Lược sử ngoại giao VN các thời trước
Chương năm
NGOI GIAO THỜI LÊ LỢI - NGUYỄN TRÃI CHỐNG QUÂN MINH ĐÔ HỘ - phần
3
III. GIẶC BỘI PHẢN NGHỊ HÒA, TA H THÊM BỐN THÀNH CỦA GIẶC
Như các lãnh tụ nghĩa quân đã lường trước, bọn Vương Thông quả thật có ý muốn bội
phản những lời ước hẹn khi cầu hòa. Chúng muốn nhân việc đưa sứ giả của nghĩa quân
sang nhà Minh để cho người về nước xin viện binh nhanh chóng sang cứu và tăng cường
lực lượng cho chúng tiếp tục chiến tranh xâm lược Đại Việt.
Đầu năm 1427, vua Minh quyết định cử một đạo viện binh lớn sang Việt Nam do Liễu
Thăng chỉ huy. Tin đó làm bừng lên trong đầu Vương Thông mt tia hy vọng được cứu
sống, có thể tiếp tục chiến tranh và chiến thắng trên chiến trường Việt Nam. Do đó
Vương Thông bội phản nghị hòa, cho quân phá chuông Qui Điền và vạc Phổ Minh là hai
công trình nghệ thuật của dân tộc ta thời xưa, để ly đồng làm ng đạn. Giặc đắp cao
thành Đông Quan, đào hào sâu, thả chông, dựng thêm hai lần lũy. Lời nghị hòa của giặc
tới đây coi như xóa bỏ.
Để cho giặc thấy rõ quyết tâm tiêu diệt vin binh - niềm hy vọng cuối cùng của giặc, các
lãnh tLam Sơn phái thêm quâny đánh tất cả các thành mà quân Minh chốt giữ trên
con đường từ Đông Quan lên biên giới Quảng Tây và tĐông Quan lên biên giới Vân
Nam.
Để tăng cường uy hiếp giặc ở Đông Quan, các lãnh tụ Lamn cho quân vây chặt bốn
cửa thành. Người ngựa của giặc lảng vảng ra ngoài thành đều bị nghĩa quân bắt giữ, tt cả
tới trên 3.000 quân và 500 ngựa bị bắt.
Đầu tng 2 năm 1427, các tướng Trần Lựu, Lê Bôi mở trận tiếnng thật mạnh vào
thành Khâu Ôn. Tướng giặc giữ thành Khâu Ôn là Tôn Tụ ngay đêm hôm ấy bỏ thành
chạy trốn về Quảng Tây. Quân ta lấy lại thành Khâu Ôn.
Tin thành Khâu Ôn thất thủ truyền đi làm cho quân Minh ở các thành khác trên con
đường Đông Quan - Quảng Tây hoang mang lo sợ.
Nhânhội này, Nguyễn Trãi viết thư dụ hàng các tnh, trước hết là thành Điêu Diêu ở
gần Đông Quan, do tướng giặc Trương Lân và tướng ngụy Trần Vân chỉ huy. Thành này
đang bị tướng Bùi Quc Hưng và nghĩa quân vây đánh. Trong thư gửi cho tướng gic
Trương Lân, có đoạn Nguyễn Trãi viết:
Hiện nay vệ quân các xứ Thanh Hóa, Diễn Châu đều đã nhất tề đền đây rồi, phàm v
con tài sản của quân nhân, mảy may không bị xâm phạm. Nay cái kế tốt cho các người
không gì bằng ra ở ngoài thành, cùng Thái đốc quân (Thái đốc quân hay Thái đô đốc là
chỉ Thái Phúc tướng giặc chỉ huy thành Nghệ An, đã ra hàng nghĩa quân Lam Sơn) quyết
đnh việc về để cứu vớt mấy nghìn tính mệnh ở trong thành. Chúng ta đã xét những việc
đắc thất của cổ nhân như Bạch Khởi (Bạch Khởi là tướng nước Tần thời Chiến quốc, cầm
quân đánh nước Triệu, 40 vạn quân Triệu ra hàng đều bị Bạch Khởi giết chết) nước Tần,
Hạng Vũ (Hạng Vũ nước Sở đem quân đánh nước Tần; Tần Vương là Tử Anh ra hàng,
Hạng Vũ giết chết) nước Sở, giết kẻ đầu hàng, trái lời đã ước, chúng ta quyết không làm
như thế đâu. Các người hãy cthư lòng, đừng nên ngvực mà thành hng việc. Các
người nếu cho là thành cao hào sâu, lương thực lại nhiều, thì thử xem như ở các xứ
Thanh Hóa, Nghệ, Diễn, thành không phải là không cao, hào không phải là không sâu,
lương thực không phải là không nhiều, quân không phải là không mnh, li Thái đô đốc
t chức cũng to, binh cũng gii, tng sáng, mà còn theo thời thông biến để bảo toàn
tính mệnh cho mấy vạn con người, thế mà các nời lại còn muốn cố chấp những lời bàn
suông để mang tai vạ thật, há chẳng lầm lắm ư? Vli ta xem ở nước các người, hiện nay
bên trong có họa tiên tường (Tiên tường là bức bình phong trong nhà quý tc. Ở đây, ý
i trong nhà, trong nội bộ.), bên ngoàigiặc bắc biên (Bắc biên là biên giới phía bắc.
