BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ Hồ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGÔ TẤT TỐ - NHÀ BÁO
THÀNH TỰU XUẤT SẮC QUA MẢNG TẠP VĂN - TIỂU PHẨM
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 5-04-33
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học :
GS - PTS TRẦN HỮU TÁ
Người thực hiện:
TRẦN VẦN DỮNG
1997
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ Hồ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGÔ TẤT TỐ - NHÀ BÁO
THÀNH TỰU XUẤT SẮC QUA MẢNG TẠP VĂN - TIỂU PHẨM
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 5-04-33
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS - PTS TRẦN HỮU TÁ
Người thực hiện:
TRẦN VẦN DỮNG
1997
Luận án thạc sĩ
PHẦN MỞ ĐẦU
I. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nói đến Ngô Tất Tố, ngƣời đọc liên tƣởng ngay đến tác giả của tiểu thuyết Tắt đèn,
một tác phẩm xuất sắc đã góp phần đƣa tên tuổi của nhà văn lên vị trí xứng đáng trong dòng
văn học hiện thực nƣớc ta, giai đoạn 1930 - 1945. Từ khi mới ra đời Tắt đèn đã đƣợc nhiều
nhà văn, nhà báo thời đó khen ngợi và đánh giá cao "một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng
lai chƣa từng thấy"(1). Không chỉ có Tắt đèn mà còn nhiều tác phẩm khác của Ngô Tất Tố
nhƣ: Việc làng, Lều chõng, những bài báo và các công trình khảo cứu, dịch thuật... cũng
đƣợc đông đảo công chúng độc giả đón nhận một cách nồng nhiệt.
Ngày nay, tác phẩm của ông đƣợc đƣa vào dạy ở trƣờng phổ thông và đại học. Thân
thế và sự nghiệp của ông đƣợc nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học quan tâm, nhiều thế
hệ sinh viên chọn làm luận văn tốt nghiệp ở bậc đại học và cao hơn.
Vào ngày 10-6-1996 một vinh dự lớn đã đến với Ngô Tất Tố là các tác phẩm: Tắt
đèn, Việc làng, Lều chõng, Phiên chợ trung du (bút ký năm 1947 - 1948) đƣợc trao giải
thƣởng Hồ Chí Minh (đợt I). Đây là hình thức khen thƣởng cao nhất của Đảng - Nhà nƣớc
tặng cho những công trình đặc biệt xuất sắc, đã đƣợc công bố hoặc sử dụng kể từ ngày
thành lập nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay. Theo đánh giá của Hội đồng trao giải,
tất cả 77 cụm công trình, tác phẩm đƣợc tặng thƣởng đợt này đều có giá trị cao về khoa học,
văn học nghệ thuật, có ảnh hƣởng rộng lớn, lâu dài trong đời sống nhân dân, cũng nhƣ góp
phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nƣớc.
Nhƣ vậy, sự nghiệp văn chƣơng của Ngô Tất Tố, thêm một lần nữa đƣợc khẳng định
ở vị trí xứng đáng trong nền văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông từng làm say mê nhiều
thế hệ độc giả, trong đó có tôi.
(Lần đầu tiên tôi đƣợc làm quen với tác giả Ngô Tất Tố qua tác phẩm Tắt đèn, cách
đây đã hơn hai mƣơi năm). Không khí náo động, căng thẳng, ngột ngạt của làng Đông Xá
trong vụ thuế, dƣới thời Pháp thuộc đƣợc ông miêu tả nhƣ vẫn còn in đậm trong trí nhớ của
tôi: cổng làng đóng chặt, việc đồng áng đình đốn, dân làng bị dồn lại và bọn
(1) Vũ Trọng Phụng viết trên tờ Thời vụ năm 1939, trích lại trong Lịch sử Văn học Việt Nam, tập V, NXB Giáo
dục 1978, trang 213.
1
Luận án thạc sĩ
cƣờng hào bắt đầu đốc thuế bằng gậy gộc, cùm kẹp. Giữa tiếng thúc giục dồn dập của "mõ
cá trên cột đình", "trống cái dƣới xá đình", ngƣời nông dân đầu óc căng thẳng, hoặc chạy
ngƣợc chạy xuôi vay nợ, cầm đồ, hoặc kêu khóc thảm thiết. Sau lũy tre xanh, làng Đông Xá
êm đềm, lặng lẽ bỗng trở thành một bãi chiến trƣờng. Tôi vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây
tiếng kêu uất ức của chị Dậu và hình dung đƣợc cảnh chị nghiến hai hàm răng lại, thách
thức và đánh ngã hai tên bộ hạ hung hăng của quan phụ mẫu và cụ lý.
Mỗi lần đọc lại hai câu thơ cùa Tố Hữu:
" Nửa đêm thuế thúc trống dồn
Sân đình máu chảy đường thôn lính đầy".
là tôi lại liên tƣởng đến Tắt đèn và nhớ đến Ngô Tất Tố. Sau này, khi học lên đại học, có
điều kiện đọc nhiều tác phẩm khác của Ngô Tất Tố, tôi nhận ra: bên cạnh các sáng tác văn
học, ông còn viết nhiều công trình nghiên cứu, khảo cứu, nhiều bài bình luận thời sự có giá
trị. Đặc biệt là trên lĩnh vực báo chí, ông cũng đã chứng tỏ đƣợc mình là một cây bút tài hoa
hiếm thấy trong làng báo Việt Nam thời kỳ trƣớc Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi mà
nền báo chí nƣớc nhà vừa mới phát triển. Trong khoảng thời gian mƣời lăm năm (1930 -
1945), trên các báo ngày, báo tuần, tạp chí khắp cả Bắc - Trung - Nam, xuất hiện liên tục
các bài văn ngắn của Ngô Tất Tố, dƣới nhiều tên ký khác nhau. Vào thời đó "độc giả khắp
trong Nam ngoài Bắc, không ai là không biết đến danh tiếng của ông". Chính những bài văn
ngắn này là mảng đƣợc ông đầu tƣ vào đó nhiều công sức và tâm huyết nhất.
Lớp hậu sinh của chúng tôi ngày nay chỉ đƣợc đọc một phần rất nhỏ trong số hàng
ngàn trang viết của nhà báo Ngô Tất Tố. Nhƣng chỉ với một phần nhỏ ấy thôi, cũng đủ làm
cho chúng tôi kính phục văn tài của ông. Đọc lại những tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố
viết cách đây hơn nửa thế kỷ, nhiều khi chúng tôi hết sức ngạc nhiên và tự hỏi: Làm sao một
nhà nho áo the khăn xếp, từng bị các đồng nghiệp chế giễu "suốt đời không biết ăn kem Bờ
Hồ", lại có thể viết những bài báo sắc sảo, hiện đại đến nhƣ thế? Vừa thâm nho, uyên bác
đậm tính triết lý phƣơng Đông, vừa đầy chất trí tuệ của phƣơng Tây. Và điều gì đã thôi thúc
ông, vừa có tài viết "mỗi ngày một chuyện" vừa có tài viết "mỗi bài một kiểu", không đơn
điệu, trùng lắp và luôn đem đến cho ngƣời đọc một sự thú vị.
Thế nhƣng, từ trƣớc đến nay mảng tạp văn của ông không đƣợc mấy ngƣời biết đến,
trừ một số bậc cao niên và những nhà nghiên cứu.
2
Nhiều ngƣời khá quen thuộc với nhà văn hiện thực Ngô Tất Tố, nhƣng chƣa biết
Luận án thạc sĩ
nhiều hoặc không biết nhà báo Ngô Tất Tố. Thậm chí có nhà báo đƣợc đào tạo qua trƣờng
lớp đàng hoàng, đã từng viết tiểu phẩm báo chí, nhƣng khi đƣợc hỏi về tạp văn - tiểu phẩm
của Ngô Tất Tố thì tỏ ra xa lạ, vì chƣa đƣợc đọc đến bao giờ. Có ngƣời nghĩ đó là những
tiểu phẩm đã "xƣa nhƣ trái đất", đáng đƣợc đƣa vào bảo tàng, không còn cần thiết đối với
những ngƣời làm báo thời hiện đại. Nghĩ nhƣ vậy là chƣa hiểu nhiều về nhà báo Ngô Tất
Tố.
Là ngƣời yêu thích văn chƣơng của ông, tôi chọn "mảng không đƣợc mấy ngƣời biết
đến" này để làm luận án tốt nghiệp cao học. Đề tài đƣợc mang tên : Ngô Tất Tố - nhà báo
(những thành tựu xuất sắc qua mảng tạp văn - tiểu phẩm).
Nghiên cứu tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, chúng tôi muốn góp phần làm sáng
tỏ tƣ tƣởng tiến bộ và quan niệm của ông về nghề làm báo và viết văn, đồng thời qua đó
khẳng định tài năng của ông trên lĩnh vực báo chí, đồng thời khẳng định lại vị trí của các tác
phẩm báo chí, trong toàn bộ sự nghiệp văn chƣơng của ông. Thực tế cho thấy, các tác phẩm
Tắt đèn, Việc làng, Lều chõng trƣớc khi in thành sách, một số đoạn đã đƣợc đăng trên các
báo dƣới dạng những bài văn ngắn, điều đó có nghĩa là tất cả đƣợc bắt đầu từ báo chí mà ra.
Theo chúng tôi cả hai chức năng nhà văn và nhà báo ở ông đều hòa chung trong một nhân
cách, nhƣng ở góc độ nhà báo ông có phần sắc sảo hơn. Chúng tôi sẽ lý giải điều này trong
phần nội dung của luận án.
Làng báo Việt Nam hiện nay, đang bƣớc vào giai đoạn đổi mới trong bối cảnh đổi
mới chung của đất nƣớc, với số lƣợng báo chí phát hành nhiều, có hình thức trình bày trang
nhã, nội dung phong phú đa dạng, thì việc đòi hỏi các nhà báo vừa có chuyên môn cao đƣợc
đào tạo qua trƣờng lớp, vừa phải thực hành giỏi để tạo ra những tác phẩm báo chí có sức
sống lâu dài trong lòng độc giả, là một nhu cầu cấp thiết. Nhƣng theo nhận xét của riêng tôi,
trong giáo trình báo chí đƣợc giảng dạy ở các trƣờng đào tạo chuyên ngành hiện nay, có
phần nặng về trang bị lý luận hơn là nghiệp vụ thực hành qua các thể loại. Vì vậy, việc
nghiên cứu tạp văn - tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, là một việc làm cần thiết mang ý nghĩa bổ
sung vào vốn kiến thức chuyên môn cho bản thân mình, đồng thời giúp cho những ngƣời đã,
đang hoặc sắp sửa bƣớc vào nghề báo có thêm tài liệu để tham khảo.
3
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Luận án thạc sĩ
Khi nghiên cứu về tác giả và tác phẩm của Ngô Tất Tố, nhiều ngƣời thƣờng quan
tâm đến ông với tƣ cách là một nhà văn hiện thực xuất sắc với các tác phẩm Tắt đèn, Việc
làng, Lều chõng.. Ít ai chú ý đến những bài văn ngắn của nhà báo Ngô Tất Tố, đƣợc đăng
liên tục trên các báo và tạp chí, trong khoảng thời gian từ 1930 -1945. Nếu có đề cập đến
những bài văn ngắn của ông, thì cũng chỉ là sự chọn lựa có giới hạn để chứng minh cho một
nhận định nào đó trong công trình nghiên cứu của mình mà thôi.
Ngô Tất Tố đƣợc đánh giá là một cây bút sắc sảo trong làng báo Việt Nam giai đoạn
trƣớc Cách mạng tháng Tám, nhƣng chƣa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về
nhà báo Ngô Tất Tố và những thành tựu xuất sắc của ông qua thể loại tạp văn - tiểu phẩm.
Tuy vậy, qua những lời phát biểu, những bài viết của bạn bè đổng nghiệp cùng thời, của
những nhà văn nhà báo hiện nay, chúng tôi nhận thấy tất cả đều thống nhất với nhau ở chỗ
đánh giá cao về đức độ và văn tài của nhà báo Ngô Tất Tố. Để tiện theo dõi, trong phần này
chúng tôi chia ra các tiểu mục nhƣ sau:
* Các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến Ngô Tất Tố, xuất bản trước
năm 1945.
Trong bài giới thiệu về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, đăng trên báo Thời vụ
ngày 31.01.1931, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã viết: "Ngô Tất Tố là một nhà báo về phái nho
học và là một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho. Làng báo Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam
Kỳ, cũng nhƣ độc giả, hẳn không ai là không biết danh tiếng ngƣời ra đời từ hồi thi sĩ
Nguyễn Khắc Hiếu chủ trƣơng An nam tạp chí và đã viết nhiều bài đại luận khảo cứu, bút
chiến, phê bình, nhiều truyện lịch sử có giá trị, trong nhiều tờ báo và tạp chí cả Nam lẫn
Bắc. Với cái sự đời hoan nghênh ấy, Ngô Tất Tố chẳng cần ai giới thiệu nữa"(1).
Trong công trình nghiên cứu Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (NXB Văn học -
Hội nghiên cứu giảng dạy văn học Thành phố HCM in lại, 1994) tác giả giới thiệu bảy mƣơi
chín nhà văn Việt Nam, tham gia sáng tác bằng chữ quốc ngữ từ cuối thế kỷ 19 đến đầu
những năm 40 của thế kỷ 20, phần đề cập đến Ngô Tất Tố, tác giả viết: "Về Ngô Tất Tố ông
là một tay kỳ cựu trong làng văn, làng báo Việt Nam. Cũng nhƣ
(1) Trích lại trong Ngô Tất Tố - tác phẩm, tập I Nxb Văn học 1977, trang 36.
4
Luận án thạc sĩ
Phan Khôi, ông vào số những nhà Hán học đã chịu ảnh hƣởng văn học Âu Tây và đƣợc
ngƣời ta kể vào hạng nhà nho có óc phê bình, có trí xét đoán, có tƣ tƣởng mới. Nhƣng sở dĩ
tôi đặt ông vào các nhà văn lớp sau vì những văn phẩm gần đây của ông đã chứng tỏ một
cách rõ rệt rằng về đƣờng văn nghệ, ông đã theo kịp cả những nhà văn thuộc phái tân học
xuất sắc nhất. Ngô Tất Tố là một nhà nho mà đã viết đƣợc những thiên phóng sự, những
thiên tiểu thuyết theo nghệ thuật Tây phƣơng và ông đã viết bằng một ngòi bút đanh thép,
làm cho ngƣời tân học phải khen ngợi"(1). Trong công trình của mình, Vũ Ngọc Phan chỉ
giới thiệu và phê bình các tác phẩm Việc làng, Lều chõng và một số công trình khảo cứu
khác của Ngô Tất Tố, không đề cập đến những bài văn ngắn của Ngô Tất Tố.
- Ở tập sách Việt Nam văn học sử yếu của Dƣơng Quảng Hàm (Bộ Giáo dục - Trung
tâm học liệu Sài Gòn tái bản, năm 1968), tác giả có dành một phần để nói về tình hình báo
chí Việt Nam nhƣng rất sơ lƣợc. Còn ở phần văn xuôi, tác giả có giới thiệu một số văn gia
hiện đại, có khuynh hƣớng tả thực nhƣ: Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Lan Khai, Vũ
Trọng Phụng, Trọng Lang, Nguyên Hồng, Nguyễn Lân... không thấy nhắc đến Ngô Tất Tố.
* Các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến Ngô Tất Tố, xuất bản từ
năm 1945 đến 1975:
Ở miền Nam trƣớc năm 1975, có các công trình đáng chú ý nhƣ sau:
Trong sách Việt Nam văn học tiền bán thế kỷ XX ban văn đệ nhị A.B.C.D và kỹ thuật
(Văn Hiệp xuất bản năm 1960) của nhóm tác giả Lê Kim Ngân, Võ Thu Tịnh, Nguyễn
Tƣờng Minh có dành một chƣơng viết về tình hình báo chí nƣớc ta từ đầu thế kỷ 20 đến
năm 1945, và ảnh hƣởng của báo chí đối với văn học. Những ngƣời biên soạn sách chỉ giới
thiệu hai tờ Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp chí, cùng một số cây bút tiêu biểu của
hai tờ báo này. Trong tập sách có nhắc đến Ngô Tất Tố, nhƣng với tƣ cách là tác giả của hai
công trình khảo cứu: Thơ văn bình chú I, II (1941, 1943) và Văn học đời Lý (1942).
Nhắc nhiều về Ngô Tất Tố phải kể đến tập hồi ký của Vũ Bằng. Vũ Bằng là một
trong những ngƣời hoạt động sôi nổi trên lĩnh vực báo chí và văn học ở miền Bắc từ năm
1930 đến 1945. Ông có quan hệ thân tình với nhiều nhà văn, nhà báo nổi tiếng của nƣớc
nhà nhƣ: Nam Cao,
(1) Sđd trang 561.
5
Luận án thạc sĩ
Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Ngỗ Tất Tố, Nguyễn Công Hoan... Sau Hiệp định Giơ-ne-
vơ, Vũ Bằng vào Sài Gòn tiếp tục làm báo và viết văn. Năm 1969, Vũ Bằng cho xuất bản
tập hồi ký "Bốn mươi năm nói láo", đây là lời tự bạch về cuộc đời viết văn và làm báo của
mình. Với tập sách dày trên ba trăm trang chữ in, ông kể lại nhiều kỷ niệm vui buồn lẫn lộn
với chua cay của nhiều bạn bè đồng nghiệp cùng thời với ông, trong đó ông nhắc nhiều đến
Ngô Tất Tố. Năm 1993, Nhà xuất bản Thông tin - Hà Nội tái bản tập sách này, với lời giới
thiệu của nhà văn Triệu Xuân.
Vũ Bằng kể lại: theo quan niệm chung của nhiều ngƣời thời đó, nhà báo phải khác
ngƣời, phải lập dị, phải là những tay ăn chơi chí tử. Ngƣời viết báo mà không biết hút thuốc
phiện, không uống rƣợu, không đi hát cô đầu thì bị chê là yếu. Càng nghiện hút nặng, uống
dữ, chơi bời phóng túng thì đƣợc xem là ngƣời thành công trong nghề báo. Còn chuyện đi
đứng, ăn mặc cũng phải khác ngƣời: "chải đầu bi đăng tin, mặc ba đờ suy đờ vin, đi ghệt,
cầm ba toong gỗ ép mua ở nhà Chabot, đánh phấn một tí, bôi môi một tí để lấy le"(1). Còn
viết báo thì tha hồ, muốn viết gì thì viết, cố làm ra vẻ mình "thông kim quán cổ", bàn đủ mọi
chuyện trên đời, cứ chửi loạn xà ngầu (miễn đừng chửi Tây là đƣợc), chửi chí chết, nếu chửi
tục, chửi dơ dáy, thỉnh thoảng xen vào vài câu dâm dục thì càng đƣợc hoan nghênh"(2).
Xung quanh mình, phần đông là các nhà báo nhƣ thế đấy, nhƣng suốt thời gian cùng sống và
viết với họ, Ngô Tất Tố vẫn sống đứng đắn, viết nghiêm túc, ông giữ đƣợc mình và ngòi bút
của mình trong sạch. Chính vì vậy, ông đƣợc bạn bè đồng nghiệp nể phục về đức độ cũng
nhƣ văn tài.
Vũ Bằng luôn dành cho Ngô Tất Tố một tình cảm hết sức kính trọng "Anh em tòa
soạn gồm 7, 8 ngƣời ai cũng hăng say đi tìm cái lạ... Nguyễn Triệu Luật, Ngô Tất Tố, Phùng
Bảo Thạch là những bạn phụ trách các bài đứng đắn , còn Vũ Liên, Nguyễn Nhƣ Hoàn, Vũ
Trọng Phụng và tôi có nhiệm vụ viết "Pô-tanh" tiểu thuyết, ký sự, phóng sự, chuyện vui tòa
án... Sau này, Ngô Tất Tố nổi tiếng về mục "phim hàng ngày" chính vì viết nhũng bài sâu
sắc, đau đớn, chua chát, ngộ nghĩnh trong mục "nói hay đừng" của tờ Công dân”(3). Sau khi
tờ Công dân bị đình bản các ông tiếp tục làm tờ Tương lai. Mãi những năm về sau này, tình
cờ lƣợm đƣợc một tờ báo Tương lai cũ đọc lại mà Vũ Bằng vẫn còn cảm giác "buồn se sắt
khi nhớ lại một quãng đời làm báo đã qua và nhiều lúc tôi ngạc nhiên: Sao lúc ấy, anh em lại
có thể viết đƣợc những bài hay nhƣ những bài "phim" của Ngu Công..."(4), (bút hiệu của
Ngô Tất Tố khi viết cho tờ Tương lai).
(1) Sđd trang 52.
(2) Sđd trang 48.
(3) Sđd trang 94.
(4) Sđd trang 109.
6
Luận án thạc sĩ
- Tình cờ chúng tôi đọc đƣợc tập san: Giai phẩm văn học, ấn hành tại Sài Gòn,
những năm trƣớc giải phóng, nhƣng không còn bìa, nên chúng tôi không xác định đƣợc thời
gian và đơn vị xuất bản. Toàn bộ nội dung của tập san dành riêng để giới thiệu về Ngô Tất
Tố, trong đó có các bài viết của Vũ Bằng (về một truyện dài nổi tiếng nhất của Ngô Tất Tố:
truyện Tắt đèn), Vũ Ngọc Phan (Phê bình văn nghiệp Ngô Tất Tố, trích Nhà văn hiện đại),
Kiều Thanh Quế (Phê bình Lều chõng, tiểu thuyết của Ngô Tất Tố - trích Tri Tân, số 33
ngày 23.1.1942), Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (Phê bình Thi văn bình chú của Ngô Tất Tố) và
đăng lại các bài viết của Ngô Tất Tố: Phê bình nho giáo Trần Trọng Kim, Đôi giầy mất dạy
(trích trong Việc làng), Buổi chợ trung du (1948). Điều này chứng tỏ, bạn đọc ở miền Nam
trƣớc đây cũng yêu thích văn của Ngô Tất Tố.
Tiếp theo là công trình Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1865 -
1932), của tác giả Bùi Đức Tịnh. Ông viết xong năm 1974, đã đƣợc xuất bản tại Sài Gòn
vào tháng 2.1975, nhƣng do điều kiện phát hành lúc đó gặp khó khăn, nên tập sách không
đƣợc mấy ngƣời biết đến. Năm 1992, để phục vụ cho công tác nghiên cứu, tham khảo của
nhiều độc giả, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đã cho in lại tập sách này. Riêng trên
lĩnh vực báo chí, tác giả Bùi Đức Tịnh, cũng chỉ làm công việc khái quát lại quá trình hình
thành và phát triển của báo chí nƣớc ta giai đoạn 1865 - 1932, và giới thiệu một vài cây bút
tiêu biểu, trong đó không có nhà báo Ngô Tất Tố.
* Các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến Ngô Tất Tố, xuất bản từ
sau năm 1975 đến nay.
Năm 1977, Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội, in Ngô Tất Tố - tác phẩm của Giáo sƣ
Phan Cự Đệ. Đây là công trình đầu tiên giới thiệu một cách tƣơng đối toàn diện về Ngô Tất
Tố và những thành công của ông trên các lĩnh vực: báo chí, nghiên cứu dịch thuật, sáng tác
văn học... Riêng trên lĩnh vực báo chí, tác giả đã có công sƣu tầm và giới thiệu 112 bài báo
của Ngô Tất Tố đƣợc viết trong khoảng thời gian 1929 - 1943. Trong phần nhận định đánh
giá chung về Ngô Tất Tố, tác giả xác định: Ngô Tất Tố là một nhà nho nghèo yêu nƣớc tiến
bộ, phấn đấu trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. "Không thấy rõ điểm xuất phát
đó của Ngô Tất Tố, chúng ta không đánh giá đúng mức đƣợc những cố gắng và sự tiến bộ
vƣợt bậc của ông".
Quá trình phát triển tƣ tƣởng theo hƣớng đi lên đó của Ngô Tất Tố,
7
Luận án thạc sĩ
theo Giáo sƣ Phan Cự Đệ là do những nguyên nhân sau: Trƣớc hết là mối quan hệ chặt chẽ
của nhà nho với quần chúng nông dân lao động. Từ chỗ đứng của lớp ngƣời nghèo khổ bị
bóc lột, Ngô Tất Tố thấy rõ bộ mặt tàn bạo, nham hiểm của giai cấp thống trị đƣơng thời.
Thứ hai là trong cuộc đời mình, Ngô Tất Tố đƣợc nghe kể hoặc chứng kiến những sự thối
nát của giai cấp phong kiến đầu hàng Pháp: Hoàng Cao Khải bán nƣớc, Nguyễn Thân đàn
áp phong trào Phan Đình Phùng, Lê Hoan tàn sát phong trào Bãi Sậy... Thứ ba là những
phong trào Đề Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học ảnh hƣởng khá
sâu sắc đến lòng yêu nƣớc của nhà nho Ngô Tất Tố. Đáng kể nhất và có ý nghĩa quyết định
nhất đối với tƣ tƣởng Ngô Tất Tố là những ảnh hƣởng của phong trào cách mạng trong
nƣớc, của sách báo mác-xít ở nƣớc ngoài và báo chí cộng sản công khai thời kỳ Mặt trận
Dân chủ. Tất nhiên thấm thía nhất vẫn là kinh nghiệm bản thân của Ngô Tất Tố: cuộc đời
của một thanh niên đã từng mấy lần khoa cử lận đận, cuộc đời của "một bọn anh em nhà văn
nghèo, dúm rau dúm bếp làm với nhau, ít khi trả tiền in rồi trong két có đƣợc tiền thừa mà
trả cho ngƣời cầm bút" (Ngô Tất Tố - Gia thế ông Vũ Trọng Phụng, Tao Đàn 1939), cuộc
đời cay đắng tủi nhục đầy những chuyện căm uất của một ngƣời trí thức mất nƣớc, luôn
luôn phải lo lắng đối phó với những thủ đoạn mua chuộc dụ dỗ, hoặc trục xuất ra khỏi thành
phố, khám nhà bắt giam của sở Mật thám Hà Nội...
Tất cả những yếu tố trên đã giúp cho Ngô Tất Tố vƣợt lên phía trƣớc, đuổi kịp thế hệ
trẻ và trở thành một trong những ngƣời tiến bộ nhất của lớp nhà nho cuối mùa.
Phan Cự Đệ đã gọi Ngô Tất Tố là "một nhà nho" bất kính "đối với Khổng Tử" vì
"Trƣớc Cách mạng tháng Tám, trong loại văn tiểu phẩm, trong các công trình nghiên cứu
cũng nhƣ tiểu thuyết Lều chõng, truyện Trong rừng nho (hiện nay chƣa sƣu tầm đƣợc tác
phẩm này), Ngô Tất Tố đã nhiều lần soát lại một cách không tự giác những giáo lý Khổng
Mạnh. Ông không thể không suy nghĩ khi viết Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim
(1938), Mặc tử (1942), Lão Tử (1942) và Kinh dịch (1944). Tuy chƣa có một quan điểm
khoa học, mác-xít để tiến hành nghiên cứu và phê phán Nho giáo một cách triệt để, nhƣng
rõ ràng Ngô Tất Tố không phải là ngƣời nhắm mắt phục cổ, suy tôn Nho giáo một chiều...
Tuy là môn đệ của Khổng Mạnh, nhƣng nhiều lúc Ngô Tất Tố đã thẳng thắn phê phán giáo
lý của các nho gia, đặc biệt tỏ thái độ "bất kính" đối với cụ Khổng".
8
Luận án thạc sĩ
Ngô Tất Tố tích cực nghiên cứu, đánh giá lại các học thuyết cổ của Trung Quốc vốn có ảnh
hƣởng sâu sắc đến đời sống tƣ tƣởng của các thế hệ nhà nho Việt Nam trong các thế kỷ
trƣớc. Với bản lĩnh của một cây bút có tƣ tƣởng độc lập và luôn luôn muốn vƣơn lên cho kịp
thời đại, với tinh thần tiếp thu có phê phán những giá trị tinh thần cũ của các thế hệ nhà nho,
những tác phẩm của Ngô Tất Tố ít nhiều có ý nghĩa chống lại phong trào phục cổ, phong
trào suy tôn Khổng giáo và bảo tổn quốc tuy... mà Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và một
số ngƣời khác đang ra sức hô hào cổ vũ.
Nội dung tƣ tƣởng này xuyên suốt quá trình sáng tác của ông. Ngòi bút của Ngô Tất
Tố theo sát từng diễn biến của phong trào cách mạng nƣớc ta, có các sự kiện nào nổi bật ông
đều xoáy vào đó để bộc lộ tƣ tƣởng và quan điểm chính kiến của mình. "Lập trƣờng chiến
đấu của Ngô Tất Tố là lập trƣờng của một nhà nho nghèo, yêu nƣớc, thƣơng dân. Ngô Tất
Tố cũng là một ngƣời có cảm tình với cách mạng, trƣớc sau thủy chung với cách mạng. Tuy
nhiên cho đến những năm trƣớc 1945, Ngô Tất Tố vẫn chƣa đứng hẳn vào hàng ngũ cách
mạng. Ông chƣa thấy đƣợc lực lƣợng hùng hậu của phong trào quần chúng cũng nhƣ chƣa
tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cách mạng... Những hạn chế trong thế giới quan của một
nhà nho trí thức cũng phần nào ảnh hƣởng đến thái độ đối với cách mạng... Ngô Tất Tố chƣa
hề đặt vấn đề phải làm cách mạng để lật đổ chế độ thực dân Pháp. Cho nên chúng ta không
lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy ông đƣa ra những biện pháp của chủ nghĩa cải lƣơng tƣ sản
(đề nghị cải cách chế độ quan lại, dùng trí thức cải tạo đời sống cho nông dân). Mặc dù còn
có những hạn chế trong thế giới quan, trong lập trƣờng chiến đấu nhƣng nói chung không
khi nào Ngô Tất Tố chĩa mũi dùi đả kích vào hàng ngũ cách mạng và quần chúng lao khổ,
không khi nào ông tô son vẽ phấn cho bọn quan lại, dù chúng là Nho học hay Tây học. Đó
là vì ông luôn luôn đứng trên quyền lợi của dân tộc, của quần chúng bị áp bức, luôn luôn
xuất phát từ một tấm lòng yêu nƣớc thƣơng dân mà sáng tác. Có thể nói trong thời kỳ Mặt
trận Dân chủ, Ngô Tất Tố là ngƣời bạn đƣờng đáng tin cậy của giai cấp công nhân. Những
ngƣời yêu nƣớc thƣơng dân nhƣ Ngô Tất Tố trƣớc sau rồi cũng đi đến với cách mạng..."(1).
Không dừng lại ở chỗ phân tích những giá trị về nội dung tƣ tƣởng, Phan Cự Đệ còn
đi vào phân tích những thành công về mặt nghệ thuật biểu hiện trong văn tiểu phẩm của Ngô
Tất Tố. Nhiệt tình chiến đấu
(1) Sđd, trang 55-56.
9
Luận án thạc sĩ
cộng với nghệ thuật già dặn đã làm cho loại văn tiểu phẩm có một giá trị đặc biệt và chiếm
một địa vị quan trọng trong sự nghiệp văn học của Ngô Tất Tố. Tác giả cho biết: "Theo
chúng tôi nghĩ ngày nay chúng ta vẫn còn có thể học tập đƣợc nhiều ở tính chiến đấu của
ngòi bút Ngô Tất Tố, ở nghệ thuật châm biếm sắc sảo của ông"(1). Khi phân tích giá trị nghệ
thuật trong văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, Phan Cự Đệ đã nêu lên một số vấn đề cần chú ý:
"bất cứ lúc nào có điều kiện, Ngô Tất Tố sẵn sàng sử dụng những đòn đánh thẳng vào mặt
đối phƣơng, không kiêng nể và ông phân biệt rất rõ lối đả kích hoặc trào lộng đả kích để
đánh địch, lối hài hƣớc và trào lộng hài hƣớc là để giải quyết những vấn đề mâu thuẫn trong
nội bộ nhân dân. Nụ cƣời châm biếm của Ngô Tất Tố không phải là sự chế giễu lạnh lẽo vô
tình, không phải là thái độ bông phèng "lùng tùng xòe" nhƣ nhóm Tự lực văn đoàn, cũng
không phải là sự đả kích vô chính phủ theo quan điểm hƣ vô chủ nghĩa của Vũ Trọng
Phụng, mà đây là một sự phê phán xã hội đứng trên lập trƣờng của một ngƣời trí thức yêu
nƣớc. Chính lập trƣờng đó đã làm cho tiếng cƣời của Ngô Tất Tố có nội dung xã hội sâu
sắc, lành mạnh, lạc quan và nói chung lúc nào cũng nhằm trúng đích, bắn chính xác vào kẻ
thù của dân tộc và của quần chúng bị áp bức bóc lột"(2).
Nghiên cứu về nhà báo Ngô Tất Tố và những thành tựu của ông qua mảng tạp văn
tiểu phẩm, Phan Cự Đệ bắt đầu từ điểm xuất phát của Ngô Tất Tố là một nhà nho nghèo
yêu nƣớc tiến bộ, phấn đấu trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Và triển khai
phân tích chứng minh, đánh giá những thành tựu của Ngỗ Tất Tố theo sự tiến bộ về tƣ
tƣởng của ông trong từng thời kỳ phát triển của cách mạng Việt Nam, đồng thời phê phán
những mặt hạn chế về tƣ tƣởng của Ngô Tất Tố.
- Công trình tiếp theo là Lịch sử văn học Việt Nam (tập V, 1930 -1945, Nhà xuất bản
Giáo dục, năm 1978) của nhóm tác giả: Huỳnh Lý, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung,
Nguyễn ĐăngMạnh, Nguyễn Trác trong đó có một chƣơng viết về "Ngô Tất Tố- nhà báo"
do giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh biên soạn. Tác giả đã nêu khái quái về cuộc đời làm báo
của Ngô Tất Tố, và chỉ quan tâm đến những bài báo đƣợc Ngô Tất Tố viết trong thời kỳ
Mặt trận Dân chủ. "Báo chí phát triển rất mạnh, ngƣời ta phát biểu sôi nổi xung quanh việc
dự thảo tập dân nguyện, ngƣời ta hăng hái tranh luận về các vấn đề thời sự, chính trị, xã
hội, nghệ thuật, triết lý... Là con ngƣời luôn luôn băn khoăn đến thời thế, đến vận mệnh của
dân tộc, Ngô Tất Tố lúc này càng hết sức tung hoành trong trƣờng ngôn luận. Ông đã đứng
vững trên lập trƣờng dân chủ, chiến đấu kịch
(1) Sđd trang 57.
(2) Sđd trang 61-62.
10
Luận án thạc sĩ
liệt với những lực lƣợng áp bức bóc lột nhân dân"(2). Qua phân tích tác giả đi đến kết luận:
"Nhìn chung qua những bài bình luận, bút chiến, phóng sự, ta thấy Ngô Tất Tố thật sự là
một nhà báo hăng hái và chân thành chiến đấu cho những yêu cầu cải cách dân chủ thật sự
vì lợi ích của nhân dân lao động. Những việc ông làm, những điều ông đấu tranh nhƣ thế đã
khiến ông gần với cách mạng"(1). Đồng thời nêu lên những mặt hạn chế trong tƣ tƣởng của
nhà báo Ngô Tất Tố: "Chƣa thể nói nhà báo Ngô Tất Tố lúc này đã có "phẩm chất cách
mạng". Thực ra, ông chƣa hiểu rõ về cách mạng, chƣa tin tƣởng vào cách mạng và chƣa bao
giờ đặt vấn đề cách mạng. Ông cho rằng nƣớc ta "không thể thoát ly nƣớc Pháp mà làm một
xứ độc lập". Quan điểm duy tâm lịch sử, tính chất khiếp nhƣợc tiểu tƣ sản không cho phép
ông vƣợt quá giới hạn của tƣ tƣởng chính trị cải lƣơng chủ nghĩa. Dĩ nhiên cần phân biệt
chủ trƣơng cải lƣơng của Ngô Tất Tố, xuất phát từ lợi ích nhân dân với chủ trƣơng cải lƣơng
của giai cấp tƣ sản đƣơng thời"(2). Tác giả chỉ nêu nhận xét về những giá trị đƣợc thể hiện
qua nội dung tƣ tƣởng, và phê phán những hạn chế về tƣ tƣởng của nhà báo, không đi vào
phân tích giá trị nahệ thuật trong các tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố.
Còn nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh, khi đọc tiểu phẩm của Ngô Tất Tố thì quan
tâm nhiều đến nghệ thuật viết báo điêu luyện, nhất là nghệ thuật trào phúng đặc sắc. Sau khi
phân tích các thủ pháp nghệ thuật đƣợc biểu hiện trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, tác giả
Lê Thị Đức Hạnh đi đến kết luận: "Rõ ràng Ngõ Tất Tố rất già dặn trong việc vận dụng linh
hoạt, sáng tạo-nhiều thủ pháp nghệ thuật khi đề cập đến các vần đề của xã hội đƣơng thời.
ông biết khai thác đề tài bằng cách đối lập một hiện tƣợng nào đó với khát vọng mong muốn
của nhân dân. ông biết tô đậm những mâu thuẫn của hiện thực và khi thể hiện chúng thông
qua một ngôn ngữ giàu hình ảnh, đậm đà chất trữ tình nên ồng đã tạo đƣợc một hiệu quả phê
phán lớn. Sự thông minh hóm hỉnh là một đặc trƣng quan trọng của nghệ thuật trào phúng,
cũng thấy bộc lộ quá từng câu, từng chữ, có khi trong toàn bài, đã làm cho văn tiểu phẩm
của Ngô Tất Tố để lại những ấn tƣợng khó quên trong lòng ngƣời đọc... Quả thực chƣa nói
tới các lĩnh vực khác, chỉ riêng ở văn tiểu phẩm cũng đã thấy rõ đƣợc tính chất phong phú đa
dạng trong ngòi bút Ngô Tất Tố"(3).
Trong bài giới thiệu về tác giả Ngô Tất Tố, in trong Từ điển Văn học - tập II (Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1984), giáo sƣ Nguyễn Hoành Khung đã viết: "Trên lĩnh
vực báo chí, Ngô Tất Tố là "một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho". Từ những năm
20, ông thƣờng
(1) Sđd, trang 201.
(2) Sđd trang 204.
(3) Đặc sắc trong tiểu phẩm của NTT, tạp chí Văn học 6. 1983.
11
Luận án thạc sĩ
xuyên có mặt trên nhiều tờ báo ở Trung, Nam, Bắc. Đặc biệt trong thời kỳ Mặt trận Dân
chủ, do ảnh hƣởng của phong trào đang dâng lên sôi sục, ngòi bút sắc bén của ông tỏ ra
xông xáo, tung hoành. Với tấm lòng ƣu ái trƣớc thời thế, luôn luôn băn khoăn về số mệnh
đất nƣớc, nhân dân, ông đã đứng khá vững trên lập trƣờng dân chủ, dõng dạc kết án tội ác
của bọn thống trị và lên tiếng tố khổ cho nhân dân đang chịu áp bức bóc lột... Tuy chƣa có
đƣợc nhận thức cách mạng và chƣa vƣợt khỏi tƣ tƣởng chính trị cải lƣơng, nên có những
lệch lạc không tránh khỏi, nhƣng ngòi bút Ngô Tất Tố vẫn đầy tính chiến đấu và nói chung
rất gần với cách mạng. Những bài tiểu phẩm của ông thƣờng ngắn gọn và có một nghệ thuật
châm biếm sắc bén, thâm thuý"(1).
Nhận định về nhà báo Ngô Tất Tố của giáo sƣ Nguyễn Hoành Khung, về cơ bản
thống nhất với đánh giá của giáo sƣ Phan Cự Đệ và giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh.
Trong bài: Nhớ mãi bác Ngô Tất Tố đăng trong tạp chí Văn học số 1.1985, nhà thơ
Hoàng Trung Thông có viết: "Đọc những tiểu phẩm của Ngô Tất Tố mới thấy rằng không
thua gì tạp văn của Lỗ Tấn, mà có những tác phẩm còn trội hơn của Lỗ Tấn nữa, là vì Lỗ
Tấn ngƣời đƣợc học trƣờng đại học, ngƣời đƣợc biết bốn thứ tiếng, còn bác Ngô của tôi, hỡi
ơi chỉ biết có chữ Hán, thế mà sao những tiểu phẩm của bác lại uyên bác đến nhƣ thế, thâm
thúy đến nhƣ thế, thông minh đến nhƣ thế"(3).
Tham khảo giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn 1930 -1945 (trƣờng Đại
học sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh ấn hành 1985, lƣu hành nội bộ) do thầy Bạch Văn Hợp
(giảng viên chính) biên soạn, chúng tôi ghi nhận đƣợc ở chƣơng V (trang 49) có đoạn nói về
Văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố. Thầy Bạch Văn Hợp, viết: "Trƣớc khi bƣớc vào làng văn,
Ngô Tất Tố đã là nhà báo cự phách. Vũ Trọng Phụng, ngƣời cùng thời đã đánh giá Ngô Tất
Tố là "một tay ngôn luận xuất sắc trong đám làng nho. Bằng một sự thống kê chƣa đầy đủ,
ta thấy Ngô Tất Tố đã từng cộng tác với 13 tờ báo khắp trong Nam ngoài Bắc và có tới 10
bút danh khác nhau. Trong vòng 10 năm từ 1930 đến 1940, Ngô Tất Tố đã viết tới 120 bài
báo (tức văn tiểu phẩm) có giá trị. Ngay từ khi làm báo, Ngô Tất Tố đã đứng vững trên lập
trƣờng của chủ nghĩa hiện thực phê phán để vạch ra những điều chƣớng tai, gai mắt, những
chuyện bất công ngang trái trong xã hội. Bằng nghệ thuật trào phúng sắc sảo, thâm thúy,
Ngô Tất Tố đã đả kích châm biếm sâu cay những kẻ đại diện cho giai cấp thống trị, đồng
thời tố cáo vạch trần chính sách phản động, mị dân
(1) Sđd, trang 30.
12
Luận án thạc sĩ
cùng những thủ đoạn áp bức bóc lột tàn nhẫn vô nhân đạo của bọn chúng", thầy Bạch Văn
Hợp đã nhận định một cách khái quát về văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, chƣa đi sâu vào
phân tích chứng minh những thành tựu của Ngô Tất Tố qua thể loại này, nhất là những giá
trị nghệ thuật của văn tiểu phẩm.
Ở giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (tập 2) do thầy Trần Ngọc
Hồng biên soạn (khoa ngữ văn - báo chí - Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, ấn
hành 1987 - 1988, lƣu hành nội bộ). Phần viết về Ngô Tất Tố, thầy Trần Ngọc Hồng chỉ
dừng lại ở việc nêu những thành tựu của Ngô Tất Tố, qua hai tác phẩm Việc làng, và Tắt
đèn không thấy đề cập đến các tác phẩm báo chí. Tuy nhiên ở phần kết luận, thầy có nhắc:
"Ngô Tất Tố là một nhà văn tiêu biểu của trào lƣu hiện thực 1930 - 1945. Ông không chỉ là
nhà văn, nhà báo mà còn là nhà khảo cứu dịch thuật có tên tuổi...". Tóm lại trong giáo trình
này, thầy chỉ nhắc đến chức năng nhà báo của Ngô Tất Tố, không phân tích tác phẩm báo
chí nào của ông.
Năm 1993, Nhà xuất bản Văn học cho in Tuyển tập Ngô Tất Tố (2 tập) do Phan Cự
Đệ sƣu tầm tuyển chọn, Trƣơng Chính sắp xếp giới thiệu. Trong lời giới thiệu về Ngô Tất
Tố in ở tập 1, Trƣơng Chính đã nêu. Do điều kiện khách quan của xã hội lúc đó là báo chí
sách vở chịu sự kiểm duyệt gắt gao của chế độ thực dân Pháp, ngƣời viết báo hầu hết là trẻ
và Tây học, nhu cầu của chúng độc giả là thích đọc những bài báo ngắn có mang chút ít tính
chất hiện thực. Vì vậy, một nhà nho nhƣ Ngô Tất Tố, khi đã quyết định sống bằng ngòi bút
thì phải phấn đấu vƣơn lên thay đổi về tƣ tƣởng và văn phong cho ngang tầm thời đại. Xuất
phát từ yêu cầu của thực tế khách quan đó, Ngô Tất Tố đã vƣợt qua mọi sự ràng buộc của tƣ
tƣởng nho giáo, ông phê phán những quan niệm lạc hậu của nó, điều đó chứng tỏ ông "là
một ngƣời tƣ tƣởng độc lập, không chịu nhắm mắt theo những thành kiến của cổ nhân". Nổi
bật nhất ở Ngô Tất Tố cũng là lòng yêu nƣớc, thƣơng dân, tƣ tƣởng này nhất quán từ đầu
đến cuối, chẳng những đƣợc thể hiện một lần mà nhiều lần trong tạp văn cũng nhƣ trong các
sáng tác văn học, các công trình khảo cứu, dịch thuật. Bất cứ trong hoàn cảnh nào, Ngô Tất
Tố cũng giữ vững khí tiết của một nhà nho yêu nƣớc, thƣơng dân "phú quí không ham,
nghèo hèn không đổi dạ, uy quyền không thể khuất phục". Giáo sƣ Trƣơng Chính đã đặt tạp
văn của Ngô Tất Tố cạnh tạp văn của những nhà văn khác để phân tích và làm rõ quan niệm
nghiêm túc của Ngô Tất Tố về làn báo và viết văn "báo chí, sách vở theo Ngô Tất Tố phải
thật sự là "cơ quan
13
Luận án thạc sĩ
ngôn luận", nói lên tiếng nói của dân, phải là vũ khí đấu tranh vì quyền lợi của dân tộc
không phải là phƣơng tiện giải trí, giết thì giờ hay phƣơng tiện kiếm ăn". Và Ngô Tất Tố đã
tự tách mình ra khỏi năm hạng ngƣời viết báo tiêu biểu cho giới báo chí Việt Nam thời đó.
"hạng lấy báo chí làm nơi giải trí, gọt đẽo câu văn cho kêu; hạng dùng văn chƣơng để trổ tài
thông minh vặt; hạng làm báo thì ít mà làm tiền thì nhiều; hạng cơ hội khi đứng bên này khi
nhảy sang bên kia và hạng bồi bút tay sai để làm giàu và làm quan"(1).
Theo giáo sƣ, sở dĩ tạp văn của Ngô Tất Tố có một giá trị lâu dài là nhờ mấy đặc
điểm sau đây:
" Một là, ông viết cho các mục: Nói chơi, Nói mà chơi, hoặc tƣơng tự, nhƣng bao giờ
cũng để cập đến những chuyện hết sức quan trọng trong đời sống dân tộc, đời sống xã hội,
chuyện chính quyền thực dân, áp bức, bóc lột, lừa dối, chuyện dân đói, dân khổ, dân căm
thù.
Hai là, ông đấu tranh, vạch mặt, buộc tội kẻ thù, vì công lý, vì nhân đạo, chứ không
phải kêu ca để gợi lòng thƣơng của những ngƣời có quyền có thế để xin chúng nhẹ tay.
Ba là, ông nói những điều chất chứa trong lòng, chứ không phải thấy ngƣời ta nói,
mình cũng nói, cho hợp thời nhƣ các nhà văn cơ hội. Họ cũng có viết những bài rất kịch liệt,
nhƣng hời hột, khi vui thì vỗ tay vào, khi khó khăn thì rút lui, chuyển sang hƣớng khác,
chạy theo những đề tài ăn khách.
Bốn là, ông không phải là ngƣời ngoài cuộc. Ông đại diên cho tầng lớp nghèo, bị bóc
lột, bị áp bức mà phát ngôn. Ông trân trọng ngòi bút của mình và thấy mình có trách nhiệm
nói lên sự thực.
Năm là, ông dùng lối văn châm biếm có ý nghĩa xã hội, tránh đƣợc hai khuynh
hƣớng của lối văn này, là cƣời đùa và cƣời nhạt. Ông làm đƣợc nhƣ Lỗ Tấn đề ra trong bài
Văn tiểu phẩm khủng hoảng (Tạp văn tuyển tập II, Văn học 1963): “Văn tiểu phẩm muốn
tồn tại thì phải là mũi dao nhọn, là khẩu súng, có thể cùng với ngƣời đọc mở một con đƣờng
sống bằng máu. Tất nhiên nó cũng làm cho ngƣời ta thích thú và nghỉ ngơi, nhƣng đó không
phải là tiểu bài thiết (là trò chơi của ngƣời nhàn rỗi bày đặt các đồ chơi trong thƣ phòng nhƣ
ta chơi non bộ - Lời chú thích của giáo sƣ Trƣơng Chính) và cũng không phải là lời vuốt ve
(1) Sđ d, trang 29
14
Luận án thạc sĩ
an ủi, không phải là sự tê liệt, nó làm cho ngƣời ta thích thú và nghỉ ngơi, nó bồi bổ, chuẩn
bị cho ngƣời ta làm việc và chiến đấu"(1).
