Ngôi bt thường
(Kỳ 1)
NGÔI MẶT
1. Đại cương:
Ngôi mặt ngôi đầu ngửa hẳn, phần mặt thai nhi trình diện trước eo trên
của tiểu khung. Đây là một ngôi thai bất thường, chiếm tỉ lệ khoảng 5/1000 các
cuộc chuyển dạ. Mốc của ngôi mặt là mỏm cằm.
Ngôi mặt 2 kiểu cằm-mu (cm trước) và cm-cùng (cm sau) nhưng chỉ
kiểu cằm trước thể đẻ được với đường kính lọt của ngôi là h cằm-thóp
trước (9,5 cm), còn kiểu cằm sau nếu trong chuyển dạ ngôi không xoay thành cằm
trước thì phải mổ lấy thai vì đường kính sổức-thóp trước quá lớn (15 cm).
2. Nguyên nhân:
Ngôi mặt thể nguyên phát hoặc thứ phát, xảy ra trong chuyển dạ do đầu
cao, bình chỉnh kém, di động dễ.
Các nguyên nhân thường gặp trong ngôi mặt gồm:
2.1. Về phía mẹ:
- Khung chậu hẹp.
- Bất thường ở tử cung: tcung dị dạng, tử cung lệch sang bên hay đổ trước
quá mức, tử cung có u ở eo, tử cung nhẽo do đẻ nhiều lần.
2.2. Về phía thai:
- Thai to, đầu thai to, thai sọ làm cho đầu thai không áp chặt được tiểu
khung dẫn đến đầu ngửa.
- Bất thường ở cổ hoặc cột sống làm cho thai nhi không cúi được như: khối
u cổ, bướu cổ, cột sống bị gù.
2.3. Về phía phần phụ của thai:
Rau tiền đạo, dây rau ngắn, dây rau quấn cổ, đa ối.
3. Chn đoán:
3.1. Trong khi có thai:
- Nhìn: không đặc biệt, tử cung vẫn nh trứng hoặc thể thấy tử
cung dị dạng hình tim, tcung đổ trước quá mức hoặc lệch sang bên.
- Snắn tử cung thấy đầu dưới. Các kết quả sờ nắn trong khi thai rất
có giá trị trong chẩn đoán ngôi mặt.
+ Vi kiểu cằm sau, nắn thấy dấu hiệu "nhát rìu": một vùng khuyết sâu
giữa bướu chẩm và lưng thai nhi, khó nắn thấy cằm và chân, tay.
+ Với kiểu cằm trước sẽ nắn thấy cằm thai nhi hình móng ngựa, dễ nắn thấy
chân, tay; không nắn thấy lưng, bướu chẩm và rãnh gáy.
- Nghe tim thai: không có đặc biệt, vị trí tim thai ở vùng quanh rốn.
- Thăm âm đạo không có giá trị chẩn đoán vì cổ tử cung chưa mở.
- Chụp X quang thấy hình ảnh cột sống thai nhi ưỡn ngửa, thể phát hiện
thai ddạng vô sọ hoặc khối u cổ. Đây là phương pháp gtrchẩn đoán,
tuy nhiên không có li cho thai nên ít được làm.
3.2. Trong khi chuyển dạ:
- Nhìn, nắn và nghe: giống như khi chưa chuyển dạ nhưng khó phát hiện
dấu hiệu nhát rìu hơn vì đã có cơn co tử cung.
- Thăm âm đạo khi cổ tử cung đã mở:
+ Khi ối chưa vỡ: đầu ối phồng, ngôi cao, khó chẩn đoán, khi thăm khám
cần nhẹ nhàng, tránh làm vỡ ối, dễ gây sa dây rau.
+ Khi ối đã vỡ, cổ tử cung mrộng: sờ thấy trán với đường khớp giữa 2
xương trán, sống mũi, 2 hố mắt, 2 lỗ mũi, hàm trên, mồm, m dưới hình móng
ngựa và mm cằm là mốc của ngôi. Nếu mặt bướu huyết thanh, phù n sẽ gây
khó khăn trong chẩn đoán, khi đó dựa vào sthấy gốc mũi (không bao giờ bị phù
nề) và miệng thai nhi (khi cho ngón tay vào thấy có phản xạ mút nếu thai sống).
3.3. Chẩn đoán thế và kiểu thế:
- Chn đoán thế: dựa vào mốc của ngôi bên trái hay bên phải của khung
chậu. Mốc của ngôi là mỏm cằm, vì đầu thai nhi ngửa hẳn nên mm cằm đối diện
với lưng. Do đó, khi sờ nắn thấy lưng bên nào thì thế ở bên đối diện: lưng bên phải
thì thế trái, lưng bên trái thì thế phải.
- Chẩn đoán kiểu thế: dựa vào mốc của ngôi nửa trước hay nửa sau của
khung chậu để chẩn đoán kiểu thế, có 4 kiểu thế lọt theo thứ tự thường gặp là:
+ Cằm - chậu - trái - trước (Ca.C.T.T).
+ Cằm - chậu - phải - sau (Ca.C.P.S).
+ Cằm - chậu - phải trước (Ca.C.P.T).
+ Cằm - chậu - trái - sau (Ca.C.T.S) rất hiếm.
3.4. Chẩn đoán phân biệt:
- Vi ngôi ngược không hoàn toàn kiểu mông:
Ngôi mặt khi bướu huyết thanh to cần chẩn đoán phân biệt với ngôi
ngược không hoàn toàn kiểu mông vì có thể nhầm má với mông thai nhi, khi đó có
th phân biệt miệng với hậu môn bằng cách cho ngón tay vào thăm dò: nếu là
mồm sẽ phản xạ mút, nếu là hậu môn sẽ thấy phân xu theo tay và không
phản xạ mút.
- Vi ngôi trán: trong ngôi trán, thăm âm đạo khi thăm âm đạo cổ tcung
đã mta sờ thấy trán, 2 hốc mắt, gốc mũi, 2 lỗ mũi và thsờ được cả hàm trên
nhưng không bao giờ sờ được cằm.
- Vi thai vô sọ: vì không có vòm snên sthấy mềm, dễ nhầm với ngôi
mặt. Phân biệt bằng cách nn ngoài không thy bướu chẩm, chụp X quang không
thấy vòm xương sọ.