Nhân giống cây cát tường (Eustoma Grandiflorum L.) qua hai con đường phát sinh phôi sinh dưỡng và phát sinh cơ quan

Chia sẻ: Bautroibinhyen17 Bautroibinhyen17 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
32
lượt xem
11
download

Nhân giống cây cát tường (Eustoma Grandiflorum L.) qua hai con đường phát sinh phôi sinh dưỡng và phát sinh cơ quan

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của bài báo này là nghiên cứu sự phát sinh hình thái của mẫu lá, lóng thân và đầu rễ từ các chồi cây nuôi cấy in vitro của cây Cát tường, khảo sát sự hình thành và nhân lên của mô sẹo, sự phát sinh và phát triển của phôi sinh dưỡng với tần số cao từ mô sẹo nuôi cấy từ lá của cây Cát tường để chọn ra phương thức nhân giống thích hợp cho loài cây có giá trị này. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhân giống cây cát tường (Eustoma Grandiflorum L.) qua hai con đường phát sinh phôi sinh dưỡng và phát sinh cơ quan

Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology<br /> <br /> NHÂN GIỐNG CÂY CÁT TƯỜNG (EUSTOMA GRANDIFLORUM L.) QUA HAI<br /> CON ĐƯỜNG PHÁT SINH PHÔI SINH DƯỠNG VÀ PHÁT SINH CƠ QUAN<br /> Trần Thị Ngọc Lan<br /> Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Lâm Đồng<br /> Thông tin chung:<br /> Ngày nhận bài: 18/06/2015<br /> Ngày nhận kết quả bình duyệt:<br /> 25/08/2015<br /> Ngày chấp nhận đăng: 09/2016<br /> Title:<br /> The micropropagation of<br /> Lisianthus (Eustoma<br /> grandiflorum L.) through the<br /> way of organogenesis and<br /> embryogenesis<br /> Từ khóa:<br /> Chồi, Eustoma grandiflorum L.,<br /> mô sẹo, phôi sinh dưỡng<br /> Keywords:<br /> Callus, Eustoma grandiflorum<br /> L., shoot, somatic embryo<br /> <br /> ABSTRACT<br /> Lisianthus (Eustoma grandiflorum L.) is an ornamental plant with beautiful<br /> flowers. Due to low germination of its seeds, usual techniques for its<br /> propagation are not efficient. This present study was aimed to investigate the<br /> morphogenesis of different explants for useful micropropagation of Lisianthus.<br /> The results showed that calli were formed and developed by culturing in vitro<br /> leaf explants derived shoots on MS medium supplemented with 2 mg/l α-NAA or<br /> 0.5 mg/l 2,4-D with the rate of 100%. The green, spongy calli were able to have<br /> shoot formation (82.50%), and the yellow, friable calli formed plantlets derived<br /> from somatic embryos (84.17%) in MS medium containing 0.5 mg/l BA. Results<br /> show rootlet formation in 0.5 mg/l α-NAA using MS medium for these shoots.<br /> All of plantlets were survived and adapted after 4 weeks of acclimatization in<br /> the ex vitro condittion. No abnormal morphological changes were found in<br /> Lisianthus plantlets with using propagation methods via organogenesis and<br /> embryogenesis.<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Cát tường (Eustoma grandiflorum L.) là loài cây trang hoàng, cho hoa bền,<br /> đẹp. Do tỷ lệ nảy mầm của hạt thấp, những kỹ thuật nhân giống thông thường<br /> không đạt hiệu quả. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát sự<br /> phát sinh hình thái của mẫu cấy nhằm mục đích nhân nhanh và đồng loạt giống<br /> cây Cát tường. Qua nghiên cứu cho thấy, nuôi cấy mẫu lá in vitro có nguồn gốc<br /> từ chồi trên môi trường MS bổ sung 2 mg/l α-naphtaleneacetic acid (α-NAA)<br /> hoặc 0,5 mg/l 2,4-Dichlorophenoxyacetic acid (2,4-D) cho tỷ lệ hình thành mô<br /> sẹo đạt 100%. Loại mô sẹo đặc vàng, dạng hạt phát sinh phôi sinh dưỡng, tạo<br /> thành cây con (tỷ lệ đạt 84,17%) và loại mô sẹo xốp, xanh hình thành chồi (tỷ lệ<br /> đạt 82,50%) trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l 6-Benzylaminopurine (BA).<br /> Các chồi hình thành cây con khi nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l<br /> α-NAA. Tất cả các cây con có nguồn gốc từ hai loại mô sẹo này đều thích nghi<br /> tốt trong điều kiện ex vitro. Không ghi nhận những thay đổi về hình thái bất<br /> thường nào từ những cây hình thành từ hai con đường phát sinh cơ quan và<br /> phát sinh phôi.<br /> <br /> tím, trắng có viền hay không. Đây là một trong 10<br /> loại cây cắt cành có độ bền hoa hàng đầu trên thế<br /> giới (Rezaee và cs., 2012). Cây có khả năng<br /> <br /> 1. GIỚI THIỆU<br /> Cây Cát tường cho hoa đẹp, thanh nhã với nhiều<br /> màu sắc khác nhau như: xanh lá mạ, hồng, vàng,<br /> 110<br /> <br /> Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology<br /> <br /> kháng bệnh, chịu được acid và có khả năng đáp<br /> ứng với stress nhiệt độ cao. Tuy nhiên, hạt có kích<br /> thước rất nhỏ (19000 hạt/g), hạt rất khó gieo. Cây<br /> gieo từ hạt có kiểu hình không ổn định và có tỷ lệ<br /> nảy mầm không cao (dễ bị thất thoát hạt). Các<br /> công trình nghiên cứu trước đây, nhân giống in<br /> vitro thường vào mẫu bằng nuôi cấy hạt trong<br /> điều kiện in vitro (Lutoslawa và cs., 1988) hay<br /> nuôi cấy chồi, nhân chồi và cắt đoạn chồi.<br /> Semeniuk và Griesbach (1987) nhân giống Cát<br /> tường thông qua việc nuôi cấy chồi nách, lá và<br /> huyền phù tế bào. Furukawa (1993) nghiên cứu vi<br /> nhân giống tái sinh cây Cát tường từ những đoạn<br /> lá trên môi trường LS (Linsmaier & Skoog, 1965)<br /> bổ sung 1 mg/l BA cho kết quả tái sinh chồi từ lá.<br /> Sự phát sinh phôi sinh dưỡng từ nuôi cấy huyền<br /> phù mô sẹo hình thành từ các mảnh lá Lissianthus<br /> russelianus Hook. hay từ các mảnh lá có nguồn<br /> gốc từ nuôi cấy in vitro cũng được nghiên cứu<br /> (Nhut và cs., 2006; Ruffoni và cs., 1990). Rezaee<br /> và cs. (2012) đã nghiên cứu sự hình thành phôi<br /> sinh dưỡng từ các mẫu lá của Eustoma<br /> grandiflorum L. trên môi trường LS và B5 hay<br /> gần đây Hassan và cs. (2014) đã thành công trong<br /> <br /> việc tạo mô sẹo từ lá cây Cát tường và phát sinh<br /> chồi từ mô sẹo này. Tuy nhiên, các nghiên cứu<br /> trên chưa làm rõ sự phát sinh hình thái từ các mẫu<br /> cấy.<br /> Mục tiêu của bài báo này là nghiên cứu sự phát<br /> sinh hình thái của mẫu lá, lóng thân và đầu rễ từ<br /> các chồi cây nuôi cấy in vitro của cây Cát tường,<br /> khảo sát sự hình thành và nhân lên của mô sẹo, sự<br /> phát sinh và phát triển của phôi sinh dưỡng với<br /> tần số cao từ mô sẹo nuôi cấy từ lá của cây Cát<br /> tường để chọn ra phương thức nhân giống thích<br /> hợp cho loài cây có giá trị này.