Ở đây chỉ người Mông Cổ đánh phá ở miền bắc Trung Quốc.), mà đại thần lấn vị, người
dưới chuyên quyền; hạn hán hoàng trùng, ln năm tai họa, bốn phương đạo tặc nổi dậy
như cái cơ táng loạn, há không biết trước rồi sao? Người t giả thấy việc từ lúc việc chưa
phát, sao các ngươi lại thấy sự cơ muộn thế, mà muốn tự khổ như thế?c người nếu biết
kéo quân ra thành, cùng ta hòa hảo thân tình, tình ta coi các người nga như anh em ruột
tht, nào ch những bảo toàn tính mệnh vợ con mà thôi đâu? Nếu không thế, tùy ý các
người. Trong khoảng sớm tối, sẽ khắc thấy nhau. Đến lúc bấy gihi cũng không kp.
Các người hãy nên nghĩ đi".
Bức thư dụ hàng tướng ngụy thành này, lời lẽ không ging như viết cho tướng Minh. ông
viết:
"Người xưa có nói: "Quạ đi lại về quê cũ, cáo chết quay đầu về núi”. Cầm thú còn thế,
huống nữa là người. Các người vốn người n Tây Việt (Tây Việt là tên nhóm nời
Bách Vit ở phía nam Quảng Tây thời cổ. Ở đây,y Việt chỉ nước ta), dòng dõi nhà
quan. Trước nhân họ Hồ thất đức, giặc Ngô lăng loàn, các người người thì thân b hãm
ở tặc đình (Tặc đình là triều đình giặc, tức triều đình nhà Minh), người thì danh b
buộc ở ngụy chức, đó là thế không đứng được, nào phải do ở bản tâm đâu. Đấng Thượng
đế nghĩ thương dân ta, đã mượn tay ta, Đại Thiên hành hóa, Thái sư Vệ Quốc Công (Chỉ
Lê Lợi - thư viết nhân danh Lê Lợi), cứu dân đáng kể có tội để khôi phục cơ đồ. Quân đi
đến đâu, nghĩa thanh vang dậy, dân chúng bốn phương, dắtu nhau mà kéo đến theo ta.
Bọn các người nếu biết rửa lòng đổi dạ, bỏ nghịch theo thuận, hoặc ở làm ni ứng, hoặc
ra để đầu hàng, t không những rửu mi hổ thẹn ngày trước, mà cũng được phần soi xét
v sau. Ta không nói lời rồi lại ăn lời. Nếu các ni lại còn tiếc tham ngụy chức, chống
cự Vương sư, thì khi hãm thành, ti ác các người tất nặng hơn giặc Ngô đấy".
