intTypePromotion=1

nghiêng cứu thông số tính năng và đặc điểm hao mòn trước sử dụng Xado của động cơ Diezen D12, chương 7

Chia sẻ: Do Van Nga Te | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
130
lượt xem
17
download

nghiêng cứu thông số tính năng và đặc điểm hao mòn trước sử dụng Xado của động cơ Diezen D12, chương 7

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ma sát là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng mài mòn của các chi tiết máy, gây nên sự biến đổi theo chiều hướng xấu tính năng kỹ thuật của các bộ phận của động cơ. Sự mài mòn là hậu quả của quá trình thay đổi dần dần kích thước của các chi tiết có chuyển động tương quan với nhau chiệu tác động của ma sát, thể hiện ở sự phân hoá vật liệu từ các bề mặt ma sát. Còn cường độ hao mòn là kết quả của sự mài mòn thể hiện ở sự thay...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: nghiêng cứu thông số tính năng và đặc điểm hao mòn trước sử dụng Xado của động cơ Diezen D12, chương 7

  1. -1- Chương 7: Các giai đoạn mài mòn của cặp ma sát Ma sát là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng mài mòn của các chi tiết máy, gây nên sự biến đổi theo chiều hướng xấu tính năng kỹ thuật của các bộ phận của động cơ. Sự mài mòn là hậu quả của quá trình thay đổi dần dần kích thước của các chi tiết có chuyển động tương quan với nhau chiệu tác động của ma sát, thể hiện ở sự phân hoá vật liệu từ các bề mặt ma sát. Còn cường độ hao mòn là kết quả của sự mài mòn thể hiện ở sự thay đổi kích thước nguyên thuỷ của các chi tiết máy. Đó là một quá trình không thuận nghịch. Độ mài mòn diễn biến tuỳ thuộc vào thời gian sử dụng và điều kiện sử dụng của động cơ. Quan hệ của chúng được giới thiệu trên hình 1.9. Hình 1.9: Các giai đoạn mài mòn của cặp ma sát
  2. -2- Từ hình 1.9 cho ta thấy Trong thời gian sử dụng thứ nhất Ln (giai đoạn I), các chi tiết máy mòn rất nhanh do quá trình làm việc rà khít các bề mặt ma sát (điểm 1 và 1’). Sau giai đoạn rà khít, các bề mặt làm việc rất ổn định, khe hở hầu như không tăng lên bao nhiêu suốt trong thời gian sử dụng khá dài LH (giai đoạn II). Trong thời gian sử dụng này, khe hở tăng chậm và điều đặn. Từ bb’ đến cc’
  3. -30- (điểm 2 và 2’) khe hở cc’ là khe hở giới hạn. Giai đoạn II này dài hay ngắn phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm tiến hành chuẩn đoán trạng thái kỹ thuật và vào mức độ hoàn thiện của công tác bảo dưỡng kỹ thuật một và hai. Thời gian sử dụng LH (ứng với giai đoạn II) này được gọi là hành trình giữa hai kỳ sửa chửa. Giai đoạn III được đặc trưng bằng sự bào mòn rất nhanh, dẫn đến sự hư hỏng hoàn toàn của các chi tiết máy. Trong quá trình này ảnh hưởng của tải trọng động, của chế độ nhiệt, của điều kiện bôi trơn, v.v. rất lớn. Do hậu quả của mài mòn, độ côn, độ ôvan v.v. tăng lên rất nhanh, không còn khả năng điều chỉnh. Các quá trình biến đổi cơ – lý, thuỷ khí, nhiệt hoá và điện hoá xảy ra rất nhanh và rất nghiêm trọng, phá hoại toàn bộ tính năng sử dụng của động cơ. Vì vậy khi đã hết giai đoạn II, bắt buộc phải sửa chửa động cơ. Sự thay đổi trạng thái kỹ thuật của các bộ phận của động cơ ngoài nguyên nhân ma sát đã nói ở trên ra, phần lớn còn do chiệu ảnh hưởng của điều kiện chế tạo và lắp ghép động cơ của các nhà máy chế tạo lắp ghép. Tuy vậy, các chi tiết của động cơ bao giời củng được chế tạo theo cấp dung sai, cấp chính xác khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng, tính năng và tác dụng của các chi tiết ấy. Các chi tiết lắp ghép với nhau theo chế độ lắp ghép tối ưu, trong đó khe hở hoặc độ dôi của mối ghép điều đã được khảo nghiệm kỹ lưỡng. Nói chung, cấp chính xác của mối ghép càng thấp giới hạn dung sai càng lớn
  4. -31- thì việc gia công các chi tiết càng đơn giản và càng thô. Xác định đúng cấp chính xác, chế độ dung sai của chi tiết lắp ghép sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chạy rà khít và do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình mà ta gọi là tuổi thọ sử dụng LH của động cơ. Các nhà máy chế tạo động cơ không thể bảo đảm tính đồng nhất của các mối lắp ghép của tất cả các động cơ xuất xưởng, mà chỉ có thể bảo đảm miền dung sai cho phép của các mối lắp ghép mà thôi. Tất nhiên càng thu hẹp miền dung sai lắp ghép lại bao nhiêu thì ảnh hưởng của điều kiện chế tạo và lắp ghép đối với sự thay đổi trạng thái kỹ thuật càng ít bấy nhiêu. Song như vậy giá thành sản phẩm vì thế sẽ tương ứng tăng lên khá lớn.
  5. -32- Vì vậy trong thực tế, mỗi động cơ khi xuất xưởng điều có đặc tính (thông số) về miền dung sai nhất định đã được nhà máy điều chỉnh thoả mãn với điều kiện kỹ thuật xuất xưởng của các nhà chế tạo.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2