HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN VĂN TRÁNG
NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN
VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2017
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN VĂN TRÁNG
NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN
VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐOÀN XUÂN THỦY
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Văn Tráng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN 9
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Những công trình nghiên cứu chủ yếu liên quan đến phạm vi
9 nghiên cứu của đề tài
26 1.2. Đánh giá khái quát về kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu tiếp
30
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 2.1. Khái quát chung về nhân lực hiện đại hóa hải quan trong hội
30 nhập quốc tế
2.2. Tiêu chí đánh giá và những nhân tố ảnh hưởng đến nhân lực đáp ứng
52 yêu cầu hiện đại hóa Hải quan
69 2.3. Kinh nghiệm về đảm bảo nhân lực để hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế và bài học rút ra cho Hải quan Việt Nam
78 Chương 3: THỰC TRẠNG NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 2011-2015
3.1. Tổng quan về hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trong hội nhập
78 quốc tế
3.2. Thực trạng về nhân lực trong quá trình hiện đại hóa Hải quan
86 Việt Nam giai đoạn 2011-2015
3.3. Đánh giá chung về nhân lực theo yêu cầu hiện đại hóa Hải quan
113 Việt Nam trong hội nhập quốc tế
127 Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN 2035
4.1. Phương hướng phát triển nhân lực để hiện đại hóa hải quan trong
hội nhập quốc tế 127
4.2. Các giải pháp phát triển nhân lực để hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trong hội nhập quốc tế đến năm 2025, tầm nhìn 2035
KẾT LUẬN
135 153
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
156
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
158
PHỤ LỤC
165
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Tổ chức các quốc gia Đông Nam Á
BTC : Bộ Tài chính
C/O : Xuất xứ hàng hóa
CBCC : Cán bộ, công chức
CBL : Chống buôn lậu
CCVC : Công chức viên chức
CNTT : Công nghệ Thông tin
CQHQ : Cơ quan Hải quan
CV/CVC : Chuyên viên/Chuyên viên chính
CVCC : Chuyên viên cao cấp
GATT : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
HS : Hệ thống hài hòa danh mục hàng hóa
HQ : Hải quan
ILO : Tổ chức lao động thế giới
KTSTQ : Kiểm tra sau Thông quan
KTV : Kiểm tra viên
KTVC : Kiểm tra viên chính
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TCHQ : Tổng cục Hải quan
TRIPS : Hiệp định Sở hữu trí tuệ
TTHQ : Thủ tục hải quan
WCO : Tổ chức HQ thế giới
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
XNK : Xuất nhập khẩu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Thống kê tổng số cán bộ, công chức trong 5 năm 89
Bảng 3.2: Thống kê theo độ tuổi trong 5 năm 89
Bảng 3.3: Thống kê ngạch công chức trong 5 năm 91
Bảng 3.4: Thống kê trình độ đào tạo trong 5 năm 92
Bảng 3.5: Thống kê trình độ tin học, ngoại ngữ trong 5 năm 96
Bảng 3.6: Thống kê số lượng công chức được đào tạo các chương
trình nghiệp vụ hải quan áp dụng từ 2011 - 2015 105
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Thực trạng cán bộ lãnh đạo các cấp 92
Biểu đồ 3.2: Thực trạng trình độ cán bộ, công chức về chuyên môn
nghiệp vụ theo văn bằng 93
Biểu đồ 3.3: Thực trạng trình độ cán bộ, công chức về lý luận chính
trị và quản lý nhà nước 94
Biểu đồ 3.4: Thực trạng trình độ cán bộ công chức về tin học 95
Biểu đồ 3.5: Thực trạng trình độ cán bộ công chức về ngoại ngữ 96
Biểu đồ 3.6: Thực trạng trình độ cán bộ công chức theo độ tuổi 101
Biểu đồ 3.7: Chi phí thường xuyên cho mỗi công chức giai đoạn
2011-2015 110
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức của Hải quan Việt Nam 100
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2007, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), là thành viên của cộng đồng kinh tế các nước Đông
Nam Á (AEC). Trong bối cảnh hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế thế giới, Việt
Nam cần phải nhanh chóng thúc đẩy cải cách, phát triển, hiện đại hoá cơ chế,
chính sách quản lý kinh tế nói chung và chính sách quản lý kinh tế đối ngoại,
chính sách thương mại, chính sách quản lý nhà nước về hải quan nói riêng để
thích ứng với tình hình mới nhằm vừa tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động thương
mại quốc tế vừa đảm bảo việc chấp hành và tuân thủ các quy định của pháp luật,
đảm bảo an ninh, chủ quyền và lợi ích kinh tế quốc gia.
Theo các văn bản pháp quy của Nhà nước, Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ
thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn
lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về
thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu theo quy định của Luật Hải quan và quy định khác của pháp luật có liên
quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối
với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Trải qua hơn 70 năm (từ ngày 10/09/1945), Hải quan Việt Nam đã
khẳng định được vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế đối ngoại của
đất nước. Với nhiệm vụ gác cửa biên giới về kinh tế của đất nước, thu hút các
“làn gió lành” và ngăn chặn những “làn gió độc” thổi vào nước ta, ngành Hải
quan đã góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất nhập
khẩu, đầu tư, du lịch, hội nhập với khu vực và thế giới, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước.
2
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến 2020, đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế, ngành Hải quan đã nhanh chóng hiện đại hoá, quản lý hải quan hiện
đại theo nguyên tắc tập trung thống nhất dựa trên nền tảng công nghệ thông
tin và áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro. Trong những năm qua, Chính phủ,
Bộ Tài chính đã chỉ đạo ngành Hải quan, đồng thời Tổng cục Hải quan
cũng đã nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức quốc tế trong
quá trình tổ chức thực hiện chương trình cải cách thủ tục hải quan. Thủ
tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Hải quan đến
năm 2020 (Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011); Bộ Tài chính ban
hành kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn
2011- 2015, định hướng đến 2020 (Quyết định số 1514/QĐ-BTC ngày
22/06/2011). Theo các quyết định nói trên, nội dung, mục tiêu cải cách
phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan Việt Nam bao hàm rất nhiều vấn
đề quan trọng, trong đó xác định công tác nhân lực Hải quan là cốt lõi.
Theo đó, tổ chức bộ máy ngành Hải quan được thiết kế, tổ chức lại đáp ứng
yêu cầu quản lý hải quan hiện đại dựa trên mô hình thủ tục hải quan điện tử,
hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, xử lý dữ liệu thông quan tập trung, áp
dụng toàn diện kỹ thuật quản lý rủi ro và sử dụng tối đa, có hiệu quả các trang
thiết bị, kỹ thuật hiện đại; bước đầu ứng dụng phương thức quản lý nhân lực
mới dựa trên mô tả chức danh công việc; xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ công chức Hải quan nắm vững đường lối của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước, có chuyên môn nghiệp vụ chuyên nghiệp, chuyên sâu từng
bước đáp ứng yêu cầu quản lý hải quan hiện đại.
Kể từ sau Quyết định 448/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và
Quyết định 1514/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, công tác nhân lực
mặc dù đã được nâng cao hơn về chất lượng nhưng vẫn chưa đạt tiêu chuẩn
theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới, chưa ngang bằng với
3
nhóm ASEAN-4 và nhiều nước phát triển khác. Bên cạnh đó, về mặt số
lượng nhân lực Hải quan, chưa có sự rà soát đánh giá xây dựng theo vị trí
việc làm, cơ cấu tổ chức chưa thay đổi để đáp ứng theo mô hình hải quan
điện tử, một cửa quốc gia, một cửa ASEAN và theo Nghị quyết số 39-
NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu
lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Với lý do trên, vấn đề “Nhân lực để hiện đại hóa Hải quan Việt
Nam trong hội nhập quốc tế” được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu
của luận án tiến sĩ, mong muốn có những đóng góp mới về mặt lý luận và
những kiến giải về thực tiễn xung quanh vấn đề nhân lực Hải quan trong
quá trình hội nhập, phát triển kinh tế đất nước theo hướng hiện đại đến năm
2025 tầm nhìn 2035.
2. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về nhân lực để hiện đại hóa hải
quan trong bối cảnh hội nhập quốc tế; phân tích và đánh giá thực trạng nhân lực
hải quan theo yêu cầu hiện đại hóa Hải quan Việt Nam; đề xuất phương hướng,
giải pháp nhằm phát triển nhân lực để đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa Hải quan
Việt Nam phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế của đất nước thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
Một là, hệ thống hóa có bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về
nhân lực hải quan trong bối cảnh mới, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan
trong hội nhập quốc tế.
Hai là, khảo cứu kinh nghiệm phát triển nhân lực để hiện đại hóa hải
quan tại một số nước trên thế giới có hoàn cảnh tương đồng điều kiện kinh tế
- xã hội với Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, rút ra bài học cho
nhân lực Hải quan Việt Nam.
4
Ba là, phân tích và đánh giá khách quan, khoa học về thực trạng nhân
lực Hải quan Việt Nam để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan hiện nay;
chỉ ra thành tựu đạt được, hạn chế; nguyên nhân và những vấn đề đưa ra cần
giải quyết trước yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Bốn là, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nhân lực để
đẩy mạnh hiện đại hóa Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
thời gian tới.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nhân lực ngành hải quan với tư
cách là lực lượng, chủ thể của quá trình hiện đại hóa hải quan, là nhân tố có
vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hiện đại hóa Hải quan Việt Nam.
2.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nhân lực Hải quan có phạm vi rộng, bao gồm công chức, viên chức và
các nhân viên hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP và hợp
đồng vụ việc. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu bộ phận nhân lực chủ chốt,
đặc thù là đội ngũ công chức Hải quan Việt Nam.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu
nhân lực với tính cách là nhân tố nội tại, cốt lõi có mặt đến thời điểm nghiên cứu
trong lực lượng hải quan mà không đề cập đến những cán bộ lão thành đã nghỉ hưu
hay cơ quan chỉ đạo trực tiếp là Bộ Tài chính và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà
nước. Phạm trù nhân lực được tiếp cận trong luận án là những thực thể nhân lực tồn
tại ở trạng thái hiện hữu và được đặt trong mối quan hệ với phạm trù nguồn nhân
lực - bộ phận nhân lực đang trong quá trình vận động, hình thành, phát triển để có
được trạng thái hiện hữu đó.
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc - nơi có các tổ
chức Hải quan, tại cả ba cấp là khối cơ quan Tổng cục Hải quan; Cục Hải
quan tỉnh, liên tỉnh thành phố; Chi cục Hải quan cửa khẩu và tương đương;
5
Xuất phát từ tính chất chuyên ngành của luận án, tác giả luận án chỉ
nghiên cứu những vấn đề của nhân lực hải quan gắn với quá trình hiện đại hóa
để hội nhập quốc tế trên lĩnh vực kinh tế.
Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng nhân lực Hải
quan Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 đến nay, số liệu phân tích theo kế
hoạch hiện đại hóa hải quan giai đoạn 2011-2015 nhằm đề xuất phương
hướng và giải pháp phát triển nhân lực Hải quan Việt Nam đến 2025 và tầm
nhìn đến năm 2035 phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế của đất nước.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
những vấn đề như vai trò của con người, nhân lực, lực lượng lao động xã hội đối
với đời sống kinh tế. Luận án bám sát chủ trương, chính sách có liên quan của
Đảng và Nhà nước ta về hải quan và nhân lực hải quan trong hội nhập quốc tế.
Đồng thời, kế thừa có bổ sung những kết quả nghiên cứu có liên quan trong các
công trình khoa học đã được công bố.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong luận án phương pháp trừu tượng
hóa khoa học - phương pháp đặc thù của khoa học kinh tế chính trị, được sử
dụng làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu; đồng thời sử dụng các phương
pháp của các khoa học liên ngành như: phân tích, tổng hợp, lôgic kết hợp với
lịch sử, thống kê, so sánh, khái quát hóa. Bên cạnh đó, luận án sử dụng kết
quả số liệu điều tra khảo sát của Tổng cục Hải quan năm 2015 mà NCS là
thành viên của nhóm khảo sát.
Chương 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích để đánh giá về
quan điểm của các học giả và trường phái lý luận về vấn đề nghiên cứu, trên
6
cơ sở đó sử dụng phương pháp tổng hợp, khái quát hóa rút ra những vấn đề đã
được nghiên cứu đầy đủ và các vấn đề cần luận án cần nghiên cứu bổ sung và
cần tiếp tục nghiên cứu là rõ..
Chương 2: Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích
tổng hợp và khái quát hóa để rút ra những khái niệm cơ bản như nhân lực,
nguồn nhân lực, nhân lực hải quan và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản
về đặc điểm, vai trò, nhân tố ảnh hưởng đến nhân lực hải quan trong hội nhập
quốc tế. Đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, đánh giá thực
tiễn đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực hải quan tại một số quốc gia để rút ra
bài học cho ngành Hải quan Việt Nam.
Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp và
sử dụng điều tra khảo sát nhằm làm rõ thực trạng nhân lực hải quan Việt Nam
trong hội nhập quốc tế, rút ra những kết quả tích cực, tác động tiêu cực và
nguyên nhân.
Trong phương pháp điều tra khảo sát, tác giả sử dụng Bảng hỏi để lấy ý
kiến của các doanh nghiệp có hoạt động XNK thường xuyên tiếp xúc với cán bộ,
công chức hải quan nhằm tìm hiểu, đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ của công chức hải quan trong quá trình hiện đại hóa hải
quan. Số lượng phiếu khảo sát là 10.406. Thực hiện theo phương thức: gửi Phiếu
khảo sát qua đường bưu điện và nhận lại phiếu do một đơn vị độc lập (Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) tổng hợp, phân tích và báo cáo kết quả.
Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã nghiên
cứu ở chương hai và chương ba cùng với đánh giá dự báo về bối cảnh và nhu cầu
về nhân lực hải quan Việt Nam để đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển
nhân lực hải quan Việt Nam trong thời gian tới.
4. Những đóng góp mới của luận án
Một là, đưa ra khái niệm nhân lực Hải quan Việt Nam là bộ phận đặc
thù của nhân lực quản lý nhà nước với số lượng, chất lượng và cơ cấu cần
7
thiết, phù hợp với yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về
hải quan trong từng giai đoạn phát triển của quốc gia, bao gồm nhân lực tại
khối cơ quan Tổng cục Hải quan, các cục hải quan tỉnh, thành phố, các chi
cục, đội kiểm soát hải quan.
Hai là, làm rõ vai trò của nhân lực với tư cách là yếu tố quan trọng để
hiện đại hóa hải quan trong hội nhập kinh tế quốc tế, đưa ra hệ thống tiêu chí
đánh giá nhân lực đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan, xác định các yếu tố
chủ yếu tác động tới nhân lực hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
Ba là, trong giai đoạn 2011-2015, nhân lực Hải quan Việt Nam, lực
lượng cốt lõi của ngành Hải quan đã được phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu
công việc đề ra. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, đó là: 1) Hiệu suất lao
động còn khá thấp so với hải quan các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế
giới; 2) Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số ít cán bộ, công chức Hải
quan còn chưa đáp ứng yêu cầu công việc được phân công; 3) Một số kỹ năng
mềm và trình độ tin học, ngoại ngữ của một bộ phận công chức Hải quan còn
hạn chế; 4) Còn tồn tại sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận nhỏ
cán bộ, công chức hải quan.
Bốn là, đưa ra nguyên nhân của những hạn chế nêu trên: 1) Mô hình tổ
chức chưa khoa học; 2) Hệ thống tiêu chí đánh giá hiện hành chưa hoàn thiện,
còn nhiều bất cập; 3) Công tác cán bộ của ngành Hải quan còn nhiều điểm
chưa hợp lý; 4) Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều bất cập; 5) Một số cán
bộ, công chức Hải quan chưa thực sự tự giác, tích cực học tập nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng cần thiết khác, chưa chấp hành
nghiêm chỉnh pháp luật và kỷ luật công tác hoặc thiếu ý thức tu dưỡng đạo
đức, lối sống.
Năm là, đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nhân lực để
hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trong hội nhập quốc tế đến năm 2035: 1) Xây
8
dựng và hoàn thiện hệ thống quy định về phát triển nhân lực Hải quan; 2) Tiếp
tục hoàn thiện tiêu chí đánh giá nhân lực hải quan; 3) Tăng cường đào tạo và
đào tạo lại nhân lực Hải quan; 4) Xây dựng cơ chế quản lý cán bộ linh hoạt dựa
trên hiệu quả công việc; 5) Tạo động lực phát triển nhân lực Hải quan.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
5.1. Về tính lý luận
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham cho các cơ sở đào tạo đại
học và sau đại học về nhân lực, nhân lực chất lượng cao, cho các cơ quan
hoạch định chính sách và quản lý nhân lực Hải quan Việt Nam.
- Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan
tâm đến nhân lực hải quan trong hội nhập quốc tế.
5.2. Về tính thực tiễn
Luận án sẽ góp phần giúp các cơ quan chức năng của Nhà nước (ngành
Hải quan) trong triển khai nghiên cứu cơ chế, chính sách về nhân lực hải quan
đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan và tiến tới hội nhập quốc tế ngày một
sâu, rộng.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
9
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CHỦ YẾU LIÊN QUAN ĐẾN
PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về nguồn nhân lực
Với tính cách là yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu của lực lượng
sản xuất, nhân lực, nguồn nhân lực, sức lao động, lực lượng lao động, con
người luôn là đề tài được các cơ quan khoa học, giới nghiên cứu, quản lý đặt
sự quan tâm lớn khám phá nghiên cứu.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu, đến nay, các nhà nghiên cứu đề cập một cách
sâu, rộng liên quan đến lĩnh vực nhân lực. Có thể tổng quát theo 5 nhóm cơ
bản mà tác giả quan tâm, đó là: Công tác hoạch định chiến lược; công tác
tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng; công tác quản lý nhân lực; công tác đánh giá
chất lượng công việc; công tác khuyến khích, tạo động lực trong thực hiện
công việc.
1.1.1.1. Nhóm các công trình về hoạch định chiến lược nhân lực
Tác giả Tony Grundy với công trình: “Human resource management - a
strategic approach (Quản lý nguồn nhân lực - Một cách tiếp cận chiến lược)”
[69], cho rằng việc xây dựng kế hoạch chiến lược nhân lực cần bám sát, thỏa
mãn nhu cầu nhân lực ngắn hạn, dài hạn cả về số lượng, chất lượng, trình
độ,…; Còn tác giả Alan Price: “Human Resource Management in a Business
Context (Quản lý nguồn nhân lực trong bối cảnh kinh doanh)” [65], nêu lên
quá trình xây dựng chiến lược nhân sự trong công ty gồm 5 bước, bám sát với
vòng đời của mỗi nhân viên là: Tuyển dụng, đào tạo nhân viên; quản lý thành
tích đóng góp của nhân viên; chiến lược lương, thưởng để khuyến khích và
giữ nhân viên; xây dựng một kế hoạch kế thừa song song với việc xây dựng
một kế hoạch phát triển như thế nào; hoạt động xây dựng gắn kết nhân viên
với công ty, với giá trị cốt lõi của công ty.
10
Với nhóm tác giả Lê Trọng Ân và Trương Văn Tuấn, tập hợp báo cáo
nghiên cứu các quốc gia có nền kinh tế phát triển như: Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore… [2], khẳng định vai trò quan
trọng của đội ngũ tri thức, nguồn lực trí tuệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và tiến bộ xã hội. Khi xây dựng chiến lược phát triển khoa học công nghệ, giáo
dục - đào tạo đều gắn với chiến lược phát triển nhân lực tài năng, đó là: Phát
triển giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh phát triển
công nghệ; phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực để phát triển nguồn nhân lực
trình độ cao đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước; chú trọng công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý; đào tạo bồi dưỡng phải gắn với sử dụng, đãi
ngộ, tôn vinh trí thức, nhân tài là chiến lược ưu tiên hàng đầu.
Tác giả Hà Văn Hội “Một số vấn đề trong công tác tập kế hoạch nguồn
nhân lực trong doanh nghiệp Bưu chính Viễn Thông” [23], theo đó đòi hỏi
doanh nghiệp phải tiến hành công tác hoạch định nguồn nhân lực là do: Cần
phải gắn nguồn nhân lực với tổ chức; liên kết các hành động với các kết quả;
nhìn nhận rõ các bộ phận hoạt động có ăn khớp với nhau không, đồng thời
giải đáp cho doanh nghiệp những vấn đề như nguồn lực có phù hợp với chiến
lược không, nguồn nhân lực có đảm bảo lợi thế cạnh tranh và duy trì được lâu
dài lợi thế cạnh tranh đó không.
Theo tác giả Dương Thị Vân [56], cho rằng lập kế hoạch nguồn nhân
lực không chỉ đơn thuần chú ý đến việc dự báo và tuyển đủ số lượng nhân
viên cần thiết. Lập kế hoạch nguồn nhân lực giúp cho đơn vị thấy rõ phương
hướng, cách thức quản lý nguồn nhân lực của mình, bảo đảm cho đơn vị có
được đúng người đúng việc, vào đúng thời điểm cần thiết và linh hoạt đối phó
với những thay đổi của môi trường bên ngoài. Thừa nhân viên sẽ làm tăng chi
phí, thiếu nhân viên hoặc chất lượng nhân viên không đáp ứng yêu cầu sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng thực hiện công việc. Lập kế hoạch nguồn nhân lực có
thể hoạt động ở 3 mức độ: Cấp quốc gia; cấp ngành, lĩnh vực; cấp đơn vị. Quá
11
trình lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực có thể được chia thành bốn giai
đoạn: (1) Đánh giá các nguồn tài nguyên nhân lực hiện có về: Số lượng; tuổi;
khả năng; kỹ năng; nguyện vọng; (2) Tính toán tổn thất nhân lực hiện tại sẽ
diễn ra trong thời gian lập kế hoạch: Tỷ lệ rời tổ chức và lý do; ước tính tỷ lệ
chung của lãng phí và ảnh hưởng; (3) Nhu cầu, yêu cầu nhân lực vào cuối thời
kỳ (trên cơ sở các kế hoạch phát triển, thay đổi về năng suất, sản phẩm, cách
quản lý…); (4) Chuẩn bị kế hoạch thực tế về: Cơ cấu nhân lực; nhu cầu đào
tạo; tuyển dụng; bố trí nhân lực.
1.1.1.2. Nhóm các công trình về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng
Tác giả Vũ Quang Vinh trong đề tài khoa học cấp ngành [59], đánh giá
thực trạng công tác tuyển dụng cán bộ; từ đó đã đề xuất những chính sách,
tiêu chí đặc thù để tuyển chọn cán bộ đầu vào phù hợp với yêu cầu công tác
hải quan, giảm bớt lãng phí về nhân lực, cũng như kinh phí phải đào tạo, bồi
dưỡng mới đáp ứng được yêu cầu công việc; công trình về “Đào tạo và phát
triển nhân lực thời kỳ hội nhập” của Trung tâm Tri thức doanh nghiệp quốc
tế, năm 2010, Nxb Thanh niên, lại khẳng định cần có sự quyết tâm chính trị
của cả hệ thống cùng chung tay, góp sức nhằm thực hiện các chủ trương,
chính sách xây dựng nhân lực cho yêu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam
chúng ta; bài viết về “Đào tạo nhân lực trình độ cao cho kỷ nguyên kinh tế tri
thức” của tác giả Phạm Sỹ Tiến đã phân tích thực trạng sức lao động trình độ
cao ở nước ta và các giải pháp phát triển.
Tác giả Scott Wilson, chuyên gia Dự án Hỗ trợ kỹ thuật, chuẩn bị cho
Dự án hiện đại hóa Hải quan Việt Nam tại “Báo cáo phát triển nhân lực Hải
quan” [63], nêu lên quan điểm về đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ hải quan cần
phải thay đổi về hình thức, thời gian, đối tượng, hay nội dung đào tạo,...
Tác giả Phạm Văn Giang [18], cho rằng đây là thời kỳ “ngưỡng cửa” của
cơ cấu “dân số vàng” (tức là số người trong độ tuổi lao động cao hơn hoặc
bằng số người phụ thuộc). Theo ước tính, thời kỳ “dân số vàng” đóng góp
12
khoảng 1/3 vào tăng trưởng của các nước châu Á, có tăng trưởng thần kỳ về
kinh tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng, thời kỳ “dân số
vàng” sẽ không tự nhiên và tất yếu mang lại các tác động tích cực đối với tăng
trưởng kinh tế và phát triển con người. Theo kinh nghiệm của các nước đã tận
dụng tốt thời kỳ “dân số vàng”, trước và trong suốt thời kỳ này, cần ban hành
và thực hiện các nhóm chính sách phù hợp về giáo dục và đào tạo; lao động
việc làm và nguồn nhân lực; chăm sóc y tế; an sinh và bảo trợ xã hội, thì khi đó
mới phát huy được “lợi thế tuyệt đối” về nguồn nhân lực. Đồng thời tác giả
cũng đề xuất nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực là: Đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức nhằm tạo điều kiện
cần thiết phục vụ cho nhu cầu phát triển nhân lực; đổi mới mạnh mẽ, toàn diện
công tác giáo dục và đào tạo, từng bước đáp ứng nguồn nhân lực theo nhu cầu
xã hội; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo,
quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn; các
cơ quan chức năng cần có dự báo nhu cầu về nguồn nhân lực của các ngành
nghề trong tương lai; thiết lập, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác
hướng nghiệp; nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng nguồn nhân lực.
Tác giả Trần Kim Cúc trong bài viết “Công tác quy hoạch cán bộ - bài
toán chiến lược trong xây dựng đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý” [15],
cho rằng quy hoạch cán bộ là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương,
biện pháp nhằm tạo nguồn nhân sự, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ
tài, đủ đức, đặc biệt chú trọng đến giới nữ để bảo đảm việc thực hiện tốt
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về cán bộ nữ. Từ đó,
tạo điều kiện phát huy hơn nữa vai trò, vị trí của phụ nữ trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp
trong quá trình thực hiện công tác quy hoạch, đó là: Quy trình thực hiện quy
hoạch cán bộ, công chức nên tuân theo các bước: dân chủ trước, tập trung sau;
có quy định người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm cá nhân
13
cao nhất trong tập thể lãnh đạo về kết quả và chất lượng của công tác quy
hoạch nói riêng, công tác cán bộ nói chung; chất lượng, hiệu quả của công tác
quy hoạch cán bộ, công chức phụ thuộc vào việc thực hiện một cách đồng bộ
các khâu của công tác cán bộ, trong đó khâu bố trí sử dụng và đãi ngộ cán bộ,
công chức là quan trọng nhất; thực hiện đúng phương châm “động”, “mở” và
“mềm” trong quy hoạch cán bộ, công chức. Một chức danh cần quy hoạch
nhiều người, một người có thể được dự trù vào 2-3 chức danh; cần khắc phục
quan điểm máy móc, giản đơn và chủ nghĩa cơ cấu trong dự trù, bố trí sử
dụng cán bộ, công chức. Cần ưu tiên cán bộ, công chức được quy hoạch,
nhưng nếu quan niệm cứng rằng: Cán bộ, công chức được cử đi đào tạo hay
bổ nhiệm, bố trí là người “trong diện quy hoạch” thì có thể dẫn đến việc bỏ
sót nhân tài; sửa đổi, bổ sung các văn bản về công tác cán bộ phải được tính
đến vấn đề giới, đặc thù của lao động nữ trong vai trò làm vợ, làm mẹ. Ưu
tiên lựa chọn ứng cử viên là nam và nữ có điều kiện, tiêu chuẩn như nhau. Có
quy định cụ thể về tỷ lệ quy hoạch cán bộ nữ vào các vị trí lãnh đạo; bảo đảm
cạnh tranh công bằng trong công tác cán bổ dụng những cán bộ, công chức
được quy hoạch. Cần thừa nhận nguyên tắc cạnh tranh để lựa chọn nhân tài,
để bổ nhiệm và sử dụng được những cán bộ xứng đáng nhất, ưu tú nhất. Cần
tạo điều kiện và cơ hội cho cán bộ, công chức thăng tiến bằng thi tuyển cạnh
tranh ở một số chức danh lãnh đạo, quản lý, tạo ra những “sân chơi” rộng mở,
công bằng để tuyển chọn nhân tài, nâng cao chất lượng của công tác quy
hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng và quản lý cán bộ, công chức.
1.1.1.3. Nhóm các công trình về quản lý sử dụng nhân lực
Tác giả Nguyễn Tiệp, trong bài viết “Đào tạo và phát triển lao động
chuyên môn kỹ thuật - tiền đề quan trọng để sử dụng hiệu quả nhân lực” [43],
nêu lên sự cần thiết phải phát triển lao động chuyên môn kỹ thuật, một yêu
cầu sống còn đối với đất nước ta trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác giả Tony Buzan, trong cuốn sách: “Lập bản đồ tư duy” [46],
nghiên cứu về cách thức phát huy tối đa khả năng sáng tạo, hình thành tư duy
14
tổng thể, tư duy chiến lược cho mỗi cá nhân nói riêng và nhân lực nói chung.
Bên cạnh đó, các tác giả Mick Marchington và Adrian Wilkinson cũng cho
rằng một tổ chức muốn phát triển thì cần phải làm tốt công tác quản lý, trong
đó nhấn mạnh về quản lý nguồn nhân lực tại nơi làm việc.
Đề án phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 [55], đề ra nhóm giải pháp
về quản lý, sử dụng nguồn nhân lực là: Tiến hành điều tra, khảo sát, phân tích
chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực trên địa bàn toàn tỉnh để có sự điều chỉnh,
sử dụng hợp lý nguồn nhân lực phục vụ vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá; các ngành, các cấp, các địa phương, đơn vị phải chủ động xây dựng
kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của mình; thu hút, bố trí sử dụng số lao
động đã qua đào tạo, ưu tiên và có chính sách cho những người tự nguyện đến
làm việc ở cơ sở nông thôn, đặc biệt là về vùng sâu, vùng xa, địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đưa một số sinh viên đã tốt nghiệp đại
học tăng cường cho cơ sở để phục vụ rèn luyện, đào tạo nguồn cán bộ cho
tương lai; có sự điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội từng
giai đoạn để tiếp tục thực hiện các chủ trương, chính sách của Ban Thường vụ
Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh về thu hút nhân tài, người có trình độ chuyên
môn cao, có học hàm, học vị về công tác tại Quảng Bình; ban hành quy chế
thực hiện chính sách đãi ngộ nhân tài, người có trình độ chuyên môn cao, có
học hàm, học vị hiện có của tỉnh; hạn chế tối đa việc thuyên chuyển những
đối tượng trên ra ngoài tỉnh; có chính sách sử dụng sinh viên mới tốt nghiệp
đại học, nhất là ở những chuyên ngành cần cho sự phát triển các lĩnh vực kinh
tế - xã hội trọng điểm của tỉnh và những ngành kỹ thuật, công nghệ cao; thành
lập các hội khoa học - kỹ thuật và liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật tỉnh để có
điều kiện liên kết, phối hợp, hợp tác trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng,
chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, tư vấn phản biện, thẩm
định khoa học và quy tụ lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng có hiệu
15
quả tiềm năng sáng tạo của đội ngũ trí thức; có chính sách, cơ chế động viên,
tranh thủ sự đóng góp của các nhà khoa học, các trung tâm khoa học kỹ thuật
trong nước, khu vực và quốc tế đối với các dề án phát triển của tỉnh.
Với công trình nghiên cứu của Cao Thị Hà [19], đã đưa ra những nhận
xét về thực trạng của một bộ phận không nhỏ của đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức còn thiếu nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc xuất phát từ nhiều
nguyên nhân. Các cơ quan, đơn vị chưa có những quy định cụ thể về chức
năng, nhiệm vụ cho từng loại hình công chức, nhất là những quy định về tính
chịu trách nhiệm cá nhân. Vẫn còn tồn tại không ít nơi khâu đánh giá cán bộ,
công chức còn e dè, nể nang, thiếu chuẩn xác, chưa công bằng, không công
tâm cho nên không ít trường hợp cán bộ, công chức làm việc hiệu quả thấp,
nhưng vẫn đánh giá tốt và được bổ nhiệm, đề bạt. Hiện tượng “bình quân chủ
nghĩa” vẫn còn tồn tại, sự dẫn đến tình trạng cán bộ, công chức ỷ lại dựa dẫm
vào cấp trên, chưa có ý thức phấn đấu vươn lên... Điều này dẫn tới việc cán
bộ, công chức không phát huy được tinh thần sáng tạo, ỷ lại, bị động, trì trệ,
dựa dẫm. Đặc biệt chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức
chưa đáp ứng được đời sống cho cán bộ, công chức, viên chức. Hệ quả là
giảm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, không khuyến khích
được sự cố gắng nỗ lực, tính sáng sạo trong giải quyết công việc. Tác giả
cũng đề xuất nhiều giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả làm việc của cán
bộ, công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước, trong đó đặc biệt là
giải pháp nâng cao giá trị nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Họ
sẽ làm việc tích cực, hiệu quả hơn khi nghề nghiệp của họ được xã hội tôn
vinh, coi trọng, khi mà chính họ có được niềm tự hào mình là cán bộ, công
chức Nhà nước. Muốn vậy, ít nhất việc tuyển dụng cán bộ, công chức vào các
cơ quan hành chính nhà nước phải chặt chẽ, nghiêm túc để cán bộ, công chức
có trình độ, có năng lực đáp ứng trong hoạt động thực thi công vụ. Cần xây
dựng các giá trị nghề nghiệp cho các cán bộ, công chức, giúp họ hướng đến
16
các giá trị như: trách nhiệm, liêm chính, khách quan, công bằng, sáng tạo, uy
tín, tuân thủ luật pháp, xây dựng tầm nhìn nền công vụ hướng đến mục tiêu
phục vụ tiên tiến, chuyên nghiệp, hiệu quả.
1.1.1.4. Nhóm công trình về công tác đánh giá chất lượng công việc
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hân trong bài viết: "Một số ý kiến về việc
thực hiện các nguyên tắc đánh giá công chức, viên chức” [22]. Theo tác giả,
đánh giá là việc vào một thời điểm nhất định, đối chiếu những kết quả mà
nhân viên đạt được so với mục tiêu hoặc tiêu chí đã định, trên cơ sở đó ra
quyết định hay đưa ra một ý kiến nào đó. Đồng thời tác giả cũng kiến nghị
một số nguyên tắc đánh giá chủ yếu như: Cần đảm bảo tính khách quan, công
bằng; gắn với tiêu chuẩn chức danh của người được đánh giá, gắn với trọng
trách của từng người trong cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan, đơn vị; phải
dựa vào kết quả thực thi công vụ; việc đánh giá phải gắn với các hình thức kỷ
luật hoặc khen thưởng.
Các tác giả như W.B. Werther & K. Davis trong tác phẩm “Human
Resources and Personnel Management (Nguồn nhân lực và quản lý nhân sự)”
[71]. Dan Waters với công trình: “Thế kỷ 21: Phương thức quản lý vượt lên cả
người Nhật và người Trung Quốc” [61]; tác giả William Easterly, với tác phẩm
“Truy tìm căn nguyên tăng trưởng” [16], cho rằng, nếu như trước đây tích lũy
chủ yếu dựa vào tỷ lệ tiết kiệm, tích lũy tư bản và vốn vật chất thì nay tăng
trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố nhân lực, công nghệ, thể chế chính trị và truyền
thống văn hóa; tác giả Christian Batal, với tác phẩm “Quản lý nhân lực trong
khu vực nhà nước” [3], lại chủ yếu phân tích về năng lực làm việc của cán bộ
trên cơ sở đánh giá dựa vào khung năng lực tiêu chuẩn và bản mô tả chức danh
công việc của một số công việc chuyên trách, đòi hỏi chất lượng cao như thủ
trưởng một đơn vị hay cán bộ phụ trách công tác nhân sự, đào tạo.
Còn theo 2 tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm [31], có
rất nhiều phương pháp để đánh giá việc thực hiện của nhân viên, trong đó
17
phương pháp quản lý bằng mục tiêu hiện nay đã và đang được áp dụng phổ
biến ở những đơn vị có trình độ quản lý phát triển. Trong phương pháp này,
người lãnh đạo bộ phận cùng với từng nhân viên xây dựng các mục tiêu thực
hiện công việc cho thời kỳ tương lai. Người lãnh đạo sử dụng các mục tiêu đó
để đánh giá sự nỗ lực của nhân viên và cung cấp các thông tin phản hồi cho
họ. Phương pháp này cần nhấn mạnh nhiều vào các kết quả mà nhân viên cần
đạt được chứ không nhấn mạnh nhiều vào các hoạt động (hành vi) thực hiện
công việc và do đó nó có tác dụng nâng cao tính chịu trách nhiệm cá nhân đối
với công việc. Vấn đề cốt lõi trước khi triển khai là người lãnh đạo và nhân viên
phải cùng thảo luận để thống nhất với nhau về: Các yếu tố chính trong công việc
của nhân viên; các mục tiêu cụ thể cần đạt được cho từng yếu tố của công việc
trong chu kỳ đánh giá đã định trước (thường là 6 tháng hay 1 năm); xây dựng
một kế hoạch hành động để thực hiện các mục tiêu đó. Cuối kỳ, người lãnh đạo
sử dụng các mục tiêu đó để đánh giá sự thực hiện công việc của nhân viên. Bên
cạnh đó, trong suốt chu kỳ đánh giá, nhân viên luôn tự xem xét lại một cách định
kỳ tiến độ công việc của mình dưới sự giúp đỡ của người lãnh đạo và nếu cần
thiết có thể đưa ra những điều chỉnh về kế hoạch hành động, thậm chí cả mục
tiêu công việc.
1.1.1.5. Với nhóm các công trình về công tác khích lệ, tạo động lực
trong thực hiện công việc
Các tác giả thuộc Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý [57], cho
rằng nếu người lãnh đạo có thể tạo ra sự khao khát và tự nguyện cho người
lao động thì có thể tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục
tiêu của tổ chức, đơn vị. Còn hai tác giả Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng
Ngân thuộc Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội lại cho rằng trong các tổ chức
ngày nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc quản lý nguồn nhân lực như
thế nào cho hiệu quả ngày càng được lưu tâm. Tuy nhiên, sự quan tâm này là
rất khác nhau giữa các tổ chức. Nếu như khu vực tư nhân được đánh giá là có
18
nhận thức và thực hiện vấn đề này một cách khá nhanh chóng, thì tổ chức
thuộc khu vực công vẫn còn khá chậm chạp. Và chính điều này đã làm quá
trình đổi mới của tổ chức công bị chậm và kém hiệu quả.
Hai tác giả Maslow và Abraham H, với công trình: “A Theory of
Human Motivation" (Lý thuyết tạo động lực làm việc)” [67], cho rằng con
người có nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn, đồng thời
chia nhu cầu đó thành 5 loại và sắp xếp theo thứ bậc cao dần từ nhu cầu sinh
lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự
hoàn thiện; tác giả Barack Obama, với tác phẩm “Hy vọng táo bạo” [30], đã
nhấn mạnh về những yêu cầu đối với nhân lực là phải thay đổi tư duy để thích
ứng và làm chủ những xu hướng phát triển rất mới và đầy bất ngờ trong thời
đại ngày nay; bên cạnh đó, có công trình nghiên cứu của B.F.Skinner đề cập
đến cách thức làm thay đổi hành vi của con người thông qua các tác động tăng
cường; còn tác giả Victor Vroom lại nhấn mạnh mối quan hệ nhận thức, kỳ
vọng sẽ làm cho con người có sự nỗ lực nhất định từ đó sẽ đem lại thành tích
hay kết quả hoặc phần thưởng nào đó.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân, với công trình nêu trên đa số người
lao động cần phải được trả thù lao tương xứng và các khoản thù lao đó phải
được phân phối công bằng. Nếu người lao động nhận thấy thù lao không được
phân phối công bằng và tương xứng, họ sẽ trở nên ít gắn bó với tổ chức, giảm
nỗ lực và họ sẽ tìm kiếm những cơ hội thuê mướn ở nơi khác. Vì vậy, cần có
một hệ thống khuyến khích tài chính hợp lý nhằm tác động tới hành vi lao
động, hướng tới hoàn thiện sự thực hiện công việc của người lao động, nâng
cao năng suất lao động của họ. Mặc dù có những tác động tích cực, nhưng hệ
thống khuyến khích tài chính lại có thể phát sinh nhiều hậu quả tiêu cực cho
công ty và đặt ra các thách thức đối với người quản lý. Khi dự định đưa ra
chương trình khuyến khích tài chính nhằm khuyến khích sự thực hiện công
việc ở mức cao, tổ chức sẽ đối mặt với các thách thức sau đây: Phát sinh quan
19
niệm “chỉ làm những gì được trả tiền”; có thể phát sinh mâu thuẫn, cạnh tranh
nội bộ và ảnh hưởng tiêu cực tới tinh thần hiệp tác; ảnh hưởng tới chất lượng
của sản phẩm và công việc, thậm chí có thể dẫn tới gian lận; có những yếu tố
ngoài khả năng kiểm soát của người lao động và làm ảnh hưởng tới năng suất
của họ; khó khăn trong đo lường sự thực hiện công việc của từng cá nhân, cá
nhân trong tổ nhóm và giữa các nhóm; không phải lúc nào cũng xây dựng
được những công thức phân phối, tính toán phù hợp với các nhóm lao động
khác nhau; cùng với sự tăng lên của năng suất lao động thì sự thỏa mãn lao
động lại giảm và sự căng thẳng (stress) tăng lên. Từ đó tác giả đề xuất giải
pháp khắc phục đó là: Xác định đúng đối tượng khuyến khích; xác định đúng
đắn và hợp lý các tiêu chuẩn chi trả. Các tiêu chuẩn chi trả bao gồm tiêu thức
chi trả, điều kiện để chi trả, thời điểm chi trả và mức chi trả; sử dụng thù lao
cho thực hiện công việc như là một bộ phận của hệ thống quản lý nguồn nhân
lực thống nhất; xây dựng sự tin tưởng của công nhân viên về tính hợp lý và
dài hạn của hệ thống khuyến khích; xây dựng bầu không khí tổ chức với quan
niệm thực hiện công việc sẽ dẫn đến thù lao khác nhau; sử dụng một hệ thống
khuyến khích với các hình thức khuyến khích đa dạng, phong phú để phát huy
ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của từng hình thức; thu hút người lao
động tham gia vào việc thiết kế chương trình thù lao để nâng cao nhận thức và
nỗ lực làm việc của họ; sử dụng các biện pháp tạo động lực và các khuyến
khích phi tài chính khác như khen ngợi, trao tặng các danh hiệu, mở rộng
trách nhiệm làm việc…để khuyến khích thực hiện công việc.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực hải quan
1.1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về hoạch định chiến lược
Tác giả Vũ Quang Vinh [59], trong công trình nghiên cứu của mình đã
đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Hải quan về sự thành
công nhanh chóng về số lượng, trình độ và năng lực tổ chức thực hiện nhiệm
vụ, năng lực quản lý điều hành theo cơ chế mới và trong điều kiện hội nhập
20
phát triển. Theo tác giả, phần lớn cán bộ, công chức Hải quan có tinh thần
phấn đấu học tập vươn lên, vừa học vừa làm, có ý thức tìm tòi, sáng tạo, cải
tiến phương pháp quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, bước đầu
đã phù hợp với yêu cầu đòi hỏi trong tình hình mới. Tuy nhiên, việc hình
thành lực lượng Hải quan trong nhiều năm, với nhiều nguồn, nhiều ngành học
khác nhau nhưng chưa được đào tạo nghiệp vụ hải quan có hệ thống, nhất là
nghiệp vụ Hải quan hiện đại, nên đã bộc lộ nhiều hạn chế, lúng túng trong
thực hiện nhiệm vụ trước yêu cầu hội nhập hiện nay. Một số cán bộ không
chịu rèn luyện, tu dưỡng, thoái hóa về đạo đức, lối sống, lợi dụng chức vụ,
quyền hạn và những sơ hở trong cơ chế, chính sách để thông đồng với chủ
hàng, tiếp tay cho buôn lậu, gian lận thương mại, sách nhiều, làm sai chế độ
chính sách để trục lợi, làm giàu bất chính. Số ít, do tham vọng các nhân, kèn
cựa địa vị, quyền lợi, đã gửi thư từ nặc danh, tố cáo sai sự thật, xuyên tạc với
dụng ý xấu, làm mất uy tín đồng nghiệp, gây mất đoàn kết nội bộ. Đội ngũ
cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong ngành chưa đồng đều về kiến thức nghiệp vụ,
một số năng lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ,
công chức Hải quan được phân công thành nhiều nhóm công việc có tính chất
đặc thù với từng chức danh cụ thể, thực tế với mỗi loại công chức này đòi hỏi
rất khác nhau về trình độ đào tạo, kinh nghiệm công tác, nhưng công tác đào
tạo, đào tạo lại đội ngũ chưa đáp ứng được.
Theo các tác giả Mark Harrison và Nguyễn Thị Minh Tâm trong chiến
lược đào tạo cho Hải quan Việt Nam [21], cho rằng: định kỳ 2-3 năm, Hải
quan Việt Nam tuyển dụng một số lượng lớn các sinh viên tốt nghiệp đại học.
Điều này đồng nghĩa với việc Hải quan Việt Nam hiện có một mặt bằng học
vấn tương đối cao. Hơn nữa, hiện nay ngành Hải quan đã có nhận thức sâu
sắc về tầm quan trọng của công tác đào tạo. Các cục Hải quan phía Nam và
phía Bắc đều muốn cán bộ của mình được đào tạo, bồi dưỡng nhiều hơn, và
với số lượng môn học nhiều hơn. Điều này cho thấy cán bộ Hải quan Việt
21
Nam đã nhận thức sâu sắc được rằng quá trình cải cách và hiện đại hóa sẽ làm
thay đổi đáng kể bản chất của công việc ngành hải quan và vì vậy cán bộ Hải
quan cần phải được đào tạo lại để đáp ứng với nhu cầu mới. Quá trình tăng
cường công tác đào tạo cũng sẽ hỗ trợ rất nhiều trong quá trình biến cơ quan
Hải quan trở thành một tổ chức học tập. Bên cạnh đó, chính sách tuyển dụng
mới gần đây cũng cho thấy tầm quan trọng của việc có được những cán bộ
công chức có trình độ học vấn cao. Điều này được thể hiện qua việc tuyển
dụng mới một số lượng lớn cán bộ có trình độ đại học. Ngoài ra, cũng cần
thừa nhận nỗ lực hỗ trợ các cán bộ có nguyên vọng theo học các chương trình
đào tạo sau đại học. Đây là điểm rất quan trọng và cần được tiếp tục thực hiện
trong thời gian tới. Sự hỗ trợ này là hết sức cần thiết giúp bổ sung các kỹ năng
cho cán bộ công chức mới tuyển và góp phần biến Hải quan thành một tổ
chức học tập. Hai tác giả nêu trên cũng khuyến nghị nên thực thi các chương
trình chính sách phát triển đào tạo cho Hải quan Việt Nam như: Phân cấp
công tác đào tạo và học hỏi; phân tích nhu cầu đào tạo; phát triển giảng viên:
Phát triển giáo trình; phương pháp đào tạo; xây dựng tài liệu đào tạo; công cụ
đánh giá; bằng cấp và chứng chỉ; nguồn lực; chương trình đào tạo cho các đối
tác bên ngoài.
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải quan: “Nâng cao hiệu quả
công tác đào tạo công chức Hải quan đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa”của tác
giả Nguyễn Viết Hồng [24], cho rằng hoạt động đào tạo cán bộ, công chức
Hải quan đưa ra theo hướng: (1) Quá trình học tập của công chức Hải quan là
quá trình tiếp thu toàn diện các kiến thức tổng hợp của các khâu nghiệp vụ có
liên quan. Do đặc thù của công việc, cán bộ hải quan phải nắm được các kiến
thức, quy trình, kỹ năng của các khâu nghiệp vụ có liên quan như giám sát và
thủ tục hải quan, trị giá, phân loại hàng hóa, xử lý và kiểm soát. Các kiến thức
này hết sức cần thiết trong quá trình tác nghiệp. Hoạt động học tập của công
22
chức Hải quan phải kết hợp hài hòa cả nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Trong
quá trình học tập, mỗi học viên tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng,
phải nắm vững những cơ sở của nghề nghiệp và có tiềm năng vươn lên thích
ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn công tác đặt ra.
Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập, học viên không chỉ phải có năng
lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhận thức mang tính
chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức
độ cao. Điều đó có nghĩa là, dưới vai trò chủ đạo của thầy, học viên không
nhận thức một cách máy móc kiến thức có sẵn mà còn đào sâu hoặc mở rộng
kiến thức từ những vấn đề thực tiễn ở đơn vị công tác; (2) Hoạt động tự học
và nghiên cứu khoa học là hết sức cần thiết trong lĩnh vực hải quan. Trong
quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để
chiếm lĩnh kiến thức. Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng
nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy học viên tư duy để
thoát khỏi “lúng túng”, nhờ vậy mà thành thạo lên, và đã thành thạo thì hay
đặt những dấu hỏi, phát hiện vấn đề và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu. Việc
nghiên cứu khoa học dĩ nhiên tác động trở lại việc học và có phát triển tự học
lên đến nghiên cứu khoa học thì mới có thực tiễn để hiểu sâu mối quan hệ
giữa tư duy độc lập và tư duy sáng tạo. Đối với công chức Hải quan, điều này
lại càng quan trọng, đặc biệt là việc nghiên cứu kinh nghiệm tiến hành nghiệp
vụ của các nước khác cũng như của các đơn vị trong ngành. Bên cạnh đó, tác
giả có đề xuất một số nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo
công chức Hải quan đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, trong đó có giải pháp theo
dõi, quản lý, sử dụng cán bộ hợp lý theo nội dung đào tạo, tiến hành xây dựng
phần mềm quản lý cán bộ để đạt mục tiêu như: Xây dựng cơ sở dữ liệu hồ sơ
cán bộ điện tử; tin học hóa công tác quản lý hồ sơ nhân sự ở các đơn vị, từ đó
đồng bộ dữ liệu giữa đơn vị đào tạo và đơn vị nghiệp vụ tạo thuận lợi cho
việc bố trí, sử dụng cán bộ, thực hiện các chính sách cán bộ, luân chuyển,
nâng ngạch, bậc định kỳ...