Sau cùng, để đánh giá những thành công về mặt nghệ thuật viết tạp văn - tiểu phẩm
của Ngô Tất Tố, giáo sƣ Trƣơng Chính đã nhận định "Tạp văn của Ngô Tất Tố cũng nhƣ
của Lỗ Tấn có tính chất văn học rõ rệt, lập luận chặt chẽ, truyền cảm mạnh, đôi khi dùng
điển cố văn học, thƣờng thì nói cách nói có hình ảnh của dân gian. Bạn đọc có thể ngạc
nhiên thấy văn của Ngô Tất Tố rất hiện đại ngày nay đọc vẫn không thấy thừa chữ nào, kể
cả những bài viết từ năm 1930 là thời kỳ ngƣời ta còn chuộng văn chƣơng biền ngẫu. Ông là
một là nho, nhƣng ông không lạm dụng từ Hán Việt. Văn ông gọn, sắc nhƣng không cộc lốc,
lai căng, nhƣ các nhà văn Tây học, cũng không lằng nhằng dây muống nhƣ các nhà văn cựu
học. Ông viết nhƣ ông nói, không trau chuốt mà cũng không dễ dãi, nhiều chỗ thâm thuý
đáo để. Đối với kẻ thù, những miếng đòn của ông rất hiểm. Ông chửi thật sự và chửi một
cách văn chƣơng, chửi bằng điển cố. Ông nói mát thì nhức nhối tận xƣơng, ông đả kích
không phải cho sƣớng tay, chửi cho sƣớng miệng, mà là để tố cáo buộc tội một cách nghiêm
chỉnh"(2).
Giáo sƣ Trƣơng Chính không quan tâm nhiều đến những hạn chế trong tƣ tƣởng của
Ngô Tất Tố, mà chú ý tập trung làm nổi bật những quan điểm tiến bộ của nhà nho Ngô Tất
Tố. Chính quan điểm tiến bộ này, đã giúp Ngô Tất Tố vƣợt qua những đồng nghiệp cùng
thời (Nho học cũng nhƣ Tây học), để gặt hái đƣợc nhiều thành công trên lĩnh vực báo chí.
Khi đọc lại những bài báo của Ngô Tất Tố viết cách đây hơn nửa thế kỷ, nhà báo
Phan Quang (hiện nay là Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam) cảm nhận đƣợc cái tâm trong
sáng và ngọn lửa nhiệt tình chiến đấu của Ngô Tất Tố để chống áp bức bất công, bênh vực
quyền lợi của dân tộc và nhân dân. Nói theo ngôn ngữ bây giờ, Ngô Tất Tố đã thể hiện đƣợc
đạo đức của một ngƣời cầm bút chân chính. Nhà báo Phan Quang đã viết: "Trƣớc năm 1945,
Ngô Tất Tố làm báo khoảng 14 - 15 năm ấy, khoảng đời trôi dạt của một nàng Kiểu - Ngô
Tất Tố đã viết bao nhiêu tiểu phẩm, không tính những tác phẩm văn học, những công trình
khảo cứu và dịch thuật, những bài "đại luận" nhƣ chữ dùng của Vũ Trọng Phụng. Lớp hậu
sinh chúng tôi chỉ đƣợc đọc một phần những gì nhà báo Ngô Tất Tố đã cho in ra dƣới nhiều
tên ký khác nhau, có thể ngày xƣa rất quen thuộc với bạn đọc nhƣ tác giả Số Đỏ đã khẳng
định, mà ngày
(1) , (2) Sđ.d, trang 36-37-38.
15
Luận án thạc sĩ
nay dễ mấy ai còn biết. Tuy nhiên với một phần rất nhỏ ấy thôi cũng đủ cảm nhận đƣợc cái
tâm, hiểu rõ thái độ và đƣợc khích lệ bởi sức chiến đấu của ngƣời cầm bút... Phải chăng từ
cái tâm mà Ngô Tất Tố viết nên những tiểu phẩm sắc nhƣ dao; chính ngọn lửa bên trong đã
thôi thúc ông chiến đấu không mệt mỏi, đả kích không nƣơng tay quan Tây và quan ta,
cƣờng hào và hãnh tiến, bọn vô lại và tất cả những điều chƣớng tai gai mắt trong xã hội và
trên chính trƣờng. Trong lòng không có lửa, làm sao có thể viết lên những bài báo có sức
chiến đấu cao? Cái tâm không lành làm sao truyền cảm? Nếu tâm ta chƣa thật sáng, còn
chông chênh vì bị chi phối bởi những điều tầm thƣờng, làm sao mong mỏi những điều ta
viết ra sẽ khách quan, trung thực và thật sự hữu ích cho đời"(1).
Còn nhà báo Nguyễn Minh Đức thì học tập ở Ngô Tất Tố tính xông xáo dũng cảm
của ngƣời cầm bút và năng lực viết báo "Ngô Tất Tố xuất thân là một nhà nho, nhƣng rồi
ông nhanh chóng trở thành một nhà báo xông xáo dũng cảm. Ông thƣờng xuyên viết trên
nhiều tờ báo khắp Trung, Nam, Bắc nhƣ: An nam tạp chí, Thần Chung, Thực Nghiệp, Đông
Phƣơng, Công Dân, Tƣơng Lai, Việt Nữ, Thời Vụ, Đông Pháp, Con Ong, Hải Phòng tuần
báo... Nhiều tiểu phẩm của ông sắc sảo nhạy bén lạ thƣờng. Chẳng thế mà nhiều bút danh
viết báo của ông đƣợc nhiều ngƣời quen biết, kính trọng, yêu mến... Còn mãi những cái tên
Lộc Hà, Lộc Đình, Phó Chi, Thôn Dân, Hy Cừ, Tuệ Nhỡn... cùng với nhũng bài báo của
Ngô Tất Tố"(2).
Nhân dịp Ngô Tất Tố đƣợc trao giải thƣởng Hồ Chí Minh (đợt I), nhà báo Hoàng Dạ
Vũ có viết bài giới thiệu về ông, đăng trên tuần báo Văn nghệ số 43 ngày 26-10-1996.
Trong bài báo này, tác giả kể lại những kỷ niệm giữa Nguyễn Tuân và Ngô Tất Tố, thời kỳ
hai ngƣời mới bắt đầu làm báo cho đến toàn quốc kháng chiến. Ngô Tất Tố tham gia viết
báo ở Hà Nội, Sài Gòn nhiều khi ông sống và làm việc ngay tại tòa soạn. Nhà văn Nguyễn
Tuân cho biết nhiều đêm Ngô Tất Tố viết rất khuya và rồi ngủ luôn tại đó. Nguyễn Tuân hay
đi chơi buổi tối vế muộn "nhìn những trang viết dở của bác Tố trên bàn, tự nhiên trong
ngƣời thấy đứng đắn trở lại". Đức độ và tài năng của Ngô Tất Tố đã làm cho nhiều bạn bè
đồng nghiệp kính phục. Bởi vậy, sau này khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, sự kiện
Ngô Tất Tố lên chiến khu có tác động không nhỏ đến sự lựa chọn đi kháng chiến hay ở lại
thành của giới văn nghệ sĩ đƣơng thời, nhất là với những nhà văn lãng tử cỡ Nguyễn Tuân.
Nhƣ ông đã có lần nhắc lại: "Cho đến khi toàn quốc đánh Pháp, đƣợc tin Ngô Tất Tố đi
kháng chiến, tôi thấy vui và tin quá. Ở vùng căn cứ, mỗi lần có dịp
(1) Phan Quang: Ngô Tất Tố - Đôi điều cảm nhận, Bán nguyệt sang Kiến thức ngày nay, số 129 ngày 15-1-
1994.
(2) Nguyễn Minh Đức: Ngô Tất Tố - Người của nhiều tòa soạn, tập san Giáo dục và Thời đại số 25 ngày 18-
6-1995.
16
Luận án thạc sĩ
đi "hạ sơn" về Trung du và vùng Yên Thế để đón bác Tố lên họp lại càng thấy vui hơn. Nhìn
Ngô Tất Tố áo vải, vai đeo chéo cái khăn bông cũng nhuộm nâu chống gậy qua Đèo Khế, có
anh bạn đi sau đã bỏ nhỏ vào tai tôi, giọng anh nghịch: "Trông kém gì năm đói chạy đói
vùng xuôi để lên khất thực ở thƣợng du". Đó là hồi ức của Nguyễn Tuân về sự hiện diện của
Ngô Tất Tố giữa núi ngàn Việt Bắc kháng chiến.
Gần đây, trong một bài viết đăng trên báo Tuổi trẻ chủ nhật, Vƣơng Trí Nhàn có đề
cập đến những nhà văn tiền chiến và nghề báo: "Nhất Linh và Khái Hƣng, Nguyễn Công
Hoan và Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân và Thạch Lam, Thế Lữ và Xuân Diệu... Bấy nhiêu tên
tuổi, nếu nhƣ không nói là hầu nhƣ gần hết các nhà văn "có tên có tuổi" hồi tiền chiến, đều
từng là ngƣời viết báo, đóng góp của họ cho nền văn hóa đất nƣớc còn đó với kho tàng báo
chí sống động đƣơng thời, và đến nay vẫn chƣa đƣợc khai thác hết"(1). Riêng phần nói về
Ngô Tất Tố, có đoạn viết: "Một ngƣời nhƣ Ngố Tất Tố từ lúc bỏ quê lên Hà Nội sống hẳn
bằng nghề cầm bút, đã cộng tác với nhiều tờ báo hàng ngày bằng cách viết các loại tiểu
phẩm đó, và ký các bút danh khác nhau: Hy Cừ, Lộc Hà, Phó Chi, Xuân Trào, Thôn Dân...
May cho Ngô Tất Tố là ngay từ những năm 60, lúc các thƣ viện ở Hà Nội còn khá nền nếp,
tác phẩm của ông đƣợc Nhà nƣớc chú ý, nên gom về gần nhƣ không sót chút gì. Thử tính sơ
sơ thì thấy trong toàn bộ tác phẩm của Ngô Tất Tố đã sƣu tầm đến nay là 1200 trang (theo
Ngô Tất Tố - Tác phẩm, NXB Văn học, 1977): phần tiểu thuyết, bao gồm cả tiểu thuyết lịch
sử, chỉ chiếm già nửa (620 trang), còn lại phóng sự chiếm 160 trang và tiểu phẩm tới 420
trang..."(2).
Nhìn chung, những nhà văn nhà báo hiện nay, khi đọc lại tạp văn của Ngô Tất Tố,
tuy theo cách cảm thụ mà mỗi ngƣời có thể tự rút ra những bài học bổ ích cho bản thân
mình. Còn các nhà nghiên cứu, khi đọc tạp văn của Ngô Tất Tố thì quan tâm đến việc làm
nổi bật những tƣ tƣởng mới, những quan niệm tiến bộ của một nhà nho trong buổi giao thời,
từ đó làm phong phú thêm cho nền văn học nói chung và báo chí nƣớc nhà nói riêng.
Trong quá trình triển khai luận án này, chúng tôi tiếp thu nhiều ý kiến của hai tác giả
Phan Cự Đệ và Trƣơng Chính, đƣợc thể hiện trong hai bài giới thiệu về nhà báo Ngô Tất Tố.
Trên cơ sở đó, chúng tôi làm rõ thêm những nhận định của hai ông về Ngô Tất Tố.
Ngô Tất Tố là một nhà báo kỳ cựu trong làng báo Việt Nam, giai
(1), (2) Vƣơng Trí Nhàn: Các nhà văn tiền chiến và nghề báo, Tuổi trẻ chủ nhật số 97 ngày 28 -6-1997.
17
Luận án thạc sĩ
đoạn 1930 - 1945. Ông nổi tiếng với thể loại tạp văn - tiểu phẩm, có thể sánh với nhà văn Lỗ
Tấn của Trung Quốc, nhƣng trong các tài liệu nghiệp vụ báo chí hay các giáo trình đào tạo
cán bộ báo chí ở nƣớc ta hiện nay, chúng tôi không thấy nhắc đến tên ông, một cây bút già
dặn kinh nghiệm ở thể loại này. Chúng tôi xin điểm qua một số công trình tiêu biểu nhƣ sau:
Tập Giáo trình nghiệp vụ báo chí (Trƣờng Tuyên huấn Trung ƣơng - Khoa báo chí -
tài liệu lƣu hành nội bộ - ấn hành năm 1978). Nội dung chính của tập I, những ngƣời biên
soạn sách có nêu: một số vấn đề cơ bản về quan điểm báo chí cách mạng và mấy công tác
lớn của báo, có điểm qua một số thể loại báo chí, chủ yếu là trang bị kiến thức về lý luận,
không hƣớng dẫn kỹ thuật thực hành. Vì vậy, không nhắc đến những kinh nghiệm của
những ngƣời viết báo trƣớc đây.
Hai tập sách của nhà báo Hồng Chƣơng: 120 năm báo chí Việt Nam (Nhà xuất bản
thành phố Hồ Chí Minh, năm 1985) và Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam (Nhà xuất bản
sách giáo khoa Mác - Lênin, năm 1987) cũng vậy, tuy tác giả có phân tích kỹ hơn về quá
trình hình thành và phát triển của báo chí Việt Nam, có nêu đặc điểm và những khuynh
hƣớng tƣ tƣởng khác nhau của từng nhóm báo, nhƣng chủ yếu là tập trung làm nổi bật vai
trò và tác dụng của báo chí cách mạng từ khi ra đời năm 1925 nhằm phục vụ cho nhiệm vụ
chính trị của Đảng trong từng thời kỳ.
Ở tập tài liệu Nghề nghiệp và công việc của nhà báo (Hội Nhà báo Việt Nam ấn
hành, năm 1992), trong phần Các thể tài báo chí, các tác giả có đề cập đến thể tài bình luận,
bút chiến, tiểu phẩm và cách viết tiểu phẩm... Có liên hệ thực tế: Học tập phƣơng pháp biểu
hiện trong tạp văn của Lỗ Tấn, nhƣng không thấy nhắc đến tạp văn của Ngô Tất Tố. Đây là
một thiệt thòi lớn cho nền báo chí nƣớc nhà.
Mặc dù những công trình nêu trên không có liên quan đến nhà báo Ngô Tất Tố,
nhƣng chúng tôi vẫn đề cập đến, với mong muốn các nhà biên soạn giáo trình đào tạo cán bộ
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
báo chí lƣu ý đến một cây bút tài hoa của làng báo Việt Nam nhƣ nhà báo Ngô Tất Tố.
Đứng trên lập trƣờng quan điểm của chủ nghĩa duy vật chúng tôi,
18
Luận án thạc sĩ
nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khách quan, có căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
đặt nhà báo Ngô Tất Tố và các tác phẩm báo chí của ông trong hoàn cảnh kinh tế - chính trị
- xã hội và tình hình báo chí Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945 để xem xét. Trong quá trình
nghiên cứu, chúng tôi dùng phƣơng pháp so sánh, đặt Ngô Tất Tố cạnh các nhà văn - nhà
báo cùng thời, cùng viết về một loại đề tài và thể loại tạp văn tiểu phẩm, để đánh giá nhằm
làm nổi bật: Ngô Tất Tố là một nhà nho "có óc phê bình, có trí xét đoán, có tƣ tƣởng mới",
là ngƣời cầm bút có trách nhiệm làm báo hay viết văn là để nói lên tiếng nói của dân, để đấu
tranh vì quyền lợi của dân tộc, không phải là phƣơng tiện giải trí, giết thì giờ hay phƣơng
tiện kiếm ăn. Ngô Tất Tố là nhà báo giàu lòng yêu nƣớc, thƣơng dân. Khi nghiên cứu, chúng
tôi dùng phƣơng pháp đối chiếu, để khẳng định "cách nghĩ cách làm" của Ngô Tất Tố cách
nay hơn nửa thế kỷ vẫn rất gần gũi với quan niệm của chúng ta ngày nay về đạo đức của
4. GIỚI HẠN ĐẾ TÀI
ngƣời làm báo, năng lực và cách viết tạp văn - tiểu phẩm.
Ngô Tất Tố đã viết gần nhƣ đủ các loại văn, nào phóng sự, tiểu thuyết, rồi biên khảo,
dịch thuật, phê bình và rất nhiều bài văn ngắn. Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trong luận
án này chỉ giới hạn ở các bài văn ngắn của ông đƣợc đăng trên báo, khoảng thời gian từ năm
1929 đến 1943. Ngô Tất Tố đã viết bao nhiêu bài văn ngắn nhƣ thế, đến nay vẫn chƣa ai có
thể thống kê đƣợc một cách đầy đủ. Khi thực hiện luận án, chúng tôi dựa vào các bài báo
của Ngô Tất Tố, đã đƣợc giáo sƣ Phan Cự Đệ sƣu tầm và giới thiệu trong Ngô Tất Tố - Tác
phẩm, tập I, Nhà xuất bản văn học, năm 1977. Với số lƣợng 112 bài, chủ yếu đăng trên các
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
báo: Phổ thông, Đông phương, Tương lai, Thời vụ...
Từ trƣớc đến nay, nhiều ngƣời đã biết đến nhà văn Ngô Tất Tố, và đã khẳng định
đƣợc những đóng góp của ông về văn học nghệ thuật, nhà báo Ngô Tất Tố cũng đã có nhiều
ngƣời viết nhƣng chƣa đủ. Luận án này sẽ nghiên cứu về Ngô Tất Tố - nhà báo, một cách có
hệ thống và đầy đủ hơn, để đi đến khẳng định tài năng của ông trên lĩnh vực báo chí. Có thể
nói cho đến nay, chƣa ai vƣợt qua ông về cách viết thể loại tạp văn - tiểu phẩm báo chí. Đó
là những đóng góp mới của chúng tôi khi thực hiện luận án.
19
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án thạc sĩ
Phần mở đầu
1. Mục đích nghiên cứu
2. Lịch sử vấn đề
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
4. Giới hạn đề tài
5. Đóng góp của luận án.
6. Kết cấu của luận án.
Phần nội dung
Chương I: Tư tưởng và quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo, viết văn.
1. Tình hình báo chí nƣớc ta từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến Cách mạng
tháng Tám năm 1945.
2. Nhà báo Ngô Tất Tố - cuộc đời và sự nghiệp.
3. Quá trình chuyển biến tƣ tƣởng của Ngô Tất Tố từ một nhà nho yêu nƣớc trở
thành một nhà báo tiến bộ.
4. Quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo và viết văn.
5. Nhân cách của ngƣời viết tạp văn - tiểu phẩm.
Chương II: Nội dung tư tưởng của tạp văn - tiểu phẩm Ngô Tất Tố.
1. Tố cáo những thủ đoạn bóc lột của bọn tƣ sản, bọn làm giàu bất chính trên sự đau
khổ của nhân dân.
2. Lên án bọn quan lại phong kiến, bọn đầu cơ chính trị.
3. Đả kích thực dân Pháp cùng những chính sách cai trị tàn bạo của chúng.
Chương III: Nghệ thuật viết tiểu phẩm của Ngô Tất Tố.
1. Đặc điểm của thể loại văn tiểu phẩm
2. Kết cấu .
3. Ngôn ngữ nghệ thuật
4. Giọng điệu nghệ thuật.
Kết luận
- Thư mục tham khảo.
- Mục lục
20
Luận án thạc sĩ
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I: TƢ TƢỞNG VÀ QUAN NIỆM CỦA NGÔ TẤT
TỐ VỀ LÀM BÁO VIẾT VĂN
1. Tình hình báo chí nước ta từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến
Cách mạng tháng Tám năm 1945
Tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời, đánh dấu sự hình thành của nền báo chí Việt Nam
là tờ Gia Định báo, xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1865. Từ đó đến những năm đầu thế kỷ
20, cả nƣớc có khoảng 10 tờ báo tiếng Việt. Hầu hết các báo đều do thực dân Pháp lập ra.
Ngƣời viết báo có cả ngƣời Pháp lẫn ngƣời Việt. Những ngƣời Việt viết báo, phần đông là
công chức trong bộ máy nhà nƣớc thực dân.
Nội dung các báo đều tuyên truyền cho chính sách của thực dân Pháp. Về hình thức,
các báo trình bày thô sơ, đơn điệu, khô khan, phần lớn đều đƣợc xếp chữ theo kiểu hết bài
này rồi mới đến bài khác.
Trong thời kỳ này, báo chí tiếng Việt chỉ là một bộ phận phụ thuộc vào báo chí tiếng
Pháp. Việc xuất bản báo đã mang lại một số điểm lợi cho nhân dân ta, từ đây ngƣời Việt
Nam bắt đầu làm quen với một phƣơng tiện thông tin mới là báo chí rồi dần dần tiến lên sử
dụng báo chí nhƣ một công cụ đấu tranh. Thông qua báo chí, ngƣời Việt Nam tìm hiểu tình
tình trong nƣớc và thế giới, tìm hiểu âm mƣu và chính sách của thực dân Pháp và tay sai, để
có thể đấu tranh chống lại chúng một cách có hiệu quả hơn. Việc xuất bản và phát hành báo
chí tiếng Việt, khiến cho chữ quốc ngữ đƣợc truyền bá ngày càng rộng rãi hơn. Các nhà yêu
nƣớc Việt Nam thời đó, đã thấy chữ quốc ngữ là một công cụ tốt để tuyên truyền chủ nghĩa
yêu nƣớc và nâng cao trình độ về mọi mặt cho quần chúng nhân dân. Vì chỉ có viết bằng
tiếng mẹ đẻ mới có thể truyền bá tƣ tƣởng yêu nƣớc trong phạm vi rộng.
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến năm 1930, tình hình
21
Luận án thạc sĩ
kinh tế, chính trị, xã hội nƣớc ta có nhiều biến đổi lớn. Về kinh tế, thực dân Pháp tiếp tục
thi hành chính sách khai thác thuộc địa, nhằm cƣớp đoạt thật nhiều tài nguyên, để làm giàu
cho chính quốc. Về chính trị, chúng thực hiện chính sách cải lƣơng lừa bịp nhằm mua chuộc
tầng lớp trên trong xã hội để làm chỗ dựa. Ở nƣớc ta trong giai đoạn này xuất hiện thêm
những lực lƣợng xã hội mới, đó là giai cấp công nhân và giai cấp tƣ sản. Các cuộc đấu tranh
của giai cấp công nhân từ tự phát dần dần có tổ chức tự giác. Do tác động của Cách mạng
tháng Mƣời Nga, việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với phong trào công nhân
và phong trào yêu nƣớc đã hình thành nên các tổ chức cách mạng và tổ chức yêu nƣớc. Giai
cấp tƣ sản cũng phân hóa thành hai bộ phận: tƣ sản mại bản thì ôm chân đế quốc, chống lại
nhân dân, còn tƣ sản dân tộc do bị đế quốc chèn ép, nên trong một chừng mực nào đó họ
cũng có tƣ tƣởng chống đế quốc phong kiến.
Phong trào cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ do tầng lớp thanh niên tân tiến chịu ảnh
hƣởng của Cách mạng tháng Mƣời hoặc có quan hệ với giai cấp công nhân lãnh đạo, hoặc
do lớp trí thức xuất thân từ giai cấp tƣ sản dân tộc khởi xƣớng. Các tổ chức đảng phái cách
mạng có xu hƣớng công nhân hoặc xu hƣớng tƣ sản đã đề ra đƣợc những nét lớn về cƣơng
lĩnh chính trị của mình. Trong thời kỳ này, các đảng pha cách mạng cũng đã biết vận dụng
nhiều hình thức đấu tranh phong phú nhƣ: bãi khoa, đình công, biểu tình, kết hợp đấu tranh
bất hợp pháp là đấu tranh hợp pháp, xuất bản báo chí bí mật, lợi dụng báo chí hợp pháp.
Việc thông tin liên lạc giữa các miền trong nƣớc đƣợc thuận tiện hơn, tao điều kiện cho
phong trào lan nhanh và có qui mô toàn quốc.
Trên lĩnh vực giáo dục, thực dân Pháp bãi bỏ việc học và thi cử bằng chữ Hán, mở
các trƣờng dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Việc thay đổi nội dung giảng dạy trong các
trƣờng đã đem lại những thay đổi lớn trong đội ngũ trí thức nói chung và đội ngũ ngƣời viết
báo nói riêng. Tầng lớp trí thức mới do Pháp đào tạo ngày càng đông. Việc dạy chữ quốc
ngữ đã tạo ra lớp công chúng độc giả của báo chí tiếng Việt. Nhiều nhà tƣ sản bản xứ đã bỏ
vốn ra mở nhà in, đƣa công nghiệp in vào làm cho ngành in phát triển, giúp cho việc in báo
tiếng Việt đƣợc dễ dàng hơn trƣớc. Tình hình trên có ảnh hƣởng lớn đến hoạt động báo chí ở
nƣớc ta.
Thi hành chính sách cải lƣơng, thực dân Pháp không giữ độc quyền về báo chí nhƣ
trƣớc, chúng đã cho một số ngƣời thuộc tầng lớp trên trong xã hội đƣợc phép xuất bản báo
chí. Tất nhiên là phải tuân theo
22
Luận án thạc sĩ
pháp luật của chính quyền thực dân và phải chịu sự kiểm soát của chúng. Qua thống kê cho
thấy báo chí bằng chữ quốc ngữ phát triển nhanh về số lƣợng, vào năm 1922 cả nƣớc có 14
tờ báo tiếng Việt thì đến năm 1929 đã tăng lên 47 tờ. Tất cả báo chí công khai xuất bản
trong thời kỳ này đều tự nguyện hoặc bị bắt buộc phải phục vụ cho chính sách cai trị của
thực dân Pháp. Ngoài nét chung đó, mỗi tờ báo lại có nét riêng là phản ánh lợi ích của chủ
báo. Một số ngƣời có thế lực và có tiền đã xuất bản báo chí, dùng báo chí để mƣu cầu danh
lợi, còn việc viết báo thì thuê ngƣời khác làm. Trong nghề báo dần dần hình thành hai loại
ngƣời: ngƣời chủ báo và ngƣời viết báo, mà về quyền lợi không phải lúc nào cũng nhất trí
với nhau. Báo chí trong thời kỳ này đƣợc viết theo lối văn mới, và có nhiều khuynh hƣớng
tƣ tƣởng khác nhau khá phức tạp, phản ánh lợi ích của nhiều giai cấp khác nhau trong xã
hội.
Các loại báo do thực dân, phong kiến "đỡ đầu" tuy có thực lực hơn, nhƣng uy tín đối
với công chúng độc giả ngày càng giảm. Báo chí quốc ngữ ngày càng phát triển. Báo tƣ
nhân của ngƣời bản xứ xuất bản ngày càng nhiều, chính quyền thực dân khó mà kiểm soát
đƣợc chặt chẽ. Trình độ giác ngộ chính trị của quần chúng ngày càng cao, phong trào đấu
tranh ngày càng sôi nổi đã tác động đến báo chí. Để chống lại sự thức tỉnh về ý thức dân tộc,
về tinh thần yêu nƣớc của nhân dân Việt Nam, nhất là giới trẻ, thực dân đã cho xuất bản tờ
"Việt Nam thanh niên tạp chí”, rồi một nhóm quan lại của triều đình phong kiến cho ra mắt
công chúng tờ "Thần kinh tạp chí”. Một số tờ báo tuyên truyền về tôn giáo cũng đƣợc phép
xuất bản.
Trong giai đoạn này, thực dân Pháp buộc phải "nới lỏng" một phần sự kiểm soát quá
khắt khe đối với việc xuất bản và phát hành báo chí. Chính vì vậy, trong số các báo hợp
pháp, ngoài những tờ báo đƣợc gọi là "cái loa của chính quyền thực dân", bắt đầu xuất hiện
một số tờ báo "đối lập". Đối với loại báo này, thực dân Pháp ra sức hạn chế, gây khó khăn,
thậm chí ra lệnh đóng cửa. Còn những tờ báo tích cực tuyên truyền cho chính sách của
chúng, thì chúng ra sức nâng đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhƣ phụ cấp về tài chính, giúp đỡ
về phát hành (Thống đốc toàn quyền Va-ren đã dành ra số tiền 120.000 đồng Đông Dƣơng
để trợ cấp cho các tờ báo là công cụ của chúng. Chính quyền thực dẩn còn xuất công quỹ ra
mua một khối lƣợng lớn bản in và bắt các làng xã bỏ tiền công ra mua các tờ báo tay sai để
phát không cho ngƣời đọc...). Những tờ báo của thực dân là vậy Còn các tờ báo do những
nhà tƣ sản bản xứ chủ trƣơng thì một mặt tuyên truyền cho "chính sách khai hóa"
23
Luận án thạc sĩ
của thực dân Pháp, mặt khác yêu cầu Pháp ban hành một số điều cải cách, nhƣợng lại một
số quyền lợi cho giai cấp tƣ sản bản xứ.
Bên cạnh mảng báo chí hợp pháp nhƣ đã trình bày trên, nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển của phong trào yêu nƣớc chống Pháp của nhân dân ta trong thời kỳ mới, những ngƣời
yêu nƣớc chân chính đã xuất bản và phát hành các loại báo chí bí mật. Đáng chú ý nhất là tờ
Thanh niên, do Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đổng chí hội (một tổ chức cách
mạng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc thành lập, đây là tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản
Việt Nam sau này) xuất bản vào tháng 6-1925. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là ngƣời khởi
xƣớng đồng thời cũng là ngƣời phụ trách chủ chốt, viết nhiều bài cho tờ báo này. Báo đƣợc
in ở Quảng Châu (Trung Quốc ) và chuyển về Việt Nam theo con đƣờng bí mật, những
ngƣời cách mạng trong nƣớc chép lại thành nhiều bản, rồi phát hành rộng ra cả nƣớc. Cùng
với tờ Thanh niên, theo thống kê chƣa đầy đủ, từ tháng 6-1925 đến tháng 12-1929, cả nƣớc
có khoảng 50 tờ báo cách mạng đã đƣợc xuất bản và lƣu hành bí mật trong nhân dân. Mặc
dù đế quốc và tay sai phong kiến tìm đủ mọi cách để ngăn cản, đàn áp, bắt bớ, tù đày những
ngƣời viết báo, phá các cơ quan in báo, cắt đứt các đƣờng dây phát hành, nhƣng báo chí
cách mạng vẫn không ngừng phát triển.
Đảng cộng sản Việt Nam (ra đời ngày 3-2-1930) đã phất cao ngọn cờ giải phóng dân
tộc, đã đẩy các mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa dân tộc với
đế quốc, giữa nông dân với địa chủ lên thành cao trào quyết liệt, sâu sắc và toàn diện hơn,
đẩy lịch sử Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ hơn. Từ năm 1930 trở đi, các cuộc xung đột
giai cấp diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống. Các giai cấp đểu có ý thức sử dụng báo chí
để đấu tranh cho quyền lợi của mình.
Thực dân Pháp tiếp tục thi hành chính sách ngu dân. Trƣớc sự thức tỉnh của đông
đảo quần chúng nhân dân về ý thức dân tộc, chúng càng hạn chế giáo dục. Bởi vậy, số ngƣời
mù chữ ở nƣớc ta thời kỳ này đã lên đến trên 90% dân số. Trong nhà trƣờng chúng tìm mọi
cách xuyên tạc truyền thống văn hoa tốt đẹp của dân tộc ta, chúng gieo rắc ở thanh niên tƣ
tƣởng sùng bái tiếng Pháp và thái độ khinh miệt tiếng mẹ đẻ. Ngay ở bậc tiểu học, tiếng Việt
đã bị coi là "ngoại ngữ", học sinh chỉ đƣợc học mỗi tuần vài ba tiết.
Thực dân Pháp thi hành chế độ kiểm duyệt sách báo gắt gao
24
Luận án thạc sĩ
nhằm dựng lên một hàng rào kiên cố, để ngăn chặn ảnh hƣởng của báo chí cách mạng đến
với các tầng lớp nhân dân. Sách báo tiến bộ trong và ngoài nƣớc bị cấm lƣu hành. Trong
thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936 -1939), do sự đấu tranh của Đảng, buộc thực dân Pháp phải
nhƣợng bộ ít nhiều, phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt ở ba kỳ. Song chúng lại thi hành những
thủ đoạn xảo quyệt khác, nhằm hạn chế sự phát triển của báo chí cách mạng và báo chí tiến
bộ. Nhiều tờ báo tiến bộ bị đình bản, nhà báo tiến bộ bị mật thám theo dõi. Chúng dọa dẫm
nhà in, nhà xuất bản và cả những ngƣời đọc sách báo tiến bộ. Khi chiến tranh thế giới thứ
hai bùng nổ (năm 1939) chế độ kiểm duyệt đƣợc thực dân Pháp thi hành khắt khe hơn trƣớc,
hàng loạt tòa báo, nhà xuất bản bị đóng cửa, nhiều nhà văn nhà báo tiến bộ bị bắt bớ cầm tù.
Song song với những thủ đoạn bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do xuất bản báo chí,
thực dân Pháp đã tung ra nhiều loại văn hóa phẩm đồi truy phản động của tƣ sản phƣơng
Tây, những tàn dƣ văn hoa phong kiến, mà chúng gọi là sự kết hợp "Văn minh Âu Mỹ" với
"quốc hồn quốc túy An-nam". Chúng sử dụng báo chí phản động và số trí thức tay sai nhƣ
Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Tiến Lãng... để truyền bá các
sản phẩm văn hóa phản khoa học, phản dân tộc ấy, để gieo rắc vào đầu óc độc giả tƣ tƣởng
nô dịch. Thực dân Pháp rất có ý thức trong việc dựa vào các tôn giáo, các phong trào mê tín
dị đoan, để đầu độc ru ngủ nhân dân ta. Vì vậy, các báo tôn giáo, tƣớng số...đ ƣợc xuất bản
hàng loạt.
Âm mƣu truy lạc hóa thanh niên, cũng đƣợc thực dân Phap tiến hành triệt để. Sách
báo, phim ảnh khiêu dâm, âm nhạc, tiệm hút, nhà chứa đƣợc khuyến khích phát triển. Phong
trào "thể dục thể thao'' đƣợc cổ vũ rầm rộ, để hƣớng thanh niên vào con đƣờng ăn chơi sa
đọa mà lãng quên đi trách nhiệm cứu nƣớc. Thực dân Pháp còn trƣơng lên khẩu hiệu "văn
hóa phục hƣng", "Pháp - Việt đề huề".
Tất cả những vấn để nêu trên đƣợc báo chí phản động và các tay bồi bút tha hồ tán
dƣơng, trên các báo do thực dân bỏ tiền nuôi dƣỡng hoặc hà hơi tiếp sức, để phục vụ cho
mục đích thôn tính lâu dài đất nƣớc ta. Họ hết lời ca ngợi công "khai hóa" của nƣớc "Đại
Pháp" đối với dân tộc ta. Rõ ràng, họ xứng đáng là "cái loa tuyên truyền của thực dân
Pháp".
Trong giai đoạn 1930 - 1945, báo chí hợp pháp phát triển rầm rộ,
25
Luận án thạc sĩ
vào năm 1932 cả nƣớc có khoảng 300 tờ báo bằng chữ quốc ngữ. Đội ngũ những ngƣời viết
báo đông hơn; nổi lên một so cây bút có thực tài (do tiếp thu kinh nghiệm làm báo của
phƣơng Tây, cả về cách viết và kỹ nghệ in ấn). Nhà báo có nhuận bút, nên họ có thể sống
đƣợc với nghề. Đây là điểu kiện tốt để họ nâng cao tay nghề. Bên cạnh đó, có một số nhà
văn, nhà báo đứng ra xuất bản báo và bắt đầu chú ý đến tính thƣơng mại của báo chí là làm
sao để báo bán chạy?... Vì vậy, cách viết cũng phải thay đổi cho phù hợp với tâm lý độc giả.
Do yêu cầu của lịch sử và hoan cảnh xã hội nƣớc ta giai đoạn 1930 -1945, giai cấp
vô sản dồn sức vào hoạt động chính trị, tƣ tƣởng và tổ chức, trong đó đặc biệt quan tâm đến
việc sử dụng báo chí để phục vụ cho những nhiệm vụ đó. Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ,
triệt để lợi dụng những điểu kiện thuận lợi, Đảng đã tung ra cả một rừng sách báo cách
mạng từ Bắc chí Nam, nhằm tấn cõng một cách mạnh mẽ và tƣơng đối toàn diện vào tƣ
tƣởng văn hoa nô dịch phản động, văn hoa tƣ sản tiêu cực, khuyến khích các xu hƣớng tiến
bộ, đồng thời giới thiệu một cách có hệ thống, có lý luận về chủ nghĩa cộng sản và văn hóa
vô sản. Thời kỳ 1939 - 1945, Đảng rút vào hoạt động bí mật, nhƣng báo chí của Đảng vẫn
phát triển nhanh, đánh mạnh vào âm mƣu văn hóa lừa bịp của Pháp, Nhật và bọn Trốt-kít...
Nhận định về tình hình báo chí Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, trong một công
trình nghiên cứu của ông Huỳnh Văn Tòng đƣợc ấn hành ở miền Nam trƣớc giải phóng, tác
giả có viết: "Báo chí Việt Nam bƣớc sang một bƣớc ngoặt quan trọng. Trƣởng thành về mặt
ý thức chính trị, văn học đang phát triển mạnh, kỹ thuật làm báo đã đạt đƣợc một bƣớc tiến
quan trọng. Báo chí Việt Nam trong giai đoạn này có thể tự hào về sứ mạng của mình trƣớc
lịch sử, nhất là báo chí cách mạng"(1). Lời nhận định của ông tuy chƣa sâu sắc, chƣa toàn
diện, không thể hiện rõ quan điểm tƣ tƣởng của ngƣời viết, nhƣng dù sao ông cũng đã nhấn
mạnh đến vai trò của báo chí cách mạng đối với sự phát triển của lịch sử nƣớc nhà.
Trong điều kiện báo chí chịu sự kiểm soát gắt gao của chính quyền thực dân, những
ngƣời cầm bút chân chính, muốn nói lên tiếng nói của quần chúng nhân dân, muốn "vạch
mặt chỉ trán" bọn thống trị cùng với những bất công ngang trái trong xã hội do chúng tạo
nên, cần phải có dũng khí và tài năng để vƣợt qua rào cản của sự kiểm duyệt, của sự hăm
dọa, bắt bớ tù đày. Ngô Tất Tố là một trong những nhà báo Việt Nam thời đó đã thể hiện
đƣợc đầy đủ bản lĩnh của ngƣời cầm bút chân chính.
(1) Huỳnh Văn Tòng: Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến đến năm 1945 (Giáo trình) ngành Báo chí –
Khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 1992.
26
Luận án thạc sĩ
ông đã sử dụng ngòi bút của mình nhƣ một thứ vũ khí sắc bén, liên tục tấn công vào kẻ thù
là bọn thực dân phong kiến, bọn quan lại tƣ sản giàu lên nhờ bóc lột nhân dân.
2. Nhà báo Ngô Tất Tố - Cuộc đời và sự nghiệp
Ngô Tất Tố, ngƣời quê ở làng Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Mai
Lâm, huyện Đông Anh, thuộc ngoại thành Hà Nội). Ông sinh năm 1894, trong một gia đình
nhà nho nghèo, luôn gặp cảnh lận đận về đƣờng công danh khoa cử. Ông nội của Ngô Tất
Tố đã bảy lần dự kỳ thi hƣơng cũng chỉ đậu đến tú tài. Còn ông thân sinh đành chịu phận "
ông giáo trƣờng tổng", sau sáu lần lều chõng lên đƣờng rồi lại về không. Bản thân Ngô Tất
Tố, vào năm 1912 thi hỏng ở kỳ đệ nhất, năm 1915 ông đỗ đầu trong kỳ thi khảo hạch ở Bắc
Ninh. Vì thế, ngƣời làng Lộc Hà vẫn quen gọi ông một cách thân mật là ''đầu xứ Tố". Tuy là
một nhà nho thật sự có tài và thông minh, nhƣng ông vẫn không qua đƣợc kỳ thi đệ nhị,
nghĩa là vẫn không vào đƣợc tam trƣờng.
Cũng vào năm ấy, thực dân Pháp ra lệnh bãi bỏ chế độ thi cử bằng chữ Hán, nhƣờng
chỗ cho nền giáo dục thi cử bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp, để đảo tạo ra tầng lớp tay sai
ngƣời bản xứ, phục vụ cho việc cai trị lâu dài của chúng ở đất nƣớc ta. Vậy là, vận mệnh
của một nền Hán học đã tồn tại hơn 1.000 năm, làm khuôn mẫu cho nền đao đức phong hóa
của các triều đại phong kiến Việt Nam, nay đã đến hồi kết thúc. Một số nhà nho cùng thời
với Ngô Tất Tố đã "quăng bút lông đi, lấy bút chì", để đi theo con đƣờng mà Tú Xƣơng đã
chỉ cho là "... đi học làm ông Phán. Tối rƣợu sâm banh sáng sữa bò". Còn khá đông thì lui
về các làng quê làm nghề dạy học, làm thầy địa lý hoặc đến các cửa đền, hay lang thang ở
các chợ làm nghề bói toán, xem tƣớng đoán quẻ để kiếm sống.
Ngô Tất Tố không đi theo con đƣờng mà nhiều bạn làng nho trong cảnh chợ chiều
của mình đã chọn. Vì nhà nghèo, gia đình phải mƣợn ruộng của làng để làm thêm và thƣờng
hay vay nợ lãi, nên không có tiền để học tiếp, ông đành phải lao vào cuộc mƣu sinh bằng
nghề làm báo, viết sách nhƣ một vài nhà nho đƣơng thời đã làm nhƣ: Nguyễn Bá Học,
Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Trọng Thuật, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Mai
Đăng Đệ, Dật Công Phạm Quế Lâm...
27
Luận án thạc sĩ
Vào năm 1922, Tản Đà thành lập nhà xuất bản Tản Đà tu thư cục, chính nơi này đã
in tác phẩm đầu tay của Ngô Tất Tố, đó là một bản dịch từ sách Trung Quốc có tên Cẩm
Hương Đình (năm 1923). Đến tháng 7-1926, Tản Đà ra tờ An nam tạp chí, và mời Ngô Tất
Tố tham gia cộng tác. Kể từ đây, Ngô Tất Tố rời quê nhà để lên Hà Nội làm báo với Tản Đà.
Tờ An nam tạp chí phát hành đƣợc 10 số thì đình bản, vì không còn vốn để in tiếp. Nhà thơ
tạm biệt đất Bắc lên đƣờng vào Nam phụ trách trang văn chƣơng trên tờ Đông pháp thời
báo của Diệp Văn Kỳ, và mời Ngô Tất Tố cùng đi. Vào đến Sài Gòn, hai ngƣời cùng làm
chung trong một tòa báo. Đƣợc ba tháng, nhà thơ trở về đất Bắc, còn Ngô Tất Tố ở lại đến
ba năm sau mới về. Thời gian này, ông tiếp tục viết bài cho các tờ Đông pháp thời báo,
Thần chung, đồng thời cho xuất bản hai tập sách dịch Ngô viết Xuân Thu và Hoàng Hoa
cương.
Cuối năm 1930, Ngô Tất Tố trở về Hà Nội, từ đó đến Cách mạng tháng Tám năm
1945, ông viết cho các tờ: Phổ thông ( 1930 - 1931), Đông phương (1931), Công dân
(1935), Hải Phòng tuần báo (1935), Tương lai (1936 -1937), Thời vụ (1938 - 1939), Hà Nội
tân văn (1940), Đông pháp (1942)..., đồng thời gởi bài đăng ở nhiều tờ báo khác nhƣ: Con
ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ 3... ông ký nhiều bút danh khác nhau nhƣ: Thiết Khẩu Nhi,
Phó Chi, Tuệ Nhỡn, Hy Cừ, Ngu Công, Thục Điểu, Lộc Đình, Xuân Trào, Thuyết Hải, Lộc
Hà, Thôn Dân, Đạm Hiên...
Sự nghiệp trƣớc tác của Ngô Tất Tố khá phong phú. Ông nổi tiếng trên nhiều lĩnh
vực: khảo cứu, dịch thuật, viết báo, viết văn, ông làm việc ăn lƣơng cho nhà xuất bản Mai
Lĩnh, nên sách của ông trừ cuốn Đường thi do Tân Dân xuất bản, số còn lại đều do Mai Lĩnh
ấn hành.
Làm báo, viết sách không đủ sống, Ngô Tất Tố còn mở hiệu thuốc Bắc và dịch sách
y học cho nhà xuất bản Nhật Nam thư quán (1935).
Trƣớc Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố sáng tác rất cần cù, nhƣng chỉ làm giàu
cho các nhà xuất bản và chủ báo. Chỉ có hai tờ Công dân và Tương lai “là cơ quan của một
bọn anh em nhà nghèo dúm rau, dúm bếp làm với nhau".
Về phƣơng diện học thuật, ông là tác giả của nhiều công trình khảo cứu triết học,
văn học cổ, lịch sử có giá trị. Trong đó có những công trình đáng chú ý nhƣ cuốn ký sự lịch
sử Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (1935) thể hiện đƣợc tinh thần yêu nƣớc, thái
độ căm ghét
28
Luận án thạc sĩ
bọn tƣớng tá xâm lƣợc và bọn Việt gian bán nƣớc. Xuất thân là một nhà nho, nhƣng Ngô
Tất Tố không phải là ngƣời nệ cổ, bảo thủ, ông luôn cố gắng vƣơn tới những tƣ tƣởng tiến
bộ của thời đại. Trong cuốn Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (1940), ông phê phán
thái độ nhắm mắt đề cao và sự chế biến xuyên tạc đối với Nho giáo của Trần Trọng Kim.
Cuốn Lão tử (1942, viết chung với Nguyễn Đức Tịnh) là công trình nghiên cứu công phu, có
tinh thần phê phán khoa học, là "tác phẩm nghiêm túc nhất về Lão Tử"... Trong cuốn Mặc tử
(1942), Ngô Tất Tố đề cao những yếu tố duy vật, tiến bộ trong học thuyết của Mặc Địch.
Trong bộ Việt Nam văn học (mới hoàn thành 2 tập: Văn học đời Lý, Văn học đời Trần, xuất
bản năm 1942, chủ yếu là ông tuyển dịch thơ văn hai đời này, có kèm theo bình luận), Ngô
Tất Tố tỏ ra thiết tha với việc bảo tổn, phát huy những truyền thống tốt đẹp trong di sản văn
học của dân tộc. Ông đặc biệt để cao tƣ tƣởng độc lập tự cƣờng đƣợc thể hiện trong văn
chƣơng đời Trần và phê phán tinh thần nô lệ bạc nhƣợc đầy dẫy trong văn chƣơng học thuật
phong kiến. V ề dịch thuật, bản dịch Đường thi (1940) và Hoàng Lê nhất thống chí (1942)
là những công trình có giá trị.
Trên lĩnh vực sáng tác văn học, những tác phẩm chính của Ngô Tất Tố trong thời kỳ
trƣớc cách mạng là: Tắt đèn (1939), Lều chõng (đăng trên báo Thời vụ, 1939), Việc làng
(đăng báo Hà Nội tân văn, 1940). Ngoài ra còn một số truyện ngắn, phóng sự đƣợc in rải rác
trên các báo. Tác phẩm tiêu biểu nhất trong sự nghiệp văn chƣơng của Ngô Tất Tố là Tắt
đèn, "một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có
thể gọi là kiệt tác, tùng lai chƣa từng thấy" (Vũ Trọng Phụng). Tắt đèn là một trong những
thành công xuất sắc nhất trong trào lƣu văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Lều chõng là
tiểu thuyết phóng sự về chế độ khoa cử phong kiến. Từ những tƣ liệu phong phú, nhà văn
dựng lại không khí "lều chõng" ngày trƣớc, qua đó làm nổi bật tính chất nhồi sọ của nhà
trƣờng và sự trói buộc khắc nghiệt vô lý của chế độ thi cử phong kiến. Vì vậy, tác phẩm ít
nhiều có ý nghĩa chống lại "phong trào phục cổ" do thực dân đề xƣớng. Việc làng là tập
phóng sự về những hủ tục "quái gở, mọi rợ" trong nông thôn Việt Nam trƣớc Cách mạng
tháng Tám. Mỗi chƣơng sách là một câu chuyện thƣơng tâm về một lệ làng, một mối tai họa
đối với ngƣời nông dân khốn khổ. Điều đáng chú ý là trong Việc làng, tác giả đã vạch ra
chính bọn địa chủ, cƣờng hào, chánh tổng, lý trƣởng, chánh hội, chƣởng lễ... là những kẻ đã
bày đặt và duy trì những hủ tục đó để đục khoét dân lành, đẩy nhiều gia đình tới chỗ phá
sản, có ngƣời phải tuyệt mạng. Đôi lúc câu chuyện dƣờng nhƣ vƣợt khỏi khuôn khổ phóng
sự "việc làng" để đi sâu
29
Luận án thạc sĩ
vào tình cảnh thê thảm của ngƣời nông dân bị áp bức bóc lột đến tột cùng. Việc làng cũng
có tác dụng chống lại phong trào phục cổ đƣơng thời.
Là một nhà báo xuất sắc, qua những bài bình luận ngắn Ngô Tất Tố đã lên tiếng tố
cáo chế độ thực dân phong kiến dã man, tàn bạo, đồng thời thể hiện lòng thƣơng yêu và thái
độ trân trọng thật sự đối với nhân dân lao động. Vì vậy, ông đã trở thành "cái gai trƣớc mắt"
mà bọn thực dân phong kiến cần phải nhổ bỏ. Năm 1935, ông bị thực dân cấm không cho
viết trên tờ Hải Phòng tuần báo, và trục xuất khỏi các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng,
Nam Định, nghĩa là chúng muốn tuyệt đƣờng sinh sống của ông. Năm 1939, tác phẩm Tắt
đèn bị cấm lƣu hành hoặc tàng trữ, ông bị sở mật thám khám nhà và bắt giam 4 tháng.