<br /> 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN<br /> CỨU<br /> 2.1 Vật liệu<br /> Cây Cát tường cho hoa kép, đẹp, màu vàng nhóm<br /> Mariachi (Eustoma grandiflorum Mariachi<br /> Yellow imp.) có chiều dài 60 -70 cm, 7 tháng tuổi<br /> có nguồn gốc từ vườn cây của nông dân, ấp Vạn<br /> Thành, Đà Lạt. Cây có độ bền của hoa từ 13 – 27<br /> ngày. Cây với các chồi ngọn và chồi nách được<br /> chọn làm vật liệu để thu lấy chồi (Hình 1).<br /> <br /> Hình 1. Thân cây Cát tường (Eustoma grandiflorum Mariachi Yellow imp.)<br /> mang các chồi ngọn và chồi nách (mũi tên).<br /> <br /> Môi trường nuôi cấy in vitro<br /> <br /> dịch nước rửa chén Sunlight, rửa lại nhiều lần<br /> bằng vòi nước 15 phút, rửa bằng nước đã hấp vô<br /> trùng (HVT), khử trùng bằng cồn ethylic 75%<br /> (v/v) trong 30 giây, rửa nước HVT 3 lần, ngâm<br /> trong dung dịch HgCl2 0,1% 6 phút, rửa lại 5 lần<br /> bằng nước HVT. Sau đó, tách các ngọn chồi và<br /> chồi nách, tách bỏ các lá bao, cho đến khi lộ ra<br /> đoạn chồi mang hai đến ba lá/chồi, rửa sạch bằng<br /> nước cất HVT và cấy vào môi trường MS bổ sung<br /> 30 g/l sucrose và 8 g/l agar với 5 chồi/bình. Các<br /> chồi này được nuôi trong 2 tuần để thu lấy cây<br /> con làm nguyên liệu cho việc cảm ứng tạo mô<br /> sẹo.<br /> <br /> Sử dụng môi trường MS (Murashige & Skoog,<br /> 1962). Tùy thuộc từng thí nghiệm sẽ bổ sung hay<br /> không bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng thực<br /> vật (CĐHSTTV) khác nhau (α-NAA, BA, 2,4-D).<br /> Môi trường nuôi cấy có pH = 5,7. Các môi trường<br /> nuôi cấy được cho vào các bình thủy tinh (thể tích<br /> bình: 250 ml với 40 ml môi trường nuôi cấy/bình)<br /> và được hấp khử trùng trong 20 phút ở 121 οC, 1<br /> atm.<br /> 2.2 Phương pháp<br /> 2.2.1 Vào mẫu, nuôi cấy chồi ex vitro<br /> Các đoạn mẫu có chiều dài 8 cm -10 cm được rửa<br /> sạch dưới vòi nước đang chảy, rửa lại bằng dung<br /> 111<br /> <br /> Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology<br /> <br /> 2.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của các CĐHSTTV<br /> lên sự phát sinh hình thái của mẫu lá cây<br /> Cát tường<br /> <br /> các nồng độ khác nhau (0; 0,5 và 1 mg/l) để khảo<br /> sát ảnh hưởng của BA lên sự phát sinh hình thái<br /> của mô sẹo cũng như sự hình thành và phát triển<br /> của chồi và phôi sinh dưỡng từ mô sẹo. Mỗi bình<br /> gồm 5 mẫu. Mỗi nghiệm thức gồm 8 bình. Xác<br /> định tỷ lệ hình thành mô sẹo, hình thành cây con,<br /> hình thành chồi, chiều dài chồi, chiều dài rễ và số<br /> rễ, số chồi từ mô sẹo sau 4 tuần nuôi cấy.<br /> <br /> Các lá từ cây con in vitro đã nuôi cấy ở thí<br /> nghiệm trên được cắt thành các mảnh có kích<br /> thước (0,6 x 0,6) cm, được nuôi cấy trên môi<br /> trường MS bổ sung α-NAA (0; 1; 1,5 và 2 mg/l)<br /> hoặc 2,4-D (0; 0,5 và 1 mg/l), 30 g/l sucrose và 8<br /> g/l agar. Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức nuôi cấy<br /> trong điều kiện có chiếu sáng và 6 nghiệm thức<br /> nuôi cấy trong điều kiện tối hoàn toàn. Mỗi<br /> nghiệm thức gồm 8 bình với mỗi bình gồm 5 mẫu.<br /> <br /> 2.2.6 Khảo sát sự hình thành rễ từ các chồi xuất<br /> phát từ mô sẹo và sự thích nghi của cây<br /> con trong điều kiện ex vitro của cây Cát<br /> tường<br /> <br /> Khảo sát sự phát sinh hình thái qua việc xác định<br /> tỷ lệ hình thành mô sẹo và tỷ lệ hình thành cấu<br /> trúc nhiều rễ, hình thái, màu sắc của những cấu<br /> trúc này trong điều kiện có chiếu sáng và điều<br /> kiện tối. Số liệu thu nhận sau 5 tuần nuôi cấy.<br /> <br /> Đối với các cây con hình thành từ mô sẹo phát<br /> sinh phôi:<br /> Cây con hình thành trong điều kiện in vitro, được<br /> chuyển sang trồng trong nhà kính với giá thể<br /> trồng là 2 phần đất và 1 phần trấu hun. Cây được<br /> trồng trong 4 tuần để khảo sát khả năng ra rễ và<br /> thích nghi của cây trong điều kiện ex vitro.<br /> <br /> 2.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của các loại mẫu lên<br /> sự hình thành mô sẹo của cây Cát tường<br /> Các lá từ đoạn chồi đã nuôi cấy ở thí nghiệm trên<br /> được cắt thành các mảnh có kích thước (0,6 x 0,6)<br /> cm, các lóng thân ngang (đường kính 1 mm, dày 4<br /> mm) hay các đoạn rễ (2 x 0,5) mm, được nuôi cấy<br /> trên môi trường MS bổ sung 2 mg/l α-NAA, 30<br /> g/l sucrose và 8 g/l agar. Thí nghiệm gồm 3<br /> nghiệm thức nuôi cấy trong điều kiện có chiếu<br /> sáng và 3 nghiệm thức nuôi cấy trong điều kiện<br /> tối hoàn toàn. Mỗi nghiệm thức gồm 8 bình với<br /> mỗi bình gồm 5 mẫu. Sau 5 tuần nuôi cấy, khảo<br /> sát tỷ lệ hình thành mô sẹo của những mẫu này<br /> trong điều kiện có chiếu sáng và điều kiện tối.<br /> <br /> Đối với các chồi hình thành từ mô sẹo phát sinh<br /> chồi:<br /> Các chồi được chuyển sang môi trường MS bổ<br /> sung 0,5 mg/l α-NAA để chồi hình thành và phát<br /> triển rễ sau 2 tuần nuôi cấy. Sau đó, các cây này<br /> cũng được chuyển ra trồng trong nhà kính, chăm<br /> sóc tương tự như cây từ mô sẹo phát sinh phôi.<br /> 2.2.7 Điều kiện nuôi cấy<br /> Nhiệt độ phòng nuôi là (25 ± 1) οC, cường độ ánh<br /> sáng: 2000 lux và độ ẩm không khí: 70%. Trong<br /> thí nghiệm khảo sát sự thích nghi của cây con<br /> trong điều kiện ex vitro thì sử dụng nhà kính có<br /> nhiệt độ dao động ngày đêm là (17 – 25 ± 1) οC,<br /> cường độ ánh sáng dao động từ (1000 – 7000) lux<br /> và độ ẩm không khí: 80%.<br /> <br /> 2.2.4 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy<br /> lên sự tăng sinh mô sẹo và cấu trúc nhiều<br /> rễ của cây Cát tường<br /> Hai loại mô sẹo (vàng, đặc và trắng xanh xốp) và<br /> cấu trúc nhiều rễ thu được ở các thí nghiệm trên<br /> được tiếp tục nuôi cấy trên môi trường tương tự<br /> với việc xác định khối lượng của mô sẹo và cấu<br /> trúc nhiều rễ ở ngày thứ 7, ngày thứ 14 và ngày<br /> thứ 21 để khảo sát sự phát triển của mô sẹo và cấu<br /> trúc nhiều rễ theo thời gian nuôi cấy. Mỗi bình<br /> gồm 5 mẫu. Mỗi nghiệm thức gồm 8 bình.<br /> <br /> 2.2.8 Quan sát mô học<br /> Làm các loại tiêu bản về mô sẹo với việc cắt lát<br /> theo chiều ngang mẫu cần quan sát, ngâm trong<br /> dung dịch javel 10% trong 15 phút, rửa nước,<br /> ngâm trong dung dịch acid acetic 45% trong 15<br /> phút, rửa nước, nhuộm màu bằng thuốc nhuộm<br /> hai màu đỏ carmin và xanh iod trong 15 phút, rửa<br /> nước và quan sát trên kính hiển vi quang học<br /> Olympus, Nhật với độ phóng đại 40 - 400 lần.<br /> Xác định kích thước mẫu bằng trắc vi thị kính.<br /> <br /> 2.2.5 Khảo sát sự hình thành chồi và cây con từ<br /> mô sẹo của cây Cát tường<br /> Hai loại mô sẹo (vàng, đặc và trắng xanh xốp)<br /> được chuyển sang môi trường MS bổ sung BA ở<br /> <br /> 2.2.9 Chỉ tiêu theo dõi<br /> 112<br /> <br /> Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology<br /> <br /> Quan sát màu sắc, hình dạng, tỷ lệ hình thành mô<br /> sẹo. Xác định khối lượng của mô sẹo và cấu trúc<br /> nhiều rễ bằng cân phân tích Sartorius. Xác định số<br /> chồi trung bình trên cụm mô sẹo có khối lượng 1<br /> g, số rễ hình thành trung bình/cây con. Đo chiều<br /> dài chồi và chiều dài rễ của cây bằng thước cặp đo<br /> Insize 2002S. Tỷ lệ phát sinh chồi: số mẫu phát<br /> sinh chồi x 100 trên tổng số mẫu nuôi cấy. Tỷ lệ<br /> hình thành cây con: số mẫu hình thành cây con<br /> với chồi và rễ x 100 trên tổng số mẫu nuôi cấy.<br /> <br /> 3.2 Ảnh hưởng của CĐHSTTV lên sự phát<br /> sinh hình thái từ lá in vitro<br /> Các mẫu cấy trong điều kiện có chiếu sáng hình<br /> thành mô sẹo nhanh hơn so với mẫu trong điều<br /> kiện tối (27 đến 30 ngày so với 32 đến 35 ngày).<br /> Mô sẹo trong điều kiện có chiếu sáng có màu<br /> vàng xanh, dạng hạt hay xốp trong khi mô sẹo<br /> trong điều kiện tối cho màu trắng vàng, dạng đặc<br /> hay xốp. Khối lượng mô sẹo trong điều kiện có<br /> chiếu sáng cũng cao hơn điều kiện tối. Có lẽ,<br /> trong điều kiện có chiếu sáng, sự hấp thu chất<br /> dinh dưỡng của mẫu cấy sẽ cao hơn. Kết quả này<br /> cũng phù hợp với kết quả của Hassan và cs.<br /> (2014). Ở các nghiệm thức xử lý từ 2,4-D, mẫu<br /> cảm ứng đạt cao nhất ở nồng độ 0,5 mg/l 2,4-D<br /> nhưng tỷ lệ tạo mô sẹo giảm đi khi mẫu được nuôi<br /> cấy ở nồng độ cao hơn (1 mg/l). Có lẽ, 2,4.D ở<br /> nồng độ cao sẽ ức chế sự cảm ứng và hình thành<br /> mô sẹo. 2,4-D làm gia tăng mức auxin của mẫu<br /> cấy, kích thích sự phân chia tế bào tạo mô sẹo.<br /> Tuy nhiên, nồng độ 2,4-D cao sẽ cảm ứng sinh<br /> tổng hợp ethylene. Sự tích lũy ethylene dù chỉ một<br /> lượng nhỏ trong bình nuôi cấy có thể ức chế sự<br /> sinh trưởng và phát triển của nhiều mẫu cấy thực<br /> vật (George và cs., 2008).<br /> <br /> 2.2.10 Phương pháp xử lý số liệu<br /> Các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và trong<br /> nhà kính được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3<br /> lần lặp lại. Các số liệu thu được là giá trị trung<br /> bình của 3 lần lặp lại. Số liệu được phân tích<br /> thống kê bằng phép thử Duncan (sự khác biệt có ý<br /> nghĩa ở mức xác suất P < 0,05) với phần mềm xử<br /> lý thống kê SPSS (Statistical Program Scientific<br /> System) 16.0.