23
1.1.2.3. Các công trình nghiên cứu về quản lý nhân lực
Trong công trình của mình, tác giả Nguyễn Duy Thông [35], đã trích
dẫn quy định hiện hành về mục tiêu thực hiện tác cơ cấu tổ chức bộ máy là:
Sắp xếp lại các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan khắc phục sự chồng
chéo, vướng mắc về chức năng, nhiệm vụ, hình thành hệ thống Cục Hải quan
liên tỉnh, thành phố, kịp thời đáp ứng yêu cầu tác thiết kế quy trình thủ tục và
làm cơ sở cho việc hướng tới mô hình quản lý Hải quan hiện đại. Từ đó tác
giả đưa ra đề xuất cần phải sớm tái cơ cấu lại tổ chức cơ quan Tổng cục Hải
quan. Việc tái cơ cấu lại tổ chức cơ quan Tổng cục Hải quan phải được tiến
hành từng bước tương ứng với sự phát triển của công nghệ thông tin và tiến
độ chung của chương trình cải cách, hiện đại hóa toàn ngành. Với mô hình tổ
chức như hiện nay, Tổng cục Hải quan vẫn có thể tiến hành những thay đổi có
tính cách mạng, đó là xây dựng hệ thống thông tin hiện đại xử lý dữ liệu tập
trung. Tuy nhiên, việc này cần có thời gian. Trong khi đó, tổ chức bộ máy
luôn luôn phải bám sát yêu cầu của công việc. Mặt khác, cơ quan Tổng cục
Hải quan là đơn vị đầu não, việc cơ cấu lại phải giữ được sự ổn định của toàn
ngành. Nguyên tắc để tính toán sáp nhập cục hải quan tỉnh, liên tỉnh thành
phố theo mô hình hải quan vùng (từ 33 cục hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố
xuống còn 8 - 13 đơn vị), đó là: Địa giới hành chính. Trên một địa bàn nhiều
tỉnh, thành phố có thể nhiều cục hải quan phải sáp nhập lại một cục. Như vậy
số cục hải quan sẽ ít đi, nhưng quy mô sẽ lớn hơn, số đơn vị tham mưu của cơ
quan liên tỉnh sẽ tương đương nhau; phù hợp với định hướng phát triển kinh
tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trên cơ sở tiềm năng và đặc điểm vùng,
miền; khối lượng công việc, số thuế và số lượng tờ khai hải quan được xử lý
trong cùng một đơn vị thời gian.
Tác giả Vũ Hồng Loan [26] lại nêu lên một thực tế là: tham nhũng, một
hiện tượng tuy không mới nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường đã có mặt ở
24
tất cả các nước và các tổ chức công với các mức độ, tính chất khác nhau. Tuy
nhiên do phạm vi, tính chất và mức độ phức tạp của công việc mà cán bộ Hải
quan dễ bị ảnh hưởng bởi tham nhũng. Để vừa giảm đến mức tối thiểu các ảnh
hưởng của tham nhũng và vừa duy trì, tăng cường mức độ tin tưởng và sự tín
nhiệm của công chúng, cơ quan hải quan cần phải tích cực cải cách hành chính,
đơn giản hóa các quy định, thủ tục để phòng chống nhũng nhiễu, tăng cường
liêm chính cho đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan. Liêm chính hải quan đóng
vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động hải quan hiệu lực và
hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế đất nước, nâng cao vị thế Việt Nam trên
thế giới, thể hiện trên các khía cạnh như: Nâng cao tín nhiệm và tin cậy của
công chúng, cộng đồng doanh nghiệp đối với ngành hải quan nói riêng, các cơ
quan của Chính phủ nói chung; nâng cao mức độ tín nhiệm và thúc đẩy mối
quan hệ hợp tác giữa cơ quan hải quan và các cơ quan khác của Chính phủ;
phát huy tinh thần của cán bộ nhân viên và tinh thần làm việc nhóm, tạo môi
trường làm việc có văn hóa, mang tính chuyên nghiệp cao; giảm bớt các chi phí
mà cộng đồng phải chi trả, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và
doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới; tăng cường mức độ tự nguyện
tuân thủ Luật Hải quan và các quy định khác cả đối với cán bộ, công chức hải
quan, cộng đồng doanh nghiệp và công chúng; đảm bảo nguồn thu thuế và thu
khác cho ngân sách quốc gia, giảm thất thu và thất thoát ngân sách; phát huy
đúng tác dụng của các chính sách, biện pháp khuyến khích về kinh tế; tăng
cường an ninh quốc gia, an ninh dây chuyền cung ứng thương mại và nâng cao
mức độ bảo vệ cộng đồng xã hội; tạo các điều kiện thuận lợi, thúc đẩy thương
mại quốc tế phát triển và góp phần tăng trưởng kinh tế.
1.1.2.4. Các công trình nghiên cứu về công tác đánh giá chất lượng
công việc
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Tiến Lộc [27]
cho rằng, khi đánh giá cán bộ công chức sử dụng phương pháp đánh giá là
phương pháp định lượng có nghĩa là sử dụng những công cụ đo lường, tính
25
toán với những con số cụ thể để đưa ra kết quả nghiên cứu như sử dụng thống
kê toán học; mô hình toàn toán và vận trù học đối với số lượng cán bộ công
chức được chọn lọc để đánh giá. Ngoài ra, còn sử dụng bảng câu hỏi để khảo
sát, thăm dò ý kiến, quan sát và phân tích các thông tin thu được để phục vụ
cho việc đánh giá cán bộ công chức đã đề ra. Nghiên cứu, sử dụng phương
pháp định lượng trong quản trị nguồn nhân lực nói chung và trong công tác
khảo sát, đánh giá cán bộ, công chức nói riêng đang là một xu thế phổ biến.
Bởi vì phương pháp nghiên cứu định lượng giúp thông tin cần thu thập theo
mẫu đã dự định sẵn, người phỏng vấn hoàn toàn đóng vai trò khách quan với
thông tin thu được; giá trị đạo đức đảm bảo tính trung thực và sự giao tiếp
giữa người phỏng vấn với người trả lời là cần thiết ở mức độ tối thiểu. Tác giả
cũng đề xuất giải pháp cốt lõi trong việc đánh giá là thực hiện kiểm tra sát
hạch cán bộ, công chức dựa trên việc trả lời các câu hỏi trắc nghiệm và đề thi
viết. Trong đó xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm với sự ứng dụng công
nghệ xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm tạo sự thuận tiện và chính sách cho
người thi và người quản lý.
Còn với tác giả Thu Trang, trong bài viết của mình [51] cho biết Hải
quan Việt Nam đã áp dụng phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động hiện đại
dựa trên hệ thống chỉ số. Bộ chỉ số Hải quan Việt Nam đang áp dụng bao gồm
6 chỉ số tổng quát và 28 chỉ số cụ thể, thể hiện cơ bản toàn bộ hoạt động của
ngành hải quan từ cấp cục đến Tổng cục Hải quan. Đây là bộ chỉ số biết nói,
phụ thuộc vào mức độ quan tâm và khả năng khai thác, phân tích của từng thủ
trưởng đơn vị.
Qua chỉ số hoạt động hải quan, thủ trưởng cơ quan hải quan có thể
đánh giá được vai trò của nhân lực trong quá trình thực hiện công việc có hiệu
quả như thế nào. Hệ thống chỉ số hải quan cũng nhằm phục vụ cho người lãnh
đạo quản lý để đánh giá, so sánh hiệu quả hoạt động của đơn vị mình với đơn
vị khác, khắc phục những vấn đề còn kém hơn so với thang điểm trung bình
của toàn ngành, góp phần vào việc xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển.
26
1.1.2.5. Các công trình nghiên cứu về khích lệ, tạo động lực trong
thực hiện công việc
Tác giả Vũ Quang Vinh với đề tài nêu trên đã đề xuất giải pháp đề xuất
và xây dựng chế độ đãi ngộ đối với cán bộ là: (1) Trên cơ sở chế độ chính
sách hiện hành, thực hiện khoán biên chế và kinh phí hoạt động, tiến hành
nghiên cứu điều chỉnh, xây dựng chế độ đãi ngộ phù hợp với tính chất đặc thù
để đảm bảo việc đãi ngộ tương xứng công sức và tính chất phức tạp của hoạt
động hải quan tạo điều kiện cho thực hiện liêm chính hải quan và nâng cao
năng lực thực hiện nhiệm vụ: Chế độ dưỡng liêm cho toàn lực lượng; chế độ
đối với công chức làm nhiệm vụ ở biên giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa; chế
độ đối với lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ chống buôn lậu trên bộ, trên biển.
Các chế độ đặc thù này hợp thành một hệ thống chế độ chính sách, đảm bảo
cuộc sống ở mức trung bình khá cho bản thân và gia đình mỗi cán bộ, công
chức trong mối tương quan chung của xã hội, góp phần đảm bảo cho công
chức yên tâm công tác, tự hào, tự trọng với nghề nghiệp, tích cực trong cống
hiến phục vụ; (2) Hoàn thành việc xây dựng chế độ trọng dụng nhân tài: Chế
độ ưu đãi về tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, tiền lương, tiền công thỏa đáng đối
với những người có trình độ chuyên môn cao, có khả năng thực sự trên các
lĩnh vực trọng yếu của ngành, nhằm thu hút, giữ gìn và phát huy khả năng của
cán bộ, công chức có tài năng và từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia
trong các lĩnh vực cốt lõi trong nước và khu vực.
1.2. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC ĐI
SÂU NGHIÊN CỨU TIẾP
1.2.1. Về những vấn đề đã được nghiên cứu, luận giải rõ
Công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã tổng hợp nêu trên, có
liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài. Trong thời kỳ phát triển kinh tế, hội
nhập quốc tế, các vấn đề nguồn nhân lực được đặt ra, nghiên cứu một cách
sâu rộng với nhiều người tham gia. Đây là các tài liệu quý bởi các thông tin
27
được cập nhật và gợi mở những ý tưởng nghiên cứu. Một số nội dung cốt lõi
mà các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu luận giải như:
- Các nhà nghiên cứu đã khẳng định được tầm quan trọng của công tác
xây dựng chiến lược phát triển nhân lực hải quan trên bình diện quốc gia,
đồng thời khẳng định yêu cầu bám sát, thỏa mãn nhu cầu nhân lực trong ngắn
hạn, cũng như dài hạn cả về số lượng, chất lượng, trình độ.
- Công tác xây dựng và phát triển nhân lực hải quan cần phải thay đổi
về cả về hình thức, thời gian, đối tượng, nội dung đào tạo phù hợp với yêu cầu
mới về hội nhập quốc tế.
- Để quản lý và sử dụng cán bộ có hiệu quả thì phải tích cực cải cách
hành chính, đơn giản hóa các quy định, thủ tục để phòng chống nhũng nhiễu,
tăng cường liêm chính cho đội ngũ cán bộ, công chức. Đồng thời tăng cường
công tác kiểm tra, đánh giá, phân tích về năng lực làm việc của cán bộ dựa
vào khung năng lực tiêu chuẩn và bản mô tả chức danh công việc.
- Để duy trì, thu hút nhân lực chất lượng cao, ngoài đảm bảo chế độ,
chính sách cho cán bộ, người lãnh đạo, quản lý phải biết cách khích lệ, tạo
niềm tin, kỳ vọng cho cán bộ, công chức làm việc để tạo ra được hiệu quả cao
nhất cho họ cũng như cho tập thể. Xây dựng môi trường làm việc văn minh,
chuyên nghiệp và giá trị cốt lõi là đạo đức nghề nghiệp để gắn kết người lao
động với tập thể, đơn vị.
Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu sâu và tương đối kỹ một số khía
cạnh trong xây dựng kế hoạch chiến lược, hoàn thiện cơ chế, chính sách cho
con người, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đào tạo lại cho nhân lực nói
chung trong các ngành, lĩnh vực đáp ứng yêu cầu trước mắt nhân lực với vai
trò quan trọng, quyết định sự thắng lợi các nhiệm vụ. Tuy nhiên, để đáp ứng
nhiệm vụ cải cách hiện đại hóa hải quan, trong xu thế hội nhập, phát triển của
đất nước thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, thống nhất
về nhân lực hải quan để phù hợp đến 2025, tầm nhìn 2035.
28
1.2.2. Những khoảng trống khoa học và những vấn đề cần được
tiếp tục nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trước đây được công bố có nhiều giá trị để tham
khảo, nhiều nội dung nghiên cứu về nhân lực, nguồn nhân lực, tuy nhiên vẫn còn
những khoảng trống về khoa học cần được nghiên cứu, làm rõ, bao gồm:
Thứ nhất, những vai trò của cụ thể của nhân lực hải quan trong hiện đại
hóa hải quan phù hợp xu hướng hội nhập quốc tế.
Thứ hai, hệ thống tiêu chí đánh giá về nhân lực để hiện đại hóa hải
quan trong hội nhập quốc tế.
Thứ ba, những hạn chế của nhân lực trong hiện đại hóa hải quan theo
xu thế hội nhập quốc tế thời gian qua và nguyên nhân
Thứ tư, hệ thống các giải pháp về nhân lực đáp ứng yêu cầu hiện đại
hóa hải quan Việt Nam trong hội nhập quốc tế thời gian tới.
Trên cơ sở đánh giá về những kết quả nghiên cứu trong các công trình
khoa học đã công bố và những khoảng trống về khoa học trong nghiên cứu về
nhân lực để hiện đại hóa hải quan Việt Nam trong hội nhập quốc tế, tác giả luận
án xác định những vấn đề trọng tâm cần tập trung làm rõ trong luận bao gồm:
Một là, hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nhân
lực Hải quan. Trên cơ sở làm rõ thêm các khái niệm như nhân lực hải quan,
hội nhập quốc tế, hiện đại hóa hải quan cần chỉ ra là làm rõ đặc thù và vai trò
của nhân lực để hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế, đặc biệt tập
trung làm rõ vai trò của nhân lực để hiện đại hóa hải quan trong hội nhập
quốc tế.
Hai là, Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá về nhân lực để hiện đại
hóa hải quan trong hội nhập quốc tế; làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến nhân
lực để hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế; nghiên cứu kinh nghiệm
một số quốc gia về phát triển nhân lực để hiện đại hóa hải quan trong hội
nhập quốc tế và rút ra bài học cho Hải quan Việt Nam.
29
Ba là, đánh giá thực trạng nhân lực Hải quan Việt Nam, đặc biệt trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đúc rút những thành tựu, hạn chế và đặc biệt
là nguyên nhân của những hạn chế của nhân lực hải quan Việt Nam trong quá
trình hiện đại hóa hải quan.
Bốn là, đề xuất giải pháp cơ bản để phát triển nhân lực Hải quan Việt
Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2035.
Bốn vấn đề nêu trên thực sự đang là những “khoảng trống” về mặt
khoa học về nhân lực hải quan ở nước ta hiện nay. Đây là những vấn đề gắn
liền với đề tài luận án của tác giả, do đó, các vấn đề trên sẽ được luận giải,
phân tích trong các chương, tiết tương ứng của luận án.
30
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN LỰC
ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÂN LỰC HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1.1. Khái niệm nhân lực và nhân lực hải quan
2.1.1.1. Khái niệm về nhân lực
Đời sống nhân loại là một dòng chảy không ngừng của quá trình sản
xuất và tái sản xuất. Để tiến hành quá trình lao động sản xuất cần có những yếu
tố nhất định như nhân lực (yếu tố con người), vật tư, tiền vốn, kỹ thuật…, trong
đó nhân lực là bộ phận quan trọng nhất trong các yếu tố cấu thành lực lượng
sản xuất và là yếu tố quyết định trong cải tạo tự nhiên, tạo ra của cải vật chất.
Nhân lực - nguồn lực trong con người là một trong những yếu tố của
hoạt động lao động để cùng với các yếu tố khác như vật lực (các yếu tố vật
thể như cơ sở vật chất kỹ thuật), tài lực (nguồn lực tài chính: vốn…) làm thay
đổi diện mạo của chính con người, đã được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi
của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu. Do cách tiếp cận, nghiên cứu khác
nhau, nên có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nhân lực.
Tiếp cận từ góc độ con người, nhân lực chính là “sức người” (khi đề cập ở
khía cạnh các hoạt động lao động sản xuất). Khi nhân lực được quan niệm là
sức người, nghĩa là nhân lực chính là những sức lao động, hay nhân lực là bộ
phận vị trí hàng đầu trong lực lượng sản xuất của nhân loại, sản xuất vật chất là điều
kiện tồn tại của nhân loại và lao động, con người cũng là nhân vật trung tâm của
quá trình lao động sản xuất.
Để có thể tiến hành các hoạt động lao động sản xuất thì tối thiểu phải có
tư liệu lao động, sức lao động và đối tượng lao động. Trong đó, sức lao động là
yếu tố đặc biệt quan trọng nhất, bởi vì đó là yếu tố tích cực, năng động, sáng tạo,
là nguồn lực có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất. Theo C.Mác: "Sức lao động
31
hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại
trong mọi cơ thể, trong mọi con người đang sống và được người đó đem ra vận
dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" [28]. Như định nghĩa này
của C.Mác thì sức lao động đã xuất hiện từ lâu, cùng với sự xuất hiện của con
người, từ khi con người biết tiến hành sản xuất để tạo ra tư liệu sinh hoạt cho bản
thân. Trải qua quá trình lâu dài, sức lao động ngày càng được hoàn thiện hơn, thể
hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ở mọi thời kỳ, mọi nơi có tiến
hành sản xuất đều có sự tồn tại của sức lao động. Theo cách hiểu này, sức lao
động không những là yếu tố cần có của sản xuất, mà còn phải phát triển phù hợp
với trình độ của sản xuất. Trong quá trình phát triển của sản xuất xã hội sức lao
động không ngừng được hoàn thiện, phát triển. Sự hình thành và phát triển của
kinh tế thị trường đã tạo ra những điều kiện mới cho sự phát triển của sức lao
động. So với những hàng hóa khác là yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất kinh
doanh, sức lao động ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn với tư cách là nguồn
lực quan trọng.
Theo quan niệm của Christan Batal, nhân lực là “năng lực làm việc gồm
các yếu tố cấu thành: Kiến thức; kỹ năng; thái độ - hành vi” [3]. Kiến thức là sự
nắm vững cách sử dụng các kiến thức thu nhận được trong một công việc nào
đó vào thực tế. Kỹ năng là sự nắm vững cách sử dụng công cụ, các kỹ thuật
hay các phương pháp cần thiết để thực hiện một hoạt động cụ thể nào đó nhằm
tăng hiệu lực và hiệu quả công việc. Trong công việc, thái độ hành vi là cách
hành động phù hợp để thực hiện một cấp độ việc làm cụ thể. Thái độ trong
công việc là cách suy nghĩ, cách ứng xử, ý thức trong công việc. Thái độ làm
việc ảnh hưởng đến tinh thần làm việc, xu hướng tiếp thu kiến thức trong quá
trình làm việc. Từ đó ta thấy, năng lực xuất phát từ con người tồn tại trong bản
năng của con người chứ không phải từ công việc. Năng lực như một tảng băng
chìm, phần nổi đó là những hành vi có thể quan sát được, phản ánh đó là khả
năng thái độ và các kiến thức, kỹ năng của cá nhân. Như vậy năng lực ít khi thể
32
hiện ra bên ngoài nhưng nó ảnh hưởng rất lớn đến sự hiểu biết. Năng lực khác
nhau thì kết quả công việc sẽ khác nhau. Do đó thông qua năng lực có thể đánh
giá hiệu quả công việc của người lao động.
Với tư cách là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, nhân lực không
phải là yếu tố bất biến mà luôn vận động thông qua sự không ngừng bổ sung,
phát triển về số lượng, hoàn thiện về chất lượng. Do đó, bên cạnh thuật ngữ
nhân lực thì thuật ngữ nguồn nhân lực cũng thường xuyên được sử dụng trong
nghiên cứu. Nhân lực và nguồn nhân lực những khái niệm gắn kết, có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau.
Các lý thuyết về nguồn nhân lực đều chỉ rõ mối quan hệ này.
Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), nguồn nhân lực là toàn
bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… do mọi cá
nhân sở hữu. Đầu tư cho con người là cơ sở vững chắc cho phát triển bền vững.
Đầu tư vào giáo dục có tỷ lệ thu hồi vốn cao so với các lĩnh vực khác.
Theo Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), nguồn nhân lực
là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy
động vào quá trình sản xuất, là nội lực xã hội của một quốc gia. Việt Nam
đang có NNL dồi dào, nếu biết khai thác hợp lý sẽ tạo ra động lực to lớn cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước… [17].
Theo các nhà khoa học Việt Nam, PGS.TS Phạm Văn Đức, trong tác
phẩm “Huy động sử dụng nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng
kinh tế Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2009” cho rằng: Nguồn lực con
người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động, đó không chỉ là
số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối
với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động.
Theo ý kiến TSKH. Phạm Minh Hạc: Nguồn lực con người được hiểu
là số lượng, chất lượng con người, bao gồm cả thể lực và tinh thần, sức khoẻ
và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [20].
33
Theo thuyết về vốn con người, đầu tư hợp lý vào phát triển nguồn nhân
lực sẽ mang lại nguồn lợi lớn hơn so với các nguồn lực khác như vốn, công
nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đất đai [6]. Và theo thuyết lao động xã hội,
nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất
và cho sự phát triển xã hội, do đó bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển
bình thường (trừ những người bị dị tật). Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là
khả năng lao động thực tế của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi
lao động đang tham gia vào quá trình sản xuất xã hội.
Như vậy, phổ biến trong quan niệm hiện nay nói đến nhân lực cũng là
nói tới nguồn nhân lực. Sự khác nhau chỉ ở nhân lực đề cập đến con người với
những tác động cụ thể đến cộng đồng để cộng đồng phát triển và trường tồn,
còn nguồn nhân lực đề cập đến nguồn lao động đó bao gồm toàn bộ những
người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nối tiếp.
Nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà
còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.
Đó cũng chính là sự thống nhất trong nội hàm của phạm trù nhân lực và
nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó, giữa hai phạm trù nhân lực và nguồn nhân lực cũng tồn
tại những khác biệt nhất định. Nhân lực phản ánh sự hiện có của yếu tố sức
lao động về số lượng, chất lượng, cơ cấu có thể sử dụng được ngay, do đó về
lượng có thể đo bằng số lượng người trong độ tuổi lao động trong danh sách
các đơn vị, cơ quan… còn nói về nguồn nhân lực là bao hàm cả những người
lao động tiềm năng sẽ gia nhập vào lực lượng này trong tương lai.
Như vậy, khi nói tới nhân lực, trước hết cần phải hiểu đó là toàn bộ
những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển
kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các
quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Con người đóng vai trò chủ động, là chủ
thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được
34
chọn. Do vậy, nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ
có, mà còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động,
thái độ và phong cách làm việc. Tất cả những yếu tố này thuộc về chất lượng
nhân lực và được đánh giá bằng một chỉ tiêu tổng hợp là văn hóa lao động. Cùng
với đó, khi nói tới nhân lực, thì cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo
và cơ cấu ngành nghề, cũng cần phải được coi là một chỉ tiêu quan trọng.
Nói tới nhân lực không thể bỏ qua phẩm chất đạo đức, nhân cách con
người. Trước đây, chúng ta thường chỉ hiểu về nhân lực đơn giản chỉ là sức
người với thể lực và trí lực của họ. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, cái đem lại lợi thế cho nhân lực ngoài thể lực và trí lực con người, còn
phải tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người. Do vậy, việc phát
triển nhân lực trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, ngoài việc quan
tâm thích đáng tới việc nâng cao cả mặt bằng lẫn tầm cao dân trí, tới việc bồi
dưỡng và nâng cao sức khỏe cho mỗi con người, cho cả cộng đồng xã hội,
chúng ta cần phải coi trọng việc xây dựng đạo đức, nhân cách lý tưởng cho
con người. Phát triển dân trí, nhân tài, nhân lực phải trên mẫu số chung là
nhân cách, phẩm chất đạo đức con người. Trình độ phát triển nhân cách, đạo
đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội của
nó, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã hội. Do
vậy giáo dục - đào tạo con người trong thời đại ngày nay phải theo hướng cân
đối giữa “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”, trong đó “dạy người” là mục tiêu
cao nhất như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.
Khác với các nguồn lực vật chất, tài chính, con người - nhân lực rất nhạy
cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn
ra tại môi trường nơi họ sống, làm việc, họ có thể tự quyết định và hành động theo
ý mình. Do đó, việc quản lý và sử dụng nhân lực khó khăn hơn nhiều so với quản
lý và sử dụng các nguồn lực vật chất và tài chính. Cổ nhân ta đã từng có câu:
“Dụng nhân như dụng mộc”, hay theo cách tư duy hiện nay trong việc sử dụng
nhân lực thì từ công việc để chọn người, không nên để người chọn công việc.
35
Theo quy định hiện hành thì lực lượng lao động bao gồm những người
trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động theo Bộ luật Lao động Việt Nam
nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi và trong một số trường
hợp cụ thể là đến hết 65 tuổi đối với nam, 60 tuổi đối với nữ.
2.1.1.2. Khái niệm về nhân lực hải quan
Nền kinh tế thị trường hiện đại là nền kinh tế thị trường có điều tiết,
quản lý vĩ mô của Nhà nước. Điều đó có nghĩa là, nền kinh tế chịu sự điều tiết
của thị trường và sự dẫn dắt thông qua sự điều tiết của Nhà nước (quản lý của
Nhà nước).
Quản lý nhà nước về kinh tế là hoạt động đa dạng, là hoạt động tổ chức
và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nước đối với các hoạt động kinh tế
của xã hội.
Vì nhà nước có chức năng điều tiết nên cần phải có đội ngũ nhân lực để
thực hiện công việc này, đội ngũ đó được gọi là nhân lực quản lý nhà nước.
Nhân lực quản lý nhà nước là một bộ phận nhân lực quản lý xã hội, nó có đặc
điểm của người lao động nói chung và những đặc thù của người cán bộ, công
chức - những người có khả năng lao động và đang tham gia lao động, thực
hiện chức năng quản lý nhà nước của mình.
Hải quan là một bộ phận của nhân lực quản lý nhà nước, có nhiệm vụ thực
hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận
chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối
với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến
nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan…
Để thực hiện quản lý nhà nước về hải quan thì cơ quan hải quan được
thành lập có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức với số lượng
cán bộ công chức vừa đủ về số lượng và chất lượng đảm bảo thực thi nhiệm
vụ của mình. Theo quy định của luật, chỉ có cán bộ lãnh đạo mới có quyền
quản lý hành chính nhưng trên thực tế công chức có thể trở thành chủ thể
36
quản lý khi có sự ủy quyền. Nhiều công chức được đại diện quyền lực nhà
nước trong công vụ như: thuế vụ, kiểm lâm, hải quan, cảnh sát giao thông…
Nhân lực hải quan là bộ phận cấu thành nhân lực xã hội. Đây là bộ
phận nhân lực làm việc trong ngành Hải quan, bao gồm: nhân lực tại các cơ
quan chức năng của khối cơ quan Tổng cục Hải quan, tại các Cục hải quan
tỉnh, thành phố, các chi cục, đội kiểm soát hải quan.
Do tính đặc thù về tính chất của công chức Hải quan và những yêu cầu
về tính chuyên nghiệp trong các bộ phận cấu thành nhân lực hải quan theo
quy định của pháp luật, nhân lực hải quan chỉ bao gồm những người làm công
tác chuyên môn về hải quan (bao gồm những công chức làm công tác lãnh
đạo quản lý, công chức tham mưu và công chức thực thi).
Nhân lực hải quan trước khi được tuyển dụng vào ngành đến từ các cơ
quan, doanh nghiệp, trường đại học, cơ sở đào tạo, dạy nghề bên ngoài nên
không có dự nguồn. Cán bộ công chức đến tuổi nghỉ theo chế độ thì không có
cơ chế làm việc theo dạng cố vấn, tư vấn… cũng sẽ không còn có liên quan
đến quá trình hoạt động quản lý nhà nước về hải quan.
Từ những trình bày trên, có thể hiểu: Nhân lực hải quan là bộ phận đặc
thù của nhân lực quản lý nhà nước với số lượng, chất lượng và cơ cấu cần
thiết, phù hợp với yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về
hải quan trong từng giai đoạn phát triển của quốc gia.
2.1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đại hóa hải quan
2.1.2.1. Hội nhập kinh tế quốc tế
* Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Sự phát triển của phân công lao động trên bình diện quốc tế, sự phát
triển của lực lượng sản xuất và sự phát triển của phân công lao động của mỗi
quốc gia đòi hỏi phải tiến hành hội nhập quốc tế.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đã thúc đẩy nhanh sự phát
triển của lực lượng sản xuất của mỗi quốc gia, cũng như trình độ phát triển
37
của phân công lao động trên bình diện quốc tế, tạo thành động lực thúc đẩy
quá trình hội nhập. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên
nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập đã trở
thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ
quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn
chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển.
Nếu xem xét hội nhập như là một quá trình xã hội có nội hàm toàn diện
và thường xuyên, vận động hướng tới mục tiêu nhất định, thì hội nhập quốc tế
được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự
trao đổi, hợp tác với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị,
nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật
chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử
dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập
ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế
kinh tế quốc tế khác. Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm
chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với
hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế. Có một thực tiễn đáng lưu ý là
trước khi thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” được đưa vào sử dụng, trong
tiếng Việt đã xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh tế quốc tế” và “nhất thể hóa
kinh tế quốc tế”. Cả ba thuật ngữ này thực ra được sử dụng để chỉ cùng một
khái niệm mà tiếng Anh gọi là “international economic integration”. Sự khác
biệt giữa chúng chủ yếu là cách dùng với hàm ý chính trị và lịch sử khác
nhau. Thuật ngữ “nhất thể hóa kinh tế quốc tế” được sử dụng chủ yếu trong
bối cảnh hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng
Tương trợ kinh tế (SEV) những năm 1970-1980.
Thuật ngữ “liên kết kinh tế quốc tế” được sử dụng khá nhiều khi nói về
hiện tượng phát triển các quan hệ kinh tế trên cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa
38
các nước không phải là xã hội chủ nghĩa trong những thập niên sau Chiến
tranh thế giới II, đặc biệt là trong khuôn khổ các tổ chức kinh tế khu vực như
Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EC), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội Mậu
dịch tự do châu Âu (EFTA), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Cộng
đồng Caribê và Thị trường chung (CARICOM), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc
Mỹ (NAFTA),... Trong thực tiễn sử dụng ở Việt Nam hiện nay, các thuật ngữ
“liên kết quốc tế” và “hội nhập quốc tế” có thể thay thế nhau và hầu như
không có sự khác biệt về ý nghĩa.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình phản ánh xu thế tất yếu của
xã hội loài người trước xu thế làn sóng toàn cầu hóa khi sự phát triển của lực
lượng sản xuất đã đạt tới trình độ cao nhất định, kéo theo sự phát triển tương
ứng của quan hệ kinh tế trên quy mô toàn cầu.
Đó là sự xóa bỏ những khác biệt về kinh tế giữa các nền kinh tế khác
nhau, là quá trình gắn kết nền kinh tế của một nước vào các tổ chức hợp tác
kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các thành viên quan hệ với nhau theo
các nguyên tắc, quy định chung. Sau chiến tranh thế giới thứ hai đã xuất hiện
các tổ chức như Liên minh châu Âu, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), Hiệp
định chung về thuế quan và thương mại (GATT). Từ những năm 1990 trở lại
đây, tiến trình này phát triển mạnh cùng với xu thế toàn cầu hoá đời sống kinh
tế, thể hiện ở sự xuất hiện của nhiều tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu.
Trước đây, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế chỉ được hiểu đơn thuần
là những hoạt động giảm thuế, mở rộng thị trường. Chẳng hạn, Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại suốt 38 năm ròng, qua 7 vòng đàm phán
cũng chỉ tập trung vào việc giảm thuế. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay
được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các
định chế kinh tế - tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá
thương mại, đầu tư bao gồm các lĩnh vực: (1) Đàm phán cắt giảm thuế quan,
tiến tới thực hiện thuế suất bằng 0 đối với hàng hoá xuất nhập khẩu; (2) Giảm
39
thiểu, tiến tới loại bỏ các hàng rào phi thuế quan gây cản trở đối với hoạt động
thương mại. Những biện pháp phi thuế phổ thông (như giấy phép, tiêu chuẩn
chất lượng, vệ sinh kiểm dịch...) cần được chuẩn mực hoá theo các quy định
chung của WTO hoặc các thông lệ quốc tế và khu vực khác; (3) Giảm thiểu
các hạn chế đối với thương mại, dịch vụ, tức là tự do hoá hiện nay có khoảng
12 nhóm dịch vụ được đưa vào đàm phán, từ dịch vụ tư vấn giáo dục, tin học
đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải...; (4)
Giảm thiểu các hạn chế đối với đầu tư để mở đường hơn nữa cho tự do hoá
thương mại; (5) Điều chỉnh chính sách quản lý thương mại theo những quy
tắc và luật chơi chung quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giao dịch
thương mại, như thủ tục hải quan, quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh
tranh... Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực hiện nay, việc điều chỉnh và hài
hoà các thủ tục hành chính liên quan đến giao dịch thương mại được gọi là
hoạt động thuận lợi hoá thương mại; (6) Triển khai các hoạt động hợp tác
kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm nâng cao năng lực của các nước trong quá trình
hội nhập.
Như vậy, có thể thấy hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay
không chỉ đơn thuần là giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan, mà đã
được mở rộng cho tất cả các lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế -
thương mại, nhằm mục tiêu mở rộng thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại
bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối với trao đổi thương mại quốc tế.
* Các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế
Để tạo thuận lợi thương mại trong quá trình hội nhập, đòi hỏi từng
ngành trong mỗi quốc gia trong đó có ngành hải quan phải chủ động tích cực
triển khai các cam kết ở các cấp độ khác nhau. Bởi vì, thực chất của hội nhập
là chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa. Trong lĩnh
vực hải quan đó là vấn đề quản lý hải quan hiện đại cùng với việc tham gia
sâu, rộng, hiệu quả vào các hoạt động hợp tác hải quan trong các tổ chức kinh
40
tế quốc tế và khu vực cũng như trong các khuôn khổ hợp tác giữa cơ quan hải
quan các nước. Để làm được điều đó, trước hết ngành hải quan phải nỗ lực tự
cải cách, phát triển để có vị thế tham gia vào các hoạt động hội nhập của cả
nước và trong lĩnh vực chuyên môn của mình.
Mức độ hội nhập được thực hiện ở các cấp độ đơn phương, song
phương và đa phương.
- Ở cấp độ đơn phương, mỗi nước tự mình thực hiện những biện pháp
mở cửa, tự do hóa trong những lĩnh vực nhất định có mục tiêu cụ thể. Trong
lĩnh vực Hải quan Việt Nam, hình thức này được thể hiện đặc biệt rõ trong
giai đoạn cải cách thủ tục hải quan 2011-2015, với những kết quả rất tích cực.
Ngành Hải quan được Chính phủ và công luận ghi nhận là một trong những
ngành đi đầu trong cải cách thủ tục hành chính.
- Ở cấp độ song phương, nhiều nước cùng đàm phán để ký với nhau
các hiệp định song phương trên cơ sở các nguyên tắc của khu mậu dịch tự do
hoặc ở mức độ nào đó của liên kết kinh tế quốc tế. Theo xu thế này, Hải quan
Việt Nam đã đàm phán và ký kết nhiều văn kiện hợp tác hải quan song
phương nhằm mục đích tạo thuận lợi cho quan hệ thương mại, đầu tư, du
lịch,… giữa hai nước thông qua các biện pháp phối hợp nghiệp vụ hải quan,
qua xác định các chuẩn mực nghiệp vụ hải quan chung cần hướng tới.
- Ở cấp độ đa phương, nhiều nước cùng nhau thành lập hoặc tham gia
vào các định chế, tổ chức kinh tế khu vực hoặc toàn cầu. Nhìn chung, các
định chế, tổ chức kinh tế khu vực ngày nay thường vận hành trên cơ sở các
nguyên tắc nền tảng của WTO (ký kết và tham gia các định chế và tổ chức
kinh tế quốc tế; tiến hành các công việc cần thiết ở từng nước để bảo đảm đạt
được mục tiêu của quá trình hội nhập và thực hiện các quy định về hội nhập).
* Các mô hình hội nhập liên quan đến hải quan
Về vấn đề hội nhập và những vấn đề liên quan đến hải quan, theo tài
liệu của Tổ chức Hải quan thế giới và dựa trên 5 mô hình hội nhập từ thấp đến
cao do lý thuyết gia kinh tế Anh Balassa đưa ra, đó là:
41
Khu vực mậu dịch tự do (FTA-Free Trade Area): Đây là giai đoạn thấp
nhất của tiến trình hội nhập kinh tế. Ở giai đoạn này, các nền kinh tế thành
viên tham gia khu vực mậu dịch tự do thực hiện giảm thiểu thuế quan cho
nhau. Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy thương mại
giữa các nước thành viên. Những hàng rào phi thuế quan cũng được giảm
bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn. Hàng hoá và dịch vụ được di chuyển tự do giữa
các nước. Tuy nhiên khu vực mậu dịch tự do không quy định mức thuế
quan chung áp dụng cho những nước ngoài khối, thay vào đó từng nước
thành viên vẫn có thể duy trì chính sách thuế quan khác nhau đối với những
nước không phải là thành viên. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều khu vực
mậu dịch tự do, đó là khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA), khu
vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), khu vực mậu dịch tự do Trung Mỹ,
Hiệp hội thương mại tự do Mỹ La tinh (LAFTA)... là những hình thức cụ thể
của khu vực mậu dịch tự do.
Liên minh thuế quan: Đây là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình hội
nhập. Tham gia vào liên minh thuế quan, các thành viên phải thống nhất lãnh
thổ hải quan, ngoài việc hoàn tất việc loại bỏ thuế quan là các hạn chế về định
lượng trong thương mại nội khối, cũng phải cùng nhau thực hiện một chính
sách thuế quan chung đối với các nước ngoài khối. Hiệp định chung về
thương mại và thuế quan (GATT) và bây giờ là Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) là hình thức cụ thể của loại hình liên kết này. Hay nhóm ANDEAN và
liên minh thuế quan giữa cộng đồng kinh tế châu Âu, Phần Lan, Áo, Thụy
Điển… là những ví dụ điển hình.
Thị trường chung: Thị trường chung có những đặc trưng cơ bản của
liên minh thuế quan, thị trường chung không có những cản trở về thương mại
giữa các nước trong cộng đồng, các nước thoả thuận xây dựng chính sách
buôn bán chung với các nước ngoài cộng đồng. Các yếu tố của sản xuất như
lao động, tư bản và công nghệ được di chuyển tự do giữa các nước. Các hạn
42
chế về nhập cư, xuất cư và đầu tư giữa các nước bị loại bỏ. Các nước chuẩn bị
cho hoạt động phối hợp các chính sách về tiền tệ, tài khoá và việc làm.
Đồng minh tiền tệ: Hình thức liên kết này trên cơ sở các nước phối hợp
các chính sách tiền tệ với nhau, thoả thuận về dự trữ tiền tệ cũng như phát
hành đồng tiền tập thể. Trong đồng minh tiền tệ, các nước thống nhất hoạt
động của các ngân hàng Trung ương, đồng thời thống nhất hoạt động của các
giao dịch với các tổ chức tiền tệ và tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng thế giới (WB).
Liên minh kinh tế: Đây là mô hình liên minh ở hình thức cao nhất của
hội nhập kinh tế. Liên minh kinh tế được xây dựng trên cơ sở các nước thành
viên thống nhất thực hiện các chính sách thương mại, tiền tệ, tài chính và một
số chính sách kinh tế - xã hội chung giữa các thành viên với nhau và với các
nước ngoài khối. Như vậy, ở liên minh kinh tế, ngoài việc các luồng vốn,
hàng hoá, lao động và dịch vụ được tự do lưu thông ở thị trường chung, các
nước còn tiến tới thống nhất các chính sách quản lý kinh tế - xã hội, sử dụng
chung một đồng tiền. Ngày nay Liên minh châu Âu đang hoạt động theo
hướng này.
Diễn đàn hợp tác kinh tế: Đây là hình thức mới của hội nhập kinh tế
quốc tế, ra đời vào những năm 1980 trong bối cảnh chủ nghĩa khu vực có xu
hướng co cụm. Tiêu biểu cho hình thức này là Diễn đàn hợp tác kinh tế châu
Á - Thái Bình Dương - APEC (ra đời 1989) và diễn đàn hợp tác Á - Âu -
ASEM (ra đời 1996). Đặc trưng của các diễn đàn này là tiến trình đối thoại
với những nguyên tắc linh hoạt và tự nguyện để thực hiện tự do hoá và thuận
lợi hoá thương mại, đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tự do hoá
trên bình diện toàn cầu.
Thỏa thuận thương mại: Các bên tham gia ký kết thỏa thuận với nhau
nhằm tạo thuận lợi cho phát triển thương mại như cắt giảm một phần, từng
phần thuế quan với mức độ và định lượng hạn chế theo ngành hàng, nhóm
43
mặt hàng chiến lược.Ví dụ thỏa thuận thương mại ưu đãi ASEAN (PTA) ký
1997 (hải quan theo dõi qua xuất xứ hàng hóa và thực hiện đơn giản hóa thủ
tục hải quan ở mức độ nhất định), thỏa thuận giữa Mỹ và Canada trong lĩnh
vực ôtô trong những năm 1970 (hải quan theo dõi qua xuất xứ hàng hóa và
các loại hạn ngạch định lượng).
Các hình thức hội nhập nêu trên đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến hoạt động nghiệp vụ hải quan hiện đại, đó là chính sách tạo thuận lợi,
giấy phép nhập khẩu, công tác quản lý thuế, ưu đãi về thuế, chính sách tiền tệ,
chứng từ thanh toán, đồng tiền thanh toán. Qua đó để có thể tạo thuận lợi,
chấp nhận trong thực hiện thủ tục thông quan hành hóa và quản lý nhà nước
về hải quan theo thông lệ quốc tế thì nhân lực hải quan phải được nâng cao về
chất lượng đáp ứng theo yêu cầu hội nhập phát triển.
2.1.2.2. Hiện đại hóa hải quan
* Khái niệm về hiện đại hóa hải quan
Hoạt động hải quan là hoạt động quản lý nhà nước đặc thù về quan hệ
kinh tế đối ngoại của quốc gia trong từng thời kỳ phát triển; theo sự phát triển
của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế quan hệ kinh tế đối ngoại từng bước được
thực hiện theo thông lệ quốc tế với công nghệ ngày càng hiện đại.
Công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan
(Công ước Kyoto) quy định: Cơ quan hải quan phải áp dụng công nghệ thông
tin hỗ trợ các hoạt động hải quan để mang lại hiệu quả cho hoạt động hải quan
cũng như cho doanh nghiệp XNK. Chiến lược thế kỷ XXI của Tổ chức Hải
quan thế giới (WCO) là kết nối Hải quan các nước trên thế giới. Những quy
định về hiện đại hóa hải quan cũng đã được cụ thể tại văn bản quy phạm pháp
luật của mỗi nước, đồng thời cũng phải phù hợp với các điều ước, Công ước
quốc tế.
Để thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các cam kết quốc tế liên quan đến
hải quan, Hải quan Việt Nam xác định rõ, có tính trọng tâm xuyên suốt của
44
ngành đó là cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan. Công tác này của
ngành Hải quan đã sớm được triển khai từ năm 2004 đến nay thể hiện bằng
các chiến lược, kế hoạch của Chính phủ, Bộ Tài chính. Khái niệm về hiện đại
hóa hải quan không phải là mới nhưng nó được hoàn thiện theo từng giai đoạn
hội nhập, phát triển. Vì vậy, nhân lực hải quan Việt Nam cũng bắt buộc phải
nâng cao, phát triển cho phù hợp với nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới.
Luật Hải quan năm 2014, Điều 8, quy định: Nhà nước ưu tiên đầu tư
thiết bị kỹ thuật, phương tiện hiện đại, công nghệ tiên tiến để bảo đảm hiệu
quả quản lý hải quan; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển công
nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản
lý hải quan hiện đại. Tổ chức, cá nhân hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu có
trách nhiệm tham gia xây dựng, thực hiện giao dịch điện tử và thủ tục hải
quan điện tử.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động hải quan các quốc gia đều phải
không ngừng hoàn thiện và hiện đại hóa; thống nhất quan điểm hiện đại hóa
hải quan là một quá trình với những nội dung hết sức cụ thể theo từng giai
đoạn. Bên cạnh đó, để đánh giá được mức độ hiện đại hóa của hải quan thì rất
cần đưa ra một bộ tiêu chí đánh giá.
* Xu hướng tất yếu hiện đại hóa hải quan
Tổ chức hải quan Thế giới được lập ra nhằm thực hiện vai trò: (1) Tạo
nguồn thu; (2) Bảo vệ cộng đồng; (3) An ninh và thuận lợi hoá; (4) Tạo lập cơ
sở dữ liệu hàng hoá.
Sức mạnh của WCO phát triển dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm và
hướng tới hành động. WCO tin tưởng quy trình thủ tục quản lý minh bạch và
có thể thẩm tra được. WCO hỗ trợ các nước thành viên và đối tác về thương mại
và xã hội. WCO tận dụng các lợi thế về công nghệ và đổi mới.
Mục tiêu chiến lược của WCO: (1) Hợp tác quốc tế và chia sẻ thông
tin; (2) Phát triển các chuẩn mực quốc tế thủ tục hải quan; (3) Hỗ trợ tăng
45
cường năng lực; (4) Y tế cộng đồng, an ninh và bảo vệ cộng đồng; (5) An
ninh và thuận lợi thương mại quốc tế và chuỗi cung ứng; (6) Tạo nguồn thu
hải quan; (7) Quảng bá WCO; (8) Nghiên cứu và phân tích; (9) Quản trị tốt và
tận dụng hiệu quả nguồn lực [43].
Chiến lược Hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới trong thế kỷ 21 dựa
trên các trụ cột chính: (1) Phát triển mạng lưới hải quan toàn cầu; (2) Quản lý
biên giới hiệu quả (CBM); (3) Quản lý rủi ro dựa trên thông tin tình báo; (4)
Quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp; (5) Triển khai các phương pháp
làm việc hiện đại; (6) Phát triển, ứng dụng công nghệ và giao diện; (7) Áp
dụng luật, quy định; (8) Quy tắc nghề nghiệp, dịch vụ hải quan dựa trên tri
thức; (9) Tăng cường năng lực; (10) Liêm chính hải quan.
* Tiêu chuẩn hiện đại hóa hải quan
Hiện đại hóa hải quan là quá trình nâng tầm quản lý nhà nước về hải
quan lên mức tiên tiến, hiện đại so với chuẩn mực của khu vực và quốc tế.
Mặc dù hiện tại mô hình hải quan hiện đại vẫn chưa được chấp nhận
rộng rãi trên thế giới, song cộng đồng hải quan quốc tế vẫn cho rằng tất cả các
hoạt động xây dựng năng lực hải quan đều cần phải tập trung vào việc nâng
cao tính hiệu quả trong hoạt động hải quan xét về từng nguyên tắc chủ yếu
được vạch ra trong Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999. Theo đó 13 vấn đề đã
được xác định có thể khái quát các tiêu chuẩn hiện đại hóa hải quan trên các
vấn đề sau: (1) Liêm chính: Các cơ quan Hải quan cần loại bỏ tệ nạn tham
nhũng và cố gắng giữ được mức độ trong sạch cao nhất; (2) Minh bạch: Các
qui định, luật Hải quan, các thủ tục và văn bản hướng dẫn hành chính cần
phải công khai và cung cấp cho khách hàng một cách dễ tiếp cận nhất; (3)
Mức độ giải trình trách nhiệm: Các cơ quan hải quan cần phải chịu trách
nhiệm về những hoạt động của mình thông qua một qui trình quản lý và/ hay
rà soát về pháp luật một cách dễ tiếp cận và minh bạch; (4) Khả năng dự
đoán: Các qui định, điều luật, các văn bản hướng dẫn và thủ tục Hải quan cần
46
được áp dụng một cách đồng bộ và có định ổn định; (5) Tạo thuận lợi và
Kiểm soát: Trong khi đảm bảo thi hành các qui định và điều luật hải quan thì
các cơ quan Hải quan cần cố gắng tạo thuận lợi cho quá trình xử lý và thông
quan thương mại hợp pháp thông qua quản lý rủi ro; (6) Dịch vụ khách hàng:
Các cơ quan hải quan cần tiếp tục cố gắng nâng cao chất lượng phục vụ khách
hàng; (7) Tiêu chuẩn hoá: Các qui định, điều luật, các văn bản hướng dẫn và
thủ tục hải quan cần phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; (8) Đơn giản hoá: Các
qui định, điều luật các văn bản hướng dẫn và thủ tục hải quan cần đơn giản
hoá những lĩnh vực có thể để việc thông quan hải quan diễn ra không chậm
trễ; (9) Can thiệp tối thiểu: Các cơ quan hải quan cần áp dụng hệ thống quản
lý rủi ro hiệu quả và kiểm soát bằng phương pháp kiểm toán nhằm xác định
các hoạt động, đối tượng, hàng hoá, vận chuyển rủi ro cao đồng thời hạn chế
mức độ can thiệp Hải quan; (10) Công nghệ thông tin và liên lạc: Các cơ quan
hải quan cần tận dụng tối đa công nghệ thông tin và liên lạc nhằm tạo thuận
lợi cho việc thông qua các nguyên tắc đã vạch ra trong Công ước Kyoto có
sửa đổi; (11) Hợp tác và quan hệ hợp tác: Hải quan cần nỗ lực triển khai các
mối quan hệ hợp tác với các cơ quan hữu quan bao gồm cơ quan chính phủ,
khu vực tư nhân, và các cơ quan hải quan khác; (12) Tiếp tục cải thiện: Hải
quan cần thiết lập các tiêu chuẩn hoạt động và thực hiện các hệ thống và thủ
tục nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất của tất cả các qui trình nghiệp vụ;
(13) Nâng cao sự tuân thủ: Hải quan cần phối hợp với khách hàng để hỗ trợ
họ nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện. Bên cạnh đó mọi nỗ lực cải cách và
hiện đại hoá hải quan cần tập trung vào việc thiết lập, hoặc nâng cao năng lực
quản lý và năng lực hành chính của các cơ quan Hải quan.