Nhƣng tất cả những việc làm đó của chúng không làm cho ông chùn bƣớc, ngòi bút của ông
vẫn tỏ ra sắc sảo và tấn công vào chúng mãnh liệt. Tác phẩm của ông đƣợc công chúng độc
giả đón đọc một cách nồng nhiệt hơn.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Ngô Tất Tố tham gia Hội văn hóa cứu
quốc v à ông là một trong những ngƣời cao tuổi lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng
chiến. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Ngô Tất Tố đã cố gắng hết sức mình để
phục vụ nhân dân: ông làm ca dao tuyên truyền, làm báo, làm thơ, viết ký sự, truyện ngắn,
sáng tác chèo, dịch thuật văn học nƣớc ngoài. Vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác, viết về nữ
chiến sĩ thi đua trên mặt trận nông nghiệp là chị Quách Thị Tƣớc của ông đƣợc Hội Văn
nghệ Việt Nam trao giải thƣỏng (năm 1952). Những bút ký Phiên chợ trung du, Quà tết bộ
đội... thể hiện cái nhìn mới mẻ của nhà văn đối với đất nƣớc, con ngƣời hồi sinh sau cách
mạng. Thời kỳ này, ông biết cho báo Cứu quốc, báo Thông tin khu XII, tạp chí Văn nghệ,
đồng thời phụ trách văn nghệ liên khu I.
Ngô Tất Tố mất tháng 4 năm 1954 tại Yên Thế, Bắc Giang, hai tháng trƣớc khi hòa
bình lập lại.
3. Quá trình chuyển biến tư tưởng của Ngô Tất Tố từ một nhà nho trở
thành một nhà báo tiến bộ
Tình hình báo chí sách vở nƣớc ta, vào đầu những năm 30 có nhiều thay đổi lớn.
Trên bình diện chung thực dân Pháp vẫn kiểm soát
30
Luận án thạc sĩ
chặt chẽ đối với báo chí. Vì vậy, những nhà văn nhà báo ít nhiều có tƣ tƣởng tiến bộ, không
thể nào nói đƣợc trên sách báo công khai những điều mình muốn nói. Lƣỡi kéo kiểm duyệt
của thực dân hoạt động tích cực, hơi một tí là cắt xén, xóa bỏ, đình bản, đóng cửa tòa báo
(trong vòng 4 năm từ 1931 - 1934, có đến 161 tờ báo bị đình bản). Thời kỳ Mặt trận Dân
chủ, do sự đấu tranh mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân dƣới sự lãnh đạo của Đảng buộc
chính quyền thực dân phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt ở Nam kỳ (1935), Trung kỳ và Bắc kỳ
(1937), nhƣng đến chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ thì đâu lại vào đấy, có phần khắt khe
hơn trƣớc.
Còn đội ngũ những ngƣời viết văn, viết báo thời bấy giờ đa số đều trẻ và Tây hóa.
Họ tiếp thu đƣợc nhiều kinh nghiệm làm báo của các nƣớc phƣơng Tây (chủ yếu là Pháp),
nên đã thay đổi một bƣớc về cách viết cũng nhƣ kỹ thuật trình bày và in ấn. Do chính sách
ngu dân của thực dân Pháp, đại bộ phận quần chúng nhân dân đều mù chữ, nên vô hình
trung họ đã bị gạt ra khỏi các hoạt động văn hoa văn nghệ. Công chúng độc giả của sách báo
thời bấy giờ, chủ yếu là học sinh sinh viên Tây học, công chức tiểu thƣơng ở các thành phố
lớn. Họ đƣợc tiếp xúc nhiều với văn hóa phƣơng Tây, nên đã thay đổi cách "thƣởng thức"
báo chí.
Tờ báo muốn sống đƣợc thì phải có độc giả, nhƣng tâm lý chung của nhiều độc giả
là quá chán ngán những cuốn tiểu thuyết lãng mạn Trung Quốc hay những bài văn nghị luận
cao đạo trên báo Nam Phong, Trung Bắc tân văn... mà họ đòi hỏi báo chí chuyển tải đến cho
ngƣời đọc những thiên truyện có ít nhiều tính chất hiện thực, những thiên phóng sự điều tra
ghi lại điều "tai nghe, mắt thấy", "chuyện bất công ngang trái", cảnh lầm than đau khổ trong
xã hội, những bài văn ngắn gọn, mang tính châm biếm nhẹ nhàng.
Trong bối cảnh ấy, nhà nho Ngô Tất Tố nếu muốn theo đuổi nghề cầm bút, phải thay
đổi tƣ tƣởng và văn phong cho ngang tầm thời đại, phù hợp với yêu cầu độc giả. Điều này rõ
ràng không đơn giản chút nào. Văn chƣơng "kiểu cũ" không còn hợp thời nữa, chủ báo
không mời cộng tác không đăng bài, chủ nhà xuất bản không đặt hàng, không nhận in... nên
nhiều bạn làng nho với Ngô Tất Tố đã phải bỏ cuộc. Riêng ông, chẳng những trụ lại đƣợc
với các đồng nghiệp trẻ, Tây học, mà đôi lúc còn tỏ ra sắc sảo hơn họ.
31
Luận án thạc sĩ
Đọc lại những bài bình luận thời sự của Ngô Tất Tố, đăng trên các báo suốt mƣời
lăm năm từ 1930 - 1945, có thể thấy ông luôn luôn hƣớng về phía trƣớc, muốn vƣơn lên cho
kịp ngƣời, vƣơn lên cho ngang tầm thời đại. Vậy ông vƣơn lên nhƣ thế nào, và đã thay đổi
tƣ tƣởng, văn phong của mình ra sao?
Sự chuyển biến về tƣ tƣởng của Ngô Tất Tố đƣợc thể hiện khá rõ nét trong các công
trình khảo cứu, dịch thuật, các bài báo và các sáng tác văn học của ông. Chúng tôi xin điểm
qua quá trình phát triển tƣ tƣởng của ông từ một nhà nho trở thành một nhà báo tiến bộ, một
nhà văn hiện thực xuất sắc.
Là một nhà nho, nhƣng Ngô Tất Tố không đứng trên lập trƣờng quan điểm của nho
giáo để đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Trong lúc những ngƣời cùng thế hệ với ông, kể cả
những ngƣời tiến bộ nhất đểu hô hào hòa hợp đạo Khổng Mạnh với văn minh Âu Tây, có
công kích nho giáo nhƣng cũng chỉ công kích một vài điểm trong Hán nho, Tống nho, chớ
không đả động gì đến những nhân tố chủ yếu của đạo Khổng Mạnh. Còn Ngô Tất Tố thì
khác, ông phê phán một số mặt bản chất lạc hậu, phản động của nho giáo nói riêng và ý thức
hệ phong kiến nói chung. Ông đã từng nghe kể hoặc từng chứng kiến sự thối nát của giai
cấp phong kiến đầu hàng Pháp. Và nhất là từ kinh nghiệm của bản thân mình đã mấy lần
khoa cử lận đận... Tất cả những yếu tố đó, giúp Ngô Tất Tố vƣợt lên phía trƣớc, đuổi kịp thế
hệ trẻ và trở thành một trong những ngƣời tiến bộ nhất của lớp nhà nho cuối mùa.
Trong tác phẩm của mình, khi đề cập đến nho giáo, chúng ta thấy Ngô Tất Tố
thƣờng dùng giọng văn chế nhạo. Nhất là đối với hai chủ nghĩa hành đạo và tùy thời của
Khổng Tử và Mạnh Tử. Nhân chuyện Khổng Đức Chƣơng và Mạnh Khánh Đƣờng là con
cháu mấy mƣơi đời của Khổng Tử và Mạnh tử, từ chối không chịu hợp tác với phát xít
Nhật, Ngô Tất Tố cho rằng cụ Khổng và cụ Mạnh ngày xƣa "tuy thời một cách dễ dãi" chớ
đâu có "khó tính" nhƣ vậy!
"Hai cụ ấy tuy đẻ cách nhau hơn 100 năm, nhƣng là thầy trò với nhau, nhiều chỗ
trong giáo lý của họ giống nhau nhƣ tạc, nhất là chủ nghĩa hành đạo và tuy thời" Hành đạo,
nói một cách nôm na tức là làm quan, làm quan để thực hành đạo giáo của mình. Mà tùy
thời? Cắt nghĩa một cách không cho ai hiểu, thì là... tùy thời (!). Khổng Tử sính làm quan
lắm". Cứ nhƣ Trang Tử đã nói thì chính mình cụ đã đem "đạo" đi rao với
32
Luận án thạc sĩ
72 ông vua, dấu ngựa, bụi xe của ngài khắp cả các nƣớc, rút lại vẫn không đắt hàng.
Cùng quá, đến nỗi hai anh tƣớng giặc Lỗ, cái "nƣớc cha mẹ" của ngài, trong khi chiếm nƣớc
làm loạn muốn mời ngài đến giúp việc, ngài cũng định đi với họ. Thật là một nghĩa tùy thời.
Mạnh Tử cũng vậy. Tuy không "bệ kiến" nhiều vua nhƣ cụ Khổng, nhƣng với vài chục cỗ
xe đi trƣớc, vài chục đầy tớ đi sau, cụ này đã ăn khắp lƣợt mấy nƣớc chƣ hầu và đã yết kiến
vua Tuyên nƣớc Tề, vua Huệ nƣớc Lƣơng cho đến vua Văn nƣớc Đằng, một nƣớc giật gấu
vá vai mới đƣợc năm chục dặm đất, cũng có dịp đƣợc gặp cụ nữa. Đó là cụ cũng tuy thời
nhƣ cụ Khổng vậy!"(1).
Năm 1938 ông viết bài Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (đăng trên báo Thời
vụ từ số 80 đến 87, phát hành trong tháng 11 và 12 năm 1938). Cuốn sách của Trần Trọng
Kim chạy theo khuynh hƣớng phục cổ, tôn Khổng, sùng Nho của giai cấp thống trị. Trong
lúc Phan Khôi một mực đề cao cuốn sách đó "Khuyên những ngƣời An - nam đều phải thắp
hƣơng mà đọc", thì ngƣợc lại Ngô Tất Tố viết bài phê bình. Ngoài việc phê phán tác giả
Trần Trọng Kim, dùng tƣ liệu không chính xác, đem tƣ tƣởng của ngƣời khác làm tƣ tƣởng
của Khổng Tử, dịch sai nghĩa hoặc thêm ý của mình vào Kinh truyện, Ngô Tất Tố còn lên
tiếng cảnh báo: "Nếu nhƣ những chỗ sai lần của sách ấy không bị đính chính thì với những
ngƣời đẻ sau vài chục năm nữa, Nho giáo sẽ là "Trần Trọng Kim giáo", không phải là đạo
giáo của Khổng Tử và tiên nho nữa". Ông đã vạch rõ cho mọi ngƣời thấy dụng tâm của Trần
Trọng Kim là lý tƣởng hóa đạo Khổng, khi cho rằng: "đạo ấy rất thích hợp với chân lý, thật
là đạo xử thế rất hay, rất phải ai theo cũng đƣợc và thi hành ra đời nào cũng đƣợc". Tuy
chƣa trực diện công kích triết lý Khổng Mạnh, nhƣng Ngô Tất Tố công kích những ai sùng
bái "hai vị thánh" đó.
Ngô Tất Tố phê phán chủ nghĩa trung quân mù quáng của Khổng Tử, chỉ biết nhắm
mắt tôn thờ các bậc đế vƣơng, thậm chí bao che cho cả bọn hôn quân bạo chúa. Trong khi
ấy thì Trần Trọng Kim lại cho rằng: tƣ tƣởng trung quân của Khổng Tử không có nghĩa là
trung với ngƣời làm đế làm vƣơng mà là trung với quân quyền trong nƣớc. Ngô Tất Tố đã
bình phẩm ý kiến này của Trần Trọng Kim: "Trời ơi! Nếu quả nhƣ thế thì Khổng Tử chẳng
những không khác Jean Jacques Rousseau mà còn giống cả Karl Marx và Lénine nữa". Các
sách của Khổng giáo, không có chỗ nào phân biệt quân quyền với bản thân ngƣời làm đế
vƣơng cả
Trong tiểu phẩm Xưa kia nó là việc của vua chúa (in trên báo Thời
(1) Con cháu khôn hơn ông vải. Thời vụ, ngày 5-4-1938.
33
Luận án thạc sĩ
vụ số 56, ra ngày 23.8.1938), Ngô Tất Tố, viết: "Trong sách Xuân Thu, Khổng Tử đã phải
chép đến 36 chuyện giết vua,mà trong đó phần nhiều chuyện giết vua lại kiêm luôn cả giết
cha nữa. Ấy là mới kể trong thời kỳ 240 năm mà thôi, sau đó còn thiếu gì những chuyện
nhƣ thế. Vậy thì lịch sử đã bảo cho ta biết rằng xƣa kia chỉ có vua chúa mới đƣợc giết cha!"
Vua chúa nhƣ vậy thì cái chủ nghĩa trung quân của Khổng Tử mà Trần Trọng Kim
hết lời ca ngợi trong Nho giáo, theo Ngô Tất Tố chỉ là một chuyện khôi hài mà thôi. Ở một
chỗ khác cũng trong Nho giáo, Trần Trọng Kim có viết: "Khổng Tử coi dân là trời, mệnh
trời tức là lòng dân". Thực ra đây là tƣ tƣởng của Lƣơng Khải Siêu, của Tăng Tử, Tử Tƣ,
Vũ Vƣơng... đƣợc Trần Trọng Kim đem "lắp vào cái tƣợng Khổng Tử ở Nho giáo". Ngô
Tất Tố đã phản bác lại: "Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử đã nói: "Dân có thể khiến cho nó
theo, không thể khiến cho nó biết. Coi đó thì ngài thiên về chính trị chuyên chế, không khi
nào lại chịu coi dân là trời". Ngô Tất Tố cho rằng: "Khổng Tử là ngƣời chủ trƣơng thuyết
ngu dân của giai cấp thống trị, là ngƣời tạo nên thứ giáo lý tôn ti trật tự, chỉ muốn biến thứ
dân thành những kẻ cam phận tôi đòi. Nhƣ vậy, thực chất đạo Khổng là một công cụ thống
trị về mặt tinh thần của bọn vua chúa phong kiến. Nếu nhƣ ở phƣơng Tây, các ông vua đều
chịu lễ thụ phong của giáo hoàng và nhờ giáo hoàng đặt hộ cái mũ lên đầu" thì ở phƣơng
Đông các thế lực phong kiến đều coi đạo Khổng là "một tôn giáo để duy trì thế lực của
mình", ông làm rõ ý này trong bài Chúa trùm Đảng áo nâu sẽ xuống địa ngục (đăng trên
báo Thời vụ số 27, ra ngày 13-5-1938) "Lƣu Bang là anh cai phu ở Lý Sơn, trong lúc kéo
quân phá nƣớc Tần, đánh nƣớc Sở, rất không ƣa nhà nho, có khi hắn đã lật mũ nhà nho mà
đái vào. Thế mà đến khi chiếm đƣợc cái ngai hoàng đế thì tự mình lại đem cỗ thịt bò khúm
núm đến lễ trƣớc miếu cụ Khổng và trọng dụng một anh nho dở là Thúc Tôn Thông để chế
ra triều nghi cho mình. Các vua sáng nghiệp đời sau của nƣớc Tàu đều theo kiểu ấy. Cho
đến Tƣởng Giới Thạch bây giờ cũng vậy".
Giai cấp phong kiến đã thần thánh hóa, thi vị hóa Khổng Tử và dùng nho giáo làm
công cụ phục vụ cho mục đích thống trị của chúng. Vào khoảng những năm 1942 -1944,
chính quyền thực dân lại để xƣớng phong trào phục cổ “Văn hóa phục hƣng", kết hợp văn
minh Âu - Mỹ với quốc hồn quốc túy phƣơng Đông... Và đã có nhiều ngƣời cầm bút hùa
theo, ngƣời thì nghiên cứu, ngƣời dịch thuật, ngƣời sáng tác... ai nấy đều thi vị hóa quá khứ,
để cao đạo đức phong kiến, tuyên truyền ý thức hệ duy tâm.
34
Luận án thạc sĩ
Vào thời điểm này, Ngô Tất Tố viết tiểu Thuyết Lều chõng, nghiên cứu Lão Tử,
Mặc Tử, dịch Kinh dịch, với mục đích làm ngƣợc lại ý đồ của thực dân. Trong Lều chõng
ông chỉ trích nền giáo dục phong kiến là nhồi sọ, văn chƣơng trƣờng ốc là sáo rỗng, cách
kén chọn nhân tài theo khoa cử là vô nghĩa. ông đề cao Mặc Tử cũng là để chống lại nho
giáo, chống phục cổ, chống thuyết hữu mệnh, chống chiến tranh xâm lƣợc. Ngô Tất Tố
không tán thành thái độ thần thánh hoa Kinh dịch của một số nhà nho đƣơng thời. Ông
thƣờng nói với Phùng Bảo Thạch, ngƣời bạn cùng làm báo với ông: " Ngƣời ta cứ suy tôn
Kinh dịch cho nó là thần thánh, thực ra cũng chẳng có gì đâu, để tôi dịch ra cho các bác
xem". Năm 1943, ông bắt đầu dịch Kinh dịch, và năm sau ông đƣa cho Mai Lĩnh xuất bản (4
tập). Ở Kinh dịch, Ngô Tất Tố chỉ mới tập trung phê phán phần duy tâm, thần bí: "Từ xƣa
đến nay, ai ai cũng tin Kinh dịch là một bộ sách khó hiểu. Sự thực cũng đúng nhƣ thế.
Nhƣng cái khó hiểu của Kinh dịch không tại ý tứ sâu xa, chỉ tại lời văn chủng chẳng rời rã,
ngớ ngẩn đột ngột, giống nhƣ lời nói của bọn đồng cốt, không đầu đuôi, không mạch lạc, có
chỗ lại không đúng với văn pháp nữa... Vì vậy, trong các chính văn hết thảy dịch bằng tiếng
cổ của ta, cố giữ lấy cái tinh thần "chủng chẳng rời rã, ngớ ngẩn đột ngột" của nó, để độc giả
muốn hiểu thế nào thì hiểu, bằng không hiểu nữa thì đã có lời chú giải của Trình Di, Chu Hy
dịch tiếp ở dƣới, coi đó rồi cũng phải hiểu". Thái độ phê phán của Ngô Tất Tố đối với Kinh
dịch mặc dù còn mang tính chất cảm tính, nhƣng nó có một ý nghĩa nhất định. Vì đó là đòn
đánh vào chủ nghĩa phục cổ, đánh vào những kẻ nhắm mắt suy tôn Khổng giáo và Kinh
dịch, xem nó là quốc hồn quốc túy của dân tộc, là báu vật của triết học phƣơng Đông.
Trong khi nhiều ngƣời cũ lẫn mới, nho học cũng nhƣ Tây học, đều ra sức hô hào cổ
vũ, hết lời ca ngợi những tác phẩm: Nho giáo của Trần Trọng Kim, Lão Tử, Mặc Tử, Kinh
dịch... thì Ngô Tất Tố lại phê phán kịch liệt và ông còn tỏ ý thƣơng hại cho các nhà nho "lạc
bƣớc trong thời đại mới, bơ vơ đứng giữa ngã ba với những cơn gió mƣa cát bụi, để chờ
ngày chấm dấu hết cho trang lịch sử Hán học của nƣớc Nam". Điều đó chứng tỏ ông không
phải là một nhà "cựu học", một "nhà nho" nữa, mà ngay từ khi mới bƣớc chân vào
làng báo, làng văn, Ngô Tất Tố luôn cố gắng vƣợt lên chính mình, để theo kịp trào lƣu tƣ
tƣởng mới. Ý thức tự vƣợt mình ở Ngô Tất Tố nhất quán từ đầu đến cuối và đƣợc biểu hiện
không phải một lần mà là nhiều lần, trong những trƣờng hợp khác nhau, những chuyện khác
nhau. Ngay từ những năm 1930 - 1931, ông đã viết nhiều bài bình luận ngắn, chống chủ
trƣơng: " bảo tồn quốc túy", " đừng đem
35
Luận án thạc sĩ
những cái cặn bã của cửa Khổng sân Trình mà nhồi mãi vào óc độc giả" hay "cổ động dân
quê duy trì các thói tục ở góc điện sân đình" hoặc "hô hào các bạn gái cứ giữ gìn cái sinh
hoạt ở cửa buồng xó bếp". Ngô Tất Tố đã từng nói: "Vận hội một nƣớc trông ở tƣơng lai
nhiều hơn trông ở quá khứ" (Văn học đời Lý, 1942).
Nhà nho Ngô Tất Tố là nhƣ thế. Vì vậy chỉ có thể gọi ông là "nhà nho" với ý nghĩa
ông có vốn Hán học cao so với các đồng nghiệp đang cùng ông làm báo, viết sách. Ông
không hề bị tƣ tƣởng Nho giáo ràng buộc.
4. Quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo và viết văn
Phần đông những ngƣời viết báo ở nƣớc ta thời đó, đều quan niệm về nghề khá đơn
giản. Chúng ta hãy nghe Vũ Bằng kể lại một quãng đời làm báo của mình: "Tất cả chúng
tôi lúc ấy đều quan niệm một cách dễ dàng: làm báo là trò chơi, ai muốn viết gì thì viết,
quăng bài vào Tòa soạn rồi in ra, thế là xong. Chúng tôi không cần phải có đƣờng lối chánh
trị, không cần phải có quan điểm lập trƣờng, lôi thôi lắm. Vả lại sống vào thời đó, Tây lo
cho hết cả rồi, thì quan điểm, lập trƣờng làm gì vô ích? Vì thế bài xã thuyết thì viết về vấn
đề xã hội, mùa xuân thì viết xã thuyết về xuân, mùa hạ thì viết xã thuyết về hạ, thỉnh thoảng
đổi giọng lại viết xã thuyết về vấn đề quốc tế cho oai, ra cái giọng ta đây thông kim quán
cổ, biết hết cả chuyện năm châu bốn biển, mà trƣớc sau vẫn không quên vấn đề chuồng tiêu
công cộng ở chợ Đồng Xuân hôi quá, hay đống rác ở ô Đồng Lầm ruồi nhặng vo ve suốt
ngày, rất hại cho vệ sinh chung.
Ngoài bài xã thuyết thì là truyện, thơ, phóng sự, muốn đăng cái gì cũng đƣợc, nhƣng
thế nào cũng phải để dành một chỗ kha khá cho mục "Nói hay đừng" chửi loạn xà ngầu
(miễn là đừng chửi Tây), chửi chết thôi, mà nếu chửi tục, chửi dơ dáy, thỉnh thoảng xen vào
vài câu dâm dục thì càng đƣợc hoan nghênh .Vậy chửi cái gì? Chửi vấn đề xã hội thì Tây
phụ trách, chửi ngƣời mà không biết lựa thì nó lên méc Tây, Tây cho vào xà lim, ép rệp bỏ
cha; chửi về chánh trị thì mình không biết oong đơ gì hết, mà chửi về kinh tế thì quả là mình
đui quá. Rút lại tên thƣ ký tòa soạn tờ Rạng Đông, cũng nhƣ hầu hết các ký giả trẻ khác hồi
đó, chỉ còn biết quay qua chửi bậy, chửi cá nhân, chửi đời tƣ của những ngƣời mà mình
ghét, và nhất là chửi đồng nghiệp, vì "nghe đâu báo của nó chạy hơn của mình". Mà nó
không có tài, chẳng hiểu làm sao báo lại
36
Luận án thạc sĩ
chạy? Mình thế này mà chịu thua nó hay sao? Tức thì lại càng chửi khoẻ"(1).
Ngô Tất Tố thì khác. Là một nhà nho tiến bộ, với bản lĩnh vững vàng của một ngƣời
cầm bút, ông luôn thể hiện sự độc lập trong suy nghĩ của mình, luôn vƣơn lên cho kịp với
thời đại. Với tinh thần tiếp thu có phê phán, và lúc cần thì ông phê phán hết sức nghiêm
khắc, đối với các học thuyết của nho giáo. Do vậy, trong các tác phẩm của ông, ít nhiều đều
mang ý nghĩa chống lại xu hƣớng phục cổ, suy tôn Khổng giáo và bảo tổn quốc tuy... ông
quan niệm rất nghiêm túc về nghề làm báo và viết văn. "Ngô Tất Tố tự tách mình ra khỏi
năm hạng ngƣời tiêu biểu cho giới báo chí Việt Nam thời Pháp thuộc: hạng lấy báo chí làm
nơi giải trí, gọt đẽo câu văn cho kêu; hạng dùng văn chƣơng để trổ tài thông minh vặt; hạng
làm báo chí thì ít mà làm tiền thì nhiều; hạng cơ hội, khi đứng bên này khi nhảy sang bên
kia và hạng bồi bút tay sai để làm giàu và làm quan"(2).
Theo ông , báo chí - sách vở phải là phƣơng tiện chở học thuật, tƣ tƣởng và hƣớng
đạo quần chúng, "học thuật tƣ tƣởng" ích nƣớc lợi dân. Quan niệm của ông gần gũi với quan
niệm của cha ông ta ngày trƣớc về ''trƣớc thƣ lập ngôn" và " Văn dĩ tải đạo". "Đạo" ở đây là
đạo làm ngƣời, "đạo" yêu nƣớc thƣơng dân. Chƣa phải là ngƣời cách mạng, ông sử dụng
ngòi bút của mình chƣa phải là để chiến đấu cho mục đích lý tƣởng cách mạng, nhƣng trong
hoàn cảnh bị mất nƣớc, nhân dân đang sống lầm than đau khổ dƣới ách thống trị của thực
dân phong kiến, ông muốn dùng ngòi bút của mình góp phần chống lại các thế lực đen tối
đang bóp nghẹt đời sống vật chất cũng nhƣ tinh thần của ngƣời dân Việt Nam, ông mong
mỏi có đƣợc cuộc sống dân chủ hơn, tự do hơn, ấm no hơn. Còn dân chủ, tự do, ấm no đến
mức độ nào và phải đấu tranh bằng phƣơng thức nào để có đƣợc, thì ông chƣa hình dung
nổi. Bản thân ông chỉ nhìn thấy xã hội "tối đen nhƣ mực", ông muốn dùng sức mạnh ngòi
bút, chân thành bền bỉ đấu tranh (tất nhiên là trong phạm vi có thể) để cho nó đỡ tối hơn mà
thôi.
Quan niệm của ông về nghề làm báo, viết văn thể hiện đƣợc những phẩm chất "đạo
đức nghề nghiệp" của ngƣời cầm bút. Báo chí là một nghề mới xuất hiện ở nƣớc ta, kể từ
khi thực dân Pháp xâm lƣợc. Lúc đầu, ngƣời Pháp cho ra báo để tuyên truyền phổ biến
những chủ trƣơng, chính sách, những thông cáo của nhà nƣớc thực dân đến với dân chúng
thuộc địa. Mau chóng, những ngƣời yêu nƣớc Việt Nam nhận rõ
(1) Vũ Bằng – Bốn mươi năm nói láo, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1993, trang 47-48.
(2) Tuyển tập Ngô Tất Tố, I, NXB Văn học, Hà Nội, 1993, trang 28.
37
Luận án thạc sĩ
đƣợc tác dụng lợi hại của báo chí, nên đã sử dụng báo chí để nâng cao dân trí, cổ vũ
tinh thần canh tân đất nƣớc. Các vị ấy đã xông vào trận địa báo chí, tùy theo tình hình mà có
thể lợi dụng báo chí do thực dân cầm quyền tổ chức hoặc xin ra báo tƣ nhân. Những ngƣời
đầu tiên làm báo ở nƣớc ta là các nhà trí thức nho học, Tây học có tài năng và có lòng nhiệt
thành yêu nƣớc. Chính những ngƣời này đã xây dựng nền móng cho báo chí Việt Nam, tạo
lập một truyền thống đạo đức nghề nghiệp đƣợc những ngƣời đi sau kế tục và các thế hệ nối
tiếp duy trì và noi theo. Ngoài chuẩn mực đạo đức mà những ngƣời làm báo chân chính ở
mọi nơi, mọi thời đại đều phải tuân thủ, còn có những nét đạo đức truyền thống riêng của
nghề làm báo ở nƣớc ta. Ngô Tất Tố là một trong những ngƣời đầu tiên góp phần xây dựng
nên những chuẩn mực đạo đức truyền thống của nghề báo ở Việt Nam. Quan niệm viết báo
của Ngô Tất Tố rất gần gũi với những gì mà các nhà báo chân chính trong thời đại ngày nay
đang vƣơn tới.
Về cơ bản, báo chí có hai chức năng: thông tin và hƣớng dẫn dƣ luận. Ở các quốc gia
có chế độ chính trị khác nhau, có những qui định khác nhau về chức năng của báo chí hoặc
nhấn mạnh mặt này mặt khác. Đề cập đến đạo đức của ngƣời làm báo có khi trùng hợp với
nhiệm vụ của ngƣời làm báo, tuy nhiên chúng ta cũng có thể phân biệt đƣợc ranh giới đó.
Nói đến nhiệm vụ là đề cập đến những điều mà ngƣời làm báo phải thi hành, còn nói đến
đạo đức là để cập đến những giá trị tinh thần mà ngƣời làm báo phải ra sức phấn đấu để thực
hiện. Đó là những mục tiêu, những định hƣớng mà nhà báo phải tận lực theo đuổi. Nhà báo
chân chính chỉ ôm ấp một lý tƣởng là phụng sự chân lý, bảo vệ chính nghĩa, nếu không thực
hiện đƣợc điều này thì nhà báo không hoàn thành sứ mạng đƣợc giao phó. Thông tin mà
không phụng sự chân lý thì thông tin nhƣ thế nào? Thông tin cái gì? Thông tin mà không
bảo vệ chính nghĩa thì làm sao hƣớng dẫn dƣ luận? Có thể nói điều này chính là "hòn đá thử
vàng" về ngƣời làm báo chân chính hay không chân chính, ngƣời thật sự làm báo hay kẻ
mạo danh nhà báo. Chính đó là đặc trƣng nhận dạng tƣ cách đạo đức nhà báo.
Nhà báo phải là ngƣời chiến đấu cho sự công bằng xã hội, chống áp bức bóc lột,
bênh vực những ngƣời lầm than đau khổ, những ngƣời ở địa vị thấp kém, những ngƣời bị
oan ức. Có lẽ vì thế nên nhiều ngƣời đã gọi nhà báo là "những hiệp sĩ cầm bút", để ví với
những hiệp sĩ cầm gƣơm thời xƣa "kiến nghĩa bất vi vô dõng giả!”. Trong thời đại ngày nay
Hồ Chủ tịch đã từng nhắc đến trách nhiệm của ngƣời cầm bút là "phò
38
Luận án thạc sĩ
chính trừ tà" và "trang giấy ngòi bút phải là vũ khí chiến đấu".
Nhà báo phải biết tôn trọng danh dự nghề nghiệp, danh dự bản thân và luôn học hỏi
để cầu tiến, để theo kịp sự phát triển xã hội.
Trong giai đoạn đất nƣớc bị xâm lƣợc, nhân dân bị bóc lột và rên xiết dƣới ách thống
trị của thực dân phong kiến, có nhiều nhà báo đã thể hiện đƣợc bản lĩnh của mình, dũng cảm
chiến đấu bênh vực cho quyền lợi của dân tộc và nhân dân.
Nhìn lại quá trình viết báo của Ngô Tất Tố, trong suốt mƣời lăm năm (1930 - 1945),
chúng ta có thể dễ nhận ra ông là một ngƣời viết báo chân chính, là tấm gƣơng sáng ngời về
đạo đức nghề nghiệp, không giống nhƣ năm hạng ngƣời tiêu biểu cho giới báo chí Việt Nam
thời Pháp thuộc, mà chúng tôi đã trình bày ở trên.
Đạo đức của nhà báo Ngô Tất Tố đƣợc biểu hiện cụ thể ở lòng yêu nƣớc thƣơng dân
của ông.
Trong giai đoạn đầu những năm 30, khi chế độ kiểm duyệt của thực dân còn gắt gao,
trong chừng mực cho phép, Ngô Tất Tố đã dùng ngòi bút của mình thẳng tay vạch trần bộ
mặt bỉ ổi của những tay sai đầu sỏ nhƣ: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Huy Lục...
chỉ rõ thực chất các tổ chức chính trị, văn hóa, tôn giáo nhƣ: Viện Dân biểu, Hội Khai trí
tiến đức, Hội Phật giáo... chỉ là "những thứ trò chơi do Pháp bày ra cho đủ lệ bộ để lừa bịp
dân chúng", ông trực tiếp đề cập đến sự xâm lƣợc và chống xâm lƣợc, qua những truyện lịch
sử ông viết về vua Hàm Nghi, Đề Thám (năm 1935). Rõ ràng là ông không sợ sệt, e dè,
kiêng nể gì cả. Phải là một cây bút có bản lĩnh và có dũng khí mới dám nói lên những điều
đó.
Bƣớc sang giai đoạn 1937 - 1939, chế độ kiểm duyệt bị bãi bỏ, Ngô Tất Tố quay
ngòi bút của mình chĩa thẳng vào những tên thực dân cỡ bự nhƣ: thống sứ Bắc kỳ, thống đốc
Nam kỳ, toàn quyền Đông Dƣơng, tổng trƣởng thuộc địa... ông lật tẩy những mánh khóe
tuyên truyền mị dân, lừa bịp của thực dân Pháp trong việc kêu gọi dân bản xứ: "đóng góp
với mẫu quốc về quân phí, về quốc trái, vế lạc quyên". Ông nói thẳng ra rằng, đó là những
thủ đoạn nhằm vơ vét bóc lột nhân dân ta của thực dân. Ngoài ra ông còn bóc trần những âm
mƣu của Pháp đầu độc dân bản xứ bằng rƣợu, thuốc phiện, vi trùng hoa liễu...
39
Luận án thạc sĩ
Trong khoảng thời gian này, trên báo chí hợp pháp cũng có nhiều bài đả kích thực
dân mạnh mẽ không kém, nhƣng các tác giả thƣờng pha giọng khôi hài, bỡn cợt làm cho
ngƣời đọc cƣời, vui hơn là căm giận. Còn Ngô Tất Tố viết nghiêm chỉnh, châm biếm nhƣng
không gây cƣời và nếu có gây cƣời cũng là để tỏ ý khinh bỉ. Ông lên án chế độ thực dân,
chính quyền thực dân và chính sách cai trị khắc nghiệt của chúng, đƣợc che đậy bằng lớp
sơn hào nhoáng "khai hóa".
Lòng yêu nƣớc của ông không giống với những "nhà nho" cùng thời. Ông không
ngồi đó để lặp đi lặp lại những cụm từ sáo rỗng nhƣ "non sông đất nƣớc"," gánh giang
sơn"," nợ nƣớc non"... mà mài sắc ngòi bút của mình, ra tay đả kích bọn thực dân phong
kiến, khi có điều kiện. Theo ông chính bọn này mới là kẻ gây ra bao nỗi khổ đau cho dân.
Lòng thƣơng dân của ông cũng khác. Bản thân Ngô Tất Tố là một ngƣời nghèo, sinh
trƣởng ở nông thôn. Cùng chỗ đứng với lớp ngƣời nghèo khổ bị bóc lột, nên ông có quan hệ
chặt chẽ với quần chúng nông dân lao động. Ông đã từng chứng kiến biết bao nỗi khổ của
ngƣời dân, đồng thời thấy rõ đƣợc bộ mặt nham hiểm tàn bạo của giai cấp thống trị. Trong
các bài bình luận, các thiên phóng sự điều tra và cả trong các sáng tác của mình, ông luôn
đứng về phía nhân dân để tố cáo. Ông buộc tội những kẻ gây ra nỗi cơ cực cho dân chính là
bọn thực dân phong kiến. Bằng óc quan sát tinh tế của mình, ông phơi bày những nỗi cực
khổ của quần chúng lao động, và dựng lên bức tranh ảm đạm của nông thôn Việt Nam thời
Pháp thuộc một cách sát thực hơn, không có chỗ nào giả tạo. Có lẽ vì vậy mà nhiều ngƣời
đã gọi Ngố Tất Tố là "nhà văn của nông thôn", là "cây bút của dân quê"... Thời kỳ Mặt trận
dân chủ (1936 - 1939), văn học hiện thực phê phán ở nƣớc ta phát triển đến đỉnh cao nhất,
trên báo chí công khai xuất hiện khá nhiều phóng sự, điểu tra, truyện ngắn, truyện dài phản
ánh cuộc đời nhũng ngƣời cùng khổ vì miếng cơm, manh áo, tố cáo bọn hƣơng lý, bọn
cƣờng hào, bọn quan lại tham ô, nhƣng ít có tác phẩm chín chắn và có độ tin cậy cao nhƣ
tiểu thuyết Tắt đèn và phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố.
Dù chƣa hiểu nhiều về cách mạng, chƣa có quan điểm giai cấp, chƣa hiểu phƣơng
pháp sáng tác duy vật biện chứng, nhƣng Ngô Tất Tố biết phân biệt rõ ai bạn, ai thù và bản
thân ông đứng về phía nào.
Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chế độ kiểm duyệt gắt gao hơn trƣớc, văn
chƣơng công khai đi vào bế tắc, chạy theo xu hƣớng
40
Luận án thạc sĩ
trụy lạc, siêu thoát, hình thức chủ nghĩa, quay về quá khứ thì Ngô Tất Tố không thể ngang
nhiên viết những tác phẩm nhƣ Tắt đèn nữa, mà ông viết Lều chõng, nghiên cứu Lão Tử,
Mặc Tử nhƣng không phải là để đề cao chủ nghĩa duy tâm, mà là chống lại khuynh hƣớng
phục cổ. Ngô Tất Tố sƣu tầm văn học cổ, xuất bản cuốn Văn học đời Lý, Văn học đời Trần,
Thi văn bình chú, dịch Hoàng Lê nhất thống chí. Trong các công trình này, ông có ý thức đề
cao những bài thơ, bài văn chứa chan lòng yêu nƣớc, ca ngợi cảnh đẹp non sông và dành
cho văn Nôm một vị trí xứng đáng. Có thể nói ông khai thác vốn cổ theo tinh thần dân tộc
đúng đắn.
Trong suốt quá trình sáng tác từ năm 1930 - 1945, Ngô Tất Tố luôn giữ vững lập
trƣờng quan điểm của mình về làm báo và viết văn. Ông không hề chao đảo, ngả nghiêng
nhƣ nhiều nhà văn khác cùng thời. Ông sống với nghề, nghèo nhƣng giữ mình trong sạch
không chạy theo đồng tiền để bẻ cong ngòi bút. Ông vƣơn lên cho kịp thời, dám nói thẳng
nói thật không dùng ngòi bút để làm những điều trái với lƣơng tâm. Ông không tha thứ
những tên bồi bút, đồng thời cũng chê những nhà báo, nhà văn "hữu thủy vô chung", coi
thƣờng vai trò "hƣớng đạo" của họ. Khi bị sở Mật thám bắt giam, ông cƣơng quyết từ chối
không chịu để cho tên tay sai Phạm Lê Bổng bảo lãnh với điều kiện phải viết cho tờ báo
Nam Cường của hắn, một tờ báo "quốc gia" giả hiệu. Trong kháng chiến, ông không thèm
nhận tiền nhuận bút của các nhà xuất bản trong nội thành in lại tác phẩm của ông. Ngƣời ta
thƣờng nói đến "nhân phẩm" "nhân cách" "khí tiết của nhà nho" Ngô Tất Tố là ở chỗ "Phú
quý, không ham; nghèo nàn, không đổi dạ; uy quyền không thể khuất phục". Quan niệm của
ông về nghề làm báo, viết văn gần gũi với quan niệm của chúng ta ngày nay. Vì vậy, ngay
khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ông đã có mặt. Lúc kháng chiến bùng nổ,
ông ra chiến khu, và năm 1948 ông vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng cộng sản Việt
Nam.
5. Nhân cách của người viết tạp văn – tiểu phẩm
Tạp văn - tiểu phẩm là những bài viết ngắn gọn, nhƣng không phải là thể loạt dễ
viết. Ngoài việc nắm vững các đặc điểm của thể loại (phần này chúng tôi sẽ trình bày ở
chƣơng III) đòi hỏi ngƣời viết phải có những tố chất và nhân cách rõ ràng, biểu hiện ở
những điểm sau:
Biết chọn đề tài: Có thể nói, đề tài viết tạp văn - tiểu phẩm là vô
41
Luận án thạc sĩ
tận: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... nghĩa là bao gồm mọi khía cạnh của đời sống con
ngƣời. Song ngƣời viết cần phải biết chọn vấn đề nào là "thời sự nóng bỏng" đang đƣợc
ngƣời đọc quan tâm để thể hiện. Có nhƣ thế mở thu hút đƣợc sự chú ý của đông đảo độc
giả”.
Có nhận thức đúng và kiến thức đủ để phát hiện vấn đề và diễn đạt vấn đề. Nhận
thức đúng ở đây biểu hiện ở khía cạnh: có lập trƣờng quan điểm đúng mới xác định đƣợc
vấn đề cần đƣa ra để soi xét, bình phẩm hay đả kích. Cần có kiến thúc đủ, mới phát hiện vấn
đề và diễn đạt đƣợc nó. Đòi hỏi ngƣời viết tạp văn - tiểu phẩm phải hiểu biết rộng, trên cơ
sở đó mà vận dụng hiểu biết của mình vào bài viết một cách linh hoạt đúng chỗ, hợp lý, để
bài viết thoát ra khỏi một tin, một tiểu bình, một thông báo nhạt nhẽo. Tuy nhiên, phƣơng
pháp diễn đạt vấn đề mới là yếu tố quan trọng bậc nhất, quyết định sự sống còn của một bài
tạp văn - tiểu phẩm. Để diễn đạt hay, ngƣời viết phải làm chủ đƣợc ngôn ngữ tìm đƣợc lối
viết sắc sảo, có dàn bài rõ ràng, cân đối, hợp lý; nghệ thuật dùng từ châm biếm, đả kích... và
điều quan trọng hơn cả là chỉ cần viết ngắn mà nói đƣợc vấn đề lớn có tính khái quát cao.
Ngƣời viết phải có dũng khí chiến đấu và thái độ xây dựng. Do đặc điểm của tạp văn
- tiểu phẩm là châm biếm, đả kích, thƣờng thiên về hƣớng phê phán. Vì thế, đòi hỏi ngƣời
viết phải dũng cảm lao vào vấn đề "nóng hổi" để múa bút, không ngại đấu tranh. Nếu là bài
"đánh địch", đòi hỏi ngƣời viết phải dùng ngòi bút sắc sảo của mình để thể hiện tinh thần
chiến đấu mạnh mẽ, chống lại các thế lực phản tiến bộ. Nếu là bài phê phán mặt trái, mặt
chƣa đƣợc của xã hội ta, đòi hỏi ngƣời viết phải có thái độ xây dựng. Không có dũng khí
chiến đấu và thái độ xây dựng, bài viết sẽ mất đi tính thuyết phục.
Chúng tôi đề cập đến vấn đề đặc điểm thể loại và nhân cách của ngƣời viết là để căn
cứ vào đó làm cơ sở phân tích những thành tựu xuất sắc của nhà báo Ngô Tất Tố, đồng thời
lý giải đƣợc tại sao tác phẩm của ông sống lâu trong lòng ngƣời đọc. Và "lớp hậu sinh" học
tập đƣợc những gì qua mảng tạp văn - tiểu phẩm của ông viết cách đây hơn nửa thế kỷ.
*
* *
Tạp văn của Ngô Tất Tố đã gây đƣợc sự chú ý của ngƣời đọc "không ai là không
biết đến danh tiếng của ông". Đây là mảng đƣợc ông
42
Luận án thạc sĩ
đầu tƣ rất nhiều công sức và tâm huyết, để thể hiện những điều nung nấu trong lòng. Thời
gian hơn 15 năm ấy, ông đã viết bao nhiêu bài tạp văn? Chƣa ai sƣu tầm và thống kê đầy
đủ. Hiện tại, chúng ta chỉ có hơn một trăm bài đƣợc giáo sƣ Phan Cự Đệ sƣu tầm và in lại
trong Ngô Tất Tố tuyển tập. Chỉ đọc một phần rất nhỏ ấy thôi, nhƣng cũng đủ cảm nhận
đƣợc cái tâm, hiểu rõ đƣợc thái độ và sức chiến đấu bền bỉ của nhà báo Ngô Tất Tố.
Tạp văn của Ngô Tất Tố cũng có đủ các thể: bình luận, tùy bút, điều tra, phê bình,
bút chiến...
Tạp văn không phải là thể loại mới trong văn học nƣớc ta. Trƣớc đó, vào những năm
1915 - 1916 - 1917, trên tờ Đông Dương tạp chí, cũng có đăng những bài phiếm luận ngắn,
nhƣng thời bấy giờ ngƣời ta gọi là "tạp trở". Thực ra, đấy là tạp văn, vì theo nhƣ Lỗ Tấn
định nghĩa: "Phàm là văn chƣơng, nếu phân loại thì có loại để mà quy, nếu sắp xếp theo
năm tháng thì căn cứ vào năm tháng sáng tác, bất cứ thể văn gì, các thứ gộp lại với nhau, thế
là thành "tạp”(1). Vì là thể loại ngắn gọn, dễ đọc, hợp với ngƣời xem báo, nên về sau báo nào
cũng dành ra ba cột để đăng những bài nhƣ thế, dƣới những đề mục luôn luôn thay đổi: Thời
đàm, Nhàn đàm, Hài đàm, Nói chơi, Nói hay Đừng, Trắng đen, Người ngợm, Trước vành
móng ngựa, Bùn lầy nước đọng, Guồng trần xoay máy... Phần lớn các chuyên mục này do
các nhà văn, nhà báo có trách nhiệm phụ trách nhƣ: Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Văn Vĩnh
(Đào Thị Loan), Vũ Đình Chí (Tam Lang), Thế Lữ (Lê Ta), Lê Văn Trƣơng (Cô Lý), -
Hoàng Đạo (Tứ Ly, Nhị Linh), Ngô Tất Tố (Phó Chi, Thục Điểu...). Trƣớc đây cũng có mặt
một số nhà văn cựu học nhƣ: Nguyễn Đỗ Mục, Ngô Bằng Dực... phụ trách chuyên mục này,
nhƣng về sau họ rút lui dần để nhƣờng chỗ cho các nhà văn trẻ Tây học đƣợc tiếp thu những
kinh nghiệm viết văn, viết báo của phƣơng Tây luôn thay đổi nội dung và hình thức, để cho
báo ăn khách hơn. Ngô Tất Tố thuộc lớp nhà văn cựu học, nhƣng chẳng những ông trụ lại
đƣợc với các đổng nghiệp trẻ, mà còn tỏ ra sắc sảo - thâm thúy không kém.
Nhìn chung, nội dung chính của tạp văn lúc này đều chĩa mũi nhọn vào hủ tục, lễ
giáo phong kiến, chế độ đại gia đình, những hiện tƣợng ngang trái trong đời sống thị dân,
phong trào tân thời, chợ phiên, có khi cũng đả động đến chính trị, chỉ trích một số nhân vật
trong chính giới hay trong xã hội, công kích quan lại tham ô, các ông nghị viên, dân biểu; có
khi đề cập đến chuyện nƣớc ngoài. Tạp văn của Ngô Tất Tố
(1) Trích lại trong Tuyển tập Ngô Tất Tố, tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1993, trang 24.
43
Luận án thạc sĩ
cũng xoay quanh những đề tài ấy, nhƣng cách thể hiện của ông khác họ.
Dựa vào nội dung các bài viết của những tác giả thời bấy giờ, giáo sƣ Trƣơng Chính
khái quát thành ba loại: "Có ngƣời chuyên bàn phiếm, tán nhảm, bỡn cợt, triết lý suông, đảo
lộn trắng đen, nêu ra những nghịch lý, thƣờng rơi vào chủ nghĩa hoài nghi vô chính phủ.
Có ngƣời đƣa ra những vấn đề trọng đại, nhƣng không đƣa ra một kết luận đúng đắn,
thƣờng dựa vào tƣ tƣởng cải lƣơng. Hoặc giả họ nhấn mạnh vào khía cạnh khôi hài của đối
tƣợng, nên không thỏa mãn đƣợc tâm lý bất bình, nguyện vọng phản kháng của quần chúng.
Mặc dù họ nói cũng kịch liệt, nhƣng tác dụng vẫn yếu hoặc không có tác dụng.
Chỉ trên các báo tiến bộ đƣơng thời, đặc biệt trong khoáng 1935 đến 1939 nhƣ: Tin
tức, Thời thế, Đời nay, Nhành lúa, Đời mới, Bạn dân, Dân chúng... mới có loại bài nêu các
vấn đề xã hội, chính trị theo lập trƣờng quan điểm của chúng ta ngày nay"(1).
