đối với sự di truyền của hàm lượng amylose [121].

* Hàm lượng protein tổng số: là chỉ tiêu quan trọng đối với chất lượng

dinh dưỡng của hạt gạo. Protein có trong gạo được đánh giá cao hơn so với

các loại ngũ cốc khác vì lượng lysine chiếm trung bình khoảng 4%. Hàm

lượng protein của lúa thường trung bình khoảng 7% ở gạo xát trắng và 8% ở

gạo lứt. Phẩm chất của gạo tuỳ thuộc vào lượng protein trong hạt. Khi lượng

protein tăng, do di truyền hay do canh tác, thì lượng protein mất trong lúc xay

xát cũng giảm, chứng tỏ phần lớn protein tăng thêm không phải ở trong cám.

Như vậy, về mặt dinh dưỡng, gạo có protein cao tốt hơn gạo có lượng protein

bình thường (Jennings và cs., 1979) [92].

Các nhà chọn giống đã cố gắng nâng cao hàm lượng protein trong hạt

nhưng ít thành công. Nghiên cứu của Chang và Somrith B (1979), cho biết di

truyền tính trạng protein do đa gen điều khiển và có hệ số di truyền khá thấp,

có thể do ảnh hưởng tương tác mạnh mẽ giữa kiểu gen và môi trường [81].

Trong quá trình canh tác, nếu không bón hay bón ít đạm, thì các giống lúa cao

18

sản chỉ chứa một lượng protein tương đương với lúa địa phương. Nhưng khi

được bón nhiều đạm và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác thì hàm

lượng protein sẽ tăng (Jennings và cs., 1979) [92].

* Nhiệt hóa hồ: Khi hạt tinh bột được tác động bởi nhiệt độ hoặc hóa

chất thì các phân tử tinh bột bị phá vỡ thông qua sự nóng chảy hay còn gọi là

nhiệt hóa hồ (Vũ Hiếu Đông và cs., 2005) [23]. Nhiệt hóa hồ có thể liên quan

một phần với lượng amylose của tinh bột. Nhiệt hóa hồ thấp không liên hệ

chặt với lượng amylose cao, thấp hay trung bình. Gạo có nhiệt hóa hồ cao có

phẩm chất kém (Jennings và cs., 1979) [92].

Nhiệt hóa hồ còn là tính trạng dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường, theo sự

thay đổi nhiệt độ trong giai đoạn hạt vào chắc (Heu và cs., 1976) [102].

* Độ bền thể gel: Trong cùng một nhóm có hàm lượng amylose cao

giống nhau (>25%), giống lúa nào có độ bền thể gel mềm hơn, giống lúa đó

được ưa chuộng nhiều hơn (Tang S.X và cs., 1989) [112]. Cơm nấu có độ bền

thể gel cứng sẽ khô cứng nhanh hơn cơm nấu có độ bền thể gel mềm.

Tang S.X và cs (1989) cho rằng: độ bền thể gel được điều khiển bởi

đơn gen và nhiều gen phụ bổ sung. Ðộ bền thể gel biến động rất lớn giữa hai

vụ Ðông xuân và Hè thu, giữa các điểm canh tác khác nhau (Bùi Chí Bửu và

Nguyễn Thị Lang, 2000) [6],[111]. Độ bền thể gel cứng trội hơn độ bền thể

gel cấp trung bình và mềm (Kiani và cs., 2008) [97].

Tang và cs (1989) khảo sát độ bền thể gel và nhiệt hóa hồ của 45 giống

lúa có hàm lượng amylose thấp cho thấy, về độ bền thể gel có 34 giống thuộc

nhóm mềm, 9 giống thuộc nhóm trung bình và 2 giống thuộc nhóm cứng; về

nhiệt hóa hồ có 35 giống thuộc nhóm thấp, 1 giống thuộc nhóm trung bình và

4 giống thuộc nhóm cao. Kết quả này cho thấy các giống lúa có hàm lượng

amylose thấp thường có độ bền thể gel mềm và nhiệt hóa hồ thấp; tuy nhiên

cũng có một số trường hợp không có tương quan thuận, lúa có hàm lượng

amylose thấp vẫn có độ bền thể gel trung bình hoặc cứng và nhiệt hóa hồ

trung bình hoặc cao [111].

19

Bùi Chí Bửu (1996) thống kê giá trị trung bình các tính trạng phẩm

chất của 94 giống lúa trong vụ Đông Xuân và 80 giống trong vụ Hè Thu cho

biết, phẩm chất hạt thay đổi theo mùa vụ gieo trồng, điều kiện canh tác, thời

tiết trong quá trình sản xuất [4].

* Chất lượng cơm ăn: Ngoài tính trạng thon dài, trong suốt, tỷ lệ gạo

nguyên cao thì chất lượng nấu nướng và ăn uống cũng rất cần thiết trên

thương trường. Chất lượng nấu nướng và ăn uống được đánh giá qua các chỉ

tiêu về nhiệt độ hoá hồ, hàm lượng amylose, hương thơm và các phẩm chất

của cơm như độ nở, độ hút nước, độ bóng, độ rời, độ chín…Chất lượng nấu

nướng và ăn uống phản ánh thị hiếu người tiêu dùng ở các khu vực.

Sản phẩm chính của lúa gạo là cơm, tính ngon miệng của cơm quyết

định do yếu tố vật lý là độ dẻo, độ mềm của cơm và yếu tố hoá học là mùi

thơm (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [32].

Hương thơm là một trong những tính trạng quan trọng nhất quyết định

đến giá trị thương phẩm và chất lượng gạo. Hương thơm đựơc hình thành là

nhờ ảnh hưởng của hợp chất 2- acetyl-1pyroline gây ra. Gen điều khiển

hương thơm của hạt gạo đã được nghiên cứu và đưa ra nhiều kết luận khác

nhau. Raniah và Rao (1953) cho rằng hương thơm ở gạo có được là nhờ sự

tương tác của nhiều gen, vì vậy khi phân tích con lai F2 thu được các tỷ lệ

phân ly khác nhau: 9:7; 15:1; 13:3.

Nagaraju và cộng sự (1975), Raghuram Redy và cộng sự (1981) cho

rằng tính thơm được kiểm tra bởi sự có mặt dồng thời 3 gen trội bổ sung và có

tác dụng ngay từ thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng. Sood và Siddig (1978), Trần

Đình Long, Hoàng Văn Phần (1996) quan sát thấy tính thơm do cặp gen lặn

điều khiển hoạt động ở cả lá và hạt. Còn Tomar, Nanda (1983) cho rằng tính

thơm được kiểm tra bởi 2 hoặc 3 cặp gen [30].

Cho đến nay, việc lai tạo giống lúa cải tiến có phẩm chất gạo thơm rất

ít thành công so với việc khai thác tính trạng này từ giống lúa cổ truyền như

Basmati (Ấn Độ), Khao Dawk Mali (Thái Lan), Nàng thơm chợ Đào, Tám

thơm (Việt Nam).

20

Các gen quy định hương thơm có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường như

Nàng thơm chợ Đào chỉ duy trì mùi thơm khi trồng ở chợ Đào (Long An),

Tám thơm chỉ thích hợp khi trồng ở đồng bằng sông Hồng và sẽ mất mùi

thơm khi trồng ở đồng bằng sông Cửu Long, giống Basmati chỉ có hương

thơm khi trồng ở vùng có nhiệt độ lạnh (dẫn theo Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị

Lang, 2003) [5]. Ở Việt Nam có tập đoàn các giống lúa thơm đặc sản khá

phong phú, do đó việc phát triển và nghiên cứu về lúa thơm cũng đã được

nhiều nhà khoa học quan tâm.

1.1.5. Những nghiên cứu trong lĩnh vực chọn tạo giống lúa

Trong sản xuất nông nghiệp, giống đóng vai trò quan trọng trong việc

tăng sản lượng và chất lượng cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm chi phí

sản xuất. Đặc tính của giống (kiểu gen), yếu tố môi trường và kỹ thuật canh tác

quyết định năng suất của giống. Những sự thay đối về khí hậu, đất, nước ảnh

hưởng rất lớn đến năng suất. Có sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường, kiểu

gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường. Vì vậy

đánh giá tính ổn định của và thích nghi của của giống với môi trường thường

được sử dụng để đánh giá giống. Hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới đều

quan tâm nghiên cứu về giống. Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice

Research Institute (IRRI) đã có chương trình nghiên cứu lâu dài về chọn giống,

tạo giống nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời gian sinh

trưởng, tính chống bệnh, sâu hại, năng suất, chất lượng gạo tốt…

Giống lúa mới được coi là giống lúa tốt thì phải có độ thuần cao, thể

hiện đầy đủ các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt các

điều kiện ngoại cảnh bất lợi của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh,

kháng sâu bệnh hại, năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ.

Hiện nay với kỹ thuật sinh học phát triển con người ngày càng can

thiệp sâu hơn, thúc đẩy nhanh quá trình chọn tạo giống mới có lợi cho con

người bằng phương pháp tạo giống như: lai hữu tính, xử lý đột biến đặc biệt

là kỹ thuật di truyền đang đóng góp có hiệu quả vào việc cải tiến giống lúa.

21

Việc sử dụng các giống lúa ngắn ngày, đã cho phép làm nhiều vụ trong năm

và cũng cho phép bố trí thời vụ gieo cấy trong vụ Đông Xuân muộn hơn nhằm

né tránh lũ muộn và rét ở đầu vụ, đồng thời cũng là hướng tận dụng tốt nhất

nguồn bức xạ mặt trời, nguồn nước.., để tăng khả năng quang hợp thuần của

ruộng lúa, tạo năng suất cao.

1.1.5.1. Phương hướng chọn tạo giống lúa

Theo Gupta.P.C và Otoole.J.C (1976) phương hướng chọn tạo giống

lúa cạn thay đổi tuỳ theo vùng sinh thái nhưng phương hướng chung có thể

thay đổi như sau:

- Năng suất cao, ổn định.

- Có nhiều dạng hình phong phú, thích nghi với từng điều kiện sinh thái

cụ thể của vùng.

- Chiều cao cây trung bình (110-130 cm), khả năng đẻ nhánh khá từ 3-4

dảnh/khóm lên dần tới 20 dảnh/khóm.

- Thân cứng, chống đổ tốt .

- Có đặc điểm về chất lượng hạt phong phú.

- Chuyển từ dạng bông to sang dạng nhiều bông trong điều kiện sinh

thái thuận lợi.

- Mạ khoẻ, bộ rễ khoẻ, ăn sâu.

- Tỷ lệ hạt lép thấp, hạt mẩy, đều, chín tập trung.

- Phản ứng với quang chu kỳ ở các mức độ khác nhau.

- Chịu hạn tốt, khả năng cạnh tranh được với cỏ dại.

- Chống chịu được với bệnh đạo ôn, khô vằn, đốm nâu, bệnh biến màu

hạt, chống sâu đục thân, rầy nâu.

- Chịu được đất nhiều dinh dưỡng, thiếu lân, thừa nhôm hoặc đất chua [28].

Theo Chang T.T (1984) thì mục tiêu chung của các nhà chọn tạo giống

lúa cạn ở vùng Đông Nam Á và IRRI như sau:

- Nâng cao năng suất bằng cách phát triển kiểu hình có chiều cao cây

trung bình, đẻ nhánh khá để thay thế các giống lúa cổ truyền cao cây thân yếu.

22

- Giữ được cơ chế chống hoặc chịu có liên quan đến ổn định năng suất,

tính chống chịu hoặc chịu được với bệnh đạo ôn, chịu hạn, khả năng phục hồi

đẻ nhánh sau mỗi đợt hạn.

- Tạo ra được những giống có thời gian sinh trưởng khác nhau để thích

hợp với các vùng sinh thái khác nhau.

- Đặc tính nhạy cảm với quang chu kỳ có thể là một yêu cầu cho một số

vùng như ở Đông Bắc Thái Lan.

- Giữ được đặc tính nông học tốt: Bông dài, dinh dưỡng bông cao, hạt

không hở vỏ, hàm lượng amylose thấp đến trung bình.

- Giữ được hoặc nâng cao tính chống chịu với các yếu tố bất lợi của

đất: thiếu lân, độc tố nhôm, mangan trong đất chua, mặn và thiếu kẽm, sắt

trong đất kiềm.

- Nâng cao tính chống chịu sâu bệnh [80].

Dựa vào quan hệ giữa kiểu cây và năng suất, Jennings 1979 đã nhấn

mạnh rằng, biện pháp chọn giống có thể tiến đến một kiểu cây cải tiến (nửa

lùn) cho vùng nhiệt đới đó là những giống chín sớm, chống được bệnh bạc lá

và đạo ôn, thấp cây, chống đổ, ngoài những giống nhiệt đới tương tự hiện có.

Mặt khác ông cũng cho rằng nhờ biện pháp chọn giống có thể tạo được những

giống nhiệt đới có năng suất cao, có phản ứng với đạm và có cả những đặc

trưng đặc biệt mà không thường thấy ở những giống thương mại trồng ở vùng

nhiệt đới là:

- Thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 100-125 ngày (từ khi gieo mạ đến

chín) và không mẫm cảm với quang chu kỳ chiếu sáng.

- Những đặc trưng dinh dưỡng kể cả mọc khoẻ vừa phải và có số nhánh

vừa phải, kết hợp với lá tương đối nhỏ, màu lục sẫm, mọc thẳng đứng.

- Thân rạ thấp và cứng, chống đổ tốt.

- Chống được những nòi nấm bệnh đạo ôn đã được phát hiện [92].

Kết quả nghiên cứu của Viện lúa Quốc tế cho thấy hiện tượng lốp đổ có

ảnh hưởng rất lớn đên năng suất, có thể làm giảm đến 75% nếu lúa đổ trước

23

chín 30 ngày hoặc sớm hơn. Phần lớn năng suất bị giảm khi đổ sớm là do tỷ lệ

hạt thui tăng lên. Nên cần chọn tạo giống thích hợp, thấp cây, thân cứng,

chống đổ là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược cải tạo giống của Viên nghiên

cứu lúa Quốc tế (Nguyễn Xuân Hiển và cs, 1976) [30]. Mục đích của những

nhà chọn tạo giống là tạo ra các giống lúa vừa có năng suất cao, vừa chống

chịu được với sâu bệnh để đảm bảo hiệu quả kinh tế lớn.

Painter (1951) đã nghiên cứu trong việc chọn giống chống sâu, ông cho

rằng tính chống chịu sâu hại của cây thường có cơ chế phức tạp nhưng có thể

chia thành 3 dạng như sau:

- Không ưa thích: cây có những yếu tố làm sâu hại không thích đẻ

trứng, ăn hoặc đến trú ẩn.

- Không duy trì sự sống: cây chịu ảnh hưởng xấu đến sự sống, sinh

trưởng và sinh sản của sâu hại.

- Chịu đựng: khả năng cây chủ bị thiệt hại ít khi có một quần thể sâu

đông đủ để gây ra thiệt hại nặng cho những cây chủ mẫn cảm (theo Nguyễn

Văn Hiển và cộng sự, 2000) [32] .

Trước năm 1960 (theo Nguyễn Xuân Hiển và cộng sự, 1976) [30], ở

Ấn Độ người ta đã có nhiều công trình nghiên cứu chọn tạo giống lúa. Kết

quả của những công trình đó đã đi tới những hướng chọn giống sau:

- Chọn giống có năng suất cao.

- Chọn giống theo khả năng phản ứng mạnh với việc bón nhiều phân.

- Chọn giống theo tính chín sớm.

- Chọn giống chịu nước và chịu úng.

- Chọn giống theo tính chống mặn và chống kiềm của đất.

- Chọn giống theo tính chống hạn, chống đổ ngã.

- Chọn giống lúa không rụng hạt.

- Chọn giống lúa để chống lúa dại.

- Chọn giống lúa theo tính chống bệnh.

24

1.1.5.2. Những nghiên cứu về chọn tạo giống lúa tại Việt Nam

Trong số các giống lúa được tạo ra ở nước ta phần lớn là do lai tạo.

Giống lúa đầu tiên được lai tạo và đưa vào sản xuất là giống lúa ngắn ngày

Nông nghiệp 1 của nhà bác học Lương Đình Của (1961), (Nguyễn Văn Hiển,

Trần Thị Nhàn, 1982 [31]), đã đáp ứng yêu cầu tăng thêm 1 vụ lúa ở vùng

đồng bằng và Trung du Bắc bộ trong những năm đầu thập niên 60. Giống lúa

chiêm 424 (NN75-2) do Phan Hùng Diêu (1978) tạo ra là giống có khả năng

chịu chua, phèn đã thay thế các giống chiêm cũ ở nhiều nơi trên miền Bắc.

Giống lúa VN10 là giống lúa xuân sớm có khả năng chịu chua, chịu rét cho

năng suất khá ổn định, giống này đã tồn tại trong suốt 25 năm qua (Trần Như

Nguyện, 1979 ) [46]. Giống CN4, 79-1 có thời gian sinh trưởng 87 - 90 ngày

thích hợp cho phương thức gieo thẳng, đáp ứng yêu cầu tăng vụ (Nguyễn Hữu

Nghĩa và cs, 1995 ) [45].

Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu, chọn tạo, thử nghiệm

và đưa vào sản xuất các giống lúa mới đã được đẩy mạnh ở các Viện nghiên

cứu, các trường Đại học Nông nghiệp, các Trạm, Trại trong cả nước.

Theo Nguyễn Thị Lang, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đã nghiên

cứu chọn tạo giống lúa xuất khẩu cho đồng bằng sông cửu long (giai đoạn

2011-2013), kết quả đạt được như sau:

- Sử dụng hiệu quả vật liệu trong đó 200 giống lúa mùa địa phương,

200 giống lúa cao sản và 72 giống lúa du nhập đã tạo một khối lượng sàn lọc

bố mẹ cho vật liệu lai. Có 22 giống có hàm lượng protein trên 8% gồm:

OM96L, OM6600, OM6L, OM6832, OM6691,...

- Phân tích đa dạng di truyền cho kết quả phân nhóm mạnh mẽ, phát

triển được 6 quần thể hồi giao, thực hiện 500 tổ hợp lai với 72.000 dòng được

chọn lọc qua nhiều thế hệ F1, F2, F3, F4, F5, F6, F7, qua 3 năm và các công

nghệ khác nhau như khai thác biến dị tế bào soma, khai thác biến dị nuôi cấy

túi phấn và các ứng dụng về chỉ thị phân tử trong chọn lọc để rút ngắn thời

gian chọn giống.

25

- Thực hiện 120 thí nghiệm tại Viện Lúa và 72 điểm thí nghiệm tại đất

của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long qua hai vụ Hè Thu và Đông

Xuân. Đưa vào sản xuất 90 dòng/giống triển vọng. 31 giống được khảo

nghiệm Quốc gia liên tục từ 2-3 vụ.

- Bảy giống lúa được công nhận Quốc gia: OM6161, OMCS2009,

OM6600, OM5629, OM5954, OM6377, OM5891. Hai giống xin công nhận

sản xuất thử: OM5953, OM 4488; có 32 giống triển vọng thơm ngon, ngắn

ngày đang chuẩn bị đưa ra sản xuất trong vài năm tới như OM10041,

OM10040, OM28L, OM 7L, OM6L, OM 10375, OM70L... [40].

Theo Khuất Hữu Trung, Lê Huy Hàm (2013), Viện Di truyền Nông

nghiệp bằng nghiên cứu giải mã genome một số giống lúa địa phương đã đánh

giá đa dạng di truyền của 6 tập đoàn giống lúa bản địa nghiên cứu, qua đó

tuyển chọn được 36 giống lúa điển hình phân bố ở các vùng miền khác nhau,

có độ đa dạng cao, để phục vụ cho quá trình giải mã genome (07 mẫu giống

chất lượng; 06 mẫu giống chịu hạn; 06 mẫu giống chịu mặn; 07 mẫu giống

kháng rầy nâu; 05 mẫu giống kháng đạo ôn và 05 mẫu giốngkháng bạc lá).

Đồng thời đã giải mã thành công genome của 36 giống lúa bản địa ưu tú. Xây

dựng được cơ sở dữ liệu genotype và phenotype (các đặc tính nông học, chất

lượng, chống chịu sâu bệnh, đặc tính lý hóa và các đặc điểm hình thái) của 36

giống lúa nghiên cứu. Xác định được tổng số 783 SNPs và InDels có ý nghĩa

(các SNPs và InDels nằm trong vùng gen liên quan đến các tính trạng nông

sinh học quan trọng) của 36 mẫu lúa nghiên cứu. Bên cạnh đó, nhóm tác giả

này đã thiết kế được 35 markers (CAPs, dCAPs và SSLP) là những marker

chức năng liên kết với các gen đích để xác định chính xác các alen/gen giúp

qui tụ nhanh, chính xác các gen đích trong lai tạo giống [66].

Nguyễn Trọng Khanh (2011-2013), Viện Cây lương thực đã thu thập,

đánh giá, phân loại được hơn 1.000 mẫu giống nguồn gen lúa theo các chỉ tiêu

khác nhau; đã khai thác nguồn gen tạo được nguồn vật liệu khởi đầu mới gồm

hơn 600 tổ hợp lai, mẫu xử lý đột biến theo các hướng nghiên cứu ngắn ngày,

năng suất cao, kháng bệnh bạc lá, bệnh đạo ôn và rầy nâu, chất lượng cao.

26

- Kết quả nghiên cứu đã có 10 giống đã được chọn tạo thành công và

đang được khảo nghiệm quốc gia như: Gia Lộc 102, Gia Lộc 105, Gia Lộc

106, Gia Lộc 107, Gia Lộc 159, Gia lộc 160, LTH24, LTH31, Việt thơm 2,...

Trong đó các giống Gia Lộc 102, Gia Lộc 159, LTH31 được đánh giá là các

giống qua 2 - 3 vụ khảo nghiệm có triển vọng [39].

Trần Đình Giỏi, Lê Thị Dự và Phạm Văn Sơn (2013), đã xác định được

2 giống lúa cực sớm thích hợp cho điều kiện canh tác tỉnh Trà Vinh là

OM5451 và OM8923 và 3 giống lúa ngắn ngày (95-100 ngày), thích hợp cho

sản xuất ổn định 2 vụ lúa vùng nhiễm mặn 3-4 tháng của Trà Vinh như:

OM6976, OM6377, OM5464 [26].

Dương Xuân Tú (2013), đã chọn được 39 dòng lúa thơm, mang các đặc

điểm theo mục tiêu chọn tạo. So sánh chính qui các dòng lúa thơm, đã rút ra

được 2 giống triển vọng là HDT5 và HDT7 cho khảo nghiệm sản xuất [67].

Lưu Minh Cúc (2013): Đã thu thập được 261 dòng/giống lúa, sử dụng

557 chỉ thị ADN để khảo sát lựa chọn ra bộ chỉ thị tham chiếu bao gồm các

chỉ thị sau:

- Bộ chỉ thị đánh giá sơ bộ (5 chỉ thị): RM11, RM21, RM163, RM481,

RM3412.

- Bộ chỉ thị chuẩn (20 chỉ thị): Gồm 5 chỉ thị trên: RM11, RM21,

RM163, RM481, RM3412 và 15 chỉ thị khác: RM1, RM5, RM6, RM17,

RM25, RM206, RM215, RM333, RM3252, RM3843, RM7097, R4M13,

MADS3, SO1160, S11033.

- Bộ chỉ thị mở rộng (10 chỉ thị): RM19, RM223, RM341, RM3486,

RM5758, RM10825, RM17954, RM26063, MADS8, EST20 [12].

Đỗ Việt Anh và cs (2013) nghiên cứu, chọn tạo giống lúa chịu hạn cho

vùng đất cạn và vùng có điều kiện khó khăn đã thu thập, đánh giá 343 mẫu dòng

giống, 20/192 mẫu giống lúa có hệ số tương đồng di truyền cao và chứa các alen

chịu hạn, 1645 dòng được chọn lọc cho vùng đất cạn nhờ nước trời và 1920

dòng cho vùng bấp bênh nước. Các dòng giống nêu trên là những vật liệu khởi

đầu tốt để phục vụ công tác chọn tạo giống lúa chịu hạn mới ở Việt Nam [1].

27

Theo Lại Đình Hòe và cs (2013), đã tuyển chọn được 04 giống lúa có

khả năng chịu hạn tốt, thích hợp với vùng Tây Nguyên cả trong vụ Đông

Xuân và Hè Thu là: CH207, CH208, IR74371-54, IR78913-3-19, năng suất

đạt 61,3 - 69,9 tạ/ha. Giống lúa chịu hạn thích hợp cho vùng Nam Trung Bộ

cả trong vụ Đông Xuân và Hè Thu là CH207, CH208, năng suất đạt từ 53,1 -

67,5 tạ/ha [37].

Kết quả chọn tạo giống lúa ngắn ngày, năng suất cao phù hợp vùng

sinh thái Nam Trung bộ (2010- 2012) của Lưu Văn Quỳnh, Trần Văn Mạnh

và cs đã nghiên cứu chọn tạo và khảo nghiệm được 2 giống AN13, AN26-1

được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống sản xuất thử cho vùng

sinh thái Nam Trung bộ [50].

Những thành tựu trên là sự nỗ lực của các nhà khoa học và quản lý

nông nghiệp góp phần tích cực nâng cao sản lượng và diện tích lúa trên toàn

quốc. Vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá từng giống lúa thích hợp với các vùng

sinh thái và kỹ thuật canh tác nhằm phát huy hết tiềm năng của giống là một

biện pháp hữu ích, mang lại hiệu quả cho sản xuất.

1.2. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu về mật độ gieo cấy và

phân bón cho cây lúa

1.2.1. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu về mật độ gieo cấy cho

cây lúa

Trong quần thể ruộng lúa, mật độ gieo, cấy và số dảnh cấy có liên quan

đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất. Nếu gieo cấy cấy quá dày

hoặc nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn

và cuối cùng năng suất sẽ giảm. Vì vậy, muốn đạt được năng suất cao thì

người sản xuất phải biết điều khiển cho quần thể ruộng lúa có số bông tối ưu

mà vẫn không làm bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không

thay đổi. Căn cứ vào tiềm năng năng suất của giống, tiềm năng đất đai, khả

năng thâm canh của người sản xuất và vụ gieo trồng để định ra số bông cần

đạt một cách hợp lý.

28

1.2.1.1. Một số kết quả nghiên cứu về m t ộ gieo cấy trên thế giới

Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thật canh tác quan trọng, phụ thuộc vào

điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống. Khi nghiên cứu vấn đề

này Sasato (1996) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì

nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy dày. Giống lúa cho nhiều bông thì

cấy dày không có lợi bằng giống to bông. Vùng lạnh nên cấy dày hơn so với

vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên

cấy dày hơn so với lúa gieo sớm.

Suichi Yoshida (1985) đã khẳng định: trong ruộng lúa cấy, khoảng

cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khoẻ và sớm thay đổi từ 20 x 20cm đến 30 x 30cm. Theo ông, việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số

dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông. Năng suất tăng khi mật độ cấy tăng lên 182 - 242 dảnh/m2. Số bông trên đơn vị diện tích cũng

tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt trên bông. Mật độ geo cấy thực tế là

vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự đẻ nhánh. Thường gieo cấy thưa thì

cây lúa đẻ nhánh nhiều, cấy dày thì đẻ nhánh ít. Trong phạm vi khoảng cách

cấy từ 50 x 50 cm đến 10 x 10 cm, khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng

suất. Ông thấy rằng, năng suất hạt của giống IR-154-451 (một giống có khả

năng đẻ nhánh ít) tăng lên với việc giảm khoảng cách cấy 10 x 10cm. Đối với

giống có khả năng đẻ nhánh khoẻ (IR8) năng suất đạt cực đại ở khoảng cách

cấy 20 x 20cm [73].

Holiday (1960) cho rằng: Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt

là quan hệ phi tuyến tính, tức là mật độ lúc đầu tăng năng suất tăng nhưng

tăng mật độ quá thì năng suất lại giảm.

1.2.1.2. Một số kết quả nghiên cứu về m t ộ gieo cấy Việt Nam

Theo Phạm Văn Cường, Hà Thị Minh Thuỳ (2006) kết luận: mật độ

cấy ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá của lúa lai và lúa thuần khác nhau. Lúa

lai có chỉ số diện tích lá đạt cực đại sớm hơn và giảm chậm, còn lúa thuần thì

ngược lại cực đại đạt muộn hơn và giảm nhanh chóng. Lúa thuần với mật độ

29

cấy dày (70 khóm/m2) có tốc độ tích luỹ chất khô (CGR) cao hơn so với mật

độ cấy thưa, tuy nhiên ở giai đoạn trỗ và chín sáp CGR khi cấy mật độ 50 khóm/m2 lại cao nhất [14].

Nguyễn Như Hà (2006) kết luận: tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ

nhánh của một khóm giảm. So sánh số dảnh cấy trên khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2 và mật độ cấy dày 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻ trong

một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh/khóm (ở vụ Xuân) và

tăng lên 1,9 dảnh/khóm (ở vụ Mùa). Về dinh dưỡng, khi tăng lượng đạm bón

ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu. Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ đến 65 khóm/m2 ở vụ Mùa và 75 khóm/m2 ở vụ Xuân. Tăng bón đạm ở mật độ cao khoảng 55 - 65 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ

dảnh hữu hiệu [29].

Tác giả Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2 thì để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non).

Với loại mạ thâm canh, số nhánh cần cấy trên khóm được định lượng theo số

bông cần đạt nhân với 0,8 [33]. Trong điều kiện phân nhiều thì việc xác định

mật độ cấy phải dựa vào khả năng đẻ nhánh, trái lại ở điều kiện phân ít thì

phải dựa vào số thân chính.

Theo Nguyễn Văn Luật (2001) trước năm 1967, người dân trồng lúa thường

cấy thưa với mật độ 40 x 40 cm hoặc 70 x 70 cm ở một vài ruộng sâu, còn ngày

nay có xu hướng cấy dày 20 x 20 cm; 20 x 25cm; 15 x 20cm; 10 x 15cm [43].

Theo Trần Thúc Sơn (1995) thì mở rộng khoảng cách cấy (20 x 30cm) là

con đường tốt nhất để giảm lượng gieo cần thiết cho 1 ha (25kg) mà không

làm giảm năng suất [54].

Theo Nguyễn Văn Hoan (2002) với các giống lúa lai nên cấy 2-3 dảnh

với mật độ 50-55 khóm/m2 và cấy 3-4 dảnh với mật độ 40-45 khóm/m2 [34].

Theo Nguyễn Trường Giang, Phạm Văn Phượng (2011) chiều cao cây,

chiều dài bông, số hạt chắt/bông, tỷ lệ hạt chắt và khối lượng 1.000 hạt ở

nghiệm thức sạ hàng với lượng giống sạ 50 kg/ha và mật độ sạ hàng với

30

lượng giống 100 kg/ha đều lớn hơn so với nghiệm thức sạ tay (sạ vải) mật độ

sạ với lượng giống 200 kg/ha. Năng suất ở nghiệm thức sạ hàng với lượng

giống 50 kg/ha, sạ hàng với lượng giống sạ 100 kg/ha và sạ tay 100 kg/ha đều

cao hơn nghiệm thức gieo sạ tay truyền thống 200 kg/ha. Trong đó nghiệm

thức sạ hàng 100 kg/ha cho năng suất cao nhất (6,76 tấn/ha) và làm tăng năng

suất đến 19,75% [24].

Theo Nguyễn Trung Tiền (2002), trong vùng đất nhiễm mặn ở Kiêng Giang

sạ lúa giống OM576 với lượng giống sạ 150 kg/ha cho năng suất cao nhất [57].

Phan Hữu Tôn (2002), lượng giống TN13-5 cần cho 1 sào Bắc bộ từ 1,5

- 2 kg, nên gieo mạ thưa, khoảng 8 - 10 kg/sào Bắc bộ để mạ to dảnh và cấy mật độ 50 khóm/m2 và cấy 1-2 dảnh/khóm, không cấy to dảnh để lúa nhanh

bén rễ hồi xanh, đẻ khỏe và tập trung, tỷ lệ bông hữu hiệu cao [64].

Nguyễn Văn Tuất, Phạm Đức Hùng (2007), đối với 2 huyện là Chợ Mới

(tỉnh An Giang) và Phù Cát (tỉnh Bình Định) thì lượng giống gieo 80- 100

kg/ha trên 2 phương thức gieo (sạ lang và sạ hàng) đều có năng suất cao và

hiệu quả hơn so với lượng giống gieo 120 kg/ha [70].

Tóm lại việc nghiên cứu về mật độ đã cũng cố thêm về quy trình thâm

canh cho cây lúa. Năng suất các giống lúa được cải thiện đáng kể thông qua

việc điều chỉnh chế độ canh tác như chế độ bón phân và mật độ gieo cấy. Việc

bố trí mật độ hợp lý nhằm tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn

chế sâu bệnh hại và tạo tiền đề cho năng suất cao.

1.2.2. Cơ sở khoa học và những nghiên cứu về phân bón cho cây lúa

1.2.2.1. Những nghiên cứu về phân bón cho cây lúa trên thế giới

Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, phân bón luôn được xem là yếu

tố quan trọng trong hệ thống canh tác để tăng năng suất cây trồng. Theo

Viện Khoa học Nông nghiệp Rumani “Không cách nào hiệu lực hơn ể

nâng cao năng suất bằng phân bón” [29].

Tại Ấn Độ, phân bón đã góp phần quan trọng trong việc tăng sản lượng

ngũ cốc của nước này từ 1% năm 1950 lên đến 58% năm 1995. Theo đánh giá

31

của M.Velayutham, mức đóng góp vào sản lượng lương thực gia tăng của

phân bón là 60% [75].

Hiệp hội phân bón quốc tế (IFA) đã tiến hành nghiên cứu tại các nước

phát triển trong những năm 1970 chỉ rõ: Nếu không sử dụng phân bón thì

sản lượng lương thực ở các nước này chắc chắn sẽ giảm 40-50% [8]. Đánh

giá của FAO (1984) cho thấy 50% sản lượng nông nghiệp tăng ở các nước

đang phát triển trong thập kỷ 70 là do sử dụng phân bón [124].

Viện lúa Quốc tế (IRRI), Ủy ban lúa gạo Quốc tế (IRC), Viện nghiên

cứu nông hóa Mỹ đã khẳng định: Gần 50% năng suất là do tác dụng của

phân bón, còn hơn 50% kia là do các yếu tố khác như giống, nước, chăm sóc

[29]. Nhờ kỹ thuật canh tác cải tiến trong đó chủ yếu là nhờ tăng cường sử

dụng phân bón mà trong 2 thập kỷ, tổng sản lượng lương thực của toàn thể

Châu Âu tăng gấp 3 lần [124].

Theo Puri (1991) ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, từ năm 1979 -

1989 sản lượng ngũ cốc tăng, trong đó 75% là do sử dụng phân bón [86].

Theo số liệu của Nga thì trên đất xấu phân bón quyết định 60 - 70% năng

suất, còn đất tốt chỉ từ 45 - 50%.

Theo Patrick và cs (1968), Kobayashi (1995): Khi nghiên cứu khả năng

cạnh tranh của 2 giống lúa Hokuriki 52 và Yamakogame về phản ứng với điều

kiện phân bón khác nhau cho thấy, cây lúa có tính thích ứng cao trong điều kiện

tự nhiên ít phân và tăng số lượng cây con ở mỗi đối tượng, trong khi đó các

giống cạnh tranh yếu bị thất bại nghiêm trọng trong điều kiện trồng trọt bình

thường, điều đó có nghĩa là giống khỏe (Hokuriki 52) sẽ gây ảnh hưởng nhiều

cho giống cạnh tranh yếu (Yamakogame) khi có đủ phân bón [104], [99].

Theo Shi và cs (1986) cho rằng: Phân bón có tác dụng thúc đẩy hoạt

động quang hợp. Kết quả nghiên cứu các giống lúa Indica có phản ứng với

phân bón là tăng diện tích lá lớn hơn so với giống lúa Japonica, nhưng lại

phản ứng yếu hơn khi hàm lượng phân bón tăng. Khi bàn về năng suất tác giả

cho biết: Năng suất là kết quả của những giống có phản ứng tốt với phân bón

32

và biện pháp kỹ thuật. Ở vùng ôn đới, giống Japonica thường cho năng suất

cao vì nó phản ứng tốt với phân bón [109].

* Các nghiên cứu về ạm cho lúa trên thế giới: Tìm hiểu hiệu suất phân

đạm đối với lúa Iruka (1963) thấy: Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất

cao nhất là bón vào lúc lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần, với liều lượng thấp thì

bón vào lúc lúa đẻ và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao [117]. Theo Schunutz

và Hartman, 1994 tại Đức, nếu giảm một nửa lượng phân đạm trong trồng

trọt thì năng suất cây trồng sẽ giảm 22% trong thời gian ngắn; 25 - 30%

trong thời gian dài, thu nhập trang trại giảm 12%, lợi nhuận của các trang

trại giảm 40%, tổng sản lượng hoa màu giảm 10% [100], [74]. Kết quả

nghiên cứu của Sinclair (1989) cũng chỉ ra rằng hiệu suất phân đạm cho lúa

rất khác nhau, 1kg N cho từ 3,1 - 23 kg thóc [110].

Theo Shuichi Yoshida (1985) cho thấy, lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ

nhánh quyết định tới 74% năng suất. Bón nhiều đạm làm cây đẻ nhánh khỏe và tập trung, tăng số bông/m2; số hạt/bông, nhưng trọng lượng 1000 hạt ít

thay đổi. Mặt khác tác giả lại cho rằng ở các nước nhiệt đới lượng các chất

dinh dưỡng (N, P, K) cần để tạo ra 1 tấn thóc trung bình là 20,5 kg N; 5,1 kg

P2O5; 4,4 kg K2O [79]. Theo Takahasi (1987) cho biết giữa đẻ nhánh ở cây

lúa và tỉ lệ đạm tích lũy trong lá lúa liên quan mật thiết với nhau [124].

Theo Yang (1999): Ở nhiều nước trên thế giới thường hay bón phân

chuồng và phân ủ cho lúa để làm tăng độ phì nhiêu cho đất như Trung Quốc,

Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và các nước vùng Đông Nam Á [117]. Trong

thời gian gần đây phân khoáng đã được dùng phổ biến và phân chuồng được

dùng bón lót làm tăng năng suất lúa và tăng hiệu quả của phân khoáng. Thí

nghiệm của Ying (1998) cho thấy: Sự tích lũy đạm, lân và kali ở các cơ quan

trên mặt đất của cây lúa không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn được tích lũy

tiếp ở các giai đoạn tiếp theo của cây [118].

* Các nghiên cứu về lân cho lúa trên thế giới: Theo nhận xét của

Tanaka: bón lân xúc tiến quá trình sinh trưởng của cây trong thời kỳ đầu,

33

đồng thời có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng mà đặc biệt là những vùng

lạnh thì hiệu quả đó càng rõ [83]. Buba (1960) cho biết lúa nước là loại cây

trồng cần ít lân, do đó khả năng hút lân từ đất mạnh hơn cây trồng cạn.

Nghiên cứu của Brady và Nylec (1985) cho thấy hầu hết các loại cây trồng

hút không quá 10 - 13% lượng lân bón vào đất trong năm, đặc biệt là cây lúa

có khả năng hút lân khi hàm lượng lân trong đất khoảng 0,2 ppm hoặc thấp

hơn một chút là có thể cho năng suất tối đa. Tuy vậy, cần bón lân kết hợp với

các loại phân khác như đạm, kali mới nâng cao được hiệu quả của nó.

Các công trình nghiên cứu của De Datta (1989), Koyama (1981),

Sinclair (1989) và Vlek (1986) nghiên cứu về đặc điểm bón phân cho các

giống lúa đều đi đến kết luận: Giống mới yêu cầu về phân bón nhiều nhất là

lân, cao hơn giống cũ. Bón lân làm tăng khả năng hút đạm và kali, là cơ sở để

tăng năng suất cây trồng. Để đánh giá khả năng cung cấp lân của đất cho cây

trồng, người ta dựa vào hàm lượng lân dể tiêu, phân lân bón cho lúa có hiệu

quả đứng thứ 2 sau đạm, nhưng trong một vài trường hợp, ở những đất nghèo

dinh dưỡng thì phân lân lại làm tăng năng suất nhiều hơn đạm. Tuy nhiên bón

phân lân cùng với đạm là điều kiện tốt để phát huy hiệu quả cao của phân lân.

Khi cây bị thiếu lân cây non có bộ lá hẹp, thường bị cuộn lại, sức đẻ nhánh

giảm và đẻ muộn, giai đoạn đẻ nhánh kéo dài. Ở thời kỳ lúa đẻ nhánh và tròn

mình, phân lân có ảnh hưởng tốt đối với cây lúa, nó làm cho trọng lượng của

phần trên mặt đất của cây lúa tăng khá lớn, sau đó đến thời kỳ chín mức tăng

của trọng lượng thân cây giảm. Ở những chân đất tương đối phì nhiêu, hiệu

quả của phân lân đối với năng suất lúa không lớn. Bón lân làm cho lúa cứng

cây và tăng khả năng chống đổ [69], [85], [84], [100], [115].

Theo Sarker (2002) khi nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài của lân đối với lúa

cho thấy: “Hiệu suất của lân đối với hạt ở giai đoạn đầu cao hơn giai đoạn cuối

và lượng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu phân phối ở các cơ quan sinh trưởng.

Do đó, phải bón lót để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa” [107].

* Các nghiên cứu về kali cho lúa trên thế giới: Ở Đức người ta tính

lượng kali bón cho cây theo năng suất và lượng kali có trong đất. Theo

34

U.C.Koporgov (1975) để đạt năng suất 3- 10 tấn/ha thì lượng kali được

khuyến cáo là từ 85 - 310 kg K2O/ha. Kết quả nghiên cứu của trại thí nghiệm

Cuban (Liên Xô cũ) cho biết để thu được 4 tấn thóc/ha thì cần bón 35 - 50 kg

K2O, trung bình là 44 kg K2O/ha [9]. Các thí nghiệm của Patrick (1968) đều

cho thấy kali có vai trò quan trọng trong giai đoạn trước và sau làm đòng,

thiếu kali ở giai đoạn này năng suất lúa giảm mạnh [104].

Trên thế giới, vai trò của kali cho cây lúa đã được nghiên cứu và khẳng

định. Gia-côp khi nghiên cứu về vai trò của kali cho thấy: Cường độ quang

hợp càng mạnh khi hàm lượng kali trong tế bào càng lớn. Song muốn có

cường độ quang hợp cao cần phải có đủ ánh sáng. Khi thiếu kali thì nồng độ

sắt trong tế bào hạ thấp, quá trình tổng hợp tinh bột, protein chậm [79], [94].

Theo Shuichi Yoshida (1985) cho biết khoảng 20% tổng lượng kali cây

hút là được vận chuyển vào hạt, lượng còn lại được tích lũy trong các bộ phận

khác của cây [51].

Smit- Xui (1962) thấy giữa việc hút đạm và kali có mối tương quan

thuận, tỷ lệ K2O/N thường là 1,26. Theo nhiều tác giả khác cho biết tỷ lệ

K2O/N rất quan trọng, nếu cây hút nhiều đạm thì dễ thiếu kali, do đó thường

phải bón kali ở những ruộng lúa bón nhiều đạm [52]. Vì vậy, trên đất nghèo

kali bón cân đối đạm - kali có ý nghĩa rất quan trọng.

Theo quan điểm của Koyama (1981): Kali xúc tiến tổng hợp đạm trong

cây. Thiếu kali cây lúa dễ bị bệnh tiêm lửa, đạo ôn, thối rễ, bạc lá, thân cây

yếu dễ bị đổ. Lúa được bón đầy đủ kali, lá chuyển màu xanh vàng, lá dài hơn

và trỗ sớm hơn 2 - 3 ngày. Kali có tác dụng làm tăng số nhánh hữu hiệu, tăng

chiều cao cây, bông dài hơn và phẩm chất hạt tốt hơn [100].

Shi M.S và Deng.J.Y (1986) nghiên cứu về kali cho thấy: Kali là nguyên

tố dinh dưỡng không đáp ứng được nhu cầu của cây trồng so với Ca và Mg,

kali ở trong đất thường ở dạng khó tiêu nên cây trồng khó hút, do đó nhu cầu

của cây lúa về bón kali cần nhiều hơn so với Ca và Mg [109].

Kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989) cho thấy lúa hút kali vào thời kỳ

đẻ nhánh sẽ có tác dụng làm tăng số bông, số hạt, ở thời kỳ làm đòng làm tăng

35

số hạt và tăng trọng lượng nghìn hạt. Vì vậy, thiếu kali ở giai đoạn này làm

năng suất giảm mạnh. Đây cũng là cơ sở cho biện pháp bón kali hợp lý [110].

Thí nghiệm của Kobayashi (1995) chỉ ra rằng khi bón đủ kali, giai đoạn

từ bắt đầu đẻ nhánh đến phân hoá đòng có tốc độ hút kali cao nhất sau đó

giảm. Bón kali khi lúa phân hoá đòng có thể làm tăng số hạt trên bông [99].

Theo Ying (1998) khi nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, kỹ thuật bón

phân cho lúa lai năng suất cao ở Bắc Kinh cho thấy: Đối với lúa ngắn ngày,

giai đoạn trỗ cây lúa hút 43,1% lượng kali và tổng lượng kali cần để đạt năng

suất cao là 217,7 kg/ha. Còn đối với lúa dài ngày, cây hút lượng kali tương

đối đều ở các giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn lúa trỗ bông hút 31,9% và tổng

lượng cần là 263,75 kg/ha. Tác giả cho thấy, bón kali ở giai đoạn khác nhau

cũng cho hiệu quả khác nhau [118].

Theo Yang (1999), kali đẩy mạnh sự đồng hoá cacbon của cây lúa, xúc

tiến việc chuyển hoá và vận chuyển sản phẩm quang hợp. Thiếu kali hoạt

động của sắt bị ảnh hưởng, do đó ảnh hưởng tới quang hợp dẫn đến lá bị

vàng. Bón đủ kali, diệp lục và các sắc tố đều tăng (tuy nhiên, kali không phải

là thành phần của sắc tố), việc hình thành gluxit được đẩy mạnh, trọng lượng

lá tăng, kali tham gia vào quá trình chuyển hoá đường thành gluco. Khi đủ

kali thì tỷ lệ saccaroza và tinh bột đều cao [117].

Nghiên cứu về vai trò của kali, nhiều tác giả cho biết ở đất trũng ít khi bị

thiếu kali. Hàm lượng kali thấp hoặc thiếu kali thường đi kèm với ngộ độc sắt

trong đất đỏ, chua, phèn [89], [103], [114].

Theo kết quả nghiên cứu của Sarker (2002) từ khi cây lúa bắt đầu bén rễ

đến cuối đẻ nhánh, đối với vụ sớm và vụ muộn đều hút một lượng kali tương

đương nhau. Từ khi phân hoá đòng đến lúc bắt đầu trỗ, cây lúa hút kali nhiều

nhất và sau đó lại giảm, nhưng từ khi trỗ đến thời kỳ hạt chắc và chín thì tỷ lệ

hút kali ở vụ muộn lại cao hơn vụ sớm. Ở giai đoạn đầu hiệu suất của kali cao

sau đó giảm dần và đến giai đoạn cuối lại cao. Do lúa cần lượng kali lớn nên

cần bón kali bổ sung đến giai đoạn trỗ, đặc biệt ở giai đoạn hình thành hạt là

rất cần thiết [107].

36

1.2.2.2. Tình hình nghiên cứu về phân bón cho lúa Việt Nam.

Phân bón được người nông dân ở Việt Nam sử dụng từ rất lâu đời cùng

với sự phát triển của nền nông nghiệp. Con người đã biết sử dụng phân bón

để nâng cao năng suất cây trồng từ rất sớm nhưng chủ yếu là sử dụng các

loại phân hữu cơ. Từ trước Công Nguyên con người đã quan tâm đến việc

bón phân hữu cơ cho ruộng [17].

Theo Bùi Đình Dinh (1995), tổng lượng N, P, K được bón cho 1 ha

canh tác năm 1993 tăng gấp 3,5 lần so với năm 1981 là nhân tố quan trọng

làm cho năng suất cây trồng tăng đáng kể so với chỉ bón N, P: Năng suất lúa

tăng được 49% trên đất dốc tụ, tăng 53% trên đất bạc màu, tăng 21% trên đất

xám bạc màu [18].

* Các nghiên cứu về ạm cho lúa Việt Nam: Trong các nguyên tố dinh

dưỡng, đạm là chất dinh dưỡng quan trọng nhất. Cây lúa cần đạm trong tất cả

các giai đoạn sinh trưởng, tuy nhiên giai đoạn đẻ nhánh lúa cần nhiều đạm

nhất (Nguyễn Văn Hoan, 2003) [35]. Cung cấp đủ đạm và đúng lúc làm cho

lúa đẻ nhánh nhanh, tập trung tạo nhiều nhánh hữu hiệu. Đạm thúc đẩy hình

thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất khác như số hạt/bông, khối

lượng 1.000 hạt và tỷ lệ hạt chắc. Vì vậy, bón đạm ở giai đoạn làm đòng ảnh

hưởng quyết định đến năng suất. Mặt khác bón đạm làm tăng hàm lượng

protein nên ảnh hưởng đến chất lượng gạo. Đạm cũng ảnh hưởng tới đặc tính

vật lý và sức đề kháng đối với sâu bệnh hại lúa. Thừa hoặc thiếu đạm đều làm

lúa dễ bị nhiễm sâu bệnh hại do sức đề kháng giảm (Nguyễn Như Hà, 2006),

(Nguyễn Văn Hoan, 2006) [29], [36].

Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trỗ

kém, số hạt/bông ít, lép nhiều, năng suất thấp. Thừa đạm làm cho lá to, dài,

phiến lá mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao, lốp, đổ non ảnh

hưởng xấu đến năng suất và phẩm chất lúa. Trong quá trình sinh trưởng, cây

lúa có nhu cầu đạm tăng đều từ thời kỳ đẻ nhánh tới trỗ và giảm sau trỗ.

Lượng đạm cần thiết để tạo ra một tấn thóc từ 17-25 kg N, trung bình 22,2 kg

N (Nguyễn Như Hà, 2006), (Nguyễn Thị Lẫm, 2003) [29],[42].

37

Phạm Văn Cường (2005) cho biết khi tăng lượng đạm bón thì chỉ số diện

tích lá (LAI), trọng lượng chất khô (DM) và tốc độ tích luỹ chất khô (Crop

growth rate-CGR) của lúa lai vượt trội so với lúa thuần, đặc biệt ở giai đoạn sau

cấy 4 tuần, năng suất của các giống lúa đều tăng, tuy nhiên năng suất của lúa lai

tăng nhiều hơn năng suất của lúa thuần. Năng suất hạt của các giống lúa thí

nghiệm ở các mức phân bón có tương quan thuận ở mức ý nghĩa với LAI và CGR ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng, số bông/m2 và số hạt/bông [13].

Trong các giai đoạn sinh trưởng thì bắt đầu từ đẻ nhánh đến đẻ rộ hàm

lượng đạm trong thân lá luôn cao sau đó giảm dần. Như vậy cần tập trung bón

đạm mạnh vào giai đoạn này. Tuy nhiên thời kỳ hút đạm mạnh nhất quan sát

thấy ở lúa lai là từ đẻ rộ đến làm đòng, mỗi ngày lúa lai hút 3.520 g N/ha chiếm

34,68% tổng lượng hút, tiếp đến mới là giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến đẻ

rộ, mỗi ngày cây hút 2.737 g N/ha chiếm 26,82% tổng lượng hút. Vì lý do này

mà bón lót và bón thúc thật tập trung là rất cần thiết nhằm cung cấp đủ đạm cho

lúa lai. Ở giai đoạn cuối, tuy lúa lai hút đạm không mạnh như ở 2 giai đoạn đầu

song giữ một tỉ lệ N cao và sức hút N mạnh rất có lợi cho quang hợp tích lũy

chất khô vào hạt. Vì thế một lượng đạm nhất định cần được bón vào giai đoạn

cuối (khoảng 20 ngày trước khi lúa trỗ) (Nguyễn Văn Hoan, 2003) [35].

Nguyễn Văn Bộ và cs (2003), Nghiên cứu của Nguyễn Vi (1982), kết

luận rằng: Hiệu suất sử dụng đạm phụ thuộc vào giống lúa, thường các giống

lúa lai có hiệu suất sử dụng đạm cao hơn, đạt từ 10-14 kg thóc/kg N được

bón, trong khi lúa thuần chỉ đạt 7-8 kg thóc/kg N. Trên đất phù sa sông Hồng,

bón đạm làm năng suất lúa lai tăng 22,3- 40,1% [2], [3], [71].

Cây lúa yêu cầu dinh dưỡng đạm trong suốt quá trình sinh trưởng phát

triển của chúng. Tỷ lệ đạm trong cây so với trọng lượng chất khô ở các thời

kỳ như sau: Thời kỳ mạ 1,54%, đẻ nhánh 3,65%, làm đòng 3,06%, cuối làm

đòng 1,95%, trổ bông 1,17% và chín 0,4% [13].

Đối với nhiều loại đất, ngay từ đầu cần phải bón đạm kết hợp với lân

mới cho năng suất cao. Cũng theo nghiên cứu của Lê Văn Căn (1964), sự tích

38

luỹ đạm, lân, kali ở các cơ quan trên mặt đất không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà

còn được tiến hành ở giai đoạn tiếp theo của cây. Tuy nhiên, từ khi cây bắt

đầu đẻ nhánh đến làm đòng, cây lúa phản ứng mạnh với dinh dưỡng N, K2O ở

mức độ cao [7], [53].

Theo Đào Thế Tuấn (1970), trong thí nghiệm 3 vụ lúa ở đất phù sa Sông

Hồng đã rút ra kết luận: “Vụ lúa chiêm cũng như vụ lúa mùa, chia đạm ra bón

nhiều lần để bón thúc đẻ nhánh, nếu bón tập trung vào thời kỳ đầu đẻ nhánh thì

số nhánh tăng lên rất nhiều nhưng số nhánh vô hiệu cũng tăng nhiều và thiếu

dinh dưỡng. Nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ít

nhưng tổng số nhánh cũng ít vì vậy cần chú ý cả hai mặt. Trong trường hợp

đạm bón tương đối ít thì nên bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh rộ [68].

Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994), muốn đạt năng suất 50 tạ/ha/vụ cần bón

từ 100 - 120 kg N/ha. Lượng đạm này lấy từ các loại phân vô cơ và hữu cơ

bón cho lúa [41]. Nếu chỉ bón đơn độc đạm cho cây lúa thì cây sinh trưởng

quá mạnh và chỉ đạt được năng suất khá trong vài vụ đầu, dần dần năng suất

sẽ bị giảm, nếu bón kết hợp với lân và kali thì cây lúa sinh trưởng cân đối,

cho năng suất cao và ổn định. Trong bón phân, phương pháp bón cũng rất

quan trọng. Cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong khi bón phân thì hiệu

quả mới cao, cây lúa mới hút được dinh dưỡng tối đa [87], [86].

Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quan

trọng. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây

mất đạm tới 50% do nhiều con đường khác nhau như rửa trôi, bay hơi, ngấm

sâu hay do phản đạm hoá [27], [53]. Vì vậy, khi bón đạm cần bón sớm, bón

tập trung và bón dúi sâu xuống tầng đất nơi có bộ rễ lúa tập trung nhiều.

* Các nghiên cứu về lân cho lúa Việt Nam: Ở Việt Nam, trên đất

phèn nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được 40 - 50 kg N/ha, nếu bón lân

cây trồng sẽ hút 120 - 130 kg N/ha [45]. Do vậy, để đảm bảo đất không bị suy

thoái, về nguyên tắc phải bón trả lại cho đất một lượng dinh dưỡng tương tự

lượng dinh dưỡng mà cây trồng đã lấy đi. Tuy nhiên, việc bón phân cho cây

39

trồng lại không chỉ hoàn toàn dựa vào dinh dưỡng cây trồng hút từ đất và

phân bón, mà phải dựa vào lượng dinh dưỡng dự trữ trong đất và khả năng

hấp thu dinh dưỡng của cây [7].

Lân có tác dụng kích thích ra rễ mạnh, thúc đẩy quá trình trổ và chín

sớm, tăng cường đẻ nhánh giúp cây phục hồi nhanh sau khi gặp những điều

kiện bất thuận. Thiếu lân làm cây lúa thấp, khả năng đẻ nhánh kém, bản lá

hẹp, ngắn, thẳng, có màu xanh đậm tới ám khói [73].

Hiệu suất của lân đối với hạt ở các giai đoạn đầu cao hơn các giai đoạn

cuối do lân cần thiết cho đẻ nhánh và nhu cầu của lân tổng số ít hơn đạm. Vì

thế, trong sản xuất cần bón lân rất sớm, có thể bón lót để cây lúa hút đủ lân

tạo điều kiện thuận lợi cho các bước phát triển tiếp theo.

Theo Mai Thành Phụng (1996) trên đất phèn nặng muốn trồng lúa có

hiệu quả cần phải liên tục cải tạo: Sử dụng nước ngọt để rửa phèn, kế đến là

bón phân lân liều lượng cao trong những năm đầu để tích lũy lân. Trên đất

phù sa đồng bằng sông Cửu Long bón lân có hiệu quả rất rõ, vụ Đông Xuân

có bón 20 kg P2O5/ha đã tăng năng suất được 20% so với công thức không

bón lân. Tuy nhiên bón thêm với liều lượng cao hơn, năng suất lúa có tăng

nhưng không rõ. Vì vậy trong ruộng thâm canh thường được khuyến cáo bón

phối hợp từ 20-30 kg P2O5 là đủ. Trong vụ Hè Thu nhận thấy nhu cầu phân

lân có cao hơn và có hiệu quả rõ hơn vụ Xuân, bón 20kg P2O5 đã bội thu được

43,7% so với không bón lân, bón 40 kg bội thu 62,5% năng suất (Nguyễn Văn

Luật, 2001) [43].

Lân cũng làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra rễ, đặc biệt

là rễ bên và lông hút [123]. Phân tích hàm lượng lân trong lá thì giai đoạn đẻ

rộ thấy cao nhất. Ở giai đoạn chín hàm lượng lân trong thân lá lúa lai cao hơn

hẳn lúa thường. Giai đoạn từ đẻ rộ đến phân hóa đòng lúa lai hút tới 84,27%

tổng lượng lân. Vì thế muốn để lúa lai đạt năng suất cao thì tổng lượng lân

cần được cung cấp đủ trước khi làm đòng (Nguyễn Văn Hoan, 2003) [35].

40

Theo Bùi Huy Đáp (1980), lân được hút chậm hơn đạm trong thời kỳ

dinh dưỡng đầu và được hút nhanh từ khi phân hoá đòng đến lúa vươn lóng.

Phần lớn lân tích luỹ trong thân và lá trước khi trỗ rồi chuyển về bông vì

sau khi trỗ lúa thường không hút nhiều lân nữa. Khi bón quá nhiều lân, đất sẽ

giữ lân lại, do đó ruộng ít bị xãy ra hiện tượng thừa lân. Ruộng lúa ngập nước

sẽ làm tăng độ dễ tiêu của lân, tăng hiệu quả của phân bón cho cây lúa. Cây

lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng vì vậy có thể bón lót hết lượng lân

dành cho cả vụ [21], [47].

Như vậy khi cây lúa được cung cấp lân đầy đủ nó sẽ tạo điều kiện cho

bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo điều kiện cho sinh trưởng,

phát triển tốt, thúc đẩy sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa.

Theo Vũ Hữu Yêm (1995), cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân.

Thiếu lân trong thời kỳ cây non cho hiệu quả rất xấu, sau này dù có bón

nhiều lân thì cây cũng trỗ không đều hoặc không thoát. Do vậy, cần bón đủ

lân ngay từ giai đoạn đầu và bón lót phân lân là rất có hiệu quả [72].

Ở mỗi thời kỳ, lúa hút lân với lượng khác nhau, trong đó có hai thời kỳ

hút mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng. Tuy nhiên, xét về

mức độ thì lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh [9].

Trung bình để tạo ra một tấn thóc, thì cây lúa hút khoảng 7,1 kg P2O5.

Lân trong đất là rất ít, hệ số sử dụng lân của lúa lại thấp, do đó cần phải bón

lân với liều lượng tương đối khá. Để nâng cao hiệu quả của việc bón lân cho

cây lúa ngắn ngày, trong điều kiện thâm canh trung bình (10 tấn phân

chuồng, 90 - 120 kg N, 60 kg K2O/ha) nên bón lân với lượng 80 - 90 kg

P2O5/ha và tập trung bón lót [3].

Theo nhiều tác giả cho biết, lượng phân bón cho lúa cần thay đổi theo

thời tiết, mùa vụ và từng loại đất. Trên đa số các loại đất, ruộng lúa cao sản

thường bón lượng với 60 kg P2O5/ha, riêng đối với đất xám bạc màu có thể

bón 80 - 90kg P2O5/ha [29].

41

Cây lúa được bón đầy đủ lân và cân đối đạm sẽ phát triển xanh tốt,

khỏe mạnh, chống chịu với điều kiện bất thuận như hạn, rét. Cây lúa đủ lân đẻ

nhánh khỏe, bộ rễ phát triển tốt, trỗ và chín sớm ngay cả trong điều kiện nhiệt

độ thấp trong vụ Đông Xuân, hạt thóc mẩy và sáng. Cây lúa thiếu lân cây còi

cọc, đẻ nhánh kém, lá lúa ngắn, phiến lá hẹp, lá có tư thế dựng đứng và có

màu xanh tối, số lá, số bông và số hạt/bông đều giảm [123].

* Các nghiên cứu về kali cho lúa Việt Nam: Kali có tác dụng xúc tiến

quá trình quang hợp, đẩy mạnh sự di chuyển sản phẩm quang hợp từ lá sang

các bộ phận khác, tăng cường đẻ nhánh và giúp cây chống chịu được các điều

kiện bất thuận. Thiếu kali làm cây thấp, lá ngắn, rũ xuống và có màu xanh

đậm; các lá phía dưới, bắt đầu từ đỉnh xuống biến vàng giữa các gân lá, có lúc

khô chuyển sang màu nâu nhạt. Trong các giai đoạn sinh trưởng, phát triển

của cây yêu cầu về kali khác nhau nhưng cây lúa cần kali nhất vào thời kỳ

làm hạt để tăng khả năng vận chuyển dinh dưỡng vào hạt. Vì vậy bón kali kéo

dài đến lúc trỗ bông, lúc giai đoạn hình thành sản lượng là điều rất cần thiết

(Suichi Yosihida, 1985) [73].

Từ giai đoạn đẻ nhánh đến khi trỗ, lúa lai hút kali với cường độ tương

tự lúa thường. Tuy nhiên từ sau khi trỗ thì lúa thường hút rất ít kali, trong khi

đó lúa lai vẫn duy trì sức hút kali mạnh, mỗi ngày vẫn hút 0,67kg/ha chiếm

8,7% tổng lượng hút. Như vậy trong suốt thời kỳ sinh trưởng cường độ hút

kali của lúa lai luôn cao. Đây là đặc điểm rất đặc trưng về hút các chất dinh

dưỡng của lúa lai. Từ đặc điểm này có thể kết luận: Để có năng suất cao cần

coi trọng bón phân kali cho lúa lai (Nguyễn Văn Hoan, 2003) [35].

Theo Đinh Dĩnh (1970), cây lúa hút kali trong suốt quá trình sinh

trưởng phát triển của chúng. Nhưng nhu cầu kali thể hiện rõ nhất ở hai thời kỳ

đẻ nhánh và làm đòng. Nếu thiếu kali vào thời kỳ đẻ nhánh thì ảnh rất hưởng

lớn đến năng suất, lúa hút kali mạnh nhất vào thời kỳ làm đòng [19].

Thiếu kali, lá lúa bị xém nâu, cây phát triển chậm và còi cọc, thân yếu

và dễ bị đổ, hạt nhỏ. Thiếu kali làm cây lúa dễ bị nấm bệnh, vi khuẩn … Theo

Nguyễn Vi, với các giống lúa hiện nay, tỷ lệ hạt chắc tăng từ 30 - 57% do bón

42

kali và trọng lượng hạt cũng tăng từ 12 - 30% [71]. Bùi Đình Dinh (1995) cho

biết: Tỷ lệ kali cây lúa hút trong các thời kỳ sinh trưởng phụ thuộc vào giống

lúa, giai đoạn từ cấy đến đẻ nhánh là 20,0 - 21,9%; từ phân hoá đòng đến trỗ

là 51,8 - 61,9%; từ vào chắc đến chín là 16,9 - 27,7% [18].

Theo Đào Thế Tuấn (1970), lượng kali cây lúa hút và năng suất lúa có

mối tương quan thuận với nhau. Vào những thập kỷ 60 - 70, hiệu lực phân

kali bón cho lúa rất thấp, ở hầu hết các loại đất đã nghiên cứu: Ở đồng bằng

Sông Hồng, hiệu quả chỉ đạt 0,3 - 0,8 kg thóc/1 kg kali. Hiện nay, hiệu lực

của phân kali bón cao hơn trước, với lúa trên đất bạc màu, hiệu quả cao nhất

đạt 8,1 - 21,0 kg thóc/1 kg kali. Trên đất bạc màu, trữ lượng kali trong đất ít,

do vậy cần phải đầy đủ phân kali để đảm bảo nhu cầu của cây trồng, đồng

thời cây lúa cũng hút các yếu tố dinh dưỡng khác dễ dàng hơn. Hiệu suất của

phân kali trên đất phù sa Sông Hồng chỉ đạt 1,0 - 2,5 kg thóc/1 kg phân kali

(KCl), trong khi đó nếu trên đất bạc màu hay đất cát ven biển có thể đạt 5 - 7

kg thóc/1 kg KCl. Vì vậy, trên đất nghèo kali, bón cân đối đạm - kali có ý

nghĩa rất quan trọng [68].

Nghiên cứu của Vũ Hữu Yêm (1995) cho thấy hiệu suất phân kali cao

nhất trên đất bạc màu với mức bón 30 kg K2O/ha. Bón đến 120 kg K2O/ha thì

hiệu suất kali vẫn còn cho 4 - 6 kg thóc/1 kg K2O [72].

Theo Lê Hữu Cần (2010), trong điều kiện Vụ Xuân và vụ Mùa tại huyện

Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa với 3 giống lúa HD3, HD5 và HD9 thì mức bón

phân 100 kg N, 75 kg P2O5, 75 kg K2O là thích hợp nhất [10].

Tóm lại, mỗi nguyên tố dinh dưỡng đều có một vị trí quan trọng trong

đời sống của cây lúa. Tùy mùa vụ, tùy giai đoạn sinh trưởng, tùy loại đất và

phương pháp sử dụng mà tác dụng và hiệu quả của các nguyên tố này rất khác

nhau. Rất nhiều các kết quả nghiên cứu cho thấy: Hiệu quả của các nguyên tố

dinh dưỡng đối với cây lúa được phát huy cao nhất khi các nguyên tố này

được bón phối hợp với nhau theo một tỷ lệ thích hợp.

43

1.3. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu về thời vụ gieo, cấy đối

với cây lúa

1.3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết đến sinh trưởng cây lúa

Ruộng lúa luôn chịu sự tác động của các yếu tố khí tượng như nhiệt độ,

ẩm độ, ánh sáng và chế độ nước. Tuy nhiên, yếu tố nhiệt độ và ánh sáng có

ảnh hưởng đáng kể nhất, con người bằng các biện pháp kỹ thuật khó khắc

phục, nhất là đối với điều kiện khí hậu của Việt Nam. Ở cây lúa, nhiệt độ trung bình thích hợp cho sinh trưởng của cây trong khoảng từ 20 - 38oC. Tuy

nhiên, cây lúa rất mẫn cảm với điều kiện nhiệt độ thấp, nhất là giai đoạn làm đòng, trỗ bông. Thời kỳ này, nếu nhiệt độ nhỏ hơn 15oC rất dễ gây ra hiện tượng thui chột hoa và hạt lúa bị lép nhiều. Nhiệt độ trên 21oC thích hợp cho

giai đoạn làm đòng, phơi hoa và thụ phấn [55].

Vào lúc phân bào giảm nhiễm của tế bào mẹ hạt phấn, khi gặp nhiệt độ thấp dưới 20oC sẽ làm tăng tỷ lệ hạt lép (Satake 1969), hạt lép gây ra thường

do nhiệt độ thấp vào ban đêm quyết định. Nhiều kết quả cho thấy, các giống

lúa khác nhau chịu ảnh hưởng khác nhau khi gặp điều kiện nhiệt độ thấp [73].

Tác giả Yosida (1985) cho biết nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sinh

trưởng, phát triển của cây lúa. Nhiệt độ lạnh làm ảnh hưởng đến sức nảy

mầm, mạ ra lá chậm, mạ lùn, lá vàng, đỉnh bông bị thoái hóa, độ thoát cổ

bông kém, chậm ra hoa, tỷ lệ lép cao và chín không đều. Cây lúa rất mẫn cảm với nhiệt độ cao vào lúc trỗ bông, khi gặp nhiệt độ trên 35oC kéo dài hơn 1

giờ vào lúa nở hoa làm cho tỷ lệ hạt lép tăng rõ rệt [73].

Ánh sáng mặt trời có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống cây lúa và ở

những giai đoạn khác nhau nhu cầu về năng lượng ánh sáng cũng khác nhau.

Áng sáng thường ảnh hưởng đến cây lúa trên 2 mặt: cường độ ánh sáng ảnh

hưởng đến quang hợp, số giờ chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến sự phát triển,

ra hoa, kết quả của lúa sớm hay muộn. Nếu che bóng vào giai đoạn sinh trưởng

dinh dưỡng chỉ ảnh hưởng ít đến năng suất và các yếu tố năng suất nhưng che

bóng ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực có ảnh hưởng đáng kể đến số hạt và năng

suất hạt giảm rõ rệt do giảm tỷ lệ hạt chắc nếu che bóng ở thời kỳ chín [73].

44

Theo Yosida (1985) cho biết nếu muốn đạt 5 tấn thóc/ha cần khoảng 300 cal/cm2/ngày ở thời kỳ hình thành sản lượng và cần ít lượng bức xạ hơn ở

thời kỳ chín. Trong các giống lúa thì giống địa phương thường dễ mẫn cảm

với ánh sáng và có thể trỗ bông khi giai đoạn ngày dài ở mức độ thấp (thời

gian tới hạn của ngày dài từ 12,5 - 14 giờ). Tuy nhiên, hiện nay nhiều giống

lúa trồng thường không mẫn cảm với ánh sáng và có thể trỗ bông ở bất cứ vĩ

độ nào miễn là điều kiện nhiệt độ không bị hạn chế [55], [73].

Nước là yếu tố quan trọng trong đời sống cây lúa, chế độ nước có ảnh

hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất ruộng lúa. Thiếu nước ở

bất kỳ giai đoạn sinh trưởng nào cũng có thể làm giảm năng suất lúa, thiếu

nước làm cây có biểu hiện lá cuộn tròn lại, lá bị cháy, hạn chế đẻ nhánh, cây

thấp, chậm ra hoa, hạt lép và lửng [73]. Thiếu hụt nước vào giai đoạn sinh

trưởng dinh dưỡng có thể làm giảm chiều cao cây, số nhánh và diện tích lá

nhưng năng suất không bị ảnh hưởng nếu như nhu cầu nước được đáp ứng kịp

thời. Tuy nhiên, thiếu nước từ giai đoạn phân bào giảm nhiễm đến trỗ bông

(nhất là vào thời gian 11 ngày và 3 ngày trước trỗ bông) chỉ cần hạn 3 ngày đã

làm giảm năng suất rất nghiêm trọng và tỷ lệ hạt lép cao [73].

1.3.2. Nghiên cứu về mùa vụ gieo, cấy đối với cây lúa

Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng là “thành phần các giống và loài

cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một hệ sinh thái nông

nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có”

(Đào Thế Tuấn, 1984) [69]. Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng còn là một

trong những nội dung của hệ thống canh tác. Bố trí cơ cấu mùa vụ hợp lý là

biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái.

Zandstra và cs (1981) đã cho rằng, ở châu Á cuộc cách mạng xanh

giữa thế kỷ XX đã phát hiện và sử dụng thành công cơ cấu mùa vụ của các

giống lúa nước và lúa mì ngắn ngày, năng suất cao, giúp hình thành các cơ

cấu cây trồng tăng vụ, thâm canh trên các loại đất có nước tưới và cả đất

nhờ nước trời [120].

45

Ở Việt Nam, Nguyễn Duy Tính và cs (1995) đã nhận định rằng:

“Ruộng lúa nước là cơ sở văn minh Nông nghiệp sông Hồng”. Nghề trồng lúa

đã chuyển biến theo hướng chung là giống lúa, cơ cấu mùa vụ, tăng vụ, thâm

canh. Trước đây, ở Việt Nam mỗi năm chỉ trồng 2 vụ lúa chiêm và lúa mùa.

Đến đầu thập niên 70, Việt Nam đã thành công trong việc đưa lúa xuân thay

lúa chiêm. Cơ cấu mùa vụ lúa xuân - lúa mùa sớm - cây vụ đông đã được áp

dụng linh hoạt, mang lại nhiều lợi ích kinh tế rõ ràng cho người dân ở nhiều

địa phương trong cả nước [63].

Trong điều kiện khí hậu vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có nền nhiệt

độ khá cao, chế độ bức xạ thuận lợi cho sinh trưởng của cây lúa. Tuy nhiên,

vùng này cũng là nơi chịu rất nhiều ảnh hưởng của các cơn bão, tập trung từ

giữa tháng 9, tháng 10, tháng 11 đến cuối tháng 12 hàng năm. Trung bình mỗi

năm có từ 0,3 đến 1,7 cơn bão/ tháng. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của gió mùa

đông từ biển thổi vào nên cần bố trí thời vụ hợp lý nhằm tránh thời gian có

nền nhiệt độ (tháng 12 và tháng 1 có nhiệt độ tối thấp, tháng 5, tháng 6 có

nhiệt độ tối cao) không thích hợp trong thời gian cây lúa mẫn cảm với nhiệt

độ thấp hoặc quá cao.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, ngoài 2 vụ sản xuất lúa chính là vụ

Đông Xuân và Hè Thu. Trong điều kiện có hệ thống thuỷ lợi đảm bảo thì có

thể trồng thêm vụ Mùa (ở một số chân đất cao). Cần bố trí thời vụ sao cho thu

hoạch trước tháng 10 để tránh bão lụt vào cuối vụ.

46

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu nguồn vật liệu 9 giống lúa mới có thời

gian sinh trưởng ngắn, được thu thập từ các đơn vị nghiên cứu chọn tạo trong

nước và nhập nội để đưa vào đánh giá, tuyển chọn tại vùng Duyên hải Nam

Trung bộ gồm:

Bảng 2.1. Nguồn v t liệu các giống lúa mới ưa vào nghiên cứu

TT Tên giống Nguồn gốc Cơ quan tác giả

1 PY1 IR17494/Q5 Trung tâm Giống và KTCT tỉnh Phú Yên

2 PY2 ML49/IR50404 Trung tâm Giống và KTCT tỉnh Phú Yên

3 MT18cs OMCS96/KD18 Trung tâm KKN giống, SPCT MT

4 H229 HT1/Q5 Trung tâm KKN giống, SPCT MT

5 LTH134 Nhập nội từ Viện Cây lương thực và cây thực phẩm

Trung Quốc

6 ML54 IR59606/BB75 Trung tâm GCT tỉnh Bình Thuận

7 ML232 Chọn từ TH41 Trung tâm GCT tỉnh Bình Thuận

8 Q.Nam 6 Nhập nội từ Công ty CP Giống NLN Quảng Nam

Trung Quốc

9 P6đb Viện Cây lương thực, Cây thực phẩm

Đột biến từ P6 bằng Co60

10 KD18(đ/c) Nhập nội Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh

- Giống lúa mới đề tài xác định có triển vọng (MT18cs) được sử dụng

để nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác: Phân bón; mật độ gieo sạ

và thời vụ, trên đất phù sa không được bồi hàng năm tại Quảng Ngãi.

- Phân bón: các thí nghiệm nghiên cứu sử dụng các loại phân bón như

phân chuồng được ủ hoai mục trước khi bón; đạm: sử dụng đạm Urê có hàm

lượng N là 46%; lân: sử dụng phân lân Văn Điển có hàm lượng P2O5 là 15%;

kali: sử dụng phân kali clorua có hàm lượng K2O là 60%; vôi: sử dụng vôi bột

sản xuất tại địa phương.

47

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.1. Tuyển chọn giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất

và chất lượng khá, thích nghi với điều kiện sản xuất tại vùng Duyên hải

Nam Trung bộ

- Nghiên cứu đặc điểm nông học, khả năng sinh trưởng, phát triển của

một số giống lúa mới;

- Nghiên cứu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các

giống lúa mới;

- Nghiên cứu phản ứng của các giống với một số sâu bệnh hại lúa chính

trên đồng ruộng;

- Nghiên cứu tính thích nghi và độ ổn định năng suất của các giống lúa

mới trong điều kiện sinh thái vùng Duyên hải Nam Trung bộ;

- Nghiên cứu về chất lượng gạo và cơm của các giống lúa mới;

2.2.2. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật hoàn thiện quy trình thâm

canh giống lúa ngắn ngày được tuyển chọn trên đất phù sa không được bồi

hàng năm

- Nghiên cứu ảnh hưởng lượng giống gieo sạ và liều lượng bón đạm

đến sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu, các yếu tố cấu thành năng

suất và cho năng suất của giống lúa mới ngắn ngày MT18cs được tuyển chọn;

Phân tích hiệu quả kinh tế ở các công thức thí nghiệm;

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo sạ đến sinh trưởng, phát triển,

khả năng chống chịu và năng suất của giống lúa mới ngắn ngày MT18cs được

tuyển chọn.

2.2.3. Xây dựng mô hình hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh giống

lúa ngắn ngày được tuyển chọn tại vùng nghiên cứu

Xác định công thức kỹ thuật thâm canh (giống lúa mới thời gian sinh

trưởng cực ngắn ngày; thời vụ gieo sạ; lượng giống gieo sạ và liều lượng bón

đạm) phù hợp cho vùng nghiên cứu thông qua thử nghiệm diện rộng.

48

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.3.1.1. Thí nghiệm 1: Tuyển chọn giống lúa mới có thời gian sinh trư ng

ngắn, năng suất và chất lượng khá, thích nghi với iều kiện sản xuất tại vùng

Duyên hải Nam Trung bộ

- Thí nghiệm có 10 công thức, mỗi công thức là 1 giống lúa, được bố trí

theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại; Diện tích ô thí nghiệm là 10 m2 (5m x 2m) [49].

- Quy trình kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm ở các điểm nghiên cứu là: Cấy 1 dảnh với mật độ 50 khóm/m2; Lượng phân bón sử dụng tính cho 01ha là 5

tấn phân chuồng + 100 kg N + 80 kg P2O5 + 90 kg K2O; Thời vụ cấy được áp

dụng chung theo khung thời vụ của địa phương nơi bố trí thí nghiệm [49].

- Thí nghiệm được thực hiện liên tục trong 4 vụ (Đông Xuân 2011-2012,

Hè Thu 2012; Đông Xuân 2012-2013 và Hè Thu 2013); được bố trí tại 3 địa

điểm (Trại Giống cây trồng Nam Phước, tỉnh Quảng Nam; Trạm Khảo nghiệm

và Hậu kiểm giống cây trồng Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; Trại Giống cây Nông

nghiệp Hòa An, tỉnh Phú Yên) thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ.

2.3.1.2. Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hư ng các liều lượng bón ạm và

lượng giống gieo sạ trên nền phân chuồng, lân và kali, ến sinh trư ng, phát

triển, tình hình sâu bệnh hại và cho năng suất của giống lúa MT18cs mới

ược tuyển chọn

- Thí nghiệm nghiên cứu 2 yếu tố, bao gồm liều lượng bón đạm và

lượng giống gieo sạ trên nền phân chuồng, lân và kali, gồm có 16 công thức

được thiết kế như ở Bảng 2.2.

- Thí nghiệm được thiết kế, bố trí theo kiểu ô chính ô phụ (Split – Plot Design), 3 lần lặp lại, diện tích ô thí nghiệm 10m2 (2m x 5m). Liều lượng đạm

được bố trí trên ô chính, lượng giống gieo sạ được bố trí trên ô phụ [56].

- Quy trình kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm là: Mật độ sạ với lượng

hạt giống gieo 80 kg/ha; Thời vụ sạ được áp dụng theo khung thời vụ chỉ đạo

của địa phương (tỉnh Quảng Ngãi) nơi bố trí thí nghiệm.

49

- Thí nghiệm được thực hiện liên tục 2 vụ (Đông Xuân 2012 -2013 và Hè

Thu 2013), trên đất phù sa không được bồi hàng năm, có độ phì trung bình tại

Trạm Khảo nghiệm và Hậu kiểm giống cây trồng Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

Bảng 2.2. Công thức thí nghiệm liều lượng phân ạm và lượng giống gieo sạ

Công thức Lượng đạm (Kg N/ha) Lượng giống gieo (Kg thóc giống/ha)

N80: Bón 80 kg N

N100: Bón 100 kg N

N120: Bón 120 kg N

N140: Bón 140 kg N

M70: Sạ 70 kg giống M90: Sạ 90 kg giống M110: Sạ 110 kg giống M130: Sạ 130 kg giống M70: Sạ 70 kg giống M90: Sạ 90 kg giống M110: Sạ 110 kg giống M130: Sạ 130 kg giống M70: Sạ 70 kg giống M90: Sạ 90 kg giống M110: Sạ 110 kg giống M130: Sạ 130 kg giống M70: Sạ 70 kg giống M90: Sạ 90 kg giống M110: Sạ 110 kg giống M130: Sạ 130 kg giống

CT1 N80M70 CT2 N80M90 CT3 N80M110 CT4 N80 M130 CT5 N100M70 CT6 N100M90 CT7 N100M110 CT8 N100M130 CT9 N120M70 CT10 N120M90 CT11 N120M110 CT12 N120M130 CT13 N140M70 CT14 N140M90 CT15 N140M110 CT16 N140 M130 (Nền phân bón: 5 tấn phân chuồng + 80 kg P2O5 + 90 kg K2O và 300 kg vôi bột)

2.2.1.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu xác ịnh thời vụ gieo sạ thích hợp ối với

giống lúa MT18cs ược tuyển chọn

- Thí nghiệm gồm 5 công thức (5 thời vụ) khác nhau, mỗi công thức

cách nhau 07 ngày, trong cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu. Các công thức thí

nghiệm thời vụ gồm:

+ Vụ Đông Xuân: CT1 (gieo ngày 20/12); CT2 (gieo ngày 27/12); CT3

(gieo ngày 03/01); CT4 (gieo ngày 10/01); CT5 (gieo ngày 17/01).

+ Vụ Hè Thu: CT1 (gieo ngày 20/5); CT2 (gieo ngày 27/5); CT3 đ/c

(gieo ngày 03/6); CT4 (gieo ngày 10/6); CT5 (gieo ngày 17/6).

50

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), 3

lần lặp lại; diện tích ô thí nghiệm 20m2 (4m x 5 m) [56].

- Quy trình kỹ thuật áp dụng: Mật độ sạ với lượng giống gieo 80 kg hạt

giống/ha; Lượng phân bón sử dụng tính cho 01ha là 5 tấn P/c + 100 kg N + 80

kg P2O5 + 90 kg K2O và 300 kg vôi bột.

- Thí nghiệm được thực hiện liên tục 2 vụ (Đông Xuân 2012 -2013 và Hè

Thu 2013), trên đất phù sa không được bồi hàng năm, có độ phì trung bình tại

Trạm Khảo nghiệm và Hậu kiểm giống cây trồng Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

2.2.1.4. Thí nghiệm 4: Xây dựng mô hình thực nghiệm hoàn thiện quy trình kỹ

thu t thâm canh giống lúa mới MT18cs ược tuyển chọn

- Mô hình áp dụng kết quả nghiên nghiên cứu của đề đề xuất: Giống lúa

mới MT18cs có thời gian sinh trưởng cực ngắn và biện pháp kỹ thuật mới;

Biện pháp kỹ thuật mới gồm: Thời vụ gieo sạ, lượng hạt giống gieo sạ và

công thức phân bón.

- Xây dựng mô hình thực nghiệm được áp dụng theo phương pháp có

sự tham gia của nông dân (FPR) trồng lúa; bố trí theo kiểu ô lớn không lặp

lại, có đối chứng.

- Quy mô mỗi mô hình 05 ha, được thực hiện trong vụ Đông Xuân

2013- 2014 và Hè Thu 2014 tại 6 Trạm Giống cây trồng của các tỉnh: Quảng

Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên.

2.3.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá

- Các chỉ tiêu theo dõi, phương pháp đánh giá và thu thập số liệu được

áp dụng theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và

giá trị sử dụng giống lúa, QCVN 01- 55:2011/ BNNPTNT [49].

- Điều tra, đánh giá phản ứng của các công thức thí nghiệm với một số

đối tượng sâu bệnh hại chính trên thí nghiệm đồng ruộng được áp dụng theo

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây

trồng, QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT [48]. Các thí nghiệm nghiên cứu sau

khi đã điều tra, thu thập số liệu đánh giá tình hình nhiễm các đối tượng sâu

bệnh hại ở các công thức thí nghiệm có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để trừ

sâu, bệnh hại khi đến ngưỡng phòng trừ.

51

- Phương pháp đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng lúa, gạo: Xác định

tỷ lệ gạo lật áp dụng theo TCVN 8370-2010; Xác định tỷ lệ gạo nguyên, kích

thước hạt gạo và tỷ lệ gạo xát trắng áp dụng theo TCVN 8371:2010; Xác định

tỷ lệ hạt trắng trong, tỷ lệ trắng bạc và độ trắng bạc áp dụng theo TCVN 8372:

2010; Phân tích amylose áp dụng theo TCVN 5716-1993; Phân tích độ bền gel

theo TCVN 8369:2010; Xác định nhiệt độ hóa hồ qua độ phân hủy kiềm theo

TCVN 5715:1993; Phương pháp xác định hàm lương protein theo Bradford;

Phương pháp đánh giá chất lượng cơm cảm quan theo TCVN 8373:2010 [58],

[59], [60], [61], [62]..

2.3.2.1. Các thời kỳ sinh trư ng và phát triển:

- Thời gian đẻ nhánh: Tính từ khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh đầu tiên.

- Thời gian từ gieo đến trỗ: Xác định từ khi gieo đến khi có 10% số cây

có bông thoát khỏi bẹ lá dòng khoảng 5cm.

- Độ dài giai đoạn trỗ: Số ngày từ bắt đầu trỗ đến khi kết thúc trỗ bông

(được xác định từ khi có 10% số cây có bông khi có 80% số cây trỗ bông).

Đánh giá theo thang điểm 1, 5, 9: Điểm 1: có thời gian trỗ tập trung không

quá 3 ngày; điểm 5: có thời gian trỗ trung bình, từ 4-7 ngày; điểm 9: có thời

gian trỗ dài hơn 7 ngày.

- Thời gian sinh trưởng (TGST): Tính số ngày từ khi gieo đến khi 85%

số hạt trên bông chín.

2.3.2.2. Các chỉ tiêu về sinh trư ng:

- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến lá hoặc bông cao nhất (không

tính râu).

- Khả năng đẻ nhánh:

Tổng số nhánh: Đếm tổng số nhánh hiện có ở trên cây; Số nhánh hữu

hiệu: Đếm những nhánh thành bông; Tỷ lệ nhánh hữu hiệu: Số nhánh thành

bông x 100/tổng số nhánh hiện có trên cây.

- Độ tàn lá: Quan sát sự chuyển màu của lá và đếm số lá còn tươi trên

cây khi lúa đã chín.

52

- Kính thước lá: Chiều dài lá đo từ cổ lá đến đầu mút; chiều rộng được

đo ở chổ lớn nhất và diện tích được tính S= dài x rộng x 0,8

- Hàm lượng chất khô: Tiến hành nhổ cây ở mỗi thời kỳ theo dõi (5

cây/lần nhắc lại), rửa sạch đất ở rễ và cân trọng lượng tươi của cây. Sau đó

đem sấy khô ở nhiệt độ 1050C đến khi khối lượng không đổi, tiến hành cân để

tính hàm lượng chất khô.

- Chỉ số diện tích lá (m2 lá xanh/m2 đất) = m2 lá/cây x số cây/m2.

- Độ thoát cổ bông: Quan sát khả năng trỗ thoát cổ bông của quần thể.

Đánh giá theo thang điểm 1, 3, 5, 7, 9: Điểm 1: Thoát tốt; Điểm 3: Thoát

trung bình; Điểm 5: Thoát vừa đúng cổ bông; Điểm 7: Thoát một phần; Điểm

9: Không thoát được.

- Độ cứng cây: Quan sát tư thế của cây khi có gió lớn và trước khi thu

hoạch. Đánh giá điểm 1: Cứng. Cây không bị đổ; điểm 3: Cứng vừa. Hầu hết

cây nghiêng nhẹ; điểm 5: Trung bình. Hầu hết cây bị nghiêng; điểm 7: Yếu.

Hầu hết cây bị đổ rạp; điểm 9: Rất yếu, tất cả các cây bị đổ rạp.

- Số bông hữu hiệu/m2 (bông): Đếm số bông có ít nhất 10 hạt chắc của

một cây trên diện tích 1 m2 của các ô thí nghiệm.

- Số hạt/bông (hạt): Đếm tổng số hạt có trên bông của 5 cây/lần nhắc lại

rồi lấy giá trị trung bình.

- Tỷ lệ hạt lép (%) = (Số hạt lép/bông)/(tổng số hạt/bông) x 100.

- Khối lượng 1.000 hạt (g): Cân 2 lần mỗi lần 500 hạt ở độ ẩm 13%, sai

số giữa hai lần cân không vượt quá 2%.

- Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ/ha) = Số bông/m2 x Tổng số hạt/bông

x Tỷ lệ hạt chắc x Khối lượng 1.000 hạt (g) x 10- 4.

- Năng suất thực thu (NSTT): Gặt từng ô thí nghiệm của 3 lần nhắc lại,

phơi khô đạt đến độ ẩm 14%, quạt sạch, sau đó tính năng suất (đơn vị tính

tạ/ha). Thu hoạch khi có khoảng 85 đến 90% số hạt trên bông chín. Trước khi

thu hoạch, mỗi giống lấy mẫu 10 khóm để đánh giá các chỉ tiêu trong phòng.

53

2.3.2.3. Đánh giá tình hình sâu bệnh hại

- Sâu hại:

Sâu cuốn lá: Quan sát lá, cây bị hại. Tính tỷ lệ cây bị sâu ăn phần xanh

của lá hoặc lá bị cuốn thành ống. Đánh giá theo thang điểm 0,1,3,5,7,9: Điểm

0: không bị hại; điểm 1: 1-10% cây bị hại; điểm 3: 11-20% cây bị hại; điểm 5:

21-35% cây bị hại; điểm 7: 36-51% cây bị hại; điểm 9: trên 51% cây bị hại.

Sâu đục thân: Quan sát số dảnh chết hoặc bông bạc. Đánh giá theo

thang điểm 0,1,3,5,7,9: Điểm 0: không bị hại; điểm 1: 1-10% số dảnh chết

hoặc bông bạc; điểm 3: 11-20% số dảnh chết hoặc bông bạc; điểm 5: 21-30%

số dảnh chết hoặc bông bạc; điểm 7: 31-50% số dảnh chết hoặc bông bạc;

điểm 9: trên 51% số dảnh chết hoặc bông bạc.

Rầy nâu: Quan sát lá, cây bị hại gây héo và chết. Đánh giá theo thang

điểm 0,1,3,5,7,9: Điểm 0: Không bị hại; điểm 1: lá hơi biến vàng trên một số

cây; điểm 3: lá biến vàng bộ phận chưa bị cháy rầy; điểm 5: lá bị vàng rõ, cây

lùn và héo, ít hơn một nửa số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng; điểm 7:

hơn một nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, số cây còn lại lùn nặng; điểm 9: tất

cả cây bị chết.

- Bệnh hại:

Bệnh đạo ôn hại lá: Quan sát vết bệnh gây hại trên lá. Đánh giá theo

thang điểm 0,1,2,3,4,5,6,7,8,9: Điểm 0: không có vết bệnh; điểm 1: vết bệnh

màu nâu hình kim châm ở giữa, chưa xuất hiện vùng sản sinh bào tử; điểm 2:

vết bệnh nhỏ, tròn hoặc hơi dài, đường kính 1-2 mm, có viền nâu rõ rệt, hầu

hết lá dưới có vết bệnh; điểm 3: dạng vết bệnh như điểm ở 2, nhưng vết bệnh

xuất hiện nhiều ở các lá trên; điểm 4: vết bệnh điển hình cho các giống nhiễm,

dài 3 mm hoặc hơi dài, diện tích vết bệnh trên lá <4% diện tích lá; điểm 5: vết

bệnh điển hình: 4-10% diện tích lá; điểm 6: vết bệnh điển hình: 11-25% diện

tích lá; điểm 7: vết bệnh điển hình: 26-50% diện tích lá; điểm 8: vết bệnh điển

hình: 51-75% diện tích lá; điểm 9: hơn 75% diện tích vết bệnh trên lá.

Bệnh đạo ôn cổ bông: Quan sát vết bệnh gây hại xung quanh cổ bông.

Đánh giá theo thang điểm 0,1,3,5,7,9: Điểm 0: không có vết bệnh; điểm 1: vết

54

bệnh có trên vài cuống bông hoặc trên gié cấp 2; điểm 3: vết bệnh có trên vài

gié cấp 1 hoặc phần giữa của trục bông; điểm 5: vết bệnh bao quanh một phần

gốc bông hoặc phần thân rạ phía dưới trục bông; điểm 7: vết bệnh bao quanh

toàn cổ bông hoặc phần trục gần cổ bông, có hơn 30% hạt chắc; điểm 9: vết

bệnh bao quanh hoàn toàn cổ bông hoặc phần thân rạ cao nhất, hoặc phần trục

gần gốc bông, số hạt chắc ít hơn 30%.

Bệnh khô vằn: Quan sát độ cao tương đối của vết bệnh trên lá hoặc bẹ

lá (biểu thị bằng % so với chiều cao cây). Đánh giá theo thang điểm

0,1,3,5,7,9: Điểm 0: không có triệu chứng; điểm 1: vết bệnh thấp hơn 20%

chiều cao cây; điểm 3: vết bệnh 20-30% chiều cao cây; điểm 5: vết bệnh 31-

45% chiều cao cây; điểm 7: vết bệnh 46-65% chiều cao cây; điểm 9: vết bệnh

> 65% chiều cao cây.

Bệnh đốm nâu: Quan sát diện tích vết bệnh trên lá. Đánh giá theo thang

điểm 0,1,3,5,7,9: Điểm 0: không có vết bệnh; điểm 1: <4% diện tích vết bệnh

trên lá; điểm 3: 4-10% diện tích vết bệnh trên lá; điểm 5: 11-25% diện tích

vết bệnh trên lá; điểm 7: 26-75% diện tích vết bệnh trên lá; điểm 9: >76%

diện tích vết bệnh trên lá.

2.3.2.4. Phân tích chỉ số thích nghi và ộ ổn ịnh năng suất của các giống

các môi trường thí nghiệm

- Phân tích theo mô hình ổn định, thích nghi của Eberhard và Russell

(1966): Yij = µi + biIj + δij . Trong đó: Yij: năng suất biểu hiện kiểu gen thứ i

(ith) ở môi trường thứ j (jth); µ: năng suất trung bình của tất cả các kiểu gen

trên tất cả môi trường; bi: hệ số hồi qui của kiểu gen ith theo chỉ số môi trường;

δij: độ lệch từ hồi quy kiểu gen ith ở môi trường jth; Ij: chỉ số môi trường.

Hệ số hồi qui bi đo lường phản ứng của kiểu gen theo sự thay đổi môi

trường. Sự thích nghi, ổn định của từng kiểu gen qua các môi trường được mô

phỏng bằng phương trình hồi qui: Yij = Xi + bi Ij.

Từ đó, năng suất của các giống có thể dự đoán theo phương trình hồi quy: Y = Xi + bi Ij + S2di. Trong đó: Xi: năng suất trung bình của giống qua

các môi trường.

55

Hệ số hồi quy bi được tính theo công thức: bi =

Trong đó: Ij =

G: Số giống; L: Số điểm thí nghiệm

Chỉ số ổn định được xác định theo công thức:

S2di = ;

Trong đó: Se2: trung bình phương sai của kiểu gen trên tất cả môi trường

r: số lần lặp lại của một kiểu gen trên một môi trường.

Chỉ số thích nghi (bi) của giống: Nếu bi = 1 biểu thị tính thích nghi

rộng của giống; Nếu bi <1 biểu thị giống thích nghi theo điều kiện môi trường

bất lợi; Nếu bi >1 biểu thị tính thích nghi của giống theo điều kiện môi trường

thuận lợi.

Chỉ số ổn định S2di của giống: Chỉ số ổn định này có xu hướng tiến đến 0, nếu: S2di = 0 được xem là ổn định; S2di ≠ 0 thì không ổn định; S2di >0 có ý

nghĩa, giống sẽ có năng suất không ổn định. Không chấp giả thuyết về tương

tác G x E tuyến tính.

2.3.2.5. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý hóa tính ất

Mẫu đất được lấy ở tầng 0- 20 cm trước và sau thí nghiệm (3 điểm/ lần

nhắc lại), phơi khô trong không khí và phân tích các chỉ tiêu sau:

OM (mùn): Phương pháp Tiurin; pH: Đo bằng pH metter; Đạm tổng số:

Phương pháp Kjeldahl; Lân tổng số: Phương pháp so màu trên quang phổ kế;

Lân dễ tiêu: Phương pháp Oniani; Kali tổng số và dễ tiêu: Phương pháp

quang kế ngọn lửa.

2.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Các số liệu thu được trong quá trình thí nghiệm được tổng hợp và xử lý

thống kê theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) và theo chương

trình Statistix 9.0, phân tích tương quan hồi quy theo chương trình EXCEL.

di); chỉ số thích nghi (bi) thể hiện mức

- Đánh giá các chỉ số ổn định (S2

độ ổn định, thích nghi và mức độ quan hệ giữa các kiểu gen thí nghiệm và

môi trường canh tác của giống bằng phần mềm thống kê IRRISTAT 5.0.

56

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả nghiên cứu tuyển chọn giống lúa mới có thời gian sinh

trưởng ngắn, năng suất và chất lượng khá, thích nghi với điều kiện sản

xuất tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ

Đề tài đã tập trung nghiên cứu trên nguồn vật liệu gồm 9 giống lúa mới

được thu thập từ các nguồn khác nhau và lấy giống Khang dân 18 (KD18)

làm đối chứng. Thí nghiệm được thực hiện qua 4 vụ liên tục từ vụ: Đông

Xuân 2011- 20012; Hè Thu 2012; Đông Xuân 2012- 2013 và Hè Thu 2013 tại

3 điểm ở vùng Duyên hải Nam Trung bộ là: Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú

Yên. Kết quả nghiên cứu được tổng hợp, phân tích và trình bày như sau:

3.1.1. Một số đặc điểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm

Kết quả phân tích và tổng hợp số liệu trung bình của 2 vụ Đông Xuân

và 2 vụ Hè Thu tại 3 điểm thí nghiệm về một số đặc điểm nông sinh học của

các giống lúa tham gia thí nghiệm được trình bày ở Bảng 3.1.

Kết quả đánh giá cho thấy: các giống lúa thí nghiệm đều thuộc nhóm

ngắn ngày, thời gian sinh trưởng (TGST) trong vụ Đông Xuân dao động từ

90 - 115 ngày và vụ Hè Thu dao động từ 82 - 102 ngày. Trong đó 3 giống

MT18cs, P6ĐB và H229 có TGST ngắn nhất (từ 82 - 94 ngày) trong vụ Hè

Thu; ở vụ Đông Xuân có TGST của các giống dài hơn vụ Hè Thu từ 8 - 13

ngày, riêng giống LTH134 có TGST tương đương giống đối chứng (115

ngày), các giống khác TGST ngắn hơn giống đối chứng từ 3 - 25 ngày.

Chiều cao cây của một giống lúa là nhân tố quan trọng hình thành nên

cấu trúc kiểu cây, phần lớn do đặc tính di truyền của giống quyết định. Ngoài

ra, nó còn chịu tác động bởi các yếu tố khác như thời tiết, đất đai, mật độ, chế

độ dinh dưỡng và chăm sóc... Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.1 cho thấy hầu hết

các giống lúa thí nghiệm có chiều cao cây trung bình; vụ Đông Xuân chiều

cao cây của các giống thấp hơn vụ Hè Thu, trong đó vụ Hè Thu dao động từ

86,1- 103,9 cm, vụ Đông Xuân từ 80,1 - 97,9 cm. Giống ML232 có chiều cao

cây tương đương giống đối chứng.

57

Bảng 3.1. Một số ặc iểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm

(Số liệu trung bình của 2 vụ ĐX 2011- 20012; ĐX 2012- 2013

và 2 vụ HT 2012; HT 2013)

Chiều cao Số nhánh Diện tích TGST Số lá/cây cây hữu hiệu lá đòng (ngày) (lá) Tên giống (cm) (nhánh/cây) (cm2)

ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT

PY1 107 99 80,1 89,6 6,5 13,5 13,2 24,3 29,3 6,2

PY2 107 99 84,0 93,4 6,2 13,5 13,2 23,6 25,5 6,1

MT18cs 90 82 83,5 96,0 6,2 11,6 11,2 28,1 26,0 6,1

H229 99 94 90,1 102,1 6,4 12,5 12,2 31,6 33,3 6,2

LTH134 115 102 89,3 103,1 7,0 12,7 12,3 21,4 23,0 6,9

ML54 110 100 87,2 99,0 6,5 12,9 12,5 27,4 33,1 6,3

ML232 112 101 97,9 103,9 6,8 13,0 12,9 32,8 31,0 6,7

Q.Nam6 111 102 88,0 100,0 6,5 12,9 12,8 23,5 27,7 5,7

P6ĐB 94 85 82,2 86,1 6,0 11,2 11,1 26,5 27,1 5,9

KD18(đ/c) 115 104 98,8 104,4 6,2 13,5 13,2 28,0 30,6 5,9

Nhánh hữu hiệu là nhánh có khả năng hình thành bông, là một trong

những yếu tố quyết định đến năng suất. Trên cây lúa thông thường chỉ có

những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lá nhiều, điều kiện dinh dưỡng

thuận lợi thì dễ hình thành nhánh hữu hiệu; ngược lại, những nhánh đẻ muộn,

thời gian sinh trưởng ngắn, số lá ít thường trở thành nhánh vô hiệu. Khả năng

đẻ nhánh của các giống khá, đạt 6,0- 7,0 dảnh hữu hiệu/khóm trong vụ Đông

Xuân và 5,7 - 6,9 dảnh hữu hiệu/khóm trong vụ Hè Thu; giống LTH134 có số

nhánh hữu hiệu/khóm đạt cao nhất ở cả hai vụ (6,9 - 7,0 nhánh/cây).

Số lá trên thân chính là một trong những tính trạng di truyền ít bị biến

động và có liên quan đến thời gian sinh trưởng của từng giống lúa. Những

giống khác nhau có tổng số lá trên thân chính cũng khác nhau. Các giống dài

ngày thường có tổng số lá trên thân chính nhiều hơn giống ngắn ngày. Trong

58

điều kiện thực tế, số lá cũng có thể bị biến động bởi các yếu tố ngoại cảnh

như điều kiện thời tiết khí hậu, chế độ phân bón và các điều kiện chăm sóc

khác. Tổng số lá trên thân chính của mỗi giống ở trong vụ Đông Xuân nhiều

hơn vụ ở Hè Thu nhưng chênh lệch nhau không nhiều. Ở vụ Đông Xuân các

giống lúa thí nghiệm có tổng số lá trên thân chính dao động từ 11,2 - 13,5

lá/cây, trong đó các giống P6ĐB và MT18cs có số lá/cây thấp nhất (11,2-

11,6 lá/cây). Ở vụ Hè Thu các giống có số lá dao động từ 11,1- 13,2 lá/cây,

trong đó giống P6đb và MT18cs có số lá/cây thấp nhất (11,1- 11,2 lá/cây).

Diện tích lá đòng: Lá đòng có vai trò quan trọng và liên quan mật thiết

đến năng suất thông qua khối lượng hạt. Theo Shuoichi Ysohida (1981),

quang hợp thuần của bộ lá chiếm đến 94% tổng số lá quang hợp và lá đòng có

quang hợp thuần cao nhất trên một đơn vị diện tích lá. Cùng với hai lá kề

dưới, lá đòng chuyển hầu hết các chất đồng hóa được về cho hạt lúa. Diện tích

lá đòng lớn và khả năng quang hợp, khả năng tích lũy chất khô cao, sẽ dễ đạt

năng suất cao. Lá đòng đứng, có bản lá to, dài, tạo khả năng sử dụng được

nhiều ánh sáng mặt trời là kiểu hình lý tưởng nhất cho năng suất cao. Nếu cắt

bỏ lá đòng thì tỉ lệ hạt lép chiếm 40 - 50 % và khối lượng chất khô cũng giảm

50%. Đánh giá chỉ tiêu diện tích lá đòng cho thấy: trong vụ Hè Thu, giống có diện tích lá đòng lớn nhất là H229 (33,3 cm2), thấp nhất là LTH134 (23,0 cm2); trong vụ Đông Xuân, hầu hết các giống có diện tích lá đòng thấp hơn vụ

Hè Thu. Riêng hai giống MT18cs và ML232 có diện tích lá đòng ở vụ Đông

Xuân cao hơn vụ Hè Thu nhưng không đáng kể.

3.1.2. Phản ứng của các giống lúa thí nghiệm với một số loại sâu bệnh hại

Đánh giá phản ứng với các loại sâu bệnh hại chính của các giống lúa thí

nghiệm trong điều kiện đồng ruộng, qua 2 vụ Đông Xuân và 2 vụ Hè Thu tại

3 điểm thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 3.2 cho thấy: Các giống nhiễm nhẹ

sâu cuốn lá (điểm 1-3) và rầy nâu (điểm 0-3); trong đó giống MT18cs, PY2,

LTH134 nhiễm nhẹ sâu cuốn lá và rầy nâu hơn các giống khác, giống H229

nhiễm sâu hại nặng nhất trong các giống (nhiễm rầy nâu điểm 3 ở vụ Hè Thu

và sâu cuốn lá điểm 3 ở vụ Đông Xuân).

59

Bảng 3.2. Tình hình sâu bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm

(Số liệu trung bình của 2 vụ ĐX 2011- 20012; ĐX 2012- 2013

và 2 vụ HT 2012; HT 2013)

Sâu cuốn Lá (điểm) Rầy nâu (điểm) Khô vằn (điểm) Đạo ôn lá (điểm) Đạo ôn cổ bông (điểm) Tên giống ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT

PY1 PY2 MT18cs H229 LTH134 ML54 ML232 Q.Nam6 P6ĐB KD18(đ/c) 1-3 1 0-1 1 1 1 1 1 1 1 3 1 1 3 1 3 3 3 3 3 0 0 0 0-1 0 0 0 0 0 0 1 1 1 3 1 1 1 1 1 1 0-1 0-1 0-1 0-1 0-1 0-1 0-1 0-1 0-1 0-1 1 1 1 3 1 1 1 3 1 1 3 -5 1-3 1 1 -3 1 1 1-2 1 1 2 -3 1 1 1 1 3 1 3 1 1 1 1 1 0-1 1 1 1 1 1 1 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0

Mức độ nhiễm bệnh khô vằn của các giống lúa tham gia thí nghiệm ở

vụ Đông Xuân nhẹ hơn vụ Hè Thu; giống H229 và Q.Nam 6 nhiễm bệnh khô

vằn ở vụ Hè Thu nặng hơn so với các giống khác (điểm 3).

Trong vụ Đông Xuân, giống PY1, PY2 và LTH134 nhiễm đạo ôn lá

nặng hơn các giống khác (điểm 3-5); các giống đều nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn cổ

bông ở cả vụ Đông Xuân và Hè Thu (điểm 0-1).

3.1.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm

Năng suất lúa được tạo thành từ các yếu tố: số bông trên đơn vị diện

tích, số hạt chắc trên bông và khối lượng 1000 hạt. Các yếu tố này được hình

thành trong thời gian khác nhau với những quy luật khác nhau song chúng lại

có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, để đạt năng suất cao cần có cơ

cấu các yếu tố cấu thành năng suất hợp lý.

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã thu thập phân tích thống kê số liệu về

các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các giống lúa thí

nghiệm qua 4 vụ tại 3 điểm nghiên cứu được trình bày ở Bảng 3.3.

60

Bảng 3.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các

giống lúa thí nghiệm

(Số liệu trung bình của 2 vụ ĐX 2011- 20012; ĐX 2012- 2013

và 2 vụ HT 2012; HT 2013)

Số hạt Số Tỷ lệ lép KL 1.000 NSLT chắc/bông bông/m2 (%) hạt (g) (tạ/ha) Tên giống (hạt)

ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT

PY1 328,3 324,1 107,2 98,4 16,3 21,4 24,9 24,1 87,6 76,9

PY2 320,5 297,5 110,2 101,2 18,1 15,1 24,8 24,0 87,6 72,3

MT18cs 314,3 320,5 118,7 105,3 14,8 13,2 22,2 21,5 82,8 72,6

H229 327,7 310,5 100,9 96,4 29,1 23,8 22,9 22,1 75,7 66,2

LTH134 360,3 345,7 119,0 118,0 25,5 17,9 17,3 17,3 74,2 70,6

ML54 329,3 316,5 104,4 101,4 12,1 11,0 25,3 24,8 87,0 79,6

ML232 322,3 320,9 93,2 87,6 26,6 18,1 30,6 30,2 91,9 84,9

Q.Nam6 305,3 298,5 106,5 90,1 27,0 21,4 25,5 24,9 82,9 67,0

P6ĐB 310,5 310,0 78,5 75,3 18,3 17,5 26,4 26,5 64,3 61,9

KD18(đ/c) 313,7 285,7 123,5 112,6 27,2 25,1 20,5 20,3 79,4 65,3

Kết quả số liệu ở Bảng 3.3 cho thấy: Số bông/m2 của các giống lúa thí nghiệm trong vụ Đông Xuân dao động từ 305,3- 360,3 bông/m2, trong đó giống LTH134 có số bông/m2 cao nhất (360,3 bông/m2), giống Q.Nam 6 có số bông/m2 thấp nhất (305,3 bông/m2); vụ HT tất cả các giống thí nghiệm đều có số bông/m2 cao hơn giống đối chứng KD18, trong đó cao nhất là giống LTH134 (345,7 bông/m2).

Trong vụ Đông Xuân, tất cả các giống thí nghiệm đều có số hạt

chắc/bông thấp hơn giống đối chứng KD18 (123,5 hạt/bông) và thấp nhất là

giống P6ĐB (75,3 hạt/bông), các giống còn lại có số hạt/bông dao động từ

93,2 - 119,0 hạt/bông. Vụ Hè Thu, các giống có số hạt chắc trên bông từ 75,3

- 118,0 hạt/bông, đạt cao nhất là giống LTH34 và thấp nhất là giống P6ĐB.

61

Tỷ lệ lép các giống lúa thí nghiệm tương đối cao trong vụ Đông Xuân,

biến động từ 12,1- 29,1%, trong đó giống ML54 có tỷ lệ lép thấp nhất

(12,1%) và cao nhất là giống H229 (29,1%). Vụ Hè Thu các giống có tỷ lệ lép

từ 11,0 - 23,8%, cao nhất là giống H229 và thấp nhất là giống ML54.

Khối lượng 1.000 hạt của các giống thí nghiệm giữa vụ Đông Xuân và vụ

Hè Thu chênh lệch nhau không lớn, biến động từ 17,3 - 30,6 gam; các giống có

khối lượng 1.000 hạt tương đối cao là: ML232 (30,2 -30,6 gam), P6ĐB (26,4 -

26,5 gam); giống có khối lượng 1.000 hạt thấp nhất là LTH134 (17,3 gam); các

giống còn lại có khối lượng 1.000 hạt ở mức trung bình (22 - 25 gam).

Năng suất lý thuyết các giống lúa thí nghiệm ở vụ Đông Xuân dao động

từ 64,3 - 91,9 tạ/ha, trong đó các giống đạt năng suất lý thuyết cao, cao hơn

giống đối chứng KD18 (79,4 tạ/ha) gồm: ML232 (91,9 tạ/ha), PY1 và PY2

(87,6 tạ/ha), ML54 (87,0 tạ/ha), Q.Nam 6 (82,9 tạ/ha) và MT18cs (82,8

tạ/ha); các giống khác có năng suất lý thuyết thấp hơn giống đối chứng KD18.

Vụ Hè Thu hầu hết các giống thí nghiệm đều có năng suất cao (từ 66,2- 84,9

tạ/ha), cao hơn giống đối chứng KD18 (65,3 tạ/ha). Riêng giống P6ĐB có

năng suất lý thuyết thấp nhất (61,9 tạ/ha), thấp hơn giống đối chứng.

Như vậy qua nghiên cứu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

lý thuyết của các giống thí nghiệm nhận thấy: Hầu hết các giống đều có số bông trên một đơn vị diện tích (bông/m2), số hạt chắc trên bông và năng suất

lý thuyết ở trong vụ Đông Xuân đều cao hơn trong vụ Hè Thu. Khối lượng

1.000 hạt của giống ở vụ Đông Xuân và Hè Thu chênh lệch nhau không đáng

kể. Tỷ lệ hạt lép của giống ở vụ Đông Xuân cao hơn ở vụ Hè Thu.

Kết quả đánh giá năng suất thực thu các giống lúa ở các điểm thí

nghiệm trong vụ Đông Xuân 2011-2012 và vụ Đông Xuân 2012-2013 thể

hiện ở Bảng 3.4 và Hình 3.1 và Hình 3.2.

Kết quả đánh giá cho thấy:

Tại Quảng Nam: Năng suất các giống khảo nghiệm qua 2 vụ Đông

Xuân dao động từ 48,0 - 72,7 tạ/ha. Trong đó giống H229 có năng suất đạt

62

72,7 tạ/ha (vụ ĐX 2011-2012), giống ML54 năng suất đạt 71,5 tạ/ha (vụ ĐX

2012-2013) cao hơn giống đối chứng có ý nghĩa về mặt thống kê; các giống

PY1, ML232, LTH134 và MT18cs có năng suất thực thu khá (57,4- 66,4

tạ/ha) ở cả hai vụ thí nghiệm, tương đương với giống đối chứng KD18 (60,6-

62,2 tạ/ha). Giống P6ĐB có năng suất thấp (48,0-51,5 tạ/ha), thấp hơn có ý

nghĩa về mặt thống kê so với đối chứng KD18 qua 2 vụ thí nghiệm.

Bảng 3.4. Năng suất thực thu của các giống lúa các iểm thí nghiệm

Quảng Nam

Quảng Ngãi

Phú Yên

Vượt

Trung

đ/c

Tên giống

ĐX

ĐX

ĐX

ĐX

ĐX

ĐX

bình

(%)

2012

2013

2012

2013

2012

2013

8,9

PY1

62,3b

66,4ab

78,2a

67,4a

67,4a 66,7ab

68,1

4,6

PY2

69,3ab

57,4cde

75,6ab

68,0a

54,4c 67,7ab

65,4

-0,3

MT18cs

65,1ab 61,8bcd

67,5bcd 61,8ab 57,1bc 60,7bc

62,3

-1,5

H229

72,7a

70,0ab

71,1abc 55,7bc 44,3d 55,7cd

61,6

-0,1

LTH134

61,9b 63,3abcd 70,3abcd 62,0ab 55,7bc 61,3bc

62,4

ML54

65,6ab

71,5a

72,5abc

69,0a

74,6a

70,0a

70,5

12,9

ML232

64,3ab

65,5abc 69,6abcd 63,4a 65,2ab 67,6ab

65,9

5,5

Q.Nam 6

68,4ab

56,6de

66,6cd

68,9a

43,9d

58,3c

60,5

-3,3

P6ĐB

48,0c

51,5e

62,3d

54,4c 48,0cd 50,3d

52,4

-16,1

KD18(đ/c) 60,6b

62,2bcd

65,4cd

62,6ab 56,4bc 66,3ab

62,3

trong vụ ĐX 2011- 2012 và ĐX 2012- 2013 (tạ/ha)

-

CV(%)

8,96

7,66

7,22

6,62

9,74

6,97

-

-

9,72

8,16

8,60

7,12

9,40

7,41

-

-

LSD0,05

Ghi chú: a, b, c, d, e chỉ ra các công thức có cùng kí tự trong một cột

không có sự sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

Tại Quảng Ngãi: Năng suất các giống khảo nghiệm dao động từ 54,4 -

78,2 tạ/ha. Trong đó, giống PY1 và PY2 có năng suất cao (74,6-78,2 tạ/ha),

cao hơn có ý nghĩa về mặt thống kê so với giống đối chứng ở vụ Đông Xuân

2012-2013. Giống P6ĐB có năng suất thấp (54,4 tạ/ha), thấp hơn giống đối

chứng có ý nghĩa về mặt thống kê ở vụ Đông Xuân 2012-2013. Các giống

63

khác có năng suất trung bình không có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê

qua 2 vụ thí nghiệm so với giống đối chứng KD18 (62,6- 65,4 tạ/ha).

