
II. NGOẠI GIAO TRIỀU GIA LONG (1802-1819)
Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh lên
ngôi vua, lấy niên hiệu Gia Long và từ đây tiến hành
ngoại giao với tư cách một quốc vương mở đầu triều
đại mới.
1. Ngoại giao với Trung Quốc
Cũng như các triều đại trước, nước đầu tiên mà Gia
Long Nguyễn Ánh tiến hành ngoại giao là Trung
Quốc. Tháng 5 năm Nhâm Tuất, sau khi lên ngôi vua,
Gia Long cho một đoàn sứ giả đem đồ uống sang
Quảng Đông cầu phong triều đình Trung quốc. Dẫn
đầu đoàn sứ giả là Trịnh Hoài Đức chánh sứ, Ngô
Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn là phó sứ. Đoàn sứ
giả sang Quảng Tây, bọn quan lại nhà Thanh ở đây
nhận chuyển đồ cống lên Bắc Kinh, còn giữ đoàn sứ

ở lại Quảng Tây chờ lệnh triều đình có cho sứ giả lên
Bắc Kinh triều yết hay không.
Nguyễn Ánh cho đoàn sứ đem theo mấy tên tướng
Tàu Ô Trung Quốc bị quân Nguyễn bắt để nộp cho
nhà Thanh. Triều đình Thanh lệnh cho quan tỉnh
Quảng Tây xử tử những tên tướng Tàu Ô, nhưng vẫn
chưa lệnh cho sứ giả của Gia Long lên Bắc Kinh.
Thấy sứ giả đi từ tháng 5 mà mấy tháng sau vẫn còn
ở Quảng Tây, Gia Long cho người lên cửa ải Nam
Quan, đưa thư sang hỏi quan tỉnh Quảng Tây và chờ
tin trả lời.
Ít lâu sau, Gia Long được triều đình Bắc Kinh báo
cho biết là đoàn sứ Trịnh Hoài Đức chỉ mới là đoàn
sứ đem nộp đồ cống, phải cho một đoàn sứ khác đem
biểu văn cầu phong sang. Khi đoàn sứ cầu phong tới
Quảng Tây sẽ cùng đoàn sứ Trịnh Hoài Đức lên Bắc

Kinh.
Gia Long phải nghe theo, lại cho một đoàn sứ nữa
gồm Lê Quang Định làm chánh sứ, Lê Chính Lộ và
Nguyễn Gia Cát làm phó sứ đem đồ cống và biểu văn
sang cầu phong. Đoàn sứ Lê Quang Định còn làm
thêm một nhiệm vụ là báo cho nhà Thanh biết Gia
Long đổi tên nước ta là Nam Việt. Nước ta lấy tên
nước là Đại Việt từ lâu đời. Có lẽ Gia Long sợ Trung
Quốc không bằng lòng: Trung Quốc là Đại Thanh, ta
là Đại Việt, hai nước cùng "Đại" cả, tức là ngang
hàng nhau, cho nên Gia Long tự ý đổi là Nam Việt.
Mùa thu năm 1803, triều đình Bắc Kinh cho viên án
sát tỉnh Quảng Tây là Tề Bố Xâm đi sứ sang Việt
Nam tuyên phong cho Gia Long.
Sứ Trung Quốc Tề Bố Xâm chỉ sang Thăng Long để
làm lễ tuyên phong như các thời trước, không chịu

vào Phú Xuân.
Gia Long phải từ Phú Xuân tiến hành "ngự giá Bắc
tuần" để bái yết sứ Thanh và tiếp nhận chiếu phong
vương.
Đầu năm Giáp Tý (1804), sứ Trung Quốc tới Thăng
Long. Ngày 13 tháng giêng năm Giáp Tý, lễ tuyên
phong tổ chức tại điện Kính Thiên.
Vua Thanh cho sứ đem gấm, đoạn và nhiều phẩm vật
sang tặng vua Việt Nam. Về tên nước ta, vuaThanh
không muốn ta dùng tên Nam Việt là tên nước đã có
từ thời Triệu Đà, bao gồm cả hai tỉnh Quảng Đông,
Quảng Tây. Nên sau này tên nước được gọi là Việt
Nam như ngày nay.
Gia Long cho một đoàn sứ giả do Lê Bá Phẩm làm
chánh sứ, Trần Minh Nghĩa, Nguyễn Đăng Đệ làm

phó sứ đem thư, tặng phẩm sang tạ vua Thanh. Tặng
phẩm tức là lễ cống hàng năm, gồm 200 lạng vàng,
1.000 lạng bạc, 100 tấm lụa, 100 tấm the, 2 chiếc
sừng tê, 100 cân ngà voi và 100 cân quế tốt. Gia
Long lại xử hậu hĩ, nộp luôn cả cống phẩm năm sau
(1805) và cống phẩm năm trước (1803) chưa nộp.
Như vậy tổng cộng tặng phẩm do đoàn sứ Lê Bá
Phẩm đưa đi là 600 lạng vàng, 3.000 lạng bạc, 300
tấm lụa, 300 tấm the, 6 cái sừng tê, 300 cân ngà voi
và 300 cân quế tốt.
Năm 1809, triều đình nhà Nguyễn cho một đoàn sứ
36 người do Nguyễn Hữu Thận làm chánh sứ đem
nộp cống phẩm hai năm (1808-1809). Đoàn sứ 36
người, gồm có chánh sứ, 2 phó sứ, 9 hành nhân, 2 lục
sự, 4 thư ký, 1 điền hộ, 2 thông sự và 15 người theo
hầu.
Một tháng sau, tức tháng tư âm lịch, Gia Long lại cho

