
LUẬN VĂN:
Nhân tố chủ quan với việc thực hiện công
bằng xó hội trong điều kiện kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đó bước vào thế kỷ XXI. Thế kỷ mới với những xu hướng, thuận
lợi, khó khăn và thách thức mới. Thế kỷ bùng nổ thông tin, khoa học hiện đại, kỹ thuật
tiên tiến, kinh tế hội nhập... đó làm cho cục diện thế giới có nhiều biến động và phân
hóa sâu sắc về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xó hội, an ninh, quốc phũng. Một số
quốc gia, dân tộc đó cú những thay đổi lớn so với những thập niên cuối thế kỷ XX.
Việt Nam, sau 20 năm thực hiện đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lónh đạo, chúng ta đó thu được những thành tựu to lớn đáng trân trọng, kinh
tế phát triển khá, chính trị tương đối ổn định, an ninh được giữ vững, quốc phũng được
tăng cường, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Đại hội IX của Đảng
(2001) tiếp tục khẳng định: Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường, cú sự quản lý của Nhà nước, định hướng xó hội chủ nghĩa,
phấn đấu từ nay đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, tất
cả vỡ mục tiờu dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội X
của Đảng (2006) một lần nữa chỉ rừ: phải thực hiện tiến bộ và cụng bằng xó hội
(CBXH) ngay trong từng bước và trong từng chính sách phát triển.
Nền kinh tế thị trường (KTTT) đó đem lại những thành tựu to lớn về kinh tế
sau 20 năm thực hiện đổi mới. Đây là điều kiện quan trọng tạo tiền đề kinh tế vững
chắc cho việc thực hiện CBXH. Tuy nhiên, KTTT cũng bộc lộ những nhược điểm làm
ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện CBXH, sự chênh lệch thu nhập, phân hóa giàu
nghèo cũng như trỡnh độ dân trí,… có chiều hướng ngày càng gia tăng giữa các vùng
miền, tỷ lệ đói nghèo phần lớn tập trung chủ yếu ở nông thôn, vùng sâu vùng xa, biên
giới và hải đảo, miền núi, dân tộc thiểu số. Điều kiện tập trung đầu tư giáo dục và phát
triển kinh tế lại thuộc về những người có thu nhập cao, cỏc tệ nạn xó hội như buôn lậu,
tham nhũng, trốn thuế, lợi dụng chức quyền, lợi dụng kẽ hở trong quản lý kinh tế để
làm giàu phi pháp đang trở thành điểm nóng được dư luận hết sức quan tâm, bất công,

bất bỡnh đẳng trong xó hội ngày càng trở nờn nghiờm trọng đũi hỏi phải cú cõu trả lợi
thỏa đáng.
Trước tỡnh hỡnh đó, Đảng và Nhà nước ta đó cú nhiều chủ trương chính sách
nhằm phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tốt CBXH.
Kết hợp chặt chẽ, hợp lý cỏc mục tiờu kinh tế với cỏc mục tiờu xó
hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, từng địa phương; thực hiện tiến
bộ và công bằng xó hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển,
thực hiện tốt cỏc chớnh sỏch xó hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền
lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ hơn cho
phát triển kinh tế - xó hội.
Song việc thực hiện ở cỏc cấp cỏc ngành vẫn cũn những vấn đề bất cập chưa
đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra, vấn đề bất công, bất bỡnh đẳng trong xó hội
ngày càng cú nguy cơ trở nên trầm trọng và là lực cản lớn có tính thời sự trong quá trỡnh
thực hiện mục tiờu CBXH ở nước ta hiện nay.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: "Nhân tố chủ quan với
việc thực hiện công bằng xó hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay " làm đề tài tốt nghiệp.
2.Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài
Xung quanh vấn đề: Nhân tố chủ quan (NTCQ) với việc thực hiện cụng bằng
xó hội trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay đó cú rất nhiều đề tài nghiên cứu dưới
nhiều góc độ khác nhau như:
- "Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xó hội trong quỏ trỡnh
chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta", do TS Hoàng Thị Thành làm chủ nhiệm đề
tài, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998;
- "Tăng trưởng kinh tế và công bằng xó hội ở một số nước châu Á
và Việt Nam", do TS Lê Bộ Lĩnh làm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998;

- "Tăng trưởng kinh tế và công bằng xó hội - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn ở một số tỉnh miền Trung", do TS Phạm Hảo, TS Vừ Xuõn Tiến, TS Mai Đức Lộc
đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
- "Vai trũ của phỏp luật trong việc đảm bảo công bằng xó hội ở Việt Nam hiện
nay", Luận án tiến sĩ của Vũ Anh Tuấn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
2001;
- "Nhà nước với việc thực hiện công bằng xó hội trong nền kinh tế thị trường định
hướng xó hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Vừ Thị Hoa, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002;
- "Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xó hội trong giai đoạn hiện
nay ở nước ta (Qua thực tế tỉnh Quảng trị)", Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân
Phong, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003;
- "Thực hiện cụng bằng xó hội giữa cỏc dõn tộc trong giỏo dục - đào tạo ở các
tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Dũng, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004;
- "Phỏt huy vai trũ nhõn tố chủ quan trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết
Đảng ở nước ta hiện nay (Qua thực tế tỉnh Hải Dương)", Luận văn thạc sĩ của Vũ Hữu
Phê, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004);
- "Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xó hội ở Việt Nam thời kỳ
đổi mới - vấn đề và giải pháp", do TS Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm đề tài, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006;
- "Vai trũ của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng
xó hội ở nước ta hiện nay", của PGS.TS Trần Thành, Tạp chí Triết học, số 2(177),
2006;
- "Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xó hội ở nước ta hiện nay -
những quan điểm cơ bản của Đảng", của TS Nguyễn Thị Nga, Tạp chí Triết học, số
9(184), 2006

...
Ngoài ra, cũn rất nhiều bài viết của cỏc nhà khoa học đăng trên các báo và tạp chí
bàn về vấn đề CBXH ở Việt Nam và trên thế giới trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, vẫn
chưa có tác giả nào đề cập vấn đề một cách trực tiếp dưới góc độ triết học như tên đề tài đó
nờu ra. Những tài liệu nờu trờn chứa đựng những giá trị khoa học rất quý giỏ, được tác giả
tiếp thu, kế thừa và phát triển trong luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở làm rừ vai trũ và thực trạng của việc phỏt huy vai trũ NTCQ đối
với việc thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng xó hội chủ nghĩa (XHCN)
ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trũ
NTCQ với việc thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta
hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rừ nội dung quan niệm CBXH; vai trũ NTCQ với việc thực hiện CBXH
trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
- Khảo sỏt thực trạng việc phỏt huy vai trũ NTCQ đối với việc thực hiện CBXH
(qua thực tế Vĩnh Phúc), chỉ ra những bất cập của nó, từ đó đề xuất một số phương hướng
và giải pháp nhằm phát huy tốt vai trũ NTCQ trong việc thực hiện CBXH trong điều kiện
KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Vai trũ NTCQ và việc phỏt huy vai trũ NTCQ với việc thực hiện CBXH trong
điều kiện nước ta hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:

