
NHẬN DIỆN KHÁNG NGUYÊN
(Kỳ 3)
Thụ thể của tế bào T dành cho kháng nguyên
Thụ thể của tế bào T dành cho kháng nguyên mà các phân tử MHC trình
diện có cấu trúc dị dimer (heterodimer) tức là cấu trúc gồm hai chuỗi khác nhau.
Các chuỗi đó có ký hiệu là chuỗi alpha (a) và chuỗi beta (b). Trên mỗi chuỗi này
lại có một vùng biến đổi (ký hiệu là vùng V) và một vùng hằng định (ký hiệu là
vùng C) (Hình 9.5). Các vùng V và C của thụ thể của tế bào T dành cho kháng
nguyên có cấu trúc tương tự như các vùng V và C của phân tử kháng thể. Trên
vùng V của mỗi chuỗi (a hoặc b) có ba vùng siêu biến hay còn gọi là vùng quyết
định bổ cứu (cũng được ký hiệu từ CDR1 đến CDR3) trong đó vùng CDR3 là
vùng có cấu trúc biến đổi nhiều nhất và cũng là vùng trực tiếp tham gia vào tương
tác với kháng nguyên. Cả hai chuỗi a và b của thụ thể của tế bào T dành cho kháng
nguyên đều cắm vào màng tế bào. Thụ thể của tế bào T dành cho kháng nguyên
chỉ có trên bề mặt các tế bào chứ không tồn tại dưới dạng chế tiết như kháng thể.
Ngoài ra thụ thể của tế bào T dành cho kháng nguyên không trải qua các quá trình
chuyển lớp hay thuần thục ái lực như kháng thể trong suốt cuộc đời của mỗi tế bào
lympho T.

Hình 9.5: Cấu trúc của thụ thể của tế bào T dành cho kháng nguyên
Cả chuỗi a và b đều đồng thời tham gia vào nhận diện các phân tử MHC và
các peptide mà chúng trình diện (Hình 9.6). Một đặc điểm nổi bật được nhận ra
khi nghiên cứu cấu trúc tinh thể đồ quang tuyến hình ảnh thụ thể của tế bào T dành
cho kháng nguyên gắn vào phức hợp peptide-phân tử MHC cho thấy thụ thể của tế
bào T dành cho kháng nguyên chỉ nhận diện rất ít chỉ từ một đến ba gốc acide
amine trên phân tử peptide mà thôi. Người ta cũng thấy rằng ngay cả trên các vi
sinh vật có cấu trúc phức tạp thì cũng chỉ có vài đoạn peptide là thực sự được hệ
thống miễn dịch nhận diện và các đoạn peptide này được gọi là các quyết định
kháng nguyên trội. Điều đó có nghĩa là các tế bào lympho T nhận biết sự khác

nhau giữa các vi sinh vật chỉ dựa vào những khác biệt ở một vài acide amine tham
gia tạo nên các quyết định kháng nguyên trội mà thôi. Thật ngạc nhiên là tính đặc
hiệu cao như vậy của các tế bào lympho T lại chỉ được duy trì dựa trên những
khác biệt nho nhỏ như vậy giữa các peptide kháng nguyên.
Hình 9.6: Thụ thể của tế bào T dành cho kháng nguyên
nhận diện phức hợp peptide-phân tử MHC

Khoảng từ 5 đến 10% tổng số tế bào lympho T trong cơ thể lại có các thụ
thể dành cho kháng nguyên không có cấu trúc từ hai chuỗi a và b mà thay vào đó
là các chuỗi g và d có cấu trúc tương tự với chúng.
Các tế bào này có tính đặc hiệu khác hẳn với các tế bào lympho T thông
thường. Các tế bào lympho T có thụ thể cấu trúc từ các chuỗi g và d có thể nhận
diện một số kháng nguyên khác nhau có bản chất là protein hoặc không phải
protein và các kháng nguyên này thường không được trình diện bởi các phân tử
MHC.
Các tế bào này chủ yếu có mặt ở các biểu mô. Điều này cho thấy các tế bào
lympho T có thụ thể cấu trúc từ các chuỗi g và d nhận diện các vi sinh vật thường
gặp ở các bề mặt niêm mạc.
Tuy nhiên người ta còn chưa hiểu hết về tính đặc hiệu cũng như chức năng
của các tế bào này. Một tiểu quần thể tế bào lympho khác chiếm khoảng dưới 5%
tổng số tế bào lympho lại có các dấu ấn của các tế bào giết tự nhiên (tế bào NK)
nên được gọi là các tế bào T giết tự nhiên (NK-T cell).
Các tế bào T giết tự nhiên thì có thụ thể của tế bào T dành cho kháng
nguyên cấu trúc từ các chuỗi a và b nhưng chúng có khả năng nhận diện các kháng
nguyên có bản chất là glycolipid hoặc không phải là các peptide.

Các phân tử này được trình diện bởi các phân tử giống như phân tử MHC
và không đa kiểu hình (nonpolymorphic MHC-like molecules). Người ta cũng
chưa hiểu hết về chức năng của các tế bào T giết tự nhiên.