* Nội dung hiện đại hóa hải quan
Với mục tiêu đưa công tác quản lý nhà nước về hải quan đáp ứng được
yêu cầu hội nhập, phát triển, vì vậy, nhiệm vụ lực lượng hải quan là hiện đại
hóa một cách có chiến lược bên cạnh giải pháp cải cách thường xuyên, liên
tục các thủ tục hành chính và quy trình nghiệp vụ.
47
Nội dung hiện đại hóa của hải quan được pháp luật về hải quan quy
định ở một số vấn đề lớn, mang tính định hướng, đó là: Xây dựng, hoàn thiện
thể chế; cải cách thủ tục hành chính; phát triển nhân lực phù hợp với quá trình
hiện đại hóa; đầu tư trang bị máy móc, ứng dụng công nghệ hiện đại.
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế:
Xây dựng hệ thống pháp luật hải quan theo hướng hiện đại, đồng bộ,
tuân thủ chủ trương về cải cách thủ tục hành chính và các chuẩn mực, cam kết
quốc tế. Nhằm tăng cường tính minh bạch, khuyến khích người dân, doanh nghiệp
tuân thủ pháp luật nói chung và các quy định tại văn bản pháp luật hải quan.
- Cải cách thủ tục hành chính hải quan
Thủ tục và chế độ quản lý hải quan phải đơn giản, tự động hóa và hài
hòa hóa và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Qua đó nhằm giảm chi
phí, giảm thời gian, tăng cường tính cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp
trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
- Phát triển nhân lực phù hợp với quá trình hiện đại hóa
Đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng công chức đáp ứng yêu cầu cải
cách hiện đại hóa và cơ cấu tổ chức bộ máy hợp lý. Nhân lực hải quan là yếu
tố quan trọng, quyết định đến sự thành công hay thất bại của công cuộc cải
cách, phát triển, hiện đại hóa hải quan, hội nhập kinh tế của mỗi quốc gia.
- Đầu tư trang bị máy móc, ứng dụng công nghệ hiện đại
Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hải quan hiện đại trên nền tảng
tập trung hoá xử lý dữ liệu, tích hợp đầy đủ các chức năng nghiệp vụ hải quan
cơ bản. Tạo thuận lợi trong quá trình khai báo hải quan, tăng tính chính xác và
xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, thực hiện cam kết trong quá trình hội nhập
kết nối với các nước trong khu vực.
2.1.3. Đặc điểm nhân lực hải quan
Nhân lực quản lý nhà nước với tư cách là một bộ phận của nhân lực xã
hội. Vì vậy nó được thể hiện một cách rất chung của nhân lực nói chung theo
48
quy định của nhà nước như về thể lực, trí lực và tâm lực thì nó có một số đặc
điểm riêng của nhân lực quản lý nhà nước như:
Một là, tính nghề nghiệp (career). Tính nghề nghiệp thể hiện ở việc công
chức thực hiện thường xuyên một công vụ theo nghiệp vụ chuyên môn mà công
chức đó đảm nhiệm (kế toán, kiểm toán, văn thư...); cán bộ, công chức thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành dọc sẽ ít có cơ hội thay đổi vị trí, môi
trường công tác hơn so với những lao động ở ngoài lĩnh vực quản lý nhà nước.
Hai là, tính thứ bậc. Công chức được chia thành những bậc hạng khác
nhau tuỳ theo tính chất, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ của công việc và
được bổ nhiệm vào vị trí công tác theo thứ bậc đó (Chuyên gia, chuyên viên
cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên,…).
Ba là, nguồn thu nhập chủ yếu là lương do nhà nước trả. Vì công chức
thực thi công vụ nhà nước do vậy được hưởng lương từ ngân sách của nhà
nước. Đặc điểm này giúp ta phân biệt công chức với những người làm việc ở
các doanh nghiệp và khu vực tư nhân hưởng lương không do nhà nước chi trả.
Nhân lực hải quan là một bộ phận cấu thành nhân lực quản lý nhà nước.
Nó có đặc điểm chung của nhân lực quản lý nhà nước và lại còn có một số
đặc điểm riêng như sau:
Một là, nhân lực hải quan là một bộ phận nhân lực có yêu cầu cao về
tính chuyên biệt, đòi hỏi phải được đào tạo và bồi dưỡng kỹ lưỡng;
Hải quan là ngành công tác thuộc lĩnh vực gắn liền với hoạt động
thương mại quốc tế, trực tiếp tác động đến sự phát triển, tính ổn định của các
hoạt động kinh tế. Bởi vậy, ngành này đòi hỏi các cán bộ, công chức Hải quan
phải tinh thông nghiệp vụ, nắm vững pháp luật không chỉ pháp luật trong
nước mà cả những điều ước quốc tế. Do đó, nếu không được đào tạo và bồi
dưỡng kỹ lưỡng họ sẽ khó có thể hoàn thành có chất lượng và hiệu quả các
nhiệm vụ được giao; một bộ phận hải quan được giao nhiệm vụ như kiểm
toán viên trong hoạt động kiểm tra sau thông quan, cán bộ tính, thu thuế cho
49
ngân sách nhà nước, hay hoạt động như lực lượng công an, quản lý thị trường
trong công tác phòng chống buôn lậu, chống gian lận thương mại, hàng giả,
hàng nhái, hàng kém chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hai là, trong điều kiện cơ chế thị trường, do nhiệm vụ và quyền năng
được giao, nhân lực hải quan là bộ phận có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với
tiền bạc nên dễ bị chi phối bởi những lợi ích riêng, làm phương hại đến lợi ích
chung, nếu không được giáo dục kỹ lưỡng và rèn luyện thường xuyên về
phẩm chất nhân cách.
Hải quan là ngành công tác gắn liền với các hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa, đến hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, nghĩa
là liên quan trực tiếp đến các hoạt động kinh tế. Trong kinh tế thị trường,
các hoạt động kinh tế gắn bó hết sức chặt chẽ đến quyền lợi ích kinh tế của
nhà kinh doanh đồng thời cũng gắn liền với những hành động làm ăn bất
chính theo kiểu vì lợi ích riêng của cá nhân, làm phương hại đến lợi ích
quốc gia. Đã có những hiện tượng cán bộ, công chức Hải quan bị tiền bạc
cám dỗ mà tiếp tay cho các hoạt động gian lận thương mại trốn thuế và
buôn lậu, dính vào vòng lao lý.
Hiện tượng đó không chỉ cá nhân cán bộ, công chức Hải quan chịu tù
đầy, ảnh hưởng tới cuộc sống của gia đình và tương lai của con cái họ; mà lớn
hơn là những việc làm đó gây ra những hậu quả cho sự vận hành thông thoáng
và phát triển của đời sống kinh tế đất nước. Do đó, thực tiễn đòi hỏi ở những
cán bộ, công chức Hải quan không chỉ có trí tuệ mà còn phải có tâm sáng,
trung thực, một lòng một dạ vì sự phát triển của đời sống kinh tế đất nước mà
không bị vấy bẩn bởi tiền bạc.
Ba là, nhân lực hải quan là lực lượng đại diện cho pháp luật và văn hóa
quốc gia trong quan hệ với các đối tác nước ngoài, đòi hỏi phải vừa có tâm, có
tầm và có trí để các nhà kinh doanh nước ngoài có thiện cảm và quyết tâm
theo đuổi các quan hệ kinh tế với nước nhà.
50
Các nhà kinh doanh nước ngoài không chỉ có ấn tượng với các nhà kinh
doanh xuất nhập khẩu trực tiếp đưa hàng hóa của họ vào trong nước, có ấn
tượng tốt đẹp hay ngược lại về con người và văn hóa trong nước khi quan hệ
làm việc với cán bộ hải quan, mà còn liên quan đến lợi ích kinh tế của họ liên
quan đến lô hàng hóa đó. Nếu cán bộ hải quan làm việc cứng nhắc, tắc trách
hoặc vô trách nhiệm, dẫn đến gây hậu quả làm tổn thất về mặt kinh tế cho họ,
thì hình ảnh con người và văn hóa đất nước sẽ bị nhìn méo mó, lệch lạc. Tệ
hại hơn, nếu vì vậy mà họ cắt đứt các mối quan hệ kinh tế, làm ăn với doanh
nghiệp trong nước thì hệ quả xấu đối với nền kinh tế là khó lường.
2.1.4. Vai trò của nhân lực để hiện đại hóa hải quan
2.1.4.1. Là yếu tố đảm bảo tính liên tục, hiệu quả trong quá trình
hiện đại hóa hải quan
Với vai trò quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan. Cán bộ, công chức
Hải quan thực hiện theo những thủ tục hành chính hải quan được cấp có thẩm
quyền ban hành. Các thủ tục hành chính này được thường xuyên rà soát, sửa
đổi, giảm bớt để nhằm mục đích đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện.
Bên cạnh đó, trong quá trình làm thủ tục cho hàng hóa xuất nhập khẩu
thì cơ quan Hải quan thường xuyên chủ động phối hợp, hợp tác với rất nhiều
các lực lượng chức năng, cơ quan quản lý chuyên ngành để thông quan hàng
hóa nhanh chóng, đúng quy định, giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.
Trong quá trình đấu tranh phòng chống buôn lậu, chống gian lận
thương mại, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, cơ quan hải quan đã
ký kết thỏa thuận với nhiều lực lượng quản lý nhà nước như: Tổng cục cảnh
sát, Tổng cục an ninh, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối
cao, lực lượng biên phòng, quản lý thị trường…
2.1.4.2. Là người tính thuế xuất nhập khẩu và đề xuất các chính sách
đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước trong quá trình hiện đại hóa hải quan
Hiện nay ngân sách của chúng ta chủ yếu là từ nguồn thu thuế, trong đó
thuế XNK chiếm khoảng 28-30% tổng ngân sách nhà nước. Theo kế hoạch và
51
định kỳ hàng năm, Ngành Hải quan sẽ báo cáo Bộ Tài chính, báo cáo Chính phủ,
Quốc hội số thu và dự kiến thu để hoạch định chính sách chung cho quốc gia.
Để tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng, chính xác cho người nộp thuế,
Tổng cục Hải quan đã chủ động phối hợp với Kho bạc Nhà nước, các ngân
hàng thương mại triển khai chương trình nối mạng trực tuyến.
2.1.4.3. Là lực lượng quyết định trong ứng dụng các thành tựu khoa học,
kỹ thuật, công nghệ trang thiết bị hiện đại hỗ trợ cho quá trình thông quan
hàng hóa, kiểm tra, giám sát hải quan trong quá trình hiện đại hóa hải quan
Để phục vụ cho công tác thông quan hàng hóa, công tác kiểm tra sau
thông quan, công tác xử lý vi phạm và công tác phòng chống buôn lậu, chống
gian lận thương mại một cách nhanh chóng, chính xác thì cần phải ứng dụng,
vận hành thành thạo các trang thiết bị, công nghệ hiện đại.
Đây cũng là điều kiện bắt buộc trong quá trình hội nhập và phát
triển. Doanh nghiệp hoạt động XNK luôn vận động theo cơ chế thị trường,
lãnh đạo doanh nghiệp đều là những nhà kinh doanh giỏi, có rất nhiều kinh
nghiệm về hàng hóa và đòi hỏi ngày càng cao từ phía cơ quan Hải quan,
bởi vậy, phải nâng cao kiến thức vận hành, khai thác, sử dụng các trang
thiết bị công nghệ hiện đại để kiểm tra xác định trị giá, mã số hàng hóa…
một cách chính xác nhằm thu đúng, thu đủ thuế và tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh, công bằng.
2.1.4.4. Là lực lượng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hóa, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư,
du lịch nước ngoài trong quá trình hiện đại hóa hải quan
Quá trình làm thủ tục hải quan, thông quan hàng hóa nhanh chóng đã
góp phần vào việc thực hiện thanh khoản các hợp đồng mua bán được ký kết
giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, tăng cơ hội xuất khẩu và nhập
khẩu hàng hóa, tăng kim ngạch và nguồn vốn từ nước ngoài. Từ đó có thêm
các nhà đầu tư nước ngoài vào trong nước để tìm hiểu cơ hội, quyết định đầu
tư, mở cơ quan đại diện tại mỗi nước.
52
Là người kiểm tra hành lý đối với khách xuất nhập cảnh, công chức Hải
quan đã thường xuyên đề cao cảnh giác để đấu tranh ngăn chặn nhiều vụ vận
chuyển ma túy, vũ khí nóng thâm nhập vào nội địa và nhiều vụ vận chuyển đồ
cổ ra nước ngoài. Bên cạnh đó công chức Hải quan đã phối hợp với Biên
phòng, an ninh cửa khẩu đề xuất bỏ khai báo tờ khai xuất nhập cảnh đối với
đối tượng có định mức không phải khai báo; tích cực, nhanh chóng làm thủ
tục hoàn thuế trị giá gia tăng (VAT) cho khách nước ngoài mua hàng trong
nước trước khi xuất cảnh.
2.2. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN
2.2.1. Hệ thống tiêu chí đánh giá nhân lực đáp ứng yêu cầu hiện đại
hóa hải quan
Phương pháp nhận diện về một sự vật, hiện tượng nào đó trong thực
tiễn bằng hệ thống các tiêu chí xây dựng trước được sử dụng ngày càng phổ
biến hiện nay. Tiêu chí (Criterian), hiểu theo nghĩa thông thường là dấu hiệu
làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, hiện tượng nào đó. Nhận diện
nhân lực hải quan đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trong quá
trình hội nhập quốc tế tuy là vấn đề có nội dung mang tính trừu tượng cao với
nhiều khía cạnh rất phức tạp, nhưng hoàn toàn có thể làm được điều đó nếu
xác định được các tiêu chí đúng. Vì vậy, có thể và cần thiết nhận diện nhân
lực hải quan đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trong quá trình
hội nhập quốc tế bằng hệ thống tiêu chí xác định.
Để xác định tiêu chí, cần căn cứ vào nội dung các vấn đề cần nhận diện,
xây dựng thành các tiêu chí hoặc các nhóm tiêu chí nhất định. Mỗi tiêu chí có
thể gồm một, hoặc một số chỉ số cụ thể, chúng hợp thành “bộ thước” đo để
xem xét, nhận diện hoặc đánh giá đối với vấn đề cần nghiên cứu. Về nguyên
tắc, nội dung các tiêu chí phải phản ánh được tất cả những vấn đề cấu thành
nhân lực hải quan đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa. Và cũng những tiêu chí đó sẽ
53
được sử dụng trong đánh giá thực trạng nhân lực hải quan hiện nay có đáp
ứng yêu cầu hiện đại hóa ngành Hải quan Việt Nam trong hội nhập quốc tế
hay không?
Từ nhận thức về nội hàm khái niệm nhân lực hải quan Việt Nam và
nội hàm khái niệm hiện đại hóa hải quan, nội hàm khái niệm hội nhập quốc
tế đã trình bày, có thể xác định bộ tiêu chí nhận diện nhân lực hải quan
Việt Nam đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa ngành hải quan bao gồm những
nhóm tiêu chí dưới đây:
2.2.1.1. Nhóm tiêu chí đánh giá số lượng, chất lượng, cơ cấu nhân
lực đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
Chủ trương hiện đại hóa hải quan đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
được Chính Phủ, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan chỉ đạo tiến hành từ năm
2004, nhằm thực hiện Chiến lược thế kỷ XXI của Tổ chức Hải quan thế giới
(WCO) được xác lập trên cơ sở Công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà
hoá thủ tục hải quan (Công ước Kyoto). Bắt đầu từ năm 2004, trong công tác
nhân lực của mình, ngành Hải quan đã gắn kết quá trình xây dựng, phát triển
đội ngũ cán bộ, công chức của mình hướng vào thực hiện mục tiêu kép: vừa
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật; vừa đáp ứng
yêu cầu hiện đại hóa hải quan để hội nhập quốc tế. Hệ thống các nhóm tiêu chí
đánh giá nhân lực Hải quan trình bày dưới đây thể hiện theo tình thần của mục
tiêu kép đó - sự tích hợp giữa yêu cầu nhiệm vụ được giao theo quy định của
pháp luật với yêu cầu hiện đại hóa hải quan để hội nhập quốc tế.
* Tiêu chí thứ nhất, ngành Hải quan phải có đủ nhân lực về mặt số
lượng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
Số lượng nhân lực là yếu tố căn bản nói lên sự tương thích giữa khối
lượng công việc và quy mô nhân lực. Số lượng nhân lực ngành Hải quan Việt
Nam có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thành chức năng nhiệm vụ của
ngành đã được xác định.
54
Nhận diện nhân lực hải quan về số lượng là việc các chủ thể có liên
quan phải bảo đảm cho các tổ chức hợp thành ngành Hải quan có một số
lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu của ngành Hải quan trong việc thực hiện
không chỉ chức năng, nhiệm vụ được giao ở những thời kỳ, giai đoạn cụ thể
nhất định theo các chương trình, kế hoạch đã được vạch ra trước đó, mà còn
đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng của nền kinh tế đất nước.
Nội hàm của nhận diện nhân lực hải quan đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa
của ngành Hải quan bao gồm:
Một là, số lượng nhân lực là lãnh đạo từ cấp Vụ, Cục trở lên, gồm Lãnh
đạo Tổng cục, lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục và tương đương tại Tổng cục và
Cục hải quan địa phương.
Hai là, số lượng nhân lực là lãnh đạo cấp phòng thuộc khối cơ quan
Tổng cục, cấp phòng thuộc Cục hải quan địa phương, lãnh đạo Chi cục, lãnh
đạo Đội kiểm soát hải quan.
Ba là, số lượng nhân lực là cán bộ công chức không giữ cương vị lãnh
đạo thuộc khối cơ quan Tổng cục, Cục hải quan địa phương, lãnh đạo Đội và
cán bộ công chức thuộc chi cục, lãnh đạo Tổ và cán bộ công chức thuộc Đội
kiểm soát hải quan.
Việc bảo đảm đủ số lượng nhân lực các khối đã nêu trên đòi hỏi không
thể có số lượng mang tính hình thức mà số lượng đó phải hướng đến các yêu
cầu hiện đại hóa hải quan.
Ở Việt Nam, việc xác định biên chế cho cơ quan, tổ chức hành chính
nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp theo Nghị định số 21/2010/NĐ-CP
ngày 8/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức và Thông tư số
07/2010/TT-BNV hướng dẫn thực hiện Nghị định số 21/2010/NĐ-CP, Nghị
định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và
cơ cấu ngạch công chức và Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013
55
hướng dẫn thực hiện Nghị định 36/2013/NĐ-CP, đó là theo: Phương pháp
định biên, phương pháp tính theo định mức lao động (sản phẩm và thời gian
hao phí lao động), phương pháp thống kê kinh nghiệm, phương pháp bình
quân gia quyền, phương pháp tổng hợp.
Hiện nay, Tổng cục Hải quan đang thí điểm áp dụng phương pháp xác
định biên chế tổng hợp theo vị trí việc làm được thực hiện trên cơ sở kết quả
xác định vị trí việc làm, sản phẩm và thời gian hao phí lao động của vị trí việc
làm, kết quả công việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của đơn vị, gọi là
phương pháp xác định biên chế trên cơ sở sản phẩm và thời gian lao động hao
phí (sau đây gọi là phương pháp định biên theo thời gian hao phí) kết hợp với
cách thức tính toán biên chế đối với nhóm vị trí việc làm đặc thù (có sử dụng
phương pháp định biên tối thiểu) và một số công việc đã được thủ trưởng đơn
vị quy định thời gian hao phí lao động phải thực hiện (sau đây gọi tắt là
phương pháp xác định biên chế theo vị trí việc làm).
Căn cứ danh mục vị trí việc làm của Tổng cục Hải quan và thực tế hoạt
động của đơn vị, để phù hợp với các phương pháp tính toán biên chế, các vị
trí việc làm này được phân làm 02 loại nhóm, cụ thể:
(1) - Nhóm vị trí việc làm đặc thù gồm:
+ Nhóm vị trí việc làm lãnh đạo Hải quan các cấp (số lượng cán bộ
lãnh đạo: cấp trưởng, cấp phó được quy định tại quyết định tổ chức bộ máy và
do cấp có thẩm quyền quyết định).
+ Nhóm vị trí việc làm thuộc các đơn vị khối lượng công việc ít nhưng vẫn
cần phải đủ biên chế tối thiểu cho các vị trí để thực hiện dây chuyền công việc.
+ Nhóm vị trí việc làm theo tiêu chuẩn định biên tối đa của Tổng cục
hoặc có thể định biên được trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ.
(2) Nhóm vị trí việc làm định biên theo thời gian hao phí: Là nhóm các
vị trí việc làm có thể xác định được sản phẩm và thời gian hao phí tạo ra sản
phẩm (còn lại). Biên chế nhóm này sẽ áp dụng phương pháp định biên theo
56
thời gian hao phí để tính. Trong nhóm này cần phân ra nhóm vị trí việc làm
chuyên môn nghiệp vụ và nhóm vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ.
Tổng số biên chế hiện tại của Hải quan = db1 + db2 + db3 +db4.
Trong đó:
db1: Xác định thời gian hao phí đối với nhóm sản phẩm
không tính được định mức sản phẩm trên cơ sở khối lượng công việc
thực tế;
db2: Xác định thời gian hao phí đối với nhóm sản phẩm có tính
được định mức sản phẩm trên cơ sở định mức và khối lượng công việc
thực tế;
db3: Định biên (db1) đối với nhóm vị trí việc làm đặc thù của
đơn vị;
db4: Định biên đối với một số công việc đã được thủ trưởng đơn vị
quy định thời gian hao phí lao động phải thực hiện (việc tính toán dựa trên
định biên đối với nhóm nhiệm vụ chính và nhóm nhiệm vụ hỗ trợ nêu trên).
* Tiêu chí thứ hai, ngành Hải quan phải có lực lượng nhân lực hội đủ
những yêu cầu về mặt chất lượng đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa hải
quan trong hội nhập quốc tế.
Bảo đảm nhân lực ngành Hải quan về chất lượng là việc làm của các
chủ thể thuộc Tổng cục hải quan; các Cục Hải quan tỉnh, thành phố và các chi
cục hải quan thuộc 35 đơn vị hải quan địa phương đó và các lực lượng khác
có liên quan trong việc tạo ra một lực lượng nhân lực có chất lượng cao đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ công tác hải quan ở mỗi thời kỳ, giai đoạn nhất
định, của những chương trình, kế hoạch đã được Chính phủ và Bộ Tài chính
xác định; cũng như những đòi hỏi của quá trình hiện đại hóa hải quan với các
nội dung, lộ trình bước đi cụ thể đã được vạch ra trước đó.
Theo đó, chất lượng nhân lực hải quan bao gồm cả về thể lực, trí lực,
và tâm lực được thể hiện theo các chỉ số sau đây:
57
Một là, chỉ số về cán bộ, công chức Hải quan phải có thể lực (sức khỏe)
bình thường để triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao với hiệu quả cao
nhất. Trong đó, đánh giá thể lực thường hướng vào sự rèn luyện khả năng làm
việc dẻo dai, thực hành tác nghiệp ở những công việc luôn gia tăng sự căng
thẳng về thần kinh, sức óc như công tác chống buôn lậu và xử lý vi phạm
trong gian lận thương mại, bắt giữ các vụ vận chuyển trái phép chất ma túy,
vũ khí, tiền giả... đến và đi khỏi lãnh thổ. Việc kiểm soát thể lực được thể hiện
thông qua các con số cụ thể như chỉ số cơ bản của đợt khám sức khỏe định kỳ
hay số ngày ốm trong năm…
Hai là, chỉ số đánh giá về trí lực là việc bảo đảm nhân lực hải quan về
chất lượng theo hướng mỗi cá nhân và toàn lực lượng có hội đủ các phẩm
chất cần có (những giá trị xã hội), hội đủ những phẩm chất tạo thành năng lực
chuyên môn nghề nghiệp (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của công việc, kiến thức
kỹ năng, kỹ xảo công tác hải quan, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về những tri
thức khoa học và công nghệ) sẽ được sử dụng trong công tác hải quan trong
tiến trình hiện đại hóa hải quan, để đạt được một năng suất lao động cao hơn
trước và để tiến hành hội nhập quốc tế.
Ba là, chỉ số đánh giá về tâm lực bảo đảm nhân lực hải quan hội đủ
những phẩm chất thể hiện giá trị xã hội của mỗi cá thể và toàn bộ đội ngũ
công chức Hải quan tạo ra một lực lượng đội ngũ nhân lực hải quan có động
cơ, thái độ, hành vi ứng xử mới của người lao động đối với công việc, đối với
đồng nghiệp, cộng đồng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của chất lượng
công tác hải quan và hiện đại hóa ngành hải quan trong quá trình hội nhập
quốc tế; làm đòn bẩy tạo ra sự phát triển kinh tế - xã hội, thông qua những tác
động bằng sự khuyến khích vật chất (các lợi ích kinh tế), bằng sự khuyến
khích về chính trị - tinh thần (các giá trị tinh thần - lợi ích tinh thần), bằng sự
tôn vinh, thăng tiến và địa vị xã hội trong môi trường làm việc…
Đối với khối nhân lực thuộc bộ phận lãnh đạo, quản lý, tham mưu từ cấp
phòng trở lên phải hội tụ đủ yêu cầu một cách toàn diện trong đó đặc biệt chú
trọng đến năng lực lãnh đạo, quản lý và thực hành tác nghiệp các mặt công tác.
58
Đối với bộ phận nhân lực là cán bộ, công chức tham mưu, thực thi cẩn
bảo đảm tính đa dạng, phong phú, thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng về
chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất, nhân cách như: nâng cao lòng yêu nghề,
tính trung thực, không vướng vào những tiêu cực do tiền bạc cám dỗ; chú
trọng rèn luyện để có thể lực dẻo dai có thể tác nghiệp liên tục và với cường
độ làm việc cao.
Bốn là, chỉ số đánh giá về hội nhập quốc tế bảo đảm nhân lực hải quan,
những người làm trong lĩnh vực tham mưu xây dựng chính sách, hoàn thiện
chính sách pháp luật hải quan phải có trình độ hiểu biết về luật pháp quốc tế,
các công ước, điều ước quốc tế, hiệp định đa phương và song phương. Đồng
thời cán bộ, công chức hải quan thực hiện công tác hợp tác, đối ngoại, đàm
phán, trao đổi nghiệp vụ phải thành thạo ít nhất một trong năm ngôn ngữ
chung của thế giới.
* Tiêu chí thứ ba, ngành Hải quan phải có lực lượng nhân lực có cơ
cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu nhân lực ở tất cả các cấp, bộ phận chuyên môn
trước đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị ngày một đa dạng và yêu cầu hiện đại
hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
Bảo đảm nhân lực ngành Hải quan về cơ cấu là tạo ra một quan hệ tỷ lệ
hợp lý giữa các bộ phận cấu thành lực lượng nhân lực trong toàn ngành. Có
một cơ cấu hợp lý giữa nhân lực lãnh đạo quản lý với nhân lực tham mưu,
trực tiếp làm công tác chuyên môn thuộc lĩnh vực hải quan (các công chức
thực thi); giữa những người làm công tác quản lý nhà nước về hải quan tại
khối cơ quan Tổng cục với khối cục hải quan tỉnh, thành phố, và khối công
chức tại chi cục hải quan, đội kiểm soát hải quan (mô hình vùng hải qua theo
3 cấp); giữa bộ phận trực tiếp tham mưu, quản lý về nghiệp vụ hải quan (trong
thông quan, sau thông quan, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại) với
bộ phận hỗ trợ (quản trị nội bộ, nghiên cứu khoa học, công nghệ…).
Như vậy, nhóm những tiêu chí nhận diện nhân lực hải quan đáp ứng
yêu cầu hiện đại hóa ngành Hải quan là một hệ thống có nội dung tổng hợp
59
của các yếu tố về số lượng, chất lượng, cơ cấu. Đây là nhóm ba tiêu chí cơ
bản tạo thành một hệ thống các "dấu hiệu" để nhận biết, đánh giá cần được
nhận thức toàn diện và đầy đủ trong tính chỉnh thể không thể tách rời nhau.
2.2.1.2. Nhóm tiêu chí đánh giá về tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng,
quản lý sử dụng, chế độ đãi ngộ nhân lực đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải
quan trong hội nhập quốc tế.
* Tiêu chí thứ nhất, công tác tuyển dụng công chức hải quan phải vừa
đáp ứng đòi hỏi trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong
hội nhập quốc tế.
Công tác tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên có tính quyết định đến
chất lượng nhân lực của mỗi cơ quan, đơn vị. Trong quá trình thực thi công
vụ, việc tuyển dụng đúng người sẽ cho kết quả hoạt động của cơ quan, đơn vị
tốt hơn. Luật Cán bộ, công chức nêu rõ việc tuyển dụng công chức phải căn
cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế và thông qua thi
tuyển theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan, đúng pháp luật,
đảm bảo tính cạnh tranh. Hình thức thi, nội dung thi tuyển công chức phải phù
hợp với ngành, nghề, đảm bảo lựa chọn được những người có phẩm chất,
trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. Để đáp ứng yêu cầu hiện
đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế, công tác tuyển dụng công chức hải
quan phải vừa đáp ứng đòi hỏi mắt, vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải
quan trong hội nhập quốc tế.
Để đánh giá về công tác tuyển dụng, cần thông qua các chỉ số sau đây:
Một là, hình thức tuyển dụng là thi tuyển, xét tuyển, hay chuyển ngành.
Qua đó để xác định người mới tuyển dụng đã có thời gian, kinh nghiệm công
tác chưa, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng người mới được tuyển dụng
nhằm sớm đáp ứng yêu cầu công việc để họ vừa đáp ứng được đòi hỏi mắt là
có đủ nhân ực để tiến hành nhiệm vụ hải quan, đồng thời bộ phận nhân lực
được tuyển dụng đó phải có khả năng tiếp thu được những kiến thức, kỹ năng
chuyên môn đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
60
Hai là, cán bộ, công chức được tuyển có đúng với khung năng lực, vị
trí việc làm không. Cán bộ được tuyển có thể có tiêu chuẩn về mặt hồ sơ là
đầy đủ theo yêu cầu, tuy nhiên nhiều người được tuyển dụng vẫn chưa thực sự
đúng theo khung năng lực của công việc đang cần bổ sung là có khả năng tiếp
thu được những kiến thức, kỹ năng chuyên môn đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa
hải quan trong hội nhập quốc tế. Nếu lựa chọn người mới tuyển dụng đúng
theo khung năng lực thì bản thân cán bộ đó sẽ sớm thực hiện và đáp ứng yêu
cầu công việc và chất lượng của việc tuyển dụng là có hiệu quả hơn.
* Tiêu chí thứ hai, nhân lực được tuyển dụng phải có nền kiến thức cơ
bản, để trên nền tảng đó tiếp tục đào tạo bồi dưỡng kiến thức kỹ năng đáp
ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế
Ngay sau khi cán bộ được tuyển dụng vào Ngành Hải quan thì công việc
ưu tiên đầu tiên là tổ chức cho họ được đào tạo (hoặc đào tạo lại), bồi dưỡng để
đáp ứng yêu cầu lâu dài của công việc. Tuy nhiên nhân lực được tuyển dụng
phải có nền kiến thức cơ bản, để trên nền tảng đó tiếp tục đào tạo bồi dưỡng
kiến thức kỹ năng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc
tế. Cùng với đó, công tác bồi dưỡng cho cán bộ, công chức lâu năm trong
ngành cũng giúp cho cán bộ, công chức được bổ sung những kiến thức mới,
những kỹ năng mềm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Công tác
đào tạo (hoặc đào tạo lại), bồi dưỡng được đánh giá theo các chỉ số sau:
Một là, tính kịp thời để đáp ứng công việc của công tác đào tạo (hoặc đào
tạo lại). Đối với cán bộ mới được tuyển dụng vào ngành, lại chưa có kinh
nghiệm làm việc ở đơn vị khác thì cần phải có kế hoạch đào tạo cấp bách, ngay
sau khi được tuyển dụng. Như vậy cán bộ đó mới có những kỹ năng để làm việc.
Bên cạnh đó, những nội dung mới được triển khai, ban hành thì cũng cần kịp
thời tổ chức bồi dưỡng (bằng nhiều hình thức) cho cán bộ, công chức đang thực
hiện nhiệm vụ đó biết và triển khai. Mặt khác, do yêu cầu đòi hỏi thực tiễn
thường xuyên vận động, thay đổi nên các nội dung về quy định, các kinh nghiệm
61
thực tế cũng cần phải được kịp thời cập nhật để đưa vào giáo trình đào tạo, bồi
dưỡng cho cán bộ, công chức.
Hai là, tính chuyên sâu của công tác đào tạo, bồi dưỡng. Việc đào tạo
cần phải xây dựng nội dung theo lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ, chuyên sâu
theo ngành hàng. Tính chuyên sâu trong đào tạo (hoặc đào tạo lại) còn tập
trung vào đối tượng đào tạo để tạo nguồn cán bộ để trở thành chuyên gia theo
lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ đó.
* Tiêu chí thứ ba, công tác quản lý, sử dụng công chức hải quan phải
trở thành một trong những kênh quan trọng nhất để nhân lực hải quan đáp
ứng được yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
Nhân lực có trình độ đào tạo cơ bản, được tuyển dụng vào nhưng có
phát huy được hiệu quả, sở trường công tác hay không còn phụ thuộc vào quá
trình quản lý, sử dụng cán bộ. Để đánh giá về công tác quản lý, sử dụng cán
bộ dựa vào chỉ số sau:
Một là, đánh giá chất lượng, hiệu quả qua thực hiện công việc. Quản lý,
sử dụng công chức dựa trên kết quả công việc đầu ra, dựa trên kế hoạch đã
được xây dựng, giao việc từ trước. Số lượng và chất lượng công việc mà công
chức đó thực hiện trong khoảng thời gian đánh giá, trong thời gian tới sẽ căn
cứ vào khung năng lực để đánh giá cán bộ, công chức.
Hai là, đánh giá phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức. Thông qua
quá trình triển khai thực hiện công việc, quá trình chấp hành nội quy, quy
định của công chức để đánh giá, nhận xét thái độ, hành vi của cán bộ, công
chức đó có đúng với các quy định của pháp luật, nội quy của cơ quan, đơn vị
hay không. Đồng thời cán bộ sẽ bộc lộ tác phong, nề nếp trong lối sống, cư xử
với đồng nghiệp, người dân.
Ba là, đánh giá việc triển khai thực hiện công tác điều động, luân
chuyển, chuyển đổi vị trí công tác. Công tác này nhằm đào tạo, bồi dưỡng
kinh nghiệm cho cán bộ có thể thực hiện nhiệm vụ trên nhiều cương vị, môi
62
trường công tác, từ đó để có kế hoạch tạo nguồn lãnh đạo, quản lý. Mặt khác,
những vị trí nhạy cảm thì không nên bố trí cán bộ trong một thời gian dài dễ
phát sinh tiêu cực, dễ bị đối tượng xấu lợi dụng, mua chuộc. Vì vậy, cần phải
luân chuyển vị trí công tác cán bộ để bảo vệ cán bộ.
Bốn là, quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ. Đây là một yêu cầu
bắt buộc của công tác quản lý cán bộ nhằm đánh giá và ghi nhận sự đóng góp
của cán bộ, công chức trong quá trình phục vụ. Cán bộ được bổ nhiệm vị trí
lãnh đạo, quản lý nhưng sau thời gian bổ nhiệm không phát huy được khả
năng trong lãnh đạo, quản lý hoặc là lãnh đạo cán bộ, quản lý mà không làm
gương, có dấu hiệu, biểu hiện sai phạm thì thông qua bổ nhiệm lại để đánh giá
và có thể không tiến hành bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo, quản lý đó nữa.
Năm là, chỉ số về khen thưởng, kỷ luật một cách công khai minh bạch.
Người thủ trưởng đơn vị phải kịp thời và thường xuyên quan tâm đến công tác
khen thưởng cán bộ, công chức. Việc khen thưởng có nhiều hình thức tùy thuộc
vào mức độ thành tích đóng góp của cán bộ để vận dụng. Thông thường thì có
các hình thức khen thưởng như: biểu dương, thưởng thời gian nghỉ phép, thưởng
vật chất (tiền, quà), tăng bậc lương, bổ nhiệm - đề bạt lên vị trí cao hơn.
Công tác kỷ luật phải được thực hiện theo các quy định hiện hành về quy
trình kỷ luật cán bộ. Thủ trưởng đơn vị là người chịu trách nhiệm khi để trong
đơn vị mình có cán bộ sai trái. Đồng thời thủ trưởng đơn vị phải kịp thời họp
hội đồng kỷ luật, thực hiện từng bước theo quy định để cán bộ làm sai nhận ra
được những sai sót của mình để nếu có cơ hội ăn năn, hối cải, nếu không cũng
tâm phục, khẩu phục, tránh hiện tượng khiếu nại, kiện cáo kéo dài.
* Tiêu chí thứ hai, ngành Hải quan cần có chế độ đãi ngộ phù hợp để
cán bộ, công chức Hải quan toàn tâm toàn ý thừa hành nhiệm vụ và phấn đấu
để đáp ứng các yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
Hiện nay, ngành Hải quan thực hiện thí điểm theo kinh phí khoán.
Mức chi phí thường xuyên như thanh toán cá nhân; chi quản lý hành chính;
63
chi đảm bảo nghiệp vụ chuyên môn đặc thù… là dựa trên dự toán thu NSNN
hàng năm do Quốc hội, Chính phủ giao Tổng cục Hải quan thực hiện. Để có
được sự yên tâm công tác của cán bộ, công chức thì yếu tố tiền lương là hết
sức quan trọng đối với mỗi người đang đi làm. Để đánh giá về chế độ đãi ngộ
nhân lực trong ngành Hải quan, chúng ta dựa theo các chỉ số sau:
Một là, mức thu nhập bình quân mỗi cán bộ, công chức được hưởng
hàng năm. Vấn đề này được tính toán dựa trên tổng số tiền mỗi người nhận
được sau khi trừ đi các khoản phí phải đóng góp như bảo hiểm, thuế thu nhập
cá nhân, ủng hộ quỹ từ thiện, phúc lợi xã hội.
Hai là, các chế độ đãi ngộ mà mỗi cán bộ, công chức Hải quan đang
được hưởng như là thâm niên, ưu đãi nghề, chế độ đặc thù khác.
Ba là, tính kịp thời, thường xuyên trang cấp chế phục, trang bị công cụ,
phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ đảm bảo hiệu quả, an toàn trong quá trình
thực thi công vụ.
2.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến nhân lực để hiện đại hóa hải quan
2.2.2.1. Nhóm những nhân tố bên trong cơ quan Hải quan
Tính hợp lý về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức bộ máy của ngành
Hải quan
Con người là yếu tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công việc.
Nhân lực hải quan cũng là yếu tố quyết định đến sự phát triển của ngành Hải
quan. Vì vậy, cơ quan hải quan phải duy trì một số lượng cán bộ, công chức
hợp lý theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Số lượng cán bộ, công chức Hải
quan phải dựa trên cơ sở xác định từ vị trí việc làm và căn cứ theo chiến lược,
kế hoạch phát triển của đất nước, chiến lược, kế hoạch cải cách hiện đại hóa
của ngành Hải quan để bố trí đủ số lượng cán bộ, công chức thực hiện nhiệm
vụ. Với xu thế hội nhập, phát triển của đất nước thì số lượng doanh nghiệp
thực hiện thủ tục XNK ngày càng tăng, kim ngạch và số thuế thu được tăng
15% so với năm trước đó. Bên cạnh đó, với chủ trương của Đảng, Chính phủ
64
tinh giản hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng gọn, nhẹ,
hiệu quả, giảm chi hành chính từ ngân sách nhà nước. Mặt khác, ngành Hải
quan đã tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ cao, đầu tư trang
thiết bị máy móc hiện đại đòi hỏi ngành hải quan cần phải phát triển theo mô
hình duy trì và giảm bớt số lượng, tập trung vào nâng cao chất lượng cán bộ,
công chức Hải quan để đáp ứng yêu cầu công tác.
Trước mắt, số lượng cán bộ, công chức Hải quan đã đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ, nhưng với xu thế hội nhập phát triển thì rất cần phải đánh giá để
phát huy những mặt tốt, tiếp tục hoàn thiện những mặt chưa được, còn yếu
kém. Đặc biệt cần tiến hành rà soát, đánh giá để nhận diện những điểm chưa
tốt có thể gây cản trở quá trình của hiện đại hóa để đưa vào chương trình phát
triển, khắc phục trong thời gian tới.
Tính hợp lý trong tổ chức bộ máy của bất kỳ đơn vị nào đều ảnh hưởng
trực tiếp ở mức độ khá lớn đối với hiệu quả hoạt động của đơn vị đó. Chỉ khi
nào ngành Hải quan có được cơ cấu tổ chức hợp lý, khoa học thì năng lực
hoạt động của ngành mới được phát huy tối đa sức mạnh vốn có của mình và
ngược lại, khi yếu tố đó không được đảm bảo nó sẽ kéo theo sự hoạt động trì
trệ, kém hiệu quả. Vì vậy, tổ chức bộ máy của ngành phải đảm bảo nguyên
tắc chung đối với một lực lượng được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về một
lĩnh vực cụ thể, cấu thành hoạt động hành pháp của Nhà nước và căn cứ vào
đặc trưng của những nhiệm vụ cụ thể được giao thực hiện. Theo đó, bộ máy
hành chính phải gọn nhẹ, giảm tối đa các bộ phận gián tiếp, trung gian không
cần thiết, ưu tiên đầu tư lực lượng, phương tiện cho các bộ phận trực tiếp thực
hiện các nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ.
Chính sách tuyển dụng, bố trí sắp xếp và sử dụng cán bộ của ngành Hải quan
Hoạt động hải quan đòi hỏi phải vận dụng tri thức về nhiều lĩnh vực
nhưng chủ yếu là những tri thức về pháp luật, kinh tế, tài chính - ngân hàng,
thuế, đầu tư nước ngoài, công nghệ thông tin, ngoại ngữ. Đồng thời, khối
65
lượng công việc cần giải quyết ở những giai đoạn khác nhau lại phụ thuộc
nhiều vào mức độ phát triển kinh tế đối ngoại, đầu tư nước ngoài, du lịch…
Đây là những thực tế cần được cân nhắc kỹ lưỡng khi xây dựng kế hoạch
tuyển dụng của ngành, sao cho tuyển dụng được những người có trình độ
chuyên môn phù hợp với đặc thù hoạt động, với số lượng đáp ứng nhu cầu
giải quyết khối lượng công việc phát sinh trong từng giai đoạn cụ thể. Bên
cạnh đó, vấn đề bố trí việc làm cho đội ngũ này phù hợp năng lực chuyên
môn của từng người, giúp họ phát huy tối đa thế mạnh về chuyên môn đã
được đào tạo. Tình trạng thừa hoặc thiếu nhân lực, sự tồn tại những trường
hợp cán bộ, công chức làm việc không đúng với ngành, nghề được đào tạo
được xem là những dấu hiệu rõ nhất về tính không hợp lý trong chính sách
tuyển dụng và sử dụng cán bộ của ngành và cần sớm được khắc phục.
Tính hợp lý trong những chế độ, chính sách đối với công chức của
ngành Hải quan
Lao động không chỉ giúp con người hoàn thiện bản thân mà còn được
coi là phương tiện đảm bảo sự sinh tồn, cải thiện điều kiện sống của con
người. Khi người lao động được quan tâm thỏa đáng về vật chất và tinh thần,
được đánh giá đúng và trả công xứng đáng thì họ sẽ có trách cao với công
việc, mong muốn cống hiến cao nhất và sức sáng tạo được phát huy tối đa. Hệ
quả tất yếu sẽ là kỷ luật lao động được người lao động tự giác chấp hành,
năng suất, chất lượng công việc được nâng cao và cùng với đó là năng lực của
họ cũng dần được hoàn thiện. Vì vậy, Nhà nước, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải
quan cần thường xuyên quan tâm đến việc cải thiện đời sống vật chất, tinh
thần cho đội ngũ công chức Hải quan và thể chế hóa sự quan tâm đó bằng các
quy định về chế độ tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, đào tạo, bồi dưỡng, bổ
nhiệm, luân chuyển, khen thưởng… hợp lý, có tính chất động viên, khuyến
khích, tôn vinh kịp thời, nhất là những nhân tố tích cực, có những đóng góp
lớn cho sự phát triển chung của ngành. Chỉ tiêu đánh giá mức độ hợp lý của
66
nhân tố này là mức độ tự giác chấp hành kỷ luật lao động của đội ngũ cán bộ,
công chức thuộc ngành, năng suất lao động và mong muốn gắn bó lâu dài với
công việc được giao.
Những chủ trương chính sách thực hiện về đào tạo, bồi dưỡng của Ngành
Đào tạo, bồi dưỡng là phương thức không thể thiếu để người lao động
có khả năng thích ứng nhanh nhất với công việc được phân công ngay sau khi
mới được tuyển dụng và càng ngày càng nâng cao năng lực chuyên môn, đảm
bảo tính chuyên nghiệp trong xử lý mọi công việc thuộc quyền hạn và nghĩa
vụ của mình. Tính hợp lý của chính sách về đào tạo, bồi dưỡng không phải
được đánh giá bởi số ngày hoặc số lớp mà cán bộ, công chức Hải quan đã
tham gia mà chủ yếu được xác định theo nguyên tắc: Những nội dung được
đào tạo, bồi dưỡng có thực sự tác dụng cho việc thực hiện công việc mà cán
bộ, công chức đang hoặc sẽ đảm nhiệm. Để đạt mục đích trên, công chức của
Ngành có thể được cử đi đào tạo ở các trường trong nước hoặc nước ngoài để
đạt trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ hay tham gia các khóa bồi dưỡng ngắn
hạn, tập huấn do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài ngành tài chính
tổ chức. Với đặc thù hoạt động nghề nghiệp, công chức Hải quan ngoài những
kiến thức cơ bản của một công chức nhà nước như pháp luật chung, chính trị,
hành chính còn rất cần thường xuyên được cập nhật các kiến thức pháp luật
chuyên ngành liên quan, kiến thức nghiệp vụ hải quan, ngoại ngữ, tin học,
nhất là khi các lĩnh vực đó hoặc quy trình nghiệp vụ có sự thay đổi đáng kể.
Như vậy, tính hợp lý trong chính sách về đào tạo, bồi dưỡng của Ngành được
thể hiện ở tính có mục đích của việc cử công chức tham gia các khóa đào tạo,
bồi dưỡng với những hình thức, nội dung và thời gian phù hợp.
Ý thức tự giác, tinh thần phấn đấu, nỗ lực, thái độ cầu thị, đạo đức nghề nghiệp
Mỗi cá nhân có cách suy nghĩ, ứng xử và ý thức thực hiện công việc
khác nhau. Với thái độ tích cực cùng với năng lực tốt thì sẽ đem lại hiệu quả
công việc cao hơn hoặc ngược lại.
67
Bên cạnh đó, mỗi cá nhân có nhu cầu khác nhau, có người thì luôn có tinh
thần mong muốn được thăng tiến, được xem xét đề bạt, bổ nhiệm và coi đó là
mục tiêu phấn đấu, nhưng cũng có cá nhân lại có nhu cầu thu nhập làm nòng cốt
cơ bản, hoặc có cá nhân lại mong muốn một công việc nhà hạ, nhẹ nhàng…
Trong nền kinh tế thị trường, mở cửa như hiện nay, có rất nhiều nhà
đầu tư nước ngoài đến đầu tư, làm ăn tại Việt Nam nên công chức hải quan là
người đại diện cho pháp luật và văn hóa quốc gia trong quan hệ với các đối
tác nước ngoài. Vì vậy, cán bộ hải quan cũng có văn hóa nghề nghiệp riêng
biệt phải vừa có tâm vừa có tri thức để đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian
lận thương mại qua đó tăng nguồn thu thuế cho ngân sách Nhà nước, đồng
thời tạo được ấn tượng tốt cho các doanh nghiệp nước ngoài, quảng bá được
hình ảnh đẹp của con người Việt Nam ra bên ngoài.
Từ những nhân tố tác động trên đã cho thấy chất lượng nhân lực hải
quan phụ thuộc vào yếu tố bên trong của từng cá nhân nhưng nó luôn bị tác
động, ảnh hưởng mạnh mẽ từ rất nhiều yếu tố bên ngoài, nếu phù hợp thì sẽ
phát triển tốt, ngược lại thì chất lượng sẽ bị giảm đi hoặc bị triệt tiêu.
2.2.2.2. Nhân tố bên ngoài cơ quan hải quan
Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO trong khá nhiều
năm nên nhiều cam kết quốc tế về quản lý kinh tế đất nước nói chung, quản lý
nhà nước về hải quan nói riêng đã được ký kết và nội luật hóa. Tham gia “sân
chơi chung” của thế giới và khu vực một cách có hiệu quả đòi hỏi năng lực
của Hải quan Việt Nam phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế và khu vực là
điều tất yếu. Sự thua kém về năng lực của đội ngũ công chức của Hải quan sẽ
gây khó khăn cho hoạt động XNK, XNC, ảnh hưởng đến môi trường kinh
doanh và đầu tư, khiến cho doanh nghiệp và kinh tế đất nước chịu nhiều thua
thiệt, cuối cùng là an ninh kinh tế, an ninh chính trị của quốc gia bị đe dọa.
Do đó, việc xây dựng được đội ngũ công chức Hải quan đủ khả năng thực
hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đồng thời bảo vệ có hiệu quả cao các lợi ích
68
kinh tế, chủ quyền quốc gia ở giai đoạn hiện nay là vấn đề đang nhận được sự
quan tâm của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan.
Tính hợp lý, đồng bộ của hệ thống pháp luật về hải quan và các quy
trình nghiệp vụ liên quan
Hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan, xét về bản chất, là hoạt động
áp dụng pháp luật Việt Nam và quốc tế được cụ thể hóa trong quy trình, thủ
tục hải quan, kiểm tra, kiểm soát hải quan, kiểm tra thu thuế XNK, điều tra
chống buôn lậu, xử lý vi phạm… Do đó, cùng một lúc phải vận dụng rất nhiều
văn bản luật khác nhau như: Luật Hải quan; Luật Quản lý Thuế; Luật Thuế
XK, thuế NK; Luật Đầu tư nước ngoài; Luật Xuất nhập cảnh; Luật Thương
mại; Luật Sở hữu trí tuệ… Vì vậy, khi hệ thống pháp luật về hải quan, các
quy trình nghiệp vụ liên quan không đảm bảo tính hợp lý, đồng bộ sẽ ảnh
hưởng đến năng lực giải quyết công việc của cán bộ, công chức Hải quan nhất
là khi xử lý các trường hợp liên quan đến việc thực hiện các điều ước quốc tế
hoặc các trường hợp phức tạp chưa có nhiều thông lệ cả ở Việt Nam cũng như
quốc tế.
Thực tế hiện nay, sự tham gia quản lý của các ngành có liên quan
chiếm 72% thời gian giải phóng một lô hàng. Vì vậy, việc cải cách, hiện đại
hóa của ngành Hải quan chịu tác động rất lớn từ những quy định và hoạt động
của các ngành có liên quan.
Trình độ phát triển khoa học - kỹ thuật, công nghệ thông tin của quốc
gia và mức độ ứng dụng các thành tựu đó vào hoạt động quản lý nhà nước về
Hải quan
Khoa học - kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ đã
nối dài khả năng nhận thức và cải biến thế giới khách quan phục vụ lợi ích
của con người, giúp hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội hiệu quả hơn
trước. Cũng như trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, hiệu quả quản lý
nhà nước về hải quan phụ thuộc khá lớn vào mức độ ứng dụng các thành tựu
69
của khoa học - kỹ thuật, công nghệ thông tin vào mọi mặt hoạt động của
mình. Nói cách khác, năng lực đội ngũ công chức hải quan, từ công chức lãnh
đạo, công chức tham mưu, giúp việc, công chức thừa hành đều chịu sự tác
động khá lớn của mức độ ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật, công
nghệ thông tin vào thực tế công việc được giao. Và chỉ tiêu để đánh giá mức
độ đó chính là tỷ lệ của các hoạt động được số hóa, tự động hóa so với các
hoạt động được thực hiện bằng các phương pháp thủ công, truyền thống và
khả năng làm chủ các công cụ này của đội ngũ công chức hải quan.
2.3. KINH NGHIỆM VỀ ĐẢM BẢO NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI
QUAN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO HẢI QUAN
VIỆT NAM
2.3.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về nhân lực
hiện đại hóa hải quan để hội nhập quốc tế
Vấn đề nhân lực để hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế đối
với ngành Hải quan Việt Nam là mới mẻ, mặc dù được khởi động từ năm
2004 nhưng đi vào chiều sâu và có nền nếp chỉ mới từ sau khi “Kế hoạch cải
cách, phát triển và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2011- 2015, định hướng
đến 2020” của ngành Hải quan nước ta được phê duyệt [8]. Song với các
nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước phát triển, do yêu cầu của thực
tiễn và kết quả đạt đực về trình độ khoa học công nghệ, nên việc bảo đảm
nhân lực của ngành hải quan luôn là sự đảm bảo nhân lực để hiện đại hóa hải
quan trong hội nhập quốc tế. Do đó, những kinh nghiệm của các quốc gia
được trình bày dưới đây chính là những kinh nghiệm của họ về đảm bảo
nhân lực để hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế
2.3.1.1. Kinh nghiệm của Pháp
Hải quan Pháp được thành lập và hoạt động theo Luật Tổ chức và Ngân
sách Chính phủ; là cơ quan trực thuộc Bộ Kinh tế - Tài chính - Công nghiệp.
Nhiệm vụ chính của Hải quan Pháp hiện nay là thu thuế, tạo thuận lợi cho
thương mại, xây dựng dữ liệu thống kê hàng hoá XNK, bảo vệ an ninh quốc
70
gia, chống nhập cư trái phép, đấu tranh phòng ngừa, trấn áp buôn lậu vũ khí,
ma tuý, động vật quý hiếm, chống rửa tiền và chuyển tiền bất hợp pháp,
chống nhập cư trái phép, giám sát vận chuyển chất thải, chất độc hại gây ô
nhiễm môi trường, bảo hộ nền sản xuất trong nước cho các doanh nghiệp…
Tổng số nhân viên của Hải quan Pháp là 19.000 nhân viên trong đó, nữ
nhân viên chiếm 34%. Tổ chức bộ máy của Hải quan Cộng hoà Pháp theo mô
hình 4 cấp. Cấp Tổng cục có 600 cán bộ gồm 07 Ban (tương đương Cục, Vụ),
cấp liên vùng với 11 Cục Hải quan liên vùng trong nước Pháp và 01 Cục Hải
quan liên vùng ở hải ngoại. Mỗi Cục Hải quan liên vùng phụ trách từ 3-4 Cục
Hải quan vùng. Cấp vùng gồm 40 Cục Hải quan vùng. Trên toàn quốc, Hải quan
Pháp có 275 Chi cục, gồm 226 Chi cục chuyên trách kiểm tra thu thuế, làm thủ
tục thông quan; 49 Chi cục đặt tại doanh nghiệp; cấp đội: có 302 đội trực thuộc
Cục Hải quan Vùng bao gồm 238 Đội chống buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hoá, thủ tục hải quan trên đường bộ và 64 Đội tuần tra, kiểm soát bờ biển.
Tổng số thu của Hải quan Pháp chiếm khoảng 18% ngân sách hàng
năm. Năm 2006, số thu của Hải quan Pháp là 61,7 tỷ Euro. Mỗi năm, Hải
quan Pháp đóng góp khoảng 1,7 tỷ Euro cho cộng đồng châu Âu. Hải quan
Pháp còn thực hiện quản lý và thu thuế nội địa vào các mặt hàng sản phẩm
dầu mỏ, thuốc lá, rượu, đồ uống, vì vậy có tên gọi đầy đủ là Tổng cục Hải
quan và Thuế gián thu Pháp.
Mô hình Hải quan liên vùng là mô hình mới hướng tới việc phân cấp
nhiều hơn cho Hải quan cấp vùng cho phép Tổng cục trưởng giảm được thời
gian, đầu mối báo cáo và quyết định công việc từ các Cục Hải quan Vùng.
Giữa các Cục Hải quan liên vùng, vùng và chính quyền địa phương đều có
quan hệ dựa trên quy định của Luật, không can thiệp vào công việc của nội bộ
của nhau. Tổng cục trưởng có quyền và trực tiếp bổ nhiệm lãnh đạo các cấp
từ Cục trưởng Cục Hải quan liên vùng và Cục trưởng Hải quan vùng trở
xuống. Trưởng các Văn phòng Hải quan (tương đương Chi cục trưởng) do Vụ
71
trưởng Vụ Tổ chức cán bộ ký quyết định. Để có đủ điều kiện bổ nhiệm vào
các vị trí này, các ứng cử viên phải trải qua các kỳ thi về nghiệp vụ và xử lý
công việc hành chính.
Định kỳ hàng năm, Cục Hải quan liên vùng có phiếu thăm dò ý kiến
các nhân viên để đánh giá kết quả công việc, hoạt động, các thủ tục hải quan
có phù hợp hay không để đưa ra các quyết sách đúng đắn, hợp lý. Giữa các
Cục Hải quan liên vùng thường xuyên có các cuộc họp giao ban để chia sẻ
kinh nghiệm và tăng cường phối hợp. Các Cục Hải quan liên vùng tự xây
dựng kế hoạch và chỉ tiêu trình Tổng cục Hải quan và Bộ Kinh tế - Tài chính -
Công nghiệp phê duyệt. Điều quan trọng là Bộ Kinh tế - Tài chính - Công
nghiệp và Tổng cục Hải quan không giao chỉ tiêu thu. Việc luân chuyển cán
bộ, công chức căn cứ theo nhu cầu thực tế và đề xuất của cán bộ làm việc tại
đó. Riêng với cấp lãnh đạo Cục Hải quan thì sẽ được luân chuyển trong
khoảng thời gian làm việc từ 2 đến 5 năm tại một đơn vị.
Đào tạo là một trong những nội dung được ưu tiên hàng đầu trong nâng
cao chất lượng nhân lực của Hải quan Pháp, bao gồm:
- Đào tạo ban đầu: Là loại hình đào tạo cơ bản cho các loại công chức:
Thanh tra viên, kiểm soát viên và cán bộ, công chức đang làm trong ngành
Hải quan cũng như các học sinh tốt nghiệp các trường đại học, trung học
muốn vào ngành Hải quan thì phải thi vào trường Hải quan quốc gia và sau
khi đã thi đỗ vào trường, họ phải học chương trình đào tạo này.
Về nội dung đào tạo: được xây dựng riêng cho từng ngạch. Học sinh
mới thi tuyển vào trường cũng được đào tạo theo ngạch mà họ thi tuyển.
- Đào tạo cho thi tuyển: Hình thức này nhằm trang bị cho thí sinh những
kiến thức ban đầu trước khi thi tuyển. Nội dung gồm các môn học phổ thông.
- Đào tạo trong quá trình nghề nghiệp: nhằm nâng cao và hoàn thiện
kiến thức cho cán bộ trong ngành; bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ khi
chuyển vị trí công tác; đào tạo các kiến thức mới: Luật Hải quan, vi tính,
ngoại ngữ, chuẩn bị các kiến thức để bổ nhiệm cán bộ.
72
Nội dung tuỳ thuộc từng loại công chức: chương trình đào tạo ban đầu
và đào tạo trong quá trình nghề nghiệp đều bao gồm một số thời gian học lý
thuyết và một số thời gian thực tập.
Bên cạnh đó, Cục Hải quan liên vùng hàng năm cũng có phiếu thăm dò
ý kiến các nhân viên để đánh giá kết quả công việc, hoạt động, các thủ tục hải
quan có phù hợp hay không để đưa ra các quyết sách đúng đắn, hợp lý. Giữa
các Cục Hải quan liên vùng thường xuyên có các cuộc họp giao ban để chia
sẻ kinh nghiệm và tăng cường phối hợp. Các Cục Hải quan liên vùng tự xây
dựng kế hoạch và chỉ tiêu trình Tổng cục Hải quan và Bộ Kinh tế - Tài chính -
Công nghiệp phê duyệt. Điều quan trọng là Bộ Kinh tế - Tài chính - Công
nghiệp và Tổng cục Hải quan không giao chỉ tiêu thu. Việc luân chuyển cán
bộ, công chức căn cứ theo nhu cầu thực tế và đề xuất của cán bộ làm việc tại
đó. Riêng với cấp lãnh đạo Cục Hải quan thì sẽ được luân chuyển trong
khoảng thời gian làm việc từ 2 đến 5 năm tại một đơn vị.
2.3.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Hải quan Nhật Bản được tổ chức theo mô hình Hải quan vùng. Toàn bộ
lãnh thổ Nhật Bản được chia thành 9 vùng, bao gồm: Hakodate, Tokyo,
Yokohama, Nagoya, Osaka, Kobe, Moji, Nagasaki và Okinawa. Hầu hết mỗi
vùng được tổ chức thành 2 cấp: cấp Cục, cấp các Chi cục và các Trạm kiểm
soát. Riêng vùng Okinawa được tổ chức thành Cấp Cục và cấp phòng.
Giúp việc cho Tổng cục trưởng Hải quan Nhật Bản có các Phó Tổng
cục trưởng và bộ máy các vụ, cục, phòng ban, gồm có 6 vụ cục, 4 phòng ban
thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (Phòng Quản lý thông tin, Phòng Thanh
tra, Phòng Nghiên cứu hải quan và Phòng hợp tác kinh tế) và 2 tổ tư vấn.
Tổng số cán bộ công chức Hải quan Nhật Bản có khoảng 9 nghìn người
(cơ quan Tổng cục có khoảng 200 người).
Cán bộ, công chức Hải quan Nhật Bản phải có kiến thức chuyên môn
cao. Chính phủ Nhật Bản và đặc biệt là Tổng cục Hải quan Nhật Bản rất quan
tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hải quan. Chính vì vậy, các cán
73
bộ, công chức mới được tuyển dụng sẽ phải trải qua các khóa đào tạo để nâng
cao trình độ chuyên môn. Cơ quan đào tạo chính của Hải quan là Học viện Hải
quan Quốc gia (Customs Training Center), ngoài ra còn có 12 cơ sở đào tạo (hay
còn gọi là Trung tâm đào tạo vùng) tại 9 vùng trên toàn lãnh thổ Nhật Bản. Hải
quan Nhật Bản cũng rất chú trọng và ưu tiên trong công tác đào tạo và đưa ra
các hình thức, nội dung chương trình đào tạo như:
- Hình thức đào tạo:
+ Đào tạo dài hạn: gồm các khóa đào tạo từ 2 tháng trở lên, chủ yếu
trang bị cơ sở lý luận và cho công chức mới vào nghề.
+ Đào tạo ngắn hạn: trang bị kiến thức trực tiếp cho công việc.
+ Đào tạo từ xa: (gồm cả ngắn hạn và dài hạn), trang bị kiến thức nâng
cao về chuyên môn Hải quan cho cán bộ ở xa.
- Chương trình đào tạo cho công chức mới tuyển dụng qua kỳ thi tuyển
dụng công chức loại III (tốt nghiệp lớp 12).
+ Khóa phổ thông:
Học nội trú tại các trung tâm đào tạo vùng, bắt đầu ngay sau khi công
chức được tuyển dụng. Mục tiêu là trang bị kiến thức cơ bản nhất cho một
công chức nhà nước mới vào ngành để họ có ý thức làm việc tốt cho ngành
Hải quan, thông thường là một năm.
+ Khóa đào tạo cơ sở: Thời gian đào tạo ngắn hạn, sau khi tốt nghiệp
khóa đào tạo phổ thông, công chức được phân công về các chi cục Hải quan
làm việc tại các bộ phận quản lý Hải quan. Sau thời gian có kinh nghiệm thực
tế trong công việc, các công chức này sẽ được theo học khóa đào tạo cơ sở.
Mục tiêu là trang bị cho công chức kỹ năng chuyên môn cần thiết khi làm
công tác về Hải quan trong thực tế.
+ Đào tạo nâng cao: Học tại Học viện Hải quan Quốc gia. Đối tượng
đào tạo là những công chức Hải quan có kinh nghiệm làm việc trong ngành và
đã qua thi tuyển vào khóa đào tạo này nhằm nâng cao kiến thức cho đội ngũ
cán bộ Hải quan.
74
- Chương trình đào tạo cho công chức mới tuyển dụng vào công chức
loại II (đã tốt nghiệp đại học).
+ Đào tạo cơ bản: Thời gian đào tạo ngắn hơn tại Học viện Hải quan
Quốc gia, mục tiêu nhằm trang bị cho công chức mới vào ngành những kiến
thức cơ bản để làm việc. Khoảng 4 tháng.
+ Đào tạo chuyên ngành: Đối tượng là các công chức đã qua khóa đào
tạo cơ sở nói trên sau đó đã được phân công về làm công tác trong ngành ít
nhất 1 năm.
- Chương trình đào tạo công chức đã qua kỳ thi tuyển công chức loại I.
+ Đào tạo cơ bản: Dành cho công chức ngay sau khi tuyển dụng đã qua
kỳ thi tuyển công chức loại I. Thời gian đào tạo 1 tuần lễ.
+ Chương trình đào tạo nâng cao: đào tạo cho công chức loại I đã có
kinh nghiệm thực tế sau 1 năm làm việc, thời gian đào tạo là 1 tháng tại Học
viện Hải quan Quốc gia. Các môn học chủ yếu về chuyên môn như luật pháp
nhân, kế toán, nghiệp vụ,...
+ Chương trình đào tạo chuyên sâu về Hải quan:
Thời gian học là 3 tháng tại Học viện Hải quan Quốc gia. Các môn học
chủ yếu là luật Hải quan nhằm cung cấp kiến thức chuyên sâu về hành chính
Hải quan vụ, quan điểm bồi dưỡng nhận thức chuyên môn.
- Các chương trình đào tạo khác:
+ Khóa nghiên cứu: dành cho những người được tuyển làm chuyên gia
nghiên cứu (chủ yếu là giảng viên của Trường Hải quan, công chức làm
nhiệm vụ hoạch định chiến lược Hải quan,...)
+ Khóa đào tạo về Hải quan Quốc tế. Các khóa đào tạo ngắn hạn: là
chương trình dành cho các viên chức Cục Hải quan, chủ yếu bồi dưỡng kiến
thức chuyên môn nghiệp vụ phục vụ trực tiếp cho công việc. Một nguyên tắc
chung là nội dung, chương trình đào tạo phải được xây dựng cho từng loại,
từng cấp bậc công chức, phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý Hải quan
của mỗi nước.
75
2.3.1.3. Kinh nghiệm của Malaysia
Malaysia là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, có nhiều
điểm tương đồng với Việt Nam. Hải quan Malaysia có tổ chức theo mô
hình hải quan vùng. Có 16 Hải quan vùng dưới sự quản lý trực tiếp của
Tổng cục Hải quan.
Ở cấp trung ương, Hải quan Malaysia có 3 nhóm hoạt động chính là:
Quản lý, Kỹ thuật nghiệp vụ và Kiểm soát; mô hình này cũng được bố trí tại
mỗi cấp vùng.
Cán bộ Hải quan của Malaysia được chia thành 3 loại theo trình độ
chuyên môn: Loại 1, đã tốt nghiệp đại học trở lên. Những người mới vào
ngành hoặc mới chuyển ở cấp dưới lên, có trình độ nghiệp vụ vững, có thâm
niên công tác, thường giữ chức vụ lãnh đạo; loại 2, tốt nghiệp trung cấp, bao
gồm những người mới vào ngành hoặc mới chuyển ở cấp dưới lên, có thâm
niên công tác, đã qua các lớp đào tạo theo quy định của học viện Hải quan
quốc gia, có nhiều kinh nghiệm công tác và đã khẳng định được vị trí công tác
của mình; loại 3, tốt nghiệp phổ thông trung học, bao gồm những người mới
vào ngành, có ít nhất 3 năm công tác và đã qua các khóa đào tạo nghiệp vụ tại
Học viện Hải quan Quốc gia.
Công tác đào tạo được Hải quan Malaysia chia làm 2 khóa: Khóa bắt
buộc và khóa cơ bản. Khóa học bắt buộc cho tất cả 3 loại công chức mới được
tuyển vào ngành; khóa học cơ bản cho tất cả 3 loại công chức mới được tuyển
vào ngành hoặc mới chuyển ở cấp dưới lên. Nội dung và chương trình đào tạo
tuỳ thuộc từng loại công chức.
Sau 3 năm tập sự công chức lại được tiếp tục đào tạo các khóa học nâng
cao, đào tạo kỹ năng nghiệp vụ, đào tạo phụ trợ, thời gian, chương trình và
nội dung các khóa học này được xây dựng phù hợp với từng loại, từng cấp,
bậc công chức.
Hiện nay mô hình đào tạo của Malaysia được nhiều chuyên gia lấy làm
mẫu khi giới thiệu về công tác đào tạo cho Việt Nam.
76
2.3.2. Bài học rút ra cho Hải quan Việt Nam
Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về nhân lực hiện đại hóa hải quan,
có thể thấy nhân lực đóng một vai trò và vị trí rất quan trọng của cơ quan hải
quan trong quá trình hiện đại hóa, hiệu quả của việc quản lý và phát triển nhân
lực chính là chất lượng đội ngũ cán bộ công chức theo hướng chuyên nghiệp, có
phẩm chất, đạo đức đáp ứng trước yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao.
Bài học rút ra cho Hải quan Việt Nam từ nghiên cứu nhân lực hiện đại
hóa hải quan các nước nói trên gồm những vấn đề sau:
Một là, nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của
nhân lực hải quan đối với phát triển cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan nói
riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung trong hội nhập quốc tế để có
những chính sách, biện pháp trước mắt và lâu dài phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức hải quan, tạo tiền đề cho ngành Hải quan phát triển và chủ động hội nhập
quốc tế.
Hai là, năng lực và tư chất của con người là do giáo dục, đào tạo quyết
định. Do vậy, Chính phủ các nước luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức Hải quan về phẩm chất đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ.
Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ phải luôn luôn được quan
tâm thường xuyên và đều đặn trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Trước hoặc
ngay sau khi công chức khi được đề bạt chức vụ cao hơn thì phải có chứng
chỉ đào tạo, bồi dưỡng tăng cường năng lực tương ứng.
Giáo dục cho mọi công chức nêu cao ý thức tự giác học tập suốt đời;
hướng tới để mọi cán bộ, công chức coi việc đào tạo, bồi dưỡng là công việc bắt
buộc, thường xuyên, liên tục làm nền tảng cho việc hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Ba là, phải thực hiện việc thi tuyển công khai, minh bạch mang tính
cạnh tranh cao giữa các ứng cử viên. Đồng thời, xây dựng chương trình đào
tạo, bồi dưỡng cho công chức ngay từ khi mới vào ngành. Việc bố trí sau
tuyển dụng một cách hợp lý theo vị trí việc làm, phù hợp với trình độ năng
77
lực của từng cán bộ, công chức theo chuyên môn được đào tạo, nhằm giúp
cho họ phát huy khả năng, năng lực của bản thân. Quy định các tiêu chuẩn đối
với từng loại công chức, từ đó xây dựng quy hoạch và kế hoạch đào tạo theo
chức danh công chức.
Bốn là, cần đặc biệt lưu ý đến nhân lực trẻ, nhân lực được đào tạo bài
bản, có chuyên môn sâu. Có chính sách để giữ chân, tạo sự yên tâm trong
công việc những người có tài, những chuyên gia giàu kinh nghiệm như ưu đãi
thu nhập, khen thưởng, đề bạt, bổ nhiệm tương xứng.
78
Chương 3
THỰC TRẠNG NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN
VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 2011-2015
3.1. TỔNG QUAN VỀ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM TRONG
HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.1.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Hải quan Việt Nam
Hoạt động thuế quan của Việt Nam xuất hiện từ thời Lý (thế kỷ XI) và
trở thành một bộ phận hữu cơ của nền ngoại thương. Chưa có chứng cứ xác định
rõ hải quan xuất hiện ở đâu, nhưng có thể ở một số khu vực liên quan đến cảng
biển, cảng sông, các đảo là nơi có giao thương đầu tiên.
Năm 1858, Pháp xâm lược Việt Nam và đến 1884, bằng Hiệp ước
Patơnôt, Pháp đã đặt ách cai trị lên toàn bộ đất nước. Song song với bộ máy
cai trị, Pháp thiết lập hệ thống thuế quan khá hoàn chỉnh từ trung ương đến
địa phương. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp và vẫn giữ nguyên mô hình
bộ máy và các luật lệ của thuế quan Pháp và đổi tên thành Thương chính.
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Nhà nước ta dã thiết
lập hệ thống hải quan của chính quyền cách mạng.
Khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945-1954), Hải quan Việt Nam phối hợp cùng các lực lượng thực hiện chủ
trương bao vây kinh tế và đấu tranh kinh tế với địch. Nhiệm vụ chính trị của Hải
quan Việt Nam thời kỳ này là bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ của cách
mạng, tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia, kiểm soát hàng hoá xuất nhập
khẩu, đấu tranh chống buôn lậu giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm.
Giai đoạn 1954-1975, Hải quan Việt Nam được xác định là công cụ bảo
đảm thực hiện đúng đắn chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, ngoại hối,
thi hành chính sách thuế quan (thu thuế hàng hoá phi mậu dịch) tiếp nhận
hàng hoá viện trợ và chống buôn lậu qua biên giới. Năm 1973 Hiệp định Paris
được ký kết chấm dứt chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc. Hải quan Việt
79
Nam huấn luyện, chuẩn bị các điều kiện triển khai công tác khi miền Nam
được giải phóng.
Sau khi thống nhất đất nước Hải quan triển khai hoạt động trên địa bàn
cả nước từ tuyến biên giới phía Bắc đến tuyến biên giới phía Tây Nam, các
cảng biển, sân bay quốc tế, bưu cục ngoại dịch, trạm chở hàng. Do yêu cầu
quản lý tập trung thống nhất, Chính phủ đã có Quyết định số 80/CT ngày
5/3/1979 quyết định chuyển tổ chức Hải quan địa phương thuộc UBND tỉnh,
thành phố về thuộc Cục Hải quan, Bộ Ngoại thương.
Ngày 24/2/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký lệnh công bố Pháp
lệnh Hải quan. Pháp lệnh gồm 51 điều, chia làm 8 chương, có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/5/1990. Pháp lệnh Hải quan xác định chức năng của Hải quan
Việt Nam là quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu,
xuất nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận
chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối hoặc tiền Việt Nam qua biên giới. Bộ
máy tổ chức của Hải quan Việt Nam được xác định rõ, tổ chức theo nguyên
tắc tập trung thống nhất, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng Bộ trưởng.
Ngày 4/9/2002, Thủ tướng ký Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg chuyển
Tổng cục Hải quan về trực thuộc Bộ Tài chính cho đến ngày nay.
Hải quan Việt Nam đã tham gia và trở thành thành viên chính thức của
Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) từ ngày 01/7/1993 và từ đó đã mở rộng
quan hệ với tổ chức Hải quan thế giới và Hải quan khối ASEAN, đã ký kết
song phương, đa phương, Liên minh Hải quan với nhiều nước trên thế giới.
Trải qua 70 năm hình thành và phát triển Ngành đã có những góp to lớn
trong quá trình bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia, trong quá trình hội nhập,
phát triển kinh tế đất nước, thu hút đầu tư nước ngoài. Đặc biệt tiền thuế mà
lực lượng hải quan thu được hàng năm là không nhỏ, khoảng 30%, góp phần
to lớn và duy trì nguồn thu ngân sách luôn đạt và vượt so với dự toán, tạo cơ
sở vững chắc có nguồn chi ngân sách nhà nước. Đến nay, ngành Hải quan đã
80
được Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Lao động
hạng Ba năm 1967, Huân chương Lao động hạng Nhì năm 1978, Huân
chương Độc lập hạng Nhì 1990, Huân chương Hồ Chí Minh năm 1995, Huân
chương Lao động hạng Nhất năm 2015. Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập và
mở cửa, ngành Hải quan đã trưởng thành và tiếp tục có những đóng góp quan
trọng cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
3.1.2. Quá trình hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trong hội nhập
quốc tế và những kết quả đạt được trong giai đoạn 2011-2015
3.1.2.1. Xây dựng và triển khai kế hoạch hiện đại hóa hải quan trong
hội nhập quốc tế
Trên cơ sở chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, Tổng cục Hải
quan đã xây dựng kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan giai
đoạn 2011 - 2015 và đã được Bộ Tài chính phê duyệt tại Quyết định số
1514/QĐ-BTC ngày 22/6/2011. Theo đó, định hướng cơ bản của cải cách,
hiện đại hóa hải quan trong giai đoạn 2011 - 2015 gồm 05 mục tiêu lớn.
Một là, thực hiện thủ tục hải quan điện tử đảm bảo việc triển khai việc
tiếp nhận, xử lý thông tin lược khai hàng hoá điện tử (e-Manifest); xử lý dữ
liệu thông quan điện tử (e-Clearance); thực hiện thanh toán thuế, lệ phí hải
quan bằng phương thức điện tử (e-Payment); tiếp nhận, trao đổi thông tin giấy
phép và C/O điện tử (e-C/O và e-Permit) với các cơ quan liên quan.
Hai là, triển khai đề án quản lý rủi ro, trong đó trọng tâm vào việc nâng
cao hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro cả trước, trong và sau thông quan.
Ba là, xây dựng các địa điểm kiểm tra hàng hoá tập trung tại các địa
bàn trọng điểm (cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu đường bộ quốc tế, các
khu kinh tế trọng điểm) theo quy hoạch được duyệt; đầu tư hệ thống máy móc
trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác kiểm tra giám sát (máy soi container,
máy soi hành lý, hệ thống camera giám sát, bộ công cụ hỗ trợ...).
Bốn là, triển khai chương trình doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt phù hợp
với các chuẩn mực quốc tế và điều kiện đặc thù của Việt Nam.
81
Năm là, xây dựng và vận hành hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động của ngành.
3.1.2.2. Kết quả thực hiện công tác hiện đại hóa
Bằng những nỗ lực phấn đấu trong kế hoạch cải cách, phát triển, hiện
đại hóa, cán bộ, công chức Hải quan đã hoàn thành nhiệm vụ và đạt được
những kết quả rất đáng khích lệ sau đây:
* Công tác thể chế
Công tác xây dựng thể chế trong giai đoạn 2005-2014 được thực hiện
một cách chủ động, tích cực, tạo nền tảng pháp lý cho hoạt động hải quan đến
năm 2020 và các năm tiếp theo, đồng thời, đã tạo đủ cơ sở pháp lý cho triển
khai các hoạt động cải cách, hiện đại hóa hải quan.
Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã được ban hành
và có hiệu lực từ ngày 01/01/2002. Qua quá trình thực hiện còn có vướng
mắc, cũng như để phù hợp với công cuộc cải cách, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế, Luật sửa đổi một số điều của Luật Hải quan đã được ban hành năm
2005 và Luật Hải quan năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2014,
có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
Đến nay, các quy định tại văn bản quy phạm pháp luật Hải quan Việt
Nam đã thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương
thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử; áp dụng đầy đủ
nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát Hải quan; quy định cụ thể
hoạt động kiểm tra sau thông quan để doanh nghiệp có thể giám sát việc thực thi
của cơ quan Hải quan; quy định việc trao đổi dữ liệu điện tử giữa cơ quan hải
quan và các cơ quan Bộ, Ngành (Cơ chế một cửa quốc gia); đơn giản hóa bộ hồ
sơ hải quan; thực hiện cơ chế xác định trước về mã số, xuất xứ, trị giá hải quan;
quy định chế độ ưu tiên, tạo thuận lợi về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp đáp
ứng đủ điều kiện (Doanh nghiệp ưu tiên - AEO); quy định quyền và trách nhiệm
của người khai hải quan và các bên liên quan (cơ quan kiểm tra chuyên ngành,
doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho bãi,…); quy định quản lý đối với hàng hóa
đặc thù (gia công, sản xuất kinh doanh, xăng dầu, tạm nhập tái xuất…).
82
Luật Thuế xuất nhập khẩu ban hành năm 2016 đã đơn giản hoá thủ tục
về thuế; đảm bảo tính công bằng, trong đó chú trọng đến phát triển các doanh
nghiệp sản xuất trong nước; thúc đẩy một số ngành nghề mũi nhọn phát triển.
Bên cạnh đó, ngành Hải quan cũng tích cực tham gia xây dựng và sửa
đổi các Luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thực hiện nhằm thực hiện
quản lý hải quan hiện đại theo chuẩn mực quốc tế ngang bằng với các nước
tiên tiến trong khu vực và thế giới.
* Thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Thủ tục hải quan điện tử được thí điểm triển khai từ 2005 với 02 Chi
cục tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng với mục tiêu tạo
thuận lợi về mặt thủ tục và rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa cho doanh
nghiệp XNK. Kết quả triển khai thủ tục hải quan điện tử đến hết ngày
31/12/2013 đã có 100% Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố thực hiện.
Từ ngày 01/4/2014, Tổng cục Hải quan chính thức triển khai hệ thống tự
động hóa thủ tục hải quan do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, gọi tắt là
VNACCS/VCIS. Hiện nay, hệ thống này đã được 100% Chi cục trong toàn
quốc thực hiện, với 99% tổng số tờ khai hải quan được xử lý tự động.
* Công tác thu thuế
Phối hợp với Tổng cục Thuế để xây dựng Luật số 21/2012/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn
Luật; Nghị định 83/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật
Quản lý thuế và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;
thay thế một số nghị định không còn phù hợp.
Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu về thuế phục vụ cho triển khai thủ tục hải quan
điện tử, triển khai e-Payment: Xây dựng cơ sở dữ liệu về danh mục phân loại
hàng hóa, biểu thuế xuất nhập khẩu; thực hiện đề án “Xây dựng hệ thống
quản lý thông tin, cơ sở dữ liệu giá tính thuế GTT01”.
Trung bình thu NSNN giai đoạn 2011- 2015 của ngành Hải quan đạt
khoảng trên 225 nghìn tỷ đồng/năm, cao hơn trung bình giai đoạn 2008- 2010
83
(150 nghìn tỷ đồng/năm). Năm 2014 đạt 235.000 tỷ đồng; Năm 2015 đạt:
260.100 tỷ đồng.
* Công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại
Tính từ năm 2011 đến hết quý III/2014, toàn ngành Hải quan đã phát
hiện, bắt giữ được 91.899 vụ việc, trị giá hàng hoá vi phạm ước khoảng 2.397
tỷ đồng, số tiền thu nộp ngân sách đạt 697.568 tỷ đồng. Đã khởi tố hình sự 70
vụ, phát hiện, bắt giữ, thực hiện một số hoạt động điều tra ban đầu và chuyển
vụ việc cơ quan khác khởi tố, điều tra 222 vụ.
Hiện nay, lực lượng điều tra chống buôn lậu của Ngành đang tập trung
nguồn lực tổ chức triển khai Đề án "Tăng cường năng lực cho lực lượng
chuyên trách chống buôn lậu đến năm 2020".
* Công tác kiểm tra sau thông quan
Từ năm 2011 đến hết tháng 9/2014, lực lượng KTSTQ đã thực hiện
được tổng số 9.363 cuộc kiểm tra (gấp 1,95 lần so với giai đoạn từ 2005-
2010), trong đó có 1.407 cuộc KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp (chiếm 15%
tổng số cuộc, giai đoạn 2005-2010 là 12,9%), ban hành quyết định ấn định
4.269,2 tỷ đồng (gấp 3,17 lần so với giai đoạn từ 2005-2010), thực thu NSNN
3.479,6 tỷ đồng (gấp 3,43 lần so với giai đoạn từ 2005 - 2010). Trong giai
đoạn này (2011-9/2014), mỗi năm kiểm tra đánh giá được sự tuân thủ từ 2,56
- 5,3% các doanh nghiệp hoạt động XNK.
* Phát triển hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động
Tổng cục Hải quan đã công bố công khai kết quả thời gian trung bình
giải phóng hàng của Hải quan Việt Nam, từ đó có số liệu gốc để các cục hải
quan địa phương, các chi cục làm căn cứ phấn đấu giảm thời gian thông quan
để đạt mốc thời gian trung bình của các nước ASEAN.
Ban hành và thực hiện bộ chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động trong
ngành Hải quan. Từ đó các đơn vị có căn cứ để xây dựng bộ chỉ số và tiêu chí
kiểm tra, đánh giá nội bộ.
84
Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của ngành Hải quan còn làm căn
cứ để lãnh đạo so sánh với đơn vị tương đồng và rút kinh nghiệm trong quá
trình chỉ đạo điều hành. Đã thực hiện khảo sát đánh giá sự hài lòng của doanh
nghiệp với cơ quan Hải quan trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử
năm 2012, 2013.
* Áp dụng quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là việc áp dụng có hệ thống các biện pháp, quy trình
nghiệp vụ và thông lệ nhằm giúp cơ quan Hải quan bố trí, sắp xếp nguồn lực
hợp lý để tập trung quản lý có hiệu quả đối với các lĩnh vực, đối tượng được
đánh giá là rủi ro.
Quản lý rủi ro được áp dụng trong hầu hết các nghiệp vụ hải quan và
được luật hóa từ 2005, nó là nền tảng để chuyển từ quản lý hải quan thủ công,
truyền thống sang quản lý hải quan hiện đại. Quản lý rủi ro giúp cơ quan hải
quan có được thông tin về hàng hóa trước khi làm thủ tục hải quan, cũng như
làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ khác như: KTSTQ;
ĐTCBL... một cách chủ động, hiệu quả.
* Phát triển quan hệ đối tác
Hoạt động phát triển quan hệ đối tác hải quan - doanh nghiệp nhằm
khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tham gia quan hệ
đối tác với cơ quan hải quan. Qua đó, doanh nghiệp hiểu, đồng thuận, đồng
hành với cơ quan hải quan trong xây dựng và thực thi chính sách pháp luật về
hải quan, góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Để làm được việc trên, cơ quan hải quan chủ động thực hiện các giải
pháp cơ bản về phát triển quan hệ đối tác: (i) Thông tin; (ii) Tham vấn; (iii)
Tham gia; (iv) Hợp tác. Trong đó khuyến khích các doanh nghiệp lớn, có uy
tín, có quá trình chấp hành pháp luật tốt tham gia hợp tác với cơ quan hải
quan thông qua các chương trình đối tác chuyên đề dưới hình thức ký kết văn
bản thỏa thuận hợp tác, biên bản ghi nhớ, biên bản làm việc. Bằng cách này,
85
các bên tham gia có điều kiện đúc rút kinh nghiệm, cách làm hay, đề xuất các
giải pháp phù hợp nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của
doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan hải quan
Tổng cục Hải quan đã ban hành văn bản hướng dẫn phát triển quan hệ
đối tác hải quan - doanh nghiệp. Trong đó nêu rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng
áp dụng, nguyên tắc thực hiện quan hệ đối tác, phân loại đối tác, phân công
nhiệm vụ các đơn vị trong thực hiện quan hệ đối tác hải quan - doanh nghiệp.
Xây dựng tổ chức bộ máy và nhân sự về phát triển quan hệ đối tác hải
quan - doanh nghiệp ở cấp khối cơ quan Tổng cục và hải quan địa phương.
Trong đó nêu rõ đơn vị đầu mối, trách nhiệm của các đơn vị tại cơ quan
TCHQ và các Cục Hải quan tỉnh, thành phố trong thực hiện phát triển quan hệ
đối tác hải quan - doanh nghiệp.
Xây dựng đề án cấp Bộ về chương trình khuyến khích doanh nghiệp tự
nguyện tuân thủ pháp luật hải quan; tiếp tục xem xét hồ sơ và xét công nhận
doanh nghiệp ưu tiên; xây dựng cơ sở pháp lý phục vụ cho việc phát triển
quan hệ đối tác với đại lý làm thủ tục hải quan cũng như đề xuất các giải pháp
phát triển đại lý hải quan.
* Trang thiết bị kỹ thuật
Tổng cục Hải quan đầu tư xây dựng Trung tâm chỉ huy đặt tại cơ quan
Tổng cục để thu thập, xử lý thông tin 24/7 nhằm kịp thời phòng ngừa, ngăn
chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, hỗ trợ, tạo thuận lợi
cho người dân và doanh nghiệp tham gia XNK, XNC.
Để tạo điều kiện thuận lợi, giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp
thực hiện thủ tục hải quan, ngành Hải quan đã và đang tiếp tục đầu tư, trang bị
nhiều máy móc hiện đại như: 11 máy soi container (loại cố định, di động, bán
cố định), 97 máy soi hành lý, hàng hóa, 19 hệ thống camera giám sát, trang bị
nhiều thiết bị an toàn phóng xạ và các bộ dụng cụ phục vụ kiểm tra thực tế
hàng hóa; Trung tâm phân tích hàng hóa được trang bị nhiều thiết bị hiện đại
86
để phân tích, giám định hàng hóa; thường xuyên rà soát bổ sung, sửa chữa các
công cụ hỗ trợ trong quá trình thông quan và kiểm soát chống buôn lậu (Hệ
thống dữ liệu định vị tàu biển AIS; hệ thống thu chặn tín hiệu điện thoại; hệ
thống định vị giám sát trên không - thiết bị bay không người lái; hệ thống
phân tích giọng nói đa lớp - phát hiện nói dối,...).
Đầu tư tàu cao tốc, ca nô, xuồng máy phục vụ công tác kiểm soát,
phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại.
Tổng cục Hải quan cũng đã đầu tư xây dựng và đưa vào quản lý, sử
dụng chó nghiệp vụ phục vụ cho quá trình kiểm tra hàng hóa, hành lý, phòng
chống buôn bán, vận chuyển, tàng trữ các chất ma túy, vũ khí, vật liệu nổ,...
Quy hoạch và xây dựng các địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung để
vừa bảo đảm quản lý vừa tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu.
3.2. THỰC TRẠNG VỀ NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
HẢI QUAN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015
Những năm qua, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế
quốc tế và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
ngành Hải quan đã triển khai tích cực kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại
hóa ngành, trong đó vấn đề nhân lực đã có những chuyển biến tích cực. Tính
đặc thù của hoạt động hải quan và môi trường công tác phức tạp về nghiệp vụ,
mang tính chuyên môn cao; cơ chế quản lý, hệ thống văn bản pháp luật chưa
đồng bộ, luôn thay đổi; yêu cầu của hội nhập đòi hỏi thủ tục giải quyết công
việc phải nhanh, tạo thuận lợi cho khách hàng… những yếu tố đó là áp lực có
tác động thường xuyên và trực tiếp đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức Hải quan để thực hiện mục tiêu hiện đại hóa và hội nhập quốc tế tức
công tác phát triển nhân lực hải quan trong tình hình hiện nay.
Theo báo cáo chính trị Ban Chấp hành Đảng bộ cơ quan Tổng cục Hải
quan tại Đại hội Đại biểu lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020; cùng với báo cáo
công tác hàng năm của Tổng cục Hải quan, có thể thấy công tác nhân lực để
hiện đại hóa ngày càng được hết sức chú trọng.
87
Điều 15, Luật Hải quan Việt Nam 2014 quy định về công chức hải quan
xác định: (1) Công chức Hải quan là người có đủ điều kiện được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hải quan; được đào tạo,
bồi dưỡng và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức; (2) Chế độ phục vụ, chức danh, tiêu chuẩn, lương, phụ cấp thâm niên,
chế độ đãi ngộ khác đối với công chức hải quan, hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp
hiệu, trang phục, giấy chứng minh hải quan theo quy định của Chính phủ [32].
Bộ nội vụ quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ công chức Hải quan đối với
ngạch kiểm tra viên cao cấp hải quan, kiểm tra viên chính hải quan, kiểm tra
viên hải quan, kiểm tra viên cao đẳng hải quan, kiểm tra viên trung cấp hải
quan, nhân viên hải quan.
Theo quy định thì: (1) Kiểm tra viên cao cấp hải quan là công chức
chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của ngành Hải quan, giúp lãnh đạo Tổng cục
Hải quan chỉ đạo, tổ chức triển khai và trực tiếp thực thi pháp luật về hải quan
theo quy định của Luật Hải quan với quy mô lớn, độ phức tạp cao, tiến hành
trong phạm vi nhiều tỉnh hoặc toàn quốc; (2) Kiểm tra viên chính hải quan là
công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, giúp lãnh đạo chủ trì,
tổ chức và thực thi pháp luật về hải quan theo quy định của Luật Hải quan tại
các đơn vị trong ngành Hải quan; (3) Kiểm tra viên hải quan, kiểm tra viên
cao đẳng hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan,
trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ được quy định trong các quy chế quản lý,
trong các quy trình nghiệp vụ hải quan theo sự phân công của lãnh đạo; (4)
Kiểm tra viên trung cấp hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của
ngành hải quan, được lãnh đạo giao trực tiếp thực hiện một số công việc thuộc
lĩnh vực nghiệp vụ công tác hải quan; (5) Nhân viên hải quan là công chức
thừa hành ở các đơn vị hải quan cơ sở và trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể thuộc chuyên môn nghiệp vụ hải quan do lãnh đạo phân công [32].
88
Những nội dung và yêu cầu cụ thể về chất lượng đối với nhân lực
ngành hải quan cũng tuân theo những nội dung và yêu cầu nêu trong Quyết
định số 952/QĐ-TCHQ ngày 03/4/2015 của Tổng cục hải quan về việc sửa
đổi một số nội dung của “Tuyên ngôn phục vụ khách hàng” của ngành là
Chuyên nghiệp - Minh bạch - Hiệu quả - thể hiện sự cam kết của ngành Hải
quan trước cộng đồng xã hội về việc đảm bảo tạo thuận lợi, đáp ứng yêu cầu
quản lý Nhà nước về Hải quan đối với các hoạt động thương mại, đầu tư và
du lịch quốc tế. Những nội dung và yêu cầu cụ thể cũng phù hợp với Nghị
quyết số 04/NQ-ĐU ngày 29/3/2013 của Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ Bộ
Tài chính ban hành chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên tài chính học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Quy định số 315-ĐU/TC-ĐU
ngày 18/02/2012 của Đảng ủy Cơ quan Tổng cục Hải quan về tiêu chuẩn đạo
đức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cơ quan Tổng cục Hải quan;
Quyết định số 2678/QĐ-TCHQ ngày 22/12/2009 của Tổng cục Hải quan về
việc Ban hành tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của
Tổng cục Hải quan.
3.2.1. Thực trạng về số lượng, chất lượng, cơ cấu nhân lực hải quan
Việt Nam
3.2.1.1. Về số lượng nhân lực
Tính đến tháng 31/12/2015, toàn ngành có 10.361 CBCC (chỉ tính số
biên chế, có mặt tại đơn vị), trong đó:
+ Khối cơ quan Tổng cục: 1.392 người (chiếm 13%) ;
+ Các Cục Hải quan tỉnh, thành phố: 8.969 người (chiếm 87%);
+ Tổng số cán bộ nữ: 3.541 người (chiếm 33,2%);
+ Dân tộc thiểu số: 448 người (chiếm 4,2%);
+ Tôn giáo: 31 người (chiếm gần 0,3%)
+ Đảng viên: 6.893 người (chiếm 64,7%) [32].
Trong giai đoạn 2012-2015, số lượng CBCC có sự biến động không
đáng kể, vẫn duy trì ở mức khoảng 10,3 nghìn người. Duy nhất năm 2011,
89
bắt đầu triển khai thực hiện kế hoạch cải cách hiện đại hóa giai đoạn 2011-
2015, số lượng cán bộ công chức được bổ sung một lượng đáng kể, gần 1
nghìn người [50].
Bảng 3.1: Thống kê tổng số cán bộ, công chức trong 5 năm
Đơn vị: người
Năm
2011
2012
2013
2014
2015
10.283
10.628
10.514
10.361
9.315
Tổng số CBCC
2.949
3.506
3.624
3.597
3.541
Phụ nữ
5.392
6.079
6.973
6.728
6.893
Đảng Viên
357
401
430
437
448
Dân tộc ít người
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
So sánh giữa năm 2015 với 2011, ta nhận thấy có sự biến động tăng về
số lượng Đảng viên (28%), số lượng nữ (20%), cán bộ, công chức là dân tộc ít
người (25%).
Mức độ già hóa nhân lực đang có xu hướng gia tăng. Nếu ở năm 2011
có 2.051 CBCC ở độ tuổi từ 30 trở xuống, thì đến 2015 ở độ tuổi này chỉ còn
1.793 CBCC; đồng nghĩa với thực trạng số lượng nhân lực ở độ tuổi từ 51 đến
60 tăng dần, năm 2011 là 1.247 CBCC, thì đến năm 2015, lực lượng này là
2.272 CBCC (tăng hơn 80%) [32].
Bảng 3.2: Thống kê theo độ tuổi trong 5 năm
Đơn vị: người
Năm
Từ 31 đến 50 tuổi
Từ 51 đến 60
Từ 30 tuổi trở xuống 2051
6130
1247
2011
2499
6036
1748
2012
2013
2595 2177
6096 6193
1937 2144
2014
1793
6296
2272
2015
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
90
Lý giải cho những vấn đề trên chủ yếu là trước giai đoạn 2011-2015, ngành
Hải quan đã được tuyển dụng một số lượng cán bộ, công chức đủ để bước đầu
triển khai công tác cải cách, hiện đại hóa. Tiếp theo giai đoạn 2011 đến nay, theo
yêu cầu tinh giản tổ chức bộ máy, giảm số lượng, những khâu không cần thiết
thực hiện thủ tục hành chính theo Nghị quyết của Đảng, của Chính phủ, vì vậy khi
số lượng cán bộ, công chức Hải quan giảm tự nhiên (nghỉ hưu, chết, chuyển
ngành...) thì chủ yếu là được bổ sung bằng lực lượng chuyển ngành (những người
đã có kinh nghiệm, nhiều năm thâm niên ở lĩnh vực khác, không phải tuổi trẻ, mới
ra trường...) hoặc được xét tuyển một số lượng rất hạn chế. Vì vậy, độ tuổi của cán
bộ, công chức hải quan dưới 30 tuổi ngày càng có xu hướng giảm.