Tạp văn của Ngô Tất Tố không thuộc hai loại đầu, gần nhƣng không hoàn toàn giống
loại thứ ba. Mặc dù ông cùng sống và cộng tác với các nhà văn tiểu tƣ sản, nhƣng ông
không nhiễm tƣ tƣởng tiểu tƣ sản. Lập trƣờng Quan điểm của ông rõ ràng, dứt khoát, không
chao đảo, ngả nghiêng. Xuất phát từ lòng yêu nƣớc, thƣơng dân, ông nhìn vấn đề, đạt vấn đề
và giải quyết vấn đề cũng trên cơ sở đó. Những gì phƣơng hại đến lợi ích của dân, của nƣớc
đều là đối tƣợng để ông tập trung đả kích, phê phán. Theo quan niệm của ông, báo chí, sách
vở phải là "cơ quan ngôn luận" nói lên tiếng nói của dân, phải là vũ khí đấu tranh vì quyền
lợi của dân tộc. Vì vậy, ông rất bất bình với những nhà báo coi nhẹ trách nhiệm ấy, phí bút
mực và thời gian để viết những bài nghiên cứu cách chơi tổ tôm, đánh cờ tƣớng, cầm trống
chầu, xem số tử vi, cách đánh phấn xoa nƣớc hoa, lựa màu quần áo... ông cũng ghét kiểu
khôi hài đem trào phúng pha vào những chuyện hệ trọng, biến chuyện hệ trọng thành
chuyện khôi hài, hoặc cố nói sai sự thật khiến cho "độc giả không thể phân biệt phải trái".
Ông công kích Trƣơng Tửu, chủ bút tờ Quốc gia tuần báo, vì đã "đem những tƣ
tƣởng chính trị quảng cáo nhà thuốc lậu để về nhà ấy mà mua tín nhiệm quốc quân", ông
không nhận những ngƣời nhƣ thế là đồng nghiệp, với lý do "ai bảo ông ấy thí nghiệm ngòi
bút với hạng ngƣời
(1) Trích lại Tuyển tập Ngô Tất Tố, NXB Văn học Hà Nội, 1993, trang 25-26.
44
Luận án thạc sĩ
ấy! Trời cho mình có cái bút, cũng nên trân trọng mới phải. Lẽ nào cái chỗ chỉ chứa thuốc
lậu mà cũng chọc nó vào đƣợc!”(1).
Ông công kích Phan Trần Chúc, đang là chủ nhiệm tờ Tân Việt Nam, và là đảng viên
đảng xã hội SFIO bỗng quay ra quảng cáo cho đế quốc. Ông cũng không tha thứ cho những
tay làm báo "cự phách" nhƣ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Quang Chiêu. Ông công
kích báo Phong hóa và Ngày nay, không phải vì tƣ thù, vì ghen ăn mà vấy bùn lên mặt đồng
nghiệp, mà chỉ vì những nhà văn "trƣởng giả" ấy cốt làm sao để báo bán chạy thì thôi, chứ
họ không quan tâm gì đến đồng bào, Tổ quốc.
(1) Một người oan một người không oan. Thời vụ, số 96, ngày 17-01-1939
45
CHƢƠNG II: NỘI DUNG TƢ TƢỞNG CỦA TẠP VĂN -
TIỂU PHẨM NGÔ TẤT TỐ
Luận án thạc sĩ
Ngô Tất Tố là một nhà báo có tƣ tƣởng tiến bộ, ông viết cho các báo xuất bản hợp
pháp, chịu sự kiểm duyệt của chính quyền thực dân, nhƣng với trí tuệ sắc sảo và nhiệt tình
chiến đấu, ngòi bút của ông luôn bám sát vào thời sự, bám sát vào cuộc sống để kịp phản
ánh những chuyện bất công ngang trái đang diễn ra hàng ngày trong xã hội. Ông đại diện
cho cuộc sống, để nói lên tiếng nói của những ngƣời bị áp bức, bị bóc lột. Ông hƣớng ngòi
bút của mình vào tất cả những đối tƣợng đã làm khuynh đảo cuộc sống bình yên của nhân
dân nhƣ: bọn tƣ sản, bọn làm giàu bất chính trên sự đau khổ của ngƣời dân; bọn quan lại
phong kiến, bọn đầu cơ chính trị ôm chân đế quốc để đƣợc sống "vinh thân phì gia"; bọn
thực dân cƣớp nƣớc cùng những chính sách cai trị tàn bạo của chúng. Ngô Tất Tố đã tập
trung phơi bày mặt bản chất đen tối, bẩn thỉu của chúng. Qua 112 bài báo đƣợc giáo sƣ Phan
Cự Đệ sƣu tầm và giới thiệu trong Ngô Tất Tố - Tác phẩm ( NXB Văn học 1977), chúng tôi
sẽ lần lƣợt làm sáng tỏ ba nội dung trên.
1. Tố cáo các thủ đoạn bóc lột của bọn tư sản làm giàu bất chính trên sự
đau khổ của người dân
Trong bài Dân vô sản với những ngày được gọi là kinh tế phục hưng, Ngô Tất Tố đã
nói khá rõ: "Từ ngày đồng phật lăng hạ giá cho đến nay, hiện tƣợng kinh tế của phái hữu sản
quả có khá hơn trƣớc. Nó khá cho mấy chủ ruộng, chủ đất đỏ, chủ mỏ than có lúa, có cao su,
có than đá mà bán. Nó khá cho những ông chủ xƣởng thợ, chủ nhà máy có tiền, chế các hóa
phẩm. Nó khá cho những ngƣời có của mà bán"(1). Thủ đoạn làm giàu của bọn họ là đầu cơ
trục lợi và bóc lột sức lao động của dân vô sản. Khi dân vô sản, chỉ có một thứ duy nhất có
thể bán đƣợc là những giọt mồ hôi, còn lại tất đểu phải mua, nhƣng "tai họa cho họ, cái giá
mồ hôi cũng không theo kịp cái giá đắt đỏ của đồ ăn dùng"(2). Vì vậy muốn có cái để ăn thợ
thuyền, phu phen phải đấu tranh với chủ hầm mỏ; nhà máy, xƣởng thợ để đòi tăng lƣơng và
giảm giờ làm "kêu bã
(1), (2). Sđd, trang 162, 163.
46
Luận án thạc sĩ
bọt mép mới đƣợc tăng 10 hay 15 phần trăm gì đó, nhƣng giá cả sinh hoạt đắt đỏ gấp ba
ngày trƣớc".
Ngô Tất Tố đã gọi bọn bóc lột, bọn đóng vãi ông chủ, phần nhiều là hạng "ăn chó
cả lông, ăn hồng cả hột", chẳng có khi nào bỗng không vô cớ lại động dại mà tăng lƣơng
cho một ngƣời nào. Muốn đƣợc họ tăng lƣơng thì phải đấu tranh, phải đình công. Hầu hết
lao động ở Đông Dƣơng đều nhờ sự đình công mà đƣợc thêm lƣơng. "Tƣởng bở, mấy
nghìn phu xe Hà Nội cũng đình công. Sau một ngày đồng lòng gác càng xe lại, bọn ngƣời
"làm thân trâu ngựa", ở đất văn vật nghìn năm, chỉ đƣợc trông thấy mấy anh bị bắt, giá xe
vẫn không hạ đƣợc xu nào"(1). Trong khi đó, các vị quan lại hiện đang tại chức, mặc cho
phong trào đình công đang sôi sục khắp xứ, các ngài đều ngồi im nhƣ bụt, chẳng những
không thèm đình công đình cán lôi thôi, mà đến nửa câu về chuyện lƣơng lậu, các ngài
cũng không hé răng nói tới. Thế mà đùng một cái, có tin quan lại đƣợc tăng lƣơng ba mƣơi
phần trăm. Thế là các ngài cứ việc ngậm miệng ăn tiền.
Bình luận về vấn đề này, Ngô Tất Tố đã so sánh một cách mỉa mai: "Phu xe đình
công mà không ăn thua chút chi, chỉ tại họ không làm thiện. Còn quan lại không hề đình
công mà đƣợc ăn thêm là bởi các ngài đã làm nhiều nhân đức..."(2).
Dân vô sản ở thành thị bị bọn chủ bóc lột sức lao động, còn dân vô sản ở nông thôn
càng thê thảm hơn nhiều, muốn bán những giọt mồ hôi để kiếm sống cũng không có chỗ để
bán. Hết mùa cấy, mùa gặt thì mùa bán mồ hôi cũng hết, phải nằm úp bụng mà cầu khẩn
mong cho có ngƣời thuê mƣớn làm một công việc gì đó... Đây chính là dịp để những nhà
cho vay, kẻ đầu cơ bóp cổ, bóp họng ngƣời dân.
Phải có cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc, Ngô Tất Tố mới nhìn thấu rõ bản chất của sự vật
niên tƣợng đang diễn ra trong đời sống xã hội. Ý nghĩa tƣ tƣởng của bài báo này, là ông đã
nêu lên đƣợc bản chất của giai cấp tƣ sản, bóc lột sức lao động của giai cấp vô sản để làm
giàu, còn giai cấp vô sản chỉ có bán những giọt mổ hôi để kiếm sống. Vì vậy, trong thời kỳ
khủng hoảng kinh tế, trƣớc chiến tranh thế giới thứ hai, "nhà tƣ sản vui vẻ đón rƣớc danh
từ kinh tế phục hƣng, dân vô sản vẫn khóc mếu về nạn lên giá đồ dùng".
Ở nông thôn, ngƣời dân quê còn bị bọn phú hào hoành hành. Trong bài Cái khí giới
của bọn phú hào dùng để bóc lột dân nghèo hay là
(1), (2): Ở hiền gặp lành, Tương lai, ngày 25-3-1937. Sđ d, trang 197, 198.
47
Luận án thạc sĩ
nạn vay lãi ở thôn quê, Ngô Tất Tố chỉ mặt bọn chúng "đều là thứ ngƣời đầu trâu mặt ngựa,
ăn thịt ngƣời không tanh. Cách cho vay của chúng cũng có nhiều lối mà toàn là lối bóp hầu,
bóp cổ, nạo tận xƣơng tủy. Đứng đâu bọn đó thì là mọt số nghị viên, hội viên, thông già, ký
già, quan lại về hƣu hay còn tại chức"(1). Ngô Tất Tố đã làm một cuộc điều tra khá tỉ mỉ về
các mánh khóe cho vay lãi của họ. Ngƣời cần tiền muốn vay của họ phải có ruộng đất, nhà
cửa làm đổ bảo đảm. Của đáng mƣời đồng, họ chỉ cho vay hai, ba đồng, nhƣng phải viết
giấy bán đứt. Đến hạn không trả nổi, họ cứ dịch sổ mà nhận lấy của bảo đảm, không phải
kiện cáo gì lôi thôi. Tiền lãi thì nhẹ là tám phân, nặng là mƣời phân hay mƣời lăm phân.
Trong khi mắc nợ họ, còn phải chịu tốn kém với họ nhiều thứ nữa... Nói chung họ giở đủ
mọi mánh khoe để bóc lột dân nghèo. Ngƣời nghèo ăn của họ một miếng phải trả đến mƣời
miếng vẫn chƣa hết nợ.
Về sau, bọn chủ nợ viện lẽ nhà nƣớc cấm cho vay, nên họ không dùng tiền để đặt lãi
nữa, mà xoay ra mua rẻ sản nghiệp của kẻ cần tiền. Tình cảnh này đã làm cho ngƣời dân quê
càng khốn đốn hơn nữa. Đọc lại bài Trừ nạn cho vay nặng lãi, lại xảy ra nạn bán rẻ, bạn
đọc ngày nay không khỏi rùng mình về những thủ đoạn của bọn chủ nợ dùng để bóc lột dân
nghèo. Ruộng đất đã bán hết cho chúng rồi, ngƣời dân quê muốn kiếm đƣợc cái ăn tìm đầu
tới chủ ruộng làm giấy xin lĩnh canh. Làm quần quật suốt năm, đến mùa không đủ thóc để
đong cho chủ, lấy gì mà ăn. Muốn có ăn đành phải vay nữa. "Muốn tránh cái tội lửa đảo,
chủ ruộng bắt làm giấy gán ngƣời, ngƣời đàn ông mạnh khỏe cày bừa đƣợc thì mƣời hai
đồng một năm, ngƣời đàn bà cấy hái đƣợc thì tám đồng, trẻ con từ 15 tuổi trở lên bốn đồng,
ở làm trừ khi hết nợ trái chủ xé văn tự cho về; bỏ trốn đi thì cái tội lừa đảo kia còn ở trong
tay chủ nợ"(2).
Ngô Tất Tố còn viết một thiên phóng sự khá linh hoạt về thủ đoạn làm giàu của bọn
tƣ sản "tấy" lên bằng nghề lang băm. "Họ chỉ cần có ngƣời ốm để bán thuốc chứ họ không
cần chữa bệnh, trái lại họ lại có tài làm cho bệnh lớn ra. Ai uống thuốc của họ mà khỏi chỉ là
sự ngẫu nhiên. Thế nhƣng làm sao họ vẫn sống, sống một cách phát đạt? Trong lúc kinh tế
khủng hoảng này, buôn bán nghề gì cũng bị thua lỗ, duy có những kẻ mở hàng thuốc thì đều
"tấy" cả, "tấy" một cách không ai ngờ. Một kẻ kiết xác đóng vai ông lang trong vài năm đã
thấy họ có tiền mua nhà mua đất, tậu ô tô, dấn vốn có hàng nghìn hàng vạn. Thì ra họ dùng
toàn ngón "bịp" bịp bằng quảng cáo một cách vô liêm sỉ, bịp bằng cửa hàng đồ sộ, bịp bằng
lọ thuốc, hộp thuốc chế theo kiểu Tây, bịp bằng lời
(1) Sđd, trang 183.
(2) Sđd, trang 280.
48
Luận án thạc sĩ
nói khôn khéo quyến rũ ngƣời bệnh. Mỗi lần họ bịp, ấy là mỗi mạng ngƣời chết. Chung
quanh lƣỡi dao cầu, bánh xe thuyền tán của họ, "đống xƣơng vô tội đã cao bằng đầu"(1).
Những ông lang này đều có chung một xuất xứ là từ "ông lang thang đã nhảy lên địa vị ông
lang băm" và cùng có chung một phƣơng châm hành động là "mỗi ngƣời bị lừa một lần thì
tôi sẽ thành một nhà triệu phú". Chúng đã làm giàu một cách vô lƣơng tâm, coi rẻ tính mạng
của con ngƣời, nên Ngố Tất Tố gọi chúng là bọn "thánh sƣ nghề bịp... tâm địa họ ác hơn
những giống ăn thịt ngƣời".
Nghề bịp của bọn lang băm còn đƣợc Ngô Tất Tố đề cập đến trong bài Cụ lang bần.
Cụ xuất thân từ một nhân viên phát vé tàu điện, tình cờ nhặt đƣợc một quyển sách rơi trên
sàn tàu, rồi đem về nhờ một ông đồ đọc cho thì mới biết đó là sách thuốc. Từ đây cụ bèn
thuê ông đồ mấy đồng để phiên dịch sách ấy ra chữ quốc ngữ. Biết đƣợc chút ít tên thuốc,
cụ làm thử mấy món cho vợ bán. "Chẳng ngờ làm bỡn mà ăn thật, khách tới lấy thuốc mỗi
ngày một đông, biết là một nghề có thể kiếm ăn đƣợc, cụ bèn quăng trả "sà cột" cho nhà
máy điện mà về. Nuôi một ông đồ cho làm gia sƣ để làm cố vấn trong việc biên đơn bốc
thuốc, sắm cả dao cầu thuyền tán, nghiễm nhiên làm một ông lang chính thức. Môn thuốc
của cụ đã hay, mà cái môn nói khoác lại ghê gớm hơn nữa!(2).
Ngô Tất Tố đã đƣa ra một lời nhận xét khá lý thú: Chốn thôn quê không phải là nơi
bùn lầy nƣớc đọng đáng ghê tởm nhƣ ngƣời ta thƣờng nghĩ, trái lại nó là miếng mồi thơm
của loài cá mập, là cái hố bạc cho kẻ tham lam, nên bọn làm tiền đổ xô về đây để kiếm chác.
Từ thầy lang đến thầy địa. Lợi dụng sự mê tín của dân quê để kiếm ăn. Thực ra họ cũng chỉ
là những kẻ lƣờng gạt mà thôi. Ngô Tất Tố đã viết: "Hồi này về kinh tế khó khăn, ở các thôn
quê lại đẻ ra rất nhiều thầy địa. Bọn đó là một hạng ngƣời vô nghề nghiệp, họ chỉ có một cái
la kinh làm vốn để lân la hết hàng này đến hàng khác, hết nhà này đến nhà kia mục đích
kiếm vài bữa cơm, hoặc năm ba đồng bạc"(3).
Nhƣng vẫn chƣa hết! Còn một bọn ngƣời nữa. Họ lạm dụng thế quan trên để ép dân
mua báo (tất nhiên là những loại báo có lợi cho chính phủ), hay mạo nhận là ngƣời của
chính phủ phái đi chụp hình cho dân dán vào thẻ thuế thân... Ngô Tất Tố còn phát hiện ra,
họ làm đủ trò để kiếm lợi nhƣ việc: "thầu khắc triện cho tổng lý chức dịch, làm mực dấu,
hộp dấu, in sổ sách cải lƣơng, giấy sắc bách thần, thầu từ cái ống để đựng sổ, mảnh ván để
vẽ, cái thƣớc để đo. Ngoài những món thầu chính thức, lại còn biết bao nhiêu nhà doanh
nghiệp, khách văn chƣơng,
(1) Dao cầu thuyền tán, Công dân, ngày 20-1-1935. Sđd, trang 135.
(2) Sđ d, trang 210-211.
(3) Họ lại kiếm ăn vào nắm xương khô, Thời vụ số 36, ngày 14-6-1938. Sđd, trang 279
49
Luận án thạc sĩ
nhà chính trị, nhòm ngó vào túi chúng tôi để hòng vơ vét. Những tác phẩm, hóa phẩm, một
vài thứ điền khí, quyển tiểu thuyết dịch, bài ca cải lƣơng, bài chửi cách mệnh, bài khuyên
dân nên trung thành, dồn dập hiện lên nhƣ nấm"(1). Nhƣ thế có nghĩa là ngƣời dân đinh điền,
ngoài số sƣu thuế của nhà nƣớc, còn phải gánh vác trên lƣng những khoản "tạp tiêu" nặng
trĩu. Vì vậy, ngƣời dân mới nghiệm ra rằng, gặp năm mất mùa đói khát thì lại thấy yên thân
hơn năm no đủ đƣợc mùa. Vì một khi đói khát thì số "ân nhân" đem "cấp hàng văn minh"
cho dân quê lại đi vùng khác, những tay thầy kiện, thầy cò cũng ít thấy tới phù nguy cứu
nạn.
Ngô Tất Tố luôn luôn đứng về phía những ngƣời vô sản, những ngƣời bị bóc lột, để
tố cáo những thủ đoạn làm giàu bất chính của bọn tƣ sản, bọn bóc lột, đồng thời ông cũng
nói lên những nỗi thống khổ của dân. Ông sống với những nỗi đau của dân và viết là để
bênh vực quyền lợi của các tầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ. Ông tố cáo với viên
"Lao công đại sứ" Gô-đa về tình cảnh đói khát đến tuyệt vọng của nông dân, công nhân vì
bị bóc lột, vì thiên tai, vì thất nghiệp, ở nông thôn những ngƣời dân cày sống về cây lúa thì
bất kỳ ngày đêm, lúc nào cũng đầu tắt mặt tối nhƣng lúc nào cũng đói cơm rách áo. Ông
khẳng định nguyên nhân của sự thống khổ này là do sƣu cao thuế nặng, quan lại đè nén,
công xá rẻ rúng, ngoài ra còn cái nạn vay lãi cũng chính là thủ phạm góp phần giày vò hạng
ngƣời vô sản ở nông thôn.
Bây giờ đọc lại những trang viết của Ngô Tất Tố về những thảm trạng ở nông thôn,
bạn đọc phụ nữ không khỏi rùng mình khi thấy chị em nông dân ngày xƣa nhƣ bị giam
trong địa ngục, con ngƣời bị chà đạp không còn một tí quyền sống. Ngay cả lúc sinh nở
cũng không đƣợc yên thân, mà còn bị bọn quan làng làm khó dễ: "Gô cổ mẹ nó ra gốc đa
kia cho ông ! Hừ ! Sinh dữ tử lành, chúng bây còn không biết à? Trời đất dân làng đang yên
lành thế này, chúng bây dám rƣớc vạ làng ông chăng? Năm xƣa đã thằng cu Ốc đem vợ đẻ
về làng, rồi trong làng dịch lệ tứ tung, tiễn tống khốn khổ, chúng bây còn không nhớ à? Dù
phép vua còn phải thua lệ làng, chúng bay làm trái lệ làng, thì chúng bay còn hòng ở làng
nữa hay không? Chúng bay tƣởng ông không trừng trị nổi chúng bay à? Tuần đâu rong lên,
co cổ con mẹ ấy ra ngoài kia, chỗ dây máu kia thì lấy nắm rác đốt lên rồi rẫy cho sạch đất
đổ xa đi, còn thằng Tít thì trói nó vào cái điếm kia, mai ông sẽ liệu !...”(2). Ngƣời sống đã
vậy ngƣời chết họ cũng chẳng buông tha. Cái xác chết của một kẻ khốn cùng lập tức trở
thành cái cớ để cho họ kiếm ăn. Họ nhẫn tâm làm điều vô đạo ấy một cách thản nhiên ( H ọ
vẫn ăn vào cái xác chết, Thời vụ số
(1) Thế ra họ vẫn săn sóc đến chúng tôi, Thời vụ số 92, ngày 3.1.1939. Sđd, trang 383
(2) Một cái thảm trạng, Thời vụ số 3, ngày 15.2.1938. Sđd, trang 214, 215.
50
Luận án thạc sĩ
29, ra ngày 20-5-1938). Những tấn bi kịch ngắn về đời sống của dân quê Bắc Kỳ trong
những năm lụt lội, mất mùa, đói kém đƣợc Ngô Tất Tố phản ánh khá sinh động trong những
trang phóng sự Làm no hay cái ăn trong những ngày nước ngập. Ngƣời ta ăn bất cứ vật gì
có thể ăn đƣợc để sống, kể cả đất. "Bác dúng cả khăn lẫn đất xuống nƣớc cho ƣớt, rồi đặt lên
chõng, căng thẳng chiếc khăn vuông, phết một lần đất lên thật mỏng đoạn đặt vào mê rổ, lại
chui vào nhà thổi lửa nƣớng. Chỉ trong chớp mắt, bác đã bƣng ra, trông trong mê rổ đã thấy
một lƣợt đất khô cong, lũ con bác kéo nhau ra xúm xít xung quang rổ. Bác mời tôi nếm thử
món bánh đa bác mới chế, tôi ngẩn ngƣời chƣa hiểu bác nói thật hay bỡn, thì bác tách ra một
miếng bỏ vào miệng, nhai dòn khau kháu, lũ con bác cũng xô nhau bẻ lấy mà ăn một cách
ngon lành. Bác bảo: Đấy là thứ quà vặt của các cháu, nếu ông muốn biết thứ ăn thay cơm
của nhà cháu thì cháu xin đƣa ra để ông xem... Cũng đất đấy! Ngƣời ta bảo chết thì ăn đất,
nhƣng chính nhà cháu sống về đất đấy ông ạ! Món này là một thứ cơm nắm của nhà cháu,
làm công trình hơn một tí. Mới đầu là lấy đất trắng về, vật đi vật lại nhƣ ta nặn đầu rau, rồi
thái từng miếng mỏng nhƣ ta thái bánh đấy, đặt vào mủng mẹt đem phơi khô. Khi dùng nó
thì phải có nõn sắn lót thật dầy dƣới đáy nồi, rồi mỗi lƣợt đất lại mỗi lƣợt cá tép, rồi cho vài
duộc tƣơng. Bắc lên đun thì tra thêm tí nƣớc cho khỏi khê, cứ nhỏ lửa đun mãi cho tƣơng
cạn cá chín, những cái béo của tƣơng, của cá ngấm vào đất sét đỏ nhƣ món hồng tầu, thế là
đƣợc"(1). Thật không còn cảnh tƣợng nào khổ cho bằng. Đời sống của dân thì ngày càng lẩm
than cơ cực, còn bọn bóc lột thì phất lên trên sự bần cùng của ngƣời lao động, nên chúng
phè phỡn reo hò: "Kinh tế phục hƣng!".
Ngô Tất Tố không chỉ tố cáo bằng cách phản ánh sự việc một cách đơn thuần, mà
ông còn nghiêm khắc lên án những kẻ đã gây ra tình trạng thảm thƣơng ấy. Trong nhiều bài
ông nói, dân đói, rơm khô không phải chỉ vì hạn hán, lụt lội, hoàng trùng, mất mùa mà ông
cho rằng: "Nạn đói một phần là tại mấy ông chủ ruộng. Giả sử ngày thƣờng các ông ấy
không bòn rút bọn kia một cách thái thậm thì dù có gặp một năm mất mùa, may ra họ cũng
không đến nỗi đói... Không những thế! Những năm đƣợc mùa, ngƣời ta đã nạo xƣơng họ,
hút tủy họ, chỉ để họ sống đủ một đời ngắn ngủi, rồi khi đói khổ, ngƣời ta khƣ khƣ khóa chặt
lẫm lúa, không chịu vung ra một hạt. Nào ai cãi lại câu nói đó để tôi xin mời hai ông Hứa
Quang Chiểu và Trƣơng Quảng Thành làm chứng. Bằng một thứ giấy bạc đặc biệt, ông
Chiểu đã cho tá điền vay nợ với kiểu "một vốn tám chín mƣời lời". Và trƣớc cái cảnh nheo
nhóc của hàng nghìn dân đói, ông Thành vẫn chất lẫm một vạn ba nghìn giạ lúa để cho
(1) Sđd, trang 243, 244.
51
Luận án thạc sĩ
mọt ăn... Thế là ngƣời ta chế tạo ra lũ dân đói để bắt họ phải đến nhà mình mà cƣớp chứ
gì?"(1).
Trong bài Bắc Ninh cầu cứu ông qui tội vào quan cai trị ngƣời Pháp, cụ thể là sở Lục
lộ. Ông viết: "Đời họ chỉ sống bằng nghề làm ruộng. Vậy mà hai năm bị hai trận lụt nƣớc
sông, lại kèm một trận "tiêu khô cháy đồng" ở giữa, nhƣ thế đến cỏ cũng chết đừng nói
ngƣời. Ai đáng phải chịu trách nhiệm với họ trong những tại nạn thảm khốc ấy?
Ngày xƣa thì đổ cho trời. Nhƣng bây giờ... ít nhất cũng phải truy vào sở Lục lộ Bắc
Ninh. Hàng năm, họ phải nuôi sở Lục lộ bao nhiêu thuế bách phân và các thuế khác, chỉ nhờ
sở ấy trông nom đê điều cầu cống của mình. Vậy mà ngƣời ta cứ để cho họ luôn luôn phải
lụt, phải hạn hán, rồi phải chết đói. Kể cũng nhẫn tâm. Giả sử ở đời mà có công lý và nhân
đạo tất nhiên họ sẽ đƣợc bồi thƣờng xứng đáng với sự thiệt hại"(2).
Nói về nỗi khổ của ngƣời dân, Ngô Tất Tố kết luận rằng: nếu chỉ phản ánh, tố cáo,
buộc tội, lên án, dùng cơ quan ngôn luận để gây dƣ luận thì không đủ và không đi đến đâu
cả, khi mà quyền lực còn nằm trong tay kẻ thống trị, kẻ bóc lột. Vì vậy, ông đã để ra hai giải
pháp:
Một là đối với giai cấp thống trị, thì phải dùng sức mạnh để đấu tranh bằng biểu tình
để làm cho chúng nhụt nhuệ khí. Bởi vì "Lòng tham là thiên tính của con ngƣời, cũng nhƣ
sự dữ tợn là thiên tính của giống hùm beo sƣ tử. Cái lòng tham ấy nó bành trƣớng đƣợc ở
trong quan trƣờng, chẳng qua là dân đã xử với quan nhã quá. Giả sử dân nào cũng nhƣ dân
hạt Yên Định, gặp một việc gì ám muội, không thèm kiện cáo lôi thôi, cứ việc rủ nhau thật
đông, đến tận cửa quan mà hỏi thì lần sau dẫu có đem tiền nấu súp mà đổ vào miệng các ông
ấy cũng không dám ăn"(3).
Hai là đối với địa chủ, thì "cứ kéo nhau đến nhà chúng mà vay, không đợi chủ nợ
ƣng ý, kéo ùa vào mà xúc lúa"(4).
Tất nhiên, có phong trào dân chủ, có những cuộc biểu tình ở Thanh Hóa, những vụ
"cƣớp lúa" ở Nam Kỳ, và báo chí không bị kiểm duyệt, nên Ngô Tất Tố mới viết đƣợc
những bái báo ấy. Thời bấy giờ, trừ báo chí cách mạng, còn các tờ báo, mà chủ bút là một
nhà văn “trƣởng giả" chủ báo là một nhà tƣ sản có đồn điền, nhất định họ không đăng.
(1) Thế thì nhà báo là ông trời, Thời vụ ngày 15-10-1938. Sđd, trang 319.
(2) Sđd, trang 255,
(3) Sđd, trang 236-237.
(4) Sđd, trang 318.
52
Luận án thạc sĩ
Tạp văn của Ngô Tất Tố là bộ biên niên sử về xã hội Việt Nam những năm trƣớc
1930 đến chiến tranh thế giới thứ hai. Trong khi một số bạn "làng nho" của mình "mặc cho
con tạo xoay vần về đâu" thì nhà nho yêu nƣớc thƣơng dân Ngô Tất Tố luôn luôn quan tâm
đến thời cuộc, băn khoăn lo lắng cho vận mệnh của dân tộc, lắng nghe những khát vọng tha
thiết của quần chúng, nhất là những ngƣời nông dân nghèo khổ ỏ nông thôn. Với khả năng
nắm bắt nhạy bén tình hình chính trị, phân tích những vấn đề bản chất của sự kiện, ít khi bị
chi phối bởi những hiện tƣợng ngẫu nhiên đan xen nhau rối rắm trên bề mặt của cuộc sống,
ông không bị lừa trƣớc những lời lẽ phỉnh phờ mị dân của giai cấp thống trị. Trong mọi vấn
đề thời sự, Ngô Tất Tố đều có ý kiến độc lập và suy nghĩ độc đáo của riêng mình. Bằng
nghệ thuật viết tạp văn sắc sảo, Ngô Tất Tố đã ghi lại những sự kiện quan trọng trong nƣớc
thời kỳ đó: Phong trào Đông Dƣơng đại hội, với những cuộc biểu tình rầm rộ của quần
chúng đón "Lao công đại sứ" Gô- đa ở các thành phố khắp Bắc Kỳ; phong trào Mặt trận Dân
chủ với những cuộc đấu tranh của báo giới đòi tự do ngôn luận, tự do hội họp. Những cuộc
đình công khổng lổ "của lao động Đông Dƣơng" từ "phu phen thợ thuyền" cho đến mấy
nghìn phu xe Hà Nội để đòi tăng lƣơng, những cuộc biểu tình của nông dân Thanh Hóa và
những cuộc nổi dậy phá kho thóc địa chủ của hàng ngàn nông dân Bạc Liêu, Rạch Giá...
Tạp văn của Ngô Tất Tố còn là một bức tranh toàn cảnh sinh động về nông thôn và
nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc. Ngô Tất Tố viết nhiều bài phản ánh những nỗi thống
khổ của dân và tìm mọi cách để bênh vực họ, đồng thời ông cũng vạch trần bộ mặt thật của
những tên chuyên hút máu dân nghèo, những tên giết ngƣời đê tiện, những tên vô liêm sỉ
chuyên lừa phỉnh quần chúng bằng những lời lẽ mị dân giả dối. Ngô Tất Tố luôn luôn đứng
ở tƣ thế chiến đấu và ngòi bút của ông lúc nào cũng sẵn sàng tấn công vào kẻ thù, tố cáo
chúng trƣớc dƣ luận để thức tỉnh quần chúng. Ông luôn luôn đứng trên quyền lợi của dân
tộc, của quần chúng bị áp bức, luôn luôn xuất phát từ tấm lòng yêu nƣớc thƣơng dân mà
sáng tác. Có thể nói trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Ngô Tất Tố là ngƣời bạn đƣờng đáng
tin cậy của giai cấp công nhân và nông dân Việt Nam. Ngô Tất Tố xứng đáng đƣợc đánh giá
cao và là một trong những nhà báo, nhà văn tiến bộ nhất của thời kỳ này.
53
Luận án thạc sĩ
2. Lên án bọn quan lại phong kiến, bọn đầu cơ chính trị
Quan lại phong kiến và bọn đầu cơ chính trị là một trong những đối tƣợng chính để
Ngô Tất Tố tập trung đả kích. Trong thời kỳ 1930 -1936, khi chế độ kiểm duyệt của thực
dân Pháp còn hết sức gắt gao, ông không thể động đến những tên trùm thực dân, nhƣng ông
nào có kiêng nể những tên quan lại tay sai nhƣ: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Quang
Chiêu, Phạm Huy Lục, Nguyễn Năng Quốc, Hoàng Trọng Phu... ông viết nhiều bài đả kích,
tên tuổi và việc làm của họ đƣợc ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần với một giọng chua cay,
hoặc với một nụ cƣời khinh bỉ.
Trong hai năm 1930 - 1931, Ngô Tất Tố viết 17 bài, thì có tới 7 bài nói về Phạm
Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh, tập trung nhất vào Phạm Quỳnh với mọi khía cạnh thối tha, bỉ
ổi của hắn. Ngô Tất Tố đã gọi Phạm Quỳnh là "bạc tình lang" vì nhờ tập báo Nam Phong,
"nó thổi ông lên vù vù...", nhƣng ông ta chẳng ỏ ê gì đến ả mà ôm ái tình đi sang con đƣờng
chính trị, để cho ả sống dở chết dở, thoi thóp ngoắc ngoải, hai tháng ra một số, ba tháng ra
một số"(1).
Phạm Quỳnh cho tờ Nam Phong tắt nghỉ, để thảo ra hiến pháp cho Trung Bắc kỳ.
Mặc dù ông ta rêu rao rằng mình không phải là nhà chính trị, nhƣng "giấu đầu hở đuôi",
việc làm của ông ta đã bị Ngô Tất Tố vạch trần: "tiên sinh Thƣợng Chi vẫn tuyên bố không
phải là nhà chính trị mà lại nhè dịp sắp có việc cải cách, xƣớng ra vấn đế hiến pháp là vấn
đề chính trị to nhƣ trời, vả lại hiến pháp không phải là hiến pháp trơn, hiến pháp có đèo
thêm việc giáo dục, mà giáo dục không phải ra giáo dục trơn, giáo dục lại nối vào cái đuôi
bảo tồn chữ quốc ngữ để phá ngầm việc sửa đổi chữ quốc ngữ của ông Vĩnh"(2).
Vấn đề bảo tồn chữ quốc ngữ ở đây là bảo tồn cái vốn có của dân tộc là truyện Kiều.
Theo Phạm Quỳnh "văn chƣơng của mình có độc một quyển! Vừa là kinh! Vừa là truyện!
Vừa là thánh thƣ phúc âm của một dân tộc! Nếu lại mất nốt, thì cái tình cảnh dân tộc ta sẽ ra
thế nào?". Vì vậy Ngô Tất Tố đã mỉa mai:
"Ấy đó cứ ý quan Hƣờng Phạm thì truyện Kiều có quan hệ với vận mệnh của dân tộc
Việt Nam là thế, nếu hiến pháp của ngài đắc dụng, ngài đƣợc dự quyền trong bộ lập pháp,
có lẽ ngài lại nỡ bỏ thánh thƣ
(1) Ông Phạm Quỳnh là bạc tình lang. Phổ thông số 65, ngày 17-9-1930, Sđd trang 92.
(2) Ông Thông Reo dám tiết lộ việc bí mật của ông Quỳnh. Phổ thông số 84, ngày 10-10-1930. Sđd trang 100.
54
Luận án thạc sĩ
phúc âm mà chẳng ghi vào trong hiến pháp hay sao?"(1).
Ở một bài báo khác, Ngô Tất Tố đã kể ra một câu dài chức tƣớc của Phạm Quỳnh,
để rồi bình luận: "Ở đời chỉ có cu cậu phƣờng chèo là một mình có thể đồng thời làm đƣợc
nhiều việc trái nhau, vừa phƣờng kèn, vừa phƣờng trống, vừa tế viên đông tán, vừa là tế
viên tây tán... Còn Phạm Phu Tử là nhà học giả, dù có tài "theo gió bỏ buồm", cũng không
thể một mình làm nên bấy nhiêu chức tƣớc trên kia..."(2). Ngô Tất Tố nói ra điều này, để đi
đến một vấn đề khác là trong hiến pháp của ông Quỳnh có nhiều chỗ mâu thuẫn nhau "chỉ
thấy câu nọ cãi lộn với câu kia, chẳng biết gọi là ai cãi ai, nên phải gọi tạm là tiên sinh Phạm
Quỳnh cãi lộn với ông Phạm Thƣợng Chi" (3).
Để lừa bịp quần chúng, thực dân Pháp giật dây Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi
Quang Chiêu làm ầm lên quanh chủ trƣơng "trực trị", "bảo hộ", "lập hiến"... Cả ba ông thi
nhau đƣa ra hiến pháp "hiến pháp của họ Bùi chủ trƣơng chỉ có hai bộ chủ động: Chính phủ
bảo hộ và nhân dân Việt Nam... Ông Phạm Quỳnh khi thảo hiến pháp cho nƣớc Nam cũng
theo mẫu của ông Bùi mà thêm vào hoàng đế Bảo Đại làm một cạnh nữa, thành ra "hiến
pháp chân vạc"...Tuy đi theo bƣớc đƣờng lập đảng của cụ Bùi, nhƣng ông Vĩnh xoay về mặt
quốc dân, lấy quốc dân làm tên đảng, chỉ thêm vào hai chữ đại biểu cho ngƣời ta khỏi ngờ là
đảng của hội kín Việt Nam"(4). Mục đích của họ là đuổi nhau để tranh giành quyền lợi và địa
vị do chính phủ thực dân ban cho. Những việc làm thô bỉ của họ đã bị Ngô Tất Tố vạch mặt,
họ bày ra các trò đó cốt là để đƣợc "vinh thân phì gia" mà thôi, chẳng can hệ gì đến lợi ích
của dân tộc cả.
Đến lƣợt hai ông Quỳnh, Vĩnh "hai ông dân biểu này từ khi sắp bầu nghị trƣởng mà
đi, thƣờng thƣờng có sự xích mích với nhau, rồi đến khi bàn chuyện cải cách, mỗi ông giữ
một ý"(5), lại tổ chức bút chiến với nhau dữ dội trên báo, đến nổi tờ Ami du peuple (Bạn dân)
mô tả việc bất bình giữa hai ông Vĩnh và ông Quỳnh, thông qua các hình hai nhà văn sĩ đánh
bốc với nhau. Nhƣng Ngô Tất Tố thì bình tĩnh hơn, ông đã bẻ lại: "Ông Vĩnh và ông Quỳnh
là bực khôn trẻ nỏ ra khi nào lại chơi kiểu dại dột ấy. Cứ ý mình tƣởng thì hai ông Vĩnh,
Quỳnh hồi này cũng có đánh chác nhƣng không phải đánh bốc, các ông ấy đánh bài Tây
đấy”(6). Thực ra hai ông Quỳnh và Vĩnh là ngƣời "cùng hội cùng thuyền" với nhau. Việc bút
chiến trên báo, chẳng qua là để lừa bịp quần chúng, cũng giống nhƣ ngƣời ta đánh bài tây
ngoài đầu phố Hàng Ngang hay ở những
(1) Truyện Kiều sẽ ghi vào hiến pháp có ngày, Sđd, trang 106
(2), (3) Tiên sinh Phạm Quỳnh cãi lộn với ông Thượng Chi, Sđd, trang 108.
(4) Sau lưng Bùi Quang Chiêu hai ông Quỳnh Vĩnh đuổi nhau sồng sộc, Sđd trang 98.
(5), (6) Không phải đánh bốc, đánh bài Tây đấy, Sđd, trang 127 - 128.
55
Luận án thạc sĩ
nơi đình đám hội hè, mà trong bài báo tác giả có đề cập đến. Trƣớc mặt mọi ngƣời thì họ sát
phạt nhau y nhƣ thật, còn trong thâm tâm thì hai ngƣời là một. Họ làm điều đó cốt là để lấy
lòng Chính phủ mà thôi.
Trong nhiều bài viết đăng trên báo Phổ thông, năm 1930 - 1931, Ngô Tất Tố đoán
chắc thế nào Phạm Quỳnh cũng từ làng báo mà nhảy sang làng quan. Đúng thế thật, khi Bảo
Đại về nƣớc (1932), lập Nội các mới đã cho mời Phạm Quỳnh vào làm Thƣợng thƣ bộ Học,
rồi trong nháy mắt nhảy lên làm Thƣợng thƣ bộ Lại. Vì chính phủ Nam triều không đặt ra
bộ Lập pháp, chớ nếu có thì thế nào Phạm tiên sinh cũng đƣợc cử làm Tổng trƣởng. Rõ ràng
những việc làm "hăng hái" của Phạm Quỳnh nhƣ thảo ra hiến pháp, đề ra kế hoạch "quốc
gia giáo dục" đuổi nhau với Bùi Quang Chiêu, bút chiến với ông Vĩnh... đều nhắm đến mục
đích cuối cùng là đƣợc làm quan. Còn cụ Bùi đƣợc làm đại biểu Nam Kỳ ở Thƣợng hội
đồng thuộc địa Pháp, và làm chủ mấy nghìn mẫu ruộng ở Đồng Tháp Mƣời. Nhƣ thế cụ
cũng chƣa hài lòng, hết nhiệm kỳ ở hội đồng quản hạt, cụ không dám đầu đơn ứng cử vì biết
rằng chẳng có con ma nào nó bầu cho mình, nên cụ định xin vào đảng xã hội cấp tiến,
nhƣng hầu hết những ngƣời trong đảng đều tỏ ý không bằng lòng cho cụ vào phe với mình.
Nhân chuyện này, Ngô Tất Tố đã dành cho cụ những lời lẽ khinh bỉ: "Nếu nhƣ cụ Bùi mà
giỏi nghề đánh bạc, thì trong đời chính trị, tất nhiên cụ biết ăn non. Muốn ăn non về danh,
cụ chết quách ngay khi đƣơng đƣợc quốc dân hoan nghênh, thì cái danh của cụ có khi còn to
hơn Nguyễn Huệ hay Trần Hƣng Đạo. Dịp ăn non về danh đã lỡ, bây giờ cụ cũng có cái ăn
non về lợi. Cái số ruộng đất tiền bạc nhờ công làm chính trị trong bấy nhiêu năm mà có,
tƣởng cũng đủ nuôi cái đầu bạc phơ kia rồi. Bây giờ cụ cứ khểnh cẳng nằm nhà, hôn hít một
lũ cháu chắt, mặc kệ điều ra tiếng vào, nhƣ thế tƣởng cũng không thiệt thòi gì. Vậy mà
không thế, cụ thấy dân An- nam không ƣa mình, lại muốn đem cái đầu bạc vào đảng cấp
tiến xã hội của Tây để hòng hoạt động trên đƣờng chính trị một lần nữa, thật là cụ không
biết cơ"(1).
Nhân vật thứ tƣ đƣợc Ngô Tất Tố "quan tâm" đến là ông Phạm Huy Lục. Ngô Tất Tố
đã nhiều lần đƣa ông ta lên báo, kèm theo những lời mỉa mai cay độc. Khi ông Lục đƣợc
bầu làm Viện trƣởng viện Dân biểu Bắc kỳ, Ngô Tất Tố đã đặt câu hỏi: Vì cớ gì mà họ bầu
ông Lục? và ông đã trả lời: Không phải vì ông Lục có học hay do dân bầu ra. mà vì trƣớc
khi bầu ông Lục đã đƣa các ông kia đi ăn nhậu để lấy lòng. Ngô Tất Tố viết: "Các ông dân
biểu của ta, từ hôm 23 Septembre, sau khi họp mặt ở hiệu trà của bọn ông Nguyễn Hữu Cự,
thì có trên sáu chục
(1) Nước bạc cuối cùng của cụ Bùi Quang Chiêu, Sđ d, trang 473-474.
56
Luận án thạc sĩ
ông bị phe của ông Lục kéo xuống Khâm Thiên, luôn trong hai ngày, đƣợc uống, đƣợc ăn,
đã say lại no, cái ơn "trời" của ông Lục đối với các ông Dân biểu lớn lắm chứ. Ăn cây nào
rào cây ấy, các ông ấy bầu cho ông Lục thật là kính "trời" sợ "trời"(1). Vì ở sách Hán Đổng
Trọng Thƣ có chép rằng: "Dân lấy sự ăn làm trời", tính mệnh của dân quan hệ ở sự ăn, ông
trời ở đây là trời "cơm riêu".
Từ chuyện một đám cháy ở làng Xuyên Phả (Thanh Hóa), không tìm ra đƣợc nguyên
nhân, ngƣời ta ngờ rằng có kẻ phản ác đã ném một đạo bùa xuống giếng, cho nên làng phải
nhƣ thế. Dân làng tìm ngƣời có pháp thuật cao tay để trừ ác. Và Ngô Tất Tố đã giới thiệu
ông Phạm Huy Lục, viện trƣởng Viện dân biểu Bắc kỳ: "Bạn đọc chắc chắn cũng nhớ rằng:
ông Lục đã hiến trái tim cho dân, mà vẫn khỏe nhƣ thƣờng, chẳng có pháp thuật cao cƣờng
thì đâu đƣợc thế. Huống chi trong mấy khoa liền, khoa nào ông ấy cũng giữ chiếc ghế nghị
trƣởng không ai tranh nổi. Ông ấy không phải bênh vực quyền lợi cho dân mà cứ làm phó
hội trƣởng hội nhân quyền, ông ấy không phải học thuốc ngày nào mà nghiễm nhiên làm
một yếu nhân trong hội thầy thuốc, nghe nói ông dân biểu kiêm thầy bùa ở Hà Đông đã chịu
tài, đủ tỏ ông Lục là một nhà phù thủy cao tay"(2).
Ở một bài báo khác, Ngô Tất Tố cho biết ngoài nghề "dân biểu" ông Lục chẳng biết
nghề gì khác: "Đáng lẽ ông Lục cũng không muốn ra ứng cử khoa này, nhƣng nếu không
làm dân biểu thì ông ấy sẽ thành ra vô nghề nghiệp, vì ngoài nghề "dân biểu" ông Lục
không biết một nghề nào khác, sợ hoặc có ngày bị ghép vào tội du đãng, cho nên ông ấy
ngậm cay nuốt đắng cố theo đuổi với cuộc bầu cử năm nay"(3).
Ông viện trƣởng của Viện dân biểu Bắc Kỳ là thế, còn các nhân viên của viện là
hạng ngƣời nào? Chúng ta hãy nghe Ngô Tất Tố kể: "Một phần lớn là những ông tóc điểm
hoa râm, trên đầu nặng trĩu khối óc cổ hủ. Một phần lớn hơn nữa là những ông xuất thân
trong ngạch "đầu cháy"... coi làm nghị viên cũng nhƣ làm lý trƣởng, làm chánh tổng hay
mua bá hộ vậy. Hẳn không ai lạ gì tài đức của hai hạng ngƣời ấy. Một nửa tiếng Pháp không
biết đã đành, nhiều ông còn đọc quốc ngữ không trơn hoặc là không đọc đƣợc nữa.
Ngƣời ta trách các ông ấy hay ngủ gật hay ngáp vặt ở nghị trƣờng, nhƣng với tƣ cách
ấy, chẳng ngủ, chẳng ngáp thì làm gì? Các ông ấy không xổ ra những câu dở hơi là còn khá
lắm. Ngoài ra, cũng còn một số
(1) Bọn dân biểu suy đới ông Phạm Huy Lục là phải, Sđd trang 96.
(2) Tôi muốn cử ông Phạm Huy Lục, Sđd trang 234.
(3) Đã thấy ông Phạm Huy Lục, Sđd trang 295-296.
57
Luận án thạc sĩ
đông nữa có thể gọi là tân học. Nhƣng cái tân học của những ông này chỉ là của một ngƣời
học trò đã đỗ hoặc chƣa đỗ tiểu học tốt nghiệp, cố nhiên các ông ấy cũng có thể nghe vạc
vạch hoặc nói bập bẹ vài câu tiếng Pháp, nhƣng với những chuyện chính trị, kinh tế, những
môn cần có của một ông nghị viên thì những ông này cũng không hơn gì những ông kia"(1).
Ngƣời của nghị viện mà nhƣ vậy, nên "các báo mạt sát là phải".
Ngô Tất Tố đã vạch trần tính chất bịp bợm của những tổ chức chính trị, văn hóa do
thực dân và tay sai lập ra nhƣ: Viện dân biểu, hội Khai trí tiến đức... ông đòi "giải tán viện
dân biểu" vì nó chẳng có lợi ích gì cho dân cả, viện bây giờ chỉ có hai nhiệm vụ: "ngồi đó để
chính phủ hỏi ý kiến và đƣa lên chính phủ những điều nguyện vọng của dân. Thế nhƣng, hai
cái nhiệm vụ ấy, các ông dân biểu vẫn chƣa đƣợc phép làm cho trọn vẹn. Nghĩa là khi nào
chính phủ hỏi đến, các ông ấy chỉ đƣợc trả lời bằng những câu chính phủ định nói, khi nào
trình bày nguyện vọng của dân, các ông ấy chỉ đƣợc nói những điều chính phủ muốn
nghe...". Ngay chính những ông dân biểu cũng phải buột mồm mà than rằng: "Viện dân biểu
theo chế độ hiện hành chƣa đủ quyền lực mà quyết nghị một việc can hệ đến toàn thể quốc
dân". Đã không làm đƣợc việc gì cho dân, mà hàng năm còn phải tốn bạc vạn để trả lƣơng,
tiền tàu xe, cơm rƣợu cho họ hội họp "tiền đó ở trong túi dân chúng ném ra. Đƣơng lúc kinh
tế khủng hoảng, dân chúng chạy ăn chƣa xong, cứ phải chơi mãi món "xa xỉ phẩm" phí tổn
quá lớn nhƣ thế, thật oan uổng"(2). Ngô Tất Tố đòi giải tán Viện dân biểu vì nó là một món
xa xỉ phẩm, không quan hệ gì cho sự sống của dân... "nó chỉ là đồ chơi bày ra cho đủ lệ
bộ".
Ông đòi giải tán nó đi và khuyên các ông có máu làm nghề "dân biểu" rằng: "Nghị
trƣờng không phải chỗ để tranh ngôi chốn ngồi. Các ông không nên chen chân vào đó để
làm hại dân chúng, làm hại anh em con cháu các ông và làm hại luôn bản thân các ông nữa.
Với những ông có tính cách con buôn, tính cách thầu khoán chúng tôi cũng muốn thiết tha
xin các ông hãy buông tha cho cái nghị viện của chúng tôi. Ở đời chẳng thiếu gì chỗ buôn,
cũng chẳng thiếu gì chỗ thầu, các ông hãy buôn ở chỗ khác, thầu ở chỗ khác đừng dùng nghị
trƣờng làm nơi tranh việc thầu khoán, tranh mối hàng buôn, nhất là không nên lấy nó làm
chỗ lấy lòng chính phủ hòng để mƣu việc tƣ lợi".
Còn Hội khai trí tiến đức cũng thế, nó là cái "hoa" cho quốc dân, vì
(1) Nghị viện khóa tới sẽ là trách nhiệm của ai. Sđd trang 223.
(2) Còn chờ gi nữa mà chưa giải tán Viện dân biểu, Sđd trang 146 - 147- 148.
58
Luận án thạc sĩ
nó đã biến thành "hội gá bạc... ổ chứa tổ tôm mất rồi". Ông khẩn khoản mà xin với Hội Khai
trí tiến đức một lần nữa rằng: "Quí hội đã chẳng khai trí tiến đức cho ai thì chớ, nhƣng hãy
tha cho quốc dân đừng gây ra cái phong trào tổ tôm làm chi"(1).
Trong chƣơng trình tối thiểu của Mặt trận Dân chủ có đặt ra một yêu cầu cấp thiết là
phải "nghiêm trị nạn hối lộ". Vì vậy, trong suốt hai năm 1936 - 1937, ngòi bút của Ngô Tất
Tố liên tục tấn công vào bọn quan lại phong kiến. Ông vạch trần mọi thủ đoạn của bọn quan
lại tham nhũng và đem phơi bày ra trƣớc công luận: "Quan lại tham nhũng là những kẻ bóp
dân nhƣ bà cô bóp con cháu à? Thủ đoạn của họ cực kỳ mầu nhiệm, họ đã bóp ngƣời nào,
thì ngƣời ấy không thể không lè lƣỡi ra, lè lƣỡi cho đến khi có đồ cúng họ... Thần cây đa,
ma cây gạo, cú cáo cây đề vẫn là những thứ kẻ quê rất sợ, song chƣa nguy hiểm cho dân
bằng họ. Bởi vì thần, ma, cú, cáo quấy nhiễu có thể dùng mũ mã mà cúng tiễn, ném gạo
muối mà tống đi. Chứ đến những ông quan lại tham nhũng quấy nhiễu thì không thể tiễn
bằng mũ mã, cũng không thể tống bằng gạo, muối"(2).
Dân quê sợ bọn cƣớp ngày hơn là cƣớp đêm, vì cƣớp đêm thì ngƣời ta có "quyền
đem tàn lực mà chống cự để bảo vệ lấy của cải". Còn bọn cƣớp ngày nhƣ quan lại, chánh
phó tổng, kỳ mục thì "không những chúng tôi không có quyền chống cự, lại còn phải ngồi
yên cho họ công nhiên bóc lột!". Một trong hàng trăm, hàng ngàn thủ đoạn ăn cƣớp của
chúng, đã bị Ngô Tất Tố lật tẩy:
"Một bọn cƣớp mƣơi lăm đứa, đủ giáo mác sào gậy xông vào, bƣng cổ chẹn họng,
lấy hết tiền nong, đồ đạc mà ra. Sáng hôm sau, chánh phó tổng, quản xã, kỳ mục, hƣơng hội,
tuần phiên kéo tới nhà sự chủ chừng hai, ba chục ngƣời để khám xét và lập biên bản. Cái
biên bản đó lập xong hay không xong, sự chủ hãy tổn phí về cơm rƣợu, thuốc xái để cung
cho bọn cƣớp ngày đã. Bọn lân bang, bọn tuần phiên, muốn đỡ lôi thôi tất phải có chè lá với
tổng lý thì trong biên bản mới nhẹ lời thắt buộc về đƣờng ứng cứu. Sự chủ lại phải đƣa tiền
cho lý trƣởng đi trình quan, tiền ăn uống, xe pháo, tiền tem, tiền lễ thầy thừa, thầy lục, nha
lại và quan. Nếu thiếu thì cái tờ trình ấy, cái biên bản ấy bị bác là làm không đủ lý phải về
làm lại, sự chủ muốn tránh số tiền phí tổn to kia, tất phải bán đƣờng dài mua đƣờng ngắn
bằng chút "vi thành". Tiếp tờ trình ấy, quan bản hạt, hoặc thân hành đi, hoặc phái lục sự đi,
lại về khám biên một lần nữa. Thế là sự chủ lại khốn đốn về sự cung đốn lần nữa! Mất của
(1) Cái họa khai trí tiến đức, Công dân, ngày 18.9.1935.
(2) Tương lai với Thái thượng lão quân, Sđd trang 157.
59
Luận án thạc sĩ
xót ruột, trông ngƣời tƣởng ma, sự chủ bèn cung tình nghi cho thằng này thằng khác. Bọn
tình nghi bị bắt, muốn tìm cách gỡ mình, lại tiêu xƣng ra dăm bảy anh nữa. Thế là một vụ
cƣớp đêm lại xảy ra năm bảy vụ cƣớp ngày nữa, anh giàu hóa nghèo, anh nghèo hóa thất
nghiệp, rút cục tới sự chủ mất của vẫn hoàn mất. Vì anh nào dính vào vụ cƣớp ấy, có thân
đều phải "lo" cả. Đã lo tất đƣợc "thƣơng" thì vụ cƣớp ấy còn đợi gì mà chẳng đƣợc phê hai
chữ "đình cứu"(1).
Bởi vậy, "một ông quan đạt đƣợc mục đích làm giàu, mấy nghìn dân chúng mất cơ,
mất nghiệp". Đúng là một lũ "sâu dân mọt nƣớc", mà có lần Ngô Tất Tố đã ví chúng giống
nhƣ hùm beo sƣ tử, cần phải đƣợc trừng trị bằng sức mạnh nhƣ dân Yên Định (Thanh Hóa)
đã từng làm: "Giả sử dân nào cũng nhƣ dân hạt Yên Định, gặp một việc gì ám muội, không
thèm kiện cáo lôi thôi, cứ việc rủ nhau thật đông đến tận cửa quan mà hỏi thì lần sau dẫu có
đem tiền nấu súp mà đổ vào miệng, các ông ấy cũng không dám ăn. Hùm beo sƣ tử ở rạp
xiếc có dữ tợn đâu?"(2).
Còn một bọn ngƣời nữa, tuy không phải là quan quyền chi cả, nhƣng chúng cũng là
một cái họa của dân, chúng theo "ôm chân núp bóng" bọn quan lại ở nha môn để kiếm chác.
Đó là bọn "nho" ở các phủ huyện. Ngô Tất Tố đả kích không nƣơng tay đối với bọn này.
Ông gọi chúng là "một hạng ngƣời sống lẩn lút trong hàng nha lại ở các phủ huyện, không
có quyền hành trách nhiệm gì, mà cũng chẳng có lƣơng bổng gì, chỉ nhờ cái tài bợ đỡ luồn
lọt, mà sống trên lƣng kẻ khác bằng cách giả dối lƣờng gạt mối lái cho việc hối lộ, làm ngòi
cho việc thƣa kiện, ung dung đƣợc cơm no áo ấm quanh năm... Bọn "nho tài tử" này lại
nguy hiểm cho dân hơn nữa. Chúng hết sức tìm kiếm bới móc những việc trong hƣơng thôn,
xui bên nọ, giục bên kia, để dắt mối thƣa kiện cho quan thầy kiếm lợi, càng bói đƣợc nhiều
việc quan thầy càng yêu, sự mơ tƣởng hàng ngày của chúng là đƣợc quan thầy tặng cho cái
tên là đày tớ chân tay là hả lắm rồi!... Họ giở nhiều thủ đoạn quỉ quái tinh ma để lừa dối
lƣờng gạt lƣơng dân chúng tôi, bọn "nho" này là cái hoa đã lâu đời, vẫn lẩn lút trong bóng
tối, vì chúng mà dân chúng tôi lâm vào thƣa kiện, đoạn tuyệt hết những tình nghĩa họ hàng
làng xóm, dân chúng tôi tan cửa nát nhà, vợ con điêu đứng cũng một phần vì chúng chỉ lối
đƣa đƣờng để đem của mồ hôi nƣớc mắt đổ vào túi tham không đáy, riêng phần chúng chỉ
là lũ quan săn, đƣợc hƣởng chút phần rơi rụng mà thôi"(3).
Tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố đã lập thành một bộ hồ sơ lý lịch của bọn quan
lại địa chủ, từ những tay sai đầu sỏ nhƣ Phạm Quỳnh,
(1) Dân quê chúng tôi muốn được tự do mất cướp, Sđd trang 288-289.
(2) Biểu tình ở Thanh Hóa, Sđd trang 236.
(3) Chúng tôi rất khó chịu với bọn "nho” ở các phủ huyện, Sđd trang 322 - 323.
60
Luận án thạc sĩ
Hoàng Trọng Phu... "một vị quan rất quyền thế và rất trung thành với chính phủ bảo hộ",
cho đến Bùi Tiến M... "Một ngƣời trƣớc đây 10 năm còn là thừa phái bị cách vì có dự vào
bô trọng yếu của đảng Việt Nam Quốcdân mà biết nhiều sự bí mật của đảng ấy... rồi không
biết làm sao trong khi bảy tám đồng chí và ông nhạc mình đi Côn Lôn, thì mình đặc cách
làm ông tri châu, rồi tri huyện, rồi tri phủ..."(1), hoặc huyện Trƣờng Bắc Giang, huyện Toản
Yên Bái đã suốt đời "hy sinh cho nghề đào mỏ" và cuối cùng là tuần phủ Nguyễn Doãn T...
đã về hƣu rồi mà còn bị ngƣời ta nhổ nƣớc bọt vào mặt! Tất cả lũ sâu mọt vô đạo đức ấy, lại
đƣợc chế độ thực dân phong kiến tôn lên làm bực cha mẹ dân và giao cho trách nhiệm cầm
cân nẩy mực công lý!
Bên ngoài thì trông họ cũng "mũ áo xênh xang","cờ điều tán tía", còn thực chất bên
trong là cả mót sự "thối tha, dơ dáy". Càng đọc, ngƣời đọc càng thấy căm thù chế độ, căm
thù bọn quan lại địa chủ.
Trƣớc cao trào cách mạng do Đảng cộng sản Đông Dƣơng lãnh đạo, đặc biệt là
phong trào Xô - Viết Nghệ Tĩnh, ý thức dân tộc và tinh thần yêu nƣớc của nhân dân đƣợc
thức tỉnh. Thực dân Pháp và bọn phong kiến bù nhìn đƣa ra một số chính sách ngu dân và
mị dân, đồng thời mở ra những "lối thoát" nhằm làm cho thanh niên xa rời đấu tranh cách
mạng hoặc dần dần sa ngã vào con đƣờng truy lạc. Đó là phong trào chấn hƣng Phật giáo,
phong trào phục cổ, bảo tổn quốc túy; phong trào Âu hóa, vui vẻ trẻ trung và những phong
trào cải lƣơng ở nông thôn và thành thị.
Trong thời kỳ cách mạng thoái trào, chính quyền thực dân cho phát hành rộng rãi các
loại sách truyền bá mê tín dị đoan nhƣ xem tƣớng, xem bói, lấy số tử vi, ma cà rồng, học
thôi miên... Đặc biệt, vào năm 1932 chúng cho lập Hội Phật học ở Nam Kỳ và Trung Kỳ,
năm 1934 ở Bắc Kỳ do "quan sƣ" Nguyễn Năng Quốc đứng đầu. Phật giáo có tổ chức có
báo chí "tuy cùng múa may dƣới cái gậy chỉ huy của thực dân nhƣng nhóm tổng đốc Hoàng
Trọng Phu và nhóm Hiệp tá đại học sĩ Nguyễn Năng Quốc vẫn bút chiến với nhau nhƣ hàng
tôm hàng cá"(2).
Phong trào Phật giáo và phong trào Âu hóa, nhìn bề ngoài có vẻ rất xa lạ với nhau,
nhƣng thực chất bên trong nó có mót sƣ kết hợp kỳ lạ. Nhiều cô thiếu nữ mặc áo lơ-muya, đi
chợ phiên, cũng đến lễ bái ở các đền chùa. Một số tăng lữ lợi dụng nơi tu hành để làm
những viêc dâm ô, bỉ ổi. Việc ni cô Diệu Lý (nam giới cải trang) cùng với sƣ cụ ra tòa đã
làm
(1) Té ra ông Bùi Tiến M... trúng số không vì vận đỏ, Sđd trang 303.
(2) Nào ai buôn cái xác cụ Vĩnh Nghiêm. Sđd trang 42.
61
Luận án thạc sĩ
cho các báo xôn xao lên một dạo. Ngô Tất Tố đã viết một loạt bài đả kích cái hủ tục mê tín
dị đoan, vạch mặt bọn lợi dụng tôn giáo, bọn buôn thần bán thánh (Chủ nghĩa tự do luyến ái
đã lan đến giới thần thánh, Phải hỏi ngôi đền ấy thờ ông nào đã? Những việc đáng ghi chép
ở phòng Canh nông Nam Kỳ, Họ lại kiếm ăn vào nắm xương khô). Tiêu biểu trong loạt bài
ấy là Kiểu đất ở hàng Trọng, qua bài viết Ngô Tất Tố tìm cách cắt nghĩa tại sao ngôi đền
Nghiễn Thiên Muội ở phố Hàng Trống “choèn choèn bằng cái quán bán nƣớc” mà lại đƣợc
"đàn bà con gai đến lễ đông nhƣ nêm cối"?
"Trƣớc kia mình vẫn tƣởng vì đền này thần thiêng cho nên đông khách lễ bái, đến
nay xét ra mới biết sự đông khách đó không tại thần thiêng mà chỉ tại "đƣợc đất". Bởi vì ở
đó có phải chỉ có một mình cửa đền ấy mà thôi đâu, hai bên tả hữu còn có hai cái "săm" nữa,
nghe nói cả hai đều đƣợc "đêm đêm hàn thực ngày ngày nguyên tiêu" cả. Theo câu tục ngữ
"tốt đất cò đậu" thì có lẽ phố Hàng Trống là chỗ đất tốt cho nên một đền hai "săm" đều phát
phúc nhƣ thế, không biết mạch đất từ ngôi đền chạy sang hai ngôi "săm" hay là từ hai ngôi
"săm" chạy về ngôi đền?"(1).
Đền chùa nhƣ thế thì còn ra cái thể thống gì nữa mà gọi là nơi tu hành, nơi để cho
mọi ngƣời đến chiêm ngƣỡng, lễ bái.
Ngô Tất Tố cũng lên án bọn lợi dụng bóng Phật để đi chim vợ chim con ngƣời ta.
"Chúng ta há chẳng thấy những ông tu hành lợi dụng bóng Phật để đi chim vợ chim con
ngƣời ta đó sao? Ƣớc gì vị kỹ sƣ nào đó, cố nghĩ lấy một bộ đồ "phòng dâm" đẹp đẽ hơn,
chắc chắn hơn, để bán cho mấy ông đó, thì có lẽ trong nƣớc An Nam sẽ có nhiều ngƣời
thành Phật..."(2).
Cũng trong thời kỳ cách mạng thoái trào, thực dân còn cho dấy lên phong trào "bảo
tồn quốc túy". "Tờ báo nọ hô hào bạn gái cứ giữ gìn cái sinh hoạt ở cửa buồng xó bếp, tờ
báo kia cổ động dân quê nên duy trì cái thói tục ở góc điếm sân đình, lại một cuốn tạp chí nọ
hàng tuần đem những cặn bã ở nơi cửa Khổng, sân Trình mà nhồi mãi vào óc độc giả". Thực
dân đã dựa vào các thế lực phong kiến và ý thức hệ duy tâm mù quáng của nó nhằm làm tê
liệt ý chí đấu tranh của quần chúng.
Từ trƣớc đến sau, trong các bài tạp văn của mình, Ngô Tất Tố kịch liệt chống lại
phong trào "bảo tồn quốc túy", ông mƣợn lời một nhà
(1) Kiểu đất ở Hàng Trống, Sđd, trang 121
(2) Lời của Giản Ung đã được thực hành, Sdd trang 445.
62
Luận án thạc sĩ
tiên tri để công kích những tay nhà báo vô lƣơng tâm, những tay bồi bút của thực dân đang
núp dƣới chiêu bài "bảo tồn quốc túy" để hàng ngày công khai đầu độc quần chúng.
"Từ thời kỳ các ngài khuyến khích chúng tôi học Kiều, học hát ả đào đến thời các
ngài chỉ dẫn chúng tôi đánh tổ tôm, đánh cờ tƣớng, chẳng qua trong vòng mƣời năm. Theo
luật tiến hóa, chắc là sau mƣời năm nữa, sẽ có những ngài đem cái thành tâm đối với chủng
tộc giang sơn đầy ăm ắp, nóng hôi hổi mà cổ động quốc dân học những món quay đất thò lò,
vì nó cũng là món chơi đặc biệt của dân tộc Việt Nam, bấy giờ quốc dân chúng tôi sẽ nhờ ơn
các ngài mà đƣợc nở mặt rạng mày với thế giới "chen vai thích cánh" với các nƣớc phú
cƣờng. Ân đức của các ngài thật lớn lắm vậy"(1).
Từ năm 1930 đến chiến tranh thế giới thứ hai, Ngô Tất Tố liên tục tấn công vào
những phong trào truy lạc hóa thanh niên, vào sách báo lãng mạn, khiêu dâm sa đọa. Ông
công kích thái độ chính trị của "mấy ông trƣởng giả" ở báo Ngày nay, những ngƣời đã đề
xƣớng lên phong trào Âu hóa và vui vẻ trẻ trung. Cái nguy hiểm của nụ cƣời Phong hóa và
Ngày nay là đã "đem giọng trào phúng pha vào những chuyện quan hệ khiến cho trong óc
độc giả, chuyện quan hệ hóa ra chuyện khôi hài". Cái việc đƣa bản dự thảo dân nguyện cho
phái bộ Gô-đa là việc quan hệ đến vận mệnh của dân của nƣớc "thế mà mấy ông đồng
nghiệp ở đƣờng Quan Thánh lại định làm cho việc quan trọng thành ra việc "lùng tùng xòe".
Cái đó mới nhẫn tâm chứ !"(2).
Ngô Tất Tố cho rằng, phong trào vui vẻ trẻ trung thực chất là một phong trào sa đọa,
tuyên truyền cho chủ nghĩa "khoái lạc về nhục dục", nhằm trụy lạc hóa thanh niên thành thị.
Vì thế những ông ở báo Phong hóa, Ngày nay xƣa nay không thấy sốt sắng với một việc gì
ngoài cái việc dùng môn giáo dục "đánh phấn, xoa nƣớc hoa, lựa màu quần áo" để câu nhử
bạn đọc phụ nữ. Họa sĩ cát Tƣờng Lơ muya tuy "đậu" thứ bét trƣờng Mỹ thuật" nhƣng vẫn
là "bậc vĩ nhân", trong việc ''cách mệnh" mấy cái gấu quần gấu áo của bạn gái kẻ chợ"(3).
Ông cũng rất ghét các nhà báo có tài nịnh bợ, có lần ông đã kịch liệt phê phán báo
Tổ quốc Việt Nam nhân chuyện ông Võ hiển Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông đệ đơn
xin từ chức, thì cái báo "con cầu con cƣng" của Tổ quốc, có bài sớ vãn lƣu ông Hoàng đăng
trên trang nhất. Với lời lẽ thiết tha cảm động không kém gì bài văn chầu bà chúa
(1) Mười năm nữa báo chi Bắc kỳ sẽ cổ động đến "thò lò ", "quay đất”, Sđd trang 1 2 3 - 124.
(2) Đừng giở mấy ngón ấy ra nữa, tôi can mấy ông Ngày nay, Sđd trang 151.
(3) Xin nhờ Lơmuya Cát tường việc này nữa, Sđd trang 166
63
Luận án thạc sĩ
Thƣợng Ngàn. Mặc dầu vậy, nhƣng ông Võ hiển vẫn không ngoảnh lại, đơn xin từ quan của
ông đã đệ lên phủ thống sứ, ông không rút lại. May sao, ông Võ hiển đã bị giữ lại trên ghế
tổng đốc thêm một hạn không nhất định nữa. Ngô Tất Tố viết: "Bài sớ của tờ báo "Tổ quốc
Việt Nam" thật là thấu đến tai trời, mới có sự tốt lành ấy. Lá sớ quí hóa đó thật đáng giá
ngàn vàng. Nếu không, tỉnh Hà Đông bị thiếu một ông tổng đốc, thì tổ quốc có khi sẽ thành
tổ... cò, chúng mình còn mặt mũi nào mà sống ở đời đƣợc nữa !... Mừng cho tổ quốc bao
nhiêu, tôi cũng tiếc cho làng báo bấy nhiêu. Tƣơng lai số 1 đã tỏ ý mừng rằng Làng Báo
chúng tôi sẽ đƣợc một viên chúa tể của Làng Quan làm bạn đồng nghiệp, thế vào cái chân
ông Thƣợng Giáo dục đi mất năm xƣa. Bây giờ ông Hoàng đã vì Tổ quốc mà ở lại, cố nhiên
đẹp cho Tổ quốc, song cũng thiệt cho Làng Báo. Không biết bao giờ trời mới bù lại chỗ
ấy?(1).
Ông công kích bọn văn sĩ "có tài cổ động cho chủ nghĩa khoái lạc về nhục dục" mà
ngƣời ta quen gọi tránh đi là "vui vẻ trẻ trung".
"Tôi muốn nói với mấy ông văn sĩ thiếu lƣơng tâm, quen dùng văn chƣơng khiêu
dâm để quyến rũ bạn đọc phụ nữ. Nói cho phải, văn chƣơng của ta hồi này cũng có tiến bộ
hơn trƣớc, nhất là nghề viết tiểu thuyết. Nhƣng trong khi tiến bộ về phƣơng diện nghệ thuật,
đồng thời nó cũng tiến bộ luôn về phƣơng diện khiêu dâm. Hãy giở cuốn tiểu thuyết tình
xuất bản gần đây mà coi, các ngài sẽ thấy lời nói ấy không sai sự thực. Tác giả những áng
văn chƣơng ấy vẫn là những nhà văn có tài, cái tài cổ động chủ nghĩa khoái lạc về nhục dục
mà ngƣời ta gọi tránh đi là "vui vẻ trẻ trung". Họ phá hủy nền liêm sỉ của trai gái bằng
những ngòi bút mạnh bạo. Họ mô tả trần truồng cái chân tƣớng ái tình bằng giọng văn hay
hớm và lả lơi. Họ làm đƣợc cảnh tƣợng của dục tính ở mặt giấy cũng hoạt động nhƣ ở màn
ảnh... Ai nấy đều nhận rằng: từ lãng mạn đến mãi dâm không xa, và từ mãi dâm đến bệnh
hoa liễu không xa nữa... Vậy thì những ngƣời mắc bệnh hoa liễu đều là ngƣời đã phải bùa
mê của bọn văn sĩ khiêu dâm, chính bọn văn sĩ khiêu dâm đã đƣa ngƣời ta lên giƣờng bệnh
hoa liễu..."(2). Theo chúng tôi, việc phê bình những đoạn văn "cổ vũ cho chủ nghĩa khoái lạc
về nhục dục" của nhóm Tự lực Văn đoàn là điều cần thiết, nhƣng cần khách quan hơn.
Không phải văn chƣơng của nhóm này đều nhƣ thế cả. Đôi lúc Ngỏ Tất Tố có phần hơi cực
đoan khi phê phán, ông đổ tội cho văn chƣơng Tự lực văn đoàn đã gây ra tệ nạn "mãi dâm
và bệnh hoa liễu" nhƣ thế là chƣa thỏa đáng.
Vào cuối năm Mậu Dần mấy ông đồng nghiệp ở đƣờng Quan Thánh nhắc lại công
lao của mình trong năm đã kết luận rằng: "Ngay
(1) Kính mừng Việt Nam Tổ quốc và tiếc thay cho làng báo của nó, Sđd trang 181.
(2) Không quên bọn văn sĩ, Sđd, trang 217-218.
64
Luận án thạc sĩ
bên công cuộc chỉ trích, phác họa xƣa (?) chúng tôi đã xây dựng một công cuộc kiến thiết
vững vàng (?). Trên đời còn gì hơn hiểu và biết. Các bạn và chúng tôi đã dắt tay nhau đi vào
vƣờn trí thức, ngắt những bông hoa của tinh thần, những bông hoa thơm của văn chƣơng,
những bông hoa lạ của tƣ tƣởng..."(1). Bình luận về sự kiện này, Ngô Tất Tố viết: "Tốt đẹp
vậy thay những sự nghiệp ấy của báo Ngày nay. Té ra báo Ngày nay đã dắt đƣợc những ông
nào, có lẽ bà nào thì đúng hơn - những bà nào đó, vào vƣờn trí thức, không rõ là kiến thiết
cái gì rồi đấy. Thế mà đồng bào, quốc dân và cả mấy ông Ngày nay vẫn đều không biết. Oan
uổng !"(2). Ông chế giễu văn chƣơng của báo Ngày nay đã quyến rũ các bà, các cô vào con
đƣờng lãng mạn, hƣ hỏng. Và ông đã đem so sánh nó với mấy câu quảng cáo của mấy ông
lang thuốc lậu vẫn nói trong máy truyền thanh. Hai thứ văn chƣơng đó, ý giống nhau nhƣ
tạc.
Ngô Tất Tố đả kích bọn quan lại phong kiến, bọn đầu cơ chính trị và bọn tay sai bồi
bút. Ông đã chửi thẳng vào mặt chúng, không chút kiêng nể e dè. Chúng tức anh ách, nhƣng
vẫn không làm gì đƣợc ông. Không dừng lại ở đây, ngòi bút đả kích của Ngô Tất Tố còn
nhắm vào một đối tƣợng khác, là thực dân Pháp và những chính sách cai trị tàn bạo của
chúng. Điều này thêm một lần nữa khẳng định, lập trƣờng quan điểm và bản lĩnh nghề
nghiệp của ông khá vững vàng, ông dũng cảm hƣớng ngòi bút của mình tấn công vào tất cả
những kẻ đã làm hại dân, hại nƣớc.
3. Đả kích thực dân Pháp cùng những chính sách cai trị tàn bạo của
chúng.
Vào cuối những năm 20, đầu những năm 30, phong trào cách mạng của quần chúng
phát triển rầm rộ, ở khắp mọi nơi trong nƣớc. Ý thức dân tộc của quần chúng đã đƣợc thức
tỉnh, nhân dân liên tục đứng lên hƣởng ứng các phong trào yêu nƣớc chống Pháp. Vụ Phan
Bội Châu bị bắt đƣa về xét xử chƣa xong, thì tiếp đến vụ Phan Chu Trinh gởi huyết thƣ cho
Pháp, tạo thành phong trào bãi công, bãi khóa rầm rộ, rồi đến vụ Yên Bái làm cho 13 ngƣời
của Việt Nam quốc dân đảng phải lên máy chém. Bao nhiêu sự kiện dồn dập đã tạo nên
phong trào đấu tranh sôi nổi, những ngƣời thực tâm yêu nƣớc phải vào tù ra khám, không
ngày nào là không có. Trong bối cảnh ấy "cũng không ngày nào là không có những tay ái
quốc sa lông thở vắn than dài cho thế nƣớc, thỉnh thoảng lại đóng cửa oán Tây, hoặc làm thơ
con cóc chửi thằng Tây (nhƣng lại sợ bị
(1), (2). Hết năm, Sđd, trang 406.
65
Luận án thạc sĩ
bắt nên gọi chệch thằng Tây là thầy tăng) và cho nhƣ thế là cay chua lắm". Họ không dám
chửi Tây, những gì có liên quan đến Tây là vùng đất cấm kỵ đối với họ. Tuy nhiên cũng có
ngƣời nhƣ: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Phan Long "viết một bài, Tây sợ "chết
cha chết mẹ", phải mua chuộc hàng ngàn hàng vạn mà chƣa chắc đã êm"(1). Đó chỉ là mánh
khóe của bọn bồi bút dùng để lừa bịp nhân dân, để lấy lòng chính phủ và lấy tiền... không
phải vì yêu nƣớc.
Ngô Tất Tố thì khác, khi chƣa có điều kiện để đánh thẳng vào thực dân Pháp, thì ông
nhằm vào những tên quan lại tay sai của chúng mà tấn công.
Bƣớc sang thời kỳ Mặt trận Dân chủ, do có điều kiện thuận lợi, đặc biệt là thực dân
Pháp phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt sách báo (từ tháng 1-1937 ở Bắc Kỳ), những tiểu phẩm
mang tính chiến đấu cao của Ngô Tất Tố ra đời dồn dập. Chƣa có lúc nào ngòi bút của ông
tỏ ra sắc sảo và dũng cảm nhƣ lúc này. Chỉ trong vòng ba năm (1937, 1938, 1939) ông đã
viết tới 90 bài báo về nhiều đề tài khác nhau. Ông đi trực tiếp vào mâu thuẫn của xã hội lúc
ấy, tức là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và bọn thực dân Pháp xâm lƣợc. Ông viết
nhiều bài đánh trực diện vào thực dân Pháp, trƣớc hết là chính sách kinh tế, nhằm vơ vét và
làm kiệt quệ đời sống của nhân dân ta. Rồi trong lúc thực dân Pháp khoe công lao "bảo hộ",
"khai hóa" cho dân Việt Nam thì Ngô Tất Tố phanh phui những trò lừa bịp, đầu độc nhân
dân ta bằng rƣợu và thuốc - phiện. Ông còn viết những bài đánh thẳng vào những tên thực
dân cỡ lớn nhƣ: Toàn quyền Đông Dƣơng, thống sứ Bắc Kỳ, thống đốc Nam Kỳ, trƣởng
phái bộ điều tra của chính phủ Bình dân, tổng trƣởng bộ thuộc địa Pháp. Nghĩa là ông không
dung tha cho bất cứ một tên thực dân nào từ nhỏ cho đến lớn. Ông cũng lƣờng trƣớc đƣợc
hậu quả của những việc mình làm, nhƣng ông chẳng hề run sợ. Kết quả là ông phải chịu bốn
tháng bị cầm tù và bị trục xuất ra khỏi các thành phố lớn.
Ngô Tất Tố đã vạch trần mọi thủ đoạn bịp bợm của chúng, nhƣ khi nói về việc đánh
chiếm thuộc địa, các ông đế quốc thƣờng giải thích rằng đó là công cuộc khai hóa cho các
dân tộc dã man. Vì thiên chức của một nƣớc văn minh mà họ đã phải cố công đến đây để dìu
dắt dân tộc dã man bƣớc lên con đƣờng văn minh. Để phụ hoa thêm cho "nghĩa cử cao đẹp"
của Pháp, những tay bồi bút đua nhau ca tụng công ơn "khai hóa" của nƣớc Đại Pháp đối
với dân tộc An-nam. Ngô Tất Tố đã đánh thẳng vào cái giọng điệu giả nhân giả nghĩa đó
của bọn chúng. Ông viết:
(1) Vũ Bằng, Bốn mươi năm nói láo - NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 1993, trang 38.
66
Luận án thạc sĩ
"Chẳng ai dùng đến chữ "đánh chiếm", ngƣời ta bảo đó là công cuộc rất nhân đạo của mấy
nƣớc văn minh, vì thiên chức mà khai hóa cho các dân tộc dã man... Hễ mà mở miệng trƣớc
lũ dân bị chinh phục, mấy ông văn minh không bao giờ quên cái giọng chứa chan nhân
nghĩa ấy. Tôi đang thành tâm kính phục cái nhân đạo của mấy ông đó mà muốn tin rằng ở
trên đời này chỉ có cuộc khai hóa không bao giờ có cuộc đánh chiếm. Thế những tôi vẫn còn
phân vân và tự hỏi thầm: Nếu quả nhƣ vậy thì ra cái trận Âu châu đại chiến năm 1914 cũng
do mấy ông Nhật nhĩ man định khái hóa cho nƣớc Pháp à?"(1).
Ngô Tất Tố đã khẳng định thực chất của công cuộc khai hóa là khai thác thuộc địa
để làm giàu cho chính quốc. Điều này đƣợc thể hiện qua chính sách kinh tế vơ vét, bóc lột
đến tận cùng xƣơng tủy của ngƣời dân bản xứ. Vậy mà viên toàn quyền Đông Dƣơng Brévié
vẫn thƣờng xuyên lên giọng phỉnh phờ: "Ngài không dám nhƣ vua Henei IV mong cho
ngƣời dân quê nghèo nhất nƣớc Pháp, cũng có thể làm thịt một con gà trong những ngày chủ
nhật, mà chỉ mong cho một ngƣời dân quê nghèo nhất xứ Đông Dƣơng cũng có một bát gạo
thứ hai thôi"(2).
Bình luận về lời tuyên bố trên của Brévié, Ngô Tất Tố cho rằng: dân quê chúng tôi
đã chán ngấy trƣớc những lời hứa hẹn hão huyền đó. Bởi vì với chính sách kinh tế vơ vét
nhƣ hiện nay của "phái tƣ bản thực dân bên chính quốc", thì ngƣời dân quê chúng tôi kiếm
cho đƣợc bát gạo thứ nhất cũng đã chật vật lắm rồi. Bao nhiêu nguồn lợi bao nhiêu miếng
mồi ngon ở xứ thuộc địa đã không ngừng tuôn chảy ào ào về chính quốc. Thực tế đã cho
thấy: "Đông dƣơng xƣa nay vẫn có tiếng là một thuộc địa giàu có nhất của nƣớc Pháp.
Chẳng thế mà vẫn đứng đầu trong các việc đóng góp với mẫu quốc về quân phí, về quốc
trái, về lạc quyên, lại những con số xuất cảng, nhập cảng hàng năm cộng nên con số kếch sù.
Những quan lại công chức hàng năm biết bao nhiêu gia đình khi nheo nhóc kéo sang, chẳng
bao lâu đã phởn phơ kéo về, hành lý kĩu kịt! Lại biết bao nhiêu những tài chủ, nghiệp chủ và
điền chủ cùng những danh công, đại thƣơng, lập nên những công ty vĩ đại, những cổ phần,
những thƣơng phiếu trên thị trƣờng quốc tế có một địa vị cao quí, làm cho bao kẻ thèm
muốn cái xứ bờ xôi ruộng mật này"(3).
Ngô Tất Tố đã lên án chính sách kinh tế tàn bạo của bọn thực dân một mặt chúng thi
hành các thủ đoạn vơ vét, mặt khác thả nổi việc quản lý giá cả sinh hoạt, để cho bọn đầu cơ
tha hồ thao túng. Vậy mà trong mấy bài diễn văn tràng giang đại hải, các nhà cầm quyền gọi
đó là
(1) Vậy thì An nam cũng phải có thuộc địa chứ?, Sđd trang 396
(2), (3) Cho no đủ đã!, Sđd trang 336.
67
Luận án thạc sĩ
thời kỳ kinh tế phục hƣng của xứ Đông Dƣơng. Ngỗ Tất Tố đã đặt vấn đề: "Nếu nhƣ cái
ngày những đồ ăn dùng đắt đỏ mà có thể gọi là kinh tế phục hƣng thì xứ Đông Dƣơng thật
xứng đáng nhận lãnh cái danh từ tốt đẹp ấy"(1). Nhƣng thật là mỉa mai điều đó nó chỉ hợp
với hiện tƣợng kinh tế của phái hữu sản, không hợp với hiện tƣợng kinh tế của phái vô sản.
Trong khi những tƣ bản reo hò đón nhận cái danh từ đẹp đẽ ấy, thì dân vô sản vẫn khóc mếu
về nạn giá cả đắt đỏ. Ông đã tố cáo cái thời kỳ gọi là kinh tế phục hƣng bằng cách nêu lên
đời sống cơ cực của phần đông dân vô sản ở nông thôn, đó là hình ảnh "những ngƣời gầy
nhƣ con hạc, những ngƣời mặt bủng da chì, những ngƣời hai mắt mòng mọng, đều là những
nhà bác sĩ đã phát minh đƣợc cách dùng rau lang, rau má thay cơm, mà tự do họ đã thí
nghiệm bằng bản thân họ vậy"(2).
Chính sách kinh tế vơ vét, đã làm cho đời sống của ngƣời dân thuộc địa lâm vào tình
cảnh đói khổ. Thế nhƣng, viên toàn quyền Đông Dƣơng và những tên tƣ sản mại bản kiều
Bùi Quang Chiêu, không ngớt rêu rao khẩu hiệu Pháp - Việt đề huề. Ngô Tất Tố đã dùng
một hình ảnh hết sức sinh động để nói lên tính chất giả dối của chính sách Pháp - Việt hợp
tác thân thiện: Theo Ngô Tất Tố thì Pháp - Việt để huề (hay hiệp tác) chỉ là một khẩu hiệu
giả dối, một đứa con hoang của một cuộc tình duyên cƣỡng ép giữa bọn đi cƣớp nƣớc và
dân thuộc địa. Sự thật là "hiếp tác" chứ không phải "hiệp tác".
"Cứ lý thuyết thì rất hay, nhƣng có một điều rất khó là khi ngẫm xem thân thế của
hai bên nhƣ một kẻ nằm trên giƣờng, một ngƣời nằm dƣới đất, một kẻ ăn thịt, một ngƣời
gặm xƣơng, thì cái tình thân ái còn lâu mới thắm thiết đƣợc"(3).
Cũng trong bài Hiệp tác hay hiếp tác? , Ngô Tất Tố dẫn lại nguồn tin trên báo Dân
mới trong Nam cho biết: Việc tên quản lý một sở điền tây là Robital cùng với một ngƣời
Tây lai tên là Philippe và một ngƣời Tây đen giả xƣng là quan chủ tỉnh và quan ba. Xét thuế
thân rồi bắt 6,7 chục ngƣời bảo về gặt lúa cho họ. Vì kẻ bị bắt đi ngƣời không, nên quan lính
giả hiệu hoành hành đánh đập dân ngay giữa chợ Phố Sinh (Phƣớc Long). Bình luận về sự
kiện này, Ngô Tất Tố cho rằng đây là: một cuộc "hiệp tác" mà ngƣời ta thi thố trong việc
khai khẩn ruộng đất, cũng nhƣ những cuộc mộ phu ở đất Bắc mấy năm trƣớc dân quê chúng
tôi sống trong cảnh u uất tối tăm, chịu thiếu thốn về công lý nhân đạo đã quen, nên đã chẳng
lấy làm lạ, mà lại còn nhân là một sự dĩ nhiên nữa. Chỉ một cái danh từ "ông Tây" cũng đủ
để dân quê chúng tôi rùng mình
(1), (2) Dân vô sản với những ngày đã được gọi là kinh tế phục hưng, Sđd trang 162 và 164.
(3) Hiệp tác hay hiếp tác? Sđd, trang 373 , 374.
68
Luận án thạc sĩ
khiếp sợ... Đối với những công chức của chính phủ, họ đã in sâu trong óc là những giống sài
lang bạo ngƣợc. Ấy pháp luật và chính trị xứ này đã huấn luyện cho chúng tôi một cái tinh
thần đặc biệt ấy!... ''hiệp tác" sinh ra "hiếp tác" cũng vì thế!"(1).
Một mặt thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách tuyên truyền lừa bịp, mị dân, ngu dân,
mặt khác chúng còn dùng thủ đoạn đầu độc dân ta bằng rƣợu, thuốc phiện, nhà săm và vi
trùng hoa liễu, nhằm ru ngủ thanh niên làm tê liệt ý chí phản kháng, đẩy thanh niên vào con
đƣờng trụy lạc sa đọa, đƣa dân tộc ta đến con đƣờng diệt vong. Thời bấy giờ, cũng có nhiều
nhà văn viết phóng sự về thuốc phiện, về nhà săm, gái điếm và bệnh hoa liễu, nhƣng tác giả
thƣờng đổ tội cho phong trào Âu hóa và vui vẻ trẻ trung, cho việc nhà trƣờng không biết dạy
thanh niên "một cách có chân lý", ít ai truy đến tận cùng để tìm ra thủ phạm chính là Thực
dân Pháp. Chỉ có Ngô Tất Tố dũng cảm đặt thẳng vấn đề, ông đƣa ra hai hình ảnh tƣơng
phản.
Ở nƣớc Pháp "thuốc phiện bị coi nhƣ một món thuốc độc, làm hại giống nòi. Bất cứ
hút, chỉ giắt một hộp thuốc phiện trong mình - dù là thuốc phiện của Nhà Đoan Đông
Dƣơng mặc lòng - đã phải ngồi tù luôn ba tháng rồi. Nếu số thuốc phiện, nhiều hơn thì cái
hạn tù cũng phải dài hơn. Ngƣời ta nói rằng: ở bên ấy kiếm đƣợc thuốc phiện mà hút là sự
rất khó"(2).
Trong khi đó ở xứ Đông Dƣơng..."Khắp các thành phố trong nƣớc An Nam, mà cả
Ai Lao, Cao Miên những chỗ đã có vết chân ngƣời Nam bƣớc tới cũng vậy, thành phố nào
cũng có những tiệm công yên (tức thuốc phiện). Tuy rằng Chính phủ chƣa từng cho phép
nhƣng mà ngƣời ta vẫn cứ mƣợn cái môn bài tiệm trà để mà chiêu tập dân nghiện một cách
công nhiên. Tại những thành phố sầm uất nhƣ Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, mỗi nơi kể có
hàng trăm tiệm. Nòi giống Rồng Tiên nhà ta, từ đàn ông đến đàn bà, từ ngƣời già cho đến
ngƣời trẻ, tha hồ thở hút, không bị ngăn cản một chút nào hết"(3). Nghĩa là đối với thuốc
phiện thì dân An Nam ai cũng có quyền hút, miễn là đừng hút giữa đƣờng cái mà thôi!
Ở chính quốc, "chính phủ lại chống nạn rƣợu bằng cách hạn chế số tiệm bán rƣợu, và
cứ mỗi trăm lít rƣợu dùng để chế rƣợu khai vị, sẽ bị đánh thêm 300 quan tiền thuế". Còn ở
thuộc địa cái" thú mềm môi" ấy lại đƣợc tự do, chẳng những chính phủ không cấm mà còn
khuyến khích,
(1) Hiệp tác hay hiếp tác? Sđd trang 373 , 374.
(2), (3) Từ nay dân Pháp lại khổ hơn dân An-nam thêm một từng nữa Sđd, trang 484 và 485.
69
Luận án thạc sĩ
thậm chí "còn đƣợc lệnh cƣỡng bách cho uống là khác". Ngô Tất Tố đã đƣa ra một dân
chứng "Có nơi xin phép giết một con bò, phải có cái bông đã mua mấy chục chai rƣợu mới
đƣợc. Mỗi suất đinh một tháng phải uống đủ một lít rƣợu, nếu kém, tổng lý sẽ bị các quan
phủ huyện quở trách".
Dân thuộc địa đƣợc tự do hút thuốc phiện, và bị "cƣỡng bách" uống rƣợu, đƣợc Ngô
Tất Tố phản ánh trong bài báo Từ nay dân Pháp lại khổ hơn dân An Nam thêm một từng
nữa. (Thời vụ số 152, ra ngày 22-08-1939). Ông khẳng định đây là thủ đoạn tàn bạo của
thục dân Pháp. Ông đã tố cáo cái ý nghĩa chính trị của việc khuyến khích hút thuốc phiện
nhƣ sau:
"Đối với dân tộc "dã man" đã bị những ngƣời văn minh chinh phục, thuốc phiện là
một đạo giáo tốt đẹp có thể đƣa họ đến cõi cực lạc... Đức Chúa phù dung là đấng vạn năng,
ngài đủ quyền phép làm cho con chiên của ngài trở nên hạng ngƣời từ bi ngoan ngoãn. Bởi
thế hết thảy những ngƣời tu theo tôn giáo "a phiền" đều chừa đƣợc tội "hăng hái", "tiến thủ",
nhất định để nghĩa vụ loài ngƣời đến kiếp sau mới làm. Giả sử đạo giáo ấy mà đƣợc lan rộng
thì những dân tộc "dã man" không bao giờ còn xảy ra chuyện chính trị. Họ sẽ im lặng mà
đem nòi giống lên cõi cực lạc để hƣởng cái hạnh phúc "tịch diệt"(1).
Do chính sách ngu dân và đầu độc của bọn thống trị, nên các tiệm hút, nhà chứa,
sòng bạc công khai mở ra khắp nơi. Trong một thiên phóng sự của Nguyễn Đình Lạp, tác
giả cho biết: Chỉ tính riêng ở Hà Nội, vào năm 1937 có 6000 gái điếm trong số 18 vạn dân,
100 nhà săm, 300 tiệm hút, 7 sòng bạc lớn. Ngô Tất Tố chỉ thẳng công "khai hóa" của thực
dân Pháp đối với dân An Nam là "Cứ để cho các nhà săm, nhà chứa và nhà cô đào tự do
hoành hành vài chục năm nữa, thì vi trùng hoa liễu sẽ có thể dần dần làm tiêu tất cả dân tộc
Việt Nam, không phải thêm một điều kiện nào khác"(2).
Trong bài báo: Vài chấm nhỏ của thời đạt vừa qua , bệnh "tiêm la" thời đó đã trở
thành "phổ thông", còn "thuốc hoa liễu" thì đƣợc quảng cáo công khai trên các báo, từ hàng
tuần cho đến hàng ngày, ông cảm thấy đây là một điều tệ hại và ông đã phát biểu: "Tôi
không thấy tờ báo nào có độ 1, 2 cái quảng cáo bẩn thỉu ấy. Nghĩa là ít ra ngƣời ta cũng phải
đăng 5, 6, 7 cái quảng cáo dơ dáy ấy trở lên. Tôi rất lấy làm buồn mỗi khi giở đến tờ báo,
liền thấy từ trang thứ hai hãy trang thứ ba trở đi, nhan
(1) Nhà đoan với cuộc phòng thủ Đông Dương, Sđd trang 364.
(2) Phải chừa lại số người làm cu ly, Sđd trang 438.
70
Luận án thạc sĩ
nhản những câu quảng cáo "tuyệt nọc", " trừ căn", "5 phút khỏi bệnh", "không khỏi trả tiền
lại"... còn gì khổ cho độc giả bằng bên cạnh những bài văn thơ kiệt tác chêm vào những cái
quảng cáo ô uế ấy…”. Nhà thuốc hoa liễu đƣợc mở ra khắp nơi, việc bán thuốc hoa liễu trở
thành một nghề hái ra tiền nhanh nhất. "Thật vậy, tại khắp các tỉnh, từ tỉnh nhỏ đến tỉnh lớn,
từ tỉnh hạ lƣu đến tỉnh thƣợng du, đâu đâu cũng có những nhà bán thuốc hoa liễu... Tôi đã
để ý nhận xét lai lịch của nhiều nhà: nhà nào cũng vậy, lúc mới mở ra đều còn lèm bèm,
nhom nhem, cách chừng một năm, nửa năm chi đó, đã thấy trang hoàng rực rỡ, y nhƣ hiệu
bào chế thuốc Tây vậy". Sự "thịnh vƣợng" của bệnh hoa liễu sẽ làm cho dân tộc chết dần
chết mòn đi, và đó là âm mƣu thâm độc của thực dân Pháp. Một dân tộc làm sao có thể phát
triển đƣợc khi "thanh niên ở thành thị ngày nay, tôi thấy ít ngƣời thoát khỏi cái bệnh quái gở
ấy. Có ngƣời mắc đi, mắc lại đến năm bảy lần mà vẫn không chừa. Trong các gia đình vợ
chồng còn trẻ, tôi thấy nhiều đứa trẻ con vì cái di độc của hoa liễu mà chốc lở, gày còm,
xanh xao, sống một vài tuổi thì chết, thật là tội nghiệp"(1).
Chƣa hết! Thực dân Pháp còn định dùng thủ đoạn đƣa dân ta sang sống ở châu Phi
để dành chỗ cho ngƣời Do Thái, nhằm tăng cƣờng bộ máy đàn áp của chúng. Bình luận về
việc này, Ngô Tất Tố đã mƣợn chuyện về chàng Đặng Bá Đạo trong sách Tấn Thư của Tàu
để chỉ trích việc quan tổng trƣởng Mandel của Bộ Thuộc địa muốn đƣa 5 vạn dân Do Thái
sang đây để cùng cày, cuốc đất với dân An-nam. Chuyện kể rằng: Khi chạy loạn, Bá Đạo
cùng vợ rời bỏ quê hƣơng gánh một đứa con và một đứa cháu chạy đi nơi khác. Nghe tin thế
giặc nguy cấp, liệu không thể giữ nổi cả hai đứa trẻ, Bá Đạo bàn với vợ chỉ còn có cách bỏ
con mà chạy lấy cháu. Cũng giống nhƣ Đông Dƣơng là con của nƣớc Pháp, còn dân Do
Thái là cháu của nƣớc Pháp. "Trong lúc Đông Dƣơng đang có nạn nhân mãn, dân Do Thái
lại bị ngƣời Đức, ngƣời Ý, ngƣời Ba Lan đuổi ra khỏi xứ, cái tình thế ấy thật là khó xử cho
đƣợc vẹn cả đôi đƣờng, nên ngài muốn bắt dân tộc An Nam phải lìa bỏ xứ sở của mình mà
sang Phi châu để nhƣờng đất cho dân Do Thái. Đó cũng là một cách bỏ con mà nuôi lấy
cháu. Nếu không thế thì ngài cứ đƣa luôn dân Do Thái sang Phi châu, há khỏi mất nhiều
việc lôi thôi"(2).
Theo mệnh lệnh của quan Tổng trƣởng, Đông Dƣơng đã phải xuất số bạc vạn để
nuôi phái bộ Wintrebert sang đó nghiên cứu. Phúc đức làm sao, trong phái bộ lại có ông
Trần Văn Lai vì bất phục thủy thổ mà mắc bệnh sốt rét! Bệnh tình rất nặng phải nằm nhà
thƣơng ở Paris
(1) Vài chấm nhỏ của thời đại vừa qua, Sđd trang 418
(2) Bộ thuộc địa và chàng Đặng Bá Đạo, Sđd trang 391.
71
Luận án thạc sĩ
đến nửa tháng trời. Sau khi ra khỏi nhà thƣơng, ông Lai bèn làm tờ trình phản đối việc di
dân Bắc Kỳ sang Phi châu, với lý do: những xứ mà quan Tổng trƣởng định để cho dân Bắc
Kỳ sang ở đều là những nơi nƣớc độc, không hợp với tính chất của ngƣời Bắc Kỳ. Lời của
ông Lai làm cho quan Tổng trƣởng tha cho dân chúng Bắc Kỳ không bắt họ sang châu Phi
nữa!"(1).
Chính trí tuệ sắc sảo và sự nhạy bén về chính trị đã giúp cho Ngô Tất Tố bao giờ
cũng đi đến cốt lõi của vấn đề. Không dừng lại ở hiện tƣợng bể mặt, ông luôn luôn phát hiện
ra mặt trái nguy hiểm và đen tối của những chính sách ngu dân, mị dân thâm độc do thực
dân Pháp bày ra. Với thái độ dũng cảm, hễ có dịp là ông đƣa bọn chúng lên sân khấu để
vạch mặt chỉ cho mọi ngƣời thấy đó là một lũ tàn ác, nham hiểm, từ toàn quyền Brévié, tổng
trƣởng thuộc địa Mandel, thống sứ Tholance, thống đốc Pagès cho đến chủ tỉnh Chợ Lớn và
bọn chủ đồn điền Pháp ở Phƣớc Long. Ngô Tất Tố đã xé toang bức màn giả dối thêu mấy
chữ: Khai hóa, văn minh, hợp tác, nhân đạo... để chỉ cho quần chúng nhân dân thấy rõ phía
sau đó là một lũ ngƣời sống trên xƣơng máu, mồ hôi và nƣớc mắt của dân thuộc địa.
Ông lấy truyện Trịnh Hoàng trong Hậu Hán thư để đả kích tên thống sứ Bắc kỳ
Tholance. Trong truyện xƣa Trịnh Hoằng là một ông quan mà lòng nhân đức đã cảm động
đến cả lòng trời: "ông đến đâu thì mƣa theo xe đến đó". Trái lại Tholance khi còn ở Bắc kỳ
thì trời nắng hạn, hắn xuống tàu về nƣớc thì trời mƣa rào. Ngô Tất Tố viết:
"Mồng 5 ngài mới đi, mùng 4 trời đổ mƣa, đó là trời cũng tỏ ý cảm động để ngài còn
kíp ngó thấy. Vậy thì những hạt mƣa rào hôm nọ có thể cho là một cuộc tiễn chân Tô-lăng
đại nhân. Nó cũng linh nghiệm nhƣ những "trận mƣa theo xe" của Trịnh Hoằng, nhƣng một
đằng mƣa trong khi đến, một đằng mƣa trong khi đi, khác nhau chỉ ở chỗ đó"(2).
Nhân chuyện hai ông Diệp Văn Kỳ và Bùi Thế Mỹ bị ông thống đốc Pagès đuổi ra
khỏi đất Nam kỳ về tội hai ngƣời dám công nhiên viết báo cổ động cho hội nghị Đông
Dƣơng và công kích một vụ cờ bạc chi đó. Thế rồi, khi ông Mỹ thành lập Hội Đông Dƣơng
dân chủ, thì Pagès lại quay ra ủng hộ hội này và xóa nghị định trục xuất, cho phép hai ông
Kỳ Mỹ đƣợc vào Nam Kỳ. Ngô Tất Tố so sánh việc làm của Pagès giống nhƣ Thƣ Công
nƣớc Tống nuôi khỉ (truyện ở Trang Tử), ông viết: "Không hiểu ông Pagès có biết chữ Tàu
hay không, nhƣng chắc có đọc qua chuyện ấy, cho nên ngài mới làm đúng nhƣ hệt. Ngài rất
yêu hai ông Kỳ,
(1) Đa tạ ông thần sốt rét, Sđd trang 409.
(2) Ông Thống sứ với trận mưa hôm nọ, Sđd trang 205.
72
Luận án thạc sĩ
Mỹ và muốn làm ơn cho họ, nhƣng mà làm ơn bằng cách nào, khiến cho họ phải cám ơn
mình? Quyền hành sẵn ở trong tay, ta hãy đuổi cổ họ đi cho họ sợ, rồi lại tha cho họ lại để
họ mừng. Đƣơng sợ mà mừng tất nhiên họ phải cảm phục cái lƣợng hải hà của mình đối với
họ. Đó cũng nhƣ Thƣ Công cho khỉ ăn sớm ba mà chiều bốn vậy"(1).
Ngô Tất Tố còn là nhà bình luận thời sự quốc tế, ông lên án chính sách độc tài của
Hít-le, những thủ đoạn chuyên chế của Muýt-xô-li-ni và thói tàn bạo của bọn quân phiệt
Nhật Bản. Ông phê phán thái độ nhu nhƣợc của hai thủ tƣớng Anh và Pháp, đó là Xăm-béc-
linh và Đa-la-đi-ê tại hội nghị Muy-ních để giải quyết vấn đề Đức - Tiệp. Ông công kích
thái độ tráo trở của tên phát xít Hít-le khi hắn xem hiệp ƣớc Đức - Pháp vừa mới ký chẳng
hơn gì tờ Tích Việt của chàng Sở Khanh , khi hắn ủng hộ Muyt-xô-li-ni trong việc đòi
Tuynidi thuộc Pháp. Ngô Tất Tố tỏ ra là ngƣời có kiến thức rộng rãi và khá sâu sắc về nhiều
mặt khi ông bình luận về việc tên "phó sơn họ Hít" làm bẽ mặt Giáo hoàng La-mã. Việc cựu
hoàng đế nƣớc Áo bán chiếc mũ tôn vƣơng có 718 viên bảo thạch, và so sánh chiếc mũ
nặng bảy cân đó với mũ miện của các thiên tử Trung Quốc có 12 tua toàn bằng châu ngọc,
về những tiếng đàn dân tộc, đàn tƣơi đàn xảo ở đất thần kinh cũng nhƣ về bài thơ của
Vƣơng Bột làm ở Đằng Vƣơng Các khi cái gác nổi tiếng ở trên Chƣơng Giang thuộc đất
"Nam Xƣơng cố quận, Hổng Châu tân phủ" bị bọn quân Nhật tàn phá...
Đối với tình hình thế giới, ông am hiểu sâu sắc, kể cả cái lai lịch gốc tích của tên
phát xít Hít-le là: "một anh thợ sơn tay trắng, chỉ nhờ có một cái miệng mà trong khoảng 6,7
năm đã đánh đổ một chính phủ, xé tan mấy tờ hòa ƣớc, vỗ trơn bao nhiêu công nợ của liệt
cƣờng, bây giờ lại nuốt sống nƣớc Áo và đang lăm le nuốt nƣớc Tiệp, làm cho các nƣớc
châu Âu đều phải nhớn nhác lo sợ"(2). Và thái độ của ông đối với những tên trùm phát xít
cũng thật rõ ràng: "Một điều rõ rệt hơn nhất là tôi đã dùng trào phúng để đánh đổ cái chính
sách độc tài của Hít-le, cái thủ đoạn chuyên chế của Muýt-xô-li-ni, cái cử chỉ tàn bạo của
bọn Nhật Bản. Và ngay bên ấy, tôi đã xây dựng một nền tảng cho cuộc hòa bình ở Âu châu.
Vì có lời nói của tôi mà nƣớc Đức thân thiện với nƣớc Pháp bằng bản hiệp ƣớc Pháp - Đức,
vì có lời nói của tôi, nƣớc Pháp nới tỏ thái độ cƣơng quyết trong khi nƣớc Ý đòi đất của
mình, vì lời nói của tôi, quân Nhật ở đất Tàu, mới dùng dằng không dám đánh vào Quảng
Tây, Vân Nam..."(3). Mặc dù đây là những lời để ông "khoe với các bạn" ở bào Ngày nay,
nhƣng chúng ta có thể thấy rõ quan niệm về viết báo của
(1) Ông Pagès chắc có đọc qua Trang Tử, Sđd, trang 208
(2) Chúa trùm đảng áo nâu sẽ xuống địa ngục.
(3) Hết năm, Thời vụ số 105, ra ngày 17-2-1939.
73
Luận án thạc sĩ
ông, không phải là để ru ngủ "lôi kéo mấy bà mấy cô vào con đƣờng lãng mạn, hƣ hỏng"
nhƣ Ngày nay, mà là để "xây dựng một nền tảng cho cuộc hòa bình", bằng cách đấu tranh
chống lại những tên chuyên chế, độc tài và tàn bạo nhƣ Đức - Ý - Nhật.
Ngô Tất Tố sử dụng văn tiểu phẩm để vạch trần những chuyện chƣớng tai gai mắt,
những chuyện bất công ngang trái trong xã hội. Thời ấy trên các báo hàng ngày, ngƣời đọc
rất thích những bài bình luận ngắn của Thục Điểu trong trên tờ Đông phương, của Phó Chi
trên tờ Tương lai, của Xuân Trào trên tờ Thời vụ, của Hi Cừ trên tờ Đông pháp... Đặc sắc
nhất trong tạp văn của Ngô Tất Tố là những bài chống thực dân Pháp và bộ máy nhà nƣớc
của chúng từ trên xuống dƣới, từ quan toàn quyền thống sứ, thống đốc đến bọn hào lý ở
nông thôn kể cả bọn "nho" sống lẩn lút ở các phủ huyện cũng không thoát khỏi ngòi bút đả
kích của ông. ông tố cáo tội ác của một nền cai trị, nói "bảo hộ", nhƣng thực tế là bóc lột
đến tận xƣơng tủy, làm ngƣời dân không thể sống nổi. Ông lên án chế độ thực dân, chứ
không chỉ nêu những cái lố lăng, dâm ô, trụy lạc của một vài tên Tây đoan, một vài tên lính
săng đá hoặc của mấy mụ me Tây. Ông vạch trần những thủ đoạn áp bức bóc lột của chúng,
chứ không dừng lại tố cáo bọn thống trị ở mặt thƣơng luân bại lý, nhƣ nhiều nhà văn hiện
thực phê phán thời bấy giờ thƣờng viết.
Tạp văn của Ngô Tất Tố là một phòng triển lãm những chân dung khác nhau của giai
cấp thống trị và những kiểu ngƣời trong xã hội cũ. Ngày nay đọc lại tạp văn của Ngô Tất
Tố, có thể nhiều ngƣời không biết rõ lý lịch của những tên nhƣ Tôlăngxơ đại nhân, thủ hiến
Bắc Kỳ, Pagès thống đốc Nam Kỳ, Võ hiển Hoàng Trọng Phu, Thƣợng thƣ Phạm Quỳnh,
Bắc Kỳ nghị trƣởng Phạm Huy Lục, "Bắc Kỳ nghị trƣởng Lê me-xừ" "Bùi Quang Chiêu đại
nhân", lãnh tụ đảng Lập hiến hữu danh vô hình ở Nam Kỳ và cuối cùng là một nhân vật có
cái tên dài lòng thòng nhƣ dây muống: "Hiệp tá đại học sĩ sung Bắc Kỳ Phật giáo hội hội
trƣởng kiêm Hà Nội Quán sứ trụ trì Nguyễn Năng Quốc đại nhân".
Ngô Tất Tố đả kích mạnh mẽ những nhân vật điển hình trong xã hội thực dân phong
kiến, không phải ông đả kích cho sƣớng tay, chửi cho sƣớng miệng, mà là để tố cáo, buộc
tội một cách nghiêm chỉnh. Tên của những nhân vật nói trên có thể đƣợc coi nhƣ là những
danh từ chung để chỉ bọn "tai to mặt lớn", bọn vẫn xƣng là quí tộc thƣợng lƣu trong xã hội
đƣơng thời. Nhiều khi chúng ta không cần biết, không cần tra cứu lý lịch cá nhân của chúng,
chỉ biết đó là: "những tài chủ, nghiệp chủ, điền chủ cùng những danh công đại thƣơng",
"những quan lại công chức ngƣời
74
Luận án thạc sĩ
Pháp", "những ngƣời đóng vai ông chủ", những hạng con buôn "ngoài những kẻ buôn thuốc
phiện lậu, buôn giấy bạc giả, buôn dân, buôn nƣớc, buôn nghị trƣờng, cũng có lắm kẻ nghĩ
ra nghề buôn tôn giáo mà đại phát tài"; đó là những õng "dân biểu đƣơng chức" đó là
"những chiếc mặt nạ" hội viên thành phố; đó là những ông không thèm biết chủ nghĩa xã hội
là gì nhƣng cũng cứ xin vào chi nhánh đảng xã hội (SFIO) để mƣợn tiếng tranh cử nghị
viện, lƣờng gạt quần chúng, đó là " một số rất lớn cụ lang, ông lang, chú lang, anh lang đều
là tổ sƣ, thánh sƣ, tiên sƣ và kỹ sƣ của nghề bịp"; đó là những kẻ làm nghề bán thuốc hạ bộ
"xứng đáng treo làm câu đối hai câu "Hán tự chẳng biết Hán, Tây tự đếch biết Tây" của ông
Tú Xƣơng"; cuối cùng đó là những bậc "thƣợng lƣu vẫn vui vẻ khuyên vợ cắm sừng lên đầu
cho mình, muốn chóng thăng quan tiến chức còn cố cƣới thêm nàng hầu để chuyên giúp
mình vào việc đó nữa".
Trong phong trào Đông Dƣơng đại hội cũng nhƣ phong trào Mặt trận Dân chủ, ngòi
bút sắc bén của Ngô Tất Tố đã cố gắng theo kịp những vấn đề của thời đại. Hầu hết những
yêu sách trong chƣơng trình tối thiểu của Mặt trận Dân chủ đều đƣợc Ngô Tất Tố đề cập
đến. Trong tạp văn của ông, Ngô Tất Tố thừa nhận rằng chính phủ Léon Blum lên cầm
quyền cũng đã làm đƣợc một vài việc nhƣ: ân xá một số tù chính trị, không bắt bớ nghiêm
ngặt mấy vụ đình công... Nhƣng tại sao chính phủ còn hạn chế "các quyền tự do nhƣ tự do
báo chí, tự do hội họp, tự do đi lại, tự do lập chính đảng" của dân chúng? Ngô Tất Tố đã đặt
thẳng vấn đề này trong bài: Sự đắc thắng của cuộc "thí nghiệm Blum" ở Đông Dương đã có
lợi cho nước Pháp. Bản thân ông cũng đã tham gia hội nghị báo giới Bắc Kỳ lần thứ nhất
(24-4-1937) và lần thứ hai (9-6-1937), tham gia đấu tranh đòi thả một số phóng viên của các
báo bị bắt, để đòi quyền tự do ngôn luận.
Là một nhà nho nghèo yêu nƣớc, tiến bộ, Ngô Tất Tố không chịu bít mắt bƣng tai
trƣớc những ngang trái, bất công, những điều xấu xa, bỉ ổi đầy rẫy trong xã hội đƣơng thời.
Giữa lúc cuộc đấu tranh xã hội gay gắt căng thẳng, ông không thể chỉ nghĩ đến chuyện viết
những tác phẩm dài hơi, mà thấy cần phải dùng ngòi bút của mình tác chiến kịp thời "mỗi
ngày một chuyện", về nnững điều mắt thấy tai nghe đang diễn ra lúc ấy. Trong khoảng mƣời
năm (1930-1940), ông đã viết khoảng 120 bài báo tập trung nhiều nhất là giai đoạn 1937-
1939, khi thực dân. Pháp bãi bỏ chế độ kiểm duyệt (ông đã viết tới 90 bài). Trong các tác
phẩm báo chí lòng yêu nƣớc thƣơng dân của đƣợc biểu hiện cao độ nhất, tập trung nhất.
75
CHƢƠNG III: NGHỆ THUẬT VIẾT VĂN TIỂU PHẨM CỦA
NGÔ TẤT TỐ
Luận án thạc sĩ
1. Đặc điểm của thể loại tạp văn
Viết một bài báo có chất lƣợng, tạo đƣợc sự chú ý nơi ngƣời đọc là cả một quá trình
lao động trí tuệ nghiêm túc, chứ không đơn giản chút nào. Chỉ riêng việc thu hút độc giả
quan tâm đến vấn đề mà nhà báo nêu ra, chịu đọc đến bài viết đăng trên báo đã là một thành
công rồi, chƣa nói đến là có tán thành ý kiến của nhà báo hay không. Muốn cho bài viết đạt
hiệu quả cao, ngƣời làm báo phải coi thực tiễn dang diễn ra hàng ngày là cơ sở hoạt động
cho nghề nghiệp của mình, phải biết mình đang viết cho lớp ngƣời nào đọc, lợi ích kinh tế -
văn hóa chi phối đời sống của lớp ngƣời đó là gì. Nếu không biết những điểu ấy, thì bài viết
sẽ không có sức thuyết phục ngƣời đọc đứng về phía mình để chống lại ách áp bức bóc lột,
nạn nghèo đói, dốt nát cùng những bất công ngang trái trong xã hội. Và nhƣ thế cũng có
nghĩa là nhà báo chƣa làm tròn chức năng biến các tƣ tƣởng tiến bộ thành những hành động
cụ thể. Bởi vì ngƣời đọc chỉ quan tâm đến những bài báo mà họ thấy có thể làm cho đời
sống của họ thú vị hơn.
Trƣớc khi trở thành nhà văn, Ngô Tất Tố đã tham gia viết báo, nhiều bài viết của ông
tạo đƣợc sức thuyết phục mạnh mẽ nơi ngƣời đọc. Vì ngòi bút của ông luôn theo sát những
sự kiện nổi bật đang diễn ra hàng ngày trong cuộc sống, có liên quan trực tiếp đến quyền lợi
của nhân dân và lợi ích của dân tộc. Những sự kiện đƣợc ông nêu lên những thông tin đƣợc
ông chuyển tải đến ngƣời đọc, đều phù hợp với nguyện vọng và tâm tƣ tình cảm của nhân
dân, với ý chí của dân tộc.
Nhƣng chỉ riêng nội dung không thể quyết định hiệu quả của một bài báo mà còn
phƣơng thức diễn đạt hấp dẫn. Trong tạp văn - tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, ông luôn tìm tòi
các hình thức và phƣơng pháp diễn đạt thích hợp, ông viết đủ các thể loại nhƣ: bình luận,
tùy bút, điều tra phê bình, bút chiến... Ngô Tất Tố rất có ý thức trong việc sử dụng tạp văn
nhƣ một thứ vũ khí đấu_tranh sắc bén, gọn nhẹ, tiện lợi để đấu tranh với kẻ thù đang nắm
chính quyền, đồng thời làm phƣơng tiện "chở học thuật - tƣ tƣởng và hƣớng đạo quần
chúng".
76
Luận án thạc sĩ
- Đặc điểm của thể loại tạp văn - tiểu phẩm là ngắn gọn. Càng ngắn gọn, càng súc
tích thì càng gây đƣợc ấn tƣợng mạnh. Nếu viết dài sẽ dễ lan man và nhiều khi lạc đề, mất
điểm nút. Phải có tính hài, nếu tiểu phẩm viết ra chỉ nêu đƣợc vấn đề cần bàn, cần tỏ thái độ
mà thiếu chất hài thì bài viết sẽ không còn là tiểu phẩm nữa. Lúc đó nó chỉ là một ý kiến
ngắn, một tin có lời bình hoặc là một thông báo. Vì vậy, tính hài không thể thiếu đƣợc trong
tiểu phẩm. Phải bộc lộ đƣợc thái độ của ngƣời viết. Thái độ đó thƣờng là phê phán, đả kích,
bút chiến, nhƣng cũng có khi ngợi ca dí dỏm, thông minh. Phải có sức thuyết phục: sức
thuyết phục trong tiểu phẩm đƣợc thể hiện ở ngôn ngữ dùng để diễn đạt vấn đề, dẫn dắt vấn
đề và nằm ở bản thân lô-gích của sự việc nêu ra. Nếu bài viết thiếu lõ gích, tiểu phẩm sẽ trở
thành khiên cƣỡng, thiếu sức thuyết phục và ngƣời đọc khó có thể đồng tình với tác giả.
Tạp văn - tiểu phẩm của Ngô Tất Tố cũng có những đặc điểm chung ấy. Những bài
báo của ông thƣờng là loại bình luận thời sự chính trị, xã hội. Bản thân của vấn đề đƣợc đƣa
ra đã là khố khan rồi, vậy viết nhƣ thế nào để hấp dẫn đƣợc ngƣời đọc. Quả là một công việc
rất khó. Nếu không có tay nghề cao, khi viết dễ rơi vào đơn điệu, công thức, sơ lƣợc, một
chiều và tất nhiên là sẽ làm cho ngƣời đọc nhàm chán. Tâm lý chung của đông đảo độc giả
xƣa cũng nhƣ nay, thƣờng ít chú ý đến những bài báo thuộc thể nghị luận, bình luận. Bởi họ
cho rằng, nó không có tính chất văn chƣơng ai cả và nó chỉ có giá trị trong một thời gian rất
ngắn. Thực tế cho thấy, từ trƣớc đến nay, số tác giả thành công về thể loại này không nhiều.
Vậy mà Ngô Tất Tố đã làm cho ngƣời đọc say mê bằng chính những bài bình luận
của mình, đăng liên tục trên các báo trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến 1945. Bằng sự
hiểu biết sâu sắc về đời sống xã hội, cộng với vốn hiểu biết về văn hoa phong phú, ông trực
tiếp đặt ra những vấn đề đang đƣợc đông đảo quần chúng quan tâm, đƣa ra những điều
khiến ngƣời đọc phải suy nghĩ và tạo đƣợc dƣ luận công chúng chính đáng. Khả năng quan
sát hiện thực và trình độ tƣ duy chính trị của ông sắc bén, mới mẻ. Ông lý giải đƣợc các vấn
đề mà thực tiễn của cuộc sống đang đặt ra, có sức thuyết phục cao, không rơi vào minh họa
một cách sáo mòn.
Những bài bình luận của ông dù ngắn, nhƣng vẫn có nội dung, có nhân vật và vì vậy
nó có giá trị nhƣ một tác phẩm văn chƣơng. Đây chính là yếu tố tạo nên sức sống lâu dài
cho tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố. Điều này thể hiện qua kết cấu, giọng điệu nghệ thuật
và ngôn ngữ nghệ thuật đƣợc ông vận dụng vào từng bài viết.
77
Luận án thạc sĩ
2. Kết cấu
Nói đến kết cấu của một bài báo là nói đến toàn bộ những yếu tố, thành phần, sự
kiện đƣợc ngƣời viết sắp xếp gắn liền với nhau theo một kiểu tổ chức nhất định. Tìm hiểu
kết câu của tác phẩm là tìm hiểu bƣớc đi của nội dung và bƣớc đi của hình thức. Kết cấu là
một trong những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Nhà báo phải tổ
chức sắp xếp nội dung bài báo của mình sao cho cái chính yếu đƣợc nổi bật, cái quan trọng
gây đƣợc ấn tƣợng mạnh mẽ trong lòng ngƣời đọc. Kết cấu tác phẩm thể hiện quá trình đánh
vật của ngƣời viết với tài liệu, sự kiện đang diễn ra hàng ngày trong cuộc sống, để biểu hiện
chân lý khái quát. Kết cấu cũng thể hiện đƣợc tƣ tƣởng và tài năng của ngƣời viết.
Thông thƣờng kết cấu của một bài văn tiểu phẩm có ba phần chính: vào đề, diễn giải,
kết luận. Phần vào đề có tính chất gợi mở vấn đề cần bàn, cần đề cập trong nội dung để gây
sự chú ý, tò mò nơi ngƣời đọc. Phần diễn giải nhằm dẫn dắt ngƣời đọc đi vào cốt lõi của vấn
đề, tạo nút căng thẳng và cởi nút, hoặc tạo tình huống và giải đáp tình huống. Phần kết luận
cần khái quát vấn đề đang bàn, đƣa ra lời bình thật đắt và thuyết phục ngƣời đọc. Lời bình
có thể là lời của tác giả, nhƣng có khi lại là lời của nhân vật (nếu có). Tuy nhiên trong từng
bài viết, trật tự trên cũng có khi bị đảo lộn.
Đọc tạp văn - tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, chúng tôi nhận thấy từ cách cảm nghĩ đến
cách trình bày của ông đều giản dị, tự nhiên vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại
rõ nét. Những bài báo của ông đa số đều ngắn gọn và bao giờ cũng có kết cấu chặt chẽ. Ông
có cách viết tự nhiên, dí dỏm, hấp dẫn khiến ngƣời đọc nhiều khi có cảm giác nhƣ tác giả
đang trực tiếp trò chuyện với mình. Điều ấy đƣợc thể hiện trƣớc tiên trong cách đặt tựa (tít)
cho các bài báo. Có khi ở dạng một câu đố (Đố biết ông Godart là người gì?), có lúc nhƣ
một lời dọa (Truyện Kiều sẽ ghi vào hiến pháp có ngày, Chúa trùm đảng áo nâu sẽ xuống
địa ngục.) hoặc một câu hỏi, (Còn gì nữa mà chưa giải tán Viện dân biểu? Cớ sao mình lại
lạt lẽo với cái mặt của mình? Không biết những quan nào thế? Hiệp tác hay hiếp tác? Vậy
thì An nam cũng phải có thuộc địa chứ? Sao không hỏi Tự lực văn đoàn?. Phải hỏi ngôi đền
ấy thờ ông nào đã...) hay là sự nghi vấn ( Dưới quyền chính phủ bình dân, sao ở Đông
Dương những thứ ngược hình còn sống. ông Pagès chắc có đọc qua Trang Tử. Nghị viện
khoa tới sẽ là trách nhiệm của ai...), hoặc một lời khuyên (Đừng giờ ngón ấy ra nữa, tôi
can mấy ông Ngày nay. Không nên quên một bọn
78
Luận án thạc sĩ
Văn sĩ...) hay nhƣ một sự nhờ vả (Xin nhờ Lơmuya Cát Tường việc này nữa. Việc này lại
phải nhờ đến cụ nghè Bân...).
Đặt "tít" cho một bài báo là công việc khá quan trọng, có khi ngƣời đọc chỉ lƣớt
qua đầu đề, xem có gì mới, có gì hấp dẫn không rồi mới đọc tiếp phần nội dung. Thông
thƣờng thời gian cần thiết cho sự vận động của trí óc trong khoảng từ 6 đến 10 giây, ngƣời
đọc chỉ có thể tri giác đƣợc từ 5 đến 6 từ mà thôi. Vì vậy, những đầu đề dài từ 10 từ trở lên
thƣờng khó nhớ và không tạo đƣợc sự chú ý. Nhƣng ở một số bài báo của mình, Ngô Tất
Tố lại "cố ý" khai thác ngay yếu tố khó nhớ này để gây ấn tƣợng. Chẳng hạn khi đọc đầu
đề: thuốc lậu, chuyện kiếm hiệp, vé số giả và cụ Nguyễn Thượng Hiền (Thời vụ số 125, ra
ngày 6-5-1939), ngƣời đọc cảm thấy rối rắm, và chính tác giả cũng đã viết ngay trong câu
đầu tiên của phần vào đề: "Đọc mớ danh từ nộm nạm, hỗn tạp trong cái đầu đề kia, các bạn
chắc cũng đoán tôi muốn nói đến Lê Ngọc Thiểu, tức Bình Hƣng, kẻ mới bị 4 tháng tù treo
về tội chực lừa cả nƣớc...". Rõ ràng là tác giả có chủ tâm khi đặt tựa bài báo đó, buộc
ngƣời đọc phải chú ý.
Có những bài viết dài, Ngô Tất Tố đã khéo léo chia ra làm nhiều "tít" nhỏ nhƣ bài:
Dao cầu thuyền tán (Công dân, ra ngày 20.11.1935) ông đã chia thành ba "tít" nhỏ: Tôi
còn sống vì không uống thuốc; Chữa khoán hết các bệnh; Tôi Thầy lang Thỏ Đực. Hoặc
trong bài: Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (Thời vụ từ số 80, ra tháng 11-1938 đến
số 87 ra tháng 12-1938) cũng có ba "tít" nhỏ: Tại sao bây giờ tôi mới nói đến sách này?
Đem tư tưởng của người khác làm tư tưởng của Khổng Tử; Dịch sai nghĩa hoặc thêm ý
mình vào Kinh truyện.
Do đặc điểm của văn tiểu phẩm là ngắn gọn, nên đôi khi tựa bài báo đóng luôn vai
trò của phần mở đầu. Điều này, thật dễ dàng nhận ra trong các bài báo có "tít" dài. Lƣớt
qua đầu đề, ngƣời đọc có thể đoán đƣợc nội dung mà tác giả định thể hiện là viết về vấn đề
gì. vấn đề đƣợc Ngô Tất Tố đặt ra trong các bài viết hầu hết là những vấn đề chính trị, xã
hội to lớn có liên quan trực tiếp đến đời sống của đông đảo quần chúng nhân dân lao động.
Chỉ riêng việc đặt "tít" cho các bài báo, chúng ta có thể học tập đƣợc ở Ngô Tất Tố rất
nhiều điều.
Vào thời đó, ai cũng biết Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là
những chính khách có tầm cỡ trong xã hội. Trên sân khấu chính trị họ múa may đủ trò để
gây sự chú ý với chính quyền thực dân nhằm đạt đến mục đích mƣu cầu danh lợi. Bản chất
làm tay sai của họ
79
Luận án thạc sĩ
dần đần lộ ra. Vì vậy khi đọc qua tựa các bài báo: Sau lưng cụ Bùi Quang Chiêu, hai ông
Quỳnh Vĩnh đuổi nhau sồng sộc; Ông Thông Reo dám tiết lộ việc bí mật của ông Thượng
Chi. Không phải đánh bốc, đánh tài Tây đấy! Nước bạc cuối cùng của cụ Bùi Quang
Chiêu... ngƣời đọc nhận ra ngay vấn đề mà ông định viết. Tính chất châm biếm bọn quan
lại, đầu cơ về chính trị cũng đƣợc thể hiện trong các tựa bài.
Sự bóc lột dân nghèo của bọn phú hào ở nông thôn, đƣợc Ngô Tất Tố nói thẳng ra
bằng các "tít": Cái khí giới của bọn phú hào dùng để bóc lột dân nghèo hay là nạn vay lãi ở
thôn quê; Trừ nạn cho vay nặng lãi, lại nảy ra nạn bán rẻ...
Trong lúc đời sống của nhân dân đói khổ đến cùng cực, chẳng ai quan tâm đến, mà
chính quyền lại ra sức cổ vũ cho các "phong trào phục cổ”, "vui vẻ trẻ trung" và chúng sử
dụng bọn bồi bút tay sai làm công cụ truyên truyền. Trên báo họ không ngớt bày cho thanh
niên những trò ăn chơi, những kiểu sống tân thời... nên đọc qua tựa bài: Mười năm nữa báo
chí Bắc Kỳ sẽ cổ động đến "thò lò", "quay đất". Không cần giải thích ngƣời đọc cũng biết
"báo chí chết rét nào lại cổ động những trò mọi rợ ấy?". Nên ông khuyên các đồng nghiệp:
Đừng giở những ngón ấy ra nữa, tôi can mấy ông Ngày nay.
Ngƣời đọc sẽ giật mình khi nhìn thấy tựa bài báo "Chủ nghĩa "tự do luyến ái" đã lan
đến giới thần thánh, Bãi nước bọt trên mặt một ông tuần phủ, Vậy thì An Nam cũng phải có
thuộc địa chứ?, Từ nay dân Pháp lại khổ hơn dân An Nam thêm một tầng nữa... ông đƣa
những vấn đề quan trọng lên thành "tít" bài báo rồi lần lƣợt giải thích trong phần nội dung.
Một nguyên tắc gần nhƣ có tính chất bắt buộc đối với thể loại tạp văn - tiểu phẩm là
thông tin quan trọng nhất phải đƣợc nêu ngay trong câu đầu tiên, phần mở đầu phải là phần
chứa đựng những thông tin cốt yếu nhất. Nếu muốn ngƣời đọc tiếp nhận toàn bộ bài báo thì
thông tin quan trọng nhất phải đƣợc nêu ra trƣớc. Nếu ngƣời đọc không thấy thông tin quan
trọng nào ngay trong câu đầu tiên, thì sự chú ý sẽ tắt đi và không chuyển thành hứng thú
nữa. Cái đảm bảo thu hút sự chú ý của ngƣời đọc là các sự kiện đƣợc trình bày chính xác
ngay từ chữ đầu tiên. Trong tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, ông có nhiều cách vào để
linh hoạt, chẳng hạn đặt những động từ gây sự chú ý ở đầu câu nhƣ: Trông (Truyện Kiều sẽ
ghi vào hiến pháp có ngày) coi (Tiên sinh Phạm Quỳnh cãi lộn với ông Thượng Chi) ngó
(Còn chờ gì nữa mà chưa giải tán
80
Luận án thạc sĩ
Viện dân biểu), thấy (Nghị viện khoa tới sẽ là trách nhiệm của ai?) đọc (Chúa trùm đảng áo
nâu sẽ xuống địa ngục.
Cũng có khi ông vào đề một cách trực tiếp, mở đầu bằng những trạng từ: Hú vía!
Tƣởng là mất ông phạm Huy Lục (Đã thấy ông Phạm Huy Lục). Kỳ quái! Tai nạn ở thế giới
ngày nay, hình nhƣ cũng có chia ra phe đảng. (Trong hai chiếc tàu ngầm của Anh và Mỹ có
14 người An Nam) hoặc những cụm từ chỉ thời gian nhƣ: Gần một tháng nay... (Bọn dân
biểu suy đới ông Phạm Huy Lục là phải), Trong tuẫn lễ trƣớc đây... (Không nên quên một
bọn văn sĩ)... để kích thích sự tò mò, bởi vì ngƣời đọc muốn biết trong thời gian đó đã xảy ra
việc gì thì phải đọc tiếp phần diễn giải.
Ngoài việc sử dụng các từ gây sự chú ý đặt ở đầu câu, Ngô Tất Tố còn quan tâm đến
lối viết câu ngắn gọn. Ông không nói vòng vo mà thƣờng vào đề trực tiếp. Có khi phần vào
đề chỉ là một đoạn văn ngắn, thậm chí chỉ có một câu. Chẳng hạn nhƣ trong bài: Đã thấy
ông Phạm Huy Lục, Ngô Tất Tố chỉ sử dụng có 9 từ để vào đề: "Hú vía! Tƣởng là mất ông
Phạm Huy Lục". Cách vào đề của Ngô Tất Tố thƣờng ngắn, nhƣng ngắn ở mức độ nào? Qua
thống kê trong số 112 bài báo của Ngô Tất Tố (Ngô Tất Tố - tác phẩm, NXB Văn học 1977)
chúng tôi ghi nhận đƣợc: 35 bài có phần vào đề dƣới 30 từ, 40 bài có 30 đến dƣới 50 từ, 13
bài có 50 đến dƣới 70 từ, 19 có 70 từ trở lên. Nhƣ vậy số bài có phần vào đề ngắn, từ 50 từ
trở xuống chiếm tỷ lệ khá cao (75 bài). Yêu cầu chung của một bài báo là ngắn gọn, vấn đề
này đã đƣợc Ngô Tất Tố thể hiện ngay ở phần vào đề.
*
* *
Trong phần diễn giải, Ngô Tất Tố không dẫn dắt ngƣời đọc đi lan man, mà ông tập
trung xoáy sâu vác một vấn đề cần bàn.
Các bài báo của Ngô Tất Tố thƣờng là loại bình luận thời sự, bình luận xã hội, nhằm
làm cho độc giả hiểu và nhận thức đúng về một vấn đề thời sự hay một sự kiện xã hội nào
đó. Từ những sự kiện xảy ra trong thực tế, ngƣời viết dẫn dắt độc giả rút ra kết luận để họ
hành động đúng đắn. Vì vậy, bài báo phải có sức thuyết phục, có căn cứ và lập luận chặt
chẽ. Các bài bình luận của Ngô Tất Tố không giống nhƣ một bài xã luận, mà nó gần với một
tác phẩm văn học. Vì ở đây tác giả đã xây dựng đƣợc những hình tƣợng có sức truyền cảm
sâu sắc đối với ngƣời đọc. Trong
81
Luận án thạc sĩ
nhiều tiểu phẩm của mình, Ngô Tất Tố đã kết hợp đƣợc sự thuyết phục lô-gích với sức
truyền cảm bằng hình tƣợng. Một trong những biện pháp mà Ngô Tất Tố đã dùng để hình
tƣợng hóa trong văn tiểu phẩm của mình là mƣợn chuyện có sẵn trong sử sách, những phong
dao, ngạn ngữ hoặc truyền thuyết dân gian để làm nổi bật vấn đề mình định viết. Vốn là một
nhà nho, nên Ngô Tất Tố thƣờng hay liên hệ chuyện đời xƣa để so sánh với chuyện thời nay,
nhằm làm tăng thêm giá trị của sự phê phán. Tiêu biểu cho loại văn so sánh này là các bài:
Tương lai với Thái thượng lão quân, Ông Thống sứ với trận mưa hôm nọ, Ông Pages chắc
có đọc qua Trang Tử, Bãi nước bọt trên mặt ông tuần phủ, Báo Tân Biệt và vợ Chu Mãi
Thần, Bộ thuộc địa và chàng Đặng Bá Đạo...
Ngô Tất Tố đem chuyện xƣa so sánh với nay, rồi đƣa ra lời bình. Quan trọng nhất là
phần bình luận của ông sau đó. Lời bình của ông sắc sảo, ngắn gọn làm cho ngƣời đọc hiểu
đƣợc ngay ý tác giả muốn nói điều gì. Ông đƣa ra chuyện bùa phép của Thái thƣợng lão
quân rất oai linh, tà ma ngó thấy đều phải hoảng hồn mà chạy, để sau đó ông đƣa ra lời bình:
"Tương lai đối với những ông quan lại tham nhũng cũng có hiệu lực nhƣ vậy... Tương lai
chính là đạo bùa trừ họ" (Tương lai với Thái thượng lão quân, sách đã dẫn trang 157).
Chính phần bình luận của Ngô Tất Tố mới là điểm quan trọng làm tăng giá trị phê phán, gây
đƣợc ấn tƣợng mạnh mẽ, tạo cho tác phẩm có đƣợc chiều sâu tƣ tƣởng.
Trong văn tiểu phẩm, Ngô Tất Tố đã ít nhiều thực hiện đƣợc yêu cầu điển hình hóa
của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa, ông biết chọn lọc để nêu lên một số vấn đề điển hình
của xã hội lúc bấy giờ nhƣ: chuyện "khai hóa văn minh", chuyện Pháp - Việt đề huề, chuyện
bảo tồn quốc túy, chuyện quan lại hối lộ, chuyện dân biểu bù nhìn, chuyện chấn hƣng Phật
giáo, chuyện "vui vẻ trẻ trung", chuyện thuế má cắt cổ, chuyện cho vay nặng lãi và cuối
cùng là chuyện nông dân biểu tình chống thuế, phá kho thóc của địa chủ.
Ngô Tất Tố cũng đã phác thảo một số chân dung theo kiểu biếm họa về những nhân
vật điển hình của giai cấp thống trị và những kiểu ngƣời trong xã hội cũ. Nhƣng ở đây, Ngô
Tất Tố phân biệt rất rõ việc "đả kích cá nhân" với "châm biếm xã hội", khi nêu lên một số
ung nhọt điển hình của xã hội bằng những nét phác họa tài tình. Có khi chỉ trong một bài
văn tiểu phẩm, Ngô Tất Tố đã vẽ nên đƣợc cái chân dung đậm đặc, cái lõi tính cách của một
con ngƣời. Viết về Bùi Quang Chiêu, một con ngƣời đầu cơ chính trị, xem cuôc đời nhƣ một
canh bạc lớn, Ngô Tất Tố đã cung cấp cho ngƣời đọc bản tiểu sử và lý lịch trích ngang của
ông ta,
82
Luận án thạc sĩ
từ lúc còn du học bên Pháp cho đến "khi chiếc tàu cụ đi cập bến Sài Gòn, trên bờ có đến hơn
ba vạn ngƣời chờ đợi để hô cho đƣợc tiếng "Bùi Quang Chiêu vạn tuế". Trong lúc ngƣời dân
Nam Kỳ coi cụ nhƣ một vị cứu tinh có thể cứu vớt đất nƣớc Việt Nam thoát khỏi chỗ chìm
đắm, thì những điều cụ làm hoàn toàn trái ngƣợc với những gì mà ngƣời dân mong đợi. Ngô
Tất Tố đã nêu tóm tắt quá trình hoạt động chính trị của cụ nhƣ sau: "...Thế rồi, cụ ra làm Hội
đồng quản hạt. Thế rồi, cụ nghĩ ra hai chữ "lập hiến" để lập một cái chính đảng hữu danh vô
hình. Thế rồi, cụ cày mấy nghìn mẫu ruộng Đồng Tháp Mƣời. Thế rồi, cụ làm đại biểu Nam
Kỳ ở Thƣợng hội đồng thuộc địa bên Pháp... Nhƣng cái khi mà cụ mỗi ngày mỗi lên nhƣ
diều, thì cố nhiên nƣớc An Nam vẫn là nƣớc An Nam. Bao nhiêu những cái hy vọng vào cụ
ngày trƣớc, không thấy đƣợc một cái gì, bây giờ ngƣời ta mới biết cụ Bùi Quang Chiêu cũng
chỉ là ngƣời An Nam, mặc dù cụ vẫn mặc tây, ăn cơm tây, cả nhà đều nói tiếng Tây. Thế là
ngƣời ta đâm ra hoài nghi về cụ. Trƣớc còn hoài nghi trong bụng, sau rồi họ nói lên báo, sau
rồi họ công kích, sau rồi họ chế giễu, sau rồi họ thóa mạ. Bây giờ, đối với dân chúng Nam
Kỳ, lời nói của cụ không còn giá trị gì. Trong kỳ bầu cử Hội đồng quản hạt vừa rồi, cụ đã
không dám đầu đơn ứng cử, vì cụ biết rằng dù có ứng cử đi nữa, cũng chẳng ma nào bầu cho
mình, thà không ứng cử còn là cao thƣợng"(1).
Không làm điều gì có lợi cho dân, nên dân không tín nhiệm là phải, bây giờ cụ lại
đƣa đơn xin vào đảng xã hội cấp tiến của Tây để hòng hoạt động chính trị một lần nữa,
nhƣng đảng xã hội cấp tiến từ chối không bằng lòng cho cụ đứng vào phe của mình. Ngô
Tất Tố đã gọi đây là Nước bạc cuối cùng của cụ Bùi Quang Chiêu.
Điều cần lƣu ý là điển hình trong văn tiểu phẩm khác với điển hình trong kịch,
truyện vừa, tiểu thuyết... Ở đây hình tƣợng điển hình đƣợc xây dựng trên cơ sở tuân thủ theo
nguyên mẫu xã hội nhƣng đôi lúc nhà báo có thể tô đậm hoặc cƣờng điệu nét tiêu biểu nào
đó của nhân vật để gây ấn tƣợng. Vì thế hình tƣợng điển hình có khi không nằm trong một
bài mà phải lập hợp một số bài lại mới thấy đƣợc một cách đầy đủ. Nhƣ Lỗ tấn đã nói :
"Những cái mà tạp văn của tôi miêu tả thƣờng là một cái mũi, một cái miệng, một sợi lông
nhƣng hợp lại thời cơ hồ đã thành một hình tƣợng đầy đủ rồi" (Lời nói sau: Cho bàn gió
trăng)(2). Trong văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, hình tƣợng của Phạm Huy Lục, Hoàng
Trọng Phu Hítle... là những hình tƣợng đƣợc xây dựng khá công phu: mỗi bài viết dƣờng
nhƣ tập trung soi sáng nét tiêu biểu nào đó, của một tính cách đa dạng và phức tạp của nhân
vật.
(1) Nước bạc cuối cùng của cụ Bùi Quang Chiêu, Sđd trang 473.
(2) Trích lại trong Ngô Tất Tố - Tác phẩm, NXB Văn học, 1977, trang 59.
83
Luận án thạc sĩ
Ngoài việc mƣợn những chuyện có sẵn trong sử sách, rồi đem so sánh đối chiếu với
hiện thực, Ngô Tất Tố còn dựa vào các tin tức đã đăng trên các báo, để thực hiện lời bình,
nhằm làm nổi rõ tính cách của nhân vật mà ông định phê phán. Sự so sánh của ông hết sức
tài tình, ngƣời đọc không cảm thấy sự khập khiễng. Chính vì vậy mà nhiều bài báo của ông
có sức thuyết phục cao và truyền cảm sâu sắc.
Ngô Tất Tố đã tập hợp các nguồn tin trên nhiều báo để nêu bật những thủ đoạn tàn
ác của Hít-le và ông cho rằng "Một con ngƣời nhƣ vậy, thật có thể gọi là quái vật ở thế
giới", ông mƣợn chuyện khi hắn đến La Mã "hắn đi thăm khắp lƣợt, cái mộ ngƣời lính vô
danh cũng đƣợc hắn đặt một bó hoa lên trên. Thế mà hắn không thèm đến thăm Giáo hoàng,
cũng không thèm vào thăm một nhà thờ nào. Thật là hắn đã khinh Giáo hoàng ra mặt. Có lẽ
hắn tự phụ rằng không phải nhờ đến thế lực của tôn giáo, hắn vẫn cai trị nƣớc Đức nhƣ
thƣờng. Ấy là cái tƣ tƣởng của bọn ma quỷ"(1).
Hít-le, một con ngƣời đang "làm mƣa làm gió" ở châu Âu nhƣ thế, mà ông ví nhƣ
một con quái vật, "đã bị ma quỷ cám dỗ" hoặc "ma quỷ giáng sinh". Sự so sánh của ông
không gƣợng ép nên dễ thuyết phục ngƣời đọc. Qua bài báo, ông bày tỏ quan điểm tƣ tƣởng
của mình: một con ngƣời tàn ác nhƣ Hít-le sớm muộn gì cũng bị diệt vong, và Thiên chúa
giáo không phải là một "tôn giáo duy nhất", cũng không phải là nơi "thần thánh bất khả xâm
phạm". Bởi vì chẳng những Hít-le coi khinh giáo hoàng, ngƣời thay mặt chúa "làm vua về
đƣờng tôn giáo" mà "bao nhiêu họ hàng nòi giống của chúa là ngƣời Do Thái, hắn đều trục
xuất hết thảy, thật là con không nể chúa chút nào!". Vậy thì nếu chúa linh thiêng sao không
trừng phạt hắn đi, mà lại để cho "các nƣớc châu Âu phải nhớn nhác lo sợ" và ngay cả "Giáo
hoàng cũng vì sợ mất mẻ phải lánh đi chỗ khác". Mặc dù Ngô Tất Tố không phát biểu trực
tiếp, nhƣng chúng ta cũng dễ dàng nhận ra thái độ coi khinh tôn giáo của ông. Bởi vì ông
vốn là ngƣời không tin bói toán, không tin ở số mệnh.
Ngô Tất Tố đã có nhiều cách tạo ra tình huống và giải đáp tình huống khá linh hoạt.
Tùy theo vấn đề, mà ông có cách lập luận khác nhau để đạt đƣợc mục đích của mình là đánh
trúng đích, bắn chính xác vào kẻ thù của dân tộc và của quần chúng bị áp bức bóc lột.
Ở những bài phê bình cũng vậy! Ông nói có lý có lẽ nên đối tƣợng bị phê bình
không thể cãi đƣợc ông, mặc dù họ rất căm. Điều này thể hiện rõ trong bài Phê bình nho
giáo của Trần Trọng Kim (Thời vụ từ số
(1) Chúa trùm đảng áo nâu sẽ xuống địa ngục, Thời vụ số 27, ngày 13.5.1938.
84
Luận án thạc sĩ
80, ra tháng 11-1938 đến số 87, ra tháng 12-1938). Theo chúng tôi, trong bài này Ngô Tất
Tố bắn một mũi tên mà trúng nhiều đích. Ở phần đầu của bài báo, có "tít" nhỏ là: Tại sao
bây giờ tôi mới nói đến sách này? ông nhắm vào Phan Khôi "đọc những lời giới thiệu của
ông Phan Khôi đăng trong báo Phụ nữ tân văn. Ngoài việc bắt bẻ lặt vặt những chữ "Lƣơng
tri", "Trực giác", "Vô cực" cho có chuyện, ông Khôi hết sức xƣng tụng công trình của Nho
giáo và khuyên những ngƣời An Nam đều phải thắp hƣơng mà đọc"... Nhƣng khi đọc xong
Nho giáo, Ngô Tất Tố mới vỡ lẽ: "Đọc đi, đọc lại đến hai, ba lƣợt, càng đọc càng bị thất
vọng. Té ra trong bộ Nho giáo còn có nhiều chỗ khiếm khuyết, không phải tốt đẹp nhƣ lời
giới thiệu của Phan quân". Ngƣời thứ hai mà ông nhắm đến là Hoàng Đạo "ngƣời đã công
nhiên đem sự hiểu lầm của mình truyền thêm cho kẻ khác", bằng cách đăng trên báo Ngày
nay ba số liền. "Ông này đã đập lại những chỗ sai lầm trong cuốn Nho giáo, rồi thêm thắt
vào ít nhiều tài liệu không chắc chắn, mà nói oan cho cụ Khổng nhiều điều". Cuối cùng ông
kết tội Hoàng Đạo "Trong các độc giả của Nho giáo, số ngƣời hiểu lầm nhƣ ông Hoàng Đạo
không phải là ít. Rồi đây Hán học sẽ đến tiêu diệt, muốn khảo cứu Nho giáo, ngƣời ta cũng
làm nhƣ ông Hoàng Đạo, chỉ tìm bộ Nho giáo mà thôi. Nếu nhƣ những chỗ sai lầm của sách
ấy không bị đính chính, thì với những ngƣời đẻ sau vài chục năm nữa, Nho giáo sẽ là “Trần
Trọng Kim giáo", không phải là đạo giáo của Khổng Tử và tiên nho nữa", ở hai phần còn lại
của bài báo, Ngô Tất Tố đề cập đến những chỗ sai của Trần Trọng Kim trong cuốn Nho
giáo. Ông chỉ ra những chỗ sai cần phải nói lại cho đúng và phê phán: "Trong cuốn Nho
giáo thứ nhất còn nhiều chỗ luộm thuộm nhƣ thế, mà phần nhiều là vơ ở sách Lễ Ký và sách
Khổng Tử gia ngữ”. Theo Ngô Tất Tố, sở dĩ trong Nho giáo còn có nhiều hạt sạn nhƣ thế, vì
tác giả của sách đã lựa dùng tài liệu không đƣợc tinh vi, rồi pha trộn tƣ tƣởng của học trò
Khổng Tử hay của các nhà Nho đời Hán vào với tƣ tƣởng của Khổng Tử! Một nhà nghiên
cứu khi sử dụng tài liệu, mà đem "râu ông nọ cắm cằm bà kia", thì chất lƣợng của công trình
là không thể tin tƣởng đƣợc rồi. Nguyên nhân thứ hai dẫn đến những sai lầm trong Nho
giáo, theo Ngô Tất Tố là do Trần Trọng Kim đã không tôn trọng "điều kiện cốt yếu của một
nhà khảo cứu triết học là phải thật thà, ngay thẳng, đừng nói thêm nói bớt cho cổ nhân,
khiến cho hậu nhân, hiểu lầm tự mình không đƣợc nói hơn nói kém. Nhất là không đƣợc
đem những tƣ tƣởng của cố nhân mà uốn nắn, đẽo gọt, tô điểm cho hợp với xu hƣớng của
thời đại". Nhƣ vậy cái sai ở đây không còn là cái sai về câu chữ vụn vặt nhƣ trong lời giới
thiệu của ông Phan Khôi, mà sai cơ bản từ chỗ lựa chọn tài liệu và quan điểm của ngƣời
khảo cứu là chƣa "quét cho sạch thành kiến của mình".
85
Luận án thạc sĩ
Ngô Tất Tố đặt ra một yêu cầu rất cao về phẩm chất đạo đức của ngƣời nghiên cứu
là phải trung thực khách quan đối với đối tƣợng khảo sát nghiên cứu. Cái sai của Trần Trọng
Kim khi nghiên cứu Nho giáo là nằm ngay từ điểm xuất phát, tác giả không tôn trọng sự thật
khách quan, còn nhận xét theo cảm tính của cá nhân mình. Ngô Tất Tố cho đó là điều không
thể chấp nhận đƣợc ở một ngƣời làm công tác nghiên cứu. Vì vậy nên ông phê bình Trần
Trọng Kim rất kịch liệt.
Trong bài bút chiến với ông Thông Reo, một đồng nghiệp ở báo Trung Lập, vì cãi
giùm cho tờ Hà Thành ngọ báo, mà đả tờ Phổ thông, nhƣng mà "cãi giùm trật cả, nên mình
phải nói". Ngô Tất Tố dẫn ra những điều Phổ thông nói đúng, mà ông Thông Reo cãi trật để
đập lại. Ông nói mát mà ngƣời nghe càng nghe càng đau, ông chửi nhƣng chửi bằng văn
chƣơng, không chửi "loạn xà ngầu" nhƣ một số báo khác thƣờng làm.
Ông còn viết nhiều bài điểu tra, phản ánh khá tỉ mỉ về những thủ đoạn cho vay nặng
lãi của bọn quan lại địa chủ, phú hào ở nông thôn (Cái khí giới của bọn phú hào dùng để
bóc lột dân nghèo hay là nạn vay lải ở thôn quê, Tƣơng lai số ra ngày 25-02-1937), những
thủ đoạn làm giàu trên sinh mệnh ngƣời khác của bọn lang băm (Dao cầu thuyền tán, Công
dân, ngày 20-11-1935). Ngô Tất Tố đã cung cấp cho ngƣời đọc nhiều chi tiết sinh động, ai
ai cũng dễ dàng nhận ra, những điều ông nói đang xảy ra nhan nhản nơi thôn quê, chỗ nào
cũng có.
*
* *
Nếu nhƣ trong phần diễn giải, Ngô Tất Tố đã thu hút sự chú ý theo dõi của ngƣời
đọc, bằng những lời lẽ có sức thuyết phục và xây dựng đƣợc những điển hình nghệ thuật có
sức truyền cảm sâu sắc nhƣ đã trình bày trên, thì ở phần kết luận, ông kết thúc vấn đề một
cách ngắn gọn, dứt khoát thể hiện rõ quan điểm tƣ tƣởng của mình về một sự kiện hay một
vấn đề nào đó. Cũng có khi tác giả không đƣa ra lời bình hay ý kiến kết luận có tính chất
khái quát lại những vấn đề đang bàn. Có khi tác giả mƣợn luôn câu nói của nhân vật trong
đó (nếu có) để làm kết luận. Hoặc tác giả không viết phần kết luận, mà treo nó lơ lửng trƣớc
bạn đọc dành kết luận cho bạn đọc tự rút ra. Đó cũng là một thủ thuật của ngƣời viết.
Bằng những lời lẽ hết sức hùng hồn ở đoạn kết của bài: "Nghị viện
86
Luận án thạc sĩ
khóa tới sẽ là trách nhiệm của ai?, Ngô Tất Tố đòi giải tán nghị viện, bằng những lời kết
thúc đanh thép: "Nếu nhƣ những ngƣời có tài năng, có tâm huyết còn giữ một thái độ bi
quan đối với nghị viện, cứ để cái chỗ có quan hệ đến quyền lợi của mình cho bọn vô học và
bọn dã tâm múa, nhảy thì thà... xin bãi nghị viện cho rảnh".
Trong bài Tương lai với Thái thượng lão quân, Ngô Tất Tố đã kết luận bằng câu
cảnh cáo bọn quan lại tham nhũng: "Có muốn cho mình khỏi bị Tƣơng Lai khu trừ, tốt hơn
hết là các ông hãy rửa cho sạch lòng ruột, từ nay đừng bóp nặn dân đen nữa. Cấp cấp nhƣ
luật lệnh".
Nói về bọn quan lại tham nhũng đang hoành hành ở nông thôn giống nhƣ "bọn cƣớp
ngày", kết thúc bài báo: Dân quê chúng tôi muốn được tự do mất cướp, Ngô Tất Tố đã đƣa
ra lời đề nghị: " Ấy những cơ quan phòng thủ việc chấp đạo an dân ngày nay mục nát là thế,
nêu chính phủ giữ mãi cái thái độ bất can thiệp, thì chúng tôi xin cho dân đƣợc tự do mất
cƣớp để tránh cho dân cái nạn cƣớp ngày". Trong bài: Chúng tôi rất khó chịu với bọn "nho"
ở các phủ huyện, thay mặt dân Ngô Tất Tố "Mong rằng chính phủ ra tay trừ khử cho dân
chúng tôi cái họa ấy".
Cuối bài: Cái khí giới của bọn phú hào dùng để bóc lột dân nghèo hay là nạn vay lãi
ở thôn quê, ông đã lên tiếng báo động: "Cái nạn vay lãi ở thôn quê cũng nhƣ các vấn đề
khác, cần phải giải quyết, nếu muốn nâng cao trình độ cho dân nghèo, nếu muốn cho dân
nghèo có cái ăn, nhƣ lời ông Gô-đa nói hôm nọ. Bằng không thì dù cải cách kiểu nào, họ
cũng khó lòng mà dễ thở đƣợc".
Cũng có khi ông dùng những lời đe dọa, để kết thúc bài viết:" Nếu có ngó thấy các
ngài đã chẳng để cho bọn đầu cơ đƣợc bóc lột dân chúng thái quá nhƣ vậy. Thiên hạ kêu ca
nhiều rồi. Ai có chuyên trách về việc ấy cũng nên để mắt vào cho. Nếu cái mức sinh hoạt
còn chênh lệch quá thế này, e rằng rồi đây nhà pha không còn đủ chỗ mà chứa những kẻ
trộm đói, cƣớp đói" (Dân vô sản với những ngày đã được gọi là kinh tế phục hưng).
Có khi Ngô Tất Tố kết thúc bằng cách nêu lên câu hỏi để ngƣời đọc suy nghĩ và tự
tìm câu trả lời.
Chẳng hạn đoạn kết của bài: Ông Pagès chắc có đọc qua Trang Tử Ngô Tất Tố viết:
"Nếu không thế, cớ sao tự ngài đặt ra nghị định trục
87
Luận án thạc sĩ
xuất, rồi thì tự ngài lại bãi bỏ luôn nghị định của ngài? Thế ra ông Thống đốc Pagès năm
nay phản đối ông Thống đốc Pagès năm ngoái à?".
Hoặc những lời chất vấn buôc tội: "Hy vọng và chờ đợi, phải, không gì khôn ngoan
bằng trị dân theo cách ấy, nhƣng cái tình trạng của dân chúng tôi hiện nay đã kích thiết tới
thâm tâm, nên đã từng ngao ngán ở lời hứa hẹn, mà cái lòng oán trách căm hờn vụng trộm,
chúng tôi không chối cãi, vì chính phủ bấy nay chỉ chăm lo công quỹ mà quên kẻ làm giàu
có cho công quỹ, đã quá thiên trọng quyền lợi cho quan lại thực dân của mẫu quốc mà ngăn
ngừa hất hủi ngƣời dân thuộc quốc ở xứ này, tự gây ra một cái hố sâu để ngăn cách đời sinh
hoạt của hai dân Nam - Pháp (Cho no đủ đã). Trong bài Hiệp tác hay hiếp tác? Ngô Tất Tố
đã kết luận:" Ngày nay quan toàn quyền Brévie công nhiên tự nhận làm cha đỡ đầu cho nó,
chăm nom bù chì cho nó. Ngài nghĩ, ngài nói, rồi ngài làm, cố gây cho tình thân thiện Pháp -
Nam thêm bền chặt, mà công cuộc hiệp tác là đứa con chung của hai dân tộc trên đất nƣớc
này. Cứ lý thuyết thì rất hay, nhƣng có một điều rất khó là khi ngẫm xem thân thế của hai
bên nhƣ một kẻ nằm trên giƣờng một ngƣời nằm dƣới đất, một kẻ ăn thịt một ngƣời gặm
xƣơng, thì cái tinh thần thân ái vẫn còn lâu lắm mới thắm thiết đƣợc".
Hay những lời nói mỉa mai: "Nếu quả nhƣ vậy thì chức thƣợng thƣ bộ Học của ông
Quỳnh chắc nhƣ lèn rồi, chẳng những thế, có lẽ Quỳnh tiên sinh còn kiêm cả chức Tổng
trƣởng bộ lập pháp nữa kia". (Ông Thông Reo dám tiết lộ bí mật của ông Quỳnh) hoặc: "
Nếu vậy, ông Lục thật là ngƣời đáng thƣơng, bà con cử tri ở khu thứ nhất Phú Thọ cũng nên
thƣơng tình ông ấy mà bầu cho ông ấy" (Đã thấy ông Phạm Huy Lục).
Ở một số bài, Ngô Tất Tố còn mƣợn thơ hoặc khúc ca để kết luận cho bài viết nhƣ:
Ông Thống sứ với trận mưa hôm nọ, Hỏi thăm ông huyện vô danh...
Trong văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, chính kiến của tác giả đƣợc thể hiện cụ thể ở
phần kết luận. Ông đƣợc đông đảo ngƣời đọc hoan nghênh, bởi vì trong từng vấn đề, ông
đều đƣa ra những ý kiến kết luận rất xác đáng phù hợp với tâm tƣ nguyện vọng của quần
chúng và lợi ích dân tộc, hoàn toàn không mang tính chủ quan, thành kiến cá nhân.
Tóm lại, những bài báo của Ngô Tất Tố gần với thể loại truyện ngắn vì có cốt truyện,
có quá trình "diễn biến của sự vật, hiện tƣợng
88
Luận án thạc sĩ
trong cuộc sống, cho nên các thành phần của bài bình luận về cơ bản không khác mấy so với
thành phần cốt truyện trong văn học. Phản ánh sự thật dƣới dạng cốt truyện, ngoài tác dụng
nhận thức, tác dụng giáo dục còn có tác dụng thẩm mỹ nhƣ một tác phẩm văn học. Đặc
trƣng của văn học là tái hiện hiện thực bằng hình tƣợng. Hình trƣợng văn học là bức tranh
vừa cụ thể, vừa khái quát về cuộc sống của con ngƣời đƣợc xây dựng bằng hƣ cấu. Còn tạp
văn của Ngô Tất Tố, tôn trọng đặc trƣng cơ bản của báo chí là ngƣời thật việc thật, nên
không thể xây dựng hình tƣợng bằng hƣ cấu nhƣ trong văn học đƣợc. Nói cách khác, Ngô
Tất Tố đã rút ra trong văn học phƣơng pháp phản ánh cuộc sống bằng hình tƣợng, nhƣng
loại bỏ phƣơng pháp xây dựng hình tƣợng bằng hƣ cấu, vì báo chí không tái hiện hiện thực,
không khái quát cuộc sống để xây dựng điển hình, mà phản ánh cuộc sống theo đặc trƣng
của báo. Bức tranh trong tạp văn của Ngô Tất Tố là bức tranh xác thực của cuộc sống, là
bức tranh thời sự của cuộc sống, mà những sự kiện xảy ra đều có thời gian và địa điểm rõ
ràng, các nhân vật trong bài viết là những nhân vật đều có thật.
Ngoài việc vận dụng các hình thức văn học nhƣ xây dựng các điển hình, trong tạp
vặn của Ngô Tất Tố còn sử dụng các hình thức, nghiên cứu để phản ánh sự thật. Vận dụng
hình thức nghiên cứu, hoặc kết hợp hình thức này với hình thức văn học để phản ánh sự thật
đã tạo cho tác phẩm thể hiện nội dung của cuộc sống một cách phong phú và linh hoạt. Ngô
Tất Tố đã khéo léo kết hợp nhiều hình thức khác nhau, tạo cho bài viết càng trở nên sinh
động. Tất nhiên là mọi sự kết hợp đều để thể hiện nội dung, còn hình thức nào là chủ đạo
điều đó có liên quan đến bút pháp của ngƣời viết.
Xuất hiện dƣới hình thức nghiên cứu, thƣờng thƣờng sự kiện đƣợc chọn lọc để phản
ánh không nhất thiết phải hình thành cốt truyện, nhân vật trong cuộc không nhất thiết phải
xuất hiện từ đầu đến cuối, với đầy đủ những nét tính cách. Vấn đề ở đây, sự kiện đƣợc Ngô
Tất Tố nêu lên đã khái quát đƣợc những nét bản chất, cách diễn giải, phân tích tổng hợp của
ông có luận cứ, chứng, cứ, có tài liêu cụ thể, chính xác và sinh động. Điển hình đƣợc ông
xây dựng tiêu biểu cho cái chung và giải đáp đƣợc vấn đề đặt ra và định hƣớng cho quần
chúng hành động.
V ề phƣơng diện kết cấu nghệ thuật trong tạp văn của Ngô Tất Tố, thành công của
ông chính là ở những điều vừa nêu.
89
Luận án thạc sĩ
3. Ngôn ngữ nghệ thuật
Báo chí sử dụng ngôn ngữ làm phƣơng tiện và phƣơng thức hoạt động chủ yếu. Cho
nên đặc trƣng của các thể tài báo chí đều biểu hiện tập trung ở ngôn ngữ. Nhƣng cũng có ý
kiến cho rằng báo chí hay là bất kỳ một ngành hoạt động xã hội nào khác khi nói và viết
cũng đều dùng chung ngôn ngữ của dân tộc, văn chƣơng của xã hội. Do vậy, không thể có
ngôn ngữ riêng biệt của báo chí hay là của một ngành nào.
Tuy có sự phân biệt khác nhau đó, nhƣng lại có thể gặp nhau ở chỗ khẳng định rằng:
ngƣời làm báo muốn nâng cao chất lƣợng bài viết của mình thì phải có ý thức và công phu
rèn luyện, trau dồi kỹ thuật và nghệ thuật ngôn ngữ, hay nói rõ hơn tức là kỹ thuật, nghệ
thuật viết. Theo quan điểm thứ nhất (báo chí mang tính chất nghề nghiệp có ngôn ngữ riêng)
việc thể hiện ngôn ngữ của mình phải gắn chặt với tiền đề nhận thức đúng đắn đặc điểm, vai
trò và chức năng của báo chí, còn theo quan điểm thứ hai cho rằng bí quyết của việc sử dụng
ngôn ngữ trên báo chí là ở tài năng vận dụng từ vựng, ngữ pháp, thể loại, phong cách đơn
thuần về mặt văn học.
Thực tiễn hoạt động báo chí cho thấy những quan điểm lệch hẳn về một phía, cƣờng
điệu hoặc phủ nhận một cách cực đoan đều không phù hợp với chân lý.
Những đặc trƣng cơ bản về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí và yêu cầu của
xã hội đối với báo chí... chính là yếu tố quyết định những đặc trƣng cơ bản của ngôn ngữ
báo chí. Vậy thế nào là ngôn ngữ báo chí? Câu hỏi này có thể đƣợc trả lời một cách khái
quát nhƣ sau:
Trƣớc hết báo chí phải là ngôn ngữ mang tính thông tin thời sự. Ngôn ngữ báo chí
phải chính xác, gọn gàng và sáng sủa, không rƣờm rà, không trùng lắp. Ngôn ngữ báo chí
đƣợc biểu hiện thành ngôn ngữ của bản thân sự vật khách quan tự trình bày một cách chân
thực, chất phác, không gây cho ngƣời đọc có ấn tƣợng về sự suy diễn chủ quan của ngƣời
viết. Đứng về phía ngƣời viết, khi đƣa thông tin mà thêm bớt ít nhiều, pha nhuộm màu này
sắc khác cho sự thật, do nhiều nguyên nhân, là một thói quen không phù hợp với ngôn ngữ
báo chí. Tính thông tin của ngôn ngữ báo chí có ý nghĩa quan trọng hàng đầu nếu viết không
sát với thời sự tƣơi mới của cuộc sống đều không thích ứng với yêu cầu và hứng thú của
ngƣời đọc.
90
Luận án thạc sĩ
Thứ hai, ngôn ngữ báo chí phải là ngôn ngữ mang tính thuyết phục cao. Trên cơ sở
làm đúng chức năng thông tin, báo chí thƣờng xuyên làm những chức năng tuyên truyền, cổ
động và tổ chức quần chúng.
Cuối cùng, ngôn ngữ báo chí phải sử dụng phong cách khoa học một cách đa dạng
và linh hoạt. Nghĩa là đi từ nhận thức sự vật bằng tƣ duy loogich, đến biểu hiện sự vật cũng
theo tƣ duy logich. Bản chất của sự vật là tốt hay xấu, tốt đến đâu, xấu đến mức độ nào, báo
chí phải viết cho minh bạch, chính xác và cụ thể, không quá ca ngợi những cái tốt đẹp bằng
những hình tƣợng quá kêu, hay lấp liếm những cái xấu bằng những từ lờ mờ khó hiểu, hay
đả kích bằng những từ “ghê rợn”, “thô lỗ”.
Tóm lại, ngôn ngữ báo chí đƣợc xem là phƣơng tiện hoạt động nghề nghiệp của nhà
báo. Nhƣng không vì thé mà lạm dụng ngôn ngữ để kể lể dài dòng, ghép nối câu cú một
cách tùy tiện, thiếu chọn lọc, không khoa học và không phù hợp với từng thể tài báo chí.
Phản ánh sự thật của cuộc sống muôn hình, nghìn vẻ, báo chí kiên trì sử dụng phong cách
khoa học, song không phải là phong cách khoa học khô khan,làm cho ngƣời đọc cảm thấy
có cái sáng tỏ của chân lý, đồng thời cũng có cái hấp dẫn của nghệ thuật. Ngôn ngữ báo chí
cơ bản là đi từ nhận thức bằng tƣ duy loogich đến biểu hiện theo tƣ duy loogich, song cũng
phải biết nhận thức bằng tƣ duy hình tƣợng và diễn đạt bằng ngôn ngữ hình tƣợng. Về mặt
này trong văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, chúng tôi nhận thấy ông kết hợp rất tài tình phong
cách ngôn ngữ khoa học với phong cách khẩu ngữ của dân gian.
Trên đây là những đặc trƣng cơ bản của ngôn ngữ báo chí, tuy nhiên trong từng thể
tài báo chí khác nhau, ngƣời viết có thể vận dụng linh hoạt nhiều phong cách diễn đạt khác
nhau. Nhƣ chúng tôi đã trình bày ở các phần trên, tạp văn của Ngô Tất Tố bao gồm nhiều
thể loại: bình luận, bút chiến, phê bình… và trong mỗi bài viết ông đều sử dụng ngôn ngữ
gần gũi với ngôn ngữ văn học. Ông đã kết hợp nhuần nhuyễn nhiều yếu tố ngôn ngữ để tạo
nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong tạp văn của ông là ngôn ngữ nghị luận và trữ tình, có cả tiếng
nói của quần chúng, nhƣng không vì thế mà ông sử dụng tùy tiện, tự do, làm đảo lộn quy
luật ngữ pháp của ngôn ngữ, làm lu mờ phong cách dân tộc. Qua cuộc sống thực tế, ông tích
lũy đƣợc nhiều kinh nghiệm trong việc vận dụng linh hoạt vốn ngôn ngữ của dân tộc, để
diễn đạt làm cho bài viết của mình sinh động, ngƣời đọc chẳng những hiểu đƣợc sự thật mà
còn cảm thụ
91
Luận án thạc sĩ
một cách sâu sắc. Ông đã khai thác mọi năng lực biểu hiện của ngôn ngữ trong việc cân
nhắc nội dung, ý nghĩa từng danh từ, động từ, hình dung từ... đến việc tạo câu, ngắt đoạn sao
cho sáng nghĩa.
Sức thuyết phục của tạp văn - tiểu phẩm đƣợc thể hiện ở ngôn ngữ dùng để diễn đạt
vấn đề, dẫn dắt vấn đề và nằm ở bản thân của sự việc đƣợc nêu ra. Nếu bài viết hời hợt thiếu
lôgích sẽ trở thành khiên cƣỡng, không thuyết phục và ngƣời đọc khó đồng tình với tác giả.
Ngô Tất Tố đã đầu tƣ khá nhiều công sức và tâm huyết vào mảng tạp văn - tiểu phẩm. Chỉ
trong một bài báo ngắn, ông có thể nêu đƣợc một vấn đề lớn, làm cho ngƣời đọc hiểu rõ
đƣợc vấn đề và đồng tình với ông. Thành công này là do ông sử dụng điêu luyện các yếu tố
ngôn ngữ. Ông làm chủ đƣợc ngòi bút của mình.
Trƣớc hết chúng tôi xin đề cập đến đặc điểm của nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong
văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố: ông rất có ý thức trong việc khai thác vốn từ trong dân gian ,
nghĩa là dùng những từ mà khi đọc lên quần chúng có thể hiểu đƣợc ngay.
Vào thời đó ai cũng biết Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là
những chính khách có tầm cỡ trong xã hội. Ngƣời đứng ra thành lập đảng, kẻ đề ra hiến
pháp... tất cả đều thi nhau để lấy lòng thực dân Pháp. Ông viết: Sau lƣng cụ Bùi Quang
Chiêu, hai ông Quỳnh Vĩnh đuổi nhau sồng sộc. Chỉ mấy từ đuổi nhau sồng sộc cũng đủ
bộc lộ rõ tính cách thô bỉ của họ. Còn việc ông Quỳnh và Vĩnh tổ chức bút chiến trên báo về
chủ trƣơng "bảo hộ" và "trực trị" để đánh lừa quần chúng, đã bị Ngô Tất Tố vạch mặt bằng
cách gọi "không phải đánh bốc, đánh bài Tây đấy.".
Mỗi nhân vật, mỗi hạng ngƣời trong xã hội đều đƣợc ông đặt cho một "cái tên
riêng", mà khi đọc qua ngƣời đọc biết là ông sắp sửa nói đến ai, về vấn đề gì... ông đã gọi
Phạm Quỳnh là "nhà dở học giả, dở chính trị", có tài "theo gió bỏ buồm". Còn bọn tƣ sản
đóng vai ông chủ hầm mỏ, chủ nhà máy là "bọn ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột”. Hay bọn
cho vay lãi ở thôn quê là " thứ người đầu trâu mặt ngựa, ăn thịt người không tanh". Bọn
quan lại tham nhũng ở chốn hƣơng thôn đƣợc ông gọi là "những kẻ bóp dân như bà cô bóp
con cháu"... Đám thầy lang băm "tấy" lên nhờ nghề thuốc, ông gọi là "bọn giết người lấy
của" là "tổ sư, thánh sư, tiên sư và kỹ sư... của nghề "bịp". Cũng có khi, ông dùng nghề
nghiệp ghép với tên ngƣời để gọi một cách mỉa mai nhƣ: Phó sơn họ Hít, bởi vì Hít-le trƣớc
khi trở thành một tên trùm phát-xít, vốn là một tay thợ
92
Luận án thạc sĩ
sơn... Còn Viện dân biểu, đƣợc ông gắn cho cái tên là món "xa xỉ phẩm", Hội khai trí tiến
đức là "hội gá bạc, ổ chứa tổ tôm".
Chỉ cần đọc qua cụm từ "nhà dở học giả, dở chính trị" là ngƣời đọc biết ngay ông
đang đề cập đến Phạm Quỳnh. Hay gọi "thứ người đầu trâu, mặt ngựa, uống máu người
không tanh", là hiểu ông đang nói về bọn cho vay nặng lãi ở thôn quê...
Đôi lúc ông còn đƣa vào bài viết của mình những từ, vốn là lời ăn tiếng nói hàng
ngày của quần chúng nhƣ: Coi, ngó, bỏ tù ráo, "chẳng mần vua thì mần quan"(1)... "Cái ngôi
đền ở giữa phố choèn choèn bằng cái quán bán nƣớc, thè lè ra mép đƣờng đi, chẳng biết là
thờ vị thần chi mà coi bộ sầm uất hết sức"(2).
Ngoài ra Ngô Tất Tố còn sử dụng khá linh hoạt lối ngoa ngữ, chơi chữ để làm tăng
thêm giá trị châm biếm đả kích. Chẳng hạn ông viết: "Ông Thông Reo, ngƣời viết báo trung
lập, hôm nọ đã bô bô đem việc ấy nói íoẹílên báo rồi"(3), hoặc "Nếu tỉnh Hà Đông bị thiếu
một ông tổng đốc thì Tổ quốc có khi sẽ thành tổ...cò”(4). Bọn bồi bút tay sai ra sức ca ngợi
chủ trƣơng Pháp - Việt đề huề (hay hiệp tác), còn Ngô Tất Tố viết: "Sự thật là hiếp tác chứ
không phải hiệp tác”(5).
Câu trong tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, nhƣng
không cộc lốc nhƣ câu văn của Hoàng Tích Chu, hoặc lai căng nhƣ những nhà văn Tây học,
cũng không dài dòng, rƣờm rà nhƣ các nhà văn cựu học Tản Đà, Hoàng Tăng Bí... Ông viết
cũng nhƣ ông nói không quá trau chuốt, nhƣng cũng không bao giờ dễ dãi.
Ông thƣờng dùng loại câu nghi vấn. Nhiều khi ông đặt ra câu hỏi, nhƣng không chờ
giải thích, mà tự ông trả lời luôn. Đấy là cái cớ để ông tập trung đả kích kẻ thù. Lối hành
văn này, vừa giải quyết vấn đề cần bàn, vừa thu hút đƣợc sự chú ý của độc giả, chẳng hạn
trong bài Không nên quên một bọn văn sĩ ông viết: "Bệnh hoa liễu cũng nhƣ một vài bệnh
khác, ngoài cái nguyên nhân thứ hai là nạn mãi dâm, còn có nguyên nhân thứ nhất gây ra
mầm bệnh mà không phải là loại vi trùng. Nếu không trừ đƣợc nguyên nhân thứ nhất của
bệnh, không thể cấm bệnh không đƣợc lan ra. Nguyên nhân thứ nhất của bệnh hoa liễu là
gì?". Lời giải đáp cho câu hỏi là những lời buộc tội của ông đối với bọn "văn sĩ thiếu lƣơng
tâm, quen dùng văn chƣơng khiêu dâm để quyến rũ bạn đọc phụ nữ... Họ phá hủy nền liêm
sỉ của trai gái bằng những ngòi bút mạnh bạo. Họ mô tả trần truồng cái chân tƣớng ái tình
bằng giọng văn hay
(1) Con cháu khôn hơn ông vải, Sđd, trang 226
(2) Kiểu đất ở phố Hàng Trống, Sđd, trang 120.
(3) Ông Thông Reo dám tiết lộ việc bí mật của ông Quỳnh. Sđd, trang 99.
(4) Kính mừng Tổ quốc Việt Nam và tiếc thay cho làng báo của nó. Sđd, trang 181
(5) Hiệp tác hay hiếp tác? Sđd, trang 375.
93
Luận án thạc sĩ
hớm và lả lơi. Họ làm đƣợc cảnh tƣợng của dục tình ở mặt giấy cũng hoạt động nhƣ ở màn
ảnh". Rồi ông đạt tiếp câu hỏi thứ hai: Cái ảnh hưởng ấy nó đưa chị em phụ nữ đến đâu?"
Bƣớc thứ nhất là đến cuộc đời lãng mạn, từ lãng mạn đến mãi dâm không xa, rồi từ mãi dâm
đến bệnh hoa liễu càng không xa nữa...
Cũng có khi những câu hỏi của ông là những lời chất vấn nhƣ trong bài: Cái khí giới
của bọn phú hào dùng để bóc lột dân nghèo hay là nạn vay lãi ở thôn quê(1). Sau khi phân
tích những thủ đoạn bóc lột của bọn phú hào, ông đi đến kết luận: "Làm thân vô sản ở nông
thôn, họ đã chịu đủ các thứ bóc lột. Một việc đi vay, ăn một miếng đã phải trả đến mƣời
miếng, cặm cụi suốt năm đến tối, thằng còng làm chƣa chắc đủ cho thằng ngay ăn. Vậy mà
còn phải nộp sưu nộp thuế, còn thuế đóng góp với dân làng? Phỏng họ còn gì để nuôi con
nuôi vợ?. Ngô Tất Tố đƣa ra lời chất vấn và yêu cầu chính phủ phải giải quyết ngay, nếu
muốn cho dân nghèo có cái ăn nhƣ lời ông Gô-đa nói hôm nọ.
Ông còn sử dụng loại câu cảm thán để nói mát, khen đó rồi chê đó, giả vờ đồng ý rồi
quay ngƣợc lại để đả kích: "Phải! đuổi là phải! mắng là phải! Muốn giữ vẻ đẹp cho tỉnh Hà
Đông tất nhiên ông buộc phải bài trừ lũ dân xấu ấy. Đành rằng trời sinh ra họ vẫn xấu nhƣng
xấu thì để ở nhà, ai cho phép họ đƣợc đem bày vào mắt ông đại sứ! Vậy mà họ không biết
xấu, còn cố lằng nhằng ở lại cho đến khi đƣợc chào ông Godart vài câu và đƣa cho ông cái
bản nguyện vọng của họ. Dơ quá!"(2).
Tuy nhiên cũng có những câu ông viết rất dài, ông dùng đến 205 chữ, để kể một xâu
dài chức tƣớc của Phạm Quỳnh, nhƣng ngƣời đọc không cảm thấy nó lằng nhằng nhƣ dây
muống vì ông đã 14 lần sử dụng hai từ: "tức là... tức là..." ông kể với cái giọng khinh bỉ và
nhƣ cố tình liệt kê ra cho hết chức tƣớc của Phạm Quỳnh rồi kết luận: "Ở đời chỉ có cậu
phƣờng chèo là một mình có thể làm nhiều việc trái nhau...”(3).
Cách ngắt đoạn cũng đƣợc ông vận dụng khá linh hoạt. Câu văn đoạn văn thƣờng
ngắn. Có lúc ông tạo ra những mẩu đối thoại.
"Nói cho gẫy gọn, thì chiểu hôm qua ở phòng kín của hội Khai trí tiến đức do 67 vé
bầu, ông Lục đƣợc làm Viện trƣởng.
- Vì cớ gì mà họ bầu ông Lục?
- Vì ông Lục là ngƣời có học.
(1) Sđd, trang 182.
(2) Ông Phủ Hoài Đức muốn giữ vẻ đẹp cho tỉnh Hà Đông, Sđd trang 173.
(3) Tiên sinh Phạm Quỳnh cãi lộn với ông Thượng Chi, Sđd trang 107.
94
Luận án thạc sĩ
- Không phải.
- Vì ông Lục là dân biểu do dân bầu ra.
- Càng không phải.
- Thế thì vì gì?
- Vì trời.
- Anh vẫn chƣa hết cái óc mê tín?
- Đâu phải? Cái "trời" tôi nói đây không phải là "trời" mù mù xanh xanh, mà nhiều
ngƣời vẫn gọi là chúa tể của vũ trụ, cái "trời" tôi nói đây là "trời" của dân..."(1)
Một vấn đề nữa cần lƣu ý trong tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố là mỗi bài báo
của ông, ông viết giống nhƣ một truyện ngắn, có cốt truyện, có nhân vật. Do đó có hai thành
phần ngôn ngữ mà chúng tôi chú ý đến. Đó là ngôn ngữ tác giả, và ngôn ngữ nhân vật. Ngô
Tất Tố viết báo là để bộc lộ tƣ tƣởng, tình cảm của mình, thể hiện lòng yêu nƣớc thƣơng
dân, ông luôn luôn quan tâm đến vận mệnh của đất nƣớc và đời sống của nhân dân lao động.
Ông đứng về phía nhân dân để đấu tranh, cái tôi của ông - một nhà văn , một nhà báo chân
chính bộc lộ khá rõ nét, nhất là ở những bài đả kích bọn quan lại phong kiến, bọn thực dân
Pháp. Tác giả thƣờng xuất hiện ở ngôi thứ nhất "tôi" và "chúng tôi", ông trực tiếp kể lại sự
kiện nào đó rồi bình luận và đi đến kết luận vấn đề một cách cụ thể, đấu tranh trực tiếp với
kẻ thù, vạch trần những thủ đoạn của chúng. Có khi ông dùng "mình" để nói với độc giả rồi
lồng vào ý đả kích kẻ thù.
Ông là ngƣời dẫn chuyện trực tiếp, cũng có lúc trở thành nhân vật phụ hoặc ngƣời
làm chứng trƣớc những diễn biến phức tạp của sự kiện. Ông luôn xuất hiện đúng lúc và
đúng mức, không lạm dụng "cái tôi" để nói về mình, mà cái "tôi" ở đây là "cái tôi tập thể",
đó là đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Chính vì vậy mà ngƣời đọc luôn có thiện
cảm với ông, và bài viết của ông có tác dụng mạnh mẽ.
Ngôn ngữ nhân vật: Khi cần khẳng định một cách khách quan về các sự kiện chung
hay từng chi tiết có ý nghĩa quan trọng đối với chủ đề bài viết, ông đã để cho nhân vật thay
lời tác giả nói chuyện với bạn đọc nhƣ lời chú Khán Ngốc (chú Khán Ngốc kể chuyện ông
Phó Quỳnh), nhà tiên tri (Mười năm nữa báo chí Bắc kỳ sẽ cổ động đến "thò lò", "quay
đất”). Hay nhân vật bác Ba Tụy trong Làm no hay cái ăn trong những ngày nước ngập để tự
nhân vật nói với ngƣời đọc về cảnh sống cùng cực của mình là cách chế biến đất sét để ăn.
(1) Bọn dân biểu suy đới ông Phạm Huy Lục là phải, Sđd trang 95.
95
Luận án thạc sĩ
Đọc văn tiểu phẩm của ông "Bạn đọc có thể ngạc nhiên thấy văn Ngô Tất Tố rất hiện
đại, ngày nay đọc vẫn không thấy thừa chữ nào, kể cả những bài viết từ năm 1930 là thời kỳ
ngƣời ta còn chuộng văn biền ngẫu. Ông là một nhà nho, nhƣng ông không lạm dụng từ Hán
Việt. Văn ông gọn, sắc nhƣng không cộc lốc, lai căng nhƣ những nhà văn Tây học, cũng
không lằng nhằng dây muống nhƣ các nhà văn cựu học. Ông viết nhƣ ông nói, không trau
chuốt mà cũng không dễ dãi, nhiều chỗ thâm thúy đáo để”(1). Đôi khi ông dùng điển cố văn
học, nhƣng ông diễn đạt lại bằng cách nói có hình ảnh của dân gian, nên ngƣời đọc có thể
hiểu đƣợc ngay, không cần phải suy nghĩ nhiều, ông viết là để cho công chúng độc giả bình
dân đọc, ngƣời ít học đọc văn của ông cũng có thể hiểu đƣợc. Điều đó cho thấy chẳng
những ông hiểu và viết về đời sống dân quê một cách sâu sắc, mà ông còn là một cây bút
của dân quê.
Thời kỳ 1930-1945, tiếng Việt và chữ quốc ngữ gần nhƣ chiếm địa vị độc tôn trong
đời sống văn học nƣớc ta. Về phƣơng diện ngôn ngữ đã có bƣớc đổi mới và phát triển hơn
trƣớc. Lối văn biền ngẫu đầy rẫy điển cố và chữ Hán ngày càng tỏ ra lạc lõng. Với nhóm Tự
lực văn đoàn, văn xuôi Việt Nam trò nên sáng sủa và giản dị hơn. "Tuy nhiên do xa rời tiếng
nói của nhân dân lao động, ngôn ngữ của Tự lực văn đoàn nhanh chóng trở thành kiểu cách,
sáo rỗng và vô duyên. Các nhà văn hiện thực phê phán đã có công lớn trong việc đƣa tiếng
nói chắc thiệt, sinh động của quần chúng vào văn học, nhất là Ngô Tất Tố và Nam Cao"(2).
Chẳng những trên lĩnh vực văn học, mà trên lĩnh vực báo chí cũng vậy, lời ăn tiếng nói hàng
ngày của quần chúng, đƣợc Ngô Tất Tố vận dụng đƣa vào bài viết một cách tự nhiên, linh
hoạt biến nó trở thành văn chƣơng. Ngôn ngữ trong văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, vừa thể
hiện đầy đủ đặc trƣng của ngôn ngữ báo chí vừa là ngôn ngữ văn chƣơng. Chẳng những
ngƣời cùng thời với ông mà cho đến nay, chúng tôi nhận thấy chƣa ai có thể vƣợt qua ông
về phƣơng diện này.
4. Giọng điệu nghệ thuật
Giọng điệu nghệ thuật là một trong những nhân tố quan trọng, góp phần hình thành
nên phong cách riêng của nhà văn. Một nhà văn có tài bao giờ cũng có tiếng nói riêng, giọng
điệu riêng, không pha tạp hoặc lẫn lộn vào đâu đƣợc cả. Trên lĩnh vực báo chí cũng vậy,
những nhà báo tài năng luôn luôn chú ý việc trau dồi vốn ngôn ngữ và kỹ năng viết lách để
đạt đến trình độ có giọng văn riêng, khi đọc đến bài viết ngƣời đọc
(1) Tuyển tập Ngô Tất Tố, NXB Văn học Hà Hội 1993, tập I, trang 38
(2) Lịch sử Văn học Việt Nam, NXB Giáo dục 1978, tập 5, trang 51-52
96
Luận án thạc sĩ
không cần xem tên tác giả, cũng biết là bài này của ai.
Trong khoảng mƣời lăm năm cầm bút, Ngô Tất Tố đã viết cho nhiều tờ báo và ông
đã ký hơn mƣời bút hiệu khác nhau. Nhƣng ngƣời đọc vẫn say sƣa tìm đến những bài báo
ngắn, trên các mục "Nói mà chơi”, "Nói hay đừng" với giọng văn sắt đanh, luôn vạch mặt
chỉ trán những điều chƣớng tai gai mắt trong xã hội đƣơng thời.
Ngƣợc dòng thời gian, chúng tôi nhận thấy việc dùng chữ quốc ngữ để viết báo, viết
văn có từ thời Trƣơng Vĩnh Ký (năm 1865), lúc ấy công việc của các ông chủ yếu là dịch
thuật hoặc biên tập lại những sách bằng chữ Hán và chữ Pháp, rồi dùng chữ quốc ngữ để
truyền bá trong dân gian. Việc sáng tác bằng chữ quốc ngữ chƣa đƣợc phát triển, bởi vì "vào
thời Trƣơng Vĩnh Ký, viết quốc ngữ mà viết văn xuôi, không ai cho là viết văn cả. Chỉ có
làm thơ nôm là ngƣời ta còn chú ý đến, chứ viết quốc ngữ mà viết trơn tuồn tuột nhƣ lời nói,
ai cũng cho là dễ dàng, đã đƣợc kể là "văn" đâu!"(1). Cho đến khi Đông Dương tạp chí và
Nam Phong tạp chí ra đời (năm 1915), thì quốc văn mới thịnh hành, và bắt đầu xuất hiện
giọng văn hoa mỹ trên báo, nhƣng cũng chỉ dừng lại ở mức độ phỏng theo văn phong của
phƣơng Tây, thỉnh thoảng vẫn còn những câu pha trộn với giọng văn biền ngẫu trong văn
học truyền thống cổ.
Bƣớc sang giai đoạn 1930 - 1945, đặc điểm chung của tình hình văn học Việt Nam
thời kỳ này là có sự giao lƣu mạnh mẽ với văn học thế giới, nhất là văn học hiện đại phƣơng
Tây. Vả lại, bản thân đời sống xã hội nƣớc ta lúc ấy cũng đã đổi khác, xã hội có nhiều giai
cấp mới ra đời (vô sản tƣ sản, tiểu tƣ sản), đòi hỏi phải có những món ăn tinh thần khác
nhau, vƣợt khỏi giới hạn của nền văn học truyền thống vốn chịu ảnh hƣởng của văn học
phong kiến Trung Quốc. Cho nên ngay cả các nhà nho nhƣ Ngô Tất Tố, cũng phải tìm đến
với phƣơng Tây để học cách đổi mới lối văn của mình.
Ngô Tất Tố làm báo, viết văn trong thời kỳ nền văn học nƣớc ta vừa chuyển tiếp từ
vùng văn học trung đại sang hiện đại. Ông viết đủ các thể loại, nhƣng các sáng tác văn học
và công trình nghiên cứu của ông đƣợc các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn các loài bình
luận ngắn đăng trên các báo. Trong công trình Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan, không đề
cập đến mảng báo chí của Ngô Tất Tố, tác giả viết: "Nhà văn theo nghĩa tôi dùng ở đây là
những ngƣời viết văn xuôi hay văn vần, có tính cách vĩnh viễn, đăng trong các báo chí hay
trong những sách đã xuất bản, mà điều cốt yếu là những văn phẩm của họ đã đƣợc ngƣời
(1) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại, NXB Văn học - Hội Nghiên cứu giảng day Văn học TP HCM, 1994, tập
1, trang 26
97
Luận án thạc sĩ
đồng thời chú ý. Về điều này, nhà viết báo khác nhà văn ở chỗ chỉ viết rặt những bài về thời
sự, có tính chất riêng hẳn về chính trị, tôn giáo, kinh tế xã hội, nói tóm lại, về tất cả những
vấn đề không có tính cách văn chƣơng và chỉ có ý nghĩa giá trị trong một thời gian ngắn rất
ngắn"(1).
Với tài năng và nghệ thuật thể hiện điêu luyện, Ngô Tất Tố đã biến "những vấn đề
không có tính cách văn chƣơng" trở thành những tác phẩm văn chƣơng. Và những tác phẩm
này, chẳng những "chỉ có ý nghĩa giá trị trong một thời gian ngắn", mà cho đến bây giờ đã
hơn nửa thế kỷ trôi qua, vẫn còn đƣợc ngƣời đọc yêu thích.
Vấn đề không chỉ ở việc thể hiện tấm lòng yêu thƣơng và căm thù mãnh liệt, ở cái
nhìn sắc sảo, tinh tế, ở sự phát hiện nhanh nhạy "mỗi ngày một chuyện", mà điều khiến
chúng ta đánh giá cao những bài báo của Ngô Tất Tố còn do ở giá trị nghệ thuật trào phúng,
ông lấy cái hài làm phƣơng tiện chủ yếu để tấn công kẻ thù. Cái hài trong văn tiểu phẩm của
Ngô Tất Tố mang tính chất xã hội sâu sắc, khác với cái hài xa rời ý nghĩa xã hội, một nét
điển hình của mỹ học tƣ sản. Có những hiện tƣợng trong cuộc sống, mới nhìn tƣởng chừng
nhƣ không có một chút hài hƣớc nào cả, nhƣng với con mắt biết sàng lọc của ngƣời nghệ sĩ,
nó lại lấp lánh cái hài. Ngô Tất Tố biết sử dụng tiếng cƣời làm vũ khí phê phán, có sức gợi
cảm đặc biệt. Ở đây, có khi tiếng cƣời nhƣ ngọn roi quất mạnh vào mặt đối thủ, có khi lại là
sự mỉa mai, giễu cợt, mới đọc qua tƣởng nhƣ bông đùa nhẹ nhàng, nhƣng sau mới ngấm
dần, càng ngấm càng đau.
Giọng văn của ông giản dị, tự nhiên, nhƣng giàu chất lý luận. Ông nói lý lẽ trực tiếp
với cuộc sống, nhƣng không rơi vào công thức hoặc khái niệm trừu tƣợng khô khan. Trong
các bài báo của mình, Ngô Tất Tố thƣờng dùng những hình ảnh sinh động, cụ thể, nhiều khi
có khả năng gây cƣời, song vẫn giữ đƣợc thái độ nghiêm túc và tính chiến đấu mạnh mẽ.
Thủ pháp gây cƣời trong văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, không phải là cƣờng điệu,
phóng đại sự vật, hiện tƣợng nào đó đang tồn tại trong tự nhiên - xã hội, mà ông dùng những
hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày để so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ sự thật
về ngƣời, về việc ông đang đề cập đến. Chẳng hạn, để phê phán cái "hiến pháp chân vạc" kỳ
cục của Phạm Quỳnh (lấy ba quyền làm chủ là nƣớc Pháp, triều đình Huế và dân An-nam),
Ngô Tất Tố đem nhân vật chú Khán Ngốc ra làm ngƣời phán xét, coi cái ấy nhƣ một "kiểu
nhà chính trị"
(1) Sđd, trang 12.
98
Luận án thạc sĩ
rồi so sánh nó với kiểu nhà gỗ gạch có ba cột đối nhau, để đi đến kết luận "thế giới chả có
kiểu "xây đắp" nào rành rành ba góc nhƣ vậy". Rồi ông khen chú Khán Ngốc đã "không bị
ông Quỳnh nhồi sọ" (Chú Khán Ngốc kể chuyện ông Phó Quỳnh). Hoặc Ngô Tất Tố đem
chuyện hai ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh tranh cãi nhau về thuyết "bảo hộ" và
"trực trị", để sánh với việc đánh bài Tây. Ông dùng hình ảnh "chị cái, chị con" để chỉ
Quỳnh, Vĩnh vừa nói lên đƣợc cái bề ngoài tƣởng nhƣ họ đối lập nhau, nhƣng thực chất bên
trong là cùng một giuộc, vừa vạch mặt họ chỉ là những quân bài của thực dân Pháp, không
hơn không kém (Không phải đánh bốc, đánh bài Tây đấy!).
Trong khi so sánh, Ngô Tất Tố thƣờng hay dùng điển tích, so sánh truyện xƣa với
truyện nay, lấy chuyện ngƣời này để nói ngƣời khác, làm cho bài báo vừa hấp dẫn ngƣời
đọc, vừa có tác dụng đả kích thâm thúy. Vốn Hán học đã giúp nhiều cho ông về điều này.
Nhƣ trong bài: Ông Thống sứ với trận mưa hôm nọ, tác giả kể lại sự tích nhƣ thế nào là
"mƣa theo xe", để chửi tên Thống sứ Tholance, hết hạn ở Đông Dƣơng về nƣớc, trời đổ một
trận mƣa, rửa hết những rác rƣởi nhơ bẩn mà hắn đã làm ở Việt Nam. Có khi ngƣời viết cứ
so sánh một cách bình thản, dƣờng nhƣ khách quan để ngƣời đọc tự rút ra kết luận nhƣ trong
bài Báo Tân Việt với vợ Chu Mãi Thần. Có lúc ông lại kết luận một cách lửng lơ, giễu cợt,
nhƣ: "Đó là truyện ở Trang Tử. Không hiểu ông Pagès có biết chữ Tàu hay không, nhƣng
chắc có đọc qua chuyện ấy, cho nên ngài mới làm đúng nhƣ hệt" .
Ngô Tất Tố còn hay dùng lối tỉ dụ để châm biếm một cách rất tài tình. Trong bài
Quan tỉnh Bắc Giang với ba nghìn cơ dân, ông chế giễu việc dân đói lại đem phát chẩn
nƣớc mắm và phát quá ít, dân số trong vùng bị đói là 2842 ngƣời, chỉ có 5 thùng nƣớc mắm.
Ngô Tất Tố góp bàn cách chia nhƣ sau: Cách thứ I: Cho mỗi ngƣời mút một ít; Cách thứ II:
pha thêm nƣớc lã; Cách thứ III: vẩy nƣớc mắm vào mặt mỗi ngƣời rồi đọc chú; Cách thứ
IV: cho mỗi ngƣời ngửi một cái rồi về. Đúng là rất khôi hài, ngƣời dân đói không có gì để
ăn, lại đem phát nƣớc mắm và phát với số lƣợng rất ít.
Hoặc để đả kích chủ trƣơng đánh thuế chó của thực dân Pháp, ông giả vờ nhƣ tán
thành việc đó, vì hữu thân tắc hữu tô”, rồi ông đả vào một chi tiết để ngƣời đọc thấy vấn đề
thật là mỉa mai, nực cƣời. Ông bàn: Loài chó tuy hết thảy đều không có sản nghiệp, không
có lƣơng tháng, không có nghề gì kiếm ăn, nhƣng cũng có con sƣớng, con khổ. Khổ là chó
nhà nghèo, quanh năm ăn đói nhịn khát, sƣớng là chó nhà giàu, thƣờng đƣợc no bụng luôn
luôn. Vậy mà nhất luật bắt mỗi đầu chó đều
99
Luận án thạc sĩ
phải 4 hào công sƣu, e rằng không đƣợc công bằng"(1). Từ đây, tác giả gợi cho ngƣời đọc
nghĩ đến chính sách thuế thân, một thứ thuê cực kỳ vô nhân đạo do thực dân Pháp đặt ra.
Khi chế độ kiểm duyệt của thực dân Pháp còn khắt khe, một số bài báo Ngô Tất Tố
đã sử dụng lối viết quanh co, mát mẻ, vừa khen đấy, lại vừa chê đấy. Chẳng hạn, ông khen
báo Grande Réforme đƣa ra đề nghị "trừ nạn nhân mãn"," bằng cách tuyệt đƣờng sinh dục",
nhƣng đó là "một cách giải quyết đến tận gốc", "cái giải pháp ấy nó nhân đạo làm sao!".
Liền sau đó, ông bàn cách: "cứ để cho nhà săm, nhà chứa và nhà cô đầu tự do hoành hành
thì vi trùng hoa liễu có thể dần dần tiêu diệt cả dân tộc Việt Nam". Cuối cùng ông cho rằng
ý kiến này cũng không đƣợc vì "ở xứ Đông Dƣơng cũng cần đến ngƣời Việt Nam để làm cu
ly khai mỏ, lấy mủ cao su và vỡ rừng hoang cho những nhà đại điền chủ"(2).
Có lần ông đã lên tiếng: ''Dân chúng tôi rất lấy làm cảm động" về lời nói thiết tha,
thành thực của quan toàn quyền Đông Dƣơng Brévié "mong cho một ngƣời dân nghèo nhất
xứ Đông Dƣơng cũng có một bát gạo thứ hai". Rồi sau đó, ông phân tích: Đông Dƣơng
chính là "bờ xôi ruộng mật", hàng năm có bao nhiêu gia đình công chức Pháp "nheo nhóc
kéo sang" ít lâu sau lại "phởn phơ kéo về"... Việt Nam lại đứng hàng đầu trong việc đóng
góp với "mẫu quốc"...Thế thì vì đâu dân Việt Nam đói khổ? Sau khi đặt câu hỏi, ông đƣa
luôn ra lời giải đáp nhƣ ngọn roi quất vào mặt bọn thực dân xâm lƣợc: "Chính phủ bấy nay
chỉ chăm lo cho công quỹ mà quên kẻ làm giàu cho công quỹ, đã quá thiên trọng quyền lợi
cho quan lại thực dân của mẫu quốc mà ngăn ngừa hất hủi ngƣời dân thuộc quốc ở xứ này,
tự gây ra một cái hố sâu để ngăn cách đời sinh hoạt của hai dân Nam - Pháp"(3).
Ngô Tất Tố còn vận dụng cả tục ngữ, ca dao, giai thoại văn học, truyện cổ tích, câu
đối, văn tế... để đánh vào những cái xấu xa đê hèn của bọn đầu cơ chính trị, bọn quan lại
tham nhũng, bọn nhà giàu... một cách tự nhiên mà sâu cay. Đọc qua các bài: Chúng ta phải
cảm ơn đi chứ, Dân quê chúng tôi muốn được tự do mất cướp, Bà ấy chỉ hiểu lầm một câu
Kiều, Một người oan, một người không oan... chúng ta sẽ thấy rất rõ điều đó.
Chẳng hạn, ông dựa vào câu nói cửa miệng của dân gian "trơ nhƣ mặt thớt" để đả
kích bọn ứng cử viên dân biểu Hà Nội. Ông viết: "Các ngài không ở thôn quê có thể không
hiểu nỗi khó khăn của sự đi mƣợn. Đừng nói mƣợn mặt, mỗi khi có việc ăn uống, dân quê
muốn mƣợn cái
(1) Kêu thay cho mấy con chó Bắc Ninh, Sđd, trang 430.
(2) Phải chừa lại số người làm cu ly, Sđd trang 438
(3) Cho no đủ đã, Sđd, trang 368.
100
Luận án thạc sĩ
thớt thái thịt cũng phải xách đi xách về. Đằng này không đợi chúng ta hỏi mƣợn, chính các
ông ấy tự mình đem mặt ra thay chúng ta, há chang là sự hào hiệp. Với sự hào hiệp ấy, nếu
không ai tỏ lời cảm ơn, không khỏi có kẻ sẽ bảo "chúng ta là ngƣời rẻ của, coi cái mặt của
ngƣời này không bằng cái thớt của ngƣời khác"(1).
Đối với bọn dân biểu, Ngô Tất Tố chế giễu, nguyền rủa không tiếc lời. Ông dùng cả
lối văn tế, để tống tiễn chúng đi, có đoạn ông viết:
"... Rồi những kẻ ngồi trong hội nghị, uể oải ngáp dài. Rồi những kẻ nghe đọc diễn
văn lim dim gật ngủ. Than ôi !
Mặt nạ cùng phường, Bù nhìn một lũ
Bốn năm chẵn dạ vâng chày cối, bảo rằng bênh quyền lợi quốc gia
Trăm miệng thì ăn nói quàng xiên
Cũng gọi là cơ quan dân chủ..."(2).
Bằng một giọng văn châm biếm, mỉa mai, ông tấn công quyết liệt vào bọn bồi bút
tay sai, bọn nhà báo vô liêm sỉ... Trong bài Mười năm nữa báo chí Bắc kỳ sẽ cổ động đến
"Thò lò" "quay đất', ông mƣợn lời một nhà tiên tri để chửi bọn nhà báo "chết rét", đã đi cổ
động cho "những trò mọi rợ ấy". Ông đả kích mạnh mẽ những tờ báo đã tuyên truyền cho
phong trào phục cổ, phong trào "vui vẻ trẻ trung" nhƣ Phong hóa và Ngày nay... Hoặc để
phê phán cái thức văn chƣơng lãng mạn tiêu cực, sƣớt mƣớt của nhóm Tự lực văn đoàn, ông
kể chuyện về một cô gái tự dƣng bỏ nhà ra đi, rồi bình luận: "Phải, mỗi lúc đẻ đƣợc một con
gái, nuôi đƣợc đến 16 tuổi để đọc Đời mƣa gió, Đoạn tuyệt và Lạnh lùng bây giờ tự nhiên
đoạn tuyệt với gia đình mà đi tìm cảnh lạnh lùng trong đời mƣa gió”(3).
Rồi để vạch mặt bọn chuyên làm nghề bán thuốc lậu, là bịp bợm, dốt nát, đừng có
"vác cái bằng sơ học yếu lƣợc vào làng báo" nhƣ mấy anh em Lê Ngọc Thiều, ông viết: "Cả
ba đều xứng treo làm câu đối hai câu "Hán tự đếch biết Hán, Tây tự đếch biết Tây" của ông
Tú Xƣơng"(4).
Ngô Tất Tố đã vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật linh hoạt để làm cho vấn đề trở
nên trào phúng sâu sắc. Đặc điểm của văn tiểu phẩm là phải mang giọng điệu châm biếm, đả
kích. Ở đây Ngô Tất Tố đã dùng tiếng cƣời để làm tăng thêm giá trị châm biếm, đả kích.
Ông đã dũng cảm lao vào các vấn để thời sự nóng hổi để múa bút. Ngòi bút của
(1) Chúng ta phải cám ơn đi chứ, Sđd trang 371.
(2) Nhớ Viện xưa, Sđd trang 292.
(3) Sao không hỏi Tự lực ván đoàn? Sđd trang 481.
(4) Một ngoài oan, một người không oan. Sđd trang 385
101
Luận án thạc sĩ
ông luôn bám sát vào mảnh đất hiện thực của đời sống, rồi dùng những kiến thức về văn hóa
– xã hội phong phú của mình để quan sát hiện thực và phản ánh những vấn đề đang đƣợc
đông đảo quần chúng quan tâm. Xuất phát từ yêu cầu của cuộc đấu tranh va từng loại đối
tƣợng, Ngô Tất Tố đã sử dụng nhiều biện pháp biểu hiện khác nhau: Khi thì ông dùng giọng
văn đả kích, châm biếm trực tiếp, nhất là đối với bọn quan lại phong kiến. Ông đã viết rất
nhiều bài về chúng và luôn dành cho chúng một nụ cƣời khinh bỉ. Lúc thì ông viết bằng một
giọng văn hùng hồn đanh thép, nhƣ lời buộc tội của trạng sƣ. Loạt bài này thƣờng nhắm vào
thực dân Pháp cùng các chính sách cai trị độc ác của chúng, ông dành những lời lẽ mỉa mai
cho các đối tƣợng là bọn nhà báo tay sai, nhà báo trƣởng giả, bọn nhà giàu hãnh tiến, bọn
buôn thần bán thánh, bọn lang băm và bọn bán thuốc lậu... Nghĩa là ông huy động tất cả sở
trƣờng của mình vào cuộc chiến đấu với kẻ thù của dân tộc và nhân dân, bằng ngòi bút sắc
bén, bằng giọng văn đanh thép, triệt để và dứt khoát.
Bên cạnh đó, ông còn viết không ít bài sâu sắc, xúc động nói lên những nỗi đắng
cay, cực khổ của ngƣời nông dân Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng Tám (Một cái thảm
trạng, làm no hay cái ăn trong những ngày nước ngập...). Ông còn vạch ra nguyên nhân của
sự thiếu đói và kích động tinh thần đấu tranh của nông dân (Thế thì nhà báo là ông trời, Dạ
dầy Nam không tốt bằng dạ dầy Bắc).
Nhƣ vậy trong tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố chúng tôi thấy có ba giọng điệu
chính: ông dùng giọng hài hƣớc mỉa mai để đả kích những tên quan lại phong kiến tay sai;
giọng hùng hồn đanh thép để tố cáo thực dân Pháp là kẻ trực tiếp đã gây ra bao cảnh khốn
cùng cho nhân dãn Việt Nam; giọng xúc động chân tình khi nói về cảnh sống khổ cực của
ngƣời dân Việt Nam, nhất là ngƣời nông dân sau lũy tre làng.
Tạp văn của Ngô Tất Tố đề cập đến những vấn đề chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội,
tôn giáo... nói chung đó là "những vấn đề không có tính cách văn chƣơng và chỉ có ý nghĩa
giá trị trong một thời gian rất ngắn". Nhƣng sở dĩ tạp văn của ỏng đƣợc ngƣời cùng thời chú
ý, và cho đến bây giờ nó vẫn còn đƣợc đông đảo độc giả quan tâm, vì ông thể hiện nó một
cách rất văn chƣơng, và đƣợc viết bằng một giọng văn rất hiện đại, nhƣ Vũ Ngọc Phan đã
nhận xét: " Ông đã viết bằng một ngòi bút đanh thép, làm cho ngƣời tân học phải khen
ngợi", "ông đã theo kịp cả những nhà vẫn thuộc phái tân học xuất sắc nhất"(1). Lời nhận xét
này về Ngô Tất Tố, cách đây đã 57 năm, nhƣng đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị.
(1) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại, NXB Văn học - Hội nghiên cứu giảng dạy ván học Tp HCM 1994, tập 2,
trang 561.
102
Luận án thạc sĩ
Hiện nay tạp văn tiểu phẩm là thể tài "ăn khách" trên các báo, nhƣng phần lớn các
bài viết không để lại ấn tƣợng lâu dài trong lòng độc giả. Vì nhiều lý do khác nhau, nhƣng
có một điều dễ nhận thấy là do phƣơng pháp biểu hiện của ngƣời viết chƣa sắc sảo. Điều
này chúng ta có thể học tập ở Ngô Tất Tố qua mảng tạp văn tiểu phẩm.
Có thể nói, để tài để viết văn tiểu phẩm là vô tận, nó bao gồm tất cả mọi khía cạnh
của đời sống con ngƣời. Nhƣng điều quan trọng là ngƣời viết phải biết chọn lọc, vấn đề nào
là thời sự nhất đang đƣợc đông đảo công chúng độc giả quan tâm. Ở Ngô Tất Tố, năng lực
quan sát và xử lý tài liệu của ông rất giỏi. Chỉ một đoạn tin vắn, một câu hỏi, một câu
chuyện, một chút hiện tƣợng trong đời sống... Cái gì vào tay ông cũng đều có thể viết thành
văn chƣơng đƣợc cả. Chọn đề tài là một việc khó, nhƣng vấn đề khó hơn là sử dụng phƣơng
pháp biểu hiện nhƣ thế nào cho thích hợp, vừa tạo đƣợc hiệu quả của bài viết, vừa hấp dẫn
đƣợc ngƣời đọc.
Từ một vấn đề cụ thể, Ngô Tất Tố luôn luôn tìm hiểu để phát hiện ra mối quan hệ
giữa sự vật này với sự vật khác, rồi thông qua mối liên hệ bản chất của sự vật mà biểu hiện
thành chủ đề lớn. Từ những vấn đề tƣởng chừng nhƣ vụn vặt trong đời sống, ông biết khai
thác cái ý nghĩa xã hội rộng lớn của nó, qua đó diễn đạt tƣ tƣởng của mình. Chẳng hạn nhƣ:
mƣa gió là hiện tƣợng bình thƣờng trong tự nhiên, việc thay đổi một viên thống sứ cai trị xứ
thuộc địa cũng là việc làm bình thƣờng của thực dân Pháp. Ngô Tất Tố đã liên kết hai hiện
tƣợng này lại với nhau, rồi đem so sánh với truyện Trịnh Hoằng trong sử sách, để khái quát
lên thành bài viết đả kích tên thống sứ Tholance.
Trong nhiều bài viết, Ngô Tất Tố còn khai thác các hiện tƣợng xã hội có mâu thuẫn
đối lập nhau nhƣ trong thời kỳ đƣợc gọi là "kinh tế phục hƣng", "Trong khi những nhà tƣ
sản vui vẻ đón rƣớc tiếng hoan hô ấy, thì dân vô sản vẫn khóc mếu về cái nạn lên giá của đồ
ăn dùng"(1). Ngô Tất Tố đã nêu lên hai cảnh sống đối lập giữa nhà tƣ bản với dân vô sản,
qua đó ông giúp cho nhân dân chẳng những hiểu rõ bản chất bóc lột của giai cấp tƣ sản, mà
còn căm ghét chúng.
Ngô Tất Tố còn sử dụng phƣơng pháp "lấy gậy ông đập lƣng ông", để đánh địch
những đòn chí mạng. Bài Hiệp tác hay hiếp tác?, ông lấy câu nói mà thực dân thƣờng hay
rêu rao và bọn bồi bút tay sai hết lời ca tụng về chủ trƣơng Pháp-Việt đề huề, để phân tích
và chỉ ra cho mọi ngƣời thấy đây không phải là Hiệp tác mà là hiếp tác. Ông lấy ý từ những
(1) Dân vô sản và những ngày được gọi là kinh tế phục hưng, trang 165.
103
Luận án thạc sĩ
bài diễn văn tràng giang đại hải của "mấy ông đế quốc" giải thích về việc "đánh chiếm thuộc
địa", để đập lại luận điệu tuyên truyền lừa bịp của họ. Phƣơng pháp này đƣợc thể hiện trong
nhiều bài: Hiệp tác hay hiếp tác? Cho no đủ đã, Dân An nam cũng phải có thuộc địa chứ!,
Đừng giở ngón ấy ra nữa tôi can mấy ông Ngày nay… Trong văn tiểu phẩm, phƣơng pháp
này vô cùng lợi hại, vì qua phân tích, ngƣời viết vạch trần cái mâu thuẫn bên trong của nó,
vạch trần tính chất bịp bợm đƣợc ngụy trang bằng những lời nói hoa mỹ. Ông chú ý đến
từng câu, chữ của kẻ địch để tìm cái mâu thuẫn bên trong của vấn đề. Những bài văn nhƣ
thế, thực chất đã lợi dụng đƣợc đầy đủ nhƣợc điểm của kẻ thù để đập lại chúng, ông đánh
thẳng vào những luận điệu mà họ nêu ra, vạch trần các thủ đoạn lừa bịp của họ, phƣơng
pháp này có ý nghĩa và tác dụng chiến đấu trực tiếp với kẻ thù.
Việc áp dụng phƣơng pháp nào để biểu hiện tƣ tƣởng, thể hiện tinh thần chiến đấu,
vẫn phải căn cứ vào đặc điểm của từng đối tƣợng, yêu cầu chiến đấu của từng giai đoạn lịch
sử, chứ không sử dụng một cách tùy tiện.
Những bài bình luận, bút chiến của Ngô Tất Tố, luôn rực rỡ màu sắc nghệ thuật.
Trong quá trình bình luận, các hình tƣợng so sánh và sự châm biếm lúc nào cũng mạnh mẽ,
bút pháp của ông linh hoạt và thú vị. Ông phân tích vấn đề rất cụ thể, sâu sắc và toàn diện,
bất cứ luận điểm nào đƣợc ông nêu ra cũng đều đứng vững trên cơ sở chắc chắn của sự thật
và lôgích, nên đối phƣơng không thể nào bắt bẻ đƣợc ông. Cấu tứ trong văn chƣơng chính
luận biểu hiện rõ rệt tƣ duy lôgích, nhƣng ngôn ngữ thì rất có hình tƣợng, nên dễ hấp dẫn
ngƣời đọc. Ông phân tích cụ thể từng vấn đề và từng đối tƣợng, phân tích qua các mặt đi sâu
vào bản chất của vấn đề để bộc lộ rõ tƣ tƣởng của mình. Tuy khuôn khổ bài báo ngắn, nhỏ,
nhƣng nội dung xã hội của bài, qua sự sửa gọt rút ngắn câu chữ cao độ, nên có một sức chứa
rất phong phú và trở thành bài chính luận xuất sắc. Đây là điểm đặc sắc trong nghệ thuật
biểu hiện của Ngô Tất Tố, đáng để chúng ta học tập.
Ngô Tất Tố kể một câu chuyện hoặc miêu tả một mảng hiện tƣợng nào đó của đời
sống, không bao giờ ông nói đạo lý trừu tƣợng chung chung, mà ông thƣờng làm cho ngƣời
đọc say mê bằng những hình tƣợng. Điều này mang lại sự hƣởng thụ nghệ thuật phong phú,
đƣa lại cho ngƣời đọc một sự giáo dục sâu sắc. Ý nghĩa tích cực của các bài viết là đƣa
ngƣời đọc đi tới nhận thức và căm ghét cái xã hội tối tăm, đầy rẫy sự lừa bịp và giả dối.
104
Luận án thạc sĩ
Đặc điểm tính văn chƣơng trong tạp văn, qui định nó có thể dùng hình tƣợng để tƣ
duy nhƣ các tác phẩm văn nghệ khác, có thể trên mặt chữ không lộ rõ một chút dấu vết nào
của tƣ duy lôgích, nhƣng nó vẫn là "luận văn xã hội", là vũ khí chiến đấu, cần cho độc giả
qua hình tƣợng mà thấy đƣợc kết cấu lôgích rõ ràng. Nếu xem nhẹ đặc điểm này nó sẽ mất
cái đặc sắc của tạp văn, nó sẽ thành loại tác phẩm khác nhƣ tản văn thông thƣờng hoặc
truyện ngắn vậy.
Trong tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, ông còn sử dụng lối viết vòng vo, đây là
biện pháp nghệ thuật cần thiết để đối phó với kẻ thù, để tránh sự bức hại về chính trị. Xã hội
ngày nay không giống nhƣ thời Ngô Tất Tố, Ngô Tất Tố sống dƣới sự thống trị của các thế
lực hắc ám, không có tự do ngôn luận, cho nên dùng hình thức này để tác chiến.
Tóm lại, tạp văn của Ngô Tất Tố không bị chi phối bởi một hình thức cố định nào
đó, mà phong phú nhiều hình, nhiều vẻ. Tùy theo yêu cầu của cuộc đấu tranh và đặc điểm
của từng đối tƣợng mà ông áp dụng các biện pháp biểu hiện khác nhau. Ngô Tất Tố luôn
bám sát đời sống hiện thực và yêu cầu chiến đấu để sáng tác tạp văn. Đó là đặc điểm thứ
nhất, chúng ta cần nhận thức rõ, để học tập ông. Đặc điểm thứ hai, tạp văn của Ngô Tất Tố
sắc sảo, hiện đại, hấp dẫn ngƣời đọc, không phải chỉ có vấn đề là do phƣơng pháp biểu hiện
quyết định. Nguyên nhân cơ bản ở chỗ ông là ngƣời có tƣ tƣởng tiến bộ, chính lòng yêu
nƣớc thƣơng dân, lòng căm thù mãnh liệt đã thôi thúc ông sáng tác. Ông đứng vững trên lập
trƣờng dân chủ và trên mảnh đất hiện thực của đời sống, cùng chiến đấu, cùng sống với
quảng đại quần chúng nhân dân lao động, sự hiểu biết về đời sống xã hội, hiểu biết về lịch
sử, văn hóa rất sâu rộng của ông, thế giới quan của ông đƣợc tƣ tƣởng tiên tiến của thời đại
soi sáng, đo là điều căn bản đảm bảo cho uy lực tƣ tƣởng và nguồn sáng tác tạp văn phong
phú của ông. Nhờ vậy, phƣơng pháp biểu hiện nghệ thuật của ông, mới nhƣ cá gặp nƣớc vẫy
vùng trong khoảng trời rộng lớn. Đó là những điều, ngày nay chúng ta cần học tập ở Ngô
Tất Tố.
105
Luận án thạc sĩ
KẾT LUẬN
Bƣớc vào làng báo làng văn Ngô Tất Tố mang theo vốn Hán học chắc chắn vững
vàng. Nhƣng ông không để cho những gì mình tiếp thu trƣớc đây ràng buộc, chi phối ngòi
bút của mình. Ông luôn cố gắng tìm tòi học hỏi để vƣơn lên. Chỉ trong mấy năm cầm bút
ông đã vƣợt hẳn những ngƣời cùng lứa tuổi và cùng có cái vốn Hán học nhƣ ông, đồng thời
đuổi kịp những nhà báo nhà văn trẻ Tây học.
Trong suy nghĩ cũng nhƣ trong các sáng tác của mình, ông luôn đứng về phía những
ngƣời tiến bộ nhất thời bấy giờ. Sự nghiệp văn chƣơng của Ngô Tất Tố tuy không đồ sộ về
số lƣợng, nhƣng lại khá phong phú về thể loại. Ông viết tạp văn, phóng sự, truyện ký, tiểu
thuyết... So với một số nhà văn cùng thời với ông nhƣ: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng
Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài... tuy ông không phong phú bằng họ, nhƣng ông
lại chín chắn hơn, ông chỉ viết về những đề tài mình thật quen thuộc, những vấn đề mình
thật sự quan tâm. Lập trƣờng tƣ tƣởng của ông đƣợc thể trong các sáng tác, không hề lạc
hậu so với thời đại. Tất cả các sáng tác của ông đều có sự thống nhất và có liên quan chặt
chẽ với nhau, và đều thể hiện lòng yêu nƣớc thƣơng dân của một nhà nho nghèo.
Suốt cuộc đời làm báo và viết văn, ngòi bút của Ngô Tất Tố bao giờ cũng xuất phát
từ lợi ích gần hoặc xa của dân tộc và nhân dân để viết. Lòng thiết tha chân thành với cuộc
sống thôi thúc ông sáng tác. Ông dùng ngòi bút của mình kiên trì bền bỉ đấu tranh chống lại
những bất công ngang trái của xã hội. Lòng yêu nƣớc thƣơng dân của ông thật đáng trân
trọng.
Trong khoảng 15 năm (1930 -1945) Ngô Tất Tố đã viết hàng ngàn bài tạp văn tiểu
phẩm đăng trên các báo và tạp chí, khắp Bắc – Trung - Nam. Hiện nay các nhà nghiên cứu
chỉ mới sƣu tầm, in lại một phần rất nhỏ trong số ấy (112 bài). Không phải tất cả những bài
báo này, bài nào cũng hay cũng có giá trị. Chỉ có điều không ai có thể phủ nhận đƣợc là: đọc
tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, ngƣời đọc hôm qua và hôm nay đều cảm nhận đƣợc
những bài viết của ông có một nét riêng độc đáo, khó có thể trộn lẫn với những bài báo của
các nhà văn khác. Đó là nét sắc sảo "vừa thâm nho, uyên bác đậm tính triết lý phƣơng Đông,
vừa đầy chất trí tuệ của phƣơng Tây".
106
Luận án thạc sĩ
Qua tìm hiểu phân tích ở các chƣơng trên, cho thấy Ngô Tất Tố là một nhà báo xông
xáo, năng lực viết báo "mỗi ngày một chuyện" của ông, thật đáng để những ngƣời cầm bút
hôm nay nể phục. Ông đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội, nhƣng
lĩnh vực nào ông cũng tỏ ra am hiểu sâu sắc, kể cả những vấn để vốn đƣợc xem là "gai góc"
nhất, mà nhiều nhà báo nhà văn thời đó đã né tránh nhƣ: Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và
phong kiến tay sai. Ông dũng cảm xông vào bất chấp mọi sự đe dọa, bắt bớ, tù đày của kẻ
thù để viết, và đó chính là những bài báo hay có giá trị. Những vấn đề đƣợc Ngô Tất Tố đặt
ra trong văn tiểu phẩm là những vấn đề mang tính thời sự, nhƣng bằng tài năng bằng nghệ
thuật viết văn điêu luyện của mình, ông đã tạo cho tác phẩm có một sức sống lâu dài trong
lòng độc giả.
Làm thế nào để xác định giá trị đích thực của một tác phẩm? Trong lời bạt: Đọc nhà
văn hiện đại nhớ Vũ Ngọc Phan, giáo sƣ Trần Hữu Tá có viết: “Thời gian thƣờng rất khắc
nghiệt đối với mọi trƣớc tác của ngƣời nghệ sĩ. Nó thải loại không thƣơng tiếc những gì
thiếu giá trị đích thực. Do đó một tác phẩm nào đấy, ngay cả sáng tác chớ đừng nói đến
nghiên cứu, sau khi ra đời chừng mƣơi năm còn đƣợc ngƣời đọc nhắc tới, có thể coi là sáng
giá..."(1). Thời gian là thƣớc đo giá trị đích thực của một tác phẩm, căn cứ vào yếu tố thời
gian thì rõ ràng những tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố xứng đáng đƣợc gọi là những tác
phẩm sáng giá, bởi vì nó ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, mà cho đến nay vẫn còn đƣợc
đông đảo ngƣời đọc quan tâm. Đó là điều hiếm thấy trong làng báo nƣớc ta.
Tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố chắc chắn sẽ đƣợc đánh giá một cách đầy đủ hơn,
đặt ở vị trí xứng đáng hơn, trong nền báo chí nƣớc nhà nói riêng và nền văn học nói chung.
Chúng ta cảm phục Ngô Tất Tố về tài năng văn chƣơng của ông một phần, một phần
khác là vì phẩm chất đạo đức của một ngƣời cầm bút chân chính, luôn ý thức đƣợc trách
nhiệm của mình với công chúng độc giả.
Ngô Tất Tố hoạt động văn học trong một giai đoạn lịch sử hết sức phức tạp. Đất
nƣớc bị thực dân Pháp xâm lƣợc. Từ những năm hai mƣơi đến Cách mạng tháng Tám thành
công, ngọn cờ cách mạng đƣợc chuyển qua tay nhiều tầng lớp giai cấp khác nhau trong xã
hội, từ sĩ phu, giai cấp tƣ sản dân tộc đến giai cấp công nhân mà lực lƣơng tiên phong là
Đảng cộng sản. Đảng cộng sản thì bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, các
107
Luận án thạc sĩ
phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo bị đàn áp đẫm máu. Những nhà báo nhà văn có tƣ
tƣởng tiến bộ vì sợ ngồi tù sự mất kế sinh nhai, nên ít ai dám nói thẳng nói thật những điều
mình nghĩ. Còn một số không ít kẻ cơ hội "đua nhau chen lấn quanh túi tiền của thực dân
Pháp và bọn nhà giàu ở thành thị, họ dùng báo chí văn chƣơng làm phƣơng tiện kiếm tiền
hoặc để làm quan. Trong hoàn cảnh ấy, Ngô Tất Tố vẫn luôn giữ vững đƣợc phẩm chất đạo
đức của một nhà nho yêu nƣớc chân chính. Ông luôn giữ cho ngòi bút của mình trong sạch,
không hạ mình cầu cạnh kẻ quyền thế, không khuất phục trƣớc thế lực của đổng tiền. Trƣớc
sau nhƣ một, ông sống về nghề báo nghề văn, dù nghèo nhƣng không bao giờ ông chịu để
cho đồng tiền sai khiến. Trƣớc Cách mạng tháng Tám, đó là điều hiếm có.
Phẩm chất đạo đức của nhà báo Ngô Tất Tố, sẽ là tấm gƣơng sáng đối với những
ngƣời cầm bút hôm nay.
108
Luận án thạc sĩ
THƯ MỤC
A- TÁC PHẨM VĂN HỌC:
1/- Ngô Tất Tố - Tác phẩm, tập I vấn, Nxb Văn học, HN-1977.
2/-
3/- Tuyển tập Ngô Tất Tố, tập I và II, Nxb Văn học, HN-1993
Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, HN-1987
4/-
5/- Tuyển tập Nguyễn Tuân, Nxb Văn học, HN-1982
Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, Nxb Văn học, HN-1987
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Nxb Văn học, HN-1993
Truyện ngắn Việt Nam 1930 - 1945, Nxb Giáo dục, 1990
6/-
7/-
B - LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
8/- Bạch Văn Hợp: Lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 (giáo trình) ĐHSP-TP.HCM,
9/-
1985.
Bùi Đức Tịnh: Những bước đầu của báo chí - tiểu thuyết và thơ mới, Nxb -
TP.HCM, 1992
10/-
Bùi Đình Khôi: Tiểu phẩm và cách viết tiểu phẩm, Hội Nhà báo Việt Nam, HN
1992.
11/- Dƣơng Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu, Bộ giáo dục – Trung tâm học liệu
Sài Gòn, tái bản lần thứ 10, 1968
12/- Đỗ Đức Hiểu: Đổi mới phê bình văn học, Nxb KHXH và Nxb Mũi Cà Mau, 1993
13/- Đỗ Ngọc Thống: Về cách kết thúc tác phẩm, tạp chí Nha Trang số 2.1993.
14/- Đức Dũng: Ký báo chí (giáo trình), Phân viện báo chí và tuyên truyền - Học viện
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1995.
15/- Hà Minh Đức: Nhà văn và tác phẩm, Nxb Văn học, HN.1971.
16/- Hải Lan (Trung Quốc): Công tác phóng viên - chủ đề và tài liệu, Hội Nhà báo Việt
Nam, 1992.
17/- Hanks Preus và Guinta Fioches (Đức): Trạng thái tâm lý báo chí, Hội Nhà báo
Việt Nam 1992
18/- Hoàng Nhƣ Mai: Đạo đức của người làm báo (đề cƣơng bài giảng) Khoa Ngữ văn
báo chí ĐHKHXH và NV, TP.HCM.
19/- Hoàng Ngọc Hiến: Năm bài giảng về thể loại, Trƣờng viết văn Nguyễn Du, HN-
1992
20/- Hoàng Ngọc Hiến: Nhập môn văn học (dịch), Trƣờng viết văn Nguyễn Du, HN-
1992.
21/- Hoàng Trung Thông: Nhớ mãi bác Ngô Tất Tố, tạp chí Văn học số 1-1985.
109
Luận án thạc sĩ
22/- Hoàng Dạ Vũ: Ngô Tất Tố và những luống cày, báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt
Nam số 43 ngày 26.10.1996.
23/- Hội Nhà báo Việt Nam: Nghề báo (bài giảng).
24/- Hội Nhà báo Việt Nam: Ngôn ngữ báo chí (bài giảng)
25/- Hội Nhà báo Việt Nam: Viết phóng sự trên báo (bài giảng)
26/- Hội Nhà báo Việt Nam Viết điều tra trên báo (bài giảng)
27/- Hội Nhà báo Việt Nam: Bình luận trên báo chí (bài giảng)
28/- Hội Nhà báo Việt Nam: Bút chiến (bài giảng)
29/- Hồng Chƣơng: 120 năm báo chí Việt Nam, Nxb TP.HCM-1985.
30/- Hồng Chƣơng: Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam, Nxb Giáo khoa Mác -Lênin,
HN-1987
31/- Huỳnh Nhƣ Phƣơng: Dẫn vào tác phẩm văn chương, Đại học Tổng hợp TP.HCM-
1986.
32/- Huỳnh Nhƣ Phƣơng: Những tín hiệu mới, Nxb Hội Nhà văn, 1994
33/- Huỳnh Văn Tòng: Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1945 (giáo
trình), Đại học Tổng hợp TP.HCM-1992
34/- Huỳnh Văn Tòng: Truyền thông đại chúng nhập môn (giáo trình) Đại học Mở -
bán công, TP.HCM-1993
35/- Kiều Thanh Quế: Phê bình Lều chõng - tiểu thuyết của Ngô Tất Tố, trích Tri tân
số 33 ngày 23.1.1942.
36/- Lâm Chí Hạo (Trung Quốc): Học tập phương pháp biểu hiện trong tạp văn của
Lỗ Tấn, Hội Nhà báo Việt Nam-1992.
37/- Léonard Ray Teel-Ron Taylor (Pháp): Bước vào nghề báo (Trần Quang Dƣ và Kiều
Anh dịch), Nxb, TP.HCM-1993
38/- Lê Trí Viễn: Một đời văn, Nxb Giáo dục và ĐHSP TP.HCM-1989
39/- Lê Trí Viễn: Đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam. Nxb ĐH và THCN, HN-1987
40/- Lê Ngọc Trà: Lý luận văn học, Nxb Trẻ, 1990.
41/- Lê Ngọc Trà (chủ biên) Lâm Vinh - Huỳnh Nhƣ Phƣơng: Mỹ học đại cương, Nxb
Văn hóa Thông tin HN-1994
42/- Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (chủ biên): Từ điển thuật ngữ văn
học, Nxb Giáo dục, 1982.
43/- Lê Tiến Dũng: Lý luận văn học (giáo trình) ĐHSP Huế 1994.
44/- Lê Kim Ngân - Võ Thu Tịnh - Nguyễn Tƣờng Minh: Văn học Việt Nam tiền bán
thế kỷ XX, Kim Văn Đê nhị A.B.C.D và kỹ thuật, Nxb Văn hiệp Sài Gòn, 1960.
45/- Lê Thị Đức hạnh: Đặc sắc trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, tạp chí Văn học số
6.1983.
46/- N.A. Gu-lai-ep: Lý luận văn học, Nxb-ĐH-THCN, HN-1992.
47/- Nguyễn Đăng Mạnh: Ngô Tất Tố - nhà báo, Lịch sử Văn học Việt Nam, tập V
(1930-1945) Nxb Giáo dục, 1978.
110
Luận án thạc sĩ
48/- Nguyễn Đăng Mạnh - Nguyễn Đình Chú - Nguyên An: Tác gia văn xuôi Việt Nam,
tập II, Nxb Giáo dục -1993.
49/- Nguyễn Đăng Mạnh - Nguyễn Hoài Thu: Lời giới thiệu Hợp tuyển văn học Việt
Nam 1920-1945, Nxb Văn học, HN-1987.
50/- Nguyễn Đăng Mạnh: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb
Giáo dục,1994.
51/- Nguyễn Đăng Mạnh: Văn và dạy học văn, Nxb Thanh Hóa, 1993.
52/- Nguyễn Đình Chú: Cần nhận thức đúng thời kỳ văn học 1930 - 1945, Nxb Văn
học, HN-1987.
53/- Nguyễn Hiến Lê: Hương sắc trong vườn văn, Q.1, Q.2, Sài Gòn, 1962.
54/- Nguyễn Hữu Ái: Tiểu phẩm báo chí (đề cƣơng bài giảng) ĐHKHXH và NV,
TP.HCM.
55/- Nguyễn Hoành Khung: Lời giới thiệu về Ngô Tất Tố, Từ điển văn học, Tập II, Nxb
KHXH, HN-1984
56/- Nguyễn Hoành Khung: Lời giới thiệu văn xuôi lãng mạn Việt Nam, Nxb KHXH,
HN-1989.
57/- Nguyễn Minh Đức: Ngô Tất tố - người của nhiều tòa soạn, tập san Giáo dục và
Thời đại (chủ nhật) số 25 ngày 18.6.1995.
58/- Nguyễn Sơn: Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí (đề cƣơng bài giảng), Ban Văn
hoá tƣ tƣởng Thành ủy TP.HCM.
59/- Nguyễn Thị Khánh Dƣ: Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp, Nxb Giáo
dục, 1995.
60/- Nguyễn Uyển: Nhà báo và nhân tố mới, Hội Nhà báo Việt Nam, 1992
61/- Nguyễn Văn Tố: Phê bình thi văn bình chú của Ngô Tất Tố, tập san Giai phẩm
văn học Sài Gòn.
62/- Nguyễn Văn Hà: Báo chí ở các đô thị miền Nam giai đoạn 1945 - 1975 (đề cƣơng
bài giảng) ĐHKHXH và NV TP.HCM.
63/- Nguyễn Xuân Nam: Định nghĩa tạp văn, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung
tâm từ điển học, 1995.
64/- Nhiều tác giả: Từ điển văn học, Nxb. KHXH, HN-1984
65/- Nhiều tác giả, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, 1995
66/- Nhiều tác giả: Nghề nghiệp và công việc của Nhà báo, Hội Nhà báo Việt Nam, HN
1992.
67/- Nhiều tác giả: Lịch sử văn học Việt Nam, tập V giai đoạn 1930 - 1945, Nxb Giáo
dục, 1978.
68/- Phan Cự Đệ: Lời giới thiệu Ngô Tất Tố - tác phẩm, Nxb Văn học, HN-1977.
69/- Phan Cự Đệ: Tự lực văn đoàn con người và văn chương, Nxb Văn
111
Luận án thạc sĩ
học, HN.1990.
70/- Phan Cự Đệ: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập I và II. Nxb ĐH và THCN, HN-
1978.
71/- Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức: Nhà văn Việt Nam 1945-1975, Nxb ĐH và THCN,
HN-1987.
72/- Phan Ngọc: Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam trong giai đoạn
1932-1940, tạp chí Sông Hƣơng số 2.1992.
Phan Quang: Ngô Tất Tố - đôi điều cảm nhận, bán nguyệt san Kiến thức ngày nay, 73/-
số 129 ngày 15.1.1994.
74/- Phan Quang: Về hiệu quả của báo chí, phát biểu tại Hội thảo về báo chí 1985.
75/- Phạm Tài Nguyên: Đấu tranh chống tiêu cực trên báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam,
HN 1992.
76/- Phong Lê: Văn học và công cuộc đổi mới, Nxb Hội Nhà văn, HN-1994.
Phùng Quí Nhâm: Thẩm định văn học, Nxb Văn nghệ TP.HCM, 1991.
77-
78/- Phùng Quí Nhâm- Lâm Vinh: Tiếp cận văn học, ĐHSP TP.HCM, 1994
79/- Phƣơng Lựu: Lý luận văn học, tập 3, Nxb Giáo dục, HN-1938.
80/- Quang Đạm: Cải tiến tin tức, Hội Nhà báo Việt Nam, HN1992.
81/- Tập san: Giai phẩm văn học, ấn hành tại Sài Gòn trước năm 1975, vì không còn
bìa nên chúng tôi không xác định đƣợc thời gian cụ thể và nơi xuất bản.
82/- Thanh Lãng: Phê bình văn học thế hệ 1932, phong trào văn học Sài Gòn, 1973.
83/- Thế Phong: Lịch sử văn nghệ Việt Nam nhà văn tiền chiến 1930 - 1945, Vàng
Son - Sài Gòn, 1971.
84/- Trần Hữu Tá: Lời bạt đọc "Nhà văn hiện đại" nhớ Vũ Ngọc Phan, Nxb Văn học
và Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP.HCM-1994.
85/- Trần Đình sử: Lý luận văn học, Văn 12, Nxb Giáo dục, HN-1992.
86/- Trần Đình sử: Thử nghĩ vế ý thức cá nhân trong văn học Việt Nam báo Văn nghệ
số 23 năm 1990.
87/- Trần Đình Sử - Phƣơng Lựu - Nguyễn Xuân Nam: Lý-luận văn học, 3 tập, Nxb Văn
học, HN-1988.
88/- Tran Đình Hƣợu - Lê Chí Dũng: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930,
Nxb. ĐH và THCN, HN-1982.
89/- Trần Ngọc Hồng: Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (giáo trình) ĐHTH - TP
HCM 1987-1988.
90/- Triệu Xuân: Vũ Bằng trọn đời say mê, TP.HCM xuân Quý Dậu
112
Luận án thạc sĩ
1993 (in trong. Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng, Nxb Văn hóa thông tin, HN-
1993)
91/- Trƣơng Chính: Lời giới thiệu Tuyển tập Ngô Tất Tố, Nxb Văn học, HN-1993
92/- Trƣờng Tuyên huấn Trung ƣơng: Giáo trình nghiệp vụ báo chí, tập I và II, HN-
1978.
93/- Tuấn Minh: Tính hấp dẫn của báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam, HN-1992.
94/- Văn Tâm: Giảng văn tập I, Nxb Giáo dục, HN 1992
95/- Vũ Bằng: Về một truyện dài nổi tiếng nhất của Ngô Tất Tố: truyện Tắt đèn, Sài
Gòn tháng 9.1973.
96/- Vũ Bằng: Tại sao tôi lại bị Ngô Tất Tố liệt vào hàng súc sinh, Sài Gòn 9.1973.
97/- Vũ Bằng: Phá quầy, nhưng phục không chịu được, Sài Gòn 9.1973
98/- Vũ Bằng: Tại sao lại Tắt đèn? Tắt đèn làm gì?, Sài Gòn 9.1973.
99/- Vũ Bằng: Ngô Tất Tố, một huấn luyện viên của tôi trong nghề báo, Sài Gòn 9-
1973.
100/- Vũ Bằng: Bốn mươi năm nói láo, Nxb Văn hóa thông tin, HN 1993.
101/- Vũ Đức Phúc - Nguyễn Đức Đàn: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 19451
Nxb Văn học, HN-1964.
102/- Vũ Ngọc Phan: Phê bình văn nghiệp Ngô Tất Tố, trích Nhà văn hiện đại.
103/- Vũ Ngọc Phan : Nhà văn hiện đại, tập I và II, Nxb Văn học và Hội nghiên cứu
giảng dạy văn học TP.HCM, 1994.
104/- Vƣơng Trí Nhàn: Sổ tay truyện ngắn (sƣu tập, biên soạn, dịch) Nxb Tác phẩm mới,
HN-1980.
105/- Vƣơng Trí Nhàn: Các nhà văn tiền chiến và nghề báo, báo Tuổi trẻ chủ nhật số 97
ngày 28-6-1997.
113
Luận án thạc sĩ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
I. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ............................................................................................ 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ......................................................................................................... 4
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................. 18
4. GIỚI HẠN ĐẾ TÀI ....................................................................................................... 19
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN ............................................................................. 19
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN ......................................................................................... 20
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................................. 21
CHƢƠNG I: TƢ TƢỞNG VÀ QUAN NIỆM CỦA NGÔ TẤT TỐ VỀ LÀM BÁO VIẾT
VĂN .................................................................................................................................. 21
1. Tình hình báo chí nƣớc ta từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến Cách mạng tháng
Tám năm 1945 ............................................................................................................... 21
2. Nhà báo Ngô Tất Tố - Cuộc đời và sự nghiệp........................................................... 27
3. Quá trình chuyển biến tƣ tƣởng của Ngô Tất Tố từ một nhà nho trở thành một nhà
báo tiến bộ ..................................................................................................................... 30
4. Quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo và viết văn .................................................. 36
5. Nhân cách của ngƣời viết tạp văn – tiểu phẩm.......................................................... 41
CHƢƠNG II: NỘI DUNG TƢ TƢỞNG CỦA TẠP VĂN - TIỂU PHẨM NGÔ TẤT TỐ
........................................................................................................................................... 46
1. Tố cáo các thủ đoạn bóc lột của bọn tƣ sản làm giàu bất chính trên sự đau khổ của
ngƣời dân ....................................................................................................................... 46
2. Lên án bọn quan lại phong kiến, bọn đầu cơ chính trị .............................................. 54
3. Đả kích thực dân Pháp cùng những chính sách cai trị tàn bạo của chúng. ............... 65
CHƢƠNG III: NGHỆ THUẬT VIẾT VĂN TIỂU PHẨM CỦA NGÔ TẤT TỐ ............ 76
1. Đặc điểm của thể loại tạp văn ................................................................................... 76
2. Kết cấu ....................................................................................................................... 78
3. Ngôn ngữ nghệ thuật ................................................................................................. 90
4. Giọng điệu nghệ thuật ............................................................................................... 96
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 106
THƢ MỤC .......................................................................................................................... 109
MỤC LỤC ........................................................................................................................... 114
114