LUẬN VĂN:
Nhà có gia phả như Nước có quốc sử
Lời nói đầu
Quốc sử ghi chép việc chung của đất nước của dân tộc từ khi thành lập Nước.
Gia phghi chép việc riêng của một gia đình, một họ tộc từ khi hình thành đến các thế
hệ đương thời.
Gia phải chi họ nhà ta từ trước đến giờ chỉ một cuốn gọi "Đào môn gia
phả diễn lục" do cụ Đào n Thư biên soạn bằng chnho ghi chép được năm đời, rồi
đọc cho ông Đài con trai cụ Thư, chép lại bằng chữ quốc ngữ m 1940 - cùng thời
gian ông Đào Văn Thái con trai cụ Đào Văn Nguyên em họ cụ Thư (chung ông nội)
có sao chép lại bản chữ quốc ngữ đó. Do hoàn cảnh chiến tranh từ năm 1948 gia đình cụ
Thư phải tán sang xã Hồng Châu (Tràng Lan cũ) huyện Yên Lạc rồi mỗi người đi
một nơi làm ăn hoặc công tác kháng chiến. Mãi đến năm 1996 ông Đài mới tìm lại được
cuốn gia phả chquốc ngữ chép tay ấy tại nhà ông Đọn Hồng Châu và một bản sơ
đồ phả hệ bằng chữ nho do cụ Thư vẽ m 1943 (năm Quý mùi). Ông Đài đã phôtô
nguyên bản cuốn "Đào môn gia phả diễn lục" đó gửi đến các ông con trai cháu trai
nội của cụ Thư.
Nay thể theo nguyện vọng của mọi thành viên trong đại gia đình chi họ cụ Thư
nhà ta cần có một cuốn gia phả hoàn chỉnh viết đến tận đời nay để con cháu sau này biết
được nguồn gốc dòng họ, tổ tiên hệ thống chi họ nmình, biết được công lao
thành tích của các đời tích lũy nên và được phát triển tới ngày nay, biết được chính xác
những ngày giỗ, những phần mcủa tổ tiên ông cha, cuốn gia phả này được soạn thảo
dựa vào cuốn "Đào môn gia phả diễn lục" của cụ Thư trước, có sắp xếp lại hệ thống các
đời từ cụ cao cao tổ Đào Phúc làm đời thứ nhất, đồng thời soạn thảo tiếp từ đời
thứ 5 đến nay - trong đó ghi chép được rõ ràng về tiểu sử các thành viên của từng thế hệ
- thành một cuốn gia phả thống nhất vẫn lấy tên là "Đào môn gia phả".
Tuy đã cố gắng u tầm tham khảo, do hoàn cảnh cụ thể của chi họ ta, khi viết
soạn thảo này vẫn chưa thu thập được đầy đnhững skiện lịch sử cụ thể phong
phú, đồng thời các số, dữ liệu ghi chép chỉ biết được trong phạm vi nhất định vthời
gian khoảng trên dưới một trămm trở lại đây, và về chi họ của cụ Thư là chủ yếu còn
các chi nhánh liên quan, ngành trê, ngành dưới, thì hiểu biết được rất ít. Song cũng
thống được 9 đời hậu duệ tính từ đời cụ cao cao tổ Đào Phúc đến nay, biết được
tên tuổi và sự nghiệp của ông cha ta đã vượt bao khó khăn vất vả, bền bỉ phấn đấu cho
cuộc sống và ssinh tồn, phát triển từ những sở nghèo nàn lạc hậu để rồi cho chúng
ta ngày nay được thừa hưởng những kinh nghiệm quý báu, những truyền thống tốt đẹp,
tiếng thơm được lưu truyền mãi về sau. Hy vọng các thế hệ sau sẽ viết tiếp cuốn gia phả
này bằng những trang sử vẻ vang của gia đình từng thành viên để chi họ Đào của cụ
Thư mãi mãi trường tồn và vinh quang muôn thuở.
Phần một
Mảnh đất quê ơng
Thủy tổ họ Đào
I. Mảnh đất quê ơng
1. Vị trí địa lý
Gia đình chi họ Đào chúng ta nếu chỉ nh riêng từ đời cụ Thư đến nay đã được
năm đời rồi. Bây giờ thế hệ các cháu nội của cụ một phần lớn các cháu ngoại, đã làm
ăn sinh sống i khác, không cùng quê hương bản quán nữa. Song m hiểu lại mảnh
đất quê hương thiêng liêng các bậc tổ tiên họ ta đã sinh lập nghiệp cũng như v
dòng hĐào chúng ta cội nguồn từ đâu, biết được đến đâu, chẳng phải ý nghĩa
biết ơn tổ tiên để phát huy truyền thống tốt đẹp của ng họ gia đình chúng ta
đang được thừa kế đó sao?
Tên Vân Nam hiện nay quê hương gốc của họ Đào chúng ta chính xã Vân
Cốc xưa kia nằm trên bờ phải sông Hồng cách Nội khoảng 30km cách thị Sơn
Tây 12km. Tên Vân Cốc từ lâu đời lắm. Địa danh Vân Cốc hiện nay không còn trên
bản đồ địa bạ hành chính nhưng vẫn còn lưu truyền trong ký ức dân gian để gọi theo
thói quen truyền lại những địa danh cũ quê ta từ bao đời nay như làng Cốc, chợ Cốc,
bến Cốc, trường Cốc, chùa Cốc, Đình Cốc v.v... Ngược dòng lịch sử nghiên cứu, qua
tham khảo thần phả của Đình Vân Cốc cũ, tham khảo cuốn lịch sử truyền thống đấu
tranh cách mạng của Đảng bộ nhân dân Vân Cốc thời kỳ kháng chiến chống Pháp
1945 - 1954, cũng như theo ý kiến truyền lời từ đời các cụ ở quê ta để lại thì Vân Cốc ta
lịch sử từ khoảng đầu công nguyên hoặc trước công nguyên một ít. Hồi xa xưa ấy
vùng ven sông Hồng bãi bồi phù xa mênh ng lau sậy um m, không dân cư. Sau
12 gia đình từ vùng Nga Sơn, Thanh Hóa chuyển tới đầm Dưng (nay thuộc huyện
Yên Lạc, Vĩnh Yên) làm nơi trú sinh sống khai thác trồng trọt làm ăn. Đó chính
ời hai dòng họ đầu tiên của gồm hĐặng, Đào, Bùi, Doãn, Hoàng, Đoàn, Phùng,
Trần, Vũ, Đỗ, Cao, Nguyễn. Cuộc sống sinh sôi dân số ngày một đông lập thành
phường Vân Thủy thuộc Tổng Nhật chiêu, huyện Bạch Hạc, Phủ Vĩnh, Tường Trân,
Sơn Tây. Lâu dần phường Vân Thủy phát triển thành hai nơi gọi là Vân Thủy thượng và
Vân Thủy hạ sau lại đổi n Cốc. Do ảnh hưởng của dòng chảy sông Hồng
hàng m mùa nước m lở đất hai ven bđồng thời hình thành bãi nổi mới giữa
sông mỗi năm một ít (lở bên này, bồi bên kia). Đến năm tự Đức thứ 3 (năm Mậu dần
1878) đất Vân Cốc bị lở nhiều, nhân dân Vân Cốc chuyển dần sang phiến bãi tân bồi bờ
Nam sông Hồng (hữu ngạn) khai phá làm ăn, mới đầu đặt tên Vân Cốc thượng, rồi
thêm Vân Cốc hạ thành tổng Vân Cốc. Đến năm Thành Thái thứ 12 (Canh tý 1900) Vân
Cốc chia m 8 Vĩnh Phúc, Vĩnh Thọ, nh Lộc, Vĩnh Thuận, Vĩnh Khang, Vĩnh
Ninh, Tràng Lan, Hưu Chưng.
Đến năm Thành Thái thứ 19 (1907), chính quyền Pháp tách Tràng Lan phía
tả ngạn sông Hồng thuộc tổng Lưỡng quán (nay là xã Hồng Châu) huyện Yên Lạc, Vĩnh
Phúc, đồng thời tách Hưu Chưng vbờ Nam sông Hát, thuộc tổng Thọ Lão, huyện
Đan Phượng, tỉnh Đông (nay Trung Châu). Còn lại 6 Vĩnh Phúc, Vĩnh Thọ,
Vĩnh Khang, Vĩnh Thuận, Vĩnh Lộc, Vĩnh Ninh, thành tổng Vĩnh Phúc thuộc huyện
Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây.
Năm 1945 Cách mạng tháng Tám thành công chính quyền về tay nhân dân ta,
tổng Vĩnh Phúc đổi tên thành xã Vân Cốc như xưa.
Đến năm 1955, sau cải cách ruộng đất, Vân Cốc lại được chia thành 3 tên
mới như hiện nay: Vân Nam gồm thôn Vĩnh Khang, thôn Vĩnh Thuận thôn Vĩnh
Lộc.
Xã Vân Phúc gồm: thôn Vĩnh Thọ, thôn Vĩnh Phúc.
Vân gồm: thôn nh Ninh 1 m mới gọi Việt Tân gồm các ngư
dân vạn Hát lên định cư làm ruộng, và một số hộ dân ở bãi nổi giữa sông.
Qua những đổi thay như trên chúng ta thêm hiểu được Hồng Châu huyện
Yên Lạc bây giờ, cũng như Trung Châu thuộc huyện Đan Phượng, bây giờ
trước đây anh em con họ hàng cùng dòng họ với chúng ta bên Vân Nam
thuộc Sơn Tây nthế. Tuy 8 thuộc 3 tỉnh, nhưng vẫn cùng 12 chi họ cùng
một giọng nói giống nhau và nhiều tập quán cũ giống nhau.