3.2.1.2. Chất lượng nhân lực Hải quan Việt Nam
* Về thể lực
Ngành Hải quan luôn chú trọng, quan tâm, chăm lo đến sức khỏe các
cán bộ, công chức. Tại khối cơ quan Tổng cục có bộ phận y tế với 02 bác sỹ
đa khoa để tham mưu và tổ chức triển khai các công tác về chăm sóc sức khỏe
cho toàn ngành. Định kỳ năm 2 lần tổ chức khám sức khỏe tập trung cho cán bộ,
công chức. Mỗi cán bộ công chức được mua bảo hiểm y tế để khám, chữa bệnh
tại các bệnh viện, trung tâm y tế thuận tiện cho cán bộ, công chức đó [32].
Bên cạnh đó, tại bộ phận y tế cơ quan có trang bị tủ thuốc để có thể kịp
thời cung cấp và điều trị một số bệnh đơn giản cho cán bộ, công chức trong
giờ hành chính. Đến nay, nhân lực hải quan Việt Nam cơ bản là mạnh khỏe,
đáp ứng được yêu cầu công việc. Một bộ phận đặc thù như điều tra chống
buôn lậu còn có sự dẻo dai, nhanh nhẹn để phù hợp với đặc thù môi trường
công tác thường xuyên đi lại, dầm mưa, dãi nắng và làm việc tại các địa bàn
hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt để ngăn ngừa buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hóa, vũ khí, ma túy, tiền giả...
* Về trí lực của nhân lực hải quan
Toàn ngành Hải quan có 43 cán bộ Hải quan trực tiếp làm công tác
tham mưu theo dõi, giúp việc cho Tổng cục trưởng về công tác tổ chức cán
bộ, chiếm tỷ lệ 0,4% trong toàn ngành, chiếm tỷ lệ 3% trong tổng số cán bộ,
công chức khối cơ quan Trung ương (cơ quan Tổng cục) [32].
91
Có 8.456 CBCC giữ ngạch từ chuyên viên trở lên chiếm tỷ lệ 97,3%,
trong đó:
+ Chuyên viên cao cấp: 27 người; tỷ lệ 0,3%
+ Chuyên viên chính: 823 người; tỷ lệ 9,7% [32].
Số cán bộ, công chức giữ ngạch chuyên viên cao cấp và chuyên viên
chính là 850 người, tỷ lệ 10%; chuyên viên và cán sự 7.606 CBCC chiếm tỷ lệ
90%. Nhìn chung, CBCC ngành Hải quan khi giữ ngạch CVCC và CVC đã
được bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhà nước, chương trình chuyên
viên chính và chuyên viên cao cấp [32].
Bảng 3.3: Thống kê ngạch công chức trong 5 năm
Đơn vị: người
Năm
Tổng số
Còn lại
9315
CVCC và TĐ 10
Chia theo ngạch CC CV và TĐ 6148
CVC và TĐ 990
CS và TĐ 1460
708
2011
10283
10
958
6945
1597
773
2012
2013
10628 10514
17 23
935 882
7395 7467
1633 1561
648 581
2014
10361
27
823
7606
1374
531
2015
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
Tỷ lệ chuyên viên cao cấp và chuyên viên chính toàn ngành là rất thấp,
nhất là chuyên viên cao cấp chỉ có 27 người (chiếm 0,3%) do hàng năm nhà
nước phân bổ chỉ tiêu thi nâng ngạch cho ngành Hải quan với số lượng ít,
chưa hợp lý. Ngoài ra, đội ngũ CBCC ở địa phương ít có điều kiện học tập
nên việc tập trung chuẩn hoá cho đội ngũ này còn gặp nhiều khó khăn. Vì
vậy, cần phải xác định lại cơ cấu ngạch chuyên viên cao cấp và chuyên viên
chính trong toàn ngành Hải quan để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng [32].
Nếu chia theo cấp lãnh đạo thì có 210 người từ cấp lãnh đạo vụ, cục và
tương đương trở lên chiếm 2% tổng số cán bộ công chức, nếu tính số lượng là
lãnh đạo cấp phòng, chi cục, đội kiểm soát và tương đương thì có 1.274
người, chiếm 12,3% tổng số cán bộ, công chức [32].
92
Biểu đồ 3.1: Thực trạng cán bộ lãnh đạo các cấp
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
- Thực trạng trình độ CBCC về chuyên môn nghiệp vụ theo văn bằng
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo văn bằng của đội ngũ CBCC
ngành Hải quan cụ thể như sau:
+ Tiến sĩ: 20 người, tỷ lệ 0,1%;
+ Thạc sĩ: 1.080 người, tỷ lệ 10,1%;
+ Đại học: 8.123 người, chiếm 76,4%;
+ Cao đẳng, trung cấp: 873 người, tỷ lệ 8,1%;
+ Chưa qua đào tạo: 566 người, tỷ lệ 5,3% [32].
Bảng 3.4: Thống kê trình độ đào tạo trong 5 năm
Đơn vị: người
Chuyên môn
Chính trị
Năm
Tiến
Thạc
Cao
Trung
Đại
Trung
Cao
Còn lại
học
sỹ
đẳng
sỹ
cấp
cấp
cấp
14
265
7134
872
500
604
594
2193
2011
14
516
8126
810
432
385
534
2250
2012
14
691
8404
765
385
369
565
2192
2013
17
872
8264
677
364
320
609
2187
2014
20
1080
8123
593
280
265
611
2141
2015
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
93
Như vậy, cho đến nay toàn ngành Hải quan đã có 10.096 CBCC được đào
tạo từ bậc trung học trở lên chiếm tỷ lệ 94,5%, trong đó: CBCC có trình độ đại
học trở lên chiếm tỷ lệ khá cao 86,6% (năm 1993, chỉ khoảng 25% CBCC có trình
độ đại học) do chất lượng tuyển dụng đầu vào trong những năm gần đây ngày
càng tăng lên. Đồng thời, Ngành cũng tăng cường công tác đào tạo chuẩn hoá và
nâng cao trình độ đội ngũ CBCC [32].
Tuy nhiên, số lượng CBCC chưa qua đào tạo vẫn còn cao, chiếm tỷ lệ
5,3% của toàn Ngành, nguyên nhân là do lịch sử để lại, trước đây nhiều công
chức trên 50 tuổi có quá trình công tác trong ngành, có năng lực công tác
nhưng chưa có trình độ cao đẳng, đại học theo yêu cầu. Ngoài ra, còn do một
số CBCC chuyển ngành từ lực lượng vũ trang (quân đội và công an...) và một
số cán bộ khi được tuyển dụng không có điều kiện học tiếp; một số công việc
không đòi hỏi phải có trình độ cao...
Qua cuộc khảo sát doanh nghiệp năm 2015, thì có cục hải quan tỉnh
thành phố được trên 90% doanh nghiệp đánh giá cán bộ, công chức hải quan
là tốt/khá trong mức độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ thực hiện thủ tục hành
chính hải quan. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách khá lớn đối với cục hải quan
thấp nhất, tỷ lệ này là gần 70% [tham khảo bảng 4].
Nhìn chung, CBCC ngành Hải quan đã được đào tạo chuyên môn
nghiệp vụ chất lượng ngày càng nâng cao, có khả năng đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ mới ngày càng tốt hơn.
Biểu đồ 3.2: Thực trạng trình độ cán bộ, công chức về chuyên môn nghiệp vụ theo văn bằng Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
94
- Thực trạng trình độ CBCC về lý luận chính trị và quản lý nhà nước
Về trình độ lý luận chính trị: tính đến 31/12/2015 toàn ngành Hải quan
đã có 2.752 CBCC có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ
25,8% [32], trong đó:
+ Lý luận chính trị cao cấp: 611 CBCC, chiếm tỷ lệ 5,7% tập trung chủ
yếu là đội ngũ lãnh đạo Tổng cục, lãnh đạo cấp Vụ, Cục, chuyên viên cao cấp
và tương đương; cán bộ đã được Tổng cục duyệt quy hoạch lãnh đạo cấp Vụ,
Cục và tương đương [32];
+ Lý luận chính trị trung cấp: 2.141 CBCC tỷ lệ 20,1% tập trung vào
cán bộ lãnh đạo cấp Phòng, Chi cục, Đội thuộc Chi cục và tương đương; cán
bộ đã được Tổng cục duyệt quy hoạch lãnh đạo cấp Phòng, Chi cục, Đội
thuộc Chi cục và tương đương;
+ Lý luận sơ cấp: 1.726 CBCC (16,2%) [32].
Biểu đồ 3.3: Thực trạng trình độ cán bộ, công chức về lý luận chính trị
và quản lý nhà nước
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
- Thực trạng trình độ cán bộ công chức về tin học
Trình độ tin học của đội ngũ CBCC ngành Hải quan được thể hiện như sau:
95
+ Trung cấp trở lên: 707 người, tỷ lệ 6,6%,
+ Chứng chỉ tin học văn phòng: 9.166 người, tỷ lệ 86%
Như vậy, cho đến nay toàn ngành Hải quan đã có hơn 9 nghìn CBCC
được đào tạo, bồi dưỡng tin học từ cơ bản trở lên, chiếm tỷ lệ khá cao là 95%
tổng toàn Ngành. Nhìn chung, số lượng này có đủ khả năng sử dụng các chương
trình máy tính văn phòng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới. Tuy nhiên, số
CBCC chưa qua đào tạo vẫn còn đông chủ yếu là các công chức trên 50 tuổi vào
ngành trước năm 1995 (thời kỳ tuyển dụng chưa yêu cầu tin học) [32].
Biểu đồ 3.4: Thực trạng trình độ cán bộ công chức về tin học
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
- Thực trạng trình độ cán bộ công chức về ngoại ngữ
Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ CBCC ngành Hải quan được thể hiện
như sau:
+ Có 9.364 CBCC, chiếm 87,8% cán bộ hải quan có trình độ ngoại ngữ
tiếng Anh, trong đó có khoảng 7,3% có trình độ tiếng anh đại học trở lên.
+ Có khoảng gần 9% cán bộ có trình độ ngoại ngữ khác.
+ Không có chứng chỉ ngoại ngữ chiếm tỷ lệ gần 3%, chủ yếu là các
công chức trên 50 tuổi vào ngành trước năm 1995 (thời kỳ tuyển dụng chưa
yêu cầu ngoại ngữ) [32].
96
Bảng 3.5: Thống kê trình độ tin học, ngoại ngữ trong 5 năm
Đơn vị: người
Tin học
Ngoại ngữ
Anh văn
Khác
Năm
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Trung cấp trở lên
Chứng chỉ
Cao đẳng trở lên
358
7920
Cao đẳng trở lên 795
7236
153
723
2011
628
9032
699
8370
167
634
2012
697
9340
736
8630
176
656
2013
647
9214
754
8696
175
706
2014
707
9166
744
8590
181
766
2015
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
Mặt khác, qua khảo sát đánh giá thực tế của ngành, số CBCC có chứng
chỉ ngoại ngữ nhưng có khả năng sử dụng vào thực tế công việc chỉ đạt
khoảng 20% (80% cần phải đào tạo lại), nguyên nhân là do đa số CBCC
không có môi trường làm việc liên quan trực tiếp đến ngoại ngữ và do chất
lượng đào tạo ngoại ngữ không cao.
Tuy nhiên, qua thống kê thì số lượng cán bộ, công chức được đào tạo
và có chứng chỉ ngoại ngữ, tin học ngày càng tăng.
Biểu đồ 3.5:Thực trạng trình độ cán bộ công chức về ngoại ngữ
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
- Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức Hải quan theo khảo sát
doanh nghiệp năm 2015.
97
Mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Hải quan được
đánh giá theo các nhóm thủ tục. Trong khi có một tỷ lệ tương đối lớn các doanh
nghiệp đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ của công chức Hải
quan chỉ ở mức bình thường (từ 38-54%), thì cũng có tỷ lệ đáng kể các doanh
nghiệp đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ của công chức Hải
quan ở mức khá/tốt. Cụ thể, tiêu chí có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá cao nhất về
mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Hải quan là thủ tục
thông quan ở khâu kiểm tra hồ sơ (60% đánh giá khá/tốt), kế đến là khâu kiểm
tra thực tế hàng hóa (57%) và thủ tục quản lý thuế ở khâu nộp thuế (52%). Tỷ
lệ doanh nghiệp đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ
hải quan ở mức kém/rất kém là khá nhỏ, xung quanh mức 1-6% tổng số doanh
nghiệp phản hồi [32].
Phần lớn các doanh nghiệp đánh giá khá/tốt về kỹ năng giải quyết công
việc của công chức Hải quan ở các khâu thực hiện thủ tục. Kỹ năng giải quyết
công việc của công chức Hải quan trong một số thủ tục/khâu có tỷ lệ doanh
nghiệp đánh giá khá/tốt cao là thủ tục thông quan - khâu kiểm tra hồ sơ (56%),
khâu kiểm tra thực tế hàng hóa (54%), xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát
(49%) và thủ tục nộp thuế (49%). Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá mức độ kỹ năng
giải quyết công việc của cán bộ hải quan ở mức kém/rất kém là khá nhỏ, xung
quanh mức 1-5% tổng số doanh nghiệp phản hồi [32].
Trong số những doanh nghiệp đã từng khiếu nại quyết định xử phạt vi
phạm hành chính của cơ quan hải quan, có 54% doanh nghiệp hài lòng/hoàn toàn
hài lòng với kết quả giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, cũng có tới 22% doanh
nghiệp cho biết họ không hài lòng/hoàn toàn không hài lòng với kết quả này [32].
* Về tâm lực
- Phẩm chất chính trị, đạo đức
Cán bộ, công chức Hải quan Việt Nam luôn quán triệt và chấp hành
nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà
98
nước, của ngành và địa phương trong triển khai công việc và trong cuộc sống
sinh hoạt.
Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục và vận động cán bộ, công chức
trong đơn vị quán triệt và nghiêm túc thực hiện đường lối chủ trương của
Đảng, pháp luật của Nhà nước và của Ngành. Luôn đi đầu trong việc tuyên
truyền, vận động gia đình và quần chúng thực hiện quan điểm đường lối, nghị
quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đồng thời tuyên truyền,
vận động gia đình và người thân tham gia và thực hiện tốt đường lối chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Trong quá trình thực thi công vụ, cán bộ công chức, hải quan luôn quán
triệt, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của
Nhà nước, của ngành trong từng nội dung công tác và thực thi công vụ của
mình; kiên quyết đấu tranh với các hành vi trái với quan điểm, đường lối của
Đảng và các hiện tượng tiêu cực.
Có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống giản dị, trong sáng, lành mạnh,
đoàn kết, hòa đồng với quần chúng, luôn có tinh thần giúp đỡ đồng chí, đồng
nghiệp, được mọi người tin tưởng.
Chấp hành tốt việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, thực
hiện tốt những điều đảng viên không được làm theo quy định của điều lệ Đảng.
Trong công tác, là người trung thực, thẳng thắn, công tâm và khách quan.
- Phẩm chất cá nhân
Cán bộ, công chức Hải quan phần lớn là tốt nghiệp đại học, được đào
tạo bài bản. Bên cạnh đó, chính sách luân chuyển cán bộ đã làm cho cán bộ,
công chức Hải quan có cơ hội cọ xát giữa tham mưu về xây dựng chính sách
và thực thi chính sách.
Nhân lực hải quan giảm chủ yếu là được nghỉ hưu, rất ít trường hợp
đang công tác trong lực lượng hải quan xin chuyển ngành sang đơn vị khác
99
mà thường thì ở các đơn vị khác xin chuyển vào ngành hải quan để làm việc.
Điều này có thể khẳng định cán bộ, công chức Hải quan yêu ngành, có mong
muốn gắn kết và cống hiến trong môi trường hải quan ổn định, lâu dài.
3.2.1.3. Về cơ cấu tổ chức
Ngày 17/12/2015, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 65/2015/
QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính.
Tại Quyết định nêu trên có: (i) Các tổ chức hải quan ở trung ương (14 tổ
chức hành chính và 3 tổ chức sự nghiệp); (ii) Các tổ chức hải quan ở địa phương
(35 cục hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố trưc thuộc trung ương thuộc Tổng cục
hải quan; 226 Chi cục hải quan, Đội kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương
thuộc cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương).
Hải quan Việt Nam đã tham gia và trở thành thành viên chính thức của
Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) từ ngày 01/7/1993 và từ đó đã mở rộng
quan hệ với tổ chức Hải quan thế giới và Hải quan khối ASEAN.
Từ năm 1993 toàn ngành tập trung xây dựng và hoàn thiện Dự thảo
Luật Hải quan thay thế cho Pháp lệnh Hải quan 1990. Luật Hải quan lần đầu
tiên được ban hành năm 2001 (Quyết định số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001)
làm nền tảng pháp lý vững chắc cho ngành Hải quan triển khai thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan. Đến năm 2005, Luật Hải quan được
sửa đổi bổ sung (quyết định số 42/2005/QH11 ngày 14/6/2005) và nay được
thay thế bằng Luật Hải quan năm 2014 (quyết định số 54/2014/QH13 ngày
23/6/2014) cho phù hợp với quá trình hội nhập, cải cách, phát triển, hiện đại
hóa ngành Hải quan.
Điều 12 Luật Hải quan năm 2014 xác định: Hải quan Việt Nam có
nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng,
chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực
100
hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về
hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá
cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Để thực hiện nhiệm vụ theo quy định trên, Hải quan Việt Nam cần có
một bộ máy tổ chức tương thích.
Năm 2002, Tổng cục Hải quan được đưa về trực thuộc Bộ Tài chính.
Hiện tại, hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có 3 cấp:
+ Cấp Trung ương là Tổng cục Hải quan;
+ Tại các đơn vị địa phương là các Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương. Cả nước có 35 Cục Hải quan tỉnh, thành phố;
+ Thuộc các Cục Hải quan tỉnh, thành phố là các Chi cục Hải quan, Đội
BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC HẢI QUAN
CỤC HQ ĐỊA PHƯƠNG (35)
KHỐI CƠ QUAN TỔNG CỤC (14)
KHỐI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP (3)
Kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương [32].
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức của Hải quan Việt Nam
Nguồn: Tác giả tổng hợp.
- Thực trạng trình độ cán bộ công chức theo độ tuổi
Phần lớn cán bộ công chức là trẻ, dưới 30 tuổi 1.793 CBCC chiếm
17%; từ 30 đến 50 tuổi, độ tuổi lao động chính là 6.296 CBCC chiếm đông
nhất 59% [32].
101
Biểu đồ 3.6: Thực trạng trình độ cán bộ công chức theo độ tuổi
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
3.2.2. Thực trạng về tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, quản lý sử
dụng, chế độ đãi ngộ nhân lực hải quan
3.2.2.1. Về công tác tuyển dụng
Công tác tuyển dụng, bổ sung nhân lực vào ngành Hải quan được thực
hiện thường xuyên, liên tục theo đúng quy định hiện hành. Nhân lực bổ sung
theo các hình thức như: Thi tuyển, xét tuyển, chuyển ngành. Tổng cục Hải
quan xây dựng kế hoạch tuyển dụng hàng năm, báo cáo Bộ Tài chính để tổ
chức tuyển dụng nhân lực chung cho toàn ngành.
Công tác bổ sung theo hình thức chuyển ngành thường được thực hiện
theo từng trường hợp phát sinh cụ thể, có nhu cầu cấp thiết từ phía hải quan,
cũng như người xin chuyển sang công tác tại cơ quan hải quan đang là công
chức, viên chức ở cơ quan khác đủ điều kiện về độ tuổi, kinh nghiệm và lĩnh
vực công tác, có sức khỏe, thời gian công tác...
Nhân sự chuyển ngành sang hải quan công tác không nhiều. Tuy nhiên
đây là những người đã có kinh nghiệm làm việc trong thời gian nhất định nên
chất lượng sẽ cao hơn và tận dụng để bố trí sử dụng làm công việc chuyên
môn phù hợp với vị trí công việc được ngay sau khi chuyển ngành.
Hình thức xét tuyển được thực hiện theo hai đối tượng: Xét tuyển đối
với viên chức cho các đơn vị sự nghiệp và xét tuyển công chức trong những
trường hợp đặc thù.
102
- Xét tuyển viên chức cho các đơn vị sự nghiệp có nhu cầu cấp thiết,
đáp ứng các yêu cầu quy định về tiêu chí tuyển dụng. Viên chức phải là người
được được tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển
dụng viên chức là vị trí việc làm. Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010
quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau: Việc tuyển dụng viên
chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Vị trí việc làm được hiểu là: công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức
danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số
lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng
và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Vị trí việc làm có thể
có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao
gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để được tuyển dụng vào vị trí việc
làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng, thi tuyển hoặc
xét tuyển [33].
Số lượng xét tuyển vào các đơn vị sự nghiệp thường không nhiều, chỉ
trong trường hợp đơn vị sự nghiệp mới được thành lập thì có thể cần xét tuyển
với số lượng lớn. Thông thường khi có đơn vị mới thành lập thì Tổng cục Hải
quan sẽ xây dựng đề án tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển.
- Xét tuyển công chức trong trường hợp đặc thù tại vùng miền nên một
số đơn vị trong ngành Hải quan gặp phải nhiều khó khăn trong việc tìm nguồn
tuyển dụng. Trong mấy năm vừa qua, một số cục hải quan tại các tỉnh vùng
sâu, vùng xa, biên giới như Cao Bằng, Hà Giang, Điện Biên, Cà Mau, Kiên
Giang... thường không tuyển dụng được hết chỉ tiêu tuyển dụng đã đăng ký.
Xét tuyển công chức được thực hiện đối với các đơn vị đóng trên địa bàn có
hệ số phụ cấp khu vực từ 0,5 trở lên. Thí sinh dự xét tuyển vào đơn vị này
phải cam kết phục vụ tại đơn vị xét tuyển từ ít nhất 05 năm trở lên.
Đơn vị có nhu cầu xét tuyển công chức sẽ báo cáo Tổng cục hải quan,
báo cáo Bộ Tài chính. Được sự đồng ý phê duyệt từ cấp có thẩm quyền, Tổng
cục Hải quan sẽ thành lập hội đồng xét tuyển để tuyển chọn nhân lực cho đơn
103
vị có nhu cầu. Thông thường xét tuyển công chức với số lượng ít, trong
trường hợp đơn vị mới thành lập như Cục, Chi cục Hải quan, đội thuộc chi
cục mà việc triển khai đề án thi tuyển sẽ chậm trong việc bố trí nhân lực để
triển khai nhiệm vụ chuyên môn thì Tổng cục báo cáo Bộ Tài chính xin chủ
trương xét tuyển công chức.
Tổng cục Hải quan được duyệt đề án xét tuyển công chức theo đề án
thu hút nhân tài. Trong năm 2015, được sự đồng ý của Bộ Tài chính, Tổng
cục hải quan được xét tuyển gần 70 chỉ tiêu để bù đắp kịp thời nhân lực phục
vụ cho công cuộc cải cách hiện đại hóa ngành. Thực hiện tuyển dụng không
qua thi tuyển đối với các sinh viên tốt nghiệp thủ khoa đại học chính quy một
số chuyên ngành ở các trường đại học chuyên ngành kinh tế thương mại trong
nước và những sinh viên tốt nghiệp đại học, trên đại học loại giỏi, xuất sắc ở
một số nước tiên tiến trên thế giới vào làm việc.
Dựa trên các quy định hiện hành, với hình thức công khai, minh bạch là
thông tin tuyển dụng được đăng trên Báo Hải quan, Website Hải quan, các
phương tiện thông tin đại chúng. Tiêu chuẩn tuyển dụng vào ngành Hải quan
đối với cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở tiêu chuẩn yêu cầu nói chung
đối với cán bộ, công chức, viên chức được nêu trong Luật Cán bộ, công chức,
Luật Viên chức, thì Tổng cục hải quan còn căn cứ bản mô tả vị trí công việc
và chuyên ngành đào tạo để lựa chọn nhân lực... nên ngành đã tuyển chọn
được nhiều sinh viên có bằng khá, giỏi của các trường đại học trên cả nước và
số cán bộ trẻ hiện nay phát huy hiệu quả rất tốt nhờ vào việc được đào tạo cơ
bản, năng động, sáng tạo tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ. Việc tiếp
nhận được một số lượng không nhỏ cán bộ, công chức có kinh nghiệm từ các
đơn vị khác chuyển ngành sang công tác đã kịp thời bổ sung vào những vị trí
việc làm còn trống mà không phải tốn nhiều kinh phí để đào tạo, bồi dưỡng.
Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan cũng thực hiện nghiêm chủ trương
đường lối của Đảng, Nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính về chính sách
tinh giản biên chế và xác định tỷ lệ giảm biên chế đến năm 2021 tối thiểu
104
10% biên chế được giao năm 2015. Tổng cục Hải quan cũng đã triển khai
nghiên cứu xây dựng đề án tinh giản biên chế giai đoạn 2015-2021 báo cáo
Bộ Tài chính phê duyệt.
3.2.2.2. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng
Công tác đào tạo, bồi dưỡng trong ngành đã được triển khai theo đúng
mục tiêu, yêu cầu tại Quyết định số 3135/QĐ-TCHQ ngày 30/12/2011 của
Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc ban hành Đề án Đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ công chức ngành Hải quan giai đoạn 2011-2015. Các đơn vị
trong ngành đã chú trọng đến việc đào tạo kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ
chuyên sâu cho công chức trong từng lĩnh vực nghiệp vụ, đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ hiện tại của các đơn vị và từng bước đáp ứng yêu cầu cải cách,
hiện đại hóa hải quan. Nội dung đào tạo được tập chung theo hướng:
- Đào tạo nghiệp vụ hải quan đảm bảo tính chuyên nghiệp, chuyên sâu,
xây dựng đội ngũ chuyên gia, chú trọng bồi dưỡng đội ngũ giảng viên;
- Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu của Dự án Hỗ trợ kỹ thuật để thực
hiện thủ tục hải quan điện tử trong khuôn khổ dự án VNACCS/VCIS;
- Đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn về chức danh ngạch công chức, yêu cầu
về vị trí việc làm, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm cán bộ;
- Đào tạo đáp ứng nhiệm vụ thu thuế, chống buôn lậu, giám sát quản lý
và kiểm tra sau thông quan.
Căn cứ nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ quy
định về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Quyết định số 1648/QĐ-BTC ngày
2/7/2012 của Bộ Tài chính về việc ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng công
chức, viên chức ngành Tài chính, Tổng cục Hải quan đã biên soạn các chương
trình, tài liệu bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ hai quan: Phê duyệt tài liệu về
trị giá hải quan phục vụ cho lớp bồi dưỡng “Kỹ thuật nghiệp vụ HS, C/O, trị
giá”; phê duyệt tài liệu bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ quy tắc xuất xứ
hàng hóa, kiểm tra xuất xứ hàng hóa; phê duyệt và ban hành tài liệu đào tạo
“Phát triển quan hệ đối tác hải quan - doanh nghiệp và các bên liên quan”; phê
duyệt chương trình nghiệp vụ về quản lý rủi ro.
105
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu
quản lý hiện đại hóa, Tổng cục Hải quan đã tiến hành rà soát và sửa đổi một
số nội dung, chương trình đối với các lớp bồi dưỡng ngạch, đào tạo chuyên
ngành và nghiệp vụ hải quan dành cho công chức tuyển mới.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng được diễn ra thường xuyên, liên tục theo
chương trình của Bộ Tài chính, kế hoạch của Tổng cục hải quan. Vụ Tổ chức
cán bộ là đơn vị chủ trì nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo;
Trường Hải quan Việt Nam là đơn vị chủ trì tổ chức triển khai kế hoạch,
chương trình đào tạo và trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng. Song song với đó, thì
các đơn vị khác có nguồn tài chính độc lập (đơn vị tài vụ cấp 3 như các cục
Hải quan tỉnh, thành phố, Cục Điều tra chống buôn lậu...) cũng chủ động để tổ
chức các hội thảo, lớp bồi dưỡng theo chuyên ngành nhằm kịp thời bổ sung
kiến thức cho cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ được giao.
Theo số liệu thống kê, trong 5 năm qua toàn Ngành đã tổ chức đào tạo,
bồi dưỡng theo chương trình nghiệp vụ hải quan cho hơn 21 nghìn lượt cán
bộ, công chức, viên chức.
Bảng 3.6: Thống kê số lượng công chức được đào tạo các chương trình
nghiệp vụ hải quan áp dụng từ 2011 - 2015
Số lượt người được đào tạo, bồi dưỡng
(theo hàng năm) Nội dung đào tạo, bồi duỡng
2011
2012
2013
2014
2015
500 1431 858 1515
600 1639 540 788
204 1703 678 543
204 1703 700 600
204 1703 800 543
365
608
758
1200
750
Nghiệp vụ hải quan tổng hợp Nghiệp vụ thông quan Nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan Nghiệp vụ Điều tra CBL và xử lý Tin học chuyên ngành Hải quan (thông quan điện tử, phần mềm ứng dụng, nâng cao...)
4669
4175
3886
4407
4580
Tổng số
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32]
106
Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan cũng đã phối hợp với cơ sở đào tạo
bên ngoài ngành, cử nhiều cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ như lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành, tin
học, ngoại ngữ, kỹ năng lãnh đạo quản lý...
Đến nay, đa số công chức Hải quan có trình độ chuyên môn phù hợp
với vị trí công tác. Trình độ về chuyên môn nghiệp vụ theo văn bằng được
đào tạo của đội ngũ công chức Hải quan hiện nay có đến 86,3% có trình độ
đào tạo từ đại học trở lên. Ngoài ra, theo quy định về chuẩn hóa cán bộ của
Ngành, điều kiện để bổ nhiệm lãnh đạo cấp Phòng trở lên phải là người có
bằng đại học chính quy trở lên, trường hợp tốt nghiệp đại học tại chức nếu bổ
nhiệm cán bộ lãnh đạo cấp Vụ, Cục trở lên phải là người có học vị thạc sĩ trở
lên và đang giữ tối thiểu ngạch Kiểm tra viên chính. Do đó, hiện nay trong
ngành Hải quan, hầu hết cán bộ quản lý đều đạt chuẩn tối thiểu từ đại học trở
lên. Đây là thực tế đáng ghi nhận bởi đó là cơ sở quan trọng đầu tiên làm nên
chất lượng đội ngũ công chức của Ngành.
3.2.2.3. Về công tác quản lý, sử dụng
Công tác quản lý cán bộ trong toàn ngành đã được thực hiện một cách
nề nếp theo đúng quy trình, quy định, kịp thời bổ sung cán bộ đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ cho các đơn vị trong ngành. Việc thực hiện chế độ chính sách
cán bộ cơ bản theo đúng quy định, đảm bảo chế độ, quyền lợi cho công chức,
viên chức toàn ngành. Triển khai công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo giai
đoạn 2011-2015 theo Chỉ thị số 04 CT/BCSĐ ngày 30/01/2012 của Ban Cán
sự đảng Bộ Tài chính trong toàn Ngành đảm bảo đúng quy định, đáp ứng các
yêu cầu về tiến độ và chất lượng. Qua công tác quy hoạch đã rà soát, đánh
giá, lựa chọn được đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực,
triển vọng phát triển để tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, bố trí vào các vị trí lãnh
đạo khi có yêu cầu. Hướng dẫn thực hiện việc quy hoạch cán bộ trong giai
đoạn 2016-2021; trình Lãnh đạo Bộ phê duyệt quy hoạch lãnh đạo cấp cao.
Tổng cục cũng đã ban hành văn bản chấn chỉnh, hướng dẫn công tác
điều động định kỳ, luân chuyển vị trí công tác đối với cán bộ công chức tại
107
các Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Đồng thời, tổ chức triển khai công tác bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại, điều chuyển cán bộ theo đúng quy định. Qua đó, đã kịp
thời rà soát, đánh giá và bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ của Ngành.
- Công tác quản lý ngạch công chức được thực hiện theo nguyên tắc
công chức, viên chức làm việc gì thì bổ nhiệm và xếp lương theo ngạch công
chức, viên chức đó; công chức, viên chức được bổ nhiệm ngạch phải đáp ứng
đủ các điều kiện, tiêu chuẩn quy định. Bên cạnh đó để tháo gỡ vướng mắc về
công tác nâng ngạch đối với công chức Hải quan đủ điều kiện thi nâng ngạch,
Tổng cục Hải quan đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ phê duyệt tổ chức kỳ thi
nâng ngạch kiểm tra viên chính hải quan đúng quy định cho 400 chỉ tiêu.
- Công tác đánh giá cán bộ: Bộ Tài chính phân cấp quản lý cán bộ cho
Tổng cục Hải quan, Tổng cục Hải quan cũng phân cấp cho Cục Hải quan tỉnh
Thành phố để quản lý đánh giá cán bộ được thường xuyên và sát với thực tế.
Hàng năm, các cấp sẽ rà soát việc phân cấp để sửa đổi cho phù hợp với yêu
cầu quản lý. Do yêu cầu của công cuộc cải cách, phát triển, hiện đại hóa
ngành Hải quan nên đòi hỏi cán bộ công chức Hải quan phải thường xuyên
cập nhật kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ tin học, ngoại
ngữ. Mỗi người được phân công, phân nhiệm đảm bảo ít nhất một mảng công
việc thường xuyên và một số mảng công việc kiêm nhiệm, có sự phối hợp
nhịp nhàng với các đồng nghiệp khác để cùng tham gia thực hiện hoặc có ý
kiến góp ý.
Thông qua đánh giá, nhận xét cán bộ, công chức mà tính công bằng và
nghiêm minh trong thực thi công việc được đề cao.
- Công tác rà soát, bổ sung quy hoạch chức danh lãnh đạo:
Công tác quy hoạch được thực hiện theo nguyên tắc tập trung, dân chủ,
khách quan, công khai, đúng quy trình, quy định, hướng dẫn của Đảng và Bộ
Tài chính; đảm bảo phương châm “động” và “mở”.
Chất lượng đội ngũ cán bộ quy hoạch từng bước được nâng cao cả về
trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức; cơ cấu độ tuổi, giới tính đã được
108
quan tâm, có sự kế thừa và phát triển. Trong những năm qua nhờ có nguồn
cán bộ trong quy hoạch mà Tổng cục và các đơn vị đã chủ động hơn, kịp thời
hơn trong việc bố trí cán bộ lãnh đạo khi có nhu cầu, khắc phục tình trạng bị
động, lúng túng trong công tác cán bộ.
Trên cơ sở có kết quả quy hoạch, lãnh đạo và cấp ủy các đơn vị có kế
hoạch và triển khai tốt việc đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ, chuẩn bị
cho nhu cầu bổ nhiệm trước mắt và lâu dài.
- Công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ:
Thực hiện các văn bản quy định của Chính phủ và quy chế bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ của Bộ Tài chính, công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại
cán bộ tại các đơn vị hải quan đã đi vào nề nếp. Cán bộ được bổ nhiệm đều
trong quy hoạch, đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm và được thực hiện
đầy đủ các bước xem xét, đánh giá theo quy trình quy định.
Việc thực hiện tốt công tác này đã góp phần giúp ngành Hải quan có được
một đội ngũ cán bộ lãnh đạo đáp ứng cơ bản nhu cầu về nhân lực cho công tác
lãnh đạo, quản lý thực thi nhiệm vụ. Tình trạng nợ tiêu chuẩn ngạch, tiêu chuẩn
bổ nhiệm đã được giải quyết cơ bản. Chất lượng cán bộ được bổ nhiệm đã có
những chuyển biến tích cực, đáp ứng yêu cầu phát triển của nhiệm vụ.
- Công tác điều động, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác
Công tác điều động, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác cán bộ,
công chức của Tổng cục Hải quan trong thời gian qua được thực hiện thường
xuyên, nề nếp, đáp ứng yêu cầu quản lý, bồi dưỡng, sử dụng nhân lực và theo
đúng các quy định của Đảng, Chính phủ và Bộ Tài chính. Bên cạnh được tích
lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, bổ sung kịp thời nhân
sự có năng lực cho những nơi còn yếu, cần thúc đẩy phát triển thì công tác
điều động, luân chuyển còn mang tính phòng ngừa, bảo vệ cán bộ trong
trường hợp có dấu hiệu bè phái, cục bộ địa phương…
- Công tác xử lý kỷ luật cán bộ:
Hệ thống văn bản quy định về kỷ cương, kỷ luật hành chính được quán
triệt thực hiện thống nhất từ Tổng cục đến các đơn vị cơ sở, đề ra các giải
109
pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực,
tham nhũng phù hợp với đặc thù công việc thực tế.
Trong quá trình hoạt động, ngành Hải quan cũng đã phải sa thải cán bộ
hoặc do phát hiện trình độ không đúng với thức chất bằng cấp đã có, công
chức sinh con thứ 3, liên quan đến trách nhiệm cán bộ lãnh đạo để đơn vị xảy
ra sai phạm hoặc trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình không thực hiện
đúng quy định của ngành và pháp luật.
Trong giai đoạn 2011-2015, Hải quan đã xử lý kỷ luật đối với 354 cán
bộ công chức, người hợp đồng lao động (khiển trách 189, cảnh cáo 108, hạ
bậc lương 21, hạ ngạch 6, giáng chức 4, cách chức 5, buộc thôi việc 21) [32].
- Công tác khen thưởng
Phong trào thi đua sôi nổi, tạo động lực làm việc, cống hiến đạt kết quả
cao. Nhiều tập thể, cá nhân được đề nghị khen cao như: Bà Nguyễn Thị Thu
Hương, Cục trưởng Cục Hải quan TP. Hồ Chí minh được tặng Anh Hùng Lao
Động, 10 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc, 01 tập thể được
tặng Huân Chương Độc lập hạng Ba (Cục Hải quan Đồng Nai), 04 tập thể và
01 cá nhân được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất (Ông Nguyễn Ngọc
Túc, Tổng cục trưởng), 15 tập thể và 10 cá nhân được tặng Huân chương Lao
động hạng Nhì, 182 tập thể và 356 cá nhân được tặng Huân chương Lao động
hạng Ba, 04 tập thể và 01 cá nhân được tặng Huân chương Chiến công hạng
Nhất (Ông Nguyễn Văn Cẩn, Phó Tổng cục trưởng), 07 tập thể và 07 cá nhân
được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, 11 tập thể và 54 cá nhân được
tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, gần 400 tập thể và hàng nghìn cá
nhân được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ [32].
Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp năm 2015, phần lớn các doanh
nghiệp đánh giá việc thực hiện kỷ cương của cán bộ hải quan ở mức bình
thường (từ 55-61%) ở tất cả các tiêu chí (văn minh, lịch sự khi tiếp xúc; công
tâm tận tụy khi thi hành công vụ; nhanh chóng, chính xác khi giải quyết công
việc; coi doanh nghiệp là đối tác hợp tác; và thực hiện đúng chức năng, nhiệm
110
vụ được giao. Tiêu chí có tỉ lệ doanh nghiệp đánh giá ở mức cao/rất cao lớn
nhất là “cán bộ hải quan thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao”
(38%), tiếp đến là “văn minh lịch sự khi tiếp xúc” (35%) và “coi doanh nghiệp
là đối tác hợp tác” (32%) [tham khảo hình số 10].
3.2.2.4. Về chế độ đãi ngộ
* Chính sách khoán chi
Từ năm 2000, Quốc hội đã cho phép ngành Hải quan thực hiện thí điểm
theo kinh phí khoán, số lượng khoán để chi trả các hoạt động trong đó có tiền
lương trả cho công chức, viên chức theo tỷ lệ nhất định với số tiền thuế thu
nộp của năm trước. Ngoài mức lương cơ bản, các hệ số thông thường, nếu
ngành Hải quan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan
và chỉ tiêu thu thì có thể được tăng thêm hệ số đến 1,3 lần. Ngoài ra, mức chi
phí thường xuyên (chi thanh toán cá nhân; chi quản lý hành chính; chi đảm
bảo nghiệp vụ chuyên môn đặc thù...) cho mỗi công chức Hải quan những
năm qua được đánh giá là phù hợp, cụ thể:
Đơn vị tính: Triệu đồng
Biểu đồ 3.7: Chi phí thường xuyên cho mỗi công chức
giai đoạn 2011-2015
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32].
111
Việc thực hiện cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với Tổng cục
Hải quan trong giai đoạn 2011-2015 đã góp phần trao quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý và chủ động trong sử dụng nguồn
kinh phí; tập trung nguồn lực để thực hiện chiến lược phát triển Hải quan đến
năm 2020; góp phần hoàn thành vượt dự toán được Quốc hội giao.
Vì vậy, ngày 10/12/2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua
Cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải
quan giai đoạn 2016-2020. Theo đó, biên chế của Tổng cục Hải quan được
xác định trong phạm vi tổng số biên chế Nhà nước giao cho Bộ Tài chính, cụ
thể: Tổng cục Hải quan tiếp tục duy trì biên chế từ năm 2016 trở đi theo chỉ
tiêu biên chế được Bộ Tài chính giao đến tháng 3/2015 (Tổng cục Hải quan
10.949 biên chế, gồm: 10.667 công chức và 282 viên chức) [32]. Căn cứ điều
kiện thực tế, Tổng cục Hải quan thực hiện sắp xếp, sử dụng biên chế hợp lý
theo chủ trương tinh giản biên chế tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày
17/4/2015 của Bộ Chính trị và Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày
20/11/2014 của Chính phủ. Trong trường hợp đặc biệt, khi Chính phủ giao
thêm nhiệm vụ mới hoặc Nhà nước có quy định chia tách địa giới hành chính
phải thành lập bổ sung các Cục, Chi cục Hải quan, Bộ Tài chính báo cáo Thủ
tướng Chính phủ xem xét xử lý.
Về cơ chế tài chính, theo Chính phủ, đối với Tổng cục Hải quan, Chính
phủ đề xuất dự toán kinh phí bảo đảm hoạt động của Tổng cục Hải quan (bao
gồm chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, hiện đại hóa ngành) được ổn
định là 2,1% trên dự toán thu NSNN hàng năm do Quốc hội, Chính phủ giao
Tổng cục Hải quan thực hiện.
Những ưu đãi trên là hợp lý, thỏa đáng đối với những người thực thi
nhiệm vụ có nhiều đặc thù như đã nêu ở trên và thực sự đã động viên, khích lệ
được tinh thần làm việc và ý thức gắn bó lâu dài với nghề nghiệp đã chọn của
đa số công chức hải quan.
112
* Được áp dụng chế độ thâm niên và hưởng chế độ ưu đãi nghề
Môi trường hoạt động của Hải quan gắn chặt với tiền, hàng nên được
coi là môi trường có nhiều cám dỗ, dễ làm nảy sinh lòng tham dẫn đến vi
phạm pháp luật. Để ghi nhận và động viên CBCC hải quan yên tâm công tác,
Quốc hội đã đồng ý: Cho phép áp dụng chế độ thâm niên trong ngành hải
quan giống như lực lượng vũ trang; được hưởng phụ cấp công vụ và ưu đãi
nghề 25%; được cấp trang chế phục theo quy định khi thi hành công vụ; được
trang bị công cụ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ khi thi hành công vụ; điều
kiện làm việc của hầu hết các đơn vị hải quan từ trung ương đến cơ sở đều
được quan tâm xây dựng khang trang, đảm bảo điều kiện làm việc đều có máy
tính nối mạng tốc độ cao trong toàn quốc.
Điều 15, Luật Hải quan năm 2014 quy định: chế độ phục vụ, chức
danh, tiêu chuẩn, lương, phụ cấp thâm niên, chế độ đãi ngộ khác đối với công
chức hải quan, hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, trang phục, giấy chứng minh
hải quan theo quy định của Chính phủ.
Ngành Hải quan cũng đã triển khai thực hiện chế độ phụ cấp độc hại,
nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với công chức, viên chức và hợp
đồng lao động làm công việc thuộc danh mục “Nghề, công việc nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm” ban hành kèm
theo Thông tư số 36/2012/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2012 của Bộ Lao động-
Thương binh và Xã hội.
Theo khảo sát doanh nghiệp năm 2015 thì mức độ liêm chính hải quan
được kết quả vẫn còn đến 28% doanh nghiệp phản hồi cho biết họ có chi trả các
chi phí ngoài quy định trong quá trình thực hiện TTHQ ở các khâu/giai đoạn. Số
doanh nghiệp lưỡng lự phải đưa ra câu trả lời rõ ràng, khi lựa chọn “không biết”,
lên tới 35%. Ở cấp các Cục Hải quan địa phương, có 38% doanh nghiệp cho biết
họ phải chi trả chi phí ngoài quy định. Khảo sát năm 2012 và 2013 có đặt câu hỏi
với doanh nghiệp về việc chi trả chi phí ngoài quy định, nhưng ở thước đo khác,
113
đó là doanh nghiệp không/hiếm khi/thỉnh thoảng/ thường xuyên hay luôn luôn
chi trả chi phí này. Năm 2013 có 49% doanh nghiệp có chi trả chi phí ngoài quy
định, trong khi năm 2012 có 57% chi trả chi phí này.
Mặc dù tỷ lệ về liêm chính của cán bộ, công chức Hải quan đã được cải
thiện đáng kể so với cuộc khảo sát trước đó, song vẫn còn nhiều việc phải làm
để cơ quan hải quan, các nhà lãnh đạo quản lý cải thiện chỉ số này một cách
tốt hơn trong thời gian tới.
3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHÂN LỰC THEO YÊU CẦU HIỆN ĐẠI HÓA
HẢI QUAN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Như đã trình bày khi triển khai nội dung trong tiểu tiết 2.2.1.1, hệ thống
các nhóm tiêu chí đánh giá nhân lực Hải quan được bàn luận thể hiện sự bám
sát mục tiêu kép đó - sự tích hợp giữa yêu cầu nhiệm vụ được giao theo quy
định của pháp luật với yêu cầu hiện đại hóa hải quan để hội nhập quốc tế.
Những nhận định đánh giá “Thực trạng về nhân lực trong quá trình hiện đại
hoa hải quan Việt Nam giai đoạn 2011- 2015” được nhìn nhận theo tinh thần
đó và đi vào các chỉ số đánh giá theo các nhóm tiêu chí một cách cụ thể.
Những đánh giá về nhân lực hải quan theo yêu cầu hiện đại hóa hải quan Việt
Nam trong hội nhập quốc tế được trình bày dưới dây được tiếp cận theo
hướng những nhận định mang tính khái quát chung được nhìn nhận sâu hơn.
Một sự nhìn nhận đánh giá bao hàm trong đó cả những thành tựu hạn chế
mang tính khái quát chung, cả những biện pháp, giải pháp phát triển nhân lực
đã đề ra ở giai đoạn trước đó, qua đó phát hiện những điểm chưa hợp lý, để đề
xuất đưa ra giải pháp để phát triển nhân lực phù hợp với tình hình mới theo số
lượng, chất lượng, cơ cấu.
3.3.1. Những thành tựu đạt được
3.3.1.1. Về cơ cấu tổ chức bộ máy
Chỉ sau 08 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, ngày
10/9/1945, Sở Thuế quan và thuế gián thu - tiền thân của ngành Hải quan được
thành lập, đánh dấu sự khởi đầu của Hải quan cách mạng Việt Nam.
114
Trải qua những biến động của lịch sử của đất nước, chức năng nhiệm
vụ, cơ cấu tổ chức của lực lượng hải quan cũng thay đổi để phù hợp với
nhiệm vụ chính trị chung của đất nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chủ yếu
của Ngành Hải quan là tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia, kiểm soát hàng
hoá xuất nhập khẩu, phòng, chống buôn lậu gian lận thương mại. Từ “Nghị
định số 139-HĐBT ngày 20/10/1984 của Hội đồng Bộ trưởng quy định Hệ
thống hải quan trong cả nước”, đến “Pháp lệnh Hải quan” năm 1990 và “Nghị
định số 16/CP quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục
Hải quan” và “Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg chuyển Tổng cục Hải quan
trực thuộc Bộ Tài chính”, bộ máy tổ chức của ngành Hải quan Việt nam luôn
được hoàn thiện và phát triển. Bộ máy tổ chức đó vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ chính trị ngành Hải quan phải gánh vác, vừa từng bước đáp ứng yêu cầu
hiện đại hóa hải quan để hội nhập quốc tế.
Đến thời điểm năm năm 2010, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính được sửa đổi, bổ sung.
Cơ cấu tổ chức gồm: (i) Cơ quan Tổng cục Hải quan ở Trung ương gồm có 15
đơn vị (5 Cục, 4 Vụ, Văn phòng Tổng cục, Thanh Tra, 4 đơn vị sự nghiệp); (ii)
Các cơ quan hải quan ở địa phương: 34 Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương thuộc Tổng cục Hải quan; các Chi cục Hải quan, Đội
Kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Ngành Hải quan đang triển khai thực hiện
theo Quyết định 65/2015/QĐ-TTg thay thế cho Quyết định 02/2010/QĐ-TTg
ngày 15/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính:
(i) Cơ quan Tổng cục Hải quan ở Trung ương bao gồm có 16 đơn vị (Văn
phòng Tổng cục, 4 Vụ, 8 cục và 3 đơn vị sự nghiệp); (ii) Các cơ quan Hải
quan ở địa phương gồm: 35 Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc
115
Trung ương thuộc Tổng cục Hải quan như hiện hành. Các chi cục Hải quan,
đội Kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Quyết định số 65 đã kiện toàn bổ sung
1 Cục nghiệp vụ là Cục Quản lý rủi ro, chuyển 1 đơn vị Vụ và 1 Trung tâm
PTPL hàng hóa thành Cục nghiệp vụ.
3.3.1.2. Về chất lượng đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước về
hải quan
- Công chức Hải quan luôn đi đầu trong cải cách hành chính và hiện đại
hóa hải quan, họ luôn được giáo dục, đào tạo để làm việc trong môi trường
chuyên môn hóa cao và hiện đại. Để chuẩn bị cho Việt Nam gia nhập WTO,
bên cạnh việc tham gia tích cực sửa thể chế của các cơ quan có thẩm quyền,
Hải quan Việt Nam còn chủ động triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử
tại một số đơn vị của hải quan TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng ngay từ năm
2005. Đây là nền tảng quan trọng để triển khai thành công hệ thống thông
quan tự động trên toàn quốc từ 01//4/2014.
- Ngành Hải quan có đội ngũ cán bộ, công chức có khả năng tiếp thu kỹ
thuật quản lý hải quan hiện đại để thực thi tốt nhiệm vụ. Kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác, sự công tâm nghề nghiệp của đội ngũ công
chức Hải quan là những lợi thế chính, lãnh đạo Hải quan các cấp nhìn chung
có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tiễn.
Ngành Hải quan đã tạo ra hình ảnh một lực lượng chính quy, hiện đại, được
cộng đồng doanh nghiệp XNK, hành khách XNC và chính quyền các cấp
đánh giá cao.
- Có khả năng tiếp thu công nghệ quản lý hải quan hiện đại. Thực tế
chứng minh, từ khi đặt vấn đề chuyển giao hệ thống NACCS/CIS cho HQVN,
bằng sự thông minh và quyết tâm cao độ, chưa đầy 2 năm sau, HQVN đã tiếp
nhận, vận hành hoàn chỉnh hệ thống VNACCS/VCIS, được các chuyên gia
Nhật Bản đánh giá cao.
116
- Nhân lực hải quan luôn được quan tâm đào tạo và đào tạo lại để đáp
ứng yêu cầu quản lý hải quan hiện đại. Trường Hải quan Việt nam là cơ sở
đào tạo duy nhất của ngành Hải quan luôn được bổ sung nguồn lực để nâng
cao chất lượng công tác đào tạo
3.3.2. Về những tồn tại, hạn chế cần giải quyết trong thời gian tới
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, đội ngũ cán bộ, công chức Hải
quan còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém nhất định, những hạn chế, yếu kém
đó thể hiện trên các mặt sau:
3.3.2.1. Hiệu suất lao động của đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan
còn khá thấp so với hải quan các nước tiên tiến trên thế giới và trong khu vực
Ngay cả khi so sánh với một số ngành khác có tính chất công việc
tương tự như thuế vụ, quản lý thị trường thì tính chuyên nghiệp và hiệu suất
lao động của cán bộ, công chức Hải quan vẫn luôn được đánh giá cao hơn.
Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Ngành hiện
được xếp hàng thứ nhất trong tất cả các Bộ, Ngành thuộc Chính phủ. Nhưng
khi so sánh với Hải quan của một số quốc gia tiên tiến trong khu vực và trên
thế giới thì hiệu suất lao động của đội ngũ công chức Hải quan Việt Nam lại
khá thấp. Hiện tổng số biên chế của ngành Hải quan là trên 10.000 người
(năm 2014), toàn ngành thu thuế được 253.000 tỷ VNĐ, vượt gần 14% so với
kế hoạch. Năm 2015, dự kiến thu 257.000 tỷ VNĐ. Trong khi đó, Hải quan
Pháp có tổng số 19.000 nhân viên, số tiền thuế mà họ thuđược hàng năm gấp
nhiều lần so với Hải quan Việt Nam (khoảng 61 - 62 tỷ Euro/năm). Hoặc Hải
quan Nhật Bản hiện có khoảng 9.000 nhân viên nhưng hàng năm làm thủ tục
thông quan cho lượng hàng hóa gấp gần 8 lần số hàng hóa mà Hải quan Việt
Nam thực hiện. Qua đó, cũng một phần nói lên hiệu suất làm việc của Hải
quan Việt Nam so với Hải quan các nước tiên tiến.
3.3.2.2. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số ít cán bộ, công chức
Hải quan còn chưa đáp ứng yêu cầu công việc được phân công đảm nhận
Công việc hải quan khá phức tạp, bởi để xử lý tốt các tình huống phát
sinh trong thực tế đòi hỏi công chức Hải quan phải biết vận dụng kiến thức
117
của các lĩnh vực liên quan. Trong khi đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau
như bố trí công việc không đúng chuyên ngành được đào tạo, không đúng
năng lực thực tế hoặc do bản thân không cố gắng nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ và các kiến thức, kỹ năng bổ trợ cần thiết nên một số cán bộ,
công chức Hải quan chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thực hiện không
đúng, đầy đủ quy trình nghiệp vụ đã được ban hành khiến việc giải quyết
công việc chậm trễ, gây bức xúc không nên có cho doanh nghiệp và khách
xuất nhập cảnh hoặc vô ý vi phạm pháp luật, gây thất thu cho ngân sách nhà
nước. Những ví dụ về sự hạn chế về năng lực của công chức Hải quan hiện
nay, nhất là khi từ ngày 01/4/2014, Hệ thống thông quan tự động được chính
thức áp dụng có thể thấy ở nhiều khâu, nhiều lĩnh vực của hoạt động kiểm tra,
giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan, quản lý rủi ro… Đặc biệt, thời
gian giải phóng hàng hiện còn cao gấp 02 lần so với các nước khác thuộc khối
ASEAN (72 giờ) đang gây bức xúc cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Mặc dù
nguyên nhân của việc chậm này chủ yếu thuộc về các Bộ, Ngành liên quan
khi thực hiện các chính sách về quản lý chuyên ngành trong quá trình thông
quan hàng hóa.
3.3.2.3. Một số kỹ năng mềm và trình độ tin học, ngoại ngữ của một
bộ phận công chức Hải quan còn hạn chế
Một số kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, báo cáo, tổ
chức hội họp, làm việc nhóm... rất cần thiết cho hoạt động quản lý nhà nước
về hải quan nhưng không phải mọi cán bộ, công chức của Ngành đều nắm
vững và sử dụng tốt các kỹ năng này trong hoạt động của mình nên gặp
không ít lúng túng khi thực hiện nhiệm vụ được giao, còn “mắc lỗi” trong
giao tiếp với các đối tác khi xử lý công việc hàng ngày, nhất là khi tham vấn
giá cho doanh nghiệp. Ngoài ra, trình độ tin học, ngoại ngữ của một bộ phận
công chức Hải quan còn chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Theo đánh giá của
Vụ Tổ chức cán bộ (Tổng cục Hải quan) thì về trình độ tin học hiện nay số
CCVC chưa qua đào tạo vẫn còn nhiều, chủ yếu là các công chức trên 45
118
tuổi vào ngành trước năm 1995 (thời kỳ tuyển dụng chưa yêu cầu tin học).
Số lượng CCVC chưa qua đào tạo là 1.325 người, chiếm tỷ lệ khoảng 14,25
%. Trong giai đoạn sắp tới, do yêu cầu về hiện đại hóa, việc cập nhật về kiến
thức tin học, đặc biệt là tin học phục vụ công tác quản lý hải quan cần phải
được thực hiện thường xuyên nhất là các nội dung để đáp ứng với yêu cầu
của công tác cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa hải quan. Về trình
độ ngoại ngữ thì tình trạng cũng tương tự vì vậy so với yêu cầu công tác còn
nhiều bất cập, bố trí CCVC có trình độ ngoại ngữ chưa thực sự đồng đều,
một số đơn vị có yêu cầu sử dụng tiếng Anh nhiều nhưng CCVC sử dụng
được tiếng Anh thiếu và yếu. Qua khảo sát đánh giá thực tế của Ngành đến
năm 2010, số CCVC tuy có chứng chỉ ngoại ngữ nhưng khả năng sử dụng
trong công việc chỉ đạt khoảng 25% (75% cần phải được đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao tiếp), nguyên nhân là do đa số CCVC ít có môi trường làm việc
liên quan trực tiếp đến ngoại ngữ, việc sử dụng ngoại ngữ sau đào tạo còn
hạn chế và do chất lượng đào tạo ngoại ngữ tại một số cơ sở chưa đáp ứng
với nhu cầu sử dụng.
Hải quan Việt Nam đang hội nhập và tham gia nhiều vào các công ước,
điều ước quốc tế do vậy, yêu cầu về sử dụng ngoại ngữ phục vụ trong công
việc và để tham gia các cuộc họp, hội nghị, hội thảo ngày càng cao. Mặt khác
quy định về điều động chuyển đổi vị trí công tác với thời hạn 3 năm đã tạo ra
sự thiếu hụt cán bộ có trình độ ngoại ngữ chuyên sâu (có những cán bộ có khả
năng ngoại ngữ tốt nhưng lại luân chuyển đến vị trí không cần sử dụng ngoại
ngữ và ngược lại). Yêu cầu này đặt ra việc cần phải đẩy mạnh việc đào tạo và
đào tạo lại ngoại ngữ cho CCVC (Chủ yếu là tiếng Anh) và bố trí sử dụng
CCVC cho phù hợp với trình độ.
Những hạn chế trên được coi là tình trạng chung của công chức Việt
Nam nhưng thật khó chấp nhận đối với ngành Hải quan bởi điều đó sẽ là rào
cản không nhỏ trong hoạt động của ngành và nhất là đối với quá trình hội
nhập quốc tế sâu rộng của đất nước.
119
3.3.2.4. Còn tồn tại sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận
nhỏ cán bộ, công chức hải quan
Môi trường hoạt động của Hải quan luôn tiềm ẩn đầy rẫy cám dỗ vật
chất và vì thế dễ làm tha hóa nhân cách chủ thể của hoạt động này, dẫn đến
sự suy thoái trong cách xử sự của họ, trong đó có việc vi phạm pháp luật.
Có thể nói, môi trường hải quan hoàn toàn không phù hợp với những người
có trình độ năng lực yếu kém hoặc thiếu bản lĩnh. Thời gian qua, một số
cán bộ, công chức Hải quan do không đủ các phẩm chất trên nên đã bị mua
chuộc, sa ngã và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như tiếp tay cho
buôn lậu, tham ô, nhận hối lộ, cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế
gây hậu quả nghiêm trọng… Nhiều đối tượng trong số đó đã bị xử lý kỷ
luật hành chính, hình sự, thậm chí bị áp dụng hình phạt cao nhất là tử hình.
Thời gian gần đây, những vi phạm pháp luật xảy ra tại một số đơn vị của
ngành như Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Hải quan tỉnh Lào Cai, Kiên
Giang, An Giang, Bình Phước… đã có tác động không tốt đối với hình ảnh
công chức Hải quan trong nhân dân. Những trường hợp như vậy mặc dù
không nhiều nhưng làm giảm khá lớn uy tín, sức mạnh của Ngành nên rất
cần sớm được loại bỏ trong thời gian tới.
Khảo sát 2015 thu thập đánh giá của doanh nghiệp về mức độ thực hiện
kỷ cương của cán bộ hải quan mà họ tiếp xúc trên 5 tiêu chí: (1) văn minh,
lịch sự khi tiếp xúc, (2) công tâm tận tụy khi thi hành công vụ, (3) nhanh
chóng, chính xác khi giải quyết công việc, (4) coi doanh nghiệp là đối tác hợp
tác và (5) thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao. Kết quả cho thấy
vẫn còn có những cục hải quan tỉnh, thành phố bị doanh nghiệp đánh giá tới
80% ở mức bình thường/thấp/rất thấp [tham khảo hình 11].
Còn đối với câu hỏi doanh nghiệp có phải chi trả chi phí ngoài quy định
trong quá trình thông quan hàng hóa XNK không thì còn có Cục Hải quan địa
phương bị 53% doanh nghiệp cho biết là có phải chi trả.
120
3.3.3. Nguyên nhân
3.3.3.1. Nguyên nhân thành tựu
* Sự quan tâm của Nhà nước và Bộ Tài chính trong việc đẩy mạnh cải
cách, hiện đại hóa ngành Hải quan
Xác định hải quan là một trong những ngành có vai trò quan trọng đối
với hiệu quả của quá trình hội nhập quốc tế nên Đảng, Nhà nước, Chính phủ,
Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã ban hành nhiều văn bản có tính định
hướng cho việc xây dựng một ngành Hải quan trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh
cải cách, hiện đại hóa Ngành theo những chuẩn mực quốc tế và khu vực.
Ngày 25/3/2011, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số
448/QĐ-TTg về “Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020” với định
hướng là:
Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy
đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực
quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu
tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình
độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á.
Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu
có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp
phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển
du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn
xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ
chức, cá nhân [38, tr.15].
Ngày 27/8/2012, Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt Quy hoạch phát triển
nhân lực ngành Tài chính giai đoạn 2011-2020 tại Quyết định số 2123/QĐ-BTC,
trong đó xác định:
Mục tiêu phát triển nhân lực ngành Tài chính đến năm 2020 là xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tài chính có phẩm
121
chất đạo đức, trình độ chính trị, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, có
cơ cấu hợp lý, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhằm đáp ứng được
yêu cầu đòi hỏi mới của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế [9, tr.32].
Không chỉ quan tâm định hướng Quyết định số 1514/QĐ-BTC ngày
22/06/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt “Kế hoạch cải cách, phát
triển và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến 2020”
cũng chỉ rõ:
Tổ chức bộ máy ngành Hải quan được thiết kế, tổ chức lại đáp ứng yêu
cầu quản lý hải quan hiện đại dựa trên mô hình thủ tục hải quan điện tử,
hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, xử lý dữ liệu thông quan tập
trung, áp dụng toàn diện kỹ thuật quản lý rủi ro và sử dụng tối đa, có
hiệu quả các trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại; bước đầu ứng dụng
phương thức quản lý nhân lực mới dựa trên mô tả chức danh công việc;
xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Hải quan nắm
vững đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, có
chuyên môn nghiệp vụ chuyên nghiệp, chuyên sâu từng bước đáp ứng
yêu cầu quản lý hải quan hiện đại [8, tr.37].
Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan còn tích cực đầu tư cơ sở vật chất,
phương tiện kỹ thuật để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ngành
như xây dựng trụ sở mới của Tổng cục, mua sắm trang thiết bị hiện đại phục
vụ kiểm tra, kiểm soát, giám sát hải quan, kiểm định hàng hóa... Đặc biệt, gần
đây Nhà nước đã đầu tư hàng chục triệu USD để đưa Hệ thống thông quan tự
động (VNACSS/VCIS) vào hoạt động từ ngày 01/4/2014.
* Sự tự đổi mới của chính ngành Hải quan
Ngành Hải quan luôn coi trọng công tác cải cách, phát triển, hiện đại hóa
hải quan và ý thức trách nhiệm nghề nghiệp của mỗi công chức Hải quan đã góp
phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nhân lực của HQVN, đáp ứng
yêu cầu cải cách, hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế.
122
3.3.3.2. Nguyên nhân hạn chế
Nhân lực hải quan để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa trong hội nhập quốc
tế còn tồn tại những hạn chế nói trên là do còn có nhiều nguyên nhân cả ở mặt
chủ quan và khách quan.
* Một là, mô hình tổ chức chưa khoa học
Thực tế cho thấy, tính hợp lý trong mô hình tổ chức của bất kỳ đơn vị nào
đều ảnh hưởng lớn đến khả năng phát huy tối đa năng lực của đội ngũ cán bộ và
cuối cùng sẽ tác động không tốt đến chất lượng nhân lực, hiệu quả hoạt động của
đơn vị. Mô hình tổ chức và công tác cán bộ của Ngành những năm qua, có thể
nhận thấy còn tồn tại một số điểm chưa hợp lý như sau:
- Việc tổ chức các Cục Hải quan tại 35 tỉnh, thành phố như hiện nay
dựa chủ yếu vào yếu tố lãnh thổ, chưa dựa vào thực tế quản lý, khối lượng
công việc phát sinh dẫn đến tình trạng có đơn vị làm không hết việc (quá tải),
có đơn vị không có việc để làm, dẫn đến lãng phí nhân lực;
- Cơ cấu tổ chức toàn ngành Hải quan hiện nay chưa phù hợp với tổ
chức hải quan hiện đại mà hầu hết hải quan các nước trên thế giới đang áp
dụng, đó là mô hình tổ chức hải quan vùng. Hải quan Việt Nam cũng nhận
thức được điều này, nhưng chưa làm được vì thực tế có nhiều rào cản, bản
thân ngành Hải quan lại chưa có quyết tâm và cách thức tổ chức thực hiện
hợp lý để đạt mục tiêu đó. Bên cạnh đó tổ chức trong nội bộ ngành còn nhiều
điểm chưa hợp lý, một số đơn vị nhiệm vụ còn chồng chéo dẫn đến kém hiệu
quả, lãng phí nhân lực.
- Công chức của các Vụ, Cục thuộc cơ quan Tổng cục chủ yếu làm
công tác tham mưu cho Lãnh đạo Tổng cục về nghiệp vụ nhưng phần lớn là
thiếu kiến thức thực tế nên chất lượng tham mưu, đề xuất về nghiệp vụ, hoạch
định chính sách, chiến lược phát triển Ngành còn chưa sâu, chưa hoàn toàn
phù hợp thực tế.
123
* Hai là, hệ thống tiêu chuẩn đối với công chức hải quan hiện hành chưa hoàn
thiện, còn nhiều bất cập
Mặc dù Luật Hải quan đã được ban hành năm 2014, Thủ tướng Chính
phủ đã ký ban hành Quyết định số 65/2015/QĐ-TTg quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ
Tài chính, nhưng đến nay tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức đối cán
bộ, công chức Hải quan vẫn theo Thông tư số 09/2010/TT-BNV ngày
11/09/2010 của Bộ Nội Vụ. Chất lượng của nhân lực Hải quan được đánh giá
chủ yếu qua ba tiêu chí là thể lực, trí lực và tâm lực.
Bên cạnh đó, Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính
phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức và Thông tư số 05/2013/TT-
BNV ngày 25/6/2013 hướng dẫn thực hiện Nghị định 36/2013/NĐ-CP, áp dụng
theo các phương pháp như: phương pháp định biên, phương pháp tính theo định
mức lao động (sản phẩm và thời gian hao phí lao động), phương pháp thống kê
kinh nghiệm, phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp tổng hợp. Đến
nay ngành Hải quan mới chỉ nghiên cứu triển khai thí điểm khung năng lực trong
lĩnh vực giám sát quản lý và quản lý thuế, chưa xây dựng được khung năng lực
trên các lĩnh vực và tiêu chí đánh giá khung năng lực [8. Trang4].
* Ba là, còn những bất cập trong triển khai thực hiện công tác về cán
bộ của ngành Hải quan.
Những bất cập trong triển khai thực hiện công tác về cán bộ của ngành
Hải quan trong thời gian qua thể hiện trên những vấn đề cụ thể sau:
- Việc đánh giá số lượng thừa, thiếu cán bộ theo vị trí việc làm còn chung
chung, mới có được tổng số cán bộ trong một bộ phận đơn vị Vụ, Cục, dẫn đến
việc xây dựng đề án tuyển dụng chưa sát với thực tế. Việc thi tuyển vẫn theo lối
cũ, chưa có hình thức thi tuyển hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhân lực đáp ứng yêu
cầu vận hành hệ thống VNACCS/VCIS, đồng thời có khả năng thích ứng được
môi trường quốc tế mang tính tính đặc thù của hải quan.
124
- Việc luân chuyển cán bộ theo tinh thần nghị quyết Trung ương 3
(Khóa VIII) như: chuyển đổi vị trí công việc, nhất là đối với công chức lãnh
đạo còn phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của lãnh đạo hơn là việc xây
dựng được một cơ chế minh bạch để chọn được người tốt nhất trong số các
ứng cử viên để đáp ứng tốt nhất yêu cầu công việc… cho thấy đó là những bất
hợp lý, thiếu tính khoa học.
- Việc xây dựng những chính sách đối với công chức Hải quan được
giao nhiệm vụ làm công tác giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng nhân lực của ngành
chưa được giải quyết triệt để, hợp lý. Hệ quả là nhiều người trong số họ
không hoàn toàn yên tâm công tác.
- Chưa thực sự nghiêm túc khi xác định nhu cầu, hiệu quả công việc và
khả năng xã hội hóa một số mặt hoạt động của Ngành nên còn tồn tại một số
đơn vị lẽ ra phải chuyển sang hoạt động dịch vụ công như: Hệ thống công
nghệ - thông tin, máy soi container, cân điện tử… có thể xã hội hóa sẽ tiết
kiệm được nhiều nhân lực.
- Chưa thực sự được quan tâm đúng mức việc thực hiện chính sách khuyến
khích đối với những trường hợp đặc biệt xuất sắc, hay chưa thường xuyên thực
hiện việc thi nâng ngạch, áp dụng hệ số ưu tiên cho các vùng sâu, vùng xa, vùng
khó khăn, còn kém phát triển về văn hóa, giáo dục, hạ tầng cơ sở..., trong khi đó
có đến gần 88% số lượng công chức Hải quan ở Cục Hải quan tỉnh, thành phố
phải thường xuyên làm việc tại biên giới, cửa khẩu, hải đảo xa xôi.
- Chưa duy trì và xây dựng chính sách dưỡng liêm cho công chức Hải
quan để tăng cường ý thức kỷ luật và đảm bảo đời sống tối thiểu cho công
chức hải quan, chưa có chế độ hỗ trợ tài chính cho người thân và gia đình cán
bộ hải quan theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan Thế giới.
* Bốn là, còn những khoảng cách nhất định giữa công tác đào tạo, bồi
dưỡng nhân lực của ngành với yêu cầu hiện địa hóa để hội nhập quốc tế.
125
Những khoảng cách nhất định giữa công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân
lực của ngành với yêu cầu hiện đại hóa để hội nhập quốc tế gồm những vấn
đề cụ thể dưới đây:
- Mặc dù từ ngày 01/4/2014, Hải quan Việt Nam đã áp dụng hệ thống
thông quan tự động, nhưng công tác đào tạo của Hải quan Việt Nam về cơ bản
vẫn theo mô hình cũ, chương trình cũ, giáo trình cũ... Tuy có cập nhật các kiến
thức mới, nhưng cơ bản vẫn là “chắp vá”.
- Đội ngũ làm công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng
viên kiêm chức còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên môn, kinh
nghiệm thực tiễn và phương pháp sư phạm.
- Chưa có biện pháp phù hợp trong khuyến khích công chức Hải quan chủ
động, tích cực tự học tập, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và hoàn thiện nhân cách - con đường vừa ngắn, vừa hiệu quả trong nâng cao chất
lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan để hội nhập quốc tế.
* Năm là. một số cán bộ, công chức hải quan chưa thực sự tự giác, tích
cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng cần thiết
khác hoặc thiếu ý thức tu dưỡng đạo đức, lối sống, chưa chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật và kỷ luật công tác.
Bên cạnh nhiều công chức Hải quan tích cực, tự giác nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ thì vẫn còn một số ít người chưa nhận thức rõ trách
nhiệm trên của mình, tạo khả năng đáp ứng ở mức cao nhất yêu cầu của lĩnh
vực công tác phức tạp cao, chứa đựng nhiều rủi ro, và các quy định, quy trình
liên quan thường xuyên thay đổi nên chưa thực sự tự giác, tích cực học tập
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Một số công chức Hải quan cho
rằng, công việc hải quan chỉ cần có trình độ đại học là đủ nên không muốn
học lên các cấp cao hơn. Đây là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ số
người có trình độ thạc sĩ, nhất là tiến sĩ khá thấp so với một số ngành khác.
Thêm vào đó, việc tham gia các khóa học về nghiệp vụ của không ít người
126
chưa thực sự xuất phát từ sự mong muốn, tự nguyện cá nhân mà chủ yếu do
lãnh đạo cử đi (can thiệp bằng hành chính, mệnh lệnh) nên sự chấp hành
mang tính miễn cưỡng. Ngoài ra, tư tưởng bình quân chủ nghĩa trong học tập
của khá nhiều công chức Hải quan khi tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng
hiện vẫn còn mang tính phổ biến. Thực trạng đó được minh chứng khá rõ qua
kết quả đào tạo, bồi dưỡng do Trường Hải quan Việt Nam tổ chức trong thời
gian qua. Với thực trạng đó nên hiện nay số người có “đẳng cấp cao” toàn
diện trong ngành Hải quan chưa nhiều. Tính đến cuối năm 2013, toàn ngành
chỉ có 37 chuyên gia về nghiệp vụ và số người được coi là có trình độ cao
dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước cũng không nhiều. Theo số liệu
thống kê, hiện có 8.347 CBCC giữ ngạch từ chuyên viên trở lên chiếm tỷ lệ
78,5% so với số lượng toàn ngành, trong đó:
+ Chuyên viên cao cấp: 26 người; tỷ lệ 0,26%;
+ Chuyên viên chính: 935 người; tỷ lệ 8,5%;
+ Chuyên viên: 7.395 người; tỷ lệ 69,6% [32].
Như vậy, tỷ lệ chuyên viên cao cấp và chuyên viên chính toàn ngành là
rất thấp, nhất là chuyên viên cao cấp chỉ có 26 người (chiếm 0,26%) [32]. Rõ
ràng đây là điểm yếu khó chấp nhận đối với một lực lượng mà tính chuyên
nghiệp cao trong xử lý công việc được đánh giá là một trong những yếu tố quan
trọng đảm bảo khả năng hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao như
ngành Hải quan nên rất cần được khắc phục triệt để trong thời gian tới.
127
Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN VIỆT NAM
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN 2035
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI
QUAN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
4.1.1. Căn cứ để đề xuất phương hướng
4.1.1.1. Dự báo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế
Đất nước, nền kinh tế đang từng bước, chủ động hội nhập ngày càng
sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam gia nhập ASEAN vào
tháng 7/1995; Là thành viên tham gia sáng lập và là một thành viên tích cực
của Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM) năm 1996, tham gia Diễn đàn hợp tác
kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998; gia nhập Tổ chức
Thương mại lớn nhất toàn cầu WTO vào tháng 01/2007; tham gia thiết lập 12
hiệp định thương mại tự do (FTA) với 56 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới
đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao
vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tuy còn nhiều diễn biến
phức tạp, nhưng quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vẫn tiếp tục diễn ra
sôi động. Các quốc gia tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá
trị toàn cầu. Xuất hiện nhiều hình thức liên kết kinh tế mới, các định chế tài
chính quốc tế, khu vực, các hiệp định song phương, đa phương thế hệ mới.
Trong khi đó, Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng
kinh tế ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới,
hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước.
Với mục tiêu thúc đẩy và tăng cường hiệu quả hội nhập quốc tế, góp
phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển bền vững, vì vậy,
chúng ta cần đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch và cơ cấu lại
128
nền kinh tế theo hướng nâng cao khả năng cạnh tranh; tích cực tham gia sâu
và rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Trong phát triển kinh tế và
thương mại, cần chú trọng việc đổi mới công nghệ và bảo vệ môi trường,
nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ nước ta trên trường quốc tế.
4.1.1.2. Xu hướng hội nhập quốc tế về hải quan
Giai đoạn từ nay đến năm 2025, xu thế và bối cảnh quốc tế, trong nước
đây sẽ có tác động đến nhiệm vụ của cơ quan Hải quan theo hướng:
- Việc ký kết các hiệp định tạo thuận lợi thương mại: FTA, WTO,…
dẫn đến cắt giảm mạnh các dòng thuế theo các FTA, WTO… . Do đó, đến
năm 2025, song song với nhiệm vụ tạo thuận lợi thương mại, cơ quan hải
quan phải tăng cường thực thi các biện pháp kiểm soát hàng hóa XNK bằng
các hàng rào kỹ thuật, nhằm đảm bảo an ninh an toàn hàng hóa, chống gian
lận thương mại, đảm bảo ưu đãi thuế đúng đối tượng.
- Áp lực gia tăng khối lượng công việc do tạo thuận lợi thương mại,
tinh giản biên chế sẽ tác động mạnh đến yêu cầu sử dụng nhân lực của ngành.
Vì vậy, đòi hỏi tiếp tục phải có những nghiên cứu về Tổ chức bộ máy, nâng
cao chất lượng cán bộ công chức, luân chuyển cán bộ, ứng dụng khoa học
công nghệ… mới có thể đáp ứng được nhiệm vụ đặt ra từ các yêu cầu của
hoạt động quản lý nhà nước của Ngành trong tương lai.
Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan
hành chính nhà nước nói chung và của ngành Hải quan nói riêng sẽ đặt ra yêu
cầu về đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng cán bộ công chức, cải cách
quy trình thủ tục từ đó sẽ tạo ra nền tảng và cơ sở khoa học thực hiện thành
công mục tiêu này.
Tạo thuận lợi thương mại đồng thời phải đảm bảo hiệu lực, hiệu quả
hoạt động quản lý nhà nước của Ngành đòi hỏi phải tiếp tục có những nghiên
cứu, điều chỉnh và ngày càng hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý nhà nước
của Ngành tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý đồng thời
129
là cơ sở để cải cách thủ tục hành chính. Bên cạnh đó cần tiếp tục nghiên cứu
cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình thủ tục trong giải quyết
công việc cho tổ chức, doanh nghiệp, tiếp tục nghiên cứu ứng dụng mạnh mẽ
công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước của ngành và
cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở các mức độ cao hơn (mức độ 4) hướng tới
mô hình điện tử trong suốt trong giao dịch của cơ quan quản lý với người dân,
tổ chức, doanh nghiệp.
Hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng chủ động và sâu rộng, giao
thương thương mại quốc tế ngày càng tăng lên, đồng thời kéo theo những
thay đổi ngày càng nhanh và khó lường. Để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà
nhà nước của Ngành đòi hỏi phải tiếp tục có những nghiên cứu, áp dụng
nguyên tắc quản lý rủi ro/quản lý tuân thủ đồng bộ, toàn diện trong các khâu
nghiệp vụ của ngành. Phù hợp theo khuyến nghị về xây dựng Hải quan hiện
đại của WCO và xu hướng phát triển của Hải quan các nước phát triển trên
thế giới, đồng thời nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
của ngành và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại.
Trong giai đoạn tới, sự dịch chuyển trọng tâm của của các nước lớn,
phát triển năng động của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, việc hình thành
cộng đồng ASEAN đặt ra yêu cầu đòi hỏi ngành Hải quan phải nỗ lực thực
hiện các cam kết quốc tế đã ký kết, trong đó đối với ASEAN phải tiếp tục và
chủ động trong việc kết nối cơ chế một cửa ASEAN, đẩy mạnh và xây dựng
thành công cơ chế một cửa quốc gia, vì vậy một loạt công việc rất lớn từ
phía cơ quan hải quan phải chuẩn bị đó là các vấn đề về thuế, hải quan...
Theo đó, các nước cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu dành cho hàng hóa
của Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực khoảng từ 78-95% số dòng thuế
và xóa bỏ hoàn toàn từ 97-100% dòng thuế. Các mặt hàng còn lại sẽ có lộ
trình xóa bỏ thuế trong vòng 5-10 năm, trừ một số mặt hàng nhạy cảm có lộ
trình trên 10 năm hoặc áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan.
130
Những dự báo về xu hướng hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc
tế trên đây cho thấy ngành Hải quan cần phải chủ động tập trung phát triển
nhân lực để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
4.1.1.3. Lộ trình hiện đại hóa hải quan
Tình hình hình kinh tế, chính trị, an ninh trên thế giới thay đổi vô cùng
nhanh chóng, diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường; khủng bố, tranh chấp lãnh
thổ, tài nguyên, xung đột sắc tộc, các thách thức an ninh phi truyền thống nổi lên
gay gắt. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, tiếp tục là
trung tâm phát triển năng động, đồng thời cũng là trọng điểm cạnh tranh chiến
lược giữa các nước lớn. Quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của
khoa học, công nghệ tác động sâu rộng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới.
Xu hướng liên kết kinh tế, thương mại, đầu tư, kết nối hạ tầng đa tầng nấc gia
tăng; xuất hiện các hình thức liên kết mới, các chế định tài chính - tiền tệ, các hiệp
định kinh tế thương mại, đầu tư song phương, đa phương thế hệ mới, trong đó có
việc Cộng đồng ASEAN hình thành vào cuối năm 2015.
Giai đoạn 2016 - 2020, các nhiệm vụ Đại hội XII của Đảng đề ra,
nhiều mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo anh ninh quốc gia, an
toàn xã hội, nâng cao chất lượng sống của người dân… sẽ được tổ chức
triển khai thực hiện quyết liệt để hướng về đích “phấn đấu sớm đưa nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Cùng với đó là
các hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam sẽ ngày càng đa dạng,
phong phú, gia tăng cả về số lượng và chất lượng, tác động trực tiếp đến
nhiệm vụ của cơ quan Hải quan.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 của
Đảng xác định rõ định hướng phát triển thương mại hội nhập cùng thế giới
đến năm 2020 khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự
do và thị trường tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập khẩu cả về quy
mô và tỷ trọng, phấn đấu cân bằng xuất khẩu. Như vậy, vấn đề đảm bảo an
131
ninh, chống gian lận thương mại, chống hàng giả, hàng nhái trong hoạt động
XNK và các hoạt động tạo thuận lợi thương mại…sẽ tác động ngày càng
mạnh mẽ đến hoạt động của cơ quan Hải quan.
4.1.1.4. Mục tiêu phát triển nhân lực hải quan
Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 được Thủ tướng phê
duyệt tại Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 15/3/2011 đã nêu mục tiêu phát
triển nhân lực hải quan Việt Nam là: Xây dựng tổ chức bộ máy Hải quan hiện
đại và theo nguyên tắc tập trung thống nhất, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ về
phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường sự quản lý của Nhà nước, góp phần
giữ gìn an ninh, an toàn quốc gia. Xây dựng lực lượng hải quan có trình độ
chuyên nghiệp, hoạt động minh bạch, liêm chính, có hiệu lực, thích ứng
nhanh với những thay đổi của môi trường, công nghệ và yêu cầu của tiến trình
hội nhập quốc tế [38].
4.1.2. Phương hướng phát triển nhân lực để hiện đại hóa Hải quan
Việt Nam trong hội nhập quốc tế
4.1.2.1. Phương hướng phát triển ngành Hải quan Việt nam đến
2025 tầm nhìn 2035
Sự phát triển nhân lực hải quan để hiện đại hóa hải quan trong hội nhập
quốc tế phụ thuộc nhiều yếu tố, nhưng trước hết là phương hướng phát triển
ngành Hải quan Việt Nam đến 2025, tầm nhìn 2035.
Để xây dựng lực lượng hải quan chính quy, hiện đại và để thực hiện tốt
chỉ thị 24/2014/CT-TTg của Thủ tướng và nghị quyết 19/2015/NQ-CP của
Chính phủ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế,
ngành Hải quan cần thực hiện được các yêu cầu sau:
Một là, Hải quan tạo thuận lợi cho thương mại nhằm phát huy cao độ
các nguồn nội lực, thúc đẩy nhanh sức sản xuất; khuyến khích xuất khẩu,
khuyến khích đầu tư nhất là đầu áp dụng công nghệ cao, đầu tư vào vùng kinh
tế xã hội khó khăn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ
132
trọng công nghiệp và dịch vụ; đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng cao, bền
vững, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.
Hai là, trên cơ sở nguồn thu của Hải quan đóng góp gần 30% tổng thu
NSNN hiện nay, phấn đấu tốc độ tăng trưởng nguồn thu bình quân hàng năm
đạt trên 10%, góp phần đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết hợp lý của NSNN
và giành một phần cho tích luỹ;
Ba là, Hải quan bảo đảm rõ ràng, minh bạch, từng bước đảm bảo môi
trường pháp lý bình đẳng, công bằng; áp dụng thủ tục hải quan điện tử trong
ngành Hải quan thống nhất và thuận lợi cho các doanh nghiệp.
Bốn là, hệ thống các chính sách Hải quan vừa phải bảo hộ hợp lý, có
chọn lọc, có thời hạn đối với các ngành kinh tế, ngành công nghiệp trọng
điểm tạo nền tảng cho việc thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đồng thời chủ động hội nhập, thực hiện chính sách mở cửa để khuyến khích
thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu
hàng hóa; bảo đảm lợi ích quốc gia.
Năm là, từng bước đơn giản thủ tục hải quan, nhất là áp dụng mạnh mẽ
công cụ tin học trong các khâu nghiệp vụ theo hướng đơn giản, minh bạch, rõ
ràng, khách quan công khai, dân chủ trong công tác quản lý hải quan; bảo đảm
dễ hiểu, dễ thực hiện, giúp cho các doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ của
mình. Cơ quan hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý hải quan. Đẩy nhanh
việc áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hải quan, đảm bảo thu
đúng, thu đủ và kịp thời vào NSNN.
Sáu là, không ngừng hiện đại hóa, kiện toàn nâng cao năng lực của
bộ máy quản lý hải quan, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi gian lận
thương mại, chống thất thu ngân sách, khắc phục các hiện tượng tiêu cực,
yếu kém trong quản lý hải quan; kiện toàn bộ máy quản lý hải quan trong
sạch, vững mạnh.
133
4.1.2.2. Phương hướng phát triển nhân lực hải quan để hiện đại hóa
hải quan trong hội nhập quốc tế đến 2025 tầm nhìn 2035
* Phương hướng về số lượng
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu về cải cách trong lĩnh vực thuế, hải quan
nêu rõ đến cuối năm 2014 phải giảm 50% thời gian làm thủ tục hải quan và
đến năm 2017 đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN 4 trên một số chỉ
tiêu về năng lực cạnh tranh thuộc nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả (theo đánh
giá của Diễn đàn kinh tế thế giới). Trong khi đó Đảng Nhà nước, Chính phủ
đang nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, tinh giản biên chế, đến hết năm 2016
sẽ không được tăng biên chế, chỉ được tăng 50% số công chức đã ra khỏi cơ
quan Nhà nước do nghỉ hưu hoặc chuyển ngành. Điều này cho thấy để đáp
ứng công việc thì chỉ còn cách áp dụng phương pháp quản lý hiện đại theo
hướng tự động hóa, xã hội hóa, tăng chất lượng nhân lực... để bù đắp vào việc
thiếu hụt đó.
Vì vậy, Hải quan Việt Nam cũng phải thực hiện không tăng biên chế theo
đúng chỉ đạo của trung ương và Chính phủ. Đồng thời khẩn trương xây dựng,
hoàn thiện khung năng lực để bố trí cán bộ phù hợp với mô tả vị trí công việc có
chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu số lượng công việc ngày càng tăng trong
quá trình cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan.
* Phương hướng về chất lượng
Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện đào tạo, bồi dưỡng theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế
đến năm 2025 theo lộ trình phù hợp, trong đó đổi mới quản lý đào tạo bồi
dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ kiêm chức tham gia giảng dạy và
cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tiếp tục hoàn chỉnh Quy hoạch phát triển
nhân lực; thu hút và sử dụng nhân tài gắn với phát triển và ứng dụng khoa học
- công nghệ [26].
134
Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt “Quy hoạch phát
triển nhân lực ngành Tài chính giai đoạn 2011 - 2020” [9], với mục tiêu tổng
quát là: Phát triển nhân lực ngành Tài chính đến năm 2020 là xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tài chính có phẩm chất đạo đức,
trình độ chính trị, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, có cơ cấu hợp lý, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhằm đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi mới của
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Từ ngày 1/4/2014, Hải quan Việt Nam đã thực hiện thủ tục hải quan tự
động theo hệ thống VNACCS/VCICS, thuộc nhóm các nước có hệ thống
thông quan hiện đại nhất thế giới. Tuy nhiên, đến thời điểm này, ngành Hải
quan vẫn thực hiện việc quản lý, tuyển dụng, sử dụng bồi dưỡng, quy hoạch,
đề bạt cán bộ… theo truyền thống của Việt Nam dựa trên các văn bản quy
định về công chức của Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các quy định
riêng mang tính đặc thù của ngành hải quan.
Ngành Hải quan đã nhận thức được sự cần thiết và bước đầu xúc tiến
xây dựng khung năng lực hải quan, đây là thước đo chính thức và quan trọng
nhất để tuyển dụng, đánh giá đúng công chức để bố trí, sắp xếp vị trí công tác
cho phù hợp với năng lực, sở trường, sở đoản của từng công chức nhằm phát
huy cao nhất khả năng của từng người để tạo ra năng suất lao động chung ở
mức cao nhất trong diều kiện chỉ tiêu biên chế ngày càng bị thắt chặt và khối
lượng công việc ngày càng tăng cao.
Yêu cầu quản lý hải quan hiện đại và hội nhập Quốc tế cần những con
người có những tiêu chuẩn cao hơn như trình độ ngoại ngữ, tin học, quản lý
rủi ro, cần những kỹ năng làm việc nhóm, sự phối hợp với các bộ, ngành, với
quốc tế yêu cầu cao hơn…
* Phương hướng về cơ cấu
Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt chiến lược phát triển hải quan đến 2020, tại phần mục tiêu chủ yếu
nêu: Xây dựng tổ chức bộ máy Hải quan hiện đại và theo nguyên tắc tập trung
135
thống nhất, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội và tăng
cường sự quản lý của Nhà nước, góp phần giữ gìn an ninh, an toàn quốc gia.
Xây dựng lực lượng hải quan có trình độ chuyên nghiệp, hoạt động minh
bạch, liêm chính, có hiệu lực, thích ứng nhanh với những thay đổi của môi
trường, công nghệ và yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế.
Cuối năm 2015, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực
thuộc Bộ Tài chính [41]. Bên cạnh đó, nhiệm vụ của cơ quan hải quan cũng
được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tế như: Tổ chức thực hiện
các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải
quan; Tổ chức thực hiện công tác phân tích, kiểm tra về tiêu chuẩn, chất
lượng, kiểm dịch, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu theo đề nghị của các Bộ hoặc phân công của Thủ tướng
chính phủ; Tổ chức thực hiện chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp theo quy
định của pháp luật về hải quan; Tổ chức thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu
quốc gia về hải quan; tổ chức thực hiện một cửa quốc gia, một cửa ASEAN
và thực hiện cơ chế kết nối một cửa quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế,
các quốc gia, các vùng lãnh thổ theo cam kết quốc tế Việt Nam là thành viên
hoặc theo phân công của Chính phủ...
4.2. CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI
QUAN VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN 2025, TẦM NHÌN 2035
Hải quan Việt Nam đang trong quá trình tiếp tục thực hiện Kế hoạch
cải cách hiện đại hóa đến năm 2020 xây dựng ngành hải quan theo hướng
chính quy, hiện đại theo chuẩn mực quốc tế, ngang bằng với hải quan các
nước phát triển trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới.
4.2.1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy định về phát triển
nhân lực hải quan
Trong quản lý xã hội nói chung, quản lý con người (nhân lực) nói
riêng, khoa học quản lý đã chỉ rõ, các chủ thể quả lý có thể sử dụng nhiều
136
công cụ khác nhau, từ công tụ kế hoạch, đến các chính sách, hoặc hệ thống
các định chế pháp luật hoặc mang tính pháp luật…các công cụ đó có thể được
sử dụng độc lập hoặc sử dụng mang tính tích hợp. Mục tiêu cuối cùng mà các
chủ thể quản lý hướng tới làm làm thay đổi đối tượng quản lý theo hướng đã
định. Do đó việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy định về phát triển nhân
lực hải quan với tính cách là hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý nhân
lực ngành là hết sức cần thiết và là việc làm mang tính chất căn bản. Vì vậy,
có thể coi việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy định về phát triển nhân
lực hải quan là giải pháp có vị trí quan trọng hàng đầu, mang tính tiên quyết
đột phá vào những khó khăn, hóa giải các mâu thuẫn đang tồn tại trong quá
trình bảo đảm nhân lực của hải quan Việt Nam thời gian qua, hướng tới thực
hiện phương hướng, mục tiêu, yêu cầu hiện đại hóa hải quan trong hội nhập
quốc tế thời gian tới. Muốn hóa giải các tồn tại hạn chế và những nguyên
nhân chi phối chúng đã được trình bày tại Chương 3, về cơ chế, chính sách,
tức hệ thống quy định về phát triển nhân lực hải quan thuộc thẩm quyền của
bộ máy quản lý Hải quan Việt Nam; giữa yêu cầu nhân lực để hiện đại hóa hải
quan trong hội nhập quốc tế với sự lạc hậu về cơ chế chính sách thuộc hệ
thống quy định về phát triển nhân lực hải quan để các thực thể hợp thành
ngành Hải quan Việt Nam có những bước đi quan trong nhất trong bảo đảm
nhân lực hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế.
Nội dung của giải pháp trên bao gồm hai mảng vấn đề vừa mang tính
độc lập với nhau là vừa là hai bộ phận hợp thành biện pháp quản lý nhân lực
thống nhất của ngành hải quan trong hội nhập quốc tế hiện nay. Theo đó gồm;
Một là, hoàn thiện hệ thống quy định về phát triển nhân lực hải quan,
gồm các nội dụng cụ thể:
- Hoàn thiện danh mục vị trí việc làm, xây dựng bản mô tả chức danh
công việc và khung năng lực;
- Sửa đổi, bổ sung các chính sách, quy định về quản lý cán bộ;
137
Hai là, xây dựng hệ thống quy định mới về phát triển nhân lực hải
quan, gồm các nội dụng cụ thể:
- Xây dựng kế hoạch đào tạo nhằm phục vụ cho công tác hiện đại hóa
ngành hải quan;
- Xây dựng hệ thống văn bản quy định về ứng dụng công nghệ thông
tin trong quản lý nhân sự trong toàn ngành theo hệ thống dữ liệu tập trung;
Để thực hiện giải pháp trên cần tiến hành tốt và đồng bộ các biện pháp sau:
Một là, xây dựng và từng bước đưa vào áp dụng phương pháp quản lý
nhân lực hiện đại thông qua việc phân tích công việc, xây dựng mô tả chức
danh công việc chung, bộ tiêu chuẩn năng lực; xây dựng cơ chế quản lý, cập
nhật và sử dụng các bảng mô tả công việc, bộ tiêu chuẩn năng lực; thực hiện
việc rà soát, đánh giá toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu chức
danh công việc; triển khai việc xây dựng các hệ thống trợ giúp hoạt động
quản lý nhân lực trong ngành Hải quan.
Hai là, sửa đổi, bổ sung và tổ chức triển khai thực hiện các chính sách,
quy định về quản lý cán bộ, như: tuyển dụng, bố trí, sắp xếp, đánh giá, phân
loại, điều động, luân chuyển, quy hoạch, bổ nhiệm… theo phương thức quản
lý nhân lực hiện đại dựa trên năng lực.
Đổi mới cơ chế quản lý biên chế đảm bảo thực hiện đầy đủ và có hiệu
quả chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật. Xây dựng
chế độ đãi ngộ đối với những chuyên gia giỏi, có cơ chế thu hút, tuyển dụng
nhân tài và xây dựng chế độ đãi ngộ hợp lý đối với công chức làm nhiệm vụ ở
biên giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa.
Ba là, xây dựng hệ thống thông tin quản lý nhân sự ngành Hải quan
theo hướng tự động hóa một số công việc nhằm quản lý nhân lực sau khi tổ
chức, sắp xếp lại ngành Hải quan.
Bốn là, phân tích nhu cầu đào tạo của cán bộ, công chức Hải quan và
tiến hành chuẩn hóa giáo trình, nội dung đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ hải
138
quan; đa dạng hóa các loại hình đào tạo; xây dựng và áp dụng những chính
sách đãi ngộ hợp lý tạo động lực thúc đẩy cán bộ, công chức tích cực đi học
để nâng cao trình độ; xây dựng cơ chế đánh giá kết quả đào tạo để nâng cao
chất lượng dạy và học.
Xây dựng kế hoạch và triển khai một số chương trình đào tạo trọng
điểm nhằm phục vụ cho công tác hiện đại hóa ngành. Tăng cường đào tạo phổ
cập nghiệp vụ, đào tạo chuyên sâu, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng
kiểm tra sau thông quan cho toàn lực lượng trong ngành.
Tập trung lực lượng cho hoạt động phòng, chống ma túy tại cấp Chi
cục Hải quan, đặc biệt là các địa bàn trọng điểm thường diễn ra hoạt động
buôn bán, vận chuyển các chất ma túy qua biên giới.
Xây dựng trường Hải quan Việt Nam chính quy, hiện đại đáp ứng với
yêu cầu hiện đại hóa của ngành; kết hợp đào tạo trong nước với đào tạo ngoài
nước bằng nhiều hình thức, nguồn lực khác nhau.
Năm là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và đảm bảo liêm
chính hải quan. Hoàn chỉnh các quy định về kỷ luật, kỷ cương nội bộ với một
hệ thống quy định chặt chẽ, định rõ các hành vi, tính chất của từng nhóm hành
vi cùng với các biện pháp, hình thức chế tài, xử lý nghiêm khắc tương xứng.
Kết hợp tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức với thường
xuyên kiểm tra việc thực hiện các nội dung quy định về liêm chính hải quan,
đồng thời xây dựng kế hoạch từng bước đảm bảo các yếu tố vật chất và tinh
thần để thực hiện liêm chính hải quan. Tổ chức tuyên truyền phổ biến, nâng
cao nhận thức của doanh nghiệp, cá nhân về liêm chính hải quan.
4.2.2. Tiếp tục hoàn thiện tiêu chí đánh giá nhân lực hải quan
Trong các phương pháp đánh giá đối với các vấn đề của đời sống xã hội
hiện được sử dụng trong công tác quản lý nói chung, quản lý con người nói
riêng, phương thức đánh giá bằng hệ thống tiêu chí hiện được sử dụng rộng rãi.
Đánh giá thông qua hệ thống tiêu chí đạt được tính khoa học khá toàn diện, (vì
139
nó bao chứa trong đó cả yếu tố định tính và định lượng), nên luôn được các
quốc, các tổ chức lựa chọn. Việc xây dựng được hệ tiêu chí đánh giá nhân lực
để quản lý nhân lực và đưa vào vận hành trong thực tiễn được coi là một thành
công của công tác quản lý nhân lực. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, tất cả các
yếu tố hợp thành đời sống xã hội nói chung, một sự vật, hiện tượng cụ thể nói
riêng, luôn ở trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng. Do đó, một hệ
thống tiêu chí nào đó được xây dựng xong và đưa vào vận hành trong thực tiễn,
không thể coi là công việc làm đã xong xuôi. Sự vận động của thực tiễn làm
cho một bộ phận, hoặc một số bộ phận (chỉ số) hợp thành tiêu chí bị lạc hậu, bị
vượt qua không còn bảo đản tính khoa học của bộ “thước đo” đó nữa. Việc tiếp
tục hoàn thiện tiêu chí đánh giá nhân lực đã có là việc phải làm, nếu muốn tiếp
tục sử dụng phương pháp đánh giá bằng hệ thống các tiêu chí. Với vấn đề nhân
lực để hiện đại hóa hải quan trong hội nhập quốc tế cũng không phải là ngoại
lệ. Vì vậy có thể thấy đây là giải pháp vừa mang tính cơ bản, và phản ánh giá
trị cốt lõi của công tác nhân lực giúp cho người lãnh đạo, quản lý có cái nhìn
bao quát, đánh giá chất lượng nhân lực thực tiễn trong từng giai đoạn, qua đó
có biện pháp, giải pháp xử lý khắc phục kịp thời những tồn tại, hạn chế nhằm
phát triển nhân lực hải quan.
Giải pháp trên bao gồm ba nội dung cụ thể sau vừa mang tính độc lập
tương đối, và quan hệ chặt chẽ với nhau, theo đó gồm:
- Phải xây dựng và đưa vào vận hành trong thực tiễn bộ tiêu chí về
đánh giá số, chất lượng, cơ cấu nhân lực hải quan
- Phải theo dõi chặt chẽ quá trình vận hành hệ tiêu chí đó trong thực tiễn
- Phải kịp thới hoàn thiện bộ tiêu chí khi thấy có những dấu hiệu các
nội dung tiêu chí đã bị thực tiễn vượt qua.
Để thực hiện các nội dung thuộc giải pháp trên, cần tiến hành đồng bộ
các biện pháp cụ thẻ dưới dây:
Một là, tiến hành việc tổng rà soát về tình hình số lượng nhân lực
140
ngành hải quan hiện nay, đối chiếu với yêu cầu hiện địa hóa để hội nhập
quốc tế. Chỉ rõ những bất cập hiện hữu về mặt số lượng.
Với xu hướng nền kinh tế phát triển với tốc độ 6,5% năm, số lượng
doanh nghiệp thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu tăng, kim ngạch tăng, chỉ tiêu
thu thuế được Quốc hội giao năm sau tăng 15% so với năm trước.
Căn cứ vào biên chế hiện tại và nhu cầu biên chế theo từng vị trí việc
làm (xác định theo quy trình xác định biên chế) để đánh giá mức độ đáp ứng
của số lượng nhân lực hiện tại: thừa/ thiếu của từng vị trí việc làm. Từ đó đề
xuất phương án tái cơ cấu, bố trí sắp xếp lại nhân lực phù hợp.
Áp dụng phương pháp định biên theo thời gian hao phí để tính toán số
lượng công chức cho phù hợp yêu cầu công việc, bao gồm nhóm vị trí việc
làm chuyên môn nghiệp vụ và nhóm vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ.
Theo công thức, tổng số biên chế hiện tại của Hải quan = db1 + db2 +
db3 + db4. Trong đó: (i) db1 là xác định thời gian hao phí đối với nhóm sản
phẩm không tính được định mức sản phẩm trên cơ sở khối lượng công việc
thực tế; (ii) db2 là xác định thời gian hao phí đối với nhóm sản phẩm có tính
được định mức sản phẩm trên cơ sở định mức và khối lượng công việc thực tế;
(iii) db3 là định biên (db1) đối với nhóm vị trí việc làm đặc thù của đơn vị;
(iv) db4 là định biên đối với một số công việc đã được thủ trưởng đơn vị quy định
thời gian hao phí lao động phải thực hiện (việc tính toán dựa trên định biên đối với
nhóm nhiệm vụ chính và nhóm nhiệm vụ hỗ trợ nêu trên).
Trên cơ sở rà soát có các biện pháp tương thích về tuyển dụng mới, cho
chuyển ra khỏi ngành hoặc điều chuyển công tác và xác định cơ chế cùng
những chính sách khả thi để thực hiện tái cơ cấu lại nhân lực của ngành về
mặt số lượng.
Hai là, tiến hành một cách cẩn trọng, nghiêm túc việc đánh giá về chất
lượng hiện hữu của nhân lực ở tất cả các Cục, Chi cục, đơn vị thuộc ngành
Hải quan trước đòi hỏi của hiện đại hóa để hội nhập quốc tế, như đã dự báo
(trong mục 4.1 Chương 3).
141
Trên cơ sở rà soát có các biện pháp tương thích điều chỉnh lại chủ
trương, biện pháp, cơ chế chính sách để làm thay đổi chất lượng nhân lực
trong toàn ngành trước đòi hỏi mới của hiện đại hóa hải quan trong hội nhập
quốc tế.
- Về thể lực: Đánh giá qua các chương trình khám sức khỏe định kỳ;
số thời gian cán bộ, công chức nghỉ ốm.
- Về trí lực (kiến thức, kỹ năng): Bài kiểm tra; Kết quả làm việc thực tế:
+ Bài kiểm tra: Căn cứ vào yêu cầu kiến thức, kỹ năng cần có (theo
khung năng lực), thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm về kiến thức và bài tập tình
huống để đánh giá mức độ am hiểu kiến thức và thành thạo kỹ năng giả định
(không qua xử lý công việc thực tế).
+ Kết quả làm việc thực tế: Căn cứ vào định nghĩa mức độ thành thạo
của năng lực tại khung năng lực, đánh giá mức độ thành thạo của cán bộ công
chức thông qua kết quả xử lý công việc thực tế.
- Về tâm lực
+ Phẩm chất chính trị,
+ Phẩm chất cá nhân về đạo đức; thái độ, hành vi, lối sống.
Ba là, tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện về cơ cấu nhân lực hải
quan hiện hữu trước đòi hỏi mới của hiện đại hóa hải quan đáp ứng yêu cầu
hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở rà soát có các biện pháp tương thích điều chỉnh lại cơ câu
(tái cơ cấu nhân lực).
Việc tổ chức các Cục Hải quan tại 35 tỉnh, thành phố như hiện nay là
chưa hợp lý, lãng phí nhân lực ở cấp trung gian (cấp cục).
Với mô hình hải quan vùng hiện nay là 35 cục hải quan tỉnh, thành phố
quản lý trong phạm vi 64 tỉnh, thành phố, về cơ bản là phù hợp, song do phát
triển kinh tế ở mỗi vùng không đồng đều, chính sách thu hút đầu tư nước
ngoài chung của quốc gia là thống nhất, nhưng mỗi tỉnh, thành phố lại có cơ
142
chế mềm, vận dụng linh hoạt trong việc khuyến khích đầu tư trong và ngoài
nước nên sẽ có sự thay đổi về kim ngạch, số lượng tờ khai, số thuế thu được.
Mặt khác, khi ngành Hải quan triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu tập
trung tại khối cơ quan Tổng cục thì mọi xử lý chính sẽ tập trung tại Tổng cục
xây dựng và hướng dẫn chính sách và tại chi cục là thực thi chính sách, lúc đó
vai trò cơ quan cấp cục sẽ không nhiều, chủ yếu đóng vai trò trung gian,
nghiên cứu, đề xuất, xử lý một số công việc theo phân cấp của Tổng cục.
Do đó, Tổng cục Hải quan cần sớm có sự nghiên cứu xây dựng mô
hình hải quan vùng mới phù hợp với quá trình phát triển, hội nhập. Tổ chức
khảo sát, đánh giá lại cơ cấu tổ chức hải quan theo mô hình tổ chức hải quan
vùng, giảm bớt đầu mối cục hải quan tỉnh, thành phố xuống còn 20 cục theo
mô hình vùng kinh tế trọng điểm của quốc gia.
Chỉ tiêu xây dựng hải quan vùng (trong 01 năm): Số lượng kim ngạch
XNK; Số lượng tờ khai; Số thuế thu được; Số lượng công chức có mặt tính
đến thời điểm thống kê, báo cáo;
Cần xây dựng chương trình phần mềm để đánh giá, có sự so sánh với
chỉ số gốc, chỉ số của năm trước; đồng thời đưa ra danh mục cảnh báo những
lỗi thường gặp trong quản lý cán bộ.
4.2.3. Tăng cường đào tạo và đào tạo lại nhân lực hải quan
Như mọi nhân lực của các ngành và lĩnh vực khác trong nền kinh
tế và trong xã hội, chất lượng, số lượng và một cơ cấu nhân lực mới, hợp lý
đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn không thể xuất hiện khi nguồn nhân lực đó
không được đào tạo, bồi dưỡng một cách bài bản, chu đáo và thường xuyên.
Nhân lực hải quan lại có yêu cầu riêng do gắn liền với hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa - một dạng hoạt động đòi hỏi những người hoạt động trong
lĩnh vực đó phải hết sức thông thạo nghiệp vụ chuyên môn gắn liền với một
phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng - một nhân cách hoàn thiện; khi nhân
lực đó đang đứng trước yêu cầu cao của quá trình hiện đại hóa hải quan để hội
nhập quốc tế.
143
Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và chủ trương mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng nền kinh tế
nước ta vào đời sống kinh tế toàn cầu của Đảng và Nhà nước ta đòi hỏi những
con người - nhân lực của ngành Hải quan Việt Nam phải là lực lượng tinh
nhuệ (cả về chuyên môn nghiệp vụ, cả về bản lĩnh con người Việt Nam và cả
trong làm chủ các thiết bị và công nghệ hiện đại, tiên tiến) để thừa hành
nhiệm vụ một cách hiệu quả trong quá kình hội nhập.
Để có được những con người - nhân lực như vậy, nhất định những cán
bộ công chức hải quan phải được đào tạo bồi dưỡng chu đáo, có đủ tâm, tầm,
trí và thể lực tốt đáp ứng yêu cầu công việc. Do đó, tăng cường đào tạo và đào
tạo lại nhân lực hải quan là vấn đề giữ vị trí hết sức quan trọng, giải pháp căn
cơ trong hệ thống các giải phát phát triển nhân lực để hiện đại hóa Hải quan
Việt nam trong hội nhập quốc tế đến năm 20025, tầm nhìn đến năm 2035; vừa
giải quyết nhân lực trước mắt và tạo nguồn nhân lực cho phát triển lâu dài.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ trang bị cho cán bộ, công chức kiến thức nền
tảng và chuyên sâu phục vụ công tác.
Những nội dung chủ yếu cần nắm vững trong thực hiện giải pháp.
- Kịp thời tổ chức đào tạo cho đối tượng là cán bộ, công chức mới được
tuyển dụng, chuyển ngành để cập nhật kiến thức nghiệp vụ cơ bản hải quan
theo vị trí việc làm;
- Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu,
chuyên ngành cho đối tượng là cán bộ, công chức đang trực tiếp thực thi
nhiệm vụ;
- Tổ chức các đợt hội thảo, tập huấn trao đổi kinh nghiệm, bài học thực
tế ở một số địa bàn lớn để kịp thời cho các đơn vị khác rút ra bài học kinh
nghiệm xử lý.
- Thường xuyên phối hợp với Tổ chức Hải quan Thế giới, các nước
phát triển, các nước có ký kết hiệp định đa phương, song phương để học hỏi,
144
chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, chuẩn mực quốc tế.
Bốn nội dung chủ yếu nói trên khi tổ chức thực hiện phải tuân theo các
chiến lược, kế hoạch đã được phê duyệt trước đó. Về hình thức cụ thể cần áp
dụng linh hoạt, trong đó cần làm tốt việc gắn đào tạo tại trường với bồi dưỡng
tại đơn vị. Về đào tạo và bồi dưỡng tại trường, có thể vận dung các hình thức
cụ thể như cử đi đào tạo dài hạn, bồi dưỡng ngắn hạn, tập huấn tại chỗ, gửi đi
tập huấn các chuyên đề tại trường của ngành hải quan và các trường đào tạo
nhân lực của quốc gia để nâng cao nhận thức chính trị, năng lực nắm vững và
vận dụng tốt những chủ trương của Nhà nước, của Bộ Tài Chính về phát triển
quan hệ thương mại quốc tế trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập
sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế; cử đi bồi dưỡng nghiệp vụ tại trường
nghiệp vụ của Tổng cục Hải quan để cập nhật những quy định mới về thủ tục
hải quan theo chỉ đạo chung của ngành Hải quan cả nước, giúp họ nắm vững
những yêu cầu của công tác chuyên môn, theo đó tùy theo điều kiện cụ thể để
vận dụng trong thực tiễn hội nhập quốc tế của ngành hải quan không cứng
nhắc, máy móc.
Các biện pháp cụ thể để hiện thực hóa giải pháp trên gồm:
Một là, cơ quan Hải quan cũng như những đơn vị bộ ngành khác là
được hưởng lợi từ quá trình đào tạo của các học viện, trường đại học, trung
tâm đào tạo trong cả nước khi những thí sinh này ra trường họ đã được trang
bị những kiến thức cơ bản và một số còn được đào tạo theo chuyên ngành sâu.
Vì vậy khi thi tuyển đầu vào họ đã đáp ứng được theo tiêu chuẩn đưa ra thì
mới được tuyển dụng. Do đó mỗi cán bộ, công chức Hải quan cần phải chủ
động và tự học hỏi để nâng cao chất lượng công việc được giao. Công tác đào
tạo, bồi dưỡng trong ngành cần tập trung và hướng tới đào tạo những kiến
thức chuyên ngành và kiến thức hải quan nghiệp vụ tổng hợp ngay từ khi mới
được tuyển dụng. Bên cạnh đó cũng cần đào tạo, bồi dưỡng thông qua những
đợt kiểm tra diện rộng về những văn bản, quy định mới, những vấn đề yêu
145
cầu bắt buộc phải thực thi theo quy định của toàn xã hội như chấp hành luật
giao thông, quy định về công tác kê khai tài sản, nghĩa vụ nộp thuế thu nhập
cá nhân, bảo về môi trường, xây dựng cộng đồng và tập thể đoàn kết…
Hai là, công tác đào tạo luôn có một độ trễ nhất định so với yêu cầu
công việc thực tế; cơ sở đào tạo cần xây dựng kế hoạch gắn kết với nhu cầu từ
đơn vị nghiệp vụ; mặt khác các đơn vị nghiệp vụ cũng phải có kế hoạch thật
cụ thể để phối hợp với trường Hải quan Việt Nam, cơ sở đào tạo của Ngành
để đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu theo chuyên đề cho công chức.
Do sức ép về số lượng đào tạo nên đôi khi mở rộng thành phần tham
gia, đối tượng không liên quan đến nội dung đào tạo, bồi dưỡng dẫn đến
không có hiệu quả cho người học vì bị ảnh hưởng đến chất lượng chung.
- Do yêu cầu hội nhập nên Việt Nam phải tham gia hoặc đàm phán theo
lộ trình khi tham gia các hiệp ước, công ước về giảm thuế, phân loại hàng
hóa, trị giá tính thuế đối với hàng hóa, sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa… một
số mặt hàng, dòng hàng phải điều chỉnh để phù hợp với cam kết về hạn chế
biến đổi khí hậu, vì môi trường, tầng ô zôn… Vì vậy, nội dung đào tạo gắn
liền với nghiệp vụ cũng phải thường xuyên cập nhật, bổ sung.
- Bên cạnh đó, cũng cần đổi mới hình thức đào tạo phương pháp đào
tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với yêu cầu nghiệp vụ và sự phát triển của nền
kinh tế, quá trình hội nhập quốc tế.
Tổ chức đào tạo nghiệp vụ hải quan đảm bảo tính chuyên nghiệp,
chuyên sâu, xây dựng đội ngũ chuyên gia, chú trọng bồi dưỡng đội ngũ giảng
viên; đáp ứng tiêu chuẩn về chức danh, ngạch công chức, yêu cầu về vị trí
việc làm, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm cán bộ.
Đào tạo nhân lực để thực hiện hải quan điện tử theo quy trình của hệ
thống VNACCS/VCIS; đáp ứng nhiệm vụ thu thuế, chống buôn lậu, giám sát
quản lý và kiểm tra sau thông quan.
- Cần chú trọng và ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cho đối tượng được quy
146
quy hoạch, tạo nguồn bổ nhiệm. Ứng với mỗi cấp lãnh đạo cần có giáo trình
đào đạo phù hợp và chuyên sâu về nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều
hành. Cán bộ trước khi bổ nhiệm bắt buộc phải qua khóa đào tạo kỹ năng lãnh
đạo, quản lý, điều hành.
Đào tạo ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh, Pháp và ngôn ngữ của các
nước láng giềng có đường biên giới chung với Việt Nam đạt hiệu quả, chất
lượng, phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm của công chức. Qua đó, mỗi cán bộ,
công chức phải thực sự có kiến thức, tự tin và có khả năng làm việc độc lập.
4.2.4. Xây dựng cơ chế quản lý cán bộ linh hoạt dựa trên hiệu quả
công việc
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN đã có nghị quyết
về hội nhập quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển
Hải quan đến năm 2020 (tại Quyết định số Số: 448/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3
năm 2011 ngày 25 tháng 3 năm 2011). Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã
phê duyệt Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài
chính (số: 20/2010/QĐ-TTg ngày 15 tháng 01 năm 2010). Song như vậy vẫn
chưa thể coi là đủ để vận hành quá trình phát triển nhân lực đẻ hiện đại hóa
hải quan Việt Nam trong hội nhạp quốc tế. Vì vậy, ngành Hải quan cần tiếp
tục xây dựng cơ chế quản lý cán bộ linh hoạt dựa trên hiệu quả công việc theo
hướng bám sát những yêu cầu, nội dung công việc hiện đại hóa hải quan để
hội nhập quốc tế. Đây là việc làm cần thiết để việc phát triển nhân lực của
ngành tong quá rình phát triển, cũng như trong hiện đại hóa để hội nhập quốc tế.
Những nội dung cần nắm vững để thực hiện giải pháp.
Có bốn vấn đề thuộc về xây dựng cơ chế quản lý cán bộ linh hoạt dựa
trên hiệu quả công việc, đó là;
- Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện công tác luân chuyển, luân
phiên, chuyển đổi vị trí công tác, điều động công chức, viên chức…;
- Cập nhật, triển khai quy định mới về phân cấp quản lý cán bộ;
147
- Xây dựng đề án và tổ chức thực hiện việc thi tuyển các vị trí, chức
danh lãnh đạo cấp cao (từ cấp Vụ trưởng trở lên);
- Đánh giá cán bộ dựa trên kết quả đầu ra của sản phẩm dựa trên các
chỉ tiêu cụ thể.
Một số vấn đề chủ yếu cần nghiên cứu và tổ chức thực hiện trong bố trí,
sắp xếp lại nhân lực Hải quan hiện hữu và có chính sách khuyến khích thúc đẩy
cán bộ công chức Hải quan tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, hoàn thiện nhân
cách, bao gồm:
Để hiện thực hóa giải pháp trên cần thực hiện tốt và đồng bộ các biện
pháp cụ thể sau:
Một là, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm khắc phục những
tồn tại, hạn chế trong quy định về công tác nhân sự; thường xuyên rà soát,
đánh giá nhân sự (đánh giá, phân loại, quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại,
luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác cán bộ công chức, viên
chức) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Ngành.
Triển khai và đẩy mạnh việc cử công chức, viên chức tại các đơn vị
thuộc cơ quan Tổng cục đi thực tế tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố trong
những năm tiếp theo; triển khai đồng bộ công tác luân chuyển, luân phiên, chuyển
đổi vị trí công tác, điều động công chức, viên chức của Tổng cục Hải quan.
Hai là, tổ chức triển khai tốt các quy định mới về phân cấp quản lý cán
bộ theo Quyết định của Bộ Tài chính và rà soát phân cấp quản lý cán bộ cho
các cục hải quan tỉnh, thành phố.
Ba là, xây dựng quy định và tổ chức thực hiện việc thi tuyển các vị trí,
chức danh lãnh đạo cấp Vụ, Cục, Tổng cục. Khuyến khích việc công chức
đăng ký và dự thi vào các vị trí lãnh đạo cao. Mặt khác cũng xây dựng cơ chế
để cán bộ, công chức chủ động đăng ký thay đổi vị trí công việc tốt hơn nếu
đáp ứng các yêu cầu và vượt qua các kỳ thi của lãnh đạo phụ trách. Như vậy
sẽ khuyến khích được nỗ lực làm việc và hoàn thành công việc ngày càng cao
148
của cán bộ, công chức, phát huy tư duy sáng tạo, cầu tiến và mong muốn
được cống hiến cho sự nghiệp phát triển chung của ngành Hải quan.
Bốn là, quá trình quản lý và sử dụng cán bộ cũng cần phải dựa vào vấn
đề cốt lõi là chất lượng công việc. Muốn như vậy thì phải xây dựng quy chế
thực hiện từng việc, lãnh đạo giao việc phải hết sức cụ thể, rõ ràng: lãnh đạo
muốn gì, kết quả là gì, thời gian hoàn thành… Một số công việc khó, mới cần
có sự gợi ý hướng dẫn cho nhân viên, cấp dưới để đảm bảo họ có khả năng
thực hiện và thực hiện có hiệu quả. Khuyến khích và tạo điều kiện để nhân
việc chủ động, sáng tạo nghiên cứu khoa học. Định kỳ cuối tháng hoặc đầu
tháng phải xây dựng ký hoạch thực hiện công việc của tháng tiếp theo.
Thường có 2 nguồn công việc, đó là do lãnh đạo phân công và còn do nhân
viên chủ động đăng ký để thực hiện, việc này rất cần thiết trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ được giao, họ phát hiện ra thêm nội dung cần triển khai để tạo
thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân hoặc trong quá trình phối hợp thực
hiện nhiệm vụ và phát triển Ngành. Đồng thời, cần sớm nghiên cứu xây dựng
và triển khai phần mềm giao việc và theo dõi, thực hiện công việc, có cảnh
báo tiến độ công việc theo từng mốc thời gian cần thực hiện.
Năm là, sớm triển khai xây dựng và thực hiện việc đánh giá chất lượng
cán bộ bằng bộ tiêu chí (chỉ số) đánh giá chất lượng và hiệu quả của tập thể cá
nhân. Việc hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân cũng sẽ góp phần cho tập
thể đó hoàn thành nhiệm vụ. Hàng tháng có sự đánh giá chất lượng, tiến độ
công việc của từng cán bộ, công chức, hàng năm sẽ có nhận xét đánh giá hiệu
quả công việc của cá nhân và tập thể thông qua kết quả thực hiện hàng tháng,
tinh thần thái độ, sự gắn kết với đơn vị, số lỗi mắc phải cũng như mức độ của
từng lỗi có sự ảnh hưởng đến đâu. Việc đánh giá cần triển khai thực hiện theo
đa chiều, cấp trên đánh giá, nhận xét cho cấp dưới; lấy phiếu khảo sát nhân
viên đánh giá cấp lãnh đạo quản lý thông qua kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng quản
lý, khả năng thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ…
149
4.2.5. Tạo động lực phát triển nhân lực hải quan
Trong kinh tế thị trường, động lực quyết định mỗi con người hành động
chính là các lợi ích. Lợi ích (trước hết là lợi ích vật chất) quyết định động cơ
thái độ và quy định hành vi của mỗi con người trong cách hoạt động cụ thể
(trong sản xuất, kinh doanh, trong lưu thông, phân phối…). Trong nhiều
trường hợp, để đoạt được lợi ích người ta có thể có những hành động phù hợp
với lợi ích chung (của xã hội, cộng đồng, trong đó có lợi ích của họ); nhưng
cũng có không ít trường hợp vì lợi ích riêng, lợi ích nhất thời, người ta có thể
làm phương hại đến lợi ích chúng của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc hoặc
của người khác. Vận dụng những vấn đề mang tính quy luật nói trên vào
trường hợp cụ thể của nhân lực ngành Hải quan - bộ phận nhân lực thường
xuyên đối mặt với những cám dỗ của tiền bạc, càng thấy vấn đề tạo động lực
phát triển nhân lực hải quan hết sức quan trọng. Tạo động lực phát triển nhân
lực hải quan theo hướng đảm bảo chế độ đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ,
công chức có mức sinh hoạt ổn định, phù hợp với điều kiện xã hội, để họ yên
tâm công tác, tin tưởng và sự chỉ đạo của Đảng, quản lý của cơ quan cấp trên
và xây dựng cơ chế để cán bộ, công chức có cơ hội phấn đấu và cạnh tranh
lành mạnh trong phát triển đội ngũ lãnh đạo quản lý, đi học nước ngoài, công
tác nước ngoài…là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển nhân
lực hải quan ở nước ta hiện nay trước xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng
vào đời sống kinh tế quốc tế.
Hai nội dung cơ bản của giải pháp cần nắm vững trong tổ chức thực hiện:
- Đảm bảo chế độ chính sách, tiền lương cho cán bộ, công chức có mức
sinh hoạt ổn định, phù hợp với điều kiện xã hội, để họ yên tâm công tác, tin
tưởng và sự chỉ đạo của Đảng, quản lý của cơ quan cấp trên;
- Xây dựng cơ chế để cán bộ, công chức có cơ hội phấn đấu và cạnh
tranh lành mạnh trong phát triển đội ngũ lãnh đạo quản lý, đi học nước ngoài,
công tác nước ngoài…
150
Để hiện thực hóa giải pháp trên trong thực tiễn cần tiến hành tốt và
đồng bộ các biện pháp cụ thể dưới đây:
Một là, công chức Hải quan được hưởng chế độ lương theo chính sách
tiền lương của Nhà nước. Bên cạnh đó được hưởng hệ số khoán theo kinh phí
hoạt động không quá 2,3 lần, nhưng thực tế mới được hưởng cao nhất là bằng
2 lần lương cơ bản. Trong khi đó các lực lượng, ngành nghề khác cũng được
hưởng thêm các mức theo cơ chế đặc thù và hệ số phụ.
Với một công chức làm việc trong ngành Hải quan sau 15 năm ở hệ số
3,66 thì được hưởng chưa đến 8 triệu đồng, như vậy sẽ rất khó khăn trong
sinh hoạt. Bên cạnh đó, cán bộ, công chức Hải quan là người thường xuyên
tiếp xúc với tiền, hàng, là người trực tiếp tính thuế đối với hàng hóa XNK thì
không tránh khỏi sự đấu tranh trong chính bản thân công chức để không vi
phạm kỷ cương, liêm chính, khó tránh những đối tượng gian lận thương mại
mua chuộc, lôi kéo.
Vì vậy, cần kiến nghị với cơ quan xây dựng chính sách tiền lương có
đưa ra các đối tượng đặc thù nghề nghiệp để có mức lương có bản, lương tối
thiểu và hệ số đặc thù.
Hai là, bên cạnh đó, thì cũng cần triển khai thực hiện nâng bậc lương
thường xuyên theo quy định và nâng bậc lương trước hạn do lập thành tích
xuất sắc đảm bảo đúng quy định, tiêu chuẩn và tỷ lệ; giải quyết các vướng
mắc về chế độ, chính sách tiền lương. Bảo hiểm xã hội và các chế độ, chính
sách có liên quan đến công chức, viên chức.
Tiếp tục đề xuất duy trì và nâng hệ số chế độ khoán kinh phí cho cán
bộ, công chức (đạt kịch khung là 2,3 lần) nhằm đáp ứng mức sống tối thiểu
cho từng cán bộ, công chức hải quan, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng khó
khăn có hệ số khu vực từ 0,5 trở lên; áp dụng và thanh toán kịp thời và đầy đủ
các chế độ đặc thù công việc, môi trường, địa bàn...
151
Ba là, xây dựng quy trình chặt chẽ trong việc cử cán bộ đi học tập, đào tạo
nước ngoài về phục vụ lâu dài cho ngành. Đồng thời có chính sách lương,
thưởng riêng đối với những nhân tài, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài.
Những cán bộ công chức thuộc lớp người tuổi trẻ tuy ít kinh nghiệm
nhưng họ lại có tư duy sáng tạo, nhiệt tình; do đó. Đồng thời cần thay đổi tư
duy mang tính định kiến hiện nay là nhân tài phải là người có tuổi, phải làm
việc qua nhiều môi trường, phải là Đảng viên; mạnh dạn đưa người trẻ tuổi có
tài đi đào tạo, giao cho trọng trách quản lý; linh hoạt và mềm dẻo trong việc
bố trí đề bạt, bổ nhiệm lãnh đạo quản lý là người trẻ tuổi, có tài, có thể chưa là
Đảng viên. Cần có tiêu chí cụ thể để xét tuyển vào ngành những sinh viên giỏi
có mong muốn được cống hiến vào sự nghiệp của Ngành Hải quan.
Cần tiến hành thực hiện thường xuyên lựa chọn, bổ sung nhân tài cho
ngành. Việc Tổng cục Hải quan báo cáo Bộ Tài chính, để được phép xét
tuyển vào ngành 70 trường hợp người Việt Nam tốt nghiệp đại học thủ khoa
một số trường thuộc chuyên ngành phù hợp trong nước và tốt nghiệp loại
giỏi, xuất sắc từ những nước phát triển vào làm việc cần được coi như một
minh chứng về quyết tâm bổ sung nhân lực có chất lượng vào ngành hành
quan thời gian tới.
Hiện nay, Việt Nam có Tùy viên Hải quan tại WCO, qua đó đã kịp thời
cập nhật các nội dung mới, tiên tiến trên thế giới để Hải quan Việt Nam cân
nhắc tham gia ngay hoặc theo lộ trình. Đồng thời cũng kịp thời phản ánh, trao
đổi thông tin về những vấn đề cải cách hiện đại hóa, tạo thuận lợi thương mại
của Việt Nam cho các nước và cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài. Mặt
khác, cán bộ công chức có điều kiện cập nhật các nội dung cần đào tạo, bồi
dưỡng hàng năm của WCO, qua đó tham mưu cho Tổng cục Hải quan xây
dựng nội dung chương trình đào tạo hàng năm phù hợp với xu hướng phát
triển của thế giới. Hàng năm mời các chuyên gia trên thế giới theo phân công
của WCO đến giảng dạy, cập nhật những chuyên đề mới hoặc những vấn đề
mới trong nghiệp vụ và kỹ thuật nghiệp vụ như HS, trị giá, C/O...
152
Tuyển chọn và cử CBCC Hải quan trẻ, có năng lực đi đào tạo thạc sỹ,
tiến sỹ các chuyên ngành về Hải quan hoặc liên quan trực tiếp đến công tác
quản lý hải quan tại các nước tiên tiến như: Mỹ, Úc, Nga...
Tận dụng các nguồn tài trợ từ Tổ chức Hải quan thế giới và các nước để
cử cán bộ đi tập huấn, hội thảo, đào tạo ngắn hạn và chuyên sâu theo chuyên
ngành. Hàng năm Tổ chức Hải quan thế giới giành một số xuất thực tập sinh
là cán bộ hải quan các nước đến làm việc, thực tập tại cơ quan này. Việt Nam
cũng đã cử và được WCO chấp nhận đào tạo, bồi dưỡng cho gần 10 cán bộ,
công chức. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng là nước luôn tài trợ mở các lớp đào
tạo cao học, nghiên cứu sinh cho hải quan các nước đến để học tập nâng cao
rình độ tại Nhật. Hơn 20 năm qua, hầu như năm nào Hải quan Việt Nam cũng
cử cán bộ tham dự thi tuyển và được chấp nhận nhập học tại đây.
Mời các chuyên gia giỏi về các lĩnh vực như quản lý rủi ro; kiểm soát
hải quan; kiểm tra sau thông quan; HS; trị giá; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ,
quan hệ đối tác hải quan - doanh nghiệp, quản lý tuân thủ... là những lĩnh vực
rất quan trọng mà Việt Nam còn yếu hoặc đi sau nên rất cần học hỏi kinh
nghiệm các nước đi trước. Vì vậy, việc mời chuyên gia giỏi vào giảng dậy
cũng như cử các chuyên gia các lĩnh vực trên ra nước ngoài nghiên cứu, học
tập để rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và các nước tiên tiến trên thế giới
và khu vực là việc rất đáng được quan tâm.
Phối hợp với các Hiệp hội doanh nghiệp, phòng thương mại, các tổ chức
quốc tế... tổ chức đào tạo các nội dung có liên quan cho Hải quan Việt Nam.
Mặt khác, với yêu cầu cấp thiết về công tác cải cách, hiện đại hóa nên
Hải quan Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm tài trợ từ bên ngoài về tài
chính, chuyên gia để triển khai một số công việc đột phá tại Việt Nam như:
Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Dự án Quản
trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện của Mỹ (USAID -GIG), Dự án của
chính phủ Na Uy tài trợ thông qua Tổ chức Hải quan thế giới (Norad)…
153
KẾT LUẬN
Thế giới nhân loại đang sống là một thế giới mới - thế giới toàn cầu hóa
với những thay đổi lớn, đa dạng và phức tạp, có ảnh hưởng đến con người, sự
vận động kinh tế của mọi quốc gia và những vùng lãnh thổ. Nền kinh tế định
hướng đã và đang hội nhập ngày càng sâu, rộng vào đời sống kinh tế thế giới,
đó là một hướng đi đúng, phù hợp với xu hướng mới.
Sau ba mươi năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,
nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước vượt
qua tình trạng trì trệ kém phát triển trở thành một trong những quốc gia có
nền kinh tế phát triển nhanh và liên tục, an ninh chính trị ổn định trong nhiều
năm qua. Thành tựu ba mươi năm đổi mới vừa qua chính là nền tảng kinh tế -
chính trị - xã hội để Việt Nam sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại.
Trong tiến trình toàn cầu hóa, đường lối đối ngoại sẽ được cụ thế hóa rõ
nét nhất bằng việc tham gia vào các tổ chức kinh tế - chính trị trên thế giới.
Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế - chính trị quốc tế và khu
vực. Chúng ta đã là thành viên của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ
quốc tế (IMF), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),... Ở cấp liên khu vực,
chúng ta là thành viên tích cực của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái
Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), của Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và nhiều hiệp định tạo thuận lợi thương mại
trong WTO.
Để hội nhập quốc tế có hiệu quả, ngành Hải quan Việt Nam có vai trò
quan trọng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại - trực tiếp là hoạt động XNK và
thu hút đầu tư nước ngoài trong xu hướng thế giới đang đẩy mạnh hiện đại
hóa hải quan. Điều đó buộc ngành Hải quan Việt Nam cũng cần đẩy mạnh cải
cách, hiện đại hóa, trong đó có nhân lực là yếu tố giữ vai trò quyết định.
154
Hội nhập sẽ tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho đất nước phát triển, nhưng
cũng đồng thời là thách thức lớn nếu ta chưa có một nội lực đủ mạnh.
Chúng ta sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa với các nước phát
triển. Nỗi đau tụt hậu, chậm phát triển, thua kém bạn bè quốc tế là không
của riêng ai, mà là của toàn thể những con người mang trong mình dòng
máu Lạc Hồng trên toàn thế giới. Chúng ta cần nhận thức rõ mối nguy
chung này để biến thành những nội lực mạnh mẽ của Việt Nam, trước hết
là tinh thần hội nhập, tinh thần đoàn kết; sau là nhiệm vụ phải nhanh chóng
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà, song song với việc phát
triển văn hóa - xã hội, nhằm tạo nên một mô hình phát triển nhanh, mạnh,
hài hòa và bền vững.
Với một quốc gia có xuất phát điểm về kinh tế thấp như Việt Nam, để
có thể chuẩn bị nội lực đầy đủ cho hội nhập, hướng chính sách đối ngoại sẽ
phải đảm bảo ủng hộ và bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp trong nước,
đảm bảo thời điểm mở thị trường thích hợp để chúng ta có thể chuẩn bị hạ
tầng kinh tế - kỹ thuật chủ động và bền vững.
Ngành Hải quan là ngành có vị trí cực kỳ quan trọng trong nền hành
chính công. Đây là ngành đảm bảo cho nguồn thu ngân sách nhà nước trong
quá khứ, đồng thời phải bảo đảm an ninh cho quốc gia trong thời đại ngày
nay. Ngành Hải quan phát triển, đảm bảo cho ngân sách Nhà nước có điều kiện
để ổn định nguồn thu. Chính vì thế cần phát triển chất lượng đội ngũ công chức
ngành để hiện đại hóa Hải quan đáp ứng yêu cầu hội nhập của đất nước.
Trong những năm qua, quá trình quản lý Hải quan và thực hiện đề án
phát triển nhân lực của Chính phủ, của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã
làm nhiều việc để nhân lực hải quan đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau,
bên cạnh những kết quả, ưu điểm, nhân lực Hải quan Việt Nam vẫn còn nhiều
hạn chế trước yêu cầu hiện đại hóa hải quan, yêu cầu hội nhập quốc tế.
155
Luận án “Nhân lực để hiện đại hóa Hải quan Việt Nam trong hội nhập
quốc tế” góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung và thực tiễn của
Việt Nam về vai trò Nhà nước trong phát triển nhân lực ngành Hải quan, chủ
yếu trên những khía cạnh về vai trò Nhà nước trong việc xây dựng tổ chức, kế
hoạch phát triển, công tác quản lý, công tác đào tạo bồi dưỡng, quản lý và
đánh giá đề bạt cán bộ công chức. Từ thực tiễn những năm qua, luận án chỉ ra
những thành tựu, yếu kém và nguyên nhân của thực trạng nhân lực ngành Hải
quan hiện nay.
Trên cơ sở đó, luận án đề xuất mục tiêu, phương hướng và kiến nghị
các giải pháp nhằm tăng cường vai trò Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng
nhân lực, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, chính sách đãi
ngộ, cũng như các biện pháp về hoàn thiện tổ chức, tăng cường năng lực đội
ngũ cán bộ lãnh đạo nhằm đảm bảo phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu cải
cách, phát triển, hiện đại hóa ngành Hải quan.
156
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Trần Văn Tráng (Tham gia) (2005), Một số giải pháp chuẩn hóa công tác
Văn phòng theo yêu cầu cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan, Đề tài
khoa học cấp ngành.
2. Trần Văn Tráng (Tham gia) (2007), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp
dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng và thực hiện thủ tục hải quan
điện tử ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp ngành.
3. Trần Văn Tráng (Tham gia) (2008), Chương trình thẻ ưu tiên đặc biệt cho
doanh nghiệp khi tham gia thủ tục hải quan Việt Nam, Đề tài khoa học
cấp ngành.
4. Trần Văn Tráng (2012), "Nghĩ về chế độ dưỡng liêm", Báo Hải quan,
(117), tr.12.
5. Trần Văn Tráng (2012), "Áp dụng phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt
động thông qua hệ thống chỉ số Hải quan", Tạp chí Nghiên cứu Hải
quan, (3), tr.10-11, 15.
6. Trần Văn Tráng (Tham gia) (2012), Báo cáo khảo sát đánh giá của doanh
nghiệp đối với hoạt động Hải quan năm 2012, Phòng Thương mại và Công
Việt Nam - Tổng cục Hải quan Việt Nam, Hà Nội.
7. Trần Văn Tráng (chủ biên) (2013), Những vấn đề về nhân lực Hải quan
Việt Nam, Nxb Dân trí, Hà Nội.
8. Trần Văn Tráng (2013), "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - một số
nguyên lý kinh tế cơ bản", Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày
21/5/2013.
9. Trần Văn Tráng (2013), "Phát triển nguồn nhân lực ngành hải quan đáp
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (6), tr.47-56.
10. Trần Văn Tráng (2013), "Một số vấn đề về hội nhập quốc tế của Hải quan
Việt Nam", Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, (397), tr.33-37.
11. Trần Văn Tráng (2013), "Đã đến lúc cần đổi mới công tác tuyển dụng cán
bộ tại ngành Hải quan", Tạp chí Thị trường giá cả, (5), tr.29-31.
157
12. Trần Văn Tráng (2013), "Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hải quan:
Thực trạng và giải pháp", Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương,
(400), tr.31-34.
13. Trần Văn Tráng (2014), "Chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của Hải
quan Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị", Ủy ban Xây dựng năng lực
WCO, số HC006E1a, ngày 26/5/2014, Vương Quốc Bỉ.
14. Trần Văn Tráng (2014), "Hội nghị thường niên của Ủy ban Xây dựng
năng lực WCO lần thứ 5", Báo Hải quan, số 59 (1988), tr.2.
15. Trần Văn Tráng (Tham gia) (2014), Phương pháp xác định biên chế theo
vị trí việc làm trong ngành Hải quan, Đề tài khoa học cấp ngành.
16. Trần Văn Tráng (2014), "VNACCS/VCIS: Bước tiến lớn của ngành Hải
quan trong bối cảnh hội nhập", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 23 (tháng
12/2014), tr68.
17. Trần Văn Tráng (2015), "Cam kết hợp tác, xây dựng quan hệ đối tác Hải
quan - Doanh nghiệp", Báo Hải quan, số 91 (2176), tr.5.
18. Trần Văn Tráng (2016), "Chương trình đối tác chuyên đề báo cáo quyết
toán hàng gia công: Nhận diện những trở ngại", Báo Hải quan, số 35
(2277), tr.11.
19. Trần Văn Tráng (2016), "Áp dụng phương pháp quản lý nhân lực hải
quan dựa trên vị trí việc làm", Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dương, (số chuyên đề tháng 8), tr.40-43.
158
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Phạm Anh (2015), Nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt
Nam trong hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
2. Lê Trọng Ân và Trương Văn Tuấn (2014), “Kinh nghiệm của một số quốc
gia về xây dựng, phát triển đội ngũ tri thức”, Tạp chí Khoa học Đại học
Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, (60), tr.18.
3. Christian Batal (2002), Quản lý nhân lực trong khu vực nhà nước, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2004), Nghị quyết số 42-NQTW ngày
30/11/2004 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các văn bản hướng dẫn của
Trung ương và các bộ, ngành về Nghị quyết này, Hà Nội.
5. G.S. Becker (1964), Vốn con người, Trường Đại học Columbia, New York, Mỹ.
6. Bộ Nội vụ (2010), Thông tư số 09/2010/TT-BNV ngày 11/09/2010 ban
hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành kế toán,
thuế, hải quan, dự trữ, Hà Nội.
7. Bộ Tài chính (2011), Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa Hải
quan giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến 2020, Hà Nội.
8. Bộ Tài chính (2011), Quyết định số 1514/QĐ-BTC ngày 22/06/2011 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt Kế hoạch cải cách, phát triển và
hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến 2020,
Hà Nội.
9. Bộ Tài chính (2012), Quyết định số 2123/QĐ-BTC ngày 27/8/2012 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực
ngành Tài chính giai đoạn 2011 - 2020, Hà Nội.
159
10. Bộ Tài chính (2015), Tổ chức cán bộ 2010-2015 và định hướng mục tiêu,
nhiệm vụ đến năm 2021, Hà Nội.
11. Các tác giả (2008), Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục
và đào tạo khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ tri thức,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Chính phủ (2007), Nghị định số 09/2007/NĐ-CP ngày 115/1/2007 về
tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong cơ quan nhà
nước, Hà Nội.
13. Chính phủ (2015), Nghị định số 53/2015/NĐ-CP, ngày 29/5/2015 quy
định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức, Hà Nội.
14. Chính phủ (2016), Nghị quyết số 19/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ
yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia, Hà Nội.
15. Trần Kim Cúc (2012), “Công tác quy hoạch cán bộ - bài toán chiến lược
trong xây dựng đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý”, Tạp chí Phát
triển Nhân lực, (29), TP.HCM, tr.5-7.
16. William Easterly (2009), Truy tìm căn nguyên tăng trưởng, Nxb Lao động
- xã hội, Hà Nội
17. GATT, "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại", tại trang
https://www.wto.org, [truy cập 25/3/2016].
18. Phạm Văn Giang (2012), “Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực theo tinh
thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng”, Tạp chí Phát triển nhân lực,
(30), TP.HCM, tr.15.
19. Cao Thị Hà (2013), Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong thực
thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước giai đoạn hiện
nay, Nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng công chức - Trường đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ, Hà Nội.
20. Phạm Minh Hạc (2007), Phát triển văn hóa con người và nhân lực thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
160
21. Mark Harrison và Nguyễn Thị Minh Tâm (2007), Chiến lược đào tạo cho
Hải quan Việt Nam, Báo cáo của chuyên gia tư vấn Dự án hiện đại hóa
hải quan, Tổng cục Hải quan.
22. Nguyễn Thị Ngọc Hân (2012), “Một số ý kiến về việc thực hiện các
nguyên tắc đánh giá công chức, viên chức” , Tạp chí Phát triển nguồn
nhân lực, (10), TP.HCM, tr.5-6.
23. Hà Văn Hội ( 2010), “Một số vấn đề trong công tác lập kế hoạch nguồn
nhân lực trong doanh nghiệp Bưu chính Viễn Thông”, tại trang
www.tapchibcvt.gov.vn, [truy cập 13/10/2015].
24. Nguyễn Viết Hồng (2007), Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo công chức
Hải quan đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp ngành, Tổng cục Hải quan.
25. Liên Hợp quốc (2015), "Chương trình phát triển Liên hợp quốc về nguồn
lực", tại trang www.vn.undp.org, [truy cập ngày 23/4/2016].
26. Vũ Hồng Loan (2010), Một số giải pháp nhằm nâng cao liêm chính Hải
quan ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Tổng cục
Hải quan.
27. Nguyễn Tiến Lộc (2011), Nghiên cứu, sử dụng phương pháp định lượng
trong khảo sát, đánh giá trình độ cán bộ công chức của Hải quan Việt
Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Tổng cục Hải quan.
28. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), C.Mác và Ph.Ăngghen - Toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
29. Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004), Quản lý nhân lực ở trong tổ
chức công, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
30. Barack Obama (2008), Hy vọng táo bạo, dịch giả Nguyễn Hằng, NXB
Trẻ, Hà Nội.
31. Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012), Giáo trình quản trị nhân lực,
Nxb Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
32. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Hải
quan năm 2014, Hà Nội.
161
33. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Hải
viên chức, Hà Nội.
34. Văn Đình Tấn (2009), "Nguồn nhân lực trong công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở nước ta", Nội san Trường Chính trị Nghệ An, (20), tr.20-21.
35. Nguyễn Duy Thông (2010), Cơ cấu lại hệ thống tổ chức bộ máy ngành
Hải quan để đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa đến năm 2012, tầm
nhìn 2020, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Tổng cục Hải quan.
36. Thủ tướng Chính phủ (2002), Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg ngày
4/9/2002, chuyển Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính, Hà Nội.
37. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg ngày
15/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ, cơ cấu tổ chức Tổng cục Hải
quan, Hà Nội.
38. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 448/QĐ-TTg về việc phê
duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, Hà Nội.
39. Thủ tướng Chính phủ (2012), Nghị quyết số 10/NQ-CP ban hành chương
trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển
đất nước năm năm 2011-2015, Hà Nội.
40. Thủ tướng Chính phủ (2014), Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 05/8/2014 về
tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế,
hải quan, Hà Nội.
41. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định 65/2015/QĐ-TTg Quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan
trực thuộc Bộ Tài chính, Hà Nội.
42. Phạm Sỹ Tiến (2013), “Đào tạo nhân lực trình độ cao cho kỷ nguyên kinh
tế tri thức”, Tạp chí Khoa học - Tổ quốc, (18), tr.8-9.
43. Nguyễn Tiệp (2006), “Đào tạo và phát triển lao động chuyên môn kỹ
thuật - tiền đề quan trọng để sử dụng hiệu quả nhân lực”, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế, (15), tr.11-12.
162
44. Nguyễn Toàn (2005), Nghiên cứu mô hình quản lý hải quan hiện đại tại
các nước phát triển, đề xuất giải pháp vận dụng vào điều kiện Việt
Nam, Đề tài nghiên cứu cấp ngành, Tổng cục Hải quan, Hà Nội.
45. Lê Văn Tới (2005), Hải quan Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu
vực và quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.
46. Tony Buzan (2007), Lập bản đồ tư duy, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội.
47. Tổng cục Hải quan (2004), Chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức ngành Hải quan đến năm 2020, Hà Nội.
48. Tổng cục Hải quan (2011), Quyết định số 3135/QĐ-TCHQ ngày 30/12/2011
của Tổng cục trưởng về việc ban hành đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
công chức ngành Hải quan giai đoạn 2011-2015, Hà Nội.
49. Tổng cục Hải quan (2013), Quyết định số 3032/QĐ-TCHQ ngày
20/9/2013 về khung năng lực các vị trí việc làm trong Ngành Hải quan,
Hà Nội.
50. Tổng cục Hải quan (2016), Báo cáo số lượng, chất lượng đội ngũ công
chức, viên chức từ 2012 đến 2016, Hà Nội.
51. Thu Trang (2012), “Hải quan Việt Nam áp dụng phương pháp đánh giá
hiệu quả hoạt động hiện đại: Hệ thống chỉ số”, Bản tin Nghiên cứu Hải
quan (5), Tổng cục Hải quan.
52. Trung tâm Tri thức doanh nghiệp quốc tế (2010), Đào tạo và phát triển
nhân lực thời kỳ hội nhập, Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
53. Trương Chí Trung (2005), Xây dựng chiến lược phát triển ngành hải quan đến
năm 2010, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Bộ Tài chính, Hà Nội.