<br /> 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> 3.1 Hình thành cây con từ chồi ex vitro<br /> Sau 2 tuần nuôi cấy, các chồi lớn dần và hình<br /> thành cây con mang từ 2 - 4 lá/cây. Các lá này<br /> được dùng làm vật liệu cho thí nghiệm tạo mô<br /> sẹo.<br /> <br /> Bảng 1. Sự hình thành mô sẹo và cấu trúc nhiều rễ của cây Cát tường sau 5 tuần nuôi cấy dưới ảnh hưởng<br /> của các chất điều hòa sinh trưởng thực vật và các điều kiện nuôi cấy.<br /> <br /> CHẤT<br /> ĐHSTTV<br /> (mg/l)<br /> <br /> Điều kiện tối<br /> Mô sẹo<br /> Tỷ lệ<br /> hình<br /> thành<br /> (%)<br /> <br /> Điều kiện sáng<br /> <br /> Cấu trúc nhiều rễ<br /> Tỷ lệ<br /> hình<br /> thành<br /> (%)<br /> <br /> αNAA<br /> <br /> 2,4D<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0,00e*<br /> <br /> 1<br /> <br /> 0<br /> <br /> 57,50c<br /> <br /> Trắng,<br /> xốp<br /> <br /> 9,17b<br /> <br /> 0,00c<br /> <br /> Hình<br /> thái<br /> <br /> Hình<br /> thái<br /> <br /> Mô sẹo<br /> Tỷ lệ<br /> hình<br /> thành<br /> (%)<br /> <br /> Cấu trúc nhiều rễ<br /> Hình<br /> thái<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> hình<br /> thành<br /> (%)<br /> <br /> 0,00c<br /> <br /> 1,5<br /> <br /> 0<br /> <br /> 90,83b<br /> <br /> Trắng,<br /> vàng,<br /> hạt, đặc<br /> <br /> 2<br /> <br /> 0<br /> <br /> 100a<br /> <br /> Trắng,<br /> vàng,<br /> <br /> 0,00d<br /> <br /> 0,00c<br /> <br /> 60,00c<br /> <br /> Vàng<br /> trắng,<br /> xốp<br /> <br /> 91,67b<br /> <br /> Vàng,<br /> xanh,<br /> hạt, đặc<br /> <br /> 8,33b<br /> <br /> 100,00a<br /> <br /> Vàng,<br /> xanh,<br /> <br /> 0,00c<br /> <br /> Trắng<br /> rễ<br /> mảnh<br /> <br /> 113<br /> <br /> Hình<br /> thái<br /> <br /> 0,00c<br /> 0,00c<br /> Xanh,<br /> trắng,<br /> mảnh<br /> <br /> Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology<br /> <br /> CHẤT<br /> ĐHSTTV<br /> (mg/l)<br /> αNAA<br /> <br /> 2,4D<br /> <br /> Điều kiện tối<br /> Mô sẹo<br /> Tỷ lệ<br /> hình<br /> thành<br /> (%)<br /> <br /> Điều kiện sáng<br /> <br /> Cấu trúc nhiều rễ<br /> Hình<br /> thái<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> hình<br /> thành<br /> (%)<br /> <br /> Hình<br /> thái<br /> <br /> Mô sẹo<br /> Tỷ lệ<br /> hình<br /> thành<br /> (%)<br /> <br /> hạt, đặc<br /> 0<br /> <br /> 0,5<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> 100,00a<br /> <br /> Trắng<br /> vàng,<br /> hạt, đặc<br /> <br /> 50,00d<br /> <br /> Trắng,<br /> xốp<br /> <br /> Cấu trúc nhiều rễ<br /> Hình<br /> thái<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> hình<br /> thành<br /> (%)<br /> <br /> Hình<br /> thái<br /> <br /> hạt, đặc<br /> 100,00a<br /> <br /> 0,00c<br /> <br /> 47.50a<br /> <br /> Trắng,<br /> rễ to<br /> <br /> Vàng,<br /> xanh,<br /> hạt, đặc<br /> <br /> 55,83c<br /> <br /> Vàng<br /> xanh,<br /> xốp<br /> <br /> 0,00c<br /> <br /> 44,17a<br /> <br /> Xanh,<br /> trắng,<br /> rễ to<br /> <br /> Chú thích: *: Những chữ cái khác nhau (a, b, c,…) trong cùng một cột biểu diễn sự khác nhau có ý nghĩa với P

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản