Nhà Lý chiến thắng liên minh Tống - Chiêm - Chân Lạp
2
Đại Việt sử ký toàn thư chép những năm Chân Lạp có cử sứ giả sang Đại Việt để
bang giao: 1012, 1014, 1020, 1025, 1026, 1039, 1056, 1077, 1089, 1120, 1123.
Thời kỳ này, chmột lần ngoại giao giữa Đại Việt và đế quốc Chân Lạp có xấu đi
khi đế quốc Chân Lạp liên minh với Tống trong cuộc xâm lược năm 1076, trên
danh nghĩa chứ không thực sự tham chiến. Sau khi Harshavarman III tử nạn, do
Harivarman IV của Champa gây ra, khi vua này thân chinh đánh phá Angko vào
1080. Sau cái chết của Harshavarman III là thời kỳ trị vì của Jayavarman VI (1080
- 1107 ) và Dharanindravarman I (1107 – 1113), nói chung hai ông vua này không
có gì nổi bật.
Năm 113, người cháu trai của Dharanindravarman I làm cuộc đảo chánh dân sự,
giết vua Dharanindravarman I để cướp ngôi và trở thành vị vua kiệt xuất
Suryavarman II của đế quốc Chân Lạp. Và kể từ khi ông vua đầy tham vọng và
hiếu chiến này lên ngôi, tình hình Đông Nam Á đầy bất ổn, luôn xảy ra xây dựng
lớn mà tàn phá cũng lớn. Giữa Đại Việt và đế quốc Chân Lạp không còn hòa hiếu
như xưa, vì tham vọng quá lớn của Suryavarman II.
Suyrayavarman II tiếp tục mưu đồ xâm chiếm
Dưới triều đại của Suryavarman II, ở kinh đô Angko, ngôi đền lớn nhất Awngko
Wat được xây dựng trong khoảng thời gian 37 năm. Angko Wat là nơi thờ thần
Vishnu. Vương quốc Haripunjaya của dân tộc Môn (nay là miền Trung Thái Lan)
bị Suryavarman II thôn tính. Một khu vực xa hơn về phía tây của vương quốc
Pagan (nay là Myanmar) cũng bị Suryavarman II xâm chiếm và nhập vào đồ bản
của đế quốc Chân Lạp.
Sơ đồ đường rút lui khỏi Chiêm Thành xâm lấn Đại Việt của đoàn quân do
Suyrayavarman II chhuy năm 1150
Phía nam, Suryavarman II cũng lấn đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si
Tham marat của Thái Lan) thuộc khu vực bán đảo Malay. Về phía đông, nhiều
vùng của Chiêm cũng bị sáp nhập vào đế quốc Chân Lạp. Về phía bắc, các vùng
đất song song với Đại Việt, đến biên giới phía bắc của Lào ngày nay cũng bị
Suryavarman II thôn tính. Như thế thời Suryavarman II đế quốc Chân Lạp có lãnh
thổ với diện tích gấp 10 diện tích lãnh thổ Đại Việt.
Vào năm 1080, sau khi hòa hoãn với Đại Việt, vua Harivarman IV của Champa đã
xua quân đánh đế quốc Chân Lạp, chiếm Sambor (bắc Phnom Penh và đông hồ
Tonle Sap), giết vua Harshavarman III, tàn phá kinh thành Somesvara (Angkor),
bắt nhiều người Chân Lạp làm tù binh. Năm 1145, vua Suryavarman II của Chân
Lạp phục thù, đánh Champa chiếm Đồ Bàn, tàn phá khu thánh địa Mỹ Sơn. Mãi
đến năm 1149 vua Chiêm mới đuổi được quân xâm lược.
Năm 1128, Suryavarman II hòa hoãn với Harivarman V của Champa để dồn sức
tấn công Đại Việt. Sau khi vua Lý Nhân Tông băng hà ngày 4 tháng chạp m
Đinh Mùi [1127] tại điện Vĩnh Quang, ngày 8 tháng chạp linh cửu quàng ở điện
Hồ Thiên, Hoàng thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi trước linh cửu, chưa kịp táng
tiên đế, chưa đầy hai tháng quốc tang thì Suryavarman II đã cử quân tướng 2 vạn
sang xâm lược Đại Việt từ ngày 29 tháng giêng Mậu Thân [1128].
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mậu Thân, Thiên Thuận năm thứ 1[1128]. Mùa
xuân, tháng giêng…Ngày Giáp Dần, hơn hai vạn người Chân Lạp vào cướp bến
Ba Đầu châu Nghệ An. Xuống chiếu cho Nhập nội thái phó Lý Công Bình đem
các quan chức đô cùng người châu Nghệ An đi đánh.”. Quân Chân Lạp hơn hai
vạn, của một đế quốc với lãnh thrộng gấp mười Đại Việt, với sự lãnh đạo của
một hoàng đế kiệt hiệt như Suryavarman II, đã từng thôn tính nhiều vương quốc,
thì đây là một cuộc xâm lược đích thực, không dừng lại ở mức cướp bóc!
Triều Lý đập tan tham vọng của hoàng đế Chân Lạp
Suryavarman II cứ đánh là thua
Vua Lý Nhân Tông đã tiên liệu khi để lại di chiếu, có đoạn dặn dò: “…Mà thái t
Dương Hoán tuổi đã tròn một kỷ [12 tuổi], có nhiều đại độ, thông minh thành thật,
trung nghiêm kính cẩn, có thể theo phép cũ của trẫm mà lên ngôi hoàng đế. Nay
kẻ ấu thơ chịu mệnh trời, nối thân ta truyền nghiệp của ta, làm cho rộng lớn thêm
công nghiệp đời trước. Nhưng cũng phải nhờ quan dân các ngươi một lòng giúp
rập mới được.
Này Bá Ngọc, ngươi có khí lượng của người già cả, nên sửa sang giáo mác, để
phòng việc không ngờ, chớ làm sai mệnh, trẫm dù nhắm mắt cũng không di hận.
Việc tang thì chỉ 3 ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc; việc chôn thì nên theo
Hán Văn Đế, cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên để ta hầu bên cạnh
tiên đế…”(sdd, tr 296). “Việc không ngờ” đâu chỉ “biến động giành ngôi của các
thân vương” mà còn nạn ngoại xâm của các lân bang nữa. Ngày Quí Hợi tháng
hai, tướng Lý Công Bình đã đánh bại quân xâm lược Chân Lạp ở bến Ba Đầu, bắt
được chủ tướng và quân lính. Ngày Đinh Mão, tháng 2, khi các quan dâng biểu
mừng vua lên ngôi thì cũng là ngày nhận thư báo thắng trận của Lý Công Bình gửi
về kinh sư. Tháng 3, Lý Công Bình đem binh về kinh sư, dâng tù 169 người.
Bị thua đau vào cuối tháng giêng, chỉ hơn nửa năm, vào tháng 8, hoàng đế
Suryavarman II lại lệnh cho một đạo quân lớn gồm 700 thuyền chiến lại đánh phá
ở hương Đỗ Gia thuộc châu Nghệ An (nay thuộc Hà Tĩnh). Hoàng đế Lý Thần
Tông xuống chiếu sai tướng Nguyễn Hà Viêm Thanh Hóa, tướng Dương Ổ ở
châu NghAn đem quân đánh và phá được giặc. Suryavarman II lại gửi hoàng đế
Lý Thần Tông một phong quốc thư, yêu cầu Đại Việt cử sứ giả sang Chân Lạp.
Vua Đại Việt không thèm trlời.