54. Nguyễn Ngọc Túc (2008), Tiếp tục cải cách, phát triển, hiện đại hóa hải
quan đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ Kinh
tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội.
163
55. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình (2011), “Chương trình phát triển nguồn
nhận lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
Quảng Bình đến năm 2020”, tại trang www.quangbinh.gov.vn, [truy
cập ngày 22/10/2015].
56. Dương Thị Vân (2011), “Phương pháp luận phát triển nguồn nhân lực thư
viện”, Tạp chí Thư viện Việt Nam (5), tr.6-7.
57. Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý (2004), Phương pháp và kỹ năng
Quản lý nhân sự, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
58. Hoàng Minh Việt (2006), Đảm bảo an ninh và thuận lợi hàng hóa thương
mại toàn cầu, Nxb Tổ chức Hải quan Thế giới, Rue du marché 30,
Brussels - Bỉ.
59. Vũ Quang Vinh (2004), Chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ, công chức
ngành Hải quan đến năm 2010, Đề tài nghiên cứu cấp ngành, Tổng cục
Hải quan, Hà Nội.
60. Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Hải quan (2010), Báo cáo công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức Hải quan thời gian qua (giai đoạn 2005-
2010); phương hướng đào tạo giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến
năm 2020, Hà Nội.
61. Dan Waters (1998), Thế kỷ 21: Phương thức quản lý vượt lên cả người
Nhật và người Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
62. Mick Marchington và Adrian Wilkinson (2003), Quản lý nhân lực tại nơi
làm việc: Quản lý và phát triển nhân tố con người, Nxb CIPD, Anh.
63. Scott Wilson (2006), Báo cáo phát triển nhân lực Hải quan, Dự án Hỗ trợ
kỹ thuật, chuẩn bị cho Dự án Hiện đại hóa Hải quan Việt Nam, Tổng
cục Hải quan, Hà Nội.
64. Luc De Wulf và José B.Sokol (2005), Kinh nghiệm hiện đại hóa hải quan
của một số nước, Mỹ.
164
Tài liệu tiếng nước ngoài
65. Alan Price (2007), Human Resource Management in a Business Context
English.
66. Alan Price (2007), Human Resource Management in a Business Context
(Quản lý nguồn nhân lực trong bối cảnh kinh doanh), Third edition,
Thomson learning, UK.
67. Maslow, Abraham H. (1943), A Theory of Human Motivation (Lý thuyết tạo
động lực làm việc), Psychological Review, Vol. 50, No.4, pp.370 - 396.
68. Mick Marchington và Adrian Wilkinson (2003), Human resource
management at work: People management and development (Quản lý
nguồn nhân lực tại nơi làm việc: Quản lý con người và phát triển),
www.cipd.co.uk/HRMatwork.
69. Tony Grundy (1997), Human resource management - a strategic
approach (Quản lý nguồn nhân lực - Một cách tiếp cận chiến lược),
Long Range Planning, Volume 30, Issue 4, UK.
70. Tony Grundy (2007), Human resource management - a strategic
approach, Long Range Planning.
71. W.B. Werther & K. Davis (1996), Human Resources and Personnel
Management (Nguồn nhân lực và quản lý nhân sự), McGraw-Hill
Companies, New York City, USA.
72. World Bank (2000), World Development Indicators, Oxford, London.
165
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tiêu chuẩn nghiệp vụ công chức hải quan
1. Kiểm tra viên cao cấp hải quan (mã số 08.049) 1.1. Chức trách Kiểm tra viên cao cấp hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của ngành Hải quan, giúp lãnh đạo Tổng cục Hải quan chỉ đạo, tổ chức triển khai và trực tiếp thực thi pháp luật về hải quan theo quy định của Luật Hải quan với quy mô lớn, độ phức tạp cao, tiến hành trong phạm vi nhiều tỉnh hoặc toàn quốc.
1.2. Nhiệm vụ: - Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan đối với đối tượng có phức tạp về quy mô và tính chất, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực về kinh tế, xã hội, an ninh và đối ngoại;
- Tham gia hoặc đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các chế độ,
chính sách, các quy định trong quản lý nhà nước về hải quan;
- Tổng hợp phân tích đánh giá hoạt động nghiệp vụ hải quan và các
hoạt động khác có liên quan đến nghiệp vụ hải quan;
- Chủ trì chuẩn bị nội dung tổng kết về nghiệp vụ hải quan ở trong nước và trao đổi nghiệp vụ hải quan với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có quan hệ hợp tác về hải quan với Việt Nam;
- Tham gia biên soạn tài liệu, giáo trình nghiệp vụ về hải quan và tổ
chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức, viên chức hải quan;
- Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về hải quan; tổ chức xây dựng, bổ sung, sửa đổi quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan;
- Tham gia xây dựng chiến lược phát triển ngành Hải quan. 1.3. Năng lực: - Nắm vững đường lối chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác Hải quan; nắm được chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, của ngành Tài chính;
- Có kiến thức toàn diện về chuyên môn nghiệp vụ hải quan. Có năng lực nghiên cứu chuyên sâu và tổ chức thực hiện một hoặc một số lĩnh vực nghiệp vụ hải quan;
166
- Có khả năng nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá và dự báo tình hình về hoạt động quản lý nhà nước về hải quan, đồng thời đề xuất xây dựng, bổ sung, sửa đổi các quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan phù hợp với định hướng chiến lược phát triển ngành Hải quan;
- Hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế; - Có sáng kiến trong công tác hoặc tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện các đề án, chương trình của Ngành được tập thể lãnh đạo Tổng cục Hải quan xác nhận.
2.2.1.1.4. Trình độ: - Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; - Có bằng tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị; - Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên cao cấp hải
quan;
- Có ngoại ngữ trình độ C trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp,
Nga, Trung, Đức) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc;
- Có trình độ tin học văn phòng (các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet) và phần mềm quản lý hải quan để phục vụ công tác chuyên môn;
- Có thời gian tối thiểu ở ngạch kiểm tra viên chính hải quan là 06 năm; - Chủ trì hoặc tham gia đề tài, đề án, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến lĩnh vực hải quan được Hội đồng khoa học cấp Bộ, ngành công nhận và áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn.
2. Kiểm tra viên chính hải quan (mã số 08.050) 2.1. Chức trách Kiểm tra viên chính hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, giúp lãnh đạo chủ trì, tổ chức và thực thi pháp luật về hải quan theo quy định của Luật Hải quan tại các đơn vị trong ngành Hải quan.
2.2. Nhiệm vụ: - Tổ chức thực hiện quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan; trực
tiếp xử lý đối với các trường hợp có tình tiết phức tạp;
- Tổng hợp, đánh giá công tác nghiệp vụ đồng thời đề xuất sửa đổi, bổ
sung quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ phù hợp với tình hình thực tế;
- Tham gia xây dựng quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan và
các văn bản, quy định liên quan;
167
- Biên soạn hoặc tham gia biên soạn tài liệu, giáo trình nghiệp vụ của ngành hải quan, tham gia giảng dạy các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức, viên chức hải quan;
- Chủ trì hoặc tham gia xây dựng công trình, đề tài, đề án được ứng dụng vào công tác của ngành; chủ trì hoặc tham gia tổ chức nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực nghiệp vụ hải quan;
- Thực hiện việc tham gia phối kết hợp nghiệp vụ với các cơ quan liên quan. 2.3. Năng lực: - Nắm vững đường lối chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác hải quan; nắm được chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, của ngành Tài chính;
- Nắm vững các nguyên tắc, chế độ, quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan và có khả năng tổ chức thực hiện quy trình nghiệp vụ hải quan thuộc lĩnh vực chuyên sâu;
- Có khả năng nghiên cứu, tổng hợp, đề xuất xây dựng, bổ sung, sửa
đổi một số quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan;
- Hiểu biết về quản lý kinh tế, hành chính, đối ngoại và có kiến thức cơ
bản về pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
2.4. Trình độ: - Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; - Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên chính hải quan; - Có ngoại ngữ trình độ B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp,
Nga, Trung, Đức) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc;
- Có trình độ tin học văn phòng (các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet) và phần mềm quản lý hải quan để phục vụ công tác chuyên môn;
- Có thời gian tối thiểu ở ngạch kiểm tra viên hải quan là 09 năm; - Chủ trì hoặc tham gia đề tài, đề án, đề tài, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến lĩnh vực hải quan được áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn.
3. Kiểm tra viên hải quan (mã số 08.051) 3.1. Chức trách: Kiểm tra viên hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ được quy định trong các quy chế quản lý, trong các quy trình nghiệp vụ hải quan theo sự phân công của lãnh đạo.
168
3.2. Nhiệm vụ: - Thực hiện quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; hành khách, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật;
- Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật để điều tra, thu thập, xử lý thông tin đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;
- Đề xuất ý kiến với lãnh đạo giải quyết những vấn đề phát sinh trong
thực hiện quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan.
3.3. Năng lực: - Nắm vững chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác hải quan; nắm được chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, của ngành Tài chính;
- Nắm chắc và vận dụng linh hoạt các nguyên tắc, chế độ, quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan và có khả năng nghiên cứu, đề xuất triển khai hoặc bổ sung, sửa đổi quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan trong phạm vi nhiệm vụ được giao;
- Có khả năng tiếp thu, nắm bắt các kỹ năng cần thiết cho công tác chuyên môn như: kỹ năng sử dụng công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật được trang bị.
3.4. Trình độ: - Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; - Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên hải quan; - Có ngoại ngữ trình độ B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp,
Nga, Trung, Đức) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc;
- Có trình độ tin học văn phòng (các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet) và phần mềm quản lý hải quan để phục vụ công tác chuyên môn;
4. Kiểm tra viên cao đẳng hải quan (mã số 08a.051) 4.1. Chức trách Kiểm tra viên cao đẳng hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, trực tiếp thực hiện các công việc được quy định trong quy chế quản lý, trong các quy trình nghiệp vụ hải quan theo sự phân công của lãnh đạo.
169
4.2. Nhiệm vụ: - Thực hiện quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; hành khách, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật;
- Thực hiện việc kiểm soát hải quan theo quy định của pháp luật trên
địa bàn được phân công;
- Đề xuất ý kiến với lãnh đạo giải quyết những vấn đề phát sinh trong
thực hiện quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan.
4.3. Năng lực: - Nắm được chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác hải quan; nắm được chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, của ngành Tài chính;
- Nắm vững quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ hải quan trong phạm
vi nhiệm vụ được giao;
- Có khả năng tiếp thu, nắm bắt các kỹ năng cần thiết cho công tác chuyên môn như: kỹ năng sử dụng công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật được trang bị.
4.4. Trình độ: - Có bằng tốt nghiệp cao đẳng; - Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên cao đẳng hải quan; - Có ngoại ngữ trình độ B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp,
Nga, Trung, Đức) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc;
- Có trình độ tin học văn phòng (các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet) và phần mềm quản lý hải quan để phục vụ công tác chuyên môn;
5. Kiểm tra viên trung cấp hải quan (mã số 08.052) 5.1. Chức trách Kiểm tra viên trung cấp hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, được lãnh đạo giao trực tiếp thực hiện một số công việc thuộc lĩnh vực nghiệp vụ công tác hải quan.
5.2. Nhiệm vụ: - Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công và chỉ đạo của lãnh
đạo đơn vị.
170
5.3. Năng lực: - Nắm được chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác hải quan; nắm được các thủ tục hành chính và chương trình cải cách hành chính của Chính phủ và của ngành;
- Nắm vững quy trình nghiệp vụ hải quan trong phạm vi nhiệm vụ được giao; - Có khả năng tiếp thu, nắm bắt các kỹ năng cần thiết cho công tác: kỹ
năng sử dụng công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật được trang bị.
5.4. Trình độ: - Có bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp; - Có chứng chỉ nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên trung cấp hải quan; - Có ngoại ngữ trình độ A trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp,
Nga, Trung, Đức) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc;
- Có trình độ tin học văn phòng (các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet) và phần mềm quản lý hải quan để phục vụ công tác chuyên môn;
6. Nhân viên hải quan (mã số 08.053) 6.1. Chức trách Nhân viên hải quan là công chức thừa hành ở các đơn vị hải quan cơ sở và trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể thuộc chuyên môn nghiệp vụ hải quan do lãnh đạo phân công. 6.2. Nhiệm vụ: - Thực hiện việc giám sát hải quan theo quy định của pháp luật trên địa
bàn được phân công;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công và chỉ đạo của lãnh
đạo đơn vị.
6.3. Năng lực: - Có năng lực thực hiện một số lĩnh vực nghiệp vụ hải quan đơn giản
được giao;
- Nắm được quy định liên quan đến nhiệm vụ được giao. Tuyệt đối
chấp hành sự chỉ đạo về nghiệp vụ và phân công nhiệm vụ của cấp trên;
- Sử dụng được công cụ hỗ trợ và phương tiện kỹ thuật được trang bị. 6.4. Trình độ: - Có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học;
171
- Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hải quan theo quy định của Tổng
cục Hải quan và đạt yêu cầu sát hạch nghiệp vụ hải quan;
- Có ngoại ngữ trình độ A trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp,
Nga, Trung, Đức) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc;
- Có trình độ tin học văn phòng (các kỹ năng của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet) và phần mềm quản lý hải quan để phục vụ công tác chuyên môn.
172
Phụ lục 2: Mẫu phiếu khảo sát và tổng hợp kết quả khảo sát
1. Phiếu và mẫu điều tra khảo sát 1.1. Xây dựng phiếu khảo sát Nghiên cứu “Đánh giá cải cách thủ tục hành chính hải quan: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp năm 2015” thể hiện nỗ lực cụ thể của các bên trong việc thực hiện các Nghị quyết 19 của Chính phủ nhằm mục đích tạo thuận lợi thương mại hơn nữa cho doanh nghiệp.
Thông qua phản ánh cảm nhận của cộng đồng doanh nghiệp, khảo sát “Đánh giá cải cách thủ tục hành chính hải quan: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp năm 2015” cung cấp thêm thông tin cho Tổng cục Hải quan trong việc đánh giá thực trạng, xác định các biện pháp thúc đẩy cải cách hiện đại hóa trong thời gian tới, đồng thời cung cấp công cụ giám sát cho Tổng cục Hải quan trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, nâng cao chất lượng nhân lực hải quan đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Hình thức khảo sát dựa trên xây dựng Bảng hỏi tại phiếu khảo sát và gửi qua đường bưu điện đến doanh nghiệp được lựa chọn (mẫu khảo sát) sau đó thu lại để xử lý dữ liệu, phân tích và báo cáo kết quả đánh giá.
Phương thức thực hiện: Tổng cục hải quan xây dựng nội dung và Phiếu khảo sát, gửi đến cộng đồng doanh nghiệp, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam là đơn vị thu phiếu trả lời, xử lý dữ liệu, tổng hợp và báo cáo kết quả cuối cùng cuộc khảo sát. Điều này đảm bảo tính khách quan, minh bạch của cuộc khảo sát. Bên cạnh đó, có sự tham gia về mặt chuyên gia và tài trợ kinh phí từ Chương trình hỗ trợ quản trị nhà nước và tăng trưởng kinh tế của USAID tại Việt Nam (USAID-GIG).
Nội dung khảo sát sự hài lòng doanh nghiệp trong hoạt động hải quan trên toàn thể lĩnh vực nghiệp vụ chủ yếu mà cơ quan hải quan thực thi, phối hợp với doanh nghiệp, đó là: Thủ tục thông quan, quản lý thuế, kiểm tra sau thông quan, giám sát hải quan, xử lý vi phạm và mức độ chuyên nghiệp, liêm chính hải quan.
(có Phiếu khảo sát kèm theo) 1.2. Mẫu điều tra khảo sát Đối tượng của cuộc khảo sát gồm các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu và các đại lý hải quan. Các doanh nghiệp này là những doanh nghiệp có tổng số Tờ khai xuất nhập khẩu cao nhất (họ thường xuyên làm việc với hải
173
quan do vậy những đánh giá của họ rất phù hợp). Việc lựa chọn các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu được tính từ ngày 01/08/2013 - 29/4/2015.
Với mục tiêu của kết quả cuộc khảo sát sẽ phân tích hiệu quả hoạt động của 34 Cục Hải quan tỉnh, thành phố và ở cấp Ngành. Do vậy, số doanh nghiệp khảo sát phải phân bố đại diện trên toàn quốc (64 tỉnh/thành phố) và có ý kiến đánh giá phản hồi đối với các hoạt động của cơ quan Hải quan nói chung và 34 Cục hải quan tỉnh/thành phố nói riêng.
- Tiêu chí lựa chọn + Nhóm 1: Gồm các doanh nghiệp phân chia theo 28 Cục Hải quan tỉnh có số doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tương đồng nhau;
Tiêu chí lựa chọn: (1) Có thực hiện thủ tục Hải quan tại 1 trong 28 Cục Hải quan tỉnh trong
thời điểm từ ngày 01/08/2013 - 31/12/2014.
(2) Có đăng mã số kinh doanh thuộc địa bàn quản lý của 1 trong 28 Cục
Hải quan tỉnh.
+ Nhóm 2: Gồm các doanh nghiệp phân chia theo 06 Cục Hải quan tỉnh/thành phố có số doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa lớn gồm các Cục Hải quan tỉnh/thành phố (số liệu thống kê năm 2013): Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội và Hải Phòng, Bắc Ninh.
Tiêu chí lựa chọn: Có thực hiện thủ tục Hải quan tại 1 trong 6 Cục Hải
quan tỉnh, thành phố trong thời điểm từ ngày 01/08/2013 - 29/4/2015.
- Số lượng doanh nghiệp khảo sát: Việc tính toán số doanh nghiệp phản hồi kết quả khảo sát năm 2015 được
thực hiện theo phương pháp đã được áp dụng đối với cuộc khảo sát năm 2013.
Ở mỗi nhóm nêu trên, số doanh nghiệp phản hồi dự tính được tính toán theo công thức về chọn mẫu: n = N/[1+N.(e)2] (với độ tin cậy mong muốn của cuộc khảo sát là 95%, sai số cho phép 5%), trong đó:
N = Cỡ mẫu e = Sai số cho phép N = Tổng thể mẫu
174
Ngoài ra, yếu tố phản hồi thực tế được tính toán với tỷ lệ phản hồi ở mỗi đơn vị Cục Hải quan tỉnh/thành phố và tỷ lệ phản hồi chung cho cả nước kỳ vọng trung bình là 27% (tỷ lệ phản hồi này dựa trên kết quả phản hồi thực tế từ cuộc khảo sát năm 2013), với lý do là:
+ Mẫu năm 2015 dự kiến lớn hơn năm 2013, do đó khó tác động phản
hồi theo tỷ lệ;
+ Sẽ có rất nhiều doanh nghiệp đã tham gia khảo sát năm 2013 được
khảo sát lại cho nên mức độ nhiệt tình tham gia khảo sát sẽ giảm đi;
- Mục tiêu tối thiểu đạt được cho mỗi Cục hải quan tỉnh/thành phố là từ 30 doanh nghiệp trở lên thì có thể đưa vào phân tích, đánh giá (đối với những địa bàn có số lượng doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa ít).
Số liệu ước tính doanh nghiệp phản hồi được cụ thể như sau: + Nhóm 1: Tổng số doanh nghiệp phản hồi Phiếu khảo sát là (n1): 1.067
doanh nghiệp;
+ Nhóm 2: Tổng số doanh nghiệp phản hồi Phiếu khảo sát là (n1): 1.682
doanh nghiệp.
Vậy tổng số doanh nghiệp phản hồi Phiếu khảo sát cần đạt được là n =
n1 + n2 = 2.749 doanh nghiệp.
1.3. Tổng quan về doanh nghiệp khảo sát Cuộc khảo sát sự hài lòng của doanh nghiệp trong hoạt động hải quan, chính thức được diễn ra từ tháng 7-9/2015, sau đó là thời gian xử lý dữ liệu, phân tích và làm báo cáo kết quả. Đến tháng 11/2015, kết quả khảo sát đã được công bố rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng tại Hà Nội.
- Tỷ lệ phản hồi Khảo sát năm 2015 nhận được 3.123 phiếu trả lời trong danh sách chọn mẫu 10.406 doanh nghiệp, đạt tỉ lệ phản hồi 30%. Số lượng doanh nghiệp phản hồi tăng cao so với những năm trước (năm 2013 là 2.690 doanh nghiệp, năm 2012 là1.558 doanh nghiệp). - Đặc điểm nguồn vốn Trong 3.123 doanh nghiệp phản hồi, có 2.959 doanh nghiệp cung cấp thông tin về đặc điểm nguồn vốn. Trong sốđó, các doanh nghiệp dân doanh là nhóm có tỷ trọng lớn nhất trong tổng phản hồi, với tỷ lệ 61% (1.820 doanh nghiệp). Nhóm lớn thứ 2 là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI),
175
với 911 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 31%. Nhóm doanh nghiệp nhà nước1 (DNNN) có tỷ trọng thấp nhất, chiếm tỷ lệ 8% tổng số phản hồi.
Hình 2: Đặc điểm doanh nghiệp theo nguồn vốn chủ sở hữu (%)
- Lĩnh vực hoạt động chính Khoảng 78% các doanh nghiệp phản hồi khảo sát hoạt động ở một trong các lĩnh vực sau: Dịchvụ/thương mại, công nghiệp/chế tạo, nông/lâm nghiệp/thủy sản, xây dựng hoặc khai khoáng. Cụ thể, có 40% các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ/thương mại;21% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp/chế tạo; 12% hoạt động trong lĩnh vực hoạt động nông nghiệp/lâm nghiệp/thủy sản. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và khai khoáng lần lượt chiếm tỉ lệ 4% và 1% trong tổng số doanh nghiệp tham gia khảo sát. 22% còn lại các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác.
Hình 3: Lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp tham gia khảo sát (%)
1 Lưu ý rằng khảo sát này được tiến hành trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực (ngày 1/7/2015). DNNN trong khảo sát này, do vậy, vẫn là các doanh nghiệp có vốn nhà nước từ 51% trở lên, theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005.
- Số năm thực hiện thủ tục hải quan Khảo sát năm 2015 chia các doanh nghiệp theo 3 nhóm kinh nghiệm thực hiện TTHC hải quan: dưới 1 năm, từ 1 đến dưới 5 năm và từ 5 năm trở lên. Có 3.057 doanh nghiệp cung cấp thông tin chi tiết về số năm tham gia thủ
176
tục hải quan. Trong đó, có 59% doanh nghiệp có thời gian làm TTHC hải quan từ 5 năm trở lên; 39% có thời gian tham gia thủ tục hải quan từ 1 năm đến dưới 5 năm; chỉ khoảng 2%doanh nghiệp có thời gian thực hiện TTHQ hải quan dưới 1 năm.. Như vậy, đa số những doanh nghiệp trả lời Khảo sát Hải Quan năm 2015 có nhiều năm kinh nghiệm trong thực hiện TTHC hải quan.
Hình 4: Số năm làm thủ tục hải quan
- Các phương thức thực hiện TTHQ Trong số 3.081 doanh nghiệp cung cấp thông tin về phương thức thực hiện TTHC hải quan, có 73% doanh nghiệp tự làm (tỉ lệ này năm 2013 và 2012 lần lượt là 72% và 70%). Có 15% doanh nghiệp cho biết họ ủy quyền qua đại lý (tăng đáng kể so với khảo sát 2013 và 2012, lần lượt là 2% và 1%). Số doanh nghiệp ủy thác cho tổ chức, cá nhân khác làm TTHC hải quan chiếm 12% tổng số doanh nghiệp (giảm đáng kể so với tỷ lệ 25% năm 2013 và 29% năm 2012). Hình 5: Phương thức thực hiện TTHC hải quan của doanh nghiệp
- Người trả lời phiếu khảo sát Có 2.973 doanh nghiệp cung cấp thông tin về người trả lời phiếu khảo sát. Trong đó, đa số(69%) người trả lời phiếu khảo sát là nhân viên, cán bộ chuyên trách về xuất nhập khẩu của doanh nghiệp; 13% là lãnh đạo doanh nghiệp, những người giữ vị trí là (Tổng) Giám đốc/Phó (tổng) Giám đốc của
177
doanh nghiệp;khoảng 18% người trả lời thuộc nhóm khác, trong đó chủ yếu là các cán bộ văn phòng, tài chính, tổng hợp… do ở những doanh nghiệp nhỏ, thường cán bộ doanh nghiệp có thể đảm trách 2, 3 vị trí/nhiệm vụ khác nhau. Hình 6: Người trả lời phiếu khảo sát
2. Doanh nghiệp đánh giá chất lượng nhân lực hải quan qua cuộc điều
tra khảo sát
2.1. Về cung cấp thông tin quy phạm pháp luật Hải quan và giải đáp vướng
mắc về thông tin.
Khi gặp vướng mắc trong quá trình tìm hiểu thông tin pháp luật hải quan, 77% doanh nghiệp gửi câu hỏi tới các Cục Hải quan địa phương, và 11% gửi tới Tổng cục Hải quan. Số còn lại tìm kiếm sự hỗ trợ từ Bộ Tài chính, Hiệp hội doanh nghiệp hoặc các tổ chức khác, như các doanh nghiệp/cá nhân mà họ quen biết. Tỷ lệ doanh nghiệp hài lòng/hoàn toàn hài lòng với việc trả lời vướng mắc của Tổng cục Hải quan, và với Cục Hải quan các tỉnh, thành phố lần lượt là 77% và 76%.
Hình 7: Cơ quan mà doanh nghiệp thường tìm kiếm hỗ trợ khi gặp vướng mắc trong quá trình tìm hiểu thông tin pháp luật hải quan (%)
Các doanh nghiệp đánh giá tương đối tốt về việc giải quyết vướng mắc của CQHQ. Cụ thể, 77% doanh nghiệp hài lòng/hoàn toàn hài lòng với việc trả
178
Hài lòng
Không hài lòng
Mức độ hài lòng
Hoàn toàn hài lòng
Không có ý kiến
Hoàn toàn không hài lòng 2 1
15 14
72 69
5 7
7 9
76 76
2 2 12
16 14 53
69 44 35
2 3 0
10 38 0
71 47 35
Tổng Cục hải quan Cục hải quan tỉnh Hội/hiệp hội doanh nghiệp Khác Bộ Tài chính
lời vướng mắc của Tổng cục Hải quan; với Cục Hải quan các địa phương là 76%. Khoảng 71% doanh nghiệp hài lòng với việc phản hồi của các HHDN. Chỉ có 35% doanh nghiệp hài lòng với phản hồi vướng mắc từ Bộ Tài chính. Bảng 3: Mức độ hài lòng với kết quả phản hồi của cơ quan trả lời vướng mắc
Kết quả điều tra phân theo các Cục Hải quan địa phương cho thấy trung bình có 81% doanh nghiệp hài lòng với kết quả giải quyết vướng mắc của CQHQ. Nơi cao nhất có tới 100% doanh nghiệp hài lòng với kết quả này, tuy nhiên ở nơi thấp nhất thì chỉ có 57% doanh nghiệp hài lòng với kết quả giải quyết vướng mắc.
2.2. Đánh giá sự hỗ trợ của CQHQ khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong
quá trình thực hiện thủ tục hải quan
Khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, đại đa số các doanh nghiệp đề nghị CQHQ hỗ trợ.Cụ thể, có 92% doanh nghiệp cho biết họ có đề nghị CQHQ giải quyết khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình thực hiện thủ tục.
Đánh giá về sự hỗ trợ của CQHQ trong việc giải quyết những khó khăn trong quá trình thực hiện TTHC của doanh nghiệp, đại đa số các doanh nghiệp đều đánh giá sự hỗ trợ này là tích cực.Cụ thể, 77% doanh nghiệp cho biết sự hỗ trợ của CQHQ phần lớn/hoàn toàn kịp thời.Có 83% doanh nghiệp cho biết sự hỗ trợ của cơ quan hải quan phần lớn/hoàn toàn hiệu quả.
Hìnhsố 8: Đánh giá sự hỗ trợ của CQHQ (%)
179
Hình dưới thể hiện đánh giá của doanh nghiệp về sự hỗ trợ của CQHQ theo các Cục Hải quan địa phương. Trung bình, có 88% doanh nghiệp đánh giá sự hỗ trợ này là hiệu quả và 83% đánh giá là kịp thời. Ở Cục Hải quan địa phương có sự đánh giá của doanh nghiệp thấp nhất, thì cũng có 75% doanh nghiệp đánh giá sự hỗ trợ của CQHQ là hiệu quả, và 61% đánh giá sự hỗ trợ này là kịp thời.
Hình 9: Đánh giá sự hỗ trợ của CQHQ theo các Cục Hải quan địa phương
2.3. Đánh giá mức độ thực hiện kỷ cương Khảo sát 2015 thu thập đánh giá của doanh nghiệp về mức độ thực hiện kỷ cương của cán bộ hải quan mà họ tiếp xúc trên 5 tiêu chí: (1) văn minh, lịch sự khi tiếp xúc, (2) công tâm tận tụy khi thi hành công vụ, (3) nhanh chóng, chính xác khi giải quyết công việc, (4) coi doanh nghiệp là đối tác hợp tác và (5) thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao.
Theo kết quả khảo sát, phần lớn các doanh nghiệp đánh giá việc thực hiện kỷ cương của cán bộ hải quan ở mức bình thường (từ 55-61%) ở tất cả các tiêu chí. Tiêu chí có tỉ lệ doanh nghiệp đánh giá ở mức cao/rất cao lớn nhất là “cán bộ hải quan thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao” (38%), tiếp đến là “văn minh lịch sự khi tiếp xúc” (35%) và “coi doanh nghiệp là đối tác hợp tác” (32%). Những chỉ tiêu còn lại đều có 30% doanh nghiệp đánh giá mức độ thực hiện kỷ cương là cao/rất cao.
180
Hìnhsố 10: Đánh giá mức độ thực hiện kỷ cương của công chức HQ (%)
Các doanh nghiệp đưa ra đánh giá khá cách biệt về việc thực hiện kỷ cương của cán bộ ở các Cục Hải quan địa phương. Theo đó, tại những Cục Hải quan địa phương được doanh nghiệp đánh giá tích cực nhất về mức độ thực hiện kỷ cương của công chức hải quan, thì tùy ở từng chỉ tiêu, tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá cao/rất cao là xung quanh mức 57%-67%. Ngược lại, tại một số Cục Hải quan bị doanh nghiệp đánh giá thấp nhất, các tỷ lệ trên dao động ở mức 17%-28%.
Hình 11: Đánh giá mức độ thực hiện kỷ cương theo Cục Hải quan địa phương (% cao/ rất cao)
2.4. Đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ Mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Hải quan được đánh giá theo các nhóm thủ tục. Trong khi có một tỷ lệ tương đối lớn các doanh nghiệp đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ của công chức Hải quan chỉ ở mức bình thường (từ 38-54%), thì cũng có tỷ lệ đáng kể các doanh nghiệp đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ của công chức Hải quan ở mức khá/tốt. Cụ
Mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của công chứchải quan trong các nhóm thủ tục
Bình thường
Khá
Tốt
+ Thủ tục nộp thuế; + Thủ tục xét miễn thuế; + Thủ tục hoàn thuế, không thu thuế
181
+ Kiểm tra hồ sơ Thủ tục thông quan +Kiểm tra thực tế hàng hóa Xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát Thủ tục quản lý thuế Thủ tục kiểm tra sau thông quan Xử lý vi phạm hành chính Giải quyết khiếu nại
38.2 40.8 47.1 46.9 52.9 51.6 49.7 53.5 54.1
32.1 28.4 22.6 24.6 21.4 22.0 24.0 20.9 18.8
28.4 28.7 29.0 27.7 22.6 22.2 25.3 24.2 21.0
0.3 0.4 0.3 0.2 0.4 0.7 0.2 0.2 0.8
thể, tiêu chí có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá cao nhất về mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Hải quan là thủ tục thông quan ở khâu kiểm tra hồ sơ (60% đánh giá khá/tốt), kế đến là khâu kiểm tra thực tế hàng hóa (57%) và thủ tục quản lý thuế ở khâu nộp thuế (52%). Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ hải quan ở mức kém/rất kém là khá nhỏ, xung quanh mức 1-6% tổng số doanh nghiệp phản hồi. Bảng 4: Đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Hải quan (%) Rất kém Kém 1.1 1.8 0.9 0.7 2.8 3.5 0.9 1.2 5.3
Hình dưới thể hiện tỷ lệ đánh giá khá/tốt của doanh nghiệp về mức độ am hiểu chuyên môn nghiệp vụ của công chức Hải quan tính theo các Cục Hải quan địa phương. So sánh giữa các Cục Hải quan địa phương cho thấy có khoảng cách khá lớn trong đánh giá của các doanh nghiệp về CQHQ. Trong khi có những Cục Hải quan địa phương được doanh nghiệp đánh giá rất cao về mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Hải quan (xung quanh mức 69%-90% khá tốt), thì cũng có một số đơn vị chưa được doanh nghiệp đánh giá cao về những tiêu chí này. Hình 12: Đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của công chức hải quan theo Cục Hải quan địa phương (% khá/tốt)
2.5. Đánh giá kỹ năng giải quyết công việc Phần lớn các doanh nghiệp đánh giá khá/tốt về kỹ năng giải quyết công việc của công chức Hải quan ở các khâu thực hiện thủ tục. Kỹ năng giải quyết
182
Bình thường Khá
Tốt
Rất kém Kém 1.2
43.0
27.4
0.3
28.2
công việc của công chức Hải quan trong một số thủ tục/khâu có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá khá/tốt cao là thủ tục thông quan - khâu kiểm tra hồ sơ (56%), khâu kiểm tra thực tế hàng hóa (54%), xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát (49%) và thủ tục nộp thuế (49%). Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá mức độ kỹ năng giải quyết công việc của cán bộ hải quan ở mức kém/rất kém là khá nhỏ, xung quanh mức 1-5% tổng số doanh nghiệp phản hồi.
Thủ tục thông quan Xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát
0.3 0.4 0.2 0.4
1.7 0.7 0.9 2.2
44.2 49.5 49.8 54.6
26.1 21.7 23.1 21.0
27.6 27.7 26.0 21.9
Thủ tục quản lý thuế
+ Thủ tục nộp thuế; + Thủ tục xét miễn thuế; + Thủ tục hoàn thuế, không thu thuế Thủ tục kiểm tra sau thông quan Xử lý vi phạm hành chính Giải quyết khiếu nại
0.7 0.2 0.3 0.9
3.0 1.1 1.4 4.4
53.8 51.6 53.8 53.7
20.3 21.6 20.4 19.2
22.1 25.6 24.1 21.9
Bảng 5: Đánh giá kỹ năng giải quyết công việc của công chức HQ (%) Đánh giá kỹ năng giải quyết công việc của công chức hải quan + Kiểm tra hồ sơ + Kiểm tra thực tế hàng hóa
Theo kết quả khảo sát, có thể thấy các doanh nghiệp đánh giá kỹ năng giải quyết công việc có sự chênh lệch rất lớn giữa các Cục Hải quan địa phương. Cụ thể, mức độ chênh lệch lớn nhất (thể hiện ở tỷ lệ đánh giá khá/tốt về kỹ năng giải quyết công việc của cán bộ hải quan trong thủ tục xét miễn thuế (73%-18%), thủ tục xét hoàn thuế, không thu thuế (71%-16%) và giải quyết khiếu nại (80%-27%).
Hình số 13: Đánh giá kỹ năng giải quyết công việc của công chức hải quan theo Cục Hải quan địa phương (% khá/tốt)
183
2.6. Chi trả chi phí ngoài quy định Theo kết quả khảo sát 2015, có 28% doanh nghiệp phản hồi cho biết họ có chi trả các chi phí ngoài quy định trong quá trình thực hiện TTHQ hải quan ở các khâu/giai đoạn. Số doanh nghiệp lưỡng lự phải đưa ra câu trả lời rõ ràng, khi lựa chọn “không biết”, lên tới 35% doanh nghiệp phản hồi câu hỏi này.
Hình 14: Tỷ lệ doanh nghiệp chi trả chi phí ngoài quy định (%)
Xét theo các Cục Hải quan địa phương, có 38% doanh nghiệp cho biết họ phải chi trả chi phí ngoài quy định. Tỷ lệ trên ở nơi thấp nhất chỉ là 8%; nơi cao nhất lên tới 53%.
Khảo sát năm 2012 và 2013 có đặt câu hỏi với doanh nghiệp về việc chi trả chi phí ngoài quy định, nhưng ở thước đo khác, đó là doanh nghiệp không/hiếm khi/thỉnh thoảng/ thường xuyên hay luôn luôn chi trả chi phí này. Năm 2013 có 49% doanh nghiệp có chi trả chi phí ngoài quy định, trong khi năm 2012 có 57% chi trả chi phí này. Nếu tỷ lệ này là thước đo độ liêm chính của công chức hải quan, thì kết quả khảo sát 2015 có thể đã ghi nhận bước tiến so với kết quả điều tra 2 năm trước đó. Hình 15: Tình hình chi trả chi phí ngoài quy định trong năm 2012 và 2013 Kết quả khảo sát cho thấy có 39% doanh nghiệp phản ánh họ không bị
184
phân biệt đối xử khi họ không chi trả chi phí ngoài quy định. Trong khi 30% doanh nghiệp cho biết họ không biết có bị phân biệt đối xử hay không, có 31% doanh nghiệp nhận thấy bị phân biệt đối xử khi không chỉ trả chi phí ngoài quy định. Hình số 16: Tỷ lệ doanh nghiệp nếu không chi trả chi phí ngoài quy định có bị phân biệt đối xử (%)
So sánh giữa các Cục Hải quan địa phương, trung bình có 36% doanh nghiệp cho biết nếu không phải chi trả chi phí ngoài quy định thì họ có thể bị phân biệt đối xử. Nơi thấp nhất có 8%, nhưng tại nơi cao nhất, có tới 80% doanh nghiệp cho biết bị phân biệt đối xử khi không chi trả chi phí ngoài quy định.
Kết quả khảo sát cho thấy, hình thức phân biệt đối xử lớn nhất mà doanh nghiệp gặp phải là bị kéo dài thời gian làm thủ tục (83%). Tiếp đến, là các doanh nghiệp bị yêu cầu, bổ sung, giải trình các chứng từ không theo quy định của pháp luật (37%), và kế đến là cán bộ công chức Hải quan có thái độ không văn minh, lịch sự (31%).
Hình số 17: Các hình thức bị phân biệt đối xử (%)
185
So với kết quả điều tra năm 2012 và 2013, kết quả điều tra 2015 đã ghi nhận bước tiến đáng kể trong việc giảm các hình thức phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp nếu không chi trả chi phí ngoài quy định. Cụ thể, tỷ lệ doanh nghiệp cho biết họ bị yêu cầu bổ sung, giải trình các chứng từ ngoài quy định của pháp luật lên tới 80% vào điều tra năm 2012 và 75% vào năm 2013. Năm 2015, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 37%. Một chỉ tiêu khác có sự tiến bộ rõ rệt là tỷ lệ doanh nghiệp cho biết cán bộ hải quan có thái độ không văn minh, lịch sự nếu họ không chi chi phí ngoài quy định. Con số này năm 2012 và 2013 lần lượt là 43% và 32%.
2.7. Kết quả giải quyết công việc của cơ quan Hải quan:
Trong số những doanh nghiệp từng bị xử lý vi phạm hành chính về hải quan, số doanh nghiệp có khiếu nại về quyết định xử lý vi phạm hành chính này không nhiều,chỉ là 27%. Đối với những doanh nghiệp đã khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan hải quan, có 54% doanh nghiệp hài lòng/hoàn toàn hài lòng với kết quả giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, cũng có tới 22% doanh nghiệp cho biết họ không hài lòng/hoàn toàn không hài lòng với kết quả này. Hình 18: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với kết quả giải quyết khiếu nại (%) Theo kết quả khảo sát, các doanh nghiệp FDI hài lòng hơn cả về kết quả
giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hải quan, so với các DNNN hay doanh nghiệp dân doanh Cụ thể, có 63% doanh nghiệp FDI hài lòng với kết quả này. Tiếp đến là các DNNN và doanh nghiệp dân doanh, với lần lượt 49% và 48% hài lòng về kết quả giải quyết khiếu nại.
186
Bảng 6: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với kết quả giải quyết khiếu nại theo nguồn vốn chủ sở hữu (%)
Mức độ
DNNN
DN FDI
Hoàn toàn không hài lòng Không hài lòng Hài lòng Hoàn toàn hài lòng Không có ý kiến
2 28 44 5 21
DN dân doanh 5 20 38 10 27
2 14 60 3 21
Đối với những doanh nghiệp không khiếu nại, lý do khiến họ không tiến hành là gì? Trong khi chỉ 12% doanh nghiệp không khiếu nại vì không biết thủ tục, thì có tới 34% cho biết không tiến hành vì lo ngại việc này sẽ làm tốn kém thời gian của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có 27% doanh nghiệp lo ngại rủi ro sau này và 20% doanh nghiệp cho biết không khiếu nại vì lo ngại tốn kém chi phí của doanh nghiệp.
Hình 19: Lý do không khiếu nại (%)
187
Tất cả thông tin trong Phiếu khảo sát này sẽ chỉ được sử dụng duy nhất vào mục đích thống kê, nghiên cứu và tổng hợp. Chúng tôi cam kết bảo mật mọi thông tin mà doanh nghiệp cung cấp.
(TRÍCH MỘT PHẦN) PHIẾU KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN NĂM 2015 (trích một phần)
THÔNG TIN CHUNG
Số fax:
1. Tên doanh nghiệp: 2. Địa chỉ của doanh nghiệp: 3. Số điện thoại: 4. Địa chỉ e-mail (thư điện tử): 5. Họ tên người trả lời: 6. Chức vụ người trả lời:
(Tổng) Giám đốc / Phó (Tổng) Giám đốc Cán bộ xuất nhập khẩu Khác, vui lòng nêu cụ thể: 7. Giới tính người trả lời: Nam Nữ
A. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP
1. Doanh nghiệp được thành lập năm nào? 2. Doanh nghiệp của bạn thuộc thành phần kinh tế nào dưới đây? Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Khu vực DN Nhà nước
Khu vực DN ngoài nhà nước
3. Doanh nghiệp của bạn thuộc loại hình nào? (Đánh dấu chọn một trong các loại hình sau)
Công ty cổ phần Công ty TNHH (nhiều hoặc một thành viên)
Doanh nghiệp tư nhân Loại hình khác. Vui lòng nêu cụ thể:
4. Doanh nghiệp của bạn chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nào dưới đây?
Công nghiệp/Chế tạo Xây dựng Thương mại/Dịch vụ
Nông nghiệp/Lâm nghiệp/Thủy sản Khai khoáng Khác. Vui lòng nêu cụ thể:
5. Vui lòng cho biết quy mô doanh nghiệp của bạn 5.1. Số vốn đăng ký của doanh nghiệp? (Đánh dấu vào một lựa chọnphù hợp) Từ 50 đến dưới 100 tỷ đồng
Từ 20 đến dưới 50 tỷ đồng
Dưới 10 tỷ đồng
Từ 10 đến dưới 20 tỷ
Trên 100 tỷ đồng
đồng
Tháng 12/2014
5.2. Tổng số lao động của doanh nghiệp bạn? (Đánh dấu vào một lựa chọn phù hợp)
Dưới 10 lao động
Từ 10 đến dưới 50 lao động
Từ 50 đến dưới 200 lao động
Từ 200 đến dưới 500 lao động
Trên 1.000 lao động
Từ 500 đến dưới 1.000 lao động
Tháng 12/2014
5.2. Vui lòng cho biết tỷ lệ lao động nữ của doanh nghiệp: % 6. Số năm doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan:
Dưới 1 năm Từ 1 đến 5 năm Từ 5 năm trở lên
7. Doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức nào:
Tự làm thủ tục hải quan Ủy quyền qua đại lý làm thủ tục hải quan Ủy thác cho tổ chức, cá nhân khác làm thủ tục hải quan
188
8. Trong thời gian 1 năm trở lại đây, doanh nghiệp làm thủ tục hải quan thường xuyên tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố nào?(tính theo số lượng tờ khai) Cục Hải quan tỉnh, thành phố: *Doanh nghiệp vui lòng đánh giá hoạt động của Cục Hải quan này thông qua việc trả lời các câu hỏi dưới đây.
B. TIẾP CẬN THÔNG TIN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH HẢI QUAN
1. Doanh nghiệp đã từng gặp vướng mắc trong quá trình tìm hiểu thông tin về pháp luậthải quan chưa?
Chưa từng ----> vui lòng chuyển sang phần C Đã từng ----> vui lòng trả lời câu 1.1- 1.2
1.1. Nếu đã từng, vui lòng cho biết doanh nghiệp thường xuyên tìm sự trợ giúp hoặc gửi câu hỏi tới cơ quan nào? (Đánh dấu vào một lựa chọn phù hợp)
Cục hải quan tỉnh (bao gồm cả Cục Hải quan và Chi cục hải quan trực thuộc) Tổng Cục hải quan Bộ Tài chính Hội/hiệp hội doanh nghiệp Khác (vui lòng nêu cụ thể):
1.2. Vui lòng cho biết mức độ hài lòng đối với kết quả phản hồi của cơ quan trên về vướng mắc:
Hoàn toàn hài lòng Hài lòng Không hài lòng
Hoàn toàn không hài lòng Không có ý kiến
189
C. THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH HẢI QUAN
1. Khi gặp khó khăn trong thực hiện thủ tục hành chính hải quan,doanh nghiệp có đề nghị sự hỗ trợ từ cơ quan Hải quan không?
Có Vui lòng trả lời câu 1.1
Không
1.1. Đánh giá của Doanh nghiệp đối với việc hỗ trợ của cơ quan Hải quan:
Đánh giá
Hoàn toàn
Phần lớn
Ít khi
Khôn g
Sự hỗ trợ của cơ quan Hải quan rất hiệu quả
Sự hỗ trợ của cơ quan Hải quan là rất kịp thời
D. SỰ PHỤC VỤ CỦA CÔNG CHỨC HẢI QUAN
1. Doanh nghiệp vui lòng đánh giá mức độ thực hiện kỷ cương của công chức Hải quan theo các nội dung dưới đây:
Thấp
Cao
Rất cao
Nội dung đánh giá
Rất thấp
Bình thường
Văn minh, lịch sự khi tiếp xúc
Công tâm, tận tụy khi thi hành công vụ Nhanh chóng, chính xác khi giải quyết công việc
Coi doanh nghiệp là đối tác hợp tác Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao
1. Doanh nghiệp vui lòng đánh giá mức độ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ của
công chức Hải quan trong các lĩnh vực sau:
Các thủ tục
Rất kém Kém
Khá
Tốt
Bình thường
+ Kiểm tra hồ sơ
+ Kiểm tra thực tế hàng hóa
Thủ tục thông quan
Xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát
+ Thủ tục nộp thuế;
Thủ tục
+ Thủ tục xét miễn thuế;
+ Thủ tục hoàn thuế, không thu thuế
190
quản lý thuế
Thủ tục kiểm tra sau thông quan
Xử lý vi phạm hành chính
Giải quyết khiếu nại
2. Doanh nghiệp vui lòng đánh giá kỹ năng giải quyết công việccủa công chức Hải
quan trong các lĩnh vực sau:
Các thủ tục
Rất kém Kém
Khá
Tốt
Bình thường
+ Kiểm tra hồ sơ
+ Kiểm tra thực tế hàng hóa
Thủ tục thông quan
Xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát
+ Thủ tục nộp thuế;
+ Thủ tục xét miễn thuế;
+ Thủ tục hoàn thuế, không thu thuế
Thủ tục quản lý thuế
Thủ tục kiểm tra sau thông quan
Xử lý vi phạm hành chính
Giải quyết khiếu nại
3. Theo quan sát của bạn, trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính hải quan, doanh nghiệp cùng ngành với bạn có phải trả thêm khoản chi phí ngoài quy định không?
Có Không ---> Vui lòng trả lời câu 3.1 Không biết
3.1. Nếu không chi trả những khoản phí ngoài quy định, doanh nghiệp đó có bị phân biệt đối xử không?
Không bị phân biệt đối xử Không biết Có bị phân biệt đối xử ---> Vui lòng trả lời câu 3.2
3.2.Nếu bị phân biệt đối xử, vui lòng lựa chọn một hoặc nhiều hình thức sau:
Kéo dài thời gian làm thủ tục Yêu cầu bổ sung, giải trình các chứng từ không theo quy định của pháp luật Thái độ không văn minh, lịch sự của công chức hải quan Khác, vui lòng nêu cụ thể:
…………………………………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………………………………..
191
E. KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN
1. Doanh nghiệp đã bao giờ bị xử lý vi phạm hành chính về hải quan chưa?
Chưa từng bị xử lý Đã từng bị xử lý
---> Vui lòng trả lời câu 1.1
1.1.Nếu đã từng bị xử lý, doanh nghiệp có khiếu nại về quyết định xử lý vi phạm hành chính của cơ quan hải quan chưa?
Có Không
----> Vui lòng trả lời câu 1.2 ----> Vui lòng trả lời câu 1.3
1.2.Nếu Có, vui lòng cho biết mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với kết quả giải
quyết khiếu nại:
Hoàn toàn hài lòng Hài lòng Không hài lòng Hoàn toàn không hài lòng Không có ý kiến
1.3.Nếu Không, vui lòng cho biết lý do: Không biết thủ tục khiếu nại Tốn kém thời gian của doanh nghiệp Tốn kém chi phí của doanh nghiệp Lo ngại rủi ro sau này cho doanh nghiệp Khác (vui lòng ghi rõ)
………………………………………………………………………...…………………………… ……………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………...…………………………… ……………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………...…………………………… ………………………………………………………………………………………………………