Những thư trên đều cùng mục đích dụ hàng. Nhưng viết cho tướng Minh ông viết khác,
viết cho tướng ngụy ông viết khác. Khác về cách viết, khác về lời văn, khác về cách phân
tích các lẽ phải trái, được thua. Với tướng Minh, ông cho chúng thấy i mạnh, cái sức
sống trường tồn và cái lẽ tất thắng của dân tộc ta; đồng thời ông vạch rõ cái thế yếu, thế
thua của giặc vài thế không thể đương nổi của chính bản thân kẻ nhận thư đó. Với
tướng ngụy, ông viết khác. ông nhấn mnh vào tình quê hương Tổ quốc, vào cái thế
không thể xa lìa được quê cha đất tổ: "Cáo chết còn quay đầu về núi” huống nữa con
người. Ông tỏ niềm thông cảm với bn ngụy quân, ngụy quyền, phải làm tay sai cho giặc
là vì bt đắc dĩ, thế không thể đừng, chứ không phải do bản tâm muốn thế. ông cũng nêu
rõ cái sức mạnh như vũ bão của nhân dân cả nước đang vùng lên để cứu nước cứu nhà;
chúng cũng là dân mt nước, không thể ôm mãi i ngụy chức của giặc, chống lại cnh
nghĩa, đi ngược lại nguyện vọng của nhânn cả nước. Những bức thư ấy, cách viết khác
nhau mà những điều cơ bản li rất ging nhau. Giống nhau ở chỗ thư nào cũng sáng ngời
chính nghĩa của dân tộc và tràn đầy tình yêu nước nồng nàn của người viết. Từ trong thư
toát lên một tinh thần tự hào dân tc rất cao đẹp, một khí thế chiến đấu kiên cường để bảo
v nền độc lập tự do của Tổ quốc, một sức mạnh hùng biện áp đảo địch, mt tấm lòng
nhân ái tuyệt vời, thu phục lòng người, i cuốn người đi theo lẽ phải, theo chính nghĩa.
Thư nào ông cũng mở ra những li thoát cho địch: ông nêu rõ chính sách khoan hng,
không giết kẻ đầu hàng và thái độ đối xử tử tế, ân cần của quânn ta đối với tù hàng
binh, kể cả địch ln ngụy. Thư của Nguyễn Trãi viết có sức mạnh đánh vào lòng người
chính là ở những điểm cơ bản đó.
Trước nhng bức thư dụ hàng, chính nghĩa sáng ngời, tình lý rạch ròi, ân uy đầy đủ như
vậy, tướng nhà Minh là Trương Lân và tướng ngụy là Trần Vân, chỉ huy thành Điêu Diêu
đem quân ra hàng, dâng thành cho ta.
Đầu tng 3 năm 1427, tướng gic Đường Bảo Trinh ở Thị Cầu cũng mở cửa thành, đem
quân ra hàng.
Sau khi hạ ba thành trên đường lên Quảng Tây, cuối tháng 3 năm 1427, Nguyễn Trãi thân
lên dụ hàng thành Tam Giang trên đường lên Vân Nam. Thànhy do tướng Trịnh Kh
vây hãm. Nguyễn Trãi đưa thư cho Lưu Thanh, tướng địch chỉ huy thành Tam Giang.
Bức thư không viết với lời lẽ mềm mng, ngọt ngào, mà là mt bức tối hậu thư gửi cho
đch, lời lẽ rất quyết liệt:
"Thư bảo cho tướng hiệu quan viên cùng quân nhân trong thành Tam Giang biết.
Cái điều đáng quýngười quân tử là biết thời thông biến, lượng sức xmình. Bây gi
giá có người đem quả trúng chim chống đỡ núi Thái Sơn, ly càng bngựa ngăn cản
bánh xe, mà lại tự cho là sức có thừa, thì thật là ngu quá vậy!ngươi vài trăm quân,
giữ thành trơ tri mà li muốn kháng cự với ta, thì có khác gì thế không? Thành trì của
các người không cao sâu bằng ở Nghệ An, lương thực của các ngươi không súc tích bằng
ở Din, An; mà quân vũ dũng cm tử của các ngươi lại không đông bằng quân nhân ở
Diễn, Nghệ, quan tước của các ngươi lại không to bằng Thái đô đốc. Thêm mà vệ quân ở
các xứ Diễn, Nghệ, Thuận Hóa, Tân Bình, Thanh Hóa, Tiền Vệ (Tiền Vệ tức thành Điêu
Diêu), Th Cầu, Xương Giang, Trấn Giang (Trấn Giang tức ải Chi Lăng), đều đã m
thành ra hàng. Nay thy dưới y bồ đề (Cây bồ đề ở đây chi đại bản doanh Bồ Đề của
nghĩa quân.), Thái đô đốc đã đinh nhật k kéo quân về Kinh (Tức Kinh đô nhà Minh).
Phàm quan quânng vợ con, tài sản không bị xâm phạm mảy may. Thế mà các người
chỉ cứ theo sự gilầm, không biết lo xa, sao mà thấy biết sự cơ muộn thế! Tất cả những
tướng của ta, không ai là không hăm hở muốn vác khí giới lên phá thành ngay. Nhưng
ta còn nghĩ thương những kẻ vô tội ở trong thành đã bị các người lừa dối, mt khi tiếng
trống nổi lên, t ngc đá chẳng phân biệt gì, đều tan t cả. Vậy viết mấy chữ gửi các
ngươi hay”.
Nhận được thư dụ hàng của Nguyễn Trãi, tướng giặc Lưu Thành lập tức mở cửa thành
Tam Giang (Tam Giang là miền Việt Trì ny nay) đem quân ra hàng.
Đối với thành Đông Quan là nơi bọn chủ tướng giặc Vương Thông và đại bộ phận quân
giặc đồn trú, các lãnh tnghĩa quân Lamn chủ trương vây hãm và dụ hàng là chính.
Các lãnh tụ nghĩa quân tin tưởng rằng chủ trương vây hãm và dhàng giặc ở thành Đông
Quan nhất định sẽ thành công. Sự thành công y vừa không làm tổn hại nhiều xương máu
quân sĩ, vừay lại được quan hệ hòa bình lâu dài giữa ta và nước láng giềng. Do đó các
lãnh tnghĩa quân kiên trì chủ trương "vây thành dit viện" - vây chặt giặc ở Đông Quan
đánh tiêu diệt các quân cứu viện của chúng.
Về phía giặc ở Đông Quan, chúng cũng biết rõ cái thế thua của chúng, nhưng vẫn hy
vọng viện bình sang cứu, cho nên chỉ khi nào viện binh bị tiêu diệt thì chúng mới chịu
hàng.
Nguyễn Trãi viết thư cho tướng giặc Vương Thông, khẳng định:
Viện binh đến, thế tất phải thua, viện binh thua, bọn các ông tất b bắt".
Và nghĩa quân Lamn sẽ làm đúng như thế.
IV. VỪA ĐÁNH VỪA ĐÀM, PHÁ TAN 15 VẠN VIỆN BINH ĐỊCH
Để cắt đứt mi liên lạc có thể có được giữa viện binh địch với quân đội của chúng trên
các chiến trường Đại Việt, nghĩa quân Lam Sơn đã trit hạ các thành mà quân Minh
chiếm giữ trên hai con đường từ Đông Quan lên Lê Hoa phía Vân Nam và tĐông Quan
lên Pha Lũy (ải Nam Quan sau này) phía Qung Tây. Duy còn thành Xương Giang (Bắc
Giang) giặc chiếm giữ, nằm giữa con đường từ Đông Quan lên Pha Lũy là chưa hxong.
Nguyễn Trãi viết cho tướng giặc ở thành Xương Giang mt bức thư khuyên chúng nên
hàng. Thư có đoạn:
Ta vâng theo mnh trời, lấy đại nghĩa dẹp giặc. Nghĩ cơ đồ tổ tông nghiêng ngửa,
thương dân chúng lầm than, đánh thành, lấy đất, không giết mt người. Cho nên đánh
đông dẹp tây, tới đâu thắng đấy. Thành Xương Giang nhỏ mnm trái mnh, nên căm
thù tiến đánh, nghĩa phải thế, việc không thể đừng. Nhưng, đem núi Thái Sơn đè lên quả
trứng, "lực" không chịu nổi chốc lát, lấy lửa hồng thiêu đốt sợi lông, “thế” khó đương
trong khoảnh khắc. Vả lại "dĩ thuận thảo nghịch, hà hoạn bất tòng, dĩ cường công nhược,
ưu bất khc" (lấy thuận đánh nghịch, lo gì không theo; lấy mạnh đánh yếu lo gì không
thắng). Vậy mà còn một mực lấy lời khuyên dụ, chính vì coi mạng người trong thành làm
trọng, không nỡ để thương vong...
Bọn các ngươi, nếu trên biết thiên thời, dưới hiểu nhân sự, thì sẽ giữ được lc vị đến vô
cùng, tránh cho cả một thành khi bị chém giết. Các người được tiếng là người tướng tri
thức mà ta không mất tiếng là người tướng nhân nghĩa. Nếu như các người cứ mê mui
không hiểu gì, t đến ngày thành b hạ, ngọc đá không phân biệt nữa, đó không phải vì ta
bo ngược mà chính các người tự làm nên ti. Giờ là lúc còn mất nguy cấp vậy. Nên
suy tính k, đừng để sau phải hối".
Nhưng quân Minh ở đây ngoan cố chưa chịu hàng, chúng muốn chờ viện binh tới cứu.
Nguyễn Trãi viếtthư dụ hàng ln nữa. Các lãnh tụ nghĩa quân cho Thái Phúc cùng mấy
hàng tướng khác hai ba lần tới chân thành Xương Giang khuyên gọi giặc ra hàng. Quân
Minh vẫn muốn chờ viện binh tới cứu.
Các tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Sát đang vây thành được lệnh tiến công. Thành b hạ.
Toàn bộ tướng giặc phải tự tử. Phần lớn quân Minh bị bắt sống. Chiến thắng thật giòn
giã.
Không nhận thư lui quân, chủ tướng giặc Liễu Thăng tan xác.
Viện binh của quân Minh chia làm hai đạo, do nhng tướng giỏi bậc nhất của chúng cầm
đầu, theo hai đường tiến sang Đại Việt. Một đạo gồm năm vạn quân và một vạn ngựa do
tướng Mộc Thạnh làm tng binh và hai tướng Từ Hanh, Đàm Trung làm tả hữu phó tổng
binh, theo đường Vân Nam tiến sang. Một đạo gồm 10 vạn quân, 2 vạn ngựa do tướng
Liễu Thăng làm tng binh, tướng Lương Minh là phó tổng binh, đô đốc Thôi Tụ làm hữu
tham tướng và hai thượng thư làm tham tán quân vụ là Binh bộ thượng thư Lý Khánh và
Công bộ thượng thư Hoàng Phúc. Khoảng đầu tháng 10 năm 1427, hai đạo viện binh của
giặc tới gần biên giới Đại Việt.
Biết đạo quân Liễu Thăng sẽ vượt biên gii sang trước, nghĩa quân Lam Sơn chuẩn bị
đánh đạo quân này. Khi 10 vạn quân của Liễu Thăng đánh vào cửa ải Pha Lũy, tướng
nghĩa quân Lam Sơn trấn giPha Lũy là Trần Lựu theo kế hoạch vừa chiến đấu vừa lui
dần về Chi Lăng. Khi rút, Trần Lựu gửi cho Liễu Thăng một bức thư của Nguyễn Trãi.
Thư viết:
"Ta nghe nói: vương giả chi sư, hữu chinh vô chiến; nhân nghĩa chi cử, vụ tại an dân
(quân của vương gidẹp mà không đánh, làm việc nhân nghĩa cốt để yên dân)...
Nay nghe đại nhân thốt nhiên ti biên cnh. Vừa sợ vừa mừng. Đó là binh cứu viện
chăng? Hay binh tới để dựng lại nước đã diệt, nối lại dòng đã tuyệt chăng? Đã hơn hai
mươi năm, binh họa liên miên. Quân lính Trung Quc mười phần không còn mt. Dân
nước tôing chết uổng nhiều. Được không bù lại mất. Thu vào chẳng bõ nhng cái mất
đi. Nói ti những điều đó chắc các ông không tch nghe ...
... Nay các ông không nghĩ tới điều đó, đem quân trơ trọi đi sâu vào đất người, cầu mong
lập công. Ta cho rằng các ông không thể làm nên chuyện gì. Vả nọc ong cònđộc,
huống chi nời cả nước ta, há li không ai mưu chí dũng lược sao. Các ông chớ thấy
ta ít người mà coi thường. Đến lúc ấy, lòng thành của nước ta đối với ớc lớn thật là
thiếu, mà các ông t hi không kịp...