Tại Phú Yên: Năng suất các giống qua 2 vụ thí nghiệm dao động từ

43,9 - 74,6 tạ/ha. Trong đó, năng suất ở vụ Đông Xuân 2011- 2012 của giống

ML54 (74,6 tạ/ha) và PY1 (67,4 tạ/ha), cao hơn giống đối chứng có ý nghĩa

về mặt thống kê. Các giống MT18cs, LTH134, ML232 và PY2 có năng suất

qua 2 vụ thí nghiệm tương đương giống đối chứng KD18 (56,4- 66,3 tạ/ha).

Các giống khác có năng suất thấp hơn đối chứng, có ý nghĩa về mặt thống kê.

Hình 3.1. Biểu ồ năng suất các giống lúa thí nghiệm vụ ĐX2011-2012

Hình 3.2. Biểu ồ năng suất các giống lúa thí nghiệm vụ ĐX2012-2013

64

Như vậy qua 2 vụ Đông Xuân tại 3 điểm thí nghiệm năng suất trung

bình của các giống dao động từ 52,4 - 70,5 tạ/ha. Cao nhất là giống ML54 đạt

70,5 tạ/ha vượt 12,9% so với đối chứng, tiếp đến là giống PY2, ML232 và

PY1 năng suất đạt từ 65,4 - 68,1 tạ/ha, tăng 4,6 - 8,9% so với đối chứng.

Giống có năng suất thấp nhất là P6ĐB (52,4 tạ/ha), thấp hơn giống đối chứng

KD18 là 16,1%.

Kết quả đánh giá năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm vụ

Hè Thu 2012 và vụ Hè Thu 2013 qua các điểm thí nghiệm được trình bày ở

Bảng 3.5 và Hình 3.3, Hình 3.4.

Bảng 3.5. Năng suất thực thu của các giống lúa các iểmthí nghiệm

Quảng Nam

Quảng Ngãi

Phú Yên

Vượt

Tên

Trung

đ/c

HT

HT

HT

HT

HT

HT

giống

bình

(%)

2012

2013

2012

2013

2012

2013

PY1

63,9ab

65,3a

68,3a 74,7ab 62,9ab

63,9b

66,5

10,7

PY2

50,4d

58,4bc

64,8a 65,5cd

67,2a

65,3b

61,9

3,1

MT18cs

64,3ab

63,8ab

65,5a 66,1cd 59,7abc 65,7b

64,2

6,8

H229

54,4cd

58,9abc 59,0ab 60,1de

43,3e

61,3b

56,2

-6,5

LTH134

58,7bc

63,3ab

62,7ab 64,7cd 59,7abc 61,5b

61,8

2,8

ML54

61,3abc 59,1abc

66,4a 69,0bc 57,8bcd 66,3b

63,3

5,4

ML232

67,4a

59,1abc

69,5a

77,6a

63,5ab

77,1a

69,0

14,9

Q.Nam 6

64,1ab

65,7a

68,7a 66,3cd 53,9cd

63,0b

63,6

5,9

P6ĐB

50,7d

49,6d

53,6b

54,1e

51,0de

52,4c

51,9

-13,6

KD18 (đ/c) 57,2bcd

56,4c

61,1ab 62,9cd 57,6bcd 65,3b

60,1

-

CV(%)

7,31

6,58

9,96

5,88

8,60

5,83

7,37

6,78

10,85

6,72

8,43

6,42

LSD0,05

trong vụ HT 2012 và HT 2013 (tạ/ha)

Ghi chú: a, b, c, d, e chỉ ra các công thức có cùng kí tự trong một cột

không có sự sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

Kết quả đánh giá cho thấy:

Tại Quảng Nam: Năng suất các giống thí nghiệm qua 2 vụ Hè Thu dao

động từ 49,6 - 67,4 tạ/ha. Trong đó ở vụ Hè Thu 2012 giống ML232 có năng

65

suất đạt cao nhất (67,4 tạ/ha), ở vụ Hè Thu 2013 các giống PY1, MT18cs,

LTH134 và QNam 6 có năng suất cao (63,3- 65,7 tạ/ha), cao hơn giống đối

chứng KD18 (56,4- 57,2 tạ/ha) có ý nghĩa về mặt thống kê ở cả 2 vụ thí

nghiệm; Các giống khác năng suất không có sự sai khác có ý nghĩa về mặt

thống kê so với đối chứng; riêng giống P6ĐB có năng suất thấp nhất ở cả 2 vụ

thí nghiệm và thấp hơn giống đối chứng có ý nghĩa về mặt thống kê.

Tại Quảng Ngãi: vụ Hè Thu 2012 các giống thí nghiệm có năng suất

dao động từ 53,6- 69,5 tạ/ha, so với đối chứng KD18 (61,1 tạ/ha) không có sự

sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê. Vụ Hè Thu 2013 năng suất giống PY1

(74,7 tạ/ha), ML232 (77,6 tạ/ha), cao hơn giống đối chứng KD18 (62,9 tạ/ha)

ở mức có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%. Giống MT18cs, PY2, ML54 và LTH134

có năng suất cao hơn giống đối chứng không có ý nghĩa về mặt thống kê.

Giống P6 ĐB có năng suất thấp nhất (54,1 tạ/ha), thấp hơn giống đối chứng

có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%.

Tại Phú Yên: Năng suất các giống thí nghiệm qua 2 vụ Hè Thu dao

động từ 43,3 - 77,1 tạ/ha. Ở vụ Hè Thu 2012 giống PY2 đạt năng suất cao

nhất (67,2 tạ/ha), giống H229 có năng suất thấp nhất (43,3 tạ/ha) và sai khác

có ý nghĩa về mặt thống kê so với đối chứng. Các giống khác năng suất không

có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê so với đối chứng KD18 (57,6

tạ/ha). Ở vụ Hè Thu 2013 giống ML232 có năng suất cao nhất (77,1 tạ/ha),

giống P6ĐB có năng suất thấp nhất (52,4 tạ/ha) và có sự sai khác có ý nghĩa

về mặt thống kê so với đối chứng KD18 (65,3 tạ/ha). Các giống khác có năng

suất tương đương đối chứng.

Như vậy qua 2 vụ Hè Thu tại 3 điểm thí nghiệm năng suất trung bình

của các giống dao động từ 51,9 - 69,0 tạ/ha. Cao nhất là giống ML233 đạt

69,0 tạ/ha vượt 14,9% so với đối chứng, tiếp đến là giống PY1, MT18cs,

ML54, Q.Nam 6, PY2 và LTH134, năng suất đạt từ 61,8 - 66,5 tạ/ha, cao hơn

2,8 - 10,7% so với đối chứng. Giống có năng suất thấp nhất là P6ĐB (51,9

tạ/ha), thấp hơn giống đối chứng KD18 là 13,6%.

66

Hình 3.3. Biểu ồ năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ HT2012

Hình 3.4. Biểu ồ năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ HT2013

3.1.4. Kết quả đánh giá tính thích nghi và độ ổn định về năng suất của các

giống lúa thí nghiệm tại vùng nghiên cứu

Tương tác kiểu gen với môi trường và độ ổn định về năng suất của các

giống: Đặc điểm và tính trạng của giống được quy định bởi kiểu gen, tuy

nhiên các tính trạng số lượng tương tác và chịu tác động bởi môi trường khi

biểu hiện ra kiểu hình có sự biến động mạnh. Một giống có các tính trạng số

lượng ít chịu tác động của môi trường có thể cho thấy nó có khả năng thích

nghi trong phạm vi biến động rộng của môi trường.

67

Tương tác kiểu gen (Genotype) và môi trường (Environment) là hiện

tượng hai hay nhiều kiểu gen phản ứng khác nhau với sự thay đổi của môi

trường. Tương tác kiểu gen - môi trường (G x E) biểu thị một thành phần của

kiểu hình có thể làm sai lệch giá trị ước lượng của các thành phần khác.

Tương tác kiểu gen với môi trường tồn tại khi các kiểu gen phản ứng khác

nhau với sự thay đổi của của điều kiện môi môi trường (năm, vụ gieo trồng,

địa điểm, mật độ...). Sự khác nhau thể hiện ở chiều phản ứng hoặc mức độ

phản ứng hoặc cả hai. Nói cách khác một giống có năng suất cao trong môi

trường này so với giống kia nhưng lại thấp hơn trong môi trường khác. Vì

vậy, tính toán mức độ tương tác rất quan trọng trong việc xác định chiến lược

chọn giống và đưa ra những giống có khả năng thích nghi rộng với các điều

kiện môi trường gieo trồng khác nhau. Trong giai đoạn khảo nghiệm các

giống triển vọng, khảo nghiệm nhiều vụ, nhiều điểm là rất cần thiết để chọn

các giống tốt nhất, ổn định nhất.

Sự ổn định của giống là khả năng thể hiện tương đối bền vững các giá

trị trung bình của một giống trong các điều kiện khác nhau. Việc tạo ra giống

có năng suất cao hơn giá trị trung bình tổng số là mục tiêu của các nhà chọn

giống. Do đó, một giống được coi là ổn định là giống lý tưởng, nó phải có chỉ

số độ lệch của đường hồi quy S2di gần đến 0, hệ số hồi quy (bi) gần bằng 1 và

P không đáng kể (không có dấu *).

Đánh giá tính ổn định, thích nghi của các giống nghiên cứu qua các môi

trường thí nghiệm sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính của

Eberhart và Russell (1996) thông qua phần mềm thống kê sinh học của Nguyễn

Đình Hiền. Kết quả được trình bày tại các Bảng 3.6, Bảng 3.7 và Bảng 3.8.

3.1.4.1. Độ ổn ịnh về năng suất của các giống trong vụ Đông Xuân

Đánh giá độ ổn định về năng suất của 10 giống lúa trong 2 vụ Đông

Xuân 2011- 2012 và Đông Xuân 2012- 2013 tại các địa điểm thí nghiệm thu

thập được số liệu ở Bảng 3.6

68

Bảng 3.6. Độ ổn ịnh về năng suất của các giống lúa thí nghiệm

trong vụ Đông Xuân

Độ lệch Năng suất Hệ số hồi Tên giống Ttn P TB (tạ/ha) quy (bi) hồi quy (S2di)

PY1 68,1 0,63 0,50 6,24 0,82

PY2 65,4 2,53 86,21* -7,88 0,03

MT18cs 62,3 -0,20 7,71 -7,25 0,23

H229 61,6 1,58 0,57 18,62 0,93

LTH134 62,4 0,24 0,89 11,07 0,88

ML54 70,6 2,10 4,85 -6,55 0,32

ML232 66,0 0,56 0,30 48,85 0,99*

Q.Nam 6 60,5 0,59 0,73 0,46 0,69

P6ĐB 52,5 0,99 0,06 -6,87 0,28

KD18 (đ/c) 62,3 0,99 0,04 -5,97 0,37

Ghi chú: “*”Sai khác mức 95%.

Kết quả tại Bảng 3.6 cho thấy: trong điều kiện vụ Đông Xuân các giống

PY1, MT18cs, H229, LTH134, ML54, Q.Nam 6, P6ĐB năng suất ổn định qua các môi trường thí nghiệm vì có độ lệch của đường hồi quy nhỏ (S2di) và

P không đáng kể (P<0,95) (không có dấu *).

Giống PY2 được xem là ổn định (bi = 2,53). Tuy nhiên giống này có hệ

số hồi quy bi >1 và Ttn > T (có dấu *) nên chỉ thích hợp ở môi trường thuận

lợi, cho năng suất cao trong điều kiện thâm canh cao.

Giống ML232 vừa có độ lệch hồi quy lớn (S2di= 48,85) vừa có P lớn (P

≥0,95) do vậy trong điều kiện vụ Đông Xuân giống này kém ổn định qua các

môi trường thí nghiệm.

3.1.4.2. Độ ổn ịnh về năng suất của các giống trong vụ Hè Thu

Đánh giá độ ổn định về năng suất của 10 giống lúa trong 2 vụ Hè Thu

2012 và Hè Thu 2013 tại các địa điểm thí nghiệm thể hiện ở Bảng 3.7.

69

Bảng 3.7. Độ ổn ịnh về năng suất của các giống lúa thí nghiệm

trong vụ Hè Thu

Hệ số Độ lệch Năng suất trung Tên giống hồi quy Ttn P bình (tạ/ha) hồi quy (S2di) (bi)

PY1 1,33 0,75 1,44 0,78 66,5

PY2 49,28 1,00* 1,45 0,24 62,0

MT18cs -1,79 0,52 0,44 1,61 64,2

H229 11,48 0,95* 0,85 0,16 56,2

LTH134 -2,53 0,42 0,48 1,88 62,0

ML54 -3,73 0,03 1,39 21,10* 63,4

ML232 9,36 0,94 1,64 0,70 69,1

Q.Nam 6 26,64 0,99* 0,91 0,06 63,6

P6ĐB -3,47 0,21 0,65 2,71 51,9

KD18 (đ/c) 3,37 0,83 0,76 0,36 60,1

Ghi chú: “*” Sai khác mức 95%.

Kết quả số liệu ở Bảng 3.7 cho thấy: Trong điều kiện vụ Hè Thu các

giống PY1, MT18cs, LTH134, ML232 và P6ĐB ổn định qua các môi trường

thí nghiệm vì có độ lệch của đường hồi quy nhỏ và P không đáng kể (không

có dấu *).

Giống ML54 được xem là ổn định (bi = 1,39). Tuy nhiên giống này có

hệ số hồi quy bi >1 và Ttn > T (có dấu *) nên chỉ thích hợp ở môi trường

thuận lợi, cho năng suất cao trong điều kiện thâm canh cao.

Giống PY2, H229 và Q.Nam 6 vừa có độ lệch hồi quy lớn (S2di: 11,48

- 49,28) vừa có P lớn (P ≥0,95) do vậy trong điều kiện vụ Hè Thu các giống

này kém ổn định qua các môi trường thí nghiệm.

Như vậy, đánh giá độ ổn định năng suất của các giống thí nghiệm cho

thấy cả 3 giống PY1, MT18cs, LTH134 có tính thích ứng cũng như ổn định

về năng suất ở cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu. Phù hợp với điều kiện ngoại

cảnh bất thuận, thích nghi trên phổ rộng tại các tỉnh DHNTB.

70

3.1.4.3. Chỉ số môi trường của các iểm thí nghiệm

Chỉ số môi trường (Ij) được được xét như là hiệu số giữa năng suất

trung bình của các giống tại môi trường đó với năng suất trung bình của các

giống tại tất cả các môi trường thí nghiệm. Khi chỉ số môi trường tại một

điểm thí nghiệm có giá trị lớn hơn “0” thì môi trường đó được coi là môi

trường thuận lợi. Năng suất trung bình các giống ở môi trường thuận lợi luôn

cao hơn năng suất trung bình của tất cả các môi trường trong thí nghiệm và

khi chỉ số môi trường của các điểm thí nghiệm có giá trị nhỏ hơn “0” thì sẽ

kết luận ngược lại.

Bảng 3.8. Chỉ số môi trường của các iểm thí nghiệm (Ij)

Chỉ số môi trường (Ij) Địa điểm Vụ Đông Xuân Vụ Hè Thu

Quảng Nam 0,1 -2,2

Quảng Ngãi 3,5 3,2

Phú Yên - 3,6 -0,9

Kết quả trình bày ở Bảng 3.8 cho thấy các môi trường thuận lợi và các

môi trường không thuận lợi đối với các giống thí nghiệm như sau:

- Trong vụ Đông Xuân: Môi trường thuận lợi là Quảng Ngãi (Ij>0).

Môi trường không thuận lợi là Phú Yên (Ij<0). Môi trường Quảng Nam là

chưa rõ ràng.

- Trong vụ Hè Thu: Môi trường thuận lợi là Quảng Ngãi (Ij>0). Môi

trường không thuận lợi là Quảng Nam và Phú Yên (Ij<0).

Như vậy trung bình chung cho cả 2 vụ Đông Xuân và 2 vụ Hè Thu thì

môi trường thí nghiệm thuận lợi là Quảng Ngãi. Môi trường không thuận lợi

hoặc chưa rõ ràng là Quảng Nam và Phú Yên.

3.1.5. Đánh giá chất lượng của các giống lúa thí nghiệm

Trong công tác chọn tạo giống lúa hiện nay, bên cạnh việc chọn lọc

những giống có năng suất cao, các nhà chọn tạo giống còn chú ý tới việc nâng

cao chất lượng gạo, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu

71

dùng. Chất lượng lúa gạo ngoài đặc tính di truyền của giống quyết định nó

còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố phụ như: thời tiết khí hậu nơi trồng, trình

độ thâm canh, lựa chọn thời vụ thích hợp, mật độ gieo sạ, phân bón hợp lý,

phương thức bảo quản và chế biến sau thu hoạch.

Bảng 3.9. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm

Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ hạt Chiều Chiều Tỷ

gạo trắng dài rộng hạt lệ gạo gạo Tên giống nguyên trong hạt gạo gạo D/R xát lật

(mm) (mm) (%) (%) (%) (%)

58,28 80,5 5,49 2,58 2,13 69,8 PY1 81,0

63,30 52,3 5,73 2,41 2,38 72,0 PY2 79,8

60,39 68,8 6,29 2,13 2,95 68,4 MT18cs 77,4

53,37 75,5 6,05 2,11 2,87 64,1 H229 81,7

61,21 96,3 6,05 1,70 3,56 69,1 LTH134 80,5

59,41 65,7 6,71 2,15 3,12 69,0 ML54 80,6

62,93 48,7 6,70 2,48 2,70 70,3 ML232 82,2

53,80 85,3 6,29 2,28 2,76 63,1 Q.Nam 6 81,7

65,26 83,7 6,90 2,19 3,15 73,3 P6đb 83,2

59,26 82,7 5,70 2,16 2,64 69,7 KD18 (đ/c) 79,2

Kết quả đánh giá chất lượng gạo của các giống thu thập được số liệu ở

Bảng 3.9 cho thấy:

Tỷ lệ gạo lật: phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống cũng như điều

kiện tự nhiên, môi trường sống, qua đó phản ánh khả năng tích lũy chất khô

vào hạt. Các giống lúa thí nghiệm có tỷ lệ gạo lật khá cao (77,4 - 83,2%),

giống MT18cs, PY2 có tỷ lệ gạo lật trung bình (77,4 - 79,8%), các giống khác

có tỷ lệ gạo lật từ 80,5 - 83,2%, cao hơn giống đối chứng từ 1,3 - 4,0%.

Tỷ lệ gạo xát: phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống đồng thời

phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh (thời tiết, chế độ sâu bệnh, chế độ canh

tác...). Đây là chỉ tiêu quan trọng, bởi tỷ lệ gạo xát cao hay thấp sẽ ảnh hưởng

tới giá trị hàng hóa. Giống P6ĐB có tỷ lệ gạo xát cao nhất (73,3%), tiếp đến

72

là giống PY2 (72,0%); các giống PY1, ML232, LTH134, ML54 đạt 69,0-

70,3% tương đương giống đối chứng; các giống còn lại có tỷ lệ gạo xát trắng

thấp hơn giống đối chứng. Tỷ lệ gạo nguyên của các giống đạt từ 53,80 -

65,26%, trong đó có 5 giống cao hơn so với giống đối chứng gồm: P6ĐB

(65,26%), PY2 (63,30%), ML232 (62,93%), LTH134 (61,21%) và MT18cs

(60,39%); các giống còn lại có tỷ lệ gạo nguyên thấp hơn giống đối chứng,

thấp nhất là giống H229 (53,37%); các giống có tỷ lệ gạo trắng trong cao (>

80,0%) gồm: LTH134 (96,3%), Q.Nam 6 (85,3%), P6ĐB (83,7%), PY1

(80,5%). Các giống còn lại có tỷ lệ hạt trắng trong trung bình từ 48,7 - 75,5

%, thấp nhất là giống ML232 (48,7%).

Về phân loại dạng hạt, đa số các giống thí nghiệm thuộc dạng hạt từ

trung bình đến thon, trong đó các giống có dạng hạt thon dài (dài/rộng >3,0)

là: LTH134, ML54 và P6ĐB. Các giống còn lại có tỷ lệ dài/rộng từ 2,13 -

2,95 thuộc dạng hạt trung bình và không có giống nào thuộc dạng hạt bầu.

Bảng 3.10. Đặc tính chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm

Hàm lượng Protein Độ bền Độ trở hồ Tên giống amylose (%) (%) gel (điểm)

PY1 19,9 7,61 Cứng Thấp

PY2 24,3 7,00 Cứng Thấp

MT18cs 20,1 8,75 Cứng TB

H229 19,2 8,16 Cứng Cao

LTH134 16,1 8,17 Mềm TB

ML54 18,4 8,09 TB TB

ML232 24,2 9,12 Cứng Thấp

Q.Nam 6 20,7 8,20 TB Cao

P6ĐB 16,7 8,25 Mềm TB

(Kết quả phân tích ược thực hiện tại phòng Phân tích sản phẩm cây trồng thuộc

Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc Gia, năm 2013)

KD18 (đ/c) 24,1 7,60 Cứng Thấp

73

Về kết quả phân tích một số chỉ tiêu chất lượng gạo (Hàm lượng

amylose, Protein, độ bền thể gel và độ trở hồ) các giống lúa thí nghiệm được

trình bày ở Bảng 3.10.

Qua kết quả số liệu ở Bảng 3.10 cho thấy: các giống lúa thí nghiệm có

hàm lượng amilose 16,1- 24,3%, trong đó cao nhất là giống PY2 (24,3%), tiếp

đến là giống ML232 (24,2%) và thấp nhất là giống LTH134 (16,1%); hàm

lượng protein đạt 7,0 - 9,12%, trong đó cao nhất là giống ML232 và thấp nhất

là giống PY2.

Hai giống LTH134 và P6ĐB có độ bền gel mềm, các giống còn lại có độ

bền gel từ trung bình đến cứng; các giống có độ trở hồ từ thấp đến cao, trong đó

các giống có độ trở hồ trung bình là: MT18cs, LTH134, ML54 và P6đb.

Bảng 3.11. Chất lượng cơm của các giống lúa tham gia thí nghiệm

Độ mềm Vị Tên giống Mùi thơm Độ trắng dẻo ngon

PY1 1 3 4 2

PY2 1 2 4 2

MT18cs 1 2 4 2

H229 2 3 4 3

LTH134 3 4 4 4

ML54 1 3 4 2

ML232 1 3 4 2

Q.Nam 6 2 4 4 3

P6ĐB 2 4 4 3

(Kết quả ánh giá ược thực hiện tại phòng Phân tích sản phẩm cây trồng thuộc

Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc Gia, năm 2013)

KD18 (đ/c) 1 2 4 2

Kết quả đánh giá chất lượng cơm số liệu ở Bảng 3.11 cho thấy: Giống

LTH134 có chất lượng cơm ngon nhất, cơm có vị khá ngon (điểm 4), có mùi

thơm nhẹ khá đặc trưng, mềm dẻo và có màu trắng ngà. Tiếp đến là giống

74

P6ĐB, Q.Nam 6 và H229, cơm ngon có vị ngon (điểm 3), có mùi thơm,

hương thơm kém đặc trưng, cơm mềm dẻo và có màu trắng ngà. Các giống

còn lại có chất lượng cơm ngon trung bình (điểm 2).

Tóm lại: Qua nghiên cứu về sinh trưởng, phát triển, năng suất và thích

nghi, độ ổn định về năng suất qua các môi trường thí nghiệm; nghiên cứu về

chất lượng lúa, gạo của các giống thí nghiệm nhận thấy:

Về năng suất các giống ML54 và PY1 cho năng suất cao, ổn định qua

các vụ ở các địa điểm thí nghiệm. Về chất lượng lúa gạo giống LTH134 có

chất lượng gạo tốt, cơm ngon, cho năng suất khá và ổn định qua các vụ và địa

điểm thí nghiệm. Xét về ưu thế thời gian sinh trưởng, giống MT18cs có thời

gian sinh trưởng cực ngắn ngày (vụ Đông Xuân 90 ngày, Hè Thu 82 ngày),

ngắn hơn giống KD18 từ 22- 25 ngày, ngắn hơn giống P6ĐB từ 3- 4 ngày.

Giống MT18cs có năng suất khá, tương đương giống KD18 và so với giống

P6ĐB cao hơn từ 18- 24%, ổn định qua các vụ và địa điểm thí nghiệm.

3.2. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật hoàn thiện quy trình

thâm canh giống lúa mới cực ngắn ngày triển vọng trên đất phù sa không

được bồi hàng năm tại vùng nghiên cứu

3.2.1. Kết quả nghiên cứu liều lượng bón đạm và lượng giống gieo sạ thích

hợp đối với giống lúa MT18cs trên đất phù sa không được bồi hàng năm tại

Quảng Ngãi

Trong những biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng và hiệu

quả sản xuất, ngoài sử dụng giống lúa mới năng suất cao, thì mật độ quần thể

và cách bón phân ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển, khả năng

chống chịu sâu bệnh và cho năng suất của cây lúa. Vì vậy, việc xác định các

biện pháp kỹ thuật thâm canh, đặc biệt là nghiên cứu lượng giống gieo sạ và

lượng phân bón cho cây lúa nhằm nâng cao năng suất, tăng hiệu quả sử dụng

phân bón là rất cần thiết.

Nghiên cứu về ảnh hưởng các mức bón đạm và lượng giống gieo sạ đến

sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa MT18cs trong vụ Đông

Xuân 2012- 2013 và Hè Thu năm 2013 , thu được một số kết quả như sau:

75

3.2.1.1. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón ến một số

ặc iểm sinh trư ng, phát triển của giống lúa MT18cs

Việc nghiên cứu thời gian sinh trưởng của cây lúa ở các mức mật độ và

phân bón khác nhau là cơ sở tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho

từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Đồng thời giúp bố trí thời

vụ gieo trồng hợp lý, nhằm hạn chế đến mức tối thiểu ảnh hưởng của thiên tai,

dịch bệnh đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất lúa.

Bảng 3.12. Thời gian qua các giai oạn sinh trư ng của giống lúa MT18cs

trong vụ ĐX 2012- 2013 tại Quảng Ngãi

Thời gian từ khi gieo đến ... (ngày) Công Bắt đầu Kết thúc Bắt đầu Kết thúc thức 3-4 lá Chín đẻ nhánh đẻ nhánh trỗ trỗ

CT1 14 25 35 63 66 87

CT2 14 24 35 61 65 87

CT3 14 23 37 62 65 88

CT4 14 22 38 62 66 88

CT5 14 25 35 63 66 88

CT6 14 24 35 62 65 88

CT7 14 23 35 61 64 88

CT8 14 22 37 62 67 88

CT9 14 25 36 62 65 88

CT10 14 23 35 61 65 88

CT11 14 23 36 61 65 88

CT12 14 21 37 62 66 88

CT13 14 24 36 62 65 90

CT14 14 23 34 62 65 90

CT15 14 22 37 62 65 88

CT16 14 21 36 62 66 89

76

Bảng 3.13. Thời gian qua các giai oạn sinh trư ng của giống lúa MT18cs

trong vụ Hè Thu 2013 tại Quảng Ngãi

Thời gian từ khi gieo đến ... (ngày) Công Bắt đầu Kết thúc Bắt đầu Kết thúc thức 3-4 lá Chín đẻ nhánh đẻ nhánh trỗ trỗ

CT1 11 19 29 53 56 76

CT2 11 18 30 50 55 76

CT3 11 17 30 52 56 76

CT4 11 17 27 52 56 75

CT5 11 19 30 53 56 76

CT6 11 18 30 50 55 76

CT7 11 17 30 50 54 76

CT8 11 17 27 52 56 75

CT9 11 19 30 53 56 77

CT10 11 18 30 51 55 76

CT11 11 17 31 52 55 77

CT12 11 17 28 52 55 76

CT13 11 19 31 52 55 78

CT14 11 18 31 52 56 78

CT15 11 17 31 52 56 77

CT16 11 17 28 52 55 77

Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm về lượng giống gieo sạ và

lượng đạm bón đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của giống MT18cs

số liệu thể hiện ở bảng 3.12 và Bảng 3.13 cho thấy:

Thời kỳ lúa 3 - 4 lá: Thời gian từ gieo đến khi cây lúa được 3 - 4 lá

trong vụ ĐX là 14 ngày, vụ HT là 11 ngày. Ở giai đoạn này, cây lúa đang còn

nhỏ sinh khối thấp, cây lúa sống chủ yếu bằng chất dinh dưỡng dự trữ trong

hạt, do vậy lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón ít ảnh hưởng đến sinh

trưởng của cây lúa.

77

Thời kỳ lúa 3 - 4 lá đến bắt đầu đẻ nhánh: Giai đoạn này bộ rễ lúa phát

triển mạnh, các quá trình hấp thu dinh dưỡng trong đất bắt đầu diễn ra, vì vậy

cần bón thúc đợt 1 để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng giúp cây lúa sinh trưởng

phát triển tốt, đẻ nhánh khỏe, tập trung. Thời gian sinh trưởng giai đoạn này

trong vụ ĐX dao động từ 21 - 25 ngày, vụ HT từ 17 - 19 ngày. Nhìn chung ở

cả 2 vụ, giai đoạn này yếu tố mật độ và liều lượng bón phân đạm ảnh hưởng

không nhiều đến thời gian sinh trưởng của giống.

Thời kỳ đẻ nhánh: là giai đoạn quan trọng trong thời kỳ sinh trưởng

sinh dưỡng, quyết định số bông trên đơn vị diện tích. Đối với cây lúa đây là

giai đoạn khủng khoảng đạm lớn nhất, tiếp đến là lân và kali, tốc độ hút các

yếu tố dinh dưỡng này là rất lớn. Vì vậy lượng dinh dưỡng khác nhau sẽ ảnh

hưởng đến thời gian đẻ nhánh của cây lúa.

Kết quả đánh giá qua vụ ĐX 2012-2013 và HT 2013 cho thấy những

công thức có hàm lượng phân đạm bón từ 100-120 kgN/ha thì thời gian đẻ

nhánh ngắn và tập trung hơn những công thức có hàm lượng bón đạm thấp

(80 kgN/ha) hoặc quá cao (140 kgN/ha). Như vậy với mức phân bón hợp lý

kết hợp với lượng giống gieo sạ thích hợp sẽ rút ngắn thời gian đẻ nhánh của

giống, giống đẻ nhánh tập trung và tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao hơn.

Thời kỳ trỗ: được tính từ khi cây lúa bắt đầu trỗ đến kết thúc trỗ; đây là

giai đoạn liên quan đến quá trình vào chắc của hạt, quyết định năng suất của

giống; thời kỳ này cây lúa mẫn cảm nhất với điều kiện ngoại cảnh, trong đó tỷ

lệ hạt chắc và khối lượng 1.000 hạt chịu tác động nhiều nhất. Nếu điều kiện

ngoại cảnh bất lợi, thời tiết quá nóng hay rét đậm thì quá trình thụ phấn, thụ

tinh, kết hạt khó khăn, dẫn đến tỷ lệ lép cao, ảnh hưởng lớn tới năng suất.

Kết quả đánh giá ở hai vụ Đông Xuân và Hè Thu cho thấy ở các công

thức giống MT18cs có thời gian trỗ tương đối tập trung, dao động từ 3 - 4

ngày. Những công thức có lượng giống gieo cao (mật độ sạ cao) có thời gian

trổ kéo dài hơn những công thức còn lại.

78

Thời gian sinh trưởng: Trong vụ Đông Xuân, ở các công thức thí

nghiệm giống lúa MT18cs có thời gian sinh trưởng dao động từ 87 - 90 ngày,

vụ Hè Thu dao động từ 75 - 78 ngày.

Nhìn chung, cả hai yếu tố lượng giống gieo sạ và mức phân bón có ảnh

hưởng rõ rệt đến thời gian sinh trưởng của giống MT18cs. Ở giai đoạn 3 - 4

lá, cây lúa sống chủ yếu bằng chất dinh dưỡng dự trữ trong hạt, mật độ sạ và

lượng đạm bón khác nhau ảnh hưởng không nhiều đến sinh trưởng phát triển

của cây lúa. Giai đoạn 3 - 4 lá đến bắt đầu đẻ nhánh, các công thức có lượng

giống gieo sạ càng lớn (mật độ sạ càng cao) thì sinh trưởng nhanh hơn những

công thức có lượng giống gieo sạ ít hơn (mật độ sạ thấp hơn). Từ kết thúc đẻ

nhánh đến chín cây lúa phát triển mạnh, các công thức có lượng giống gieo

cao (130 kg/ha) sẽ có thời gian sinh trưởng ngắn hơn so với các công thức sạ

với lượng giống gieo thấp (70 kg/ha) và lượng đạm bón cao (140 kg/ha) sẽ

kéo dài thời gian sinh trưởng từ 1 - 3 ngày so với các công thức bón đạm thấp

(80 -100 kg/ha).

Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa có liên quan chặt chẽ

đến quá trình hình thành số bông và năng suất lúa sau này. Khả năng đẻ

nhánh của cây lúa phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật canh

tác như mật độ và chế độ dinh dưỡng. Trong đó, chế độ dinh dưỡng có ảnh

hưởng không nhỏ đến số nhánh đẻ, số nhánh hữu hiệu.

Chiều cao cây là một chỉ tiêu thể hiện đặc trưng, đặc tính của mỗi

giống, tuy nhiên do hệ số di truyền thấp nên chiều cao cây còn phụ thuộc

nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác. Chiều cao cây phản ánh

tình hình sinh trưởng phát triển của cây lúa, là kết quả của sự tăng trưởng thân

lá từ khi nẩy mầm đến lúc hình thành đốt, vươn lóng và trỗ bông hoàn toàn.

Ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ và phân bón đến chiều cao cây của

giống lúa MT18cs thể hiện ở bảng 3.14; kết quả cho thấy: Vụ Đông Xuân,

lượng giống gieo 70 kg/ha và mức bón đạm 100 kg N/ha cho số nhánh tối đa

và nhánh hữu hiệu cao nhất (2,0 nhánh hữu hiệu/khóm); tuy nhiên lượng

giống gieo sạ 90 kg/ha và mức bón 120 kg N/ha cho tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao

79

nhất, đạt 90,5%. Lượng giống gieo 130 kg/ha và mức bón 100 kg N/ha cho số

nhánh hữu hiệu thấp nhất (1,1 nhánh/khóm), lượng giống gieo 110 kg/ha và

mức bón 100 kg N/ha cho tỷ lệ nhánh hữu hiệu thấp nhất (56,3 %).

Bảng 3.14. Ảnh hư ng lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón ến

khả năng ẻ nhánh và chiều cao cây của giống lúa MT18cs

Số nhánh

Số nhánh

Tỷ lệ nhánh

Chiều cao cây

tối đa

hữu hiệu

hữu hiệu

cuối cùng

Công

(nhánh/khóm)

(nhánh/khóm)

(%)

(cm)

thức

ĐX

ĐX

HT

CT1

86,7ab

70,0

79,2

CT2

88,1ab

77,3

80,0

CT3

85,7b

56,7

63,6

CT4

88,7ab

80,0

64,7

CT5

91,5ab

84,7

83,3

CT6

88,5ab

86,3

80,8

CT7

86,0b

56,3

71,4

CT8

88,8ab

66,0

70,6

CT9

90,2ab

69,6

81,5

CT10

90,1ab

90,5

82,1

CT11

89,3ab

67,2

70,0

CT12

87,9ab

81,3

62,5

CT13

91,0ab

66,7

76,9

CT14

90,5ab

68,4

76,9

CT15

91,7a

80,7

68,8

CT16

ĐX 2,0f 2,2cd 2,2bc 1,5j 2,4a 1,7h 2,1de 1,7hi 2,3b 2,1e 1,9fg 1,6i 2,4a 1,9g 1,9g 1,9g

HT 2,4cde 2,5bcd 2,3de 1,5g 2,4cd 2,6ab 2,1ef 1,7g 2,7ab 2,8a 2,0f 1,6g 2,6abc 2,6a-d 1,6g 1,5g

ĐX 1,4fg 1,7c 1,3hi 1,2i 2,0a 1,5ef 1,2hi 1,1j 1,6cd 1,9b 1,3hi 1,3gh 1,6cd 1,3ghi 1,5de 1,3ghi

89,0ab

HT 104,3fg 109,8b-e 105,3efg 111,8abc 111,3a-d 112,3abc 96,0h 106,3ef 109,8b-e 108,5c-f 100,8g 106,0ef 113,0abc 114,8a 107,0def 114,3ab

HT 1,9d 2,0d 1,4f 1,1h 2,0d 2,1c 1,5e 1,2g 2,2b 2,3a 1,4f 1,0i 2,0d 2,0d 1,1h 1,0hi

68,4

66,7

2,53

-

-

CV (%)

1,87

6,24

4,66

3,65

2,61

-

-

0,06

0,23

0,11

0,07

5,47

4,76

LSD0,05 (m*n)

Ghi chú: a, b, c, d, e, f, g, h chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột

không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

80

Vụ Hè Thu, lượng giống gieo 90 kg/ha và mức bón đạm 120 kg N/ha

cho số nhánh tối đa và nhánh hữu hiệu cao nhất (2,3 nhánh hữu hiệu/khóm);

tuy nhiên lượng giống gieo 70 kg/ha và mức bón 100 kg N/ha cho tỷ lệ nhánh

hữu hiệu cao nhất, đạt 83,3%. Lượng giống gieo 130 kg/ha và mức bón 120 -

140 kg N/ha cho số nhánh hữu hiệu thấp nhất (1,0 nhánh/khóm); Lượng giống

gieo 130 kg/ha và mức bón 120 kg N/ha cho tỷ lệ nhánh hữu hiệu thấp nhất

(62,5 %). Như vậy, tương tác giữa lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón có

ảnh hưởng rõ đến khả năng đẻ nhánh và hình thành nhánh hữu hiệu.

Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ và mức bón đạm đến

chỉ tiêu chiều cao cây cuối cùng, cho thấy các công thức có chiều cao cây

khác nhau, dao động từ 85,7 - 91,7 cm ở vụ Đông Xuân và từ 96,0 - 114,8 cm

ở vụ Hè Thu.

Kết quả phân tích ảnh hưởng của từng yếu tố thí nghiệm đến khả năng

đẻ nhánh và chiều cao cây cuối cùng được thể hiện ở Bảng 3.15 và Bảng 3.16.

Bảng 3.15. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ ến khả năng ẻ nhánh và

chiều cao cây của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013

và HT2013 tại Quảng Ngãi

Số nhánh Số nhánh Tỷ lệ nhánh Chiều cao cây Lượng tối đa hữu hiệu hữu hiệu cuối cùng giống sạ (nhánh/khóm) (nhánh/khóm) (%) (cm) (kg/ha) ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT

70 2,3a 2,5a 1,7a 2,0b 72,8 80,2 89,9a 109,6a

90 2,0c 2,6a 1,6b 2,1a 80,6 80,0 89,3a 111,4a

110 2,0b 2,0b 1,3c 1,4c 65,2 68,5 88,2a 102,3b

130 1,7d 1,6c 1,2d 1,1d 73,9 66,1 88,6a 109,6a

0,06 0,04 0,03 0,11 - - 3,99 2,38 LSD0,05

Ghi chú: a, b, c chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột không

có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

81

Kết quả đánh giá cho thấy: Lượng giống gieo sạ ảnh hưởng đáng kể

đến khả năng đẻ nhánh nhưng ảnh hưởng không nhiều đến chỉ tiêu chiều cao

cây cuối cùng, lượng giống gieo sạ thấp, mật độ cây thưa (70 - 90kg/ha) cho

số nhánh tối đa và số nhánh hữu hiệu cao hơn lượng giống gieo sạ nhiều, mật

độ cây cao (110 -130 kg/ha).

Xét ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng đẻ nhánh cho thấy

bón đạm ở mức 120 kgN/ha cho số nhánh tối đa và số nhánh hữu hiệu cao

hơn so với các mức bón đạm còn lại, có ý nghĩa về mặt thống kê. Lượng

đạm bón 140 kgN/ha có chiều cao cây cuối cùng cao nhất, cao hơn hơn có

ý nghĩa về mặt thống kê so với các mức đạm còn lại, chiều cao cây dao

động từ 90,6 - 112,3 cm.

Bảng 3.16. Ảnh hư ng của lượng ạm bón ến khả năng ẻ nhánh và

chiều cao cây của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013

và HT2013 tại Quảng Ngãi

Số nhánh Số nhánh Tỷ lệ nhánh Chiều cao cây Lượng

tối đa hữu hiệu hữu hiệu cuối cùng đạm

(nhánh/khóm) (nhánh/khóm) (%) (cm) (kg

N/ha) ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT

80 2,0ab 2,2ab 1,4b 1,6b 71,0 71,9 87,3b 107,8b

100 2,0b 2,2ab 1,5b 1,7a 73,3 76,5 88,7ab 106,5b

120 2,0ab 2,3a 1,5a 1,7a 77,2 74,0 89,4ab 106,3b

140 2,0a 2,1b 1,4b 1,5c 71,1 72,3 90,6a 112,3a

0,13 0,06 0,04 - - 2,74 2,21 LSD0,05 0,05

Ghi chú: a, b chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột không

có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

82

3.2.1.2. Ảnh hư ng liều lượng ạm và lượng giống gieo sạ ến chỉ số diện

tích lá, diện tích lá òng và ộ tàn lá lúc chín

Bảng 3.17. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón ến

chỉ số diện tích lá, diện tích lá òng và ộ tàn lá của giống MT18cs

Độ tàn lá (lá)

Chỉ số diện tích lá lúc... (m2 lá xanh/m2 đất)

Diện tích lá đòng (cm2)

Công thức

BĐ đẻ

KT đẻ

BĐ trổ Chín

ĐX

HT

ĐX

HT

nhánh

nhánh

CT1

1,5i

2,3h

4,4h

2,8g

32,2abc 33,2ab 2,7e

2,7cd

CT2

1,7gh

2,6fg

5,5fg 3,8c-f 32,4abc 33,1ab 2,7de

2,7cd

CT3

2,3e

3,0de 6,1cde 3,6def 30,7bc

31,3b

1,9j

1,9fg

CT4

3,0bc

3,5c

6,8ab 3,9cde

29,9c

30,5b

2,1h

2,1fg

CT5

1,7hi

2,4gh

5,0g

3,4f

33,0abc 33,5ab 4,5a

4,5a

CT6

2,3e

2,6fg

5,6ef 3,9cde 32,4abc 33,4ab 2,5f

2,5de

CT7

2,7d

3,2d

6,2cd 3,7def 31,4bc 31,8ab 2,0i

2,0fg

CT8

3,2a

3,6c

7,1a

4,2bc

30,2c

30,9b 1,9ij

1,9fg

CT9

1,7gh 2,5fgh 5,0g

3,5ef 33,5abc 34,7ab 3,1c

3,1b

CT10

2,5e

3,2d 5,8def 3,9cde 34,6ab 34,6ab 2,8d

2,8cd

CT11

2,7d

3,3cd 6,4bc 4,3bc 32,2abc 32,2ab 2,7e

2,7cd

CT12

3,2a

4,6b

7,1a

4,4b

32,3abc 32,6ab 1,9j

1,9g

CT13

1,9fg

2,8ef

4,3h

3,5ef

35,6a

35,8a

3,2b

3,2b

CT14

2,0f

3,0de 5,8def 4,1bcd 33,1abc 34,2ab 2,5f

2,5de

CT15

3,0c

3,3cd 6,0cde 4,5b

32,4abc 32,6ab 2,7e

2,9bc

CT16

3,2ab

5,1a

7,0a

5,3a

32,7abc 32,8ab 2,3g

2,3ef

CV (%)

5,74

5,04

6,95

3,85

6,65

8,66

2,05

7,43

0,31

0,49

0,46

0,16

3,63

4,74

0,09

0,33

LSD0,05(m*n)

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

Ghi chú: BĐ: bắt ầu; KT: kết thúc

Các chữ a, b, c, d, e, f, g, h chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong

một cột không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

83

Chỉ số diện tích lá là số m2 lá/m2 đất (LAI) là một chỉ tiêu phản ánh khả

năng phát triển bộ lá trong quần thể ruộng lúa. LAI có liên quan chặt chẽ đến

khả năng quang hợp và tích lũy chất khô, tuy nhiên cũng phụ thuộc nhiều vào

cấu trúc quần thể của cây trồng. Nếu LAI lớn, nhưng cấu trúc quần thể không

hợp lí, các lá che bóng lẫn nhau thì quang hợp giảm, trong khi hô hấp tăng và

kết quả là sinh khối quang hợp sẽ giảm.

Tăng LAI là một trong những biện pháp quan trọng để tăng năng suất,

do vậy, trong nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh lúa, chúng ta cần quan tâm

đến chỉ tiêu này để có thể đưa ra các biện pháp kỹ thuật hợp lý giúp cây có chỉ

số diện tích lá thích hợp. Nhưng tăng LAI như thế nào cho hợp lý là vấn đề

phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố. Nếu tăng LAI quá cao khiến cho

quang hợp tổng số trên ruộng cây bị giảm, hô hấp tăng làm giảm hệ số hiệu

suất quang hợp (Kf) và cuối cùng là năng suất giảm. Nhưng để LAI quá thấp

sẽ loãng phí đất, năng suất sẽ thấp. LAI chịu sự chi phối của nhiều yếu tố,

trong đó 2 yếu tố lượng giống gieo và phân bón có tác động mạnh mẽ nhất.

Kết quả số liệu ở Bảng 3.17 cho thấy chỉ số diện tích lá tăng nhanh qua

các thời kỳ từ khi lúa bắt đầu đẻ nhánh đến trỗ và giảm dần ở thời kỳ lúa chín.

Chỉ số số diện tích lá đạt cao nhất ở thời kỳ lúa chín là công thức CT16

(lượng giống gieo 130 kg/ha và phân đạm 140 kg N/ha) 5,3 m2 lá xanh /m2

đất và thấp nhất là công thức 1 (lượng giống gieo 70 kg/ha và phân đạm 80 kg

N/ha) với chỉ số diện tích lá là 2,8 m2 lá xanh/m2 đất.

Ảnh hưởng của từng yếu tố lượng giống gieo sạ và liều lượng đạm bón

đến chỉ số diện tích lá thể hiện qua Bảng 3.18 và Bảng 3.19.

Kết quả đánh giá cho thấy:

Chỉ số diện tích lá tăng khi lượng giống gieo và lượng đạm bón tăng.

Chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ theo dõi, đạt cao nhất ở các công thức có

lượng giống gieo 130 kg/ha, lượng đạm bón 140 kg N/ha và thấp nhất ở các

công thức có lượng giống gieo 70 kg/ha, lượng đạm bón 80 kg N/ha.

84

Bảng 3.18. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ ến chỉ số diện tích lá,

diện tích lá òng và ộ tàn lá của giống MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013

và HT2013 tại Quảng Ngãi

Lượng Độ tàn lá (lá) Chỉ số diện tích lá lúc... (m2 lá xanh/m2 đất) Diện tích lá đòng (cm2) giống

sạ BĐ đẻ KT đẻ BĐ Chín ĐX HT ĐX HT (kg/ha) nhánh nhánh trổ

70 1,7d 2,5d 4,7d 3,3c 33,6a 34,3a 3,4a 3,4a

90 2,1c 2,9c 5,7c 3,9b 33,1ab 33,8ab 2,6b 2,6b

110 2,7b 3,2b 6,2b 4,0b 31,7bc 32,0b 2,4c 2,4c

130 3,2a 4,2a 7,0a 4,5a 31,3c 31,7b 2,1d 2,1d

0,08 0,15 0,25 0,23 1,82 2,37 0,04 0,08 LSD0,05

Ghi chú: BĐ: bắt ầu; KT: kết thúc

a, b, c, d, e, f, g, h chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột

không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

Bảng 3.19. Ảnh hư ng của lượng ạm bón ến chỉ số diện tích lá, diện tích

lá òng và ộ tàn lá của giống MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013

và HT2013 tại Quảng Ngãi

Độ tàn lá (lá) Phân Chỉ số diện tích lá lúc... (m2 lá xanh/m2 đất) Diện tích lá đòng (cm2) đạm BĐ đẻ KT đẻ BĐ (kg/ha) Chín ĐX HT ĐX HT nhánh nhánh trổ

80 2,1b 2,9b 5,7b 3,5c 31,3a 32,0a 2,4d 2,4b

100 2,5a 2,9b 5,8ab 3,8bc 31,8a 32,4a 2,7a 2,7a

120 2,5a 3,4a 6,0a 4,0b 33,1a 33,5a 2,6c 2,6a

140 2,5a 3,6a 6,1ab 4,3a 33,4a 33,9a 2,7a 2,7a

0,19 0,10 0,30 0,29 2,62 2,85 0,05 0,18 LSD0,05

Ghi chú: BĐ: bắt ầu; KT: kết thúc

a, b, c, d, e, f, g, h chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột

không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

85

Diện tích lá đòng và số lá xanh còn lại trên cây lúc chín là hai chỉ tiêu

quan hệ chặt chẽ với năng suất lúa. Kết quả phân tích thống kê ở Bảng 3.18

và Bảng 3.19 cho thấy hai chỉ tiêu này có sự sai khác rõ rệt có ý nghĩa ở độ tin

cậy 95% ở các lượng giống gieo khác nhau, diện tích lá đòng và số lá xanh

còn lại trên cây lúc chín có xu hướng giảm khi lượng giống gieo sạ tăng.

Về ảnh hưởng của lượng phân đạm đến chỉ tiêu diện tích lá đòng cũng

cho thấy diện tích lá đòng tăng tỷ lệ thuận với lượng đạm bón, sự sai khác này

không có ý nghĩa về mặt thống kê. Số lá xanh còn lại trên cây lúc chín ở các

công thức bón 80 kgN/ha thấp hơn các các công thức còn lại, sự sai khác này

có ý nghĩa về mặt thống kê ở độ tin cậy 95%.

Hình 3.5. Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón với

hệ số diện tích lá xanh giai oạn kết thúc ẻ nhánh của giống MT18cs

86

Kết quả phân tích tương quan giữa lượng giống gieo sạ và mức đạm

bón với chỉ số diện tích lá (Hình 3.5) cũng cho thấy có sự tương quan thuận, tuyến tính và rất chặt với hệ số R2= 0,78 - 0,99. Điều này cho thấy khi tăng

lượng giống gieo sạ thì chỉ số diện tích lá xanh cũng tăng theo và đạt cao nhất

ở lượng giống gieo sạ là 130 kg/ha và mức đạm bón là 140 kg/ha.

3.2.1.3. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ và mức ạm bón ến khả năng

tích lũy chất khô của giống lúa MT18cs

Chất khô là chất hữu cơ được tạo ra từ quá trình hút dinh dưỡng và

quang hợp của cây lúa trong đó 80% chất khô trong cây xanh dược tạo thành

do quá trình quang hợp. Khả năng tích lũy chất khô của cây lúa và sự vận

chuyển chất hữu cơ từ cơ quan sinh trưởng về cơ quan sinh sản là cơ sở cho

việc tạo ra năng suất hạt sau này.

Sau khi gieo sạ cây lúa bước vào giai đoạn đè nhánh, lúc này dinh

dưỡng tập trung vào quá trình sinh trưởng dinh dưỡng. vì vậy khối lượng

chất khô tích lũy rất nhỏ. Bước sang thời kỳ làm đòng, trỗ bông và chín,

lượng dinh dưỡng dần được tích lũy ở thân, lá, hạt, khối lượng chất khô tăng

lên đáng kể và đạt giá trị cao nhất ở giai đoạn chín. Đánh giá mức độ tích lũy

chất khô ở mỗi giai đoạn khác nhau với từng mức phân bón và mật độ sạ khác

nhau giúp các nhà nghiên cứu đưa ra được các biện pháp kỹ thuật chăm sóc

cụ thể giúp phát huy hết tiềm năng năng suất của giống.

Kết quả đánh giá hàm lượng chất khô qua các giai đoạn sinh trưởng của

giống lúa MT18cs được tổng hợp ở Bảng 3.20 cho thấy: Hàm lượng chất khô

tăng qua các thời kỳ theo dõi và đạt cao nhất ở thời kỳ lúa chín. Giai đoạn

chín, hàm lượng chất khô đạt cao nhất ở công thức 12 (201,6 tạ/ha) và công

thức 8 (201,6 tạ/ha) với lượng giống gieo sạ và mức phân đạm bón tương ứng

là 120 kg N, 130 kg hạt giống và 100 kg N và 130 kg hạt giống; tiếp đến là

CT4 (199,1 tạ/ha) và CT16 (196,2 tạ/ha) với lượng giống gieo sạ và mức phân

đạm bón tương ứng là 80 kg N , 130 kg hạt giống và 140 kg N và 130 kg hạt

giống gieo sạ.

87

Bảng 3.20. Ảnh hư ng của của lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón

ến khả năng tích lũy chất khô của giống lúa MT18cs

(Số liệu trung bình 2 vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi)

Hàm lượng chất khô (tạ/ha) Công thức Đẻ nhánh tối đa Bắt đầu trỗ Thời kỳ chín

CT1 30,5e 67,0i 148,4h

CT2 39,9d 77,8fg 171,3f

CT3 46,6c 79,0efg 186,4e

CT4 54,2a 83,1abcd 199,1bc

CT5 30,8e 71,8h 149,6h

CT6 40,8d 80,5cdef 176,7f

CT7 47,9c 82,0abcde 188,5de

CT8 54,8a 83,5abc 201,6 ab

CT9 32,0e 71,8h 151,2h

CT10 41,3d 79,7ef 175,8f

CT11 49,6bc 84,2ab 193,9cd

CT12 55,9a 85,1a 208,1a

CT13 31,2e 69,3hi 148,8h

CT14 39,7d 75,8g 163,6g

CT15 47,3c 80,2def 183,6e

CT16 53,8ab 81,7bcde 196,2bc

CV (%) 6,66 2,44 2,32

4,88 3,22 6,95 LSD0,05(m*n)

Ghi chú: a, b, c, d, e, f, g, h chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong

một cột không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

Phân tích ảnh hưởng của từng yếu tố thí nghiệm đến khả năng tích lũy

chất khô số liệu ở Bảng 3.21 và Bảng 3.22 cho thấy: Yếu tố lượng giống gieo

sạ tác động đến khả năng tích lũy chất khô rõ rệt hơn so với phân bón. Hàm

lượng chất khô tăng tỷ lệ thuận với lượng giống gieo sạ và có sự sai khác ý

nghĩa ở độ tin cậy 95% giữa các công thức sạ với lượng giống khác nhau,

trong đó hàm lượng chất khô đạt cao nhất là là công thức có lượng giống gieo

130 kg/ha và thấp nhất là các công thức sạ với lượng giống gieo 70 kg/ha.

88

Bảng 3.21. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ ến khả năng

tích lũy chất khô của giống lúa MT18cs

(Số liệu trung bình 2 vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi)

Hàm lượng chất khô (tạ/ha) Lượng giống sạ

(kg/ha) Đẻ nhánh tối đa Bắt đầu trổ Thời kỳ chín

31,1d 70,0d 149,5d 70

40,2c 78,5c 171,9c 90

47,8b 81,4b 188,1b 110

54,7a 83,4a 201,3a 130

0,44 1,61 3,48 LSD0,05

Ghi chú: a, b, c, d, chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột

không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

Bảng 3.22. Ảnh hư ng của lượng ạm bón ến khả năng

tích lũy chất khô của giống lúa MT18cs

(Số liệu trung bình 2 vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi)

Hàm lượng chất khô (tạ/ha) Phân đạm

(kgN/ha) Đẻ nhánh tối đa Bắt đầu trổ Thời kỳ chín

42,8b 76,7b 176,3c 80

43,6b 79,5a 179,1b 100

44,7a 80,2a 182,3a 120

43,0b 76,8b 173,1d 140

0,86 1,75 2,61 LSD0,05

Ghi chú: a, b, c, d chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột

không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

Sự ảnh hưởng của yếu tố phân đạm đến khả năng tích lũy chất khô theo

chiều hướng bón quá nhiều và quá ít phân đạm (140 kg N/ha và 80 kg N/ha)

sẽ làm hàm lượng chất khô giảm hơn so với các công thức bón đạm vừa phải

(100 -120 kg N/ha). Điều này sẽ được làm sáng tỏ hơn thông qua việc phân

tích mối tương quan giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón với khả năng

tích lũy chất khô ở giai đoạn lúa chín (Hình 3.6).

89

Hình 3.6: Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón với hàm

lượng chất khô của giống lúa MT18cs giai oạn chín

Kết quả ở Hình 3.6 cho thấy có sự tương quan thuận, tuyến tính và rất

chặt giữa lượng giống gieo sạ và phân đạm với hàm lượng chất khô ở thời kỳ

lúa chín theo các phương trình hồi quy y = 0,836x + 92,7; y = 0,839x + 95,2; y = 0,944x + 87,85 và y = 0,811x + 91,95 với hệ số tương quan R2 = 0,96 -

0,99. Điều này chứng tỏ khi sạ với lượng giống càng dày thì hàm lượng chất

khô càng tăng ở cả 4 mức đạm và hàm lượng chất khô đạt cao nhất là sạ với

lượng giống 130 kg/ha.

3.2.1.4. Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống ổ của giống lúa MT18cs

các công thức thí nghiệm

Sâu, bệnh là một đối tượng gây hại nguy hiểm đối với cây trồng nói chung

và cây lúa nói riêng. Thiệt hại do sâu bệnh hại gây ra cho lúa có thể làm giảm

năng suất từ 10- 30%. Đặc biệt vào các giai đoạn làm đốt, làm đòng, trổ bông và

chín nếu bị sâu bệnh phá hại nặng có thể không cho thu hoạch.

90

Qua điều tra theo dõi nhận thấy khi tăng lượng giống gieo và lượng

đạm bón thì có tác động rất lớn đến quá trình phát sinh phát triển sâu bệnh

hại. Trong cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu thì sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân,

rầy nâu và bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, đốm nâu là các đối tượng gây hại chủ

yếu trên các công thức thí nghiệm. Tình hình nhiễm một số đối tượng sâu

bệnh được thể hiện ở Bảng 3.23 và Bảng 3.24.

Bảng 3.23. Tình hình sâu hại của giống lúa MT18cs

các công thức thí nghiệm

(Số liệu trung bình 2 vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi)

Sâu cuốn lá nhỏ Sâu đục thân Rầy nâu Công thức (điểm 0-9) (điểm 0-9) (điểm 0-9)

CT1 1 0-1 0-1

CT2 0-1 1 0-1

CT3 0-1 1 1

CT4 3 1-3 3

CT5 1 0-1 1

CT6 1 1 1

CT7 1 1 3

CT8 3 1-3 3

CT9 0-1 0-1 1

CT10 0-1 1 0-1

CT11 3 1 1-3

CT12 3 1-3 3

CT13 1 0-1 1-3

CT14 3 1 1-3

CT15 3 1-3 3

CT16 5 1-3 3

91

Bảng 3.24. Tình tình bệnh hại và khả năng chống ổ ngã của

giống lúa MT18cs các công thức thí nghiệm

(Số liệu trung bình 2 vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi)

Bệnh đạo Bệnh đạo Bệnh khô Độ cứng Đốm nâu ôn hại lá ôn cổ bông vằn cây Công thức (điểm 0-9) (điểm 0-9) (điểm 0-9) (điểm 0-9) (điểm 1-9)

CT1 2 0 1 0-1 1

CT2 1-2 0 1 1 1

CT3 2 0 1 1-3 5

CT4 3-4 0-1 1-3 3 1 - 5

CT5 2-3 0 1 1 1 - 5

CT6 3 0 1 1 1

CT7 3 0 1 1 5

CT8 4 0-1 1-3 5 - 9 3

CT9 2-3 0 1 1 5

CT10 1-2 0 1 0-1 1 - 5

CT11 3 0-1 1-3 1 5 - 9

CT12 3-5 3 3 1 5 - 9

CT13 3 0 1 1 1 - 5

CT14 4 0-1 1-3 1-3 5

CT15 4 1 1-3 1-3 5 - 9

CT16 5 3 3 3-5 5 - 9

Kết quả đánh giá cho thấy:

Mức độ nhiễm sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân và rầy nâu tăng tỷ lệ thuận

với tăng lượng giống gieo và lượng đạm bón. Qua theo dõi cả hai vụ Đông

Xuân và Hè Thu thì công thức nhiễm hai loại sâu này cao nhất là công thức sạ

với lượng giống 130 kg/ha và bón đạm 140 kg N/ha (sâu cuốn lá nhỏ (điểm 3-

5), sâu đục thân (điểm 1-3). Mức độ gây hại của sâu đục thân thấp nhất là các

92

công thức sạ 70 kg/ha (điểm 0-1). Kết quả ở Bảng 3.23 cho thấy, vụ Hè Thu

các công thức thí nghiệm bị nhiễm rầy nâu (điểm 0-3), trong đó các công thức

sạ dày (130 kg/ha) và bón phân đạm cao (140 kgN/ha) bị nhiễm rầy nâu (điểm

3) nặng hơn các công thức còn lại. Điều này chứng tỏ lượng giống gieo dày

và bón đạm không cân đối sẽ là điều kiện để sâu hại phát triển, ảnh hưởng

đáng kể đến năng suất các công thức thí nghiệm.

Đánh giá về bệnh hại và độ cứng cây của giống ở các công thức thí

nghiệm thu thập được số liệu ở Bảng 3.24 cho thấy: Mức độ gây hại của bệnh

đạo ôn, bệnh khô vằn và đốm nâu ở các công thức thí nghiệm từ nhẹ đến

trung bình. Công thức CT16 (sạ 130 kg/ha và bón 140 kgN/ha) bị nhiễm bệnh

đạo ôn, khô vằn và đốm nâu nặng nhất (điểm 3-5). Khi tăng đồng thời lượng

giống gieo và phân đạm thì sẽ làm tăng khả năng nhiễm bệnh của lúa. Điều

này được giải thích do mật độ càng dày, lúa phát triển càng rậm rạp làm tăng

ẩm độ bên trong tầng lá là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển nghiêm

trọng. Mặc khác, khi lượng đạm càng cao và không cân đối với các loại phân

bón khác kết hợp với điều kiện trời âm u thì bệnh đạo ôn, khô vằn sẽ càng

nặng do quá trình quang hợp diễn ra kém, khả năng đồng hóa đạm trong cây

chậm nên đạm sẽ bị tích lũy lại trong cây dưới dạng phi protit, làm cho thân lá

của cây lúa mềm, tạo điều kiện cho các loại nấm bệnh tấn công và xâm nhập.

Độ cứng cây, khả năng chống đổ của cây lúa riêng và cây trồng nói chung là

do yếu tố di truyền của giống quyết định. Ngoài ra phụ thuộc vào điều kiện

thời tiết và chế độ canh tác, trong đó, sự tác động của chế độ phân bón và chế

độ nước đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chống đổ của cây lúa. Qua đánh

giá chỉ tiêu về độ cứng cây, khả năng chống đổ ngã của các công thức thí

nghiệm ở hai vụ Đông Xuân và Hè Thu cho thấy, các công thức bón với

lượng đạm cao (120 - 140 kgN/ha) khi gặp thời tiết không thuận lợi (mưa to,

gió mạnh) bị đỗ ngã nặng hơn các công thức bón với lượng đạm thấp. Bên

cạnh đó, việc gieo sạ với mật độ quá dày sẽ làm tăng khả năng đổ ngã (do sự

cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng làm cho cây yếu ớt dễ bị đổ).

93

3.2.1.5. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón ến các yếu tố

cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa MT18cs

Bảng 3.25. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón

ến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa MT18cs

KL 1.000

Số bông/m2

Số hạt chắc/bông

Tỷ lệ lép (%)

Công

hạt (g)

thức

ĐX

ĐX

HT

ĐX

HT

HT

ĐX HT

CT1

7,0f

289,0d

281,7ij

103,5a

106,0cd

13,3gh 23,9 22,8

CT2

311,7bc

333,3h

103,3a

114,0ab

13,0abc

12,1h

24,5 22,5

CT3

334,7a

353,3ef

102,9a 111,9abc

9,7def

15,7fg 24,1 22,1

CT4

340,0a

381,7bc

104,2a

104,3d

14,8a

25,1bc 23,9 22,5

CT5

303,3cd

281,7ij

118,4a

115,3ab

11,9a-d 15,8fg 24,0 22,9

CT6

330,3ab

335,0gh

102,8a

115,9a

8,4ef

12,6h

24,6 22,6

CT7

328,3ab 350,0efg 108,2a 110,1abc

8,8ef

16,9ef 24,6 22,6

CT8

339,7a

395,0ab

104,2a

101,8d

13,8ab

24,3c

24,3 22,3

CT9

285,7d

290,0i

117,4a

115,0ab

9,9c-f

13,8gh 23,9 22,5

CT10

340,7a

365,0de

110,6a

114,9ab

10,9b-e 13,4gh 24,7 22,3

CT11

345,3a

363,3de

109,1a

102,3d

13,0abc 19,0de 24,4 22,4

CT12

344,3a

410,0a

100,7a

87,8e

13,2ab

27,3b

23,8 22,3

CT13

299,7cd

271,7j

111,7a 108,9a-d

12,8a-d

21,1d

24,5 22,5

CT14

338,3a

350,0efg 100,8a 108,3bcd 12,6a-d

20,0d

24,0 22,0

CT15

341,0a

345,0fgh 106,1a 108,7a-d

14,0ab

23,7c

24,1 22,1

CT16

350,3a

378,3cd

101,4a

86,3e

14,6a

30,6a

23,8 22,2

CV (%)

3,60

2,86

10,16

4,25

14,51

7,74

-

-

19,82

16,54

18,25

7,65

2,88

2,49

-

-

LSD0,05

(m*n)

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

Ghi chú: a, b, c, d, e, f, g, h chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong

một cột không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

94

Năng suất được xem là kết quả và mục tiêu cuối cùng của quá trình sản

xuất, nó là một chỉ tiêu đánh giá toàn diện và đầy đủ nhất các quá trình sinh

trưởng, phát triển của cây, đồng thời cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và

hiệu quả đầu tư. Trong thí nghiệm, năng suất là chỉ tiêu được dùng để đánh

giá sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm.

Năng suất lúa được tạo thành từ 4 yếu tố: số bông trên đơn vị diện tích,

số hạt trên bông, tỷ lệ hạt lép và khối lượng 1000 hạt. Các yếu tố này được

hình thành trong thời gian khác nhau với những quy luật khác nhau song

chúng lại có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, để đạt năng suất cao

cần có cơ cấu các yếu tố cấu thành năng suất hợp lý.

Số bông là yếu tố có tính chất quyết định nhất tới năng suất lúa, kết quả ở Bảng 3.25 cho thấy: số bông/m2 của các công thức thí nghiệm ở vụ Đông

Xuân dao động từ 289,0 - 350,3 bông/m2, vụ Hè Thu từ 281,7 - 395,0 bông/m2. Số bông/m2 tăng tỷ lệ thuận với lượng giống gieo sạ và đạt cao nhất

ở lượng giống gieo 130 kg/ha.

Số hạt trên bông là yếu tố thứ hai cấu thành năng suất lúa, được kiểm

soát chặt chẽ hơn bởi yếu tố di truyền. Tuy nhiên, số hạt trên bông nhiều hay

ít cũng phụ thuộc vào quá trình hình thành gié và hoa lúa. Các quá trình này

nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực từ lúc lúa làm đòng đến trỗ bông và

chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thuật canh tác.

Do đó, có thể tác động các biện pháp kỹ thuật canh tác để điều chỉnh số hạt

trên bông thích hợp nhất có lợi cho năng suất.

Tỷ lệ hạt lép cũng là chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất thực thu

của giống; tỷ lệ hạt lép thấp làm khối lượng bông tăng nên năng suất của

giống cũng tăng. Tỷ lệ hạt lép phụ thuộc rất nhiều yếu tố như lượng phân bón,

cường độ ánh sáng, nhiệt độ, các điều kiện ngoại cảnh ở thời kỳ trỗ...

Qua số liệu phân tích ở Bảng 3.25 cho thấy trong vụ Đông Xuân các

công thức thí nghiệm có tỷ lệ hạt lép dao động từ 7,0 - 14,6%, đạt thấp nhất ở

CT1 (bón 80 kg N, sạ 70 kg/ha) và cao nhất ở CT16 (bón 140 kg N, sạ 130

95

kg/ha); vụ Hè Thu tỷ lệ lép giữa các công thức dao động từ 12,1 – 30,6% , đạt

thấp nhất ở CT2 (bón 80 kg N, sạ 90 kg/ha và cao nhất ở CT16.

Khối lượng 1.000 hạt là yếu tố cuối cùng cấu thành nên năng suất lúa

và cũng là yếu tố ít biến động theo điều kiện ngoại cảnh, chịu sự kiểm soát

chặt chẽ bởi yếu tố di truyền. Kết quả thí nghiệm cho thấy, giữa các công thức

có sự biến động rất ít về khối lượng 1000 hạt, vụ Đông Xuân từ 23,8 - 24,7

gam, vụ Hè Thu từ 22,0 - 22,9 gam. Nhìn chung lượng giống gieo sạ và liều

lượng phân đạm ảnh hưởng không nhiều đến khối lượng 1.000 hạt của giống.

Như vậy, trong hai yếu tố thí nghiệm, lượng giống gieo sạ là yếu tố có

ảnh hưởng lớn đến các yếu tố cấu thành năng suất, đặc biệt là cơ sở cho việc

hình thành số bông trong quần thể. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của từng

yếu tố đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa MT18cs được thể

hiện qua Bảng 3.26 và Bảng 3.27.

Xét ảnh hưởng của mật độ sạ đến các yếu tố cấu thành năng suất thì lượng giống gieo 130 kg/ha cho số bông/m2 cao nhất, đạt từ 343,6 - 391,3 bông/m2; thấp nhất ở lượng giống gieo 70 kg/ha, đạt từ 281,3 - 294,4 bông/m2; sự sai khác này có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%. Như vậy, lượng giống gieo sạ tăng làm số bông/m2 tăng.

Về số hạt chắc/bông, lượng giống gieo 70 kg/ha cho số hạt chắc/bông

cao nhất, đạt từ 111,3 - 112,7 hạt/bông; lượng giống gieo 130 kg/ha cho số

hạt chắc/bông thấp nhất, đạt 95,1 - 102,6 hạt/bông. Sự sai khác này có ý nghĩa

về mặt thống kê ở độ tin cậy 95%.

Tỷ lệ lép/bông biến động từ 11,2 - 14,1% ở vụ Đông Xuân và từ 14,5 -

26,8% ở vụ Hè Thu, tỷ lệ lép cao nhất ở lượng giống gieo 130 kg/ha, có sự sai

khác rõ rệt về mặt thống kê giữa mức sạ 130 kg/ha so với các mức sạ còn lại.

Nhìn chung, khối lượng 1000 hạt ở các lượng giống gieo sạ khác nhau không

có sự thay đổi nhiều và biến động từ 24,0 - 24,4 gam ở vụ Đông Xuân và từ

22,3 - 22,7 gam ở vụ Hè Thu.

Như vậy, lượng giống gieo sạ có ảnh hưởng rõ đến số bông/m2 và tỷ lệ

lép nhưng ảnh hưởng không rõ đến khối lượng 1000 hạt.

96

Bảng 3.26. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ ến các yếu tố cấu thành

năng suất của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013

và HT2013 tại Quảng Ngãi

Tỷ lệ lép Lượng KL1000 hạt Số bông/m2 Số hạt chắc/bông (%) (g) giống sạ

(kg/ha) ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT

70 294,4c 281,3c 112,7a 111,3ab 10,4b 16,0c 24,1 22,7

90 330,3b 345,8b 104,4ab 113,3a 11,2b 14,5d 24,4 22,4

110 337,3ab 352,9b 106,6ab 108,3b 11,4b 18,8b 24,3 22,3

130 343,6a 391,3a 102,6b 95,1c 14,1a 26,8a 24,0 22,3

9,91 8,27 9,12 3,83 1,44 1,24 - - LSD0,05

Ghi chú: a, b, c chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột không

có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05

Bảng 3.27. Ảnh hư ng của lượng ạm bón ến các yếu tố cấu thành

năng suất của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013

và HT2013 tại Quảng Ngãi

Tỷ lệ lép Lượng KL1.000 hạt Số bông/m2 Số hạt chắc/bông (%) (g) đạm

(kg N/ha) ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT

80 318,9a 337,5b 103,5a 109,1a 11,1b 16,6c 24,1 22,5

100 325,4a 340,4b 108,4a 110,8a 10,7b 17,4bc 24,4 22,6

120 329,0a 357,1a 109,5a 105,0b 11,8ab 18,4b 24,2 22,4

140 332,3a 336,3b 105,0a 103,1b 13,5a 23,9a 24,1 22,2

15,94 8,08 9,14 3,33 2,06 1,78 - - LSD0,05

Ghi chú: a, b, c chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột không

có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05

Về ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng

suất, kết quả ở Bảng 3.27 cho thấy lượng đạm bón không ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng 1.000 hạt, số bông/m2, tuy nhiên nó ảnh hưởng đến tỷ lệ

97

lép. Tỷ lệ lép tăng lên khi tăng lượng đạm bón và có sự sai khác có ý nghĩa

về chỉ tiêu tỷ lệ lép ở mức đạm 140 kgN/ha so với các mức bón đạm còn lại

ở độ tin cậy 95%.

Bảng 3.28. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón

ến năng suất lý thuyết và năng suất thực thu giống lúa MT18cs

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

Năng suất lý thuyết Năng suất thực thu

Công thức (tạ/ha) (tạ/ha)

ĐX HT ĐX HT

CT1 71,7b 68,1ef 49,7d 59,3a

CT2 78,5ab 85,5bc 53,9cd 61,1a

CT3 82,9ab 87,4abc 56,4bcd 57,1a

CT4 84,7ab 89,5ab 58,7abc 58,3a

CT5 86,1ab 74,4def 59,1abc 60,9a

CT6 83,4ab 87,8abc 61,6abc 63,5a

CT7 87,3a 87,1abc 56,0abcd 57,9a

CT8 86,1ab 89,7ab 58,8abc 59,8a

CT9 80,2ab 75,0de 59,3abc 61,9a

CT10 93,0a 93,4a 64,8a 65,1a

CT11 91,2a 83,1bc 62,6ab 59,8a

CT12 82,6ab 80,3cd 59,0abc 58,0a

CT13 82,0ab 66,6f 56,7bcd 58,5a

CT14 81,8ab 83,4bc 60,6abc 61,3a

CT15 87,1a 83,0bc 60,5abc 59,8a

CT16 84,5ab 72,5def 59,6abc 58,3a

10,34 5,87 7,46 7,85 CV (%)

14,62 8,07 7,36 7,45 LSD0,05 (m*n)

Ghi chú: a, b, c, e, f, g chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột

không có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05

98

Năng suất cao luôn là mục tiêu quan trọng nhất của các nhà chọn tạo

giống, nó quyết định giá trị kinh tế của giống cây trồng trong sản xuất. Ngoài

ra, năng suất là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh đầy đủ sự sinh trưởng, phát

triển của cây trồng cũng như kết quả áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm

canh trong sản xuất. Năng suất lý thuyết phản ánh tiềm năng năng suất của

giống và phụ thuộc vào các yếu tố cấu thành năng suất là số bông/m2, số hạt

chắc/ bông và khối lượng 1.000 hạt.

Năng suất lý thuyết của giống lúa MT18cs vụ Đông Xuân dao động từ

71,7 - 93,0 tạ ha, cao nhất ở công thức sạ 90 kg/ha và bón 120 kg N/ha, thấp

nhất ở công thức sạ 70 kg/ha và bón 80 kg N/ha. Năng suất lý thuyết vụ Hè

Thu dao động từ 66,6 - 93,4 tạ ha, cao nhất ở công thức sạ 90 kg/ha và bón

120 kg N/ha, thấp nhất ở công thức sạ 70 kg/ha và bón 140 kg N/ha.

Năng suất thực thu là lượng chất khô mà cây trồng tích lũy được ở các bộ

phận có giá trị kinh tế lớn nhất đối với lợi ích con người. Đây là chỉ tiêu quan

trọng đánh giá kết quả tác động của các biện pháp kỹ thuật. Năng suất thực thu

của các công thức thí nghiệm vụ Đông Xuân dao động từ 49,7 - 64,8 tạ/ha, vụ

Hè Thu từ 57,1 - 65,1 tạ/ha. Công thức CT10 (gieo sạ 90 kg/ha, bón 120 kgN/ha)

cho năng suất thực thu cao nhất ở cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu.

Xét ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến năng suất của giống lúa

MT18cs cho thấy ở cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu, lượng giống gieo 90

kg/ha cho năng suất thực thu cao nhất; năng suất thực thu vụ Đông Xuân đạt

60,2 tạ/ha, vụ Hè Thu đạt 62,8 tạ/ha.

Xét ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất, cho thấy bón ở mức

120 kgN/ha cho năng suất thực thu cao nhất, vụ Đông Xuân đạt 61,4 tạ/ha, vụ

Hè Thu đạt 61,2 tạ/ha; thấp nhất là mức bón 80 kgN/ha, năng suất chỉ đạt 54,7

tạ/ha trong vụ Đông Xuân và đạt 59 tạ/ha trong vụ Hè Thu. Không thấy sai

khác có ý nghĩa về mặt thông kê của về năng suất thực thu giữa các mức bón

đạm khác nhau ở độ tin cậy 95% trong vụ Hè Thu.

99

Bảng 3.29. Ảnh hư ng của lượng giống gieo sạ ến năng suất giống lúa

MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

Năng suất lý thuyết Năng suất thực thu Lượng

(tạ/ha) (tạ/ha) giống sạ

(kg/ha) ĐX HT ĐX HT

70 80,0a 71,0c 56,2b 60,2ab

90 84,0a 87,5a 60,2a 62,8a

110 87,2a 85,2ab 58,9ab 58,7b

130 84,6a 83,0b 59,0ab 58,6b

7,31 4,04 3,68 3,97 LSD0,05

Ghi chú: a, b, c chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột không có sai

khác ý nghĩa tại mức 0,05.

Hình 3.7. Biểu ồ so sánh năng suất thực thu của giống MT18cs các lượng

giống gieo sạ khác nhau trong vụ ĐX và HT

100

Bảng 3.30. Ảnh hư ng của lượng ạm bón ến năng suất giống lúa MT18cs

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

Năng suất lý thuyết Năng suất thực thu Phân đạm (tạ/ha) (tạ/ha) (kg N/ha) ĐX ĐX HT HT

80 79,5a 54,7b 59,0a 82,6a

100 85,7a 58,9ab 60,5a 84,8a

120 86,8a 61,4a 61,2a 83,0a

140 83,9a 59,3ab 59,5a 76,4b

8,69 4,84 7,21 3,67 LSD0,05

Ghi chú: a, b, c chỉ ra các công thức có cùng ký tự trong một cột không

có sai khác ý nghĩa tại mức 0,05.

Hình 3.8. Biểu ồ so sánh năng suất thực thu của giống lúa MT18cs các

lượng ạm bón khác nhau trong vụ ĐX và HT

101

Hình 3.9. Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón với năng

suất thực thu của giống lúa MT18 trong vụ Đông Xuân 2012

Xét mối tương quan giữa lượng giống gieo sạ và phân đạm với năng suất

thu của giống lúa ngắn ngày MT18 vụ Hè Thu ở Hình 3.9 cho thấy: Có sự

tương quan rất chặt giữa năng suất thực thu với lượng giống gieo sạ trên nền bón phân đạm 80 kg N/ha và 120- 140 kgN/ha với hệ tương quan R2= 0,91- 0,99 và phương trình hồi quy y = -0,0012x2 + 0,385x + 28,644; y = -0,0057x2 + 1,122x + 8,9438; y = -0,003x2 + 0,643x + 26,55. Tuy nhiên, có sự tương

quan lỏng giữa lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón 100 kg N/ha với năng suất thực thu của giống lúa MT18 với R2 = 0,14 và phương trình hồi quy y = - 0,0002x2 + 0,07x + 63,906.

102

Hình 3.10. Tương quan giữa lượng giống gieo sạ và lượng ạm bón với

năng suất thực thu của giống lúa MT18 trong vụ Hè Thu 2012

Kết quả phân tích tương quan ở Hình 3.10 giữa lượng giống gieo sạ và

phân đạm với năng suất thực thu của giống lúa ngắn ngày MT18 vụ Hè Thu

cũng cho thấy: Có mối tương quan lỏng, phi tuyến tính giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón 80 -100 kg N/ha với R2 =0,25 - 0,29. Có nghĩa là trên nền

bón đạm mức 80 - 100 kg N thì ảnh hưởng của lượng giống gieo sạ đến năng suất thực thu là không đáng kể theo 2 phương trình hồi quy là y = -0,0004x2 + 0,04x + 58,9 và y = -0,0004x2 + 0,043x + 60,8. Xét mối tương quan giữa

lượng giống gieo sạ và lượng đạm bón 120 - 140 kg N/ha với năng suất thực thu cho thấy, có sự tương quan chặt với hệ số tương quan cao là R2 = 0,74 - 0,80 và phương trình hồi quy y = -0,0031x2 + 0,54x + 40,0 và y = -0,0027x2 +

0,527x + 34,9. Tuy nhiên, tương quan ở đây là tương quan phi tuyến tính, có

nghĩa là nếu lượng giống gieo sạ quá cao thì năng suất lúa có xu hướng không

tăng lên mà sẽ dừng lại và giảm xuống.

103

3.2.1.6. Phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm

Bảng 3.31. Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm

( ơn vị tính 1.000 ồng)

Tổng thu/ha

Lãi thuần/ha

Công

Tổng

thức

chi/ha

ĐX

HT

TB

ĐX

HT

TB

CT1

20.431

29.820

35.580

32.700

9.389

15.149

12.269

CT2

21.671

32.340

36.660

34.500

10.669

14.989

12.829

CT3

22.911

33.840

34.260

34.050

10.929

11.349

11.139

CT4

24.211

35.220

34.980

35.100

11.009

10.769

10.889

CT5

20.874

35.460

36.540

36.000

14.586

15.666

15.126

CT6

22.114

36.960

38.100

37.530

14.846

15.986

15.416

CT7

23.354

33.600

34.740

34.170

10.246

11.386

10.816

CT8

24.654

35.280

35.880

35.580

10.625

11.226

10.926

CT9

21.317

35.580

37.140

36.410

14.263

15.823

15.093

CT10

22.557

38.880

39.060

38.970

16.323

16.503

16.413

CT11

23.797

37.560

35.880

36.720

13.763

12.083

12.923

CT12

25.097

35.400

34.800

35.100

10.303

9.703

10.003

CT13

21.770

34.020

35.100

34.560

12.249

13.330

12.790

CT14

23.010

36.360

36.780

36.570

13.350

13.770

13.560

CT15

24.250

36.300

35.880

36.090

12.049

11.630

11.840

CT16

25.550

35.760

34.980

35.370

10.209

9.430

9.820

Ghi chú: Giá phân chuồng: 300 /kg; Ure: 10.300 /kg; Lân Văn Điển: 3000

/kg; Kali: 11.600 /kg; giống: 12.000 /kg; Công lao ộng: 100.000 /công; sản

phẩm bán ra (lúa): 6.000 /kg.

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu đánh giá một hoạt động sản xuất kinh doanh

nói chung và quá trình sản xuất lúa nói riêng. Hiệu quả kinh tế là cơ sở để

người sản xuất quyết định các phương án đầu tư trong quá trình sản xuất. Để

đánh giá ý nghĩa thực tiễn kết quả nghiên cứu đề tài chúng tôi tiến hành phân

tích hiệu quả kinh tế của các tổ hợp phân đạm và lượng giống gieo sạ khác

104

nhau, làm cơ sở cho việc đề xuất các tổ hợp phân bón và lượng giống gieo

phù hợp với điều kiện sản xuất của vùng, cho hiệu quả kinh tế cao.

Qua số liệu ở Bảng 3.31 phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức

thí nghiệm, cho thấy:

- Tổng thu trên một đơn vị diện tích sản xuất: Là yếu tố cuối cùng của

một quá trình sản xuất và là mục tiêu cần đạt được của người sản xuất. Nó

được đánh giá thông qua năng suất thực thu của các công thức thí nghiệm và

giá bán thóc. Qua kết quả phân tích hiệu quả kinh tế trung bình cả hai vụ

Đông Xuân và Hè Thu cho thấy các tổ hợp lượng giống gieo và phân đạm

khác nhau thì có tổng thu trên 01 ha khác nhau. Trong đó, lượng giống gieo

90 kg/ha và bón 120 kg N/ha có tổng thu cao nhất đạt 38.970 nghìn đồng;

công thức có lượng giống gieo 70 kg/ha và bón 80 kg N/ha cho tổng thu thấp

nhất là 32.700 nghìn đồng.

- Tổng chi trên một đơn vị diện tích sản xuất bao gồm: tiền giống,

thuốc bảo vệ thực vật, phân bón và công lao động của người dân. Tổng chi

tính cho 01 ha ở các công thức thí nghiệm dao động từ 20.431.000 -

25.550.000 đồng; trong đó cao nhất là công thức có lượng giống gieo 130

kg/ha và bón 140 kg N/ha; thấp nhất là công thức có lượng giống gieo 70

kg/ha và mức đạm 80 kg N/ha.

- Lãi thuần trên một đơn vị diện tích sản xuất: là số tiền chênh lệch giữa

tổng thu và tổng chi của các công thức thí nghiệm. Lãi thuần trung bình cao

nhất cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu ở công thức CT10 (gieo sạ 90 kg/ha và

bón 120 kg N/ha) đạt 16.413.000 đồng; tiếp theo là CT6, CT5, CT9 từ

15.093.000 - 15.416.000 đồng.

Tóm lại: Với các công thức lượng giống gieo sạ khác nhau, nếu lượng

giống gieo sạ quá dày thì dẫn đến sự tranh chấp nhau về dinh dưỡng và ánh

sáng của cây lúa trên cùng một diện tích, làm ảnh hưởng đến một số đặc trưng

hình thái của giống như chiều cao cây, diện tích lá đòng, số nhánh hữu hiệu…

105

- Các công thức bón đạm với các mức khác nhau, nếu lượng đạm quá

cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởng đến một số đặc điểm nông học của giống như

chiều cao cây, thời gian sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh hại…

- Đối với giống lúa có thời gian sinh trưởng cực ngắn ngày (MT18cs),

lượng giống gieo sạ và mức bón đạm phù hợp trên đất phù sa không được bồi

hàng năm tại tỉnh Quảng Ngãi cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất

trong cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu là công thức gieo sạ 90 kg giống/ha và

lượng phân đạm bón là 120 kgN/ha. Kết quả này cũng trùng hợp với kết luận

của Nguyễn Thị Lẫm (1994), muốn đạt năng suất lúa 50 tạ/ha/vụ cần bón từ

100 - 120 kg N/ha. Lượng đạm này lấy từ các loại phân vô cơ và hữu cơ bón

cho lúa [41].

3.2.2. Kết quả nghiên cứu thời vụ gieo sạ thích hợp đối với giống lúa

MT18cs tại vùng nghiên cứu

Hiện nay sản xuất lúa ở tỉnh Quảng Ngãi, cũng như một số tỉnh

DHNTB đang đứng trước những khó khăn và thách thức đó là những tác động

bất thường bởi biến đổi khí hậu, trực tiếp là các yếu tố rét lạnh, hạn hán, gió

mùa khô nóng, bão, lụt…đã tác động xấu đến quá trình sinh trưởng phát triển

của cây lúa, làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng lúa ở trong vùng.

Với đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu và tập quán sản xuất, lúa ở Quảng

Ngãi được trồng hai thời vụ chính: vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu. Thời vụ

trồng lúa thích hợp được xác định dựa trên yêu cầu sinh thái của cây lúa, thời

gian sinh trưởng và sự diễn biến của các yếu tố tự nhiên: nhiệt, bức xạ, mưa,

ẩm… Xác định thời vụ thích hợp có nghĩa là người trồng lúa đã đặt cây lúa

sinh trưởng phát triển trong điều kiện tốt nhất, cho năng suất cao, chất lượng

tốt, tránh được những điều kiện thời tiết bất thuận và sự phát sinh sâu bệnh

hại xảy ra vào các thời kỳ sinh trưởng phát triển quan trọng, đồng thời không

gây ảnh hưởng xấu đến cây trồng trước và sau nó.

Qua nghiên cứu về ảnh hưởng của thời vụ gieo sạ đối với giống lúa

MT18cs tại tỉnh Quảng Ngãi trong vụ Đông Xuân 2012- 2013 và Hè Thu

2013, chúng tôi thu được một số kết quả như sau:

106

3.2.2.1. Ảnh hư ng của thời vụ gieo sạ ến thời gian sinh trư ng, khả năng

ẻ nhánh và diện tích lá òng của giống MT18cs

Thời gian sinh trưởng thường liên quan đến đặc tính di truyền của

giống. Tuy nhiên, các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa phụ thuộc khá nhiều

vào điều kiện canh tác cũng như điều kiện ngoại cảnh ở mỗi vùng sinh thái

khác nhau. Với các giống lúa cảm ôn, nếu sinh trưởng phát triển trong điều

kiện nhiệt độ cao, ánh sáng đầy đủ thì thời gian sinh trưởng sẽ rút ngắn. Nắm

vững thời gian sinh trưởng của cây lúa ở từng thời vụ cụ thể, sẽ giúp cho việc

bố trí hợp lý một giống lúa nhất định trong hệ thống cây trồng của một chu kỳ

sản xuất, nhằm thu được hiệu quả kinh tế cao nhất.

Bảng 3.32. Ảnh hư ng của thời vụ gieo sạ ến thời gian sinh trư ng,

khả năng ẻ nhánh và diện tích lá òng của giống lúa MT18cs

trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

Số nhánh TGST Chiều cao cây hữu hiệu (ngày) (cm) Diện tích lá đòng (cm2) Thời vụ sạ (nhánh/khóm)

ĐX HT ĐX HT ĐX ĐX HT HT

CT 1 89 78 95,6a 100,2a 1,7b 32,6c 33,5b

CT 2 86 76 32,9bc 33,7ab

CT 3 85 33,4abc 35,3ab

CT 4 83 35,7a 36,1a 1,5d 2,0b 2,7a 2,1b

CT 5 83 95,3a 103,1a 1,7b 99,4a 108,2a 1,9b 76 74 102,1a 105,4a 2,5a 97,2a 101,9a 2,4a 74 1,7c 35,3ab 35,0ab

CV (%) - - 5,70 7,65 7,14 4,38 3,88 3,83

- - 10,56 14,94 0,28 0,20 2,48 2,50 LSD0,05

Qua theo dõi ảnh hưởng của thời vụ gieo sạ đối với thời gian sinh

trưởng của giống lúa MT18cs ở vụ Đông Xuân 2013 và Hè Thu 2012 cho

thấy ở vụ Đông Xuân, nếu bố trí thời vụ càng về sau thì thời gian sinh trưởng

của giống có xu hướng càng rút ngắn dần thời gian lại khoảng 3- 6 ngày, CT1

(89 ngày), CT 2 (86 ngày), CT 3 (85 ngày) đến CT 4 và CT 5 còn (83 ngày);

107

riêng đối với vụ Hè Thu tổng thời gian sinh trưởng của các trà lúa đều rút

ngắn so với vụ Đông Xuân khoảng 9-11 ngày. Vấn đề này được lý giải, do khí

hậu thời tiết vụ Đông Xuân càng dịch chuyển về sau, nhất là từ tháng 3 đến

tháng 4; cũng như các trà cuối ở vụ Hè Thu có điều kiện thuận lợi về ánh sáng

và nhiệt độ cao, cần thiết cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa, nên

việc rút ngắn thời gian sinh trưởng như được nêu ở trên là hoàn toàn đúng với

quy luật sinh trưởng của cây lúa.

Chiều cao cây lúa là một đặc trưng hình thái liên quan đến khả năng

sinh trưởng, phát triển, tính chống đổ và khả năng thâm canh của mỗi giống

lúa. Sự tăng trưởng chiều cao cây là do các yếu tố tác động như điều kiện

ngoại cảnh, chế độ nước, giống, đất đai, mật độ cấy… trong đó, thời vụ gieo

sạ có liên quan đến chế độ ánh sáng và nhiệt độ, là những yếu tố có ảnh

hưởng rất lớn đến khả năng tăng trưởng chiều cao của cây lúa.

Chiều cao cây cuối cùng của cây lúa được tính từ gốc lúa đến đỉnh

bông lúa. Qua theo dõi ảnh hưởng của thời vụ gieo sạ đến chiều cao cây cuối

cùng cho thấy: ở vụ Đông Xuân, các công thức càng gieo sạ về sau (CT3,

CT4, CT5), càng có điều kiện thời tiết thuận lợi nên cây sinh trưởng phát triển

tốt, chiều cao cây đều cao hơn so với CT 1 và CT 2; trà lúa có chiều cao cây

cuối cùng cao nhất là CT 4 với 102,1 cm, cao hơn CT 1 và CT 2 từ 6,5 - 6,8

cm. Vụ Hè Thu, chiều cao cây cuối cùng ở các thời vụ gieo dao động từ 100,2

- 108,2 cm, công thức có chiều cao cây cuối cùng cao nhất là CT 3 (108,2

cm) và thấp nhất là CT 1 (100,2 cm). Số nhánh hữu hiệu liên quan đến tổng

số nhánh trên cây, thường số nhánh tối đa cao thì số nhánh hữu hiệu cũng đạt

cao. Trong đó thời vụ gieo trồng đóng vai trò quan trọng trong việc hình

thành số nhánh hữu hiệu và các yếu tố cấu thành năng suất. Qua theo dõi, vụ

Đông Xuân số nhánh hữu hiệu của các thời vụ gieo biến động từ 1,7 - 2,5

nhánh, trong đó thời vụ gieo có số nhánh hữu hiệu cao nhất là CT 4 (2,5

nhánh) và thấp nhất là CT 1 và CT 2 (1,7 nhánh). Vụ Hè Thu, số nhánh hữu

hiệu biến động từ 1,5 - 2,7 nhánh, thời vụ gieo có số nhánh hữu hiệu cao nhất

là CT 3 (2,7 nhánh) và thấp nhất là CT 1 (1,5 nhánh).

108

Diện tích lá đòng có liên quan đến khả năng quang hợp, quyết định khả

năng tích lũy chất khô vào hạt ở thời kỳ sau trỗ và có liên quan mật thiết đến

năng suất. Diện tích lá đòng chịu sự chi phối bởi yếu tố khí hậu, trong đó bức

xạ và lượng chiếu sáng có ảnh hưởng rất lớn đến chỉ tiêu này. Kết quả nghiên

cứu cho thấy, ở vụ Đông Xuân các công thức càng gieo sạ về sau (CT4, CT5),

càng có điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của lá đòng, các CT 1,

CT 2 và CT 3 có diện tích lá đòng thấp hơn CT 4 và CT 5. Vụ Hè Thu, diện tích lá đòng dao động từ 33,5 - 36,1 cm2, diện tích lá đòng đạt cao nhất ở CT 4 và thấp nhất ở CT 1.

3.2.2.2. Ảnh hư ng của thời vụ gieo sạ ến tình hình sâu bệnh của giống MT18cs

Sâu, bệnh gây hại là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến

năng suất lúa. Sâu, bệnh hại làm cho cây lúa sinh trưởng không bình thường;

làm rối loạn các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây hoặc làm mất một bộ

phận nào đó của cây. Do vậy sẽ dẫn đến làm giảm năng suất và chất lượng

nông sản phẩm. Khả năng chống chịu sâu bệnh của cây lúa phụ thuộc vào đặc

điểm của từng giống, điều kiện khí hậu, thời tiết, mùa vụ và các biện pháp kỹ

thuật canh tác. Nếu bố trí thời vụ hợp lý có thể né tránh được những yếu tố

bất lợi do sâu bệnh hại gây ra, vừa đảm bảo đạt năng suất, chất lượng nông

sản và hiệu quả kinh tế.

Qua theo dõi ảnh hưởng thời vụ gieo sạ đối với tình hình sâu bệnh hại

cho thấy các đối tượng sâu, bệnh hại chính với giống MT18cs là sâu đục thân,

sâu cuốn lá, rầy nâu, bệnh đạo ôn lá, khô vằn và đốm nâu cho thấy:

- Sâu đục thân: Qua theo dõi các công thức thí nghiệm về thời vụ cho

thấy, đối tượng sâu đục thân gây hại ở cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu nhưng

ở mức độ nhẹ (điểm 1).

- Sâu cuốn lá nhỏ: Đối tượng sâu cuốn lá nhỏ gây hại hầu hết ở các giai

đoạn sinh trưởng, nhưng mức độ gây hại nặng nhất là lúc lúa đẻ nhánh đến

làm đòng. Trong các công thức thí nghiệm thì hầu hết sâu cuốn lá nhỏ chỉ

xuất hiện ở mức nhẹ (điểm 1-3), riêng CT1 và CT 5 ở cả 2 vụ Đông Xuân và

Hè Thu sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở mức trung bình (điểm 3-5).

109

- Rầy nâu: Qua theo dõi, nhận thấy rầy nâu xuất hiện ở cả hai vụ Đông

Xuân và Hè Thu từ khi lúa đẻ nhánh đến khi lúa chín nhưng ở mức độ thấp,

không đáng kể (điểm 0-1).

- Bệnh đạo ôn hại lá: Ở tất cả các công thức thí nghiệm thời vụ, giống

MT18cs đều nhiễm nhẹ đạo ôn hại lá (điểm 1).

- Bệnh khô vằn, đốm nâu: kết quả đánh giá cho thấy tất cả các công

thức thí nghiệm đều nhiễm bệnh khô vằn và đốm nâu, trong đó, CT 1 và CT5

nhiễm trung bình (điểm 3), các công thức thời còn lại nhiễm nhẹ (điểm 0- 1).

Bảng 3.33. Ảnh hư ng của thời vụ gieo sạ ến tình hình sâu

bệnh hại của giống lúa MT18cs

(Số liệu trung 2 vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi)

Bệnh hại (điểm 0-9) Sâu hại (điểm 0-9)

Thời vụ sạ Đạo ôn Đạo ôn Khô Đốm Đục Cuốn Rầy

lá cổ bông vằn nâu thân lá nhỏ nâu

Vụ Đông Xuân 2013

1 1-3 1 3 1 0 CT 1 3

1 1 1 1 1 0 CT 2 1-3

0-1 1 1 1-3 1 0 CT 3 1-3

0-1 0-1 1 1-3 1 0 CT 4 1-3

1 3 1 5 1 0 CT 5 5

Vụ Hè Thu 2013

1 3 1 5 1 0 CT 1 3

1 1 1 1-3 1 0 CT 2 1-3

1 0-1 1 1-3 1 0 CT 3 1

0-1 0-1 1 1-3 1 0 CT 4 1-3

1 3 1 5 1 0 CT 5 3

110

3.2.2.3. Ảnh hư ng của thời vụ gieo sạ ến các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất của giống lúa MT18cs

Kết quả đánh giá về ảnh hưởng của thời vụ sạ đối với các yếu tố cấu

thành năng suất của giống lúa MT18cs thể hiện ở Bảng 3.34.

Bảng 3.34. Ảnh hư ng của thời vụ gieo trồng ến các yếu tố cấu thành

năng suất của giống lúa MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013

và HT2013 tại Quảng Ngãi

KL1000 hạt Số bông/m2 Số hạt chắc/bông Tỷ lệ lép (%) (g) Thời

vụ sạ ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT

2013 2012 2013 2012 2013 2012 2013 2012

CT 1 325,0a 368,3ab 114,4a 100,8b 6,9e 21,8a 22,1 20,5

CT 2 326,7a 346,7b 118,5a 113,3a 15,7c 13,1b 22,2 20,7

CT 3 339,3a 376,7a 119,4a 113,4a 9,2d 11,6b 22,2 20,9

CT 4 332,0a 378,3ab 113,8a 115,5a 18,3b 11,5b 22,1 20,5

CT 5 344,3a 370,0b 95,3b 98,1b 21,7a 20,5a 22,1 20,6

CV(%) 4,50 3,71 5,08 3,59 5,48 3,33 - -

25,48 10,36 0,97 1,62 7,03 - - LSD0,05 28,27

- Số bông/m2: Là một trong những yếu tố quyết định lớn đến năng suất của cây lúa. Số bông/m2 phụ thuộc vào vào khả năng đẻ nhánh của giống, số

nhánh hữu hiệu trên cây và đặc biệt là các yếu tố tác động bên ngoài như các

biện pháp kỹ thuật, khí hậu thời tiết… Do vậy, để đạt số bông cao nhất thì cần

tác động những biện pháp kỹ thuật như bố trí thời vụ, các biện pháp kỹ thuật

canh tác thích hợp để cây lúa đạt số nhánh hữu hiệu cao nhất. Kết quả đánh giá cho thấy, ở vụ Đông Xuân số bông/m2 của các công thức thí nghiệm thời

vụ dao động từ 325,0- 344,3 bông, các thời vụ gieo về sau có xu hướng đạt số bông/m2 cao hơn do yếu tố thời tiết tương đối thuận lợi; số bông/m2 đạt cao nhất là CT5 và thấp nhất là CT1. Vụ Hè Thu số bông/m2 ở các trà lúa biến

111

động từ 346,7 -378,3 bông, cao hơn vụ Đông Xuân khoảng 21,7 - 34 bông và

cao nhất là CT 4 đạt 378,3 bông, thấp nhất là CT 2 chỉ đạt 346,7 bông.

- Số hạt chắc trên bông: Số hạt chắc trên bông phụ thuộc vào điều kiện

ngoại cảnh ánh sáng, nhiệt độ, chế độ phân bón… nhất là thời kỳ từ trỗ đến

vào chắc, nếu bố trí thời vụ hợp lý để cây lúa trỗ bông thuận lợi, bón phân

đón đòng đúng lúc, duy trì lá đòng xanh vào thời kỳ cuối và phòng trừ sâu

bệnh,… là những biện pháp hữu hiệu để hạn chế tỷ lệ lép và nâng cao số hạt

chắc/bông. Vụ Đông Xuân, số hạt chắc trên bông biến động từ 95,3 -119,4

hạt; trong đó CT2, CT 3 đạt số hạt chắc trên bông cao nhất (118,5 và 119,4

hạt), thấp nhất là CT 5 (95,3 hạt). Vụ Hè Thu, số hạt chắc trên bông biến động

từ 98,1 - 115,5 hạt, trong đó thời vụ đạt số hạt chắc trên bông cao nhất là CT

4 (115,5 hạt ) và thấp nhất là CT 5 và CT 1 (98,1 và 100,8 hạt).

- Tỷ lệ lép: Cũng như hạt chắc trên bông, tỷ lệ hạt lép là yếu tố phản

ánh khả năng thụ phấn, thụ tinh và tích lũy chất dinh dưỡng của cây lúa vào

giai đoạn cuối; trong đó thời vụ gieo sạ là một trong những biện pháp kỹ thuật

khá quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ hạt lép trên bông.

Qua kết quả ở các công thức thí nghiệm vụ của vụ Đông Xuân cho thấy

tỷ lệ hạt lép trên bông biến động từ 6,9 - 21,7%, thời vụ có tỷ lệ hạt lép thấp

nhất là CT 1 (6,9%), tiếp đến là CT3 (9,2%) và cao nhất là CT5 (21,7%). Vụ

Hè Thu, tỷ lệ hạt lép biến động từ 11,5 - 21,8%; trong đó CT 1 có tỷ lệ lép đạt

cao nhất (21,8%); và thấp nhất là CT 3, CT 4 (11,6 và 11,5%).

- Khối lượng 1000 hạt: các trà lúa thí nghiệm có sự khác nhau nhưng

không đáng kể, yếu tố này chủ yếu phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống.

- Năng suất lý thuyết: Phản ánh tiềm năng năng suất của một giống cây

trồng nào đó có thể đạt được trong điều kiện tối ưu. Qua nghiên cứu về năng

suất lý thuyết giữa các thời vụ thí nghiệm ở vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu cho

thấy: Vụ Đông Xuân, CT3 có năng suất lý thuyết đạt cao nhất (89,9 tạ/ha),

tiếp đến là CT2 (85,9 tạ/ha) và thấp nhất là CT5 (72,5 tạ/ha); vụ Hè Thu, năng

112

suất lý thuyết biến động từ 74,8 - 89,6 tạ/ha, đạt cao nhất là CT4 (89,6 tạ/ha),

tiếp đến là CT3 (89,3 tạ/ha) và thấp nhất là CT5 (74,8 tạ/ha).

Bảng 3.35. Ảnh hư ng của thời vụ gieo ến năng suất của giống lúa

MT18cs trong vụ ĐX 2012- 2013 và HT2013 tại Quảng Ngãi

Năng suất lý thuyết Năng suất thực thu

(tạ/ha) (tạ/ha) Thời vụ

ĐX HT ĐX HT

CT 1 82,4a 76,1b 56,3b 57,1bc

CT 2 85,9a 81,3ab 63,8a 60,3abc

CT 3 89,9a 89,3a 62,5a 62,7ab

CT 4 83,5a 89,6a 51,3b 63,6a

CT 5 72,5b 74,8b 47,5c 56,5c

CV (%) 5,52 5,39 5,00 5,21

8,61 8,35 5,30 5,89 LSD0,05

Hình 3.11. Biểu ồ so sánh năng suất thực thu của giống lúa MT18cs các

công thức thí nghiệm về thời vụ gieo sạ trong vụ ĐX và HT

113

- Năng suất thực thu: Đây là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp các yếu tố cấu

thành năng suất của giống. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở thời vụ khác nhau

thì năng suất thực thu giữa các thời vụ gieo có sự chênh lệch nhau rõ rệt và sự

khác nhau này có ý nghĩa về mặt thống kê. Trong đó, năng suất thực thu đạt

cao nhất ở vụ Đông Xuân là CT 2 (63,8 tạ/ha), tiếp đến là CT 3 (62,5 tạ/ha) và

thấp nhất là CT 5 (47,5 tạ/ha); Vụ Hè Thu, năng suất thực thu đạt cao nhất đó

là CT 4 (63,6), tiếp đến là CT 3 (62,7 tạ/ha) và thấp nhất là CT 5 (56,5 tạ/ha).

Tóm lại: Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng thời vụ gieo sạ đối với sinh

trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa

MT18cs tại Quảng Ngãi cho thấy: đối với vụ Đông Xuân, thời vụ gieo sạ thích

hợp nhất đảm bảo giống sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao là từ 27/12-

03/01 (CT2 và CT3), để lúa trỗ vào trong khoảng đầu tháng 3 (ở tiết Kinh trập),

thu hoạch vào khoảng 05/4- 10/4; ở vụ Hè Thu, thời vụ gieo sạ giống MT18cs

thích hợp, cho năng suất cao nhất từ 03/6 - 10/6 (CT3, CT4) để lúa trỗ vào

khoảng 28/7- 05/8 (trước tiết lập Thu), thu hoạch vào khoảng từ 25/8- 30/8.

3.3. Kết quả xây dựng mô hình ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm

canh giống lúa ngắn ngày được đề tài đề xuất tại vùng nghiên cứu

3.3.1. Quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa thuần có thời gian sinh

trưởng cực ngắn ngày tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ được đề tài

nghiên cứu đề xuất

Từ kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài thông qua các thí nghiệm

tuyển chọn giống lúa thuần mới ngắn ngày; Xác định một số biện pháp kỹ

thuật phân bón, mật độ sạ và thời vụ tại vùng nghiên cứu, cũng như kế thừa

một kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, đề tài

nghiên cứu đề xuất quy trình sản xuất thâm canh giống lúa cực ngắn ngày

(giống có TGST trong vụ Đông Xuân từ 90- 95 ngày; vụ Hè Thu từ 80- 85

ngày) tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ như sau:

- Thời vụ gieo sạ: Vụ Đông Xuân gieo sạ thích hợp nhất từ 27/12-

03/01, để lúa trỗ vào trong khoảng đầu tháng 3 (ở tiết kinh trập), thu hoạch

114

vào khoảng từ 05/4- 10/4; Vụ Hè Thu gieo sạ thích hợp nhất từ ngày 03/6 -

10/6 để lúa trỗ vào khoảng 28/7- 05/8 (trước tiết lập Thu), thu hoạch vào

khoảng từ 20/8- 25/8; Tùy theo thực tế thời tiết từng năm có thể điều chỉnh

thời vụ gieo sạ sớm hơn hay muộn hơn đề xuất ở trên khoảng 5 ngày.

- M t ộ gieo sạ: Lượng giống sử dụng để gieo sạ thích hợp từ 90 kg

hạt giống cho một ha. Tương đương với mật độ cây hữu hiệu khoảng từ 250 cây/m2 đến 330 cây/m2.

- Lượng phân bón tính cho một ha gieo trồng: 5 tấn phân chuồng hoai

mục + 120 kg N + 80 kg P2O5 + 90 kg K2O, đất chua có thể sử dụng 300 kg

vôi bột (có quy trình chi tiết ở phụ lục 1).

3.3.2. Kết quả xây dựng mô hình ứng dụng biện pháp kỹ thuật mới đã được

đề tài nghiên cứu đề xuất

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài chúng tôi sử dụng

giống lúa mới được tuyển chọn là MT18cs và ứng dụng quy trình thâm canh ở

trên để xây dựng mô hình tại các địa phương để kiểm chứng kết quả nghiên

cứu trên diện rộng, sử dụng: giống lúa OMcs96 và KD18 để làm đối chứng.

3.3.2.1. Một số ặc tính nông học của giống lúa MT18cs các mô hình trong

vụ Đông Xuân và Hè Thu

Qua số liệu Bảng 3.36 cho thấy:

- Thời gian sinh trưởng: Giống MT18cs có thời gian sinh trưởng thuộc

nhóm cực ngắn ngày, vụ Đông Xuân có TGST 92 ngày, ngắn hơn giống đối

chứng 1 (OMcs 96) là 2 ngày và ngắn hơn giống đối chứng 2 (KD18) là 24

ngày; vụ Hè Thu có TGST 82 ngày, tương đương giống đối chứng 1 (P6ĐB)

và ngắn hơn giống đối chứng 2 (KD18) là 22 ngày.

- Chiều cao cây: Giống MT18cs có chiều cao cây trung bình từ 84-

101cm, tương đương giống đối chứng 1 (OMcs 96) và thấp cây hơn giống đối

chứng 2 (KD18) từ 10 - 15cm.

- Độ thuần đồng ruộng: Giống MT18cs có độ thuần đồng ruộng trung

bình, điểm 1- 5, tương đương với đối chứng 1 và 2.

115

- Độ thoát cổ bông: Giống MT18cs trỗ thoát cổ bông tốt (điểm 1),

tương đương giống đối chứng OMcs 96 và KD18 .

- Độ cứng cây: giống lúa MT18cs khá cứng cây (điểm 1), cứng cây hơn

giống đối chứng OMcs 96 và KD18 trong vụ Hè Thu.

- Độ tàn lá: Giống MT18cs có độ tàn lá muộn đến trung bình (điểm 1-

5), tương đương đối chứng OMcs 96 và KD18.

- Độ rụng hạt: Giống lúa MT18cs gié dai, ít rụng hạt hơn giống đối

chứng OMcs 96 và KD18.

Bảng 3.36. Một số ặc iểm nông học của giống MT18cs

Độ

Độ

Chiều

Độ

Độ

Độ

thuần

thoát

TGST

cao

cứng

tàn

rụng

đồng

cổ

Vụ

Giống

(ngày)

cây

cây

hạt

ruộng

bông

(cm)

(điểm)

(điểm)

(điểm)

(điểm)

(điểm)

1

1

1

5

1

ĐX

MT18cs

92

86,3

2013

OMcs 96

94

84,8

5

1

1

5

3

-

(đ/c1)

1

1

1

5

5

2014

KD18 (đ/c2)

116

101,9

82

100,4

3

1

1

1

1

MT18cs

HT

OMcs 96

83

102,3

1

1

3

5

3

2014

(đ/c1)

5

1

3

5

5

KD18 (đ/c2)

104

108,8

các mô hình trong vụ ĐX 2013-2014 và HT 2014

3.3.2.2. Tình hình sâu bệnh hại ối với giống lúa MT18cs mô hình

Kết quả đánh giá thể hiện ở Bảng 3.37 cho thấy:

Nhìn chung trong vụ Đông Xuân và Hè Thu, giống lúa MT18cs trong

các mô hình nhiễm nhẹ các loại sâu bệnh chính như đạo ôn lá, đạo ôn cổ

bông, khô vằn và đốm nâu (điểm 0-3); sâu đục thân, cuốn lá và rầy nâu (điểm

0-3), tương đương giống đối chứng OMcs 96 và KD18.

116

Bảng 3.37. Tình hình sâu bệnh hại ối với giống lúa MT18cs

trong vụ ĐX 2013-2014 và HT 2014

Sâu (điểm 0-9) Bệnh (Điểm 0-9)

Vụ Giống Đục Cuốn Rầy Đạo ôn Đạo ôn Khô Đốm

thân lá nâu cổ bông vằn nâu lá

ĐX MT18cs 0-3 0-1 0-1 0 0-1 0-1 0

2013- OMcs 96 (đ/c1) 0-3 0-1 0-1 0-1 0-3 0-3 0

2014 KD18 (đ/c2) 0-3 0-1 0-1 0 0 0 0

MT18cs 0 1-3 0-1 0 0 1-5 0 HT OMcs 96 (đ/c1) 0-1 1-3 0-1 0 0 1-5 0 2014 KD18 (đ/c 2) 0 3 1 0 0 1-5 0

Ghi chú: Đánh giá mức ộ nhiễm sâu bệnh trên ồng ruộng có sử dụng thuốc BVTV.

3.3.2.3. Các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa MT18cs các mô hình

Bảng 3.38. Các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa MT18cs

Số hạt Tỷ lệ lép KL1.000 hạt Vụ Giống Số bông/m2 /bông (%) (g)

ĐX MT18cs 345,0 125,4 9,1 22,0

2013- OMcs 96 (đ/c1) 320,1 89,3 11,2 26,2

2014 KD18 (đ/c2) 310,0 152,3 15,8 19,9

HT MT18cs 322,0 137,9 13,1 20,6

2014 OMcs 96 (đ/c1) 311,2 103,7 21,4 25,3

KD18 (đ/c2) 285,0 162,6 22,8 18,4

Số liệu Bảng 3.38 cho thấy: - Số bông/m2: Giống MT18cs ở mô hình có số bông hữu hiệu/m2 đạt từ 322,0- 345,0 bông/m2, cao hơn giống đối chứng OMcs 96 và KD18 trong cả

vụ Đông Xuân và Hè Thu.

- Số hạt/bông: Giống lúa MT18cs có 125,4- 137,9 hạt/bông, cao hơn

giống đối chứng OMcs 96 nhưng thấp hơn giống đối chứng KD18.

117

- Tỉ lệ lép: Giống MT18cs có tỷ lệ lép thấp, thấp hơn giống đối chứng

OMcs 96 và KD18. Giống MT18cs có tỷ lệ lép trung bình khoảng từ 9-13%.

- Khối lượng 1.000 hạt: giống lúa MT18cs có khối lượng 1.000 hạt từ

20- 22 gam, cao hơn giống đối chứng KD18 từ 1,4- 2,2 gam.

3.3.2.4. Năng suất của giống lúa MT18cs các mô hình

Kết quả xây dựng mô hình thực nghiệm tại 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng

Ngãi và Phú Yên, 6 mô hình, trong vụ Đông Xuân 2013-2014 và Hè Thu

2014, quy mô mỗi mô hình 0,5 ha, thu được kết quả ở Bảng 3.39.

Số liệu Bảng 3.39 cho thấy:

- Vụ Đông Xuân năng suất giống MT18cs ở các mô hình dao động từ

55,2- 65,3 tạ/ha (điểm đạt năng suất cao nhất tại Trạm Khảo nghiệm và Hậu

kiểm giống cây trồng Sơn Tịnh, Quảng Ngãi), trung bình đạt 60,6 tạ/ha, cao

hơn giống đối chứng OMcs 96 là 8,4 tạ/ha, tương đương 13,9%; và thấp hơn

giống đối chứng KD18 là 1,7 tạ/ha, tương đương 2,8%.

- Vụ Hè Thu năng suất giống MT18cs ở các mô hình dao động từ 51,5-

59,5 tạ/ha (điểm đạt năng suất cao nhất tại Trạm Khảo nghiệm và Hậu kiểm

giống cây trồng Sơn Tịnh, Quảng Ngãi), trung bình đạt 56,1 tạ/ha, cao hơn

giống đối chứng OMcs 96 là 8,7 tạ/ha, tương đương 15,5% và thấp hơn giống

đối chứng KD18 là 2,7 tạ/ha, tương đương 4,8%.

Tóm lại: Đối với giống MT18cs có TGST cực ngắn ngày (vụ Đông

Xuân: 90- 95 ngày; Hè Thu: 80- 85) khi áp dụng một số biện pháp kỹ thuật

mới (mật độ sạ; liều lượng phân bón) được đề tài nghiên cứu đề xuất xây

dựng các mô hình thực nghiệm cho thấy: Giống MT18cs có khả năng sinh

trưởng, phát triển tốt ở cả vụ Đông Xuân và Hè Thu; thích hợp với cơ cấu

mùa vụ của các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, đặc biệt do có thời gian sinh

trưởng cực ngắn ngày nên có khả năng bố trí thời vụ để né tránh với điều kiện

thời tiết bất lợi như lũ lụt và hạn hán; Giống MT18cs ít sâu bệnh hại, khá

cứng cây, chống đổ và chịu nóng khá; Khả năng thích ứng rộng.

118

Bảng 3.39. Năng suất của giống lúa MT18cs tại các mô hình

Giống Vụ/ Địa điểm thực nghiệm MT18cs OMcs 96 KD18

ĐX 2013-2014

Trạm Giống CT Nam Phước, Quảng Nam 61,5 50,5 65,3

Trạm Giống CTVN Bình Trung, Quảng Nam 62,2 54,1 63,8

Trạm KN và HK GCT Sơn Tịnh, Quảng Ngãi 65,3 53,2 63,0

Trạm Giống cây NN Đức Hiệp, Quảng Ngãi 61,5 55,5 62,6

Trạm Giống NN Hòa An, Phú Yên 55,2 48,5 59,1

Trạm Giống NN Hòa Đồng, Phú Yên 57,8 51,2 59,8

NS Trung bình vụ ĐX 60,6 52,2 62,3

HT 2014

Trạm Giống CT Nam Phước, Quảng Nam 56,2 47,0 59,0

Trạm Giống CTVN Bình Trung, Quảng Nam 57,5 49,2 60,7

Trạm KN và HK GCT Sơn Tịnh, Quảng Ngãi 59,5 52,7 60,0

Trạm Giống cây NN Đức Hiệp, Quảng Ngãi 58,0 49,9 59,5

Trạm Giống NN Hòa An, Phú Yên 53,8 45,5 55,7

Trạm Giống NN Hòa Đồng, Phú Yên 51,5 40,1 57,6

NS Trung bình vụ HT 56,1 47,4 58,8

119

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1. Kết luận

1.1. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đánh giá được một số đặc điểm

nông học chính của 9 giống lúa thí nghiệm (PY1, PY2, MT18cs, H229,

LTH134, ML54, ML232, Q.Nam 6 và P6ĐB). Các giống thí nghiệm có thời

gian sinh trưởng thuộc nhóm ngắn ngày, phù hợp với cơ cấu mùa vụ tại các

tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ. Trong điều kiện vụ Đông Xuân các giống

PY1, MT18cs, H229, LTH134, ML54, Q.Nam 6 và P6ĐB cho năng suất ổn

định ở tất cả các môi trường thí nghiệm; Giống PY2 cho năng suất ổn định ở

môi trường thuận lợi, có điều kiện thâm canh cao; Giống ML232 cho năng

suất không ổn định. Ở vụ Hè Thu các giống PY1, MT18cs, H229, LTH134,

ML54, ML232, QNam 6 và P6ĐB cho năng suất ổn định; Giống PY2 cho

năng suất không ổn định.

1.2. Đã tuyển chọn được 2 giống lúa có nhiều đặc điểm tốt triển vọng cho

sản xuất tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ gồm: Giống MT18cs có thời gian

sinh trưởng cực ngắn ngày (vụ ĐX 90 ngày; HT từ 82 ngày), ít nhiễm sâu bệnh

hại, có năng suất khá và ổn định ở các môi trường thí nghiệm cả 2 vụ ĐX và HT;

Giống LTH134 có thời gian sinh trưởng ngắn ngày (vụ ĐX 115 ngày; HT 102

ngày) ít nhiễm sâu bệnh hại, cho năng suất khá và ổn định qua các môi trường

thí nghiệm ở cả 2 vụ ĐX và HT, chất lượng gạo tốt, cơm ngon.

1.3. Tại Quảng Ngãi và các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ có điều kiện

tương tự, trên đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, lượng giống gieo sạ

và lượng đạm bón thích hợp cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất đối

với giống lúa MT18cs là 90 kg hạt giống/ha và 120 kg N/ha trên nền 5 tấn

phân chuồng + 80 kg P2O5 + 90 kg K2O.

1.4. Giống lúa có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm cực ngắn như giống

lúa MT18cs, có thể bố trí thời vụ để né tránh các điều kiện bất lợi của thời tiết

như hạn hán, lũ lụt. Vụ Đông Xuân thời vụ gieo sạ thích hợp nhất từ 27/12-

120

03/01, để lúa trỗ vào trong khoảng đầu tháng 3 (tiết kinh trập), thu hoạch vào

khoảng từ 05/4- 10/4; Vụ Hè Thu gieo sạ thích hợp nhất từ ngày 03/6 - 10/6

để lúa trỗ vào khoảng 28/7- 05/8 (trước tiết lập Thu), thu hoạch vào khoảng từ

20/8- 25/8.

1.5. Kết quả xây dựng mô hình thực nghiệm quy trình kỹ thuật thâm

canh giống lúa MT18cs tại các địa phương cho thấy: giống có khả năng sinh

trưởng, phát triển tốt ở cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu, ít nhiễn sâu bệnh hại

và chống đổ ngã tốt, tiềm năng năng suất khá cao và ổn định.

2. Đề nghị

2.1. Đưa vào sản xuất thử trên diện rộng giống lúa mới MT18cs và

LTH134 (AIQ1102) mà đề tài đề xuất; Hai giống đã được Bộ Nông nghiệp và

PTNT công nhận cho sản xuất thử tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ;

Tiếp tục khảo nghiệm sản xuất các giống lúa mới bước đầu được đề tài

đánh giá có triển vọng: ML54, ML232, PY1 tại các tỉnh Duyên hải Nam

Trung bộ trong điều kiện sản xuất để có kết luận toàn diện hơn.

2.2. Sử dụng các kết quả nghiên cứu của đề tài về một số biện pháp kỹ

thuật thâm canh giống lúa mới cực ngắn ngày (MT18cs) trên đất phù sa

không được bồi hàng năm tại tại tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh Duyên hải Nam

Trung bộ có điều kiện tương tự.

121

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Trần Văn Mạnh, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Như Hải, Nguyễn Thị Mơ.

Đánh giá khả năng thích nghi và ộ ổn ịnh năng suất của một số

giống lúa ngắn ngày tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ. Tạp chí

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chuyên đề: Nông Lâm nghiệp

khu vực Miền Trung- Tây Nguyên, tháng 4/2014, tr 5- 11.

2. Trần Văn Mạnh, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Như Hải, Nguyễn Thị Mơ.

Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa thuần ngắn ngày tại Duyên hải Nam

Trung bộ. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chuyên đề:

Giống cây trồng, vật nuôi, Tập 1 - tháng 6/2014, tr 81- 87.

3. Trần Văn Mạnh, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Như Hải, Nguyễn Thị Mơ.

Ảnh hư ng của các mức bón ạm và m t ộ sạ ối với giống lúa ngắn

ngày MT18cs, tại Quảng Ngãi. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, Kỳ 1- tháng 11/2014, tr 45-52.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

[1]. Đỗ Việt Anh, Nguyễn Xuân Dũng và cs (2013), Kết quả bước ầu về nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu hạn cho vùng ất cạn và vùng sinh thái có iều kiện khó khăn, Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 263-270.

[2]. Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh, Phạm Văn Ba, Cao Kỳ Sơn, Bùi Thị Trâm & Lê Duy Mỳ (1996), Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho lúa lai Việt Nam, Kết quả nghiên cứu khoa học của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 21-46.

[3]. Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Trọng Thi, Bùi Huy Hiền & Nguyễn Văn Chiến (2003), Bón phân cân ối cho cây trồng Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 34-44.

[4]. Bùi Chí Bửu (1996), “Nghiên cứu nâng cao chất lượng lúa gạo tỉnh Cần Thơ”,

Sở KHCN và MT tỉnh Cần Thơ, 68 trang.

[5]. Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lạng (2007), Chọn giống cây trồng phương pháp

truyền thống và phân tử, Nhà xuất bản Nông nghiệp.

[6]. Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang (2000), Một số vấn ề cần biết về gạo xuất

khẩu, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, 78 trang.

[7]. Lê Văn Căn (1964), Tình hình sử dụng phân lân bón cho lúa các nước, nghiên cứu đất phân, tập IV, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

[8]. Lê Văn Căn (chủ biên) (1978), Giáo trình nông hóa, Nhà xuất bản Nông

nghiệp, Hà Nội.

[9]. Lê Văn Căn (1966), Hiệu lực phosphorit bón cho lúa Bắc Việt Nam, Nhà xuất

bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[10]. Lê Hữu Cần (2010), Nghiên cứu xác ịnh liều lượng phân bón thích hợp cho một số giống lúa thuần Trung Quốc mới nh p nội tại Thanh Hóa, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ II, tháng 1/2012, tr 14 -21.

[11]. Chang và Jenning (1968), Lúa muộn người khổng lồ của châu Á nhiệt ới,

(Bản dịch), Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, số 2.

[12]. Lưu Minh Cúc, Lưu Thị Ngọc Huyền, Lê Huy Hàm (2013), Ứng dụng công nghệ sinh học trong xác ịnh tính ồng nhất, tính khác biệt và tính ổn ịnh của lúa phục vụ cho khảo nghiệm DUS, Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 248-254.

[13]. Phạm Văn Cường, Phạm Thị Khuyên, Phạm Văn Diệu (2005), Ảnh hư ng của liều lượng ạm ến năng suất chất khô các giai oạn sinh trư ng và năng suất hạt của một số giống lúa lai và lúa thuần, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp – tập III, số 5/2005.

[14]. Phạm Văn Cường, Hà Thị Minh Thuỳ (2006), Ảnh hư ng của m t ộ trồng ến tốc ộ tích luỹ chất khô các giai oạn sinh trư ng và năng suất hạt của lúa lai F1 và lúa thuần, Báo cáo khoa học hội thảo Quản lý nông học vì sự phát triển Nông nghiệp bền vững ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[15]. Lê Doãn Diên (1995), Nghiên cứu chất lượng lúa gạo Việt Nam, Hội thảo quốc gia Cây lương thực và Cây thực phẩm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[16]. Lê Doãn Diên (2003), Nâng cao chất lượng lúa gạo phục vụ tiêu dùng và xuất

khẩu, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[17]. Bùi Đình Dinh (1999), Quản lý sử dụng phân hoá học trong hệ thống quản lý dinh dưỡng tổng hợp cây trồng Việt Nam, Kết quả nghiên cứu khoa học Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[18]. Bùi Đình Dinh (1995), “Tổng quan về sử dụng phân bón Việt Nam”, Hội thảo quốc gia chiến lược phân bón với đặc điêm đất Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[19]. Đinh Dĩnh (1970), Bón phân cho lúa, nghiên cứu về lúa ở nước ngoài, tập I,

Nhà xuất bản Khoa học.

[20]. Bùi Huy Đáp (1970), Lúa xuân miền Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Nông

nghiệp, Hà Nội, tr. 15 - 21.

[21]. Bùi Huy Đáp (1980), Cây lúa Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. [22]. Nguyễn Ngọc Đệ (2009), Giáo trình cây lúa, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Tp. HCM, 340 p.

[23]. Vũ Hiếu Đông và Nguyễn Thị Lang (2005), “Nghiên cứu biến động độ hóa hồ (Gelatinization temperature) trên hạt gạo (Oryza sativa)”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1, tr. 61-63.

[24]. Nguyễn Trường Giang và Phạm Văn Phượng, Ảnh hư ng của m t ộ sạ ến năng suất lúa vụ hè thu 2010 tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh H u Giang, Tạp chí Khoa học 2011: 18b 248-253.

[25]. Nguyễn Đình Giao, Nguyễn Thiện Huyên, Nguyễn Hữu Tề, Hà Công Vượng (2001), Giáo trình cây lương thực, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[26]. Trần Đình Giỏi, Lê Thị Dự và Phạm Văn Sơn (2013), Tuyển chọn và phát triển giống lúa cực sớm ể thâm canh, tăng vụ, né lũ, mặn cho tỉnh trà Vinh, Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 225-233.

[27]. Gros. A (1977), Hướng dẫn thực hành bón phân cho lúa, Nhà xuất bản Nông

nghiệp.

[28]. Gupta.P.C và Otoole.J.C, 1976, Chọn giống và công tác giống cây trồng (bản

dịch), Nhà xuất bản Nông nghiệp.

[29]. Nguyễn Như Hà (2006), Giáo trình bón phân cho cây trồng, Nhà xuất bản

Nông nghiệp, Hà Nội, tr.19-33.

[30]. Nguyễn Xuân Hiển, Trần Long và Vũ Huy Trang (1976), Nghiên cứu lúa

nước ngoài, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội

[31]. Nguyễn Văn Hiển, Trần Thị Nhàn (1982), Giống lúa miền Bắc Việt Nam, Nhà

xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, trang 102 – 104.

[32]. Nguyễn Văn Hiển (2000), Giáo trình chọn giống cây trồng, Nhà xuất bản

Giáo Dục, Hà Nội.

[33]. Nguyễn Văn Hoan (1999), Lúa lai và kỹ thu n thâm canh, Nhà xuất bản Nông

nghiệp, Hà Nội.

[34]. Nguyễn Văn Hoan (2002), Kỹ thu t thâm canh mạ, Nhà xuất bản Nông

nghiệp, Hà Nội.

[35]. Nguyễn Văn Hoan (2003), Cây lúa và kỹ thu t thâm canh lúa cao sản hộ

nông dân, Nhà xuất bản Nghệ An.

[36]. Nguyễn Văn Hoan (2006), Cẩm nang cây lúa, Nhà xuất bản Lao động, tr.169-180.

[37]. Lại Đình Hòe, Đặng Bá Hoàn, Hồ Công Trực và Cs (2013), Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa chịu hạn và kỹ thu t canh tác cho vùng Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 278-286.

[38]. IRRI (1996), Hệ thống tiêu chuẩn ánh giá cây lúa, (Xuất bản lần thứ 4), Viện

Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam dịch và xuất bản.

[39]. Nguyễn Trọng Khanh, Nguyễn Thị Miền, Phạm Văn Tính, Vũ Thị Nhường, Bùi Kim Vật, Đoàn Văn Thành, Đỗ Thế Hiếu và Nguyễn Anh Dũng (2013), Kết quả nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa thuần vùng ồng bằng sông Hồng, giai oạn 2011-2013, Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 217-224.

[40]. Nguyễn Thị Lang (2013), Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa xuất khẩu cho ồng bằng sông Cửu Long (giai oạn 2011-2013), Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 187-191.

[41]. Nguyễn Thị Lẫm (1994), Nghiên cứu ảnh hư ng của ạm ến sinh trư ng phát triển và năng suất của một số giống lúa, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[42]. Nguyễn Thị Lẫm, Hoàng Văn Phụ, Dương Văn Sơn & Nguyễn Đức Thạnh (2003), Giáo trình cây lương thực, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 35-60.

[43]. Nguyễn Văn Luật (2001), Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, Nhà xuất bản Nông

nghiệp, Hà Nội.

[44]. Đinh Văn Lữ (1978), Giáo trình cây lúa, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 17 - 20.

[45]. Nguyễn Hữu Nghĩa (1995), Nghiên cứu chọn tạo giống lúa mới năng suất cao cho vùng thâm canh giai oạn 1991-1995, Báo cáo tổng kết đề tài KH 01 – 02, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[46]. Trần Như Nguyện (1979), Giống lúa VN10, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học trường Đại học Nông nghiệp I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. [47]. Võ Đình Quang (1999), Trạng thái lân trong ất Việt Nam, Kết quả nghiên cứu khoa học, quyển 3, Viện thổ nhưỡng Nông hoá, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[48]. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch cây trồng: QCVN 01-38:2010/BNNPTNT (2010). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

[49]. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lúa: QCVN 01-55:2011/BNNPTNT (2011). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

[50]. Lưu Văn Quỳnh, Nguyễn Thị Huyền, Tạ Thị Huy Phú, Trần Vũ Thị Bích Kiều, Phạm Văn Nhân và Trần Văn Mạnh (2013), Kết quả chọn tạo giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, phù hợp vùng sinh thái Nam Trung bộ(2010- 2012), Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 287-296.

[51]. Mai Văn Quyền (1985), Những kiến thức cơ bản của khoa học trồng lúa (Bản

dịch), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[52]. Smit-Xui (1962), Dinh dưỡng khoáng của cây lúa, bón phân và cải tạo ất lúa

nước, Nhà xuất bản Khoa học.

[53]. Trần Thúc Sơn (1996), Nâng cao hiệu quả phân ạm bón cho lúa nước thông qua quản lý dinh dưỡng tổng hợp, Kết quả nghiên cứu khoa học, quyển 2, Viện thổ nhưỡng Nông Hoá, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[54]. Trần Thúc Sơn & Đặng Văn Hiếu (1995), Xác ịnh lượng phân bón thích hợp cho lúa trên ất phù sa Sông Hồng ể có năng suất cao và hiệu quả kinh tế, Đề tài KN 01-10, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[55]. Tài nguyên thực vật Đông Nam Á (2000), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội,

trang 5 - 20.

[56]. Phạm Chí Thành (1976), Giáo trình Phương pháp thí nghiệm ồng ruộng, Nhà

xuất bản Nông nghiệp.

[57]. Nguyễn Trung Tiền (2002), Thí nghiệm bón phân ạm (N), Kali (K) và m t ộ sạ cho cây lúa trên ất nhiễm mặn tại tỉnh Kiêng Giang, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ II, 6/2005, tr 17-20.

[58]. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 5715: 1993 về gạo - Phương pháp xác ịnh nhiệt

hóa hồ qua ộ phân hủy kiềm (1993), Bộ Khoa học và Công nghệ.

[59]. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 5716-1: 2008 về gạo - Phương pháp xác ịnh

hàm lượng amyloza (2008), Bộ Khoa học và Công nghệ.

[60]. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8370:2010. Thóc tẻ, (2010) Bộ Khoa học và

Công nghệ.

[61]. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8372:2010 về gạo trắng- Phương pháp xác ịnh tỷ lệ

trắng trong, trắng bạc và ộ trắng bạc, (2010), Bộ Khoa học và Công nghệ.

[62]. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8373:2010 về gạo trắng- Phương pháp ánh giá chất lượng cảm quan cơm bằng phương pháp cho iểm (2010), Bộ Khoa học và Công nghệ.

[63]. Nguyễn Duy Tính và ctv (1995), Nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng ồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

[64]. Phan Hữu Tôn (2002), Ảnh hư ng của lượng phân bón và m t ộ cấy ến sinh trư ng, phát triển giống lúa TN13-5, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 2/2004, tr 207-209.

[65]. Nguyễn Thị Trâm (2001), Chọn giống lúa lai, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, tr. 64 – 67.

[66]. Khuất Hữu Trung, Lê Huy Hàm và Cs (2013), Nghiên cứu giả mã genome một số giống lúa ịa phương của Việt Nam, Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 192-200.

[67]. Dương Xuân Tú (2013), Tạo giống lúa thơm bằng chỉ thị phân tử, Hội thảo Quốc gia về khoa học cây trồng lần thứ I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 234-241.

[68]. Đào Thế Tuấn (1970), Sinh lý ruộng lúa năng suất cao, Nhà xuất bản Khoa

học Kỹ thuật.

[69]. Đào Thế Tuấn (1984), Hệ sinh thái nông nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật.

[70]. Nguyễn Văn Tuất, Phạm Đức Hùng (2007), Ảnh hư ng của m t ộ sạ, phương pháp bón ạm và chế ộ nước tưới ến sinh trư ng và năng suất lúa cao sản tại An Giang, Bình Định, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Số 3/2010, tr 27 - 33.

[71]. Nguyễn Vi (1982), Bí ẩn của ất trồng lúa năng suất cao, Nhà xuất bản Nông

nghiệp, Hà Nội, tr. 1-28, 59-65, 99-115.

[72]. Vũ Hữu Yêm (1995), Giáo trình phân bón và cách bón phân, Nhà xuất bản

Nông nghiệp, Hà Nội.

[73]. Suichi Yoshida (1985), Những kiến thức cơ bản của khoa học trồng lúa, Nhà

xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, Mai Văn Quyền dịch.

II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH

[74]. A. Dobermann, K.G. Cassman, D.T. Walters, and C. Witt, Balancing Short- Term and Long-Term Goals in Nutrient Management, Better Crops/Vol. 89 (2005, No. 4).

[75]. Arvind K. Shukla, V.K. Singh, B.S. Dwivedi, S.K. Sharma, and K.N. Tiwari, Site-Specific Nutrient Management for Maximum Economic Yield of the Rice-Wheat Cropping System, INDIA, Better Crops/Vol. 88 (2004, No. 4).

[76]. Bahmaniar M.A. and Ranjbar G.A. (2007), “Response of rice (Oryza sativa L.) cooking quality properties to nitrogen and potassium application”, Pakistan journal of Biological sciences, 10(10), pp. 1880 – 1884.

[77]. Bangwaek, C. Varga B.S and Robles R.P (1994), Effect temperature regime

on grain chakiness in rice, IRRI.

[78]. Benito S, Vergara (1979), A Farmer’s Primer on growing rice, IRRI Los

Banos Lagara Philippines, pp. 88-89.

[79]. Broadlent F.E, (1979), Mineralization of organic nitrogen in paddy soil. In:

Nitrogen and rice IRRI, PO.BOX 933. Manila, philippines

[80]. Chang T.T, Masaijo T, Sanrith B and Siwi B.H (1984), varietal Improvemet of Upland

rice in Southeast Asian and an Overview of Upland rice Reseach, pp.433.

[81]. Chang T.T. and Somrith B. (1979), “Genetic studies on the grain quality of rice”, Proceedings of the workshop on chemical aspects of rice grain quality, IRRI, Los Banos, Philippines, pp. 49-58.

[82]. Clarkson D.T. and Hanson J.B. (1980), “The mineral nutrition of higher

plant”, Annual Review, Plant physiology, 31, pp. 239.

[83]. Cuong Van Pham, Murayama, S.Ishimine.Y, Kawamitsu, Y.Motomura, K.and Tsuzuki (2004), Sterility of TGMS line, heterosis for grain yield and related characters in F1 hybrid rice (Oriza sativa L.), Journal of plant production Science.

[84]. D.P. Biradar, Y.R. Aladakatti, T.N. Rao, and K.N. Tiwari, Site-Specific Nutrient Management for Maximization of Crop Yields in Northern Karnataka, SOUTH ZONE INDIA, Better Crops/Vol. 90 (2006, No. 3).

[85]. De Datta S.K, Burush R.J, (1989), Inteqrated nitrogen management in

lowland rice. Adv. Soil science. 10.

[86]. Duy Pham Quang, Mitsugu Hirano, Satoru Sagawa and Eiki Kuroda (2004), Analysis of the dry matter production process related to yield components of rice plant grown under practice of nitrogen - free basal dressing accompanied with sparse planting density, Plant Production Science 7 (2).

[87]. Gene Stevens and David Dunn, New Methods for Managing Midseason

Nitrogen in Rice, NORTH AMERICA, Better Crops/Vol. 92 (2008, No. 4).

[88]. Gu. M. H, X. B Pan (1986), Genetic analysis of the pedigree of improved

cultivates of Indica rice in South China, Sei. Agr. Sinica.

[89]. Hargopal. S (1988), Economy of fertilizer thruoggreen - manuring in rice,

Indian Jounal of AgriCultural Sciences, Indian.

[90]. Huysmans A.A.C (1965), Milling quality of paddy rice as influenced hy

timing of harvest, Int. Rice Comm, Newsl.

[91]. IRRI. (1976), Annual report for 1975, IRRI, Los banos, Philippines, p. 479.

[92]. Jenning P.R, W.R Coffmen and H.E Kauffman (1979), Rice improvement,

IRRI, Los Bnaros, Philippines, pp. 101-102

[93]. Juliano.B.O (1985), “Rice chemistry and Technology”, The American

Association of cereal chemists, Ind, M.innesita, USA.

[94]. J.W.Johnson, T.S.Murrell and H.F. Reetz, Jr, Balanced Fertility Management: A Key to Nutrient Use Efficiency, OHIO, Better Crops/Vol. 81 (1997, No. 2).

[95]. Khush G.S. and Comparator (1994), Rice genetics and Breeding, IRRI,

Manila, Philippines.

[96]. Khush G.S., Paule C.M. and De La Cruz N.M. (1979), “Rice grain quality evaluation and improvement at IRRI”, Proceedings of the workshop on chemical aspects of rice grain quality, IRRI, Los Banos, Laguna, Philippines, pp. 21-31.

[97]. Kiani S.H., Ranjbar G.A., Kazemitabar S.K., Jelodar N.B., Nowrozi M. and Bagheni N. (2008), “Inheritance of gelatinization temperature and gel consistency in rice”, Journal of applied sciences, 8(8), pp. 1503 – 1510.

[98]. Kikuchi (1986), Semi drafting genes of high yielding rice varieties in Japan,

Rice genetics Syposium. May 1995 Manila Philippines.

[99]. Kobayshi, M, Kubota, F; Hirao, K.and Agata, W, (1995), Characteristic of photosynthesis and matter partitioning in leading hybrid rice, Oryza sativa L;Bred in China. J.Fac. Agr; Kyushu Univ. 39 (3 - 4).

[100]. Koyama J. (1981), The transformation and balance of nitrogen in

Japanese paddy fields - Fert. Res 2.

[101]. Lin T.F. (1989), “Genetic studies on waxy and white belly characteristic in rice”,

Bulletin of Taichung District Agricultural Improvement Station, 23, pp. 31-37.

[102]. M.H. and Park S.Z. (1976), “Dosage effect of waxy alleles on amylose content of rice grain, I. Amylose of hybrid seeds obtained from male sterile stocks”, Seoul. Natl. Univ. Coll. Agric. Bull., 1, pp. 39-46.

[103]. N.A. Slaton, D. Dunn, and B. Pugh, Potassium Nutrition of Flood-Irrigated

Rice, ARKANSAS/MISSOURI, Better Crops/Vol. 88 (2004, No. 3)

[104]. Patrick J.W.H; Mahapitra I.C, (1968), Transformatiens and availability to nitrogen and phosphorus in waterlogged soils Advances in gronomy, 24.

[105]. Pingali, M. Hossain and R.V. Gerpacio, (1997), Asian Rice Bowls the

returning cirisis, IRRI, pp 87-89.

[106]. Rutger JN, DT Mackil (1988), Rice genetic4 – IRRI, Manila –

Philippin,1998.

[107]. Sarker, M.A.Z; Murayama, S; Ishimine, Y. and Tsuzuki, E.2002, Effect of nitrogen fertilization on photosynthetic characters and dry matter production in F1 hybrids of rice (Oryza sativa L.), Plant Prod.Sci.5.

[108]. Shen Y.Z., Min S.K., Xiong Z.M. and Luo Y.K. (1990), “Genetic studies of amylose content in rice grains and a modification of its determination method”, Scientica Agricultura Sinica, 23(1), pp. 60-68.

[109]. Shi M.S, Deng.J.Y (1986), The discovery, determination and utilization of the Huibei photosensitive genic male Sterili rice, Ozyza stiva L. Subsp. Japonica, Acta Genet, Sin. 13, (2).

[110]. Sinclair, T.R.and Horie, T. 1989, Leaf nitrogen, photosynthesis, and crop

radiation use efficiency: A review. Crop Sci. 29.

[111]. Tang S.X., Khush, G.S. and Juliano B.O. (1989), “Diallel analysis of gel

consistency in rice (Oryza sativa L.)”, SABRAO J., 21, pp. 135-142.

[112]. Tang S.X., Khush, G.S. and Juliano B.O. (1989), “Variation and correlation of four cooking and eating quality indices of rice”, Philipp. J. Crop Sci, 14(1), pp. 45-49.

[113]. Vergara B.S. (1988), Raising the yield potential of rice, Philippines

Technical Journal, 13, pp. 3-9.

[114]. V.K. Singh, R. Tiwari, S.K. Sharma, B.S. Dwivedi, K.N. Tiwari, and M.S.Gill, Economic Viability of Rice-Rice Cropping as Influenced by Site- Specific Nutrient Management, India, Better Crops/Vol. 93 (2009, No. 2).

[115]. Vlek PLG. Bumes B.H (1986), The efficiencecy and loss of fertilizer - N in

lowland rice. Fert Res. 9.

[116]. Wilson E.(1963), Tillering of rice as affected by time of Nitrogen,

Application Rice, P 24-26.

[117]. Yang, X., Zhang, W. and Ni, W. 1999, Characteristics of nitrogen

nutrition in hybrid rice. In Hybrid Rice. IRRI, Los Banos. 5 - 8.

[118]. Ying, J; Peng, S; Yang, G; Zhou, N; Visperas, R.M.and Cassman, K.G, 1998, Coparison of high - yield rice in tropical and subtropical environments. II. Nitrigen accumulation and utilization efficiency. Field crop Research. 57.

[119]. Yoshida S. (1981), Fundamentals of rice crop science, The International rice

research institute, Los Banos, Philippines, pp. 1-63.

[120]. Zandstra H. G, F. C Price (1981), Litsinger J.L A Methodology for on farm

cropping systems reseach, IRRI.

[121]. Zhang M.W. and Peng Z.M. (1996), “Genetic studies of amylose content in pigmental pericarp rice”, Acta. Agronomica Sinica, 22(4), pp. 430-436.

[122]. Zhao and Yang (1993), Chinese rice cei, China.

III. Tài liệu từ Internet:

[123]. http://www.caylua.vn/10/046 phanlan.htm.

[124]. http://faostat.fao.org/site/567/default.aspx#ancor

[125]. http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=390&idmid=3&ItemID

[126]. http://ndh.vn/xuat-khau-gao-nam-2014

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Đề xuất quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa thuần ngắn

ngày tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ

Từ kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài thông qua các thí nghiệm

tuyển chọn giống lúa thuần mới ngắn ngày; xác định một số biện pháp kỹ

thuật phân bón, mật độ sạ và thời vụ tại vùng nghiên cứu, cũng như kế thừa

một kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, chúng tôi

đề xuất quy trình sản xuất thâm canh giống lúa ngắn ngày (giống có TGST

trong vụ ĐX từ 100- 110 ngày; vụ HT từ 85- 95 ngày) tại vùng Duyên hải

Nam Trung bộ như sau:

* Thời vụ gieo sạ:

- Vụ Đông Xuân: thời vụ gieo sạ thích hợp nhất từ 27/12- 03/01, để lúa

trỗ vào trong khoảng đầu tháng 3 (ở tiết kinh trập), thu hoạch vào khoảng từ

05/4- 10/4; tùy theo điều kiện thời tiết cụ thể từng năm có thể kéo dài thời vụ

gieo sạ đến 15/01.

- Vụ Hè Thu: thời vụ gieo sạ thích hợp nhất từ ngày 03/6 - 10/6 để lúa

trỗ vào khoảng 28/7- 05/8 (trước tiết lập Thu), thu hoạch vào khoảng từ 20/8-

25/8; Tùy theo điều kiện thời tiết cụ thể của từng năm có thể điều chỉnh thời

vụ gieo sạ sớm hơn hoặc muộn hơn lịch đề xuất ở trên khoảng 05 ngày.

* Làm đất:

Đất nên được cày bừa kỹ bằng máy hoặc trâu bò, sạch cỏ dại và tàn dư

cây trồng vụ trước. Vụ Đông Xuân nên làm đất theo phương pháp cày dầm,

vụ Hè Thu nên được cày ải để phơi ruộng. Làm đất phải thực hiện đúng quy

trình kỹ thuật để cải thiện lý tính, hóa tính và độ phì nhiêu của đất. Trước khi

gieo sạ, đất phải được bón lót đầy đủ và lên líp, bằng phẵng.

* Lượng giống gieo:

Giống sử dụng để gieo sạ nên dùng hạt giống lúa kỹ thuật đảm bảo

chất lượng đạt tối thiểu cấp giống xác nhận 2, hạt nảy mầm tốt.

Lượng giống sử dụng để gieo sạ thích hợp từ 70 - 90 kg hạt giống cho 01 ha (tương đương với mật độ cây hữu hiệu từ 255 cây/m2 đến 327 cây/m2).

Nếu đất tốt, giống có khả năng đẻ nhánh khỏe, khả năng thâm canh cao nên sạ

thưa (70 kg/ha); đất xấu, giống có khả năng đẻ nhánh trung bình- kém, khả

năng thâm canh không cao nên sạ dày hơn (90 kg/ha).

* Kỹ thuật ngâm ủ giống:

- Trước khi ngâm nên đưa hạt giống ra phơi lại ưới nắng nhẹ trong 2

giờ để tăng khả năng nẩy mầm.

- Xử lý hạt giống: Xử lý hạt lúa giống trước khi gieo sạ nhằm loại bỏ

hết các tác nhân gây nên một số bệnh hại như bệnh lúa von, bệnh khô vằn,

bệnh lở cổ rễ v.v... được lây truyền từ vỏ hạt giống sang mầm lúa và trên cây

lúa sau này. Sau đây là phương pháp đơn giản, dễ làm, được bà con nông dân

nhiều nơi ứng dụng cho kết quả rất tốt.

- Xử lý bằng nước muối (15%): Dùng nước sạch pha với lượng muối

15% (1 lít nước hòa vào 150 g muối ăn), khuấy đều cho tan hết muối. Cách

thử nồng độ: Dùng quả trứng gà tươi thả vào dung dịch nước muối đã pha.

Nếu quả trứng nổi lập lờ, nửa chìm, nửa nổi là được. Nếu trứng chìm thì cho

thêm muối, nếu trứng nổi trên mặt nước thì cho thêm nước. Cho hạt lúa giống

vào dung dịch muối đã pha nói trên. Sau 5-10 phút vớt bỏ các hạt nổi (đó là

các hạt lép lửng, các hạt bị bệnh), đem các hạt chìm đi ngâm ủ để gieo sạ sẽ

được những cây lúa khỏe, đảm bảo chất lượng và sạch bệnh.

- Xử lý bằng nước nóng (54 0C): Pha 2 phần nước lạnh với 3 phần nước

sôi (3 sôi, 2 lạnh), lượng nước xử lý cần gấp 3- 5 lần lượng lúa cần xử lý để có nhiệt độ 54 0C. Chú ý: Trước và sau khi cho lúa giống vào xử lý cần dùng nhiệt kế kiểm tra để luôn đảm bảo nhiệt độ 54 0C mới đảm bảo đủ nhiệt để diệt nấm. Nếu chưa đủ 54 0C cho thêm nước sôi vào, vừa đổ vừa khuấy đều,

thời gian xử lý 3- 5 phút.

- Xử lý bằng nước vôi trong (2- 3%): Dùng 200- 300g vôi cục hoặc 400

– 500g vôi mới tôi hòa tan trong 10 lít nước sạch. Để lắng 15- 20 phút rồi lọc

lấy 6- 7 lít nước vôi trong để ngâm cho 6- 7 kg lúa giống trong thời gian từ

10- 12 giờ. Căn cứ vào lượng lúa giống cần gieo sạ để tính toán lượng nước

vôi trong cần pha cho phù hợp.

- Xử lý bằng các thuốc trừ nấm: CuSO4 (1- 4%), Bavistin, Daconil,

Captan... pha nồng độ 0,3% ngâm trong 12 giờ. Một trong những loại thuốc

hiện đang được bà con nông dân sử dụng rộng rãi là xử lý thuốc Cruser Plus

312,5 FS để ngăn ngừa sự tấn công gây hại ngay từ đầu đối với bọ trĩ và một

số côn trùng chích hút khác trên cây lúa như rầy nâu. Ngoài ra, các hoạt chất

thuốc trừ nấm có trong thành phần thuốc sẽ diệt trừ các loại mầm bệnh còn

tiềm ẩn trên hạt giống mà với các biện pháp khác khó loại trừ. Nếu xử lý cho

100 kg thóc giống thì pha 20ml thuốc Cruser Plus 312,5 FS với 4- 5 lít nước

sạch, khuấy kỹ (dung dịch có màu đỏ), tưới và trộn đều với thóc rồi đem ủ

cho mọc mầm trước khi gieo.

Sau khi xử lý bằng một trong các phương pháp trên, bà con đem hạt

giống ngâm tiếp trong nước lã 48 giờ (đủ 60 giờ cho cả xử lý thuốc và ngâm

nước lã). Chú ý 12 giờ thay nước 1 lần, để lúa nơi râm mát đề phòng thối hạt

do nước chua hoặc nhiệt độ cao. Đãi sạch hết nước chua, rồi ủ hạt giống trong

25- 30 giờ cho đến khi hạt nảy mầm đem gieo sạ trên ruộng.

- Cách ủ: Hạt giống đã được rửa sạch thuốc xử lư, để ráo nước rồi đem

ủ trong bao vải hoặc thúng. Ủ ấm ngay từ ban đầu (khi thóc chưa nứt nanh) ở

nhiệt độ 35 - 40 0C. Trong quá trình ủ, phải kiểm tra, nếu hạt thóc khô phải

tưới thêm nước. Khi thóc đã nứt nanh phải nhanh chóng đảo nhẹ, rải mỏng

(hạ nhiệt độ xuống khoảng 25 0C). Khi hạt thóc ra mộng và rễ đều, mộng

mập, khô ráo, đem gieo. Gieo đều và chìm mộng.

* Lượng phân bón và cách bón phân:

Để đạt năng suất cao cần bón lót phân chuồng (hoặc bón phân hữu cơ)

và bón vôi; bón cân đối NPK, bón đúng thời kỳ và đúng liều lượng. Tùy theo

loại đất và mùa vụ điều chỉnh lượng phân bón cho phù hợp.

- Lượng phân bón (cho 01 ha): từ 5- 10 tấn phân chuồng hoai mục

(hoặc từ 1- 2 tấn phân hữu cơ) + 100- 120 kg N + 80 - 90 kg P2O5 + 80 - 90

kg K2O , đất chua có thể sử dụng 200- 300kg vôi bột.

- Cách bón và lượng bón:

Bón toàn bộ lượng vôi khi làm đất; Bón lót trước khi gieo sạ 100%

lượng phân lân, 50% lượng đạm và 30% lượng kali;

Bón thúc lần 1: Sau khi gieo sạ từ 8- 10 ngày tiến hành bón thúc lần 1,

bón 40% lượng đạm và 40% lượng kali;

Bón thúc lần 2: Trước khi lúa trổ từ 17- 22 ngày (sau sạ từ 45- 50 ngày)

tiến hành bón thúc lần 2, bón 10% lượng đạm và 30% lượng kali còn lại.

Lưu ý: Chỉ nên bón vôi 1 vụ trong năm. Nếu sử dụng phân NPK hổn

hợp thì căn cứ vào lượng nguyên chất trên để quy đổi cho phù hợp. Tùy theo

chân đất, mùa vụ, thời tiết khí hậu và căn cứ vào tình hình sinh trưởng của cây

lúa có thể điều chỉnh lượng bón và thời gian bón phù hợp.

* Điều tiết nước: Thường xuyên giữ ẩm độ ruộng sau khi sạ để lúa

mọc tốt, sau đó nâng dần mức nước theo sự phát triển của cây lúa và giữ ở

mức 2 - 5 cm. Khi lúa kết thúc đẻ nhánh nên rút nước phơi ruộng 5 - 7 ngày

để ruộng khô đến nẻ chân chim để tăng cường độ thông thoáng trong đất, giúp

cho bộ rễ ăn sâu, sau đó cho nước vào ruộng sâu không quá 10 cm. Kết thúc

tưới nước trước thu hoạch từ 7 - 10 ngày.

* Phòng trừ cỏ dại và sâu bệnh hại:

- Trừ cỏ: Sau khi sạ xong, cần phun thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm hoặc

hậu nảy mầm để diệt cỏ dại. Tùy theo loại thuốc dùng, cần tuân thủ hướng

dẫn sử dụng trên bao bì để đảm bảo sử dụng thuốc diệt cỏ có hiệu quả và ít

gây ô nhiễm môi trường.

- Phòng trừ sâu bệnh: Thường xuyên thăm đồng để kiểm tra các loại

sâu bệnh, phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời. Chú ý nên áp dụng phương

pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM.

* Thu hoạch: Thu hoạch khi lúa chín 90% lúc trời nắng ráo. Thu đến

đâu phơi đến đó, không để ủ đống khi lúa còn ướt. Phơi lúa phải đảo trộn đều

trong quá trình phơi và đạt độ ẩm 13-14% đem bảo quản.

Phụ lục 2: Kết quả phân tích đất trước và sau thí nghiệm

Bảng P. 2.1. Kết quả phân tích ất trước và sau thí nghiệm

P2O5 K2O OM N P2O5 K2O (mg/100g (mg/100g Công thức pHKCl (%) (%) (%) (%) đất) đất)

Trước thí nghiệm 4,47 2,19 0,123 0,048 0,44 5,5 6,6

4,52 2,68 0,147 0,058 0,50 5,6 8,4 CT1(M70N80)

4,19 2,48 0,140 0,050 0,47 5,6 8,7 CT2(M90N80)

4,26 2,57 0,189 0,062 0,48 6,4 6,9 CT3(M110N80 )

4,26 2,63 0,161 0,051 0,47 6,1 7,8 CT4(M130N80 )

4,25 2,68 0,154 0,052 0,55 5,6 8,1 CT5(M70 N100)

4,36 2,63 0,175 0,053 0,53 6,2 9,9 CT6(M90 N100)

4,24 2,53 0,157 0,060 0,47 6,5 6,8 CT7(M110 N100)

4,47 2,65 0,140 0,052 0,49 9,7 8,5 CT8(M130 N100)

4,17 2,67 0,161 0,063 0,63 6,3 8,0 CT9(M70 N120)

4,20 2,37 0,154 0,051 0,49 7,1 7,8 CT10(M90 N120)

2,27 0,196 0,065 0,49 6,4 7,3 CT11(M110 N120) 4,32

2,43 0,189 0,056 0,45 8,0 9,9 CT12(M130 N120) 4,19

4,21 2,62 0,161 0,062 0,47 5,9 7,8 CT13(M70 N140)

4,21 2,48 0,168 0,050 0,49 6,0 6,9 CT14(M90 N140)

2,58 0,189 0,068 0,46 6,4 7,4 CT15(M110 N140) 4,22

2,22 0,126 0,066 0,50 8,1 8,7 CT16(M130 N140) 4,13

(Nguồn: Kết quả phân tích ất ược thực hiện tại phòng thí nghiệm Bộ

môn Nông hoá thổ nhưỡng- Khoa nông học, Trường ại học Nông Lâm Huế)

Phụ lục 3: Phương pháp phân tích, đánh giá chất lượng lúa gạo

3.1. Phương pháp xác định tỷ lệ gạo lật áp dụng theo TCVN 8370-2010

- Gạo lật (gạo lứt) là phần còn lại của thóc sau khi đã bóc vỏ trấu.

- Từ mẫu thóc đã chuẩn bị (khoảng 02 kg) có độ ẩm (13±01)% đã loại

bỏ tạp chất, đem cân được khối lượng mts (khối lượng thóc sạch), cân chính

xác đến 0,01g, tiến hành tách vỏ trấu bằng máy xay thích hợp của phòng thử

nghiệm. Tách những hạt thóc chưa bóc hết vỏ trấu và xay lại. Cân khối lượng

gạo lật sạch thu được m, cân chính xác đến 0,01g.

- Tỉ lệ gạo lật X1 được tính bằng phần trăm khối lượng gạo lật (m) trên

khối lượng thóc (mts) đã loại bỏ tạp chất, theo công thức sau:

x 100 X1 =

Kết quả của phép thử là trung bình cộng của hai lần xác định song song

trên cùng một mẫu thử khi sự sai khác của chúng không vượt quá 1 % giá trị

trung bình. Báo cáo kết quả chính xác đến một chữ số thập phân.

3.2. Phương pháp xác định tỷ lệ gạo nguyên áp dụng theo TCVN 8371:2010

- Gạo nguyên là gồm các hạt gạo có chiều dài lớn hơn 8/10 chiều dài

trung bình của hạt gạo.

- Từ mẫu gạo lật m dùng dụng chia mẫu chia thành 2 mẫu phân tích m1

và m2. Từ mẫu m1 cân 200g mẫu phân tích để xác định tỷ lệ gạo nguyên,

chính xác đến 0,01g. Tách riêng phần hạt nguyên, tấm bằng máy phân loại

theo kích thước hạt hoặc sàng tách tấm. Dàn đều từng phần vào khay men,

dùng kẹp gắp những hạt gạo lật là hạt nguyên lẫn trong tấm hoặc tấm lẫn

trong hạt nguyên (nếu có). Cân để xác định khối hạt nguyên và khối lượng

tấm, chính xác đến 0,01g.

- Tỉ lệ gạo nguyên X2, được tính bằng phần trăm khối lượng gạo

nguyên trên khối lượng gạo lật sạch, theo công thức sau:

Khối hạt nguyên (g)

X2 = x 100

200 (g)

- Kết quả của phép thử là trung bình cộng của hai lần xác định song

song trên cùng một mẫu thử khi sự sai khác của chúng không vượt quá 1% giá

trị trung bình. Báo cáo kết quả chính xác đến một chữ số thập phân.

3.3. Phương pháp xác định kích thước hạt gạo áp dụng theo TCVN 8371:2010

- Kích thước hạt gạo là chiều dài và chiều rộng của hạt gạo không bị

gãy vỡ được tính bằng milimet.

- Từ mẫu thử đã tách hạt nguyên ở trên, nhặt ngẫu nhiên 100 hạt gạo lật

nguyên vẹn. Tiến hành đo chiều dài và chiều rộng từng hạt (tính bằng mm)

bằng dụng cụ đo kích thước hạt. Tính chiều dài và rộng trung bình để phân

loại gạo lật.

- Phân loại theo chiều dài: Hạt rất dài: >7,0 mm; Hạt dài: 6,0 đến 7,0

mm; Hạt ngắn: <6,0mm.

- Phân loại theo dạng hạt (tỷ lệ chiều dài/chiều rộng): Hạt thon: > 3,0;

Hạt trung bình: 2,1- 3,0; hạt bầu: <2,1.

3.4. Phương pháp xác định tỷ lệ gạo xát trắng

- Gạo trắng (gạo xát) là phần còn lại của gạo lật sau khi đã bóc một

phần hoặc toàn bộ cám và phôi.

- Từ mẫu thử gạo lật sạch thu được m2 ở trên, cân chính xác đến 0,01g.

Tiến hành tách phần vỏ lụa và phôi hạt khỏi gạo lật bằng máy xát gạo thích

hợp của phòng thử nghiệm và cân lượng gạo xát trắng thu được m3 (g), cân

chính xác đến 0,01g.

- Tỉ lệ gạo xát trắng X3, được tính bằng phần trăm khối lượng gạo xát

trắng trên khối lượng gạo lật sạch, theo công thức sau:

x 100 X3 =

- Kết quả của phép thử là trung bình cộng của hai lần xác định song

song trên cùng một mẫu thử khi sự sai khác của chúng không vượt quá 1% giá

trị trung bình. Báo cáo kết quả chính xác đến một chữ số thập phân.

3.5. Phương pháp xác định tỷ lệ hạt trắng trong áp dụng theo TCVN 8372: 2010

- Hạt gạo trắng trong (translucent kernel) là hạt gạo trắng hoàn toàn

trong, không có vết bạc nào ở nội nhũ.

- Từ mẫu phân tích gạo trắng m3, lấy từ 200 g đến 500 g mẫu hạt gạo

trắng (tùy theo tỉ lệ hạt nguyên của mẫu). Dùng máy phân loại hạt hoặc sàng

tách tấm, tách lấy ít nhất 100 g hạt nguyên. Cân 50 g hạt nguyên, chính xác

đến 0,01g. Dàn đều lượng mẫu đã cân trên mặt dụng cụ xác định độ trắng bạc.

Chọn những hạt hoàn toàn trắng trong từ mẫu hạt nguyên, phần còn lại là hạt

trắng bạc. Cân khối lượng hạt trắng trong thu được, chính xác đến 0,01g. Mỗi

mẫu tiến hành hai lần song song.

- Tỷ lệ trắng trong X4, được tính bằng phần trăm khối lượng của hạt

trắng trong so với hạt nguyên, theo công thức sau:

Khối lượng hạt trắng trong (g)

X4 = x 100 Khối lượng hạt nguyên (g)

3.6. Phương pháp xác định tỷ lệ trắng bạc và độ trắng bạc áp dụng theo

TCVN 8372: 2010

- Hạt gạo bạc bụng là những hạt nguyên hay vỡ có phần bạc bụng

(trắng như phấn) bằng hoặc lớn hơn ½ kích thước của chúng.

- Hạt gạo trắng bạc (white kernel) là hạt gạo trắng có những vết bạc

xuất hiện ở phần nội nhũ. Tùy thuộc vào vị trí vết bạc trên nội nhũ mà hạt gạo

trắng bạc được chia thành: bạc bụng, bạc lưng và bạc lòng.

- Tỷ lệ trắng bạc X5, được tính bằng phần trăm khối lượng của hạt trắng

bạc so với hạt nguyên, theo công thức sau:

X5 = 100 – X4

- Xác định số điểm trắng bạc: Từ mẫu phân tích gạo trắng m3, lấy ra

100 hạt nguyên. Sau đó dàn đều hạt trên mặt kính màu của dụng cụ xác định

độ trắng bạc và tiến hành phân loại theo thang điểm 6 mức từ điểm 0 đến

điểm 5 được quy định. Đếm và ghi lại số hạt được phân theo từng mức điểm

khác nhau.

Thang điểm quy định trắng bạc đối với hạt gạo trắng:

Thang điểm Mô tả hạt gạo trắng Phần diện tích hạt bị trắng bạc (%)

0 1 2 3 4 5 Hạt trắng trong Hạt bạc rất nhỏ Hạt hơi bạc Hạt bạc trung bình Hạt bạc Hạt rất bạc 0 Nhỏ hơn 10 Từ 10 đến 20 Từ 21 đến 35 Từ 36 đến 50 Trên 50

Điểm trắng bạc trung bình của mẫu gạo được tính theo công thức sau:

Trong đó: S0, S1, S2, S3, S4, S5 là số hạt tương ứng với các mức điểm 0,

1, 2, 3, 4, 5.

- Từ điểm trắng bạc trung bình thu được, phân loại độ trắng bạc của

mẫu gạo trắng dựa vào điểm trắng bạc trung bình của khối hạt gạo trắng theo

quy định: Hơi bạc: <1,0 điểm; Bạc trung bình: 1,0- 1,5 điểm; Bạc: 1,6- 2,0

điểm; Rất bạc: > 2,0 điểm.

3.7. Phương pháp phân tích amylose áp dụng theo TCVN 5716-1993

Amylose là thành phần polysaccarit của tinh bột, là cao phân tử có cấu

trúc mạch thẳng.

Nghiền nhỏ gạo thành bột mịn để phá vỡ hoàn toàn hạt tinh bột. Sau

khi loại mỡ khõi bột, hóa hồ bằng dung dịch natri hydroxyt. Điều chỉnh pH

dung dịch mẫu từ 4,5 - 4,8 bằng hệ đệm axetat, thêm dung dịch iot và đo độ

hấp thụ của phức màu tạo thành ở bước sóng 620 nm bằng phổ kế.

Hàm lượng amyloza của mẫu được xác định dựa vào đồ thị chuẩn, đồ

thị này được xây dựng trên cơ sở sử dụng hỗn hợp amyloza và amylopectin để

loại trừ ảnh hưởng của amylopectin đến màu của phức amyloza - iot trong

dịch mẫu thử.

Cân 2,0 g Kali iodua - nồng độ I2 0,2% - (chính xác đến 5 mg) trong cốc

cân có nắp kín. Thêm nước cất vừa đủ để tạo thành dung dịch bão hòa, thêm

tiếp 0,2 g Iốt (cân chính xác đến 1 mg). Khi trọng lượng Iốt đã tan hết, chuyển

toàn bộ sang bình định mức 100 ml và thêm nước cất đến vạch mức, lắc đều.

Với thiết bị nghiền nhỏ tiến hành nghiền 20 hạt gạo xát thành bột mịn

qua được rây có kích thước lỗ sàng 250 μm.

Loại mỡ khỏi bột bằng metanol hay etanol 95% với thời gian 16 giờ

trong thiết bị Soxhlet. Sau đó đổ thành lớp mỏng trên đĩa hay trên mặt kính

đồng hồ và để yên 2 ngày để loại bỏ alcol dư và cân bằng độ ẩm.

Cân 100 + 0,5 mg mẫu thử đã được chuẩn bị trong bình định mức 100

ml. Thêm cẩn thận 1ml etanol 95% để rửa trôi phần mẫu còn bám trên thành

bình và làm ướt đều mẫu. Thêm từ từ 9,0 ml dung dịch natri hydroxyt 1mol/l

sao cho mẫu không bị vón đục.

Để yên ở nhiệt độ phòng từ 15 đến 24 giờ. Có thể đun cách thủy ở 100oC trong thời gian 10 phút cho đến sôi, sau đó làm nguội đến nhiệt độ

phòng. Đưa thể tích đến vạch mức bằng nước cất và lắc mạnh.

Mẫu trắng: Tiến hành mẫu trắng với cùng một lượng thuốc thử theo

đúng như các bước đối với mẫu thử nhưng sử dụng 5,0 ml dung dịch natri

hydroxyt 0,00 mol/l thay cho dung dịch mẫu thử.

Xây dựng đồ thị chuẩn

Trộn những thể tích dung dịch huyền phù chuẩn của amyloza,

amylopectin và natri hydroxyt 0,09 mol/l theo số liệu ghi ở bảng:

Amyloza trong gạo xát Thành phần hỗn hợp (ml)

Amyloza Amylozapectin NaOH 0,09 mol/l

(m/m) % chất khô 0 0 18 2

10 2 16 2

20 4 14 2

25 5 13 2

30 6 12 2

Các giá trị trong bảng được tính trên cơ sở hàm lượng bột trung bình

theo phần trăm khối lượng chất khô trong gạo xát. Để phân tích hàng ngày có

thể dùng các mẫu bột gạo xát đã loại mỡ có hàm lượng amyloza đã biết thay

thế cho dung dịch huyền phù amyloza và amylozapectin.

Hiện màu: Dùng pipet lấy 5,0ml của mỗi dung dịch chuẩn cho vào bình

định mức 100ml đã có sẵn 50ml nước cất. Thêm 1,0ml axit axteic 1mol/l và

lắc đều. Nếu cần có thể kiểm tra lại pH của dung dịch, giá trị pH cần đạt từ

4,5 + 4,8 và từ đó điều chỉnh lượng axit axetic thêm vào cho thích hợp. Sau

đó thêm 2,0ml dung dịch iốt và thêm nước đến vạch mức, lắc đều và giữ yên

trong 20 phút.

Đo mật độ quang: Đo mật độ quang của các dung dịch trên máy quang

phổ ở bước sóng 620n.m với dung dịch đối chứng là mẫu trắng.

Vẽ đồ thị chuẩn: Vẽ đồ thị chuẩn dựa vào các giá trị mật độ quang thu

được và hàm lượng amyloza tương ứng theo phần trăm khối lượng trong gạo

tính theo chất khô.

Xác định mẫu thử:

Hiện màu: Dùng pipet lấy 5,0ml dung dịch mẫu thử cho vào bình định

mức 100ml có sẵn 50ml nước cất. Thêm 1,0ml axit axteic 1mol/l và lắc đều.

Nếu cần có thể kiểm tra lại pH của dung dịch, giá trị pH cần đạt từ 4,5 + 4,8 và

từ đó điều chỉnh lượng axit axetic thêm vào cho thích hợp. Sau đó thêm 2,0ml

dung dịch iốt và thêm nước đến vạch mức, lắc đều và giữ yên trong 20 phút.

Đo mật độ quang: Đo mật độ quang trên máy quang phổ ở bước sóng

620n.m với dung dịch đối chứng là mẫu trắng.

- Tính toán kết quả: Hàm lượng amyloza biểu thị bằng phần trăm khối

lượng trong gạo xát theo chất khô được xác định dựa vào mật độ quang đo

được của mẫu thử và đồ thị chuẩn.

Kết quả là trị số trung bình cộng của hai phép thử xác định song song.

3.8. Phương pháp phân tích độ bền gel theo TCVN 8369:2010

Độ bền gel (gel consistency) là độ bền (cứng) gel của gạo trắng, biểu

thị bằng độ chảy dài của gel được xác định theo quy trình quy định trong tiêu

chuẩn này.

Tiến hành gelatin hóa bột gạo trắng bằng cách thủy phân trong dung

dịch kiềm loãng, sau đó làm lạnh và đo độ chảy dài của gel. Độ bền gel của

gạo trắng được phân loại theo chiều dài gel theo quy định: Mềm: từ 61 đến

100mm; Trung bình: từ 41 đến 60mm; Cứng: từ 26 đến 40mm.

Tất cả thuốc thử được sử dụng phải là loại tinh khiết phân tích: Dung

dịch xanh thymol, nồng độ 0,03 %, trong rượu etylic 95%; Dung dịch kali

hydroxit, nồng độ 0,2 mol/l.

Dùng dụng cụ chia mẫu chia mẫu gạo được lấy, mỗi mẫu không ít hơn

500 g. Các mẫu thử cần được giữ trong phòng thí nghiệm ở điều kiện nhiệt độ

và độ ẩm được điều tiết trong một khoảng thời gian thích hợp để có một độ

ẩm giống nhau.

Từ mẫu phân tích, dùng máy phân loại hạt hoặc sàng tách tấm, lấy ít

nhất 40 g hạt nguyên. Trộn đều và lấy khoảng 20 g hạt gạo trắng nguyên đem

nghiền cẩn thận trong máy nghiền cho đến khi mẫu lọt hoàn toàn qua sàng có

đường kính lỗ 150 μm. Hoặc lấy khoảng 10 hạt gạo trắng nguyên cho vào

máy nghiền, nghiền trong 40 s cho đến khi bột mịn (lọt hoàn toàn qua sàng có

đường kính lỗ 150 μm).

Mẫu được bảo quản trong các lọ đựng mẫu khô sạch và có nắp đậy kín.

Cân 100 mg mẫu bột gạo trắng đã được chuẩn bị, chính xác đến 0,001

g, cho vào ống nghiệm. Cho vào mỗi ống nghiệm 0,2 ml dung dịch xanh

thymol 0,03 % trong rượu etylic 95 % (4.1) và lắc đều.

Rượu etylic 95 % để cản trở sự vón cục của bột ở nhiệt độ hóa hồ, còn

thymol xanh tạo màu cho bột để thuận tiện khi đọc kết quả. Dùng pipet thêm

tiếp 2 ml dung dịch kali hydroxit 0,2 mol/l và trộn đều trên máy lắc ống

nghiệm ở tốc độ 1 500 r/min. Đậy ống nghiệm bằng bi thủy tinh và đặt vào

giá ống nghiệm. Cho giá có ống nghiệm chứa mẫu thử vào nồi cách thủy đang

sôi. Đun sôi trong thời gian 8 min. Trong thời gian đun, cần đảm bảo độ sôi

của nước trong nồi cách thủy và phải giữ để sự chuyển động lên xuống của

tinh bột khi nấu không vượt quá 2/3 chiều cao ống nghiệm.

Lấy ống nghiệm ra khỏi nồi cách thủy và lắc nhanh trên máy lắc ống

nghiệm, rồi làm nguội ở nhiệt độ phòng trong khoảng 5 min và sau đó làm

lạnh trong nước đá khoảng 20 min.

Các mẫu gạo trắng có độ bền gel cứng, trung bình và mềm được sử

dụng làm mẫu kiểm tra cho mỗi đợt phân tich, được tiến hành đồng thời cùng

với mẫu thử.

Sau khi làm lạnh, đặt các ống nghiệm trên mặt phẳng nằm ngang có

chia vạch 1 mm. Đọc độ dài của gel sau 30 min và 60 min.

Biểu thị kết quả

Độ dài gel, tính bằng milimet (mm), được tính theo khoảng cách từ đáy

ống nghiệm tới đầu nhọn của bề mặt gel.

Kết quả thử là trung bình cộng của ba lần xác định song song trên cùng

một mẫu thử.

Từ độ dài trung bình gel thu được, phân loại độ bền gel của gạo trắng

theo quy định

3.9. Phương pháp xác định nhiệt độ hóa hồ qua độ phân hủy kiềm theo

TCVN 5715:1993

Nhiệt hóa hồ cuối cùng của tinh bột gạo được phân chia như sau: Thấp

< 700C; Trung bình: từ 70 – 740C; Cao : >740C

Độ phân hủy kiềm của hạt gạo xát được đánh giá qua thang điểm từ 1-

7 và tỷ lệ nghịch với nhiệt độ hóa hồ theo mối tương quan sau: điểm 1-3: Cao;

điểm 4- 5: Trung bình; điểm 6- 7: Thấp.

Dùng dung dịch kali hydroxyt 1,7% phân hủy 6 hạt gạo xát nguyên ở nhiệt độ 800C trong 23 giờ. Dựa vào hình dáng và mức độ bị phân hủy kiềm

bằng cách so sánh mẫu gạo thí nghiệm với mẫu chuẩn và thang điểm chuẩn,

từ đó qui ra nhiệt hóa hồ của mẫu.

Phân hủy kiềm: Lấy 6 hạt gạo xát nguyên, với 2 lần phân tích nhắc lại,

đặt vào hộp nhựa vuông 4,6 x 4,6 x 1,9cm, sắp xếp sao cho các hạt không

chạm vào nhau. Dùng pipet cho vào mỗi hộp dung dịch kali hydroxyt 1,7%.

Nếu dùng hộp petri thì cần đưa vào một lượng dung dịch kali hydroxyt có

chiều dày ít nhất 4,5 mm để ngập được hạt gạo. Đậy hộp lại và để ở nhiệt độ 300C trong 23 giờ.

Hình dạng và mức độ bị kiềm phân hủy của hạt gạo được đánh giá bằng

mắt sau khi ủ ấm dựa trên thang điểm sau: Điểm 1: hạt gạo không bị phân

hủy; Điểm 2: hạt gạo bị trương lên; Điểm 3: hạt gạo bị trương lên, vành keo

không hoàn thiện và hep; Điểm 4: hạt gạo bị trương lên, vành keo hoàn chỉnh

và rộng; Điểm 5: hạt gạo bị nứt ra hoặc vỡ thành những mẫu nhỏ, vành keo

hoàn chỉnh và rộng; Điểm 6: hạt gạo bị phân tán, hòa tan với vành keo; Điểm

7: hạt gạo bị phân tán và trộn lẫn hoàn toàn.

Điểm phân hủy kiềm của mẫu thử là giá trị trung bình của sáu điểm

tính riêng cho từng hạt và kết quả cuối cùng là trị số trung bình của hai lần

xác định song song.

Từ điểm số trung bình nhận được dựa vào mối tương quan giữa độ

phân hủy kiềm và nhiệt độ hóa hồ để qui ra nhiệt độ hóa hồ của mẫu thử.

3.10. Phương pháp xác định hàm lương protein theo Bradford

Cách tiến hành hạt lúa được bóc vỏ, sau đó được nghiền mịn thành bột

trong cối sứ. Cân 10 mg bột, bổ sung 300 μl đệm Hirata, vontex mẫu và ủ qua

đêm ở 40C. Ly tâm mẫu 15.000 vòng/phút trong 15 phút ở 40C, loại bỏ kết tủa.

Lấy 4 μl dịch nổi bổ sung thêm 200 μl thuốc nhuộm Bradford 1X, trộn đều rồi

đem đo ở bước sóng 595 nm trên máy quang phổ Biomate 3 của hãng Thermo.

Mẫu trắng là đệm Hirata.

Tính toán kết quả: Dựng đường chuẩn theo kit của hãng BioRad với

các thang nồng độ 0,25; 0,5; 0,75; 1; 1,25; 1,34 mg/ml. Hàm lượng protein

được tính dựa trên đường chuẩn.

3.11. Phương pháp đánh giá chất lượng cơm theo TCVN 8373:2010.

- Mẫu thử nghiệm phải là mẫu đại diện và không bị suy giảm chất

lượng hay bị thay đổi trong quá trình vận chuyển hoặc bảo quản. Lượng mẫu

lấy không được ít hơn 1 kg gạo trắng, được loại sạch đá, cát sạn và các tạp

chất khác. Đựng mẫu trong túi nilon dán kín và được bảo quản trong tủ đựng

mẫu. Trước khi nấu, các mẫu thử cần được giữ trong phòng thử nghiệm ở

điều kiện nhiệt độ và độ ẩm được điều tiết trong một khoảng thời gian thích

hợp để có cùng một độ ẩm giống nhau, tốt nhất là khoảng 14 %. Khi đánh giá

cảm quan cơm của các giống lúa, tùy theo yêu cầu có thể tách riêng hạt

nguyên và tấm, sau đó tiến hành đánh giá từ mẫu gạo hạt nguyên hoặc mẫu

gạo nguyên pha tấm 5%, 10%........

- Cân 200 g gạo trắng được chuẩn bị, chính xác đến 0,01 g, cho vào hộp

nhôm hoặc nồi nhôm nhỏ đã biết trước khối lượng. Vo nhanh hai lần bằng

nước sạch trong khoảng từ 4 min đến 5 min. Cho hộp nhôm có chứa gạo đã

vo sạch lên cân và thêm tiếp một lượng nước cho đủ khối lượng để đạt tỉ lệ đã

tính. Đặt hộp nhôm có chứa gạo và nước vào trong nồi cơm điện đã có sẵn

100 ml nước, đậy lại và bật công tắc. Tiến hành nấu cách thủy đến khi rơle tự

ngắt (khoảng 20 min) và tiếp tục giữ ấm 20 min sau khi rơle ngắt.

- Cơm nấu từ gạo tẻ thường được thử nếm để đánh giá chất lượng cảm

quan khoảng 1h sau khi nấu chín. Xới cơm vào các cốc thủy tinh, đậy kín và

đặt vào khay. Trên mỗi khay đặt từ 3 cốc đến 6 cốc đựng các mẫu cơm khác

nhau đã được mã hóa và được sắp xếp một cách ngẫu nhiên.

- Một thành viên trong hội đồng đánh giá cảm quan được nhận một

khay đựng các mẫu cơm cần đánh giá đã được chuẩn bị, thìa xúc và cốc nước

đun sôi để nguội, không có mùi vị lạ dùng để tráng miệng. Các chỉ tiêu được

đánh giá và thang điểm như sau:

+ Mùi được nhận biết bằng cách ngửi và cho điểm từ 1- 5: Không có

mùi đặc trưng; Có mùi hương thơm kém đặc trưng; Thơm nhẹ khá đặc trưng;

Thơm đặc trưng; Rất thơm, đặc trưng.

+ Độ trắng được quan sát bằng mắt qua bề ngoài của cơm sau khi nấu và

cho điểm từ 1- 5: Nâu; Trắng ngả nâu; Trắng hơi xám; Trắng ngà; Rất trắng.

+ Độ mềm dẻo được nhận biết khi miết bằng tay và trong khi nhai cho

điểm từ 1- 5: Rất cứng; Cứng; Hơi mềm; Mềm dẻo; Rất mềm dẻo.

+ Vị ngon là cảm giác tổng hợp của từng người nhận được trong khi ăn

cho điểm từ 1- 5: Không ngon; Chấp nhận được; Ngon; Khá ngon; Rất ngon.

Các thành viên tiến hành đánh giá cẩn thận các chỉ tiêu chất lượng cảm

quan của cơm và cho điểm theo quy định, sau đó ghi kết quả vào phiếu đánh

giá cảm quan cho từng mẫu với từng chỉ tiêu sau một lần thử.

Điểm trung bình của từng chỉ tiêu là điểm trung bình cộng của tất cả

các ủy viên trong hội đồng đã tham gia đánh giá chỉ tiêu ấy, tính đến một chữ

số thập phân. Khi có một ủy viên hội đồng đánh giá cảm quan cho điểm lệch

với điểm trung bình của cả hội đồng từ 1,5 điểm trở lên mà ủy viên này có đủ

lập luận hoặc chứng cứ rõ ràng thì điểm của hội đồng bị bác bỏ hoặc ngược

lại. Chỉ cần có một ủy viên cho một chỉ tiêu nào đó điểm 1 thì hội đồng nên

thử lại đối với chỉ tiêu đó. Trong trường hợp nghi ngờ, cần lặp lại mẫu thử.

Kết quả thử lại là kết quả cuối cùng.

Chất lượng cảm quan cơm nấu của mẫu gạo trắng được đánh giá qua

điểm tổng hợp (D) theo công thức:

D =

Trong đó: Di là điểm trung bình của toàn bộ hội đồng cho một chỉ tiêu

thứ i.

Theo mức điểm, chất lượng cảm quan cơm nấu từ mẫu gạo trắng được

xếp thành 5 hạng theo quy định: Tốt (18,6- 20,0 điểm); Khá (15,2- 18,5 điểm);

Trung bình (11,2- 15,1 điểm); Kém (7,2- 11,1 điểm); Rất kém (<7,2 điểm).

Phụ lục 4: Số liệu một số yếu tố yếu tố thời tiết khí hậu tại các tỉnh Quảng

Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên, từ năm 2012 đến 2014

Bảng P4.1. Một số yếu tố yếu tố thời tiết khí h u tại các tỉnh Quảng Nam,

Quảng Ngãi và Phú Yên, năm 2012

Nhiệt độ không khí (oC)

Tỉnh

g n á h T

TB

Max Min

1

2

3

4

5

6

7

8

9

1 1 g n á h T

2 1

g n á h T

Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam 0 1 g Quảng Ngãi n á h Phú Yên T Quảng Nam Quảng Ngãi Phú Yên Quảng Nam Quảng Ngãi Phú Yên

Độ ẩm không khí (%) 96,0 90,0 86,0 92,0 87,0 84,0 86,0 81,0 82,0 83,0 80,0 89,2 78,0 77,0 75,0 77,0 75,0 68,3 81,0 76,0 73,3 77,0 74,0 69,7 91,0 84,0 83,0 91,0 84,0 83,0 94,0 86,0 87,0 92,0 85,0 82,7

Tổng số giờ nắng (giờ) 66,0 64,7 125,0 35,0 137,3 199,0 174,0 219,2 207,0 213,0 213,8 288,0 239,0 242,6 305,0 198,0 186,4 228,0 225,0 227,9 253,0 224,0 231,3 263,0 175,0 170,0 198,0 169,0 188,5 207,0 161,0 174,7 209,0 117,0 160,1 48,6

18,0 18,2 19,7 18,2 18,8 20,3 19,0 19,2 21,9 21,7 22,1 22,5 23,7 24,6 26,3 23,4 23,4 27,6 23,6 24,3 26,3 21,6 24,3 26,5 22,7 23,1 24,9 21,3 21,6 20,5 21,7 22,0 22,7 17,4 18,5 23,6

21,5 22,1 23,6 22,7 23,3 24,5 24,7 25,4 28,5 27,6 28,0 27,9 29,2 29,7 29,7 30,1 30,1 30,3 29,4 29.4 29,4 29,6 30,0 29,8 26,8 27,4 27,5 25,7 26,4 26,9 25,4 26,4 26,8 24,0 24,7 25,9

29,4 29,6 28,9 33,7 32,9 32,7 33,7 32,7 33,0 38,4 37,7 36,9 39,0 37,5 35,3 37,9 38,3 34,7 37,7 37,9 34,5 37,6 38,2 35,3 32,9 34,4 31,8 31,8 32,6 31,6 31,8 32,6 31,4 34,4 32,4 29,0

Tổng lượng mưa (mm) 149,2 132,0 69,0 77,0 124,2 30,5 5,0 4,6 82,2 21,7 27,2 152,1 35,8 45,9 74,7 175,9 166,6 26,8 65,6 90,5 38,3 193,6 86,9 14,7 393,5 300,0 548,5 368,6 453,2 133,2 384,2 179,8 153,2 203,1 143,6 196,0 (Nguồn: Đài khí tượng, thuỷ văn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên)

Bảng P4.2. Một số yếu tố yếu tố thời tiết khí h u tại các tỉnh Quảng Nam,

Quảng Ngãi và Phú Yên, năm 2013

Nhiệt độ không khí (oC)

Tỉnh

TB

Min

g n á h T

1

2

3

4

5

6

7

8

9

2 1 g n á h T

21,5 22,4 23,9 23,9 24,7 25,4 25,2 26,1 26,8 26,8 27,7 28,5 28,7 29,5 29,6 29,0 29,7 29,1 28,4 29,0 28,9 28,4 29,1 28,8 26,5 28,7 28,2 25,3 25,8 26,5 24,8 25,4 26,3 20,5 21,5 23,1

Độ ẩm không khí (%) 92,0 87,0 81,0 90,0 84,0 82,0 91,0 84,0 81,0 90,0 84,0 81,0 84,0 77,0 78,0 81,0 76,0 77,0 82,0 78,0 75,0 84,0 79,0 74,0 88,0 84,0 77,0 88,0 85,0 84,0 93,0 87,0 87,0 89,0 82,0 78,0

Tổng số giờ nắng (giờ) 111,0 114,0 178,0 148,0 1562 203,0 200,0 210,5 283,0 160,0 181,1 270,0 257,0 258,7 304,0 101,2 196,1 204,0 194,0 208,4 247,0 138,0 151,5 190,0 140,0 142,7 47,0 134,0 150,5 167,0 110,0 133,3 153,0 46,0 78,1 95,0

Tổng lượng mưa (mm) 85,7 107,8 101,7 157,2 104,8 91,8 152,2 47,2 12,3 96,7 68,9 38,3 27,6 20,0 13,4 28,8 24,4 15,1 46,4 77,0 91,0 45,7 62,5 23,0 428,3 348,3 92,0 548,6 589,8 118,6 770,0 581,1 549,0 43,9 17,7 281,0

Max 27,7 29,0 27,1 31,5 31,4 28,9 34,3 33,7 30,9 37,3 38,2 33,0 37,9 38,3 39,0 39,3 38,9 38,3 36,6 36,5 36,7 37,4 38,2 36,2 37,5 36,1 34,3 31,4 31,9 34,0 31,4 31,7 31,7 27,5 28,5 29,1

17,4 Quảng Nam 18,0 Quảng Ngãi g n á 21,7 Phú Yên h T 20,0 Quảng Nam g 20,3 Quảng Ngãi n á h 23,0 Phú Yên T 18,0 Quảng Nam g 18,8 Quảng Ngãi n á h 23,7 Phú Yên T 21,7 Quảng Nam g 22,9 Quảng Ngãi n á h 25,4 Phú Yên T 22,1 Quảng Nam g 22,3 Quảng Ngãi n á h 24,1 Phú Yên T 23,8 Quảng Nam g 24,3 Quảng Ngãi n á h 23,0 Phú Yên T 23,6 Quảng Nam g 24,4 Quảng Ngãi n á h 22,4 Phú Yên T Quảng Nam 23,6 g 23,8 Quảng Ngãi n á h 24,0 Phú Yên T 23,0 Quảng Nam g 22,8 Quảng Ngãi n á h 23,8 Phú Yên T 20,9 Quảng Nam 0 1 g 21,1 Quảng Ngãi n á 22,9 Phú Yên h T 19,5 Quảng Nam 1 1 g 20,7 Quảng Ngãi n á h 21,6 Phú Yên T 16,3 Quảng Nam 17,0 Quảng Ngãi 19,8 Phú Yên (Nguồn: Đài khí tượng, thuỷ văn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên)

Bảng P4.3. Một số yếu tố yếu tố thời tiết khí h u tại các tỉnh Quảng Nam,

Quảng Ngãi và Phú Yên, năm 2014

Nhiệt độ không khí (oC)

Tỉnh

TB

Max Min

g n á h T

1

2

3

4

5

6

7

8

9

g n á h T 0 1

g n á h T 1 1

g n á h T 2 1

27,0 28,0 28,3 30,7 30,1 30,9 34,7 34,4 35,0 35,1 35,1 36,0 38,2 39,0 37,7 40,2 39,4 38,7 37,3 37,8 37,8 38,9 38,0 37,7 38,7 37,1 38,0 33,0 34,3 32,7 30,4 31,3 30,7 28,8 31,0 31,1

20,0 20,9 22,2 21,9 22,6 23,2 24,9 25,4 25,9 27,1 27,9 28,2 29,3 30,2 30,0 30,6 30,8 30,5 28,1 29,4 29,7 29,0 29,5 29,2 28,2 28,7 29,1 25,7 26,5 26,7 23,5 25,9 25,6 21,4 22,4 23,1

Độ ẩm không khí (%) 89,0 83,0 79,0 87,0 82,0 83,0 87,0 83,0 83,0 87,0 81,0 78,0 78,0 74,0 76,0 73,0 72,0 67,0 83,0 78,0 70,0 78,0 75,0 73,0 82,0 79,0 76,0 90,0 86,0 87,0 90,0 87,0 86,0 96,0 91,0 92,0

Tổng số giờ nắng (giờ) 88,0 114,8 163,0 163,0 170,3 225,0 192,0 219,7 285,0 226,0 249,7 291,0 262,0 300,8 317,0 198,0 208,7 207,0 63,0 215,3 214,0 209,0 236,4 270,0 204,0 203,5 259,0 149,0 172,1 198,0 127,0 166,6 157,0 19,0 32,0 47,0

Tổng lượng mưa (mm) 93,1 100,3 28,2 0,0 0,5 25,0 35,9 18,8 16,5 31,6 9,6 6,0 48,7 5,6 17,0 47,7 38,1 20,1 116,4 132,1 27,6 32,9 69,8 147,7 100,9 109,9 115,4 879,2 682,1 805,5 356,5 418,7 335,6 785,3 570,9 416,0

g n á h T

15,4 Quảng Nam g 15,0 Quảng Ngãi n á 17,0 Phú Yên h T 16,0 Quảng Nam g 16,4 Quảng Ngãi n á h 17,5 Phú Yên T 19,3 Quảng Nam g 18,6 Quảng Ngãi n á 15,5 Phú Yên h T 21,5 Quảng Nam g 21,9 Quảng Ngãi n á h 24,4 Phú Yên T 23,9 Quảng Nam g 24,4 Quảng Ngãi n á 25,0 Phú Yên h T 24,1 Quảng Nam g 25,1 Quảng Ngãi n á h 24,4 Phú Yên T 23,5 Quảng Nam g 24,3 Quảng Ngãi n á 25,0 Phú Yên h T 23,5 Quảng Nam g 23,7 Quảng Ngãi n á h 24,1 Phú Yên T 23,2 Quảng Nam 24,0 Quảng Ngãi 24,0 Phú Yên 21,7 Quảng Nam 22,2 Quảng Ngãi 22,5 Phú Yên 21,7 Quảng Nam 21,9 Quảng Ngãi 22,9 Phú Yên 15,8 Quảng Nam 17,3 Quảng Ngãi Phú Yên 15,2 (Nguồn: Đài khí tượng, thuỷ văn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên)

Phụ lục 5: Một số hình ảnh minh họa quá trình thực hiện đề tài

Phụ lục 6. Quyết định công